Skip navigation.

Log in | Sign up

Làng Mộ Trạch

Mộ Trạch nhất gia bán thiên hạ

Đình Mộ Trạch

Đình Mộ Trạch, còn gọi là đình làng Chằm Phượng hay đình làng Chằm, thuộc xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, ven Đường 194, cách thị xã Hải Dương 20km.

Ở xứ Tây Trù nơi đầu thôn, Cấn long, Chấn sơn, Đoài hướng, lấy ao Âm Dương làm án, nay vẫn còn di tích. Khoảng niên hiệu Vĩnh Thọ [1658 – 1662][29] đã dời vào giữ thôn, Cấn long, Nhâm sơn, Bính hướng. Hằng năm vào xuân, mỗi khi mở hội ca hát thì tạm gác gỗ lợp gianh, tục gọi là Đình Đòn, xong việc lại dở bỏ. Đến năm Đinh Sửu đời Dương Hoà [1637] mới dựng đại đình, cột kèo nguy nga, thật đáng ngưỡng vọng (hiện còn văn bia). Ngôi thứ ở trong đình bố trí cho 6 giáp, bên ông Đông 3 giáp là Văn Đông, Chính Phái và Xuân Đình; bên tây 3 giáp là Nhân Lý, An Tây và Bình Đăng. Thời sau lại phân chia thành 19 giáp[30]: phía Đông 9 giáp là Văn Độ, Văn Hiến, Văn Đông, Văn Chánh (4 giáp này là con cháu Truy Viễn đường), Chính Phái (tộc của Tri bạ Thọ Lâm), Xuân Chính (tộc Thượng thư Vũ Cán, Vũ Công Đạo), Xuân Đình (tộc Tiến sĩ Vũ Lân Chỉ), Xuân Đình Chính (tộc ông Đồng phủ Hạ Hồng), Xuân Đình Thọ (tộc Tiến sĩ Vũ Công Bình); phía Tây 9 giáp là: Nhân Lý (tộc ông Đồng châu Hoa Thọ), Nhân Toàn (tộc Trạng nguyên Lê [Nại]), Nhân Hậu (tộc Lộc Quận công), Nhân Thọ (tộc Hữu mạc Vũ Quyển), An Tây (tộc Tiến sĩ Nhữ [Mậu Tổ]), An Thọ, Đoan Chính (tộc Tây Khê hầu), Bình Đăng và Bình Chính (tộc Thượng thư Vũ Quỳnh). Việc ăn uống ở đình phân theo ngôi thứ, 4 góc trong ngoài đình, giữa đình đều chia hai bên nam nữ ngồi riêng, xem hát xướng cũng phân theo đẳng cấp.

Khoảng năm Canh Thân – Tân Dậu [1740 – 1741] đình bị bọn giặc thiêu trụi[31], đến năm Đinh Sửu [1757] đời Cảnh Hưng dân làng mới dựng lại được (từ ngày xây đình đến nay đã 120 năm). Người cháu 13 đời thuộc chi V là bà chính thất của ông Vũ Phương Đẩu, tức Quế Lâm quận phu nhân Nhữ Thị Thuận đã đóng góp tiền của đến 3 ngàn quan, vậy nên được trên dưới đồng lòng bầu làm hậu thần của xã. Nhờ đó mới làm lại được ngôi đình to lớn hơn, cột bằng gỗ lim, mái lợp ngói, tường gạch vây bốn mặt, thực là tráng lệ hơn xưa nhiều. Đến bản triều Hình bộ Tham tri Vũ Tuấn cúng tiến vật liệu gỗ, thôn ta nhân đó làm thêm hành lang, tả vu và hữu vu càng thêm đẹp đẽ, hằng năm tổ chức cúng tế, xướng ca. Trước đình có treo 2 tấm biển trên viết 5 đại tự “Thánh chúa thọ vạn niên”, với hai dòng tiểu chú {viết đọc} hai bên mỗi đại tự, là:

Phiên âm:Tạm dịch thơ:

Xuân thiên quang bát biểu
Trời xuân bừng tám cõi

Thánh chủ vạn thọ niên
Chúc thánh thọ vô cương

Lạc yến kê Chu dịch
Hội hè nên chừng mực[32] ,

Tàng cưu khải Hán diên
Tiệc rược theo kỷ cương[33].

Sự Thần chiêu Tả, Hữu
Thờ Thần cùng Tả, Hữu,

Tập phúc đẳng sơn xuyên
Hưởng phúc với núi sông.


Biển dưới từ xưa vẫn dùng quốc âm niêm yết “Mục lục”, hàng năm quan viên luân phiên làm, đến ông Hội nguyên [1664] Vũ Duy Đoán mới dùng chữ Hán soạn bài tán văn, lâu năm thành thể thức, làng thuê thợ chạm khắc, sơn son thiếp vàng cho mỹ lệ. Bài tán ấy viết:

Phiên âm - Dịch nghĩa

Hạ thì Nhân chính
Lịch đời Hạ, tháng Nhân chính[34],

Xuân trạch vật huy
Mưa xuân, muôn vật tốt tươi.

Hoàng phúc phu tích
Ơn vua ban rộng khắp,

Dân tâm du diLòng
dân đều hoa hỉ,

Đình thu thắng thưởng
Chơi trò đánh đu giữa sân,

Cù nhưỡng lạc hy .
Vui vầy khắp ngõ xóm

Ngô hương thượng xỉ
Làng ta trọng người cao tuổi,

Hảo cảnh khai mi
Yêu cảnh bọn trẻ mở sách học,

Hậu nhân hiệp ngữ
Cùng nhau nói lời nhân hậu,

Ca vũ trưng thi
Thích thú thơ văn, xướng ca.

Dịch nhu yến ẩm
Tiệc tùng cần thiết theo kinh Dịch,

Lễ tiết châm quy
Lễ lạt răn dạy có chừng mực[35]

Sự Thần tồn kính
Thờ thần giữ sự tôn kính,

Tại đảng hữu nghi
Việc làng đều có khuôn phép

Quan nghiêm vân hữu
Người già thì mực thước,

Kỹ xảo tuyết nhi .
Con trẻ khéo léo tay nghề

Mục điều chỉnh liễu
Điều lệ chỉnh đốn các mặt,

Phúc lý tuy chi
Phúc lộc thỏa lòng mọi người.

Quan thăng đẩu toạ
Người làm quan thăng tiến tột đỉnh,

Vị liệt đài ti
Giữ chức vụ ở khắp các đài, ty;

Sĩ phàn quế nguyệt
Kẻ sĩ đi thi luôn đỗ đạt,

Nông nhẫm cốc thì[36]
Kẻ làm ruộng thóc gạo đầy bồ

Phú quý khang lạc
Cả làng giàu sang yên vui,

Xương đại ngải kì
Già trẻ khoẻ đẹp ngời ngời,

Chư phúc hàm tập
Mọi phúc lành hội tụ nơi đây.

Hữu bảng thông tri
Vậy nay xin có bảng thông báo.


Tiến sĩ [1736] triều Lê Vũ Phương Đề có soạn nhiều câu đối:

Anh thanh trác trác Trung Hoa trụ

Chính khí dương dương Thượng đẳng từ


[Dòng dõi Trung Hoa tiếng tăm vòi vọi - Miếu đền Thượng đẳng chính khí mênh mang]

Kim Tối linh từ Vương thượng đẳng

Cổ Đô hộ sứ đế Nam Giao

[Nay có Tối linh từ bởi là Thần thượng đẳng – Xưa làm Đô hộ sứ như thể Đế nước Nam]

Cao hậu dữ tham, vọng quốc mặc phù, linh trạc trạc

Thông minh như nhất, danh hương hiển tướng, phúc nhương nhương

[Thanh cao đôn hậu gồm kiêm, lặng lẽ tôn phù đất nước, linh vòi vọi – Thông tuệ anh minh sau trước, hiển hiện trợ giúp quê hương, phúc tràn đầy]

Thứ chuyết đống lương chế độ quy mô chiêu nhật lệ

Thanh minh văn vật y quan lễ nhạc sán tinh trần

[Then chốt cột kèo, chế độ quy mô soi sớm tối – Sáng ngời văn vật, y quan lễ nhạc rạng trăng sao]

Tự liệt tam tôn yến vũ oanh ca cung thắng thưởng

Trù ưng ngũ phúc quy trình phụng chúc diễn trường xuân

[Đền miếu đặt tam tôn, yến múa oanh ca phô bày cảnh đẹp - Nghiệp nhà truyền ngũ phúc, rùa trình phượng chúc tràn ngập xuân tươi]

Tú thát phong lưu, châu ngọc như tùng kim thế giới

Hương khuê thái độ, ỷ la mãn tọa cẩm càn khôn

[Huy hoàng cửa gấm, châu ngọc như rừng sang một góc - Yểu điệu phòng thơm, lụa là đầy chiếu đẹp đất trời]. – (Câu này vốn ở phía Tây đình nơi các bà ngồi).

{Lại có các câu của ông Cấp sự Văn Đức tử[37]

Vị tử tôn lập vạn đại cơ, khanh tướnh công hầu vô trị loạn

Dữ thiên địa đồng nhất nguyên khí, đế hoàng vương bá hữu long ô

[Vì con cháu lập nền vạn đại, thời bình như thời loạn đều làm nên công hầu khanh tướng - Với trời đất cùng một nguyên khí, có thăng cũng có trầm vẫn là đế hoàng bá vương]

Danh ấp vạn niên xuân, Hàn vãng Cao lai tiều lệ mộng

Sùng từ thiên cổ ngật, Lê chân Hồ nguỵ tửu kỳ tàn.

[Làng ấp danh tiếng nghìn năm tươi sắc xuân, dù Hàn Ước có lui, Cao Biền có tới, Đời thực hư đều như giấc mộng – Mái đền linh thiêng muôn thuở vẫn sừng sững, dẫu triều Lê là chân, nhà Hồ là nguỵ, cuộc cờ, rược tất đến hồi tàn].

Tự Đường An quyết hậu du cư triệu bạt ức niên ca vật bái

Liêm Phúc Kiến kỳ[38]… hữu cực vu quynh vạn thế bốc kỳ hưng.

[Nương Phúc Kiến thời trước, nơi ngoài cõi có ngôi cao mà vạn đời hưng nghiệp - Tự Đường An vận sau, chốn xa xôi chiếu xóm ấp nên muôn thuở ngợi ca]

Lại có câu đối của ông Trưng sĩ Đốc phủ:

Trung Hạ Nho tông hương thuỷ tổ

Nam thiên dân mục quốc danh thần

[Vốn dòng Nho Hoa Hạ[39], làng coi là thuỷ tổ - Thành đầu mục dân Nam, nước tôn thờ làm thần]

Biệt thành vũ trụ lưu phong viễn

Hữu lức lầu đài chính khí cao.

[Riêng thành một thế giới, tiếng tăm truyền xa mãi – Thanh tĩnh khán lâu đài, khí thiêng vòi vọi cao].

Hậu ủng thất tinh bồi đạo mạch,

Tiền triều nhất thuỷ dụ văn lan.

[Bảy sao che chở phía trước vun bồi cho mạch đạo,

Một dòng nước chầu phía sau nhuần tưới cho nghiệp văn].

Xuân thiên minh mị danh khôi địa,

Sinh khí huân coa Thượng đẳng từ.

[Trời xuân trong sáng vùng đất danh khôi,

Sinh khí lẫy lừng mái đền Thượng đẳng]

(Câu đối này do giáp Xuân Chính cung tiến treo ở cửa y môn).

Quan Ngoại lang người Nam Định là Tiến sĩ [1838] Doãn Khuê cũng có một câu đối:

Tiết việt trấn sơn hà, cung điện chuyển vi miếu vũ

Tùng thu tọ cương tỉnh, nhân dân giai thị tử tôn

[Từng cầm tiết việt giữ non sông, nay cung đình biến thành đền miếu - Vẫn làm bách tùng gìn đất nước, chúng dân thảy lũ cháu con] <…>[40]


Mộ Trạch xưa và nay 2LÀNG TIẾN SĨ XỨ ĐÔNG XƯA VÀ NAY

How to use Quote function:

  1. Select some text
  2. Click on the Quote link

Write a comment

Comment
(BBcode and HTML is turned off for anonymous user comments.)

If you can't read the words, press the small reload icon.


Smilies