Mộ tổ phát tích
Wednesday, 25. July 2007, 02:31:03
Tại xóm Viên Phụ xã Man Nhuế huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách tỉnh nhà có ngôi mộ tục gọi Đống Rờm, Tốn long, Ất sơn, Tân hướng, tổ khởi Tam thai [Tam công], mạch hành chữ Vương, địa thế quanh co, phía trước có sông Lục Đầu làm án, phía sau có ba cồn cát Sở giang làm gối, trăm gò nhấp nhô bao bọc, hai dòng nước ôm nhau
Tại xóm Viên Phụ xã Man Nhuế huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách tỉnh nhà có ngôi mộ tục gọi Đống Rờm, Tốn long, Ất sơn, Tân hướng, tổ khởi Tam thai [Tam công], mạch hành chữ Vương, địa thế quanh co, phía trước có sông Lục Đầu làm án, phía sau có ba cồn cát Sở giang làm gối, trăm gò nhấp nhô bao bọc, hai dòng nước ôm nhau. {Tương truyền thế đất ấy chính là nơi Đại vương khi sang nước Nam ta đã đem hài cốt gia tiên cát táng làm phúc địa cho con cháu được đời đời hưởng phúc. Vào buổi giao thời Lý - Trần mộ bị thất truyền. Đến Lê Sơ}[61]có quan Tham chính Trần Xuân Yến (người xã An Lạc huyện Thanh Lâm[62]) được thầy phong thuỷ Nguyễn Trọng Diệu dẫn tìm cát địa để táng mộ gia tiên, khi đến chỗ này đào sâu xuống thì gặp một chí bằng đá khắc dòng chữ “Đường An huyện Khả Mộ xã Vũ thị Tổ mộ”[63] nên báo cho biết. Từ đấy hàng năm người làng ta sửa lễ đến, quét dọn, nhận để trông coi đời đời. Nay xem di cảo còn viết: “Lựa được gỗ tròn, danh khôi đa sĩ, tìm nhận đúng nơi, con cháu đều được tốt đẹp”, thực có ứng nghiệm vậy.
Lúc ấy có ông Cao Quỳnh, cháu 17 đời của Cao Vương [Biển] đến nước Nam, xem khắp các danh địa, khi qua cổng làng ta, chỉ tay nói mọi người: “Chỗ này là ổ Tiến sĩ đó”. Năm Quý Sửu đời Lê Dương Đức năm thứ nhất [1673], ông Vũ Duy Hài với người em họ Vũ Công Đạo cùng vâng chỉ đi sứ sang nhà Minh, hẹn nhau việc sứ bộ, sẽ đi Phúc Kiến một phen dò tìm nhận tông tộc họ Vũ, Nhưng rồi gặp phải giặc giã trở ngại, đành quay về theo đường thuỷ nên không thực hiện được. Đến đời Vĩnh Trị [1676 –1704] người xã Thổ Hoàng huyện Thiên Thi là Thượng thư Hoàng Công Trí vâng chỉ đi sứ sang Bắc, có một lão họ Vũ đón đường hỏi: “Ông là sứ thần An Nam, hẳn biết các danh gia vọng tộc của nước mình, chẳng hay đám hậu duệ họ Vũ chúng tôi bên ấy công danh ra sao?” Ông Trí bèn kể ngọn ngành cho Cụ rõ. Ông lão luôn miệng thốt lên: “Hảo! Hảo!”, rồi nhân đó tiếp lời: “Họ Vũ chúng tôi bên Thiên triều này cũng đời nối đời đăng khoa, vẫn được hiển đạt”. Người đời nói: “Trời Nam khoa bảng, Mộ Trạch chiếm nhiều”, ấy bởi chính khí Bắc phương truyền đến đã lau đời vậy.
Trong đời Vĩnh Thịnh [1705 – 1718] ông Vũ Đình Ân đỗ Tiến sĩ, có ông Thám hoa huyện nhà (người xã Đan Loan) là Vũ Thạnh[64] mừng bức trướng với bài thơ:
Bát bách niên lai đạo mạch trường
Danh khoa thạc vọng thế tương vọng
Cao tằng vân nhĩ huân hiền kế
Tước lộc khoa danh ấm trạch quang
Bát diệp Tiêu môn danh vị kiệt
Tam hoè Vương thị tích kham phương
Phô trương mạc tận quân gia sự
Bút để thì văn hàn mặc hương
Dịch thơ:
Ngàn năm đạo đức mạch truyền gia
Đời dõi vang lừng tiếng đại gia
Sự nghiệp tổ tiên đà kế thế
Văn chương cháu chắt nối đăng khoa
Tiêu đình lá ngọc khoe tròn tám
Vương thị sân hoè sánh đủ ba
Cảnh đẹp nhà ông phô chẳng xuể
Ngạt ngào hương mực khắo xa.
(Bản dịch của cụ Nguyễn Đình Diệm in trong sách Công dư tiệp ký, Sài Gòn xuất bản xuất bản 1962)
*Nguyên văn: “bát bách” (tám trăm năm)
Xưa kia chi phái [họ ta] đông đúc, nhưng phần nhiều đã di cư đến các quê khác. Một số người thuộc hệ gần cận mà sự tích cũng minh bạch, lớn thì đăng khoa hiển đạt như ông Xuân Lan[65] [Vũ Miên] ở huyện Lương Tài, thứ nữa thì cũng do đường học hành mà nên quan như ông Xuân Hy[66] ở Kim Anh [67], chí ít thì cũng thuộc hàng hào trưởng, phú hộ như ông Nhật Hy ở Giao Thuỷ[68], ông Quỳnh Khê ở Kim Thành[69], đều về nhận nhau là họ hàng. Khoa thi Hội năm Mậu Thìn [1748] ông Bồi tụng Xuân Lan Vũ Miên đỗ Hội nguyên Tiến sĩ, huyện ta mừng bức trướng:
Triệu thuỷ tích tòng Đông Mộ Trạch
Thành danh kim thị Bắc Lương Tài
Xin tạm dịch:
Mở đầu xưa từ Mộ Trạch trấn Hải Đông
Thành danh nay ở Lương Tài xứ Kinh Bắc.
Gần đây ông Xuân Hy Tả đề điếm Vũ Hữu Xuân có đệ trình Tiến sĩ Tham chính Xuân Trạch hầu [Vũ Phương Đề] một bài thơ Đường luật <…>. Ông lại làm bài thứ hai cùng vần <…>. Hội nguyên Xuân Lan Vũ Miên có bài hoạ nguyên vận <…>. Tiến sĩ [1754] Vũ Huy Đỉnh hoạ tiếp <…>.
Khoa thi Hương năm Đinh Mão xã Nhật Hy huyện Giao Thuỷ [Nam Định] đỗ liền 3 người, họ ấy tự nghĩ nhờ phúc xưa để lại mà được như vậy bèn về quê gốc làm lễ tạ, cúng tế và tặng thơ. Tộc ta tặng lại hai bài, bài thứ nhất họa nguyên vận bài của ông Xuân Hy[70]<…>. Bài thứ hai dùng Quốc âm [Nôm]:
Nẻo xưa tú khí cấu[gây dựng] từ Đông [Hải Đông]
Chi diệp tuy khơi [xa khơi] vốn cùng [cùng] dòng
Của có điền viên [ruộng vườn] nhờ Tổ ấm [phúc]
Thảy đều huyền tụng [đọc sách] nhắc Nho công
Hàng chen khoa đệ từng phương dự [tiếng khen]
Dẫu dõi y quan rỡ [rực rỡ] chính tông
Báo bản [báo đáp cội nguồn] chẳng quên niềm kính tín
Họ ta cường thịnh phúc trùng trùng.









How to use Quote function: