Minh Duc Trieu Tam Anh
Tuesday, April 14, 2009 7:07:31 AM
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chùa Huyền Không
Minh Đức Triều Tâm Ảnh là bút hiệu của tỳ kheo Giới Đức, là một trong những người sáng lập[1] ra chùa Huyền Không (Huế) từ mái chùa lá ở đèo Hải Vân trước năm 1978. Ông là một nhà sư rất giỏi thơ văn, am tường hội hoạ và trang trí mỹ thuật. Đồng thời ông cũng là một trong những người nổi tiếng về nghệ thuật thư pháp tại Việt Nam những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21.
Mục lục
[ẩn]
• 1 Cơ duyên và hành trạng
• 2 Huyền Không sơn thượng
• 3 Tác phẩm Văn học Phật giáo
• 4 Xem thêm
• 5 Chú thích
• 6 Liên kết ngoài
[sửa] Cơ duyên và hành trạng
Thượng tọa thế danh Nguyễn Duy Kha sinh ngày 19 tháng 7 năm 1944 tại Giạ Lê thượng, huyện Hương Thuỷ, Thừa Thiên Huế. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Duy Hoan và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Sừng.
Ông xuất gia năm 1973; thọ giới Sa di năm 1973 và thọ giới Tỳ kheo lúc 9 giờ 58 phút, ngày 17 tháng 2 năm 1977 tại chùa Tam Bảo, Đà Nẵng (Ðức Giới Nghiêm là bổn sư và là Hoà thượng thế độ. Ðại đức Giới Hỷ là thầy Yết ma).
Từ năm 1976 đến năm 1989, Thượng tọa trụ trì chùa Huyền Không. Trong thời gian này Thượng tọa vận động hiệp hội Schmitz thông qua Phật tử tại Đức xây cầu Bạch Yến[2] giúp địa phương. Ðây là một công tác xã hội có ý nghĩa lớn tại Huế.
Từ năm 1989 đến nay. Thượng tọa trụ trì Huyền Không sơn thượng. Tại cơ sở mới này Thượng tọa tiếp tục sáng tác thơ văn và góp phần đào tạo Tăng tài cho Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam.
[sửa] Huyền Không sơn thượng
Huyền Không sơn thượng được Thượng tọa Giới Ðức khai sơn năm 1989, toạ lạc dưới chân núi Hòn Vượn ở vùng Chầm thuộc sơn phận xã Hương Hồ, giáp với xã Hương An, huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế.
Phong cảnh chùa giàu chất thiên nhiên, nhiều vẻ đẹp hoang dã được chọn lọc nhờ bàn tay khéo léo con người. Tại đây Thượng tọa đã cho ra đời rất nhiều thư pháp và những cuốn sách có giá trị về Phật học, văn chương, nghệ thuật.
Khách đến viếng chùa phải vượt qua nhiều quãng đường lên đồi xuống dốc mà hai bên là cảnh núi rừng thiên nhiên, tiếng suối chảy rì rào, sim, mua, tràm, chổi,... ẩn hiện theo mùa, qua rừng tùng ngút ngàn, những cụm cổ thạch rêu phong, những bài thơ trên đá v.v... Ở đây Thượng tọa đã kiến tạo một chánh điện giản dị bằng gỗ, mái tranh trông rất hiền hoà và thanh thoát.
Bên phải chánh điện với mấy cụm tre vàng thơ mộng là "Am mây tía" (tiền thân là Phong Trúc Am, được xây dựng từ năm 1992). Bên trái chánh điện là "Quá Thiện Ðường " (nhà ăn), "Chúng Hoà Ðường " (nhà sinh hoạt). Phía trước chánh điện khoảng hơn 100m, bên phải có hai dãy Tăng xá và nhà học là (Tuệ Học Ðường). Ở đây còn có một vườn ươm cây kiểng đủ loại kích cỡ 40m x 50m. Phía đối diện là vườn ươm lan rộng 20m x 30m, có khoảng trên dưới 1000 giò. Hướng Tây Nam có một mõm núi, có cây cổ thụ mọc cheo leo trên đá, tên là "Ðộc Thụ Sơn". Mấy dãy núi bao quanh chùa, Thượng tọa cho trồng 5 - 6 vạn cây thông và đặt tên là "Vạn Tùng Sơn". Huyền Không Sơn Thượng toạ lạc trên một vùng rừng 56 ha. Hiện tại ở đây có khoảng trên 20 vị sư và đều là Tăng sinh Phật học viện Huyền Không.
[sửa] Tác phẩm Văn học Phật giáo
Thượng tọa Giới Đức là nhà thơ có tên tuổi ở đất thần kinh và đã xuất bản nhiều tập thơ. Tỳ kheo cũng là nhà văn rất nổi tiếng trong giới Phật giáo; những tác phẩm của tỳ kheo chẳng những có giá trị trong đạo mà còn đóng góp không nhỏ cho nền văn chương của Việt Nam
Những tác phẩm tiêu biểu:
• Kinh lời vàng (phổ thơ Kinh Pháp cú)
• Ngàn xưa hương Bối.
• Một cuộc đời - một ngôi sao.
• Chuyện cửa thiền.
• Hành hương tâm linh
• Người trồng hoa và chàng tu sĩ
• Chuyện cửa Thiền
• Chèo vỡ sông trăng
[sửa] Xem thêm
• Kinh lời vàng tại Thư Viện Hoa Sen
• Thơ Minh Đức Triều Tâm Ảnh tại trang web Quảng Đức
[sửa] Chú thích
1. ^ Chùa Huyền Không hiện nay là hậu thân của chùa Huyền Không ở Lăng Cô, Phú Lộc, Thừa Thiên Huế được Thượng tọa Viên Minh, sư Tịnh Pháp, sư Trí Thâm và sư Tấn Căn xây dựng vào năm 1973. Năm 1978, chùa Huyền Không được dời về thôn Nham Biều, Hương Hồ, Hương Trà. Trong khoảng thời gian 1975-1989 Thượng tọa Giới Ðức đã góp phần lớn công sức để tạo ra ngôi chùa như ngày nay
2. ^ Cầu thuộc thôn Nham Biều, xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
thơ Minh Đức Triều Tâm Ảnh
KHÚC CA NƯỚC
1. ta đứng thở trên sông dài
nghe thời gian cuộn chảy
bọt nước xao
bọt nước quẫy
từ lâu rồi con cá đớp bơ ngơ
trăng vẫn là con trăng
từ vĩnh cửu đến bây giờ
thuyền vẫn là con thuyền
chưa chèo qua bỉ ngạn
cái tâm cũ
con sóng dâng
có cái gì rất hốt hoảng
cứ tung
cứ rơi
cứ vật vờ đốm loang đêm
mây
vẫn là mây
phiêu phất lãng du miền
vẫn tình tự
vẫn câu chuyện đèn khuya
tứ cổ văn
câu kinh
và chung trà không bạn lữ
buồn
rất sâu
xa
và niềm riêng
xin gởi đến muôn trùng…
2. hốt hải
trong giấc ngủ mê mung
bàng hoàng
gõ kiến tri nghe vang vang nỗi chết
giọng nói
tiếng cười cứ bào mòn âm tiết
trôi giữa không gian
và hút mất giữa thung triền
ta vẫn hiểu rằng
đời còn lắm oan khiên
còn chín, ngọt, trái, hoa, hương kết đài giữa giấc mơ
và tuyệt vọng
ai rớt chữ
giữa dòng sông lặng
có con chim bay
cô đơn
hái lượm hạt miên trường đi qua cuộc đời trăm năm
một đôi lần
ngồi tâm sự vô duyên
giữa quán cóc, chợ vàng
ai cũng không có thì giờ tĩnh tâm, thiền định
ai cũng có quá nhiều thì giờ
để huyền đàm, hý luận
và tự vẽ bóng mình
trong bọt nước vỡ tan
níu câu kinh
ta bước giữa điêu tàn
câu thơ mới
bập bùng reo
niềm tin và hơi ấm
3. cột chiếc lá
buộc thuyền
tự neo mình trên bến
nằm ngủ say
mặc nhân thế ngược xuôi
từng lối nhỏ thân quen
sim mua nở tím đồi
sợi khói, làn mây, giọt sương để dấu hiệu
cho mai sau
tìm cho ra chân tướng
4. nước vẫn chảy
soi mặt soi mày
vẫn hoang vu gió chướng rong bèo hôm qua
ẩn hiện kiếp riêng chung
dập dờn nước mây
vẫn lắm chuyện vô cùng…
Am Mây Tía
Trọng đông Giáp Thân.
M.Đ.T.T.A.












