Skip navigation.

Những gì đã học được thời sinh viên!!

Nhung ngay xa nha

CÁC BÍ QUYẾT KINH DOANH:




14 nguyên tắc khởi nghiệp thành công



Trong quá trình khởi nghiệp, nhân tố nào là quan trọng nhất để thành công? Một triệu phú ngành hàng không của Mỹ mới đây đã tiết lộ 14 nguyên tắc thành công của ông.

1. Làm những gì mà bạn thích nhất: Có như vậy, bạn mới có thể kiên trì công việc tới cùng.

2. Không ngừng nghĩ cách thoát ra khỏi những tư tưởng bị đóng khuôn khi phải đối mặt với sự việc: Không làm theo những quan niệm truyền thống một cách đơn điệu, phải thử suy xét từ những góc độ mới.

3. Là người cạnh tranh tốt nhất: một mặt học tập, một mặt hấp thu những điều đáng học hỏi từ đối tượng.

4. Lúc nào cũng chuẩn bị tinh thần cầu tiến: Đừng nhìn vào những thất bại nhất thời, thực ra đó chỉ là phần kết một chương của áng văn và những chương khác đang mở ra. Nên chấp nhận sự thực sẽ có lúc gặp phải những việc không theo ý mình, bất kể đó là việc lớn hay nhỏ.
5. Tạo một khí giới: luôn cố gắng làm việc tốt hơn người khác.

6. Có đủ vốn cơ bản: khi gặp những tình huống ngoài ý muốn, bạn sẽ không phải lo sợ.

7. Quan tâm tới nhân viên của bạn: sự thành bại của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng xuất phát từ những biểu hiện của nhân viên. Phải để nhân viên thấy được hành động quan tâm của bạn. Dùng tất cả sức lực để tạo một môi truờng làm việc vui vẻ. Nhân viên sẽ tự động nâng cao năng suất.

8. Tôn trọng khách hàng của bạn: phải luôn nghĩ rằng bạn sẽ mang lại dịch vụ tốt nhất cho họ. Chỉ cần hơn một nữa khách hàng đã giao dịch truyền miệng nhau về công ty của bạn, là bạn đã thành công.

9. Sớm nhìn nhận lỗi lầm của bạn nhưng không để lỗi lầm đó làm ảnh hưởng tới tiến độ công việc. Trong quá trình hoàn thiện, thế giới hện thực luôn không như ý muốn. Thái độ đối với những sai lầm phạm phải càng mở càng tốt.

10. Chú ý chi tiết: hãy chú ý tất cả các chi tiết nhỏ vì những chi tiết này có thể ảnh hưởng đến quá trình chi tiêu của một số khách hàng. Hãy để họ có một kinh nghiệm chi tiêu thật khó quên.

11. Khống chế giá thành một cách tỉ mỉ: đừng bao giờ lãng phí, việc gì cũng cần tiết kiệm, hợp lí là được. Tận lực hạ thấp chi phí vận chuyển.

12. Vận dụng khoa học kỹ thuật tiến tới tự động hóa.


13. Thu hút nhiều sự chú ý.

14. Giữ vững một giá: như vậy, khi gặp bất cứ việc gì cũng không lo lắng về giá cả


11 ‘chiêu’ tìm kiếm khách hàng)

Điều “gian nan” nhất khi khởi sự một doanh nghiệp là gì? Với đa số doanh nhân bắt đầu bước vào thương trường, câu trả lời sẽ là “tìm kiếm khách hàng”.
Tạo ra được sản phẩm cũng như dịch vụ có chất lượng và chắc chắn đáp ứng được nhu cầu của nhiều người vẫn là chưa đủ. Các thượng đế sẽ không tự mình tìm kiếm bạn cũng như website bán hàng của bạn chỉ vì bạn vừa khai trương một loại hàng hoá hay dịch vụ nào đó. Trong thực tế, tất cả các doanh nhân đều phải lao vào những “công cuộc” tìm kiếm khách hàng cũng như đối tác thường xuyên và liên tục. Nhưng bạn tiến hành công cuộc đó ra sao? Dưới đây là những đề xuất để bạn tham khảo:

Lên kế hoạch. Bạn cần xem xét những đối tượng nào có thể trở thành khách hàng lý tưởng của bạn. Nếu bạn bán hàng cho một tổ chức, bạn cần đánh giá xem bộ phận nào trong tổ chức đó có nhiều khả năng mua hàng và dịch vụ của bạn nhất và cá nhân nào (giữ vai trò, trách nhiệm ra sao) sẽ là người có quyền quyết định về những nhu cầu mua sắm thực sự. Nếu không biết, có thể bạn nên gọi điện hỏi. Kế đó, hãy tính tới việc cá nhân đó thường tìm kiếm những hàng hoá hay sản phẩm giống của bạn theo các nào. Họ thường tới đâu để mua? Họ thường nghe và tìm kiếm thông tin ở đâu khi họ muốn mua và sử dụng sản phẩm, dịch vụ. Hãy tìm cách để đưa những thông tin của bạn hoặc chính bạn đến với họ thuận tiện nhất.

Không có một con đường duy nhất dẫn tới thành công. Việc buôn bán diễn ra thường xuyên vì các khách hàng tiềm năng của bạn có thể nghe được thông tin về các sản phẩm, dịch vụ của bạn theo nhiều cách khác nhau và nhiều nguồn không giống nhau. Họ càng nghe nhiều về bạn thì càng có xu hướng muốn biết những gì bạn cung cấp khi họ có ý định mua sản phẩm, dịch vụ đó.

Tận dụng các nguồn báo chí địa phương. Các nhật báo, tuần báo chính là nguồn thông tin liên lạc vô tận và có thể dẫn tới nguồn khách hàng tiềm năng đáng kể cho bạn. Hãy để ý tới tên của những người được tuyên dương trong đó, có thể là những người đoạt giải thưởng gì đó, những người vừa khai trương của doanh nghiệp hay một người nào đó đơn giản có thể sẽ là một khách hàng tiềm năng của bạn. Hãy gửi tới họ thư riêng, thông báo cho họ biết về những ích lợi trong loại sản phẩm bạn đang phục vụ. Nếu có thể, bạn cũng nên tham dự các cuộc họp những đối tượng này có mặt. Khi bạn gặp họ hay gửi thư, đừng quên nói cho họ biết bạn đã đọc được bài báo viết về họ và chúc mừng thành công của họ cũng như “nhấn” thêm rằng bài báo viết về họ thú vị như thế nào.

Để ý tới những sự kiện có thể tạo ra thị trường tiềm năng cho bạn. Hãy liên hệ với những nhà tổ chức sự kiện và đề nghị sử dụng sản phẩm cũng như dịch vụ của bạn làm giải thưởng trong sự kiện đó, đổi lại bạn sẽ được một nhóm người quảng bá về sản phẩm, dịch vụ của bạn.

Tham dự các cuộc họp và hội thảo có thể các khách hàng tiềm năng của bạn có mặt. Nếu bạn vẫn chưa có được các mối liên hệ để có thể bán hàng, hãy tìm hiểu trên báo chí xem có tổ chức nào khác tổ chức những sự kiện có thể thu hút thị trường chiến lược của bạn và tham gia một vài sự kiện đó.

Duy trì liên hệ sau các cuộc gặp mặt. Thử liên hệ với những người bạn đã gặp mặt để xem họ có thể là những khách hàng tiềm năng hay không. Nếu họ nói, hiện tại họ chưa cần tới các dịch vụ của họ, bạn có thể hỏi khi nào thì bạn có thể gọi lại cho họ hoặc liệu các đối tác doanh nghiệp của họ có nhu cầu sử dụng sản phẩm của bạn hay không.

Cho ít nhưng nhận lại nhiều. Hãy gửi tặng hàng mẫu miễn phí sản phẩm của bạn và nhờ khách hàng nói lại với bạn bè của họ về sản phẩm cũng như dịch vụ bạn có nếu họ thấy thoải mái. Trong trường hợp bạn là nhà tư vấn, hãy dành cho khách hàng một vài lời khuyên miễn phí hữu ích. Cách làm này có thể dùng hình thức gửi thư thông báo có kèm theo những tin tức, thủ thuật và những mách nước nho nhỏ, cũng có khi đó là vài lời tư vấn giúp bạn cung cấp vừa đủ thông tin cho khách hàng, giúp khách hàng tin tưởng bạn hoàn toàn có khả năng cung cấp tốt sản phẩm, dịch vụ của mình.

Tranh thủ những mối quan hệ cá nhân. Hãy hỏi qua bạn bè xem ai đang có nhu cầu sử dụng dịch vụ của bạn. Nếu có thể, hãy dành một khoản thù lao nho nhỏ cho những lần giới thiệu hiệu quả để việc chào mời khách hàng này trở thành một công việc thú vị cho họ.

Học tập đối thủ. Hãy quảng cáo sản phẩm của bạn ở chỗ đối thủ bạn quảng cáo, hãy tự quảng bá mình ở nơi đối thủ đang tự quảng bá họ.

Sử dụng nhiều quảng cáo nhỏ thay vì một quảng cáo hoành tráng. Khi phần đa các doanh nhân khác cùng kinh doanh sản phẩm như của bạn đều có hoạt động quảng cáo để thu hút khách hàng thì tất yếu bạn cũng nên làm như vậy. Nhưng đừng lên kế hoạch quá hoành tráng và dồn vào một chiến lược quảng cáo duy nhất. Hãy tìm cách đặt những quảng cáo nhỏ trong một thời gian dài trên cùng một ấn bản hay phương tiện truyền thông mà đối thủ của bạn thường quảng cáo. Việc lặp đi lặp lại liên tục sẽ góp phần xây dựng thương hiệu. Chẳng hạn, nếu bạn định đặt quảng cáo của mình ở những trang vàng thì thay vào đó nên xem xét đặt nhiều quảng cáo nhỏ hơn (giá thành cũng rẻ hơn) trong nhiều phần đầu của các danh mục.

Hỏi nguyên nhân khi khách hàng từ chối mua hàng. Có phải họ biết có loại sản phẩm nào khác phục vụ nhu cầu họ tốt hơn sản phẩm của bạn? Có phải họ thấy mình không có chút nào nhu cầu với loại sản phẩm của bạn? Có phải họ chỉ tạm thời chưa muốn mua hàng của bạn ngay? Có thể họ thấy rằng việc đặt mua hàng trên website của bạn phức tạp quá?.v.v. Tất cả những câu trả lời từ họ sẽ giúp bạn có những thay đổi thích hợp và cần thiết để đẩy tăng được lượng khách hàng trong tương lai.








Bạn đã sẵn sàng để khởi nghiệp?

Không phải cứ có nhiều tiền là khởi nghiệp thành công:

Trên thế giới có hàng trăm ngàn người tự đứng ra tự khởi nghiệp kinh doanh. Có người thành công, không ít kẻ thất bại. Đa số họ thất bại vì chưa trang bị sẵn sàng 3 yếu tố cơ bản: Tính cách; Biết rõ điểm mạnh, yếu của mình; Dám dấn thân để đạt mục tiêu.

Tính cách:

Luôn “yêu thích” phục vụ người khác: Điều hành một doanh nghiệp (DN) đòi hỏi bạn phải “vật lộn” giữa yêu cầu khắt khe của khách hàng và nhân viên. Khách hàng luôn đòi hỏi chất lượng cao hơn trong khi nhân viên của bạn cũng luôn đòi hỏi những điều kiện làm việc tốt nhất. Liệu bạn có sẵn sàng để làm “đày tớ” cho cả hai? Chỉ có bạn mới trả lời được câu hỏi này.

Tự tin trước mọi thách thức: Một tính cách khác nữa luôn có chung ở các nhà DN là họ luôn rất tự tin: tin vào bản thân vào ý tưởng của họ, …

Kiên trì lôi kéo nhà đầu tư: Các nhà DN đều có khả năng lôi kéo được tiền đầu tư từ các nhà đầu tư. Tôi đã từng chứng kiến cảnh một nhà khởi nghiệp thuyết phục người khác đâu tư cho dự án của họ. Họ thực sự làm tôi bị sốc với cách họ trình bày vấn đề!
Biết rõ điểm mạnh, yếu:

Hãy lập cho bạn một bản lý lịch, phân tích những tính cách của mình y như bạn đi dự một cuộc phỏng vấn vậy. Hãy nhớ, một trong những công việc sau này bạn phải làm thường xuyên trong ngày là phỏng vấn nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp và cả báo chí…

Một khi đã biết rõ điểm mạnh và điểm yếu của mình, hãy đi tìm và thuê một người có những điểm có thể bù đắp khiếm khuyết của bạn. Hãy trân trọng người đó, vì mất họ DN của bạn khó lòng đứng vững được.

Dám dấn thân mạo hiểm!:

Liệu bạn có dám nói một cách danh dự rằng “Tôi sẵn sàng đầu tư tiền bạc, tư trang, thời gian dành cho gia đình để có được số vốn ban đầu và hy vọng rằng tôi sẽ đạt được kết quả mong đợi, cho dù nhân viên cũng như khách hàng ai nấy cũng chỉ chực chờ kiếm lợi từ tôi?”

Có một điều khá thú vị là yếu tố dẫn đến quyết định khởi nghiệp của một số người đa phần lại bắt nguồn từ một chuỗi những chán chường trong công việc trước đó.

Làm gì thì làm, bạn cần phải có một mục tiêu để phấn đấu, để kiểm soát hành động của mình. Mục tiêu đó cần cụ thể, lạc quan nhưng thực tế. Bạn phải đề ra hai dạng mục tiêu: ngắn hạn và dài hạn.

Ngoài ra, hãy quan tâm tới cái tôi của mình. Nếu bạn khởi nghiệp vì cái tôi thì hãy chọn cho mình một nghề nghiệp phù hợp với cái tôi đó.

4 nguồn lực cần thiết để khởi nghiệp kinh doanh
(17:00, 16/11/2007)
Hầu như bất cứ ai cũng có thể mở doanh nghiệp, song để kinh doanh thành đạt thì không dễ. Theo số liệu trong cuốn "Tỷ lệ đổ vỡ của các công ty mới", ít nhất có một nửa số công ty mới tại Canada không tồn tại đến năm thứ 3. Ấn phẩm này cho biết, nếu muốn mở 1 doanh nghiệp bạn phải có 4 nguồn lực dưới đây.
Bạn có đủ những tố chất cần thiết của một doanh nhân? Những doanh nhân thành công là những người luôn tận tuỵ với hoạt động kinh doanh của mình. Các chuyên gia Canada đã tóm gọn những đặc trưng mà doanh nhân cần có bởi "mẫu người 4 D" (4 tố chất bắt đầu bằng chữ D trong tiếng Anh), bao gồm Khát vọng (Desire), Động lực (Drive), Kỷ luật (Discipline) và Quyết tâm (Determination).
Bạn cần có không chỉ ý tưởng kinh doanh, mà cả khả năng thực hiện những ý tưởng đó. Những doanh nhân thành công là những người có quyết tâm cao để vượt qua những trở ngại, thậm chí thất bại trong thời gian ngắn.
Khát vọng và Động lực là điều kiện cần song chưa đủ để khởi nghiệp kinh doanh. Kỷ luật và Quyết tâm là những yếu tố đảm bảo để các doanh nhân đi theo và phát triển các ý tưởng kinh doanh, bất luận quá trình này suôn sẻ hay phải đối mặt với nhiều trở ngại.
Bạn có đủ những kiến thức cần thiết về kinh doanh? Nhiều người cố mở doanh nghiệp trong khi còn thiếu những kiến thức cơ bản. Đây là nguyên nhân chính làm nhiều công ty "chết yểu"
Để mở doanh nghiệp, bạn cần trang bị cho mình kiến thức về nhiều khía cạnh kinh doanh khác nhau và phải có những kỹ năng nhất định hoặc có nghiên cứu để tìm thuê những người đảm nhận các công việc mà bạn thấy thiếu kỹ năng.
Kỹ năng không thể thiếu đối với doanh nghiệp là việc quản lý con người. Ngoài ra, bạn cũng cần trang bị kiến thức về bán hàng và marketing. Cần nhận dạng đâu là những đối thủ cạnh tranh của mình? Đâu là những cạm bẫy trên thương trường? Chính sách khách hàng như thế nào?
Bạn có huy động đủ nguồn vốn cho việc mở và vận hành kinh doanh? Chỉ một số ít người có vốn để mở doanh nghiệp, còn đa hần phải huy động vốn bên ngoài khi khởi sự kinh doanh. Trước khi mở doanh nghiệp, bạn cần phải xác định rõ sẽ huy động vốn ở đâu. Đây là nhân tố quan trọng nhất trong kế hoạch kinh doanh của bạn.
Việc huy động đủ lượng vốn cần thiết để khởi nghiệp kinh doanh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi không có gì đảm bảo rằng kinh doanh của bạn sẽ đem lại ngay nguồn thu cho bạn như dự kiến và không có gì đảm bảo rằng, doanh nghiệp của bạn sẽ đem lại đủ tiền để duy trì cuộc sống cho cả gia đình bạn. Như vậy, vốn cần thiết không chỉ gồm vốn để mở doanh nghiệp mà còn để duy trì hoạt động của doanh nghiệp cho đến khi đem lại lợi nhuận.
Bạn có được những nguồn lực hỗ trợ kinh doanh cần thiết? Gia đình là mắt xích quan trọng nhất trong hệ thống hỗ trợ kinh doanh. Không phải ngẫu nhiên mà hầu hết các nhà kinh doanh thành đạt đều là những người đã xây dựng gia đình. Gia đình không chỉ là nguồn hỗ trợ về tài chính, mà còn là nguồn động viên về tinh thần cũng những nguồn ý tưởng và lời khuyên đáng quý đối với hoạt động kinh doanh của bạn.
Nguồn hỗ trợ kinh doanh quý giá khác là các doanh nhân. Trước khi mở doanh nghiệp, bạn cần tiếp xúc và trao đổi với các doanh nhân đã từng thành công trong hoạt động này để có được những thông tin cần thiết và có thể là những lời khuyên hữu ích



9 loại hình để khởi nghiệp kinh doanh trên mạng (



Mặc dù thời kỳ bùng nổ của các công ty dotcom đã qua, nhưng cơ hội kiếm tiền trên Web vẫn còn rất lớn. Vấn đề là bạn phải biết tìm cơ hội đó ở đâu. Sau đây là gợi ý về 9 lĩnh vực kinh doanh khả thi mà bạn có thể bắt đầu ngay từ hôm nay, được đúc rút từ kinh nghiệm của các công ty hoạt động trong lĩnh vực TMĐT thành công trên thế giới.
1. Nhận giao hàng

Có lẽ bạn không bao giờ nghĩ rằng mình sẽ tạo dựng cơ nghiệp bằng cách chạy quanh thành phố và giao các món hàng cho mọi người. Thế nhưng nhiều người đã thu được hàng triệu USD từ dịch vụ này.

Ross Stevens, người sáng lập và giám đốc điều hành công ty Urbanfetch Inc., cho biết: "Mọi người thường không thích chờ đợi lâu sau khi đặt mua hàng hoá trên mạng. Chính vì thế, chúng tôi thấy đây là cơ hội lớn để cung cấp một dịch vụ mà khách hàng có thể nhận mọi thứ trong cùng ngày đặt hàng, thậm chí là trong cùng giờ đặt hàng".

Hiện nay, công ty có trụ sở tại New York này đang cung cấp dịch vụ giao hàng miễn phí trong vòng một giờ đối với nhiều loại hàng hoá, từ đồ tiêu dùng lặt vặt cho đến đồ điện tử, phạm vi là trong khắp thành phố New York. Dịch vụ này đã đánh trúng nhu cầu của những cư dân bận rộn của New York. Doanh số ngay trong năm đầu tiên của công ty vào khoảng 30 triệu USD.

Urbanfetch xác định rõ mục tiêu của mình là bán hàng qua mạng. Công ty tích trữ hàng tại các khu vực chi phí thấp trong thành phố, nhờ đó họ tiết kiệm được chi phí thuê cửa hàng tại các khu phố sang trọng.

Theo đánh giá về tốc độ tăng trưởng của dịch vụ giao hàng tại nhà, lĩnh vực này đang có rất nhiều cơ hội cho những người mới khởi nghiệp. Chuyên gia Christopher Kelley của Forrester Research cho rằng những người mới khởi nghiệp nên chú trọng đến việc đóng gói và giao hàng từ một trung tâm thư tín địa phương đến nhà của khách hàng, hoặc thiết lập các mối quan hệ và nhận giao hàng cho các nhà kinh doanh địa phương.

2. Bán đồ thể thao

Nghiên cứu của Jupiter Communications cho rằng lĩnh vực thể thao trên mạng có thể là một trong những phân đoạn mới quan trọng nhất của thị trường tiêu dùng trên Web. Hiện nay, khách hàng trên mạng xếp hạng thể thao là một trong 5 nội dung ưa thích nhất của họ trên mạng và điều này có thể trở thành cơ hội lớn cho TMĐT.

Nếu muốn thành công trong lĩnh vực thể thao, có một mảng mà bạn nên chú ý đến là trang phục, dụng cụ thể thao dành cho phụ nữ. Bạn có thể tham khảo Lucy.com, một Website rất thành công nhờ cung cấp đồ thể thao cho giới nữ và và hiện đang dẫn đầu thị trường này.

3. Tư vấn qua mạng

Nếu bạn có một nền tảng vững về tư vấn bạn có thể sử dụng các kỹ năng tư vấn của mình để kiếm tiền qua Web. Tư vấn qua mạng là cung cấp lời khuyên cho khách hàng thông qua Internet, thay vì các nhân viên tư vấn trực diện.

Theo nhận xét của IDC, tư vấn qua mạng là một thách thức lớn đối với các hãng tư vấn truyền thống, do mô hình này rất thích hợp với thị trường biến đổi liên tục trên Internet. Hiện nay, một số ít công ty lớn đã bắt đầu bước vào lĩnh vực này. Tuy nhiên những công ty này, như Ernst & Young và IBM, nhằm vào các đối tượng khách hàng là doanh nghiệp và những tổ chức kinh doanh lớn khác, bỏ qua thị phần các doanh nghiệp nhỏ cho những nhà tư vấn mới khởi nghiệp.

"Một nhà tư vấn đã làm việc nhiều năm cho một công ty lớn có thể tiến hành mở dịch vụ tư vấn qua mạng, đặc biệt là nhằm vào đối tượng kinh doanh vừa và nhỏ", Sophie Mayo, Giám đốc chương trình của IDC nói. Tuy nhiên, những công ty mới nên thiết lập thêm phần giao tiếp trực diện để xây dựng mối quan hệ liên tục với khách hàng.

4. Đấu giá trên mạng

Tại sao bạn không tham gia vào thị trường đấu giá đang sôi động trên mạng? Có 3 từ quan trọng nhất là: quan sát, quan sát và quan sát.

Sue Rothberg, nhà phân tích đấu giá cấp cao của Gomez.com cho biết: "Mô hình kinh doanh chi phí thấp nhất cho những người mới khởi nghiệp là kết nối với những đại gia như eBay, Yahoo! hay Amazon. Nên tìm cách gắn hoạt động của mình trên những website đông người truy cập này, điều đó sẽ cho phép bạn xây dựng một thương hiệu và một cơ sở khách hàng mà không cần thực hiện marketing nhiều".

Doanh nhân Richard Birnbaum, 43 tuổi, chủ sở hữu một công ty bán buôn trang phục, có khá nhiều kinh nghiệm về lĩnh vực này. Ông đã tăng gấp đôi doanh số bán hàng kể từ khi đưa danh mục hàng trong website chuyên kinh doanh trang phục của mình Wearamerica.com lên trang eBay. Ông tiết lộ: "Không ở đâu quảng cáo rẻ như eBay".

Ông Birnbaum khuyên, các doanh nghiệp đang dự định tham gia vào lĩnh vực đấu giá nên yêu cầu cam kết đặt tiền trong vài giờ, đồng thời nên dự trữ một danh mục hàng cố định liên tục trong 3 đến 4 tháng để thu hút khoản doanh số ổn định. Đây cũng là một nguyên tắc khi làm việc với dịch vụ quản lý đấu giá.

5. Thanh toán điện tử

Khi giao hàng tại nhà là một ưu điểm lớn của TMĐT, nhưng để thực hiện được điều này cần phải các dịch vụ trên Web cho phép khách hàng nhận và thanh toán phí qua mạng. Dịch vụ thanh toán điện tử cung cấp khả năng lập hóa đơn, giao hàng và thanh toán hoàn toàn thông qua Net.

CyberBills, một công ty cung cấp dịch vụ thanh toán qua mạng, đã phát triển một mô hình kinh doanh kết hợp giữa website bán hàng tiêu dùng của mình StatusFactory.com và một dịch vụ B2B được cung cấp cho các cổng, các ngân hàng, trung tâm giao dịch chứng khoán và các công ty muốn có dịch vụ thanh toán điện tử mang thương hiệu riêng. Giám đốc Điều hành John Simpson đã quyết định thực hiện các dịch vụ gia tăng này để nâng cao doanh số thay vì chỉ bán hàng tiêu dùng, bởi vì phần lớn người tiêu dùng cảm thấy tiện lợi hơn khi xử lý các vấn đề tài chính thông qua các tổ chức đã được tín nhiệm. Các công ty mà CyberBill đang bán lại dịch vụ gồm có Intuit và AOL.

Simpson cho rằng dịch vụ thanh toán qua mạng có thể khó thâm nhập và thành công trong giai đoạn này của Internet, bởi vì nhiều công ty đi trước đã thiết lập quan hệ chặt chẽ với các tổ chức lớn hơn. Ông gợi ý rằng người mới khởi nghiệp nên đóng vai trò là người bán lại dịch vụ thanh toán sẵn có trên website của mình, trước hết là để giữ khách hàng trở lại với website.

6. Trung tâm chăm sóc sức khoẻ

Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ qua mạng đang phát triển rất nhanh và có thể sẽ bùng nổ trong vài năm tới. Jupiter Communications dự tính doanh số của ngành chăm sóc sức khoẻ qua mạng năm 2004 đạt 11 tỷ USD.

Một nghiên cứu khác của Jupiter cho thấy 49% người được phỏng vấn không mua thuốc qua mạng vì họ có thể dễ dàng mua thuốc tại các cửa hàng gần nhà khi đi mua sắm lặt vặt. Điều này giải thích tại sao các website cung cấp các sản phẩm truyền thống gặp nhiều khó khăn.

Có một giải pháp dành người khởi nghiệp: cung cấp các món hàng chăm sóc sức khoẻ thật đặc biệt, khó tìm thấy trong các cửa hàng thuốc thông thường. Trang Selfcare.com là một ví dụ tiêu biểu trong việc thu hút các khách hàng có nhu cầu đặc biệt về chăm sóc sức khoẻ. Trang web này cung cấp cả các sản phẩm truyền thống, sản phẩm thay thế và sản phẩm đặc biệt cho người bị dị ứng thuốc, điều chỉnh cân nặng hay các chứng đau kinh niên. Bất cứ ai cũng có thể đến hiệu thuốc và mua aspirin nhưng đâu phải dễ tìm mua các loại thảo dược đặc biệt hay mặt nạ làm đẹp từ tính chẳng hạn.

7. Web Hosting

Không cần phân tích nhiều, ai cũng có thể thấy triển vọng của dịch vụ Web hosting. Nhưng liệu đây có phải là cơ hội tốt với những người mới bắt đầu?

Theo ông Jeanne Schaaf, nhà phân tích cao cấp của Forrester, "Lĩnh vực này không dành cho những người không biết gì về Web hosting, cấu trúc Web, mạng và máy chủ Web. Đây là một loại kinh doanh kỹ thuật cao và đòi hỏi trình độ chuyên môn cao". Nói cách khác, trái với quan điểm thông thường, lĩnh vực này không đơn giản chỉ là đặt hàng loạt máy chủ vào một căn phòng để làm chỗ "trú ngụ" cho các trang web.

Don Fredrickson, Giám đốc Điều hành "got.net" (một công ty cung cấp dịch vụ Internet), cho biết ông dự định tăng cường dịch vụ Web hosting từ mức 15% hoạt động kinh doanh của công ty lên 70% trong 4 năm tới. Fredrickson cho biết, trong khi nhiều khách hàng là các doanh nghiệp, tổ chức lớn đang tập trung vào các trung tâm dữ liệu với mức chi phí từ 5.000 đến 10.000 USD/tháng cho dịch vụ hosting, thì nhiều doanh nghiệp nhỏ hơn đang rất cần các nhà cung cấp giá rẻ nhưng vẫn đảm bảo tin cậy. Chẳng hạn, giá dịch vụ hosting cơ bản của got.net là 20 USD/tháng và giá duy trì, quản trị một máy chủ đặt tại trung tâm của got.net là 300 USD/tháng.

Ông Fredrickson cho biết thêm, các doanh nghiệp sẽ đặc biệt thành công nếu họ có một lĩnh vực chuyên môn riêng. Với danh tiếng trong lĩnh vực chuyên môn đó, các khách hàng Web hosting sẽ tìm đến với họ.

8. Cổng mua sắm

Các cổng mua sắm trên mạng không chỉ có lợi nhuận từ việc bán hàng hoá mà còn có khả năng thu hút được rất nhiều quảng cáo và các doanh thu phụ trợ. Một trung tâm mua sắm trên mạng là một website cung cấp danh mục các đường dẫn đến rất nhiều dịch vụ và cửa hàng trên mạng. Các cổng lớn như Yahoo, AOL... chiếm khoảng 40% thị phần, phần còn lại về cơ bản là thị phần dành cho các nhà kinh doanh có cách nghĩ táo bạo và khác biệt, tập trung vào những thị trường khe.

Với những người mới bắt đầu, thông điệp quan trọng nhất là "cách nghĩ táo bạo". Một lĩnh vực đầy hứa hẹn trên mạng là cung cấp văn phòng cho các doanh nghiệp nhỏ. Những trang như Works.com và BizBuyer.com tập hợp những người mới khởi nghiệp cùng nhau để xây dựng giải pháp cho những hoạt động mua sắm quy mô nhỏ. Điều này tạo điều kiện cho họ có thể sử dụng các dịch vụ chi phí thấp của nhau, thay vì phải sử dụng dịch vụ của các công ty lớn hơn. Những công ty này cũng thực hiện việc tự động hoạt động mua sắm của các doanh nghiệp nhỏ.

Đối với các doanh nghiệp, loại hình kinh doanh này thích hợp vì hai lý do: đây là thị trường rất tiềm năng và vì là doanh nghiệp nhỏ nên bạn luôn biết rõ khách hàng của mình.

9. Tìm đúng "thị trường khe"

Với những thị trường phổ biến đã có nhiều tên tuổi lớn chiếm lĩnh, người mới khởi nghiệp thường khó có thể thâm nhập và tồn tại, vì vậy bạn nên tìm riêng cho mình một thị trường đặc biệt và cung cấp cho khách hàng điều gì đó khác biệt. Textbookhound.com là một ví dụ tiêu biểu trong việc tìm đúng thị trường khe. Công ty này cung cấp dịch vụ so sánh giá cả các loại sách giáo khoa dành cho giới học sinh, sinh viên. Không như dịch vụ tìm kiếm mua sắm khác, công cụ tìm kiếm của Textbookhound.com cho phép sinh viên gõ và tìm nhiều loại sách khác nhau cùng lúc. Người sáng lập công ty Philip Kaskawits và đồng sự của mình đã lập kế hoạch phối hợp với các nhà trường để cho phép các giáo sư liệt kê lịch trình các môn học, bài giảng của họ trên website, để giúp sinh viên tìm kiếm sách dễ dàng hơn.

Tuy nhiên, phần lớn doanh số của Textbookhound.com là từ các hoạt động liên kết: Amazon hay Barnes & Noble sẽ trả cho công ty một khoản phần trăm doanh số bán sách trên trang của họ. Không như các website tư vấn mua sắm khác, Textbookhound.com không liệt kê các cửa hàng theo thứ tự phụ thuộc số tiền mà họ trả cho công ty mà là theo giá thấp nhất mà họ bán cho khách hàng. Kaskawits nói: "Chúng tôi muốn tạo ưu thế hơn hẳn cho khách hàng. Họ sẽ không phải tìm kiếm lâu. Bí quyết thành công của chúng tôi là biết tìm đúng thị trường khe, tạo sự khác biệt, và làm tốt hơn bất cứ đối thủ nào".

Nói tóm lại, cơ hội kinh doanh trên mạng vẫn còn rất nhiều tiềm năng. Các doanh nghiệp cần biết phân tích nhu cầu thị trường và tìm ra những lợi thế so sánh của mình để đáp ứng tốt nhất đối với một phân khúc thị trường nhất định. Kinh doanh qua mạng, như người ta vẫn nói, là kinh doanh dựa vào sự vào sự thông minh, hiểu biết và nhiều ý tưởng. Điều này càng đúng với các doanh nghiệp nhỏ, những công ty mới khởi nghiệp kinh doanh qua mạng



4 nguồn lực cần thiết để khởi nghiệp kinh doanh



Hầu như bất cứ ai cũng có thể mở doanh nghiệp, song để kinh doanh thành đạt thì không dễ. Theo số liệu trong cuốn "Tỷ lệ đổ vỡ của các công ty mới", ít nhất có một nửa số công ty mới tại Canada không tồn tại đến năm thứ 3. Ấn phẩm này cho biết, nếu muốn mở 1 doanh nghiệp bạn phải có 4 nguồn lực dưới đây.
Bạn có đủ những tố chất cần thiết của một doanh nhân? Những doanh nhân thành công là những người luôn tận tuỵ với hoạt động kinh doanh của mình. Các chuyên gia Canada đã tóm gọn những đặc trưng mà doanh nhân cần có bởi "mẫu người 4 D" (4 tố chất bắt đầu bằng chữ D trong tiếng Anh), bao gồm Khát vọng (Desire), Động lực (Drive), Kỷ luật (Discipline) và Quyết tâm (Determination).
Bạn cần có không chỉ ý tưởng kinh doanh, mà cả khả năng thực hiện những ý tưởng đó. Những doanh nhân thành công là những người có quyết tâm cao để vượt qua những trở ngại, thậm chí thất bại trong thời gian ngắn.
Khát vọng và Động lực là điều kiện cần song chưa đủ để khởi nghiệp kinh doanh. Kỷ luật và Quyết tâm là những yếu tố đảm bảo để các doanh nhân đi theo và phát triển các ý tưởng kinh doanh, bất luận quá trình này suôn sẻ hay phải đối mặt với nhiều trở ngại.
Bạn có đủ những kiến thức cần thiết về kinh doanh? Nhiều người cố mở doanh nghiệp trong khi còn thiếu những kiến thức cơ bản. Đây là nguyên nhân chính làm nhiều công ty "chết yểu"
Để mở doanh nghiệp, bạn cần trang bị cho mình kiến thức về nhiều khía cạnh kinh doanh khác nhau và phải có những kỹ năng nhất định hoặc có nghiên cứu để tìm thuê những người đảm nhận các công việc mà bạn thấy thiếu kỹ năng.
Kỹ năng không thể thiếu đối với doanh nghiệp là việc quản lý con người. Ngoài ra, bạn cũng cần trang bị kiến thức về bán hàng và marketing. Cần nhận dạng đâu là những đối thủ cạnh tranh của mình? Đâu là những cạm bẫy trên thương trường? Chính sách khách hàng như thế nào?
Bạn có huy động đủ nguồn vốn cho việc mở và vận hành kinh doanh? Chỉ một số ít người có vốn để mở doanh nghiệp, còn đa hần phải huy động vốn bên ngoài khi khởi sự kinh doanh. Trước khi mở doanh nghiệp, bạn cần phải xác định rõ sẽ huy động vốn ở đâu. Đây là nhân tố quan trọng nhất trong kế hoạch kinh doanh của bạn.
Việc huy động đủ lượng vốn cần thiết để khởi nghiệp kinh doanh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi không có gì đảm bảo rằng kinh doanh của bạn sẽ đem lại ngay nguồn thu cho bạn như dự kiến và không có gì đảm bảo rằng, doanh nghiệp của bạn sẽ đem lại đủ tiền để duy trì cuộc sống cho cả gia đình bạn. Như vậy, vốn cần thiết không chỉ gồm vốn để mở doanh nghiệp mà còn để duy trì hoạt động của doanh nghiệp cho đến khi đem lại lợi nhuận.
Bạn có được những nguồn lực hỗ trợ kinh doanh cần thiết? Gia đình là mắt xích quan trọng nhất trong hệ thống hỗ trợ kinh doanh. Không phải ngẫu nhiên mà hầu hết các nhà kinh doanh thành đạt đều là những người đã xây dựng gia đình. Gia đình không chỉ là nguồn hỗ trợ về tài chính, mà còn là nguồn động viên về tinh thần cũng những nguồn ý tưởng và lời khuyên đáng quý đối với hoạt động kinh doanh của bạn.
Nguồn hỗ trợ kinh doanh quý giá khác là các doanh nhân. Trước khi mở doanh nghiệp, bạn cần tiếp xúc và trao đổi với các doanh nhân đã từng thành công trong hoạt động này để có được những thông tin cần thiết và có thể là những lời khuyên hữu ích





Cẩm nang 10 chữ để làm quản lý tốt





Hôm nay đang là phóng viên, bỗng ngày mai bạn trở thành hiệu đính (biên tập), thậm chí nắm chức vụ điều hành những đồng nghiệp mà chỉ 24 giờ trước bạn vẫn đang làm việc cùng. Bạn được đào tạo những gì để được bổ nhiệm như vậy? Hầu như trong các trường hợp, câu trả lời là: KHÔNG CÓ GÌ.

Cần nhắc lại rằng khái niệm "quản lý" ở đây nhằm gọi chung những người có thẩm quyền chỉ đạo các phóng viên, biên tập viên về công tác chuyên môn. Tiếng Anh thì người ta gọi tuốt luốt là "editor" nhưng cách phân định trong các tờ báo ở Việt Nam hơi khác, muốn chỉ đạo được thì lại phải có chức danh hành chính - phó phòng, trưởng phòng chẳng hạn. Và nếu dịch cái chữ tiếng Anh thành "biên tập viên" thì nhiều người nghĩ là loại cũng... "lèng mèng". Vì chẳng có cách nào để gọi chung cả, dưới đây đành phải tạm dùng cái chữ "quản lý" tuy về từ vựng thì nó không bao hàm công việc chuyên môn.

Tại một hội thảo của Poynter, cơ quan có tiếng của Mỹ về đào tạo báo chí, Simon K.C. Li, một trợ lý managing editor (tương tự chức danh Thư ký tòa soạn của ta nhưng thẩm quyền điều hành còn cao hơn) của tờ Los Angeles Times phát biểu: "Thông thường quản lý tại các tờ báo chẳng qua khóa đào tạo nào và cũng chẳng được ai chỉ dẫn. Cứ như thể họ vừa được chạm vào cây đũa thần hoặc lưỡi kiếm của Vua Arthur vậy. Và dường như để làm được công tác quản lý thì cứ theo khẩu hiệu của hãng Nike: 'Cứ làm đi (Just do it)'."

Nhưng biên tập rõ ràng là công việc không hề đơn giản, quản lý một tờ báo, hoặc chỉ một chuyên mục cũng hết sức phức tạp. Phóng viên thì thường không phải làm những công việc như thu xếp để hoàn tất công việc này thông qua các công việc kia, đạt được mức độ hợp tác hoàn toàn khác giữa các đồng nghiệp, hiểu rõ tâm tư tình cảm của đồng nghiệp. Và điều khác biệt nhất là phải chạy đôn chạy đáo lo 101 công việc khác nhau cùng một lúc, việc nào cũng cần liên tục lưu tâm chú ý, cần những quyết định tinh tế, có khi nhạy cảm.

Những nhà quản lý có kinh nghiệm đều thống nhất một quan điểm rằng để trở thành một biên tập giỏi, một nhà quản lý giỏi, một lãnh đạo giỏi thì bài học quan trọng nhất là trước hết phải chú ý đến yếu tố con người - tức là chính những nhân viên của mình.

Có thể tổng kết 10 chữ dành cho những người sẽ hoặc đang nắm giữ trọng trách quản lý các tờ báo như sau:

1. Chính trực: Phải là một người ngay thẳng. Mọi người cần phải tin tưởng vào bạn cũng như những lời nói của bạn. Bạn phải là người dũng cảm, đầy nhuệ khí. Phải luôn nói sự thực dù đứng trước bất kỳ quyền lực nào.

2. Năng lực: Cần phải biết cách thức tiến hành công việc của bản thân và của cả các nhân viên dưới quyền. Bạn phải phân tích được các vấn đề rắc rối và đưa ra được giải pháp. Tỷ lệ đưa ra các quyết định và đánh giá đúng đắn của bạn phải cao. Và bạn phải chứng tỏ được năng lực của mình mà không làm phương hại niềm tin của những người khác.

3. Tổ chức: Bạn không chỉ là người có đầu óc tổ chức mà còn phải hiểu rõ tại sao điều đó lại quan trọng. Quyết đoán là kết quả của khả năng tổ chức.

4. Thành thật: Bạn phải nói lên quan điểm của mình một cách rõ ràng và bình tĩnh, luôn trung thực trong đánh giá về bản thân, về các đồng nghiệp và cả những người cấp cao hơn. Phải hiểu rõ chính bản thân mình.

5. Tầm nhìn: Phải làm cho mọi người thấy rõ họ được trông đợi đạt được điều gì. Đặt ra các mục tiêu rõ ràng và lập một kế hoạch chi tiết để thực hiện.

6. Chia sẻ: Thông tin là sức mạnh. Hãy chia sẻ sức mạnh bằng cách chia sẻ thông tin. Đảm bảo rằng mọi người đều biết họ cần phải biết những gì để đạt được những mục tiêu chung cũng như các mục tiêu cá nhân, và có thể đưa ra những quyết định khôn ngoan trong hoàn cảnh của mình.

7. Nhân ái: Những người làm việc dưới quyền bạn không chỉ là các nhân viên luôn làm việc theo chỉ đạo. Hãy chứng tỏ với họ rằng bạn nhìn nhận họ như những cá nhân với sở thích riêng, hy vọng riêng, những nỗi sợ hay niềm hạnh phúc riêng, và đều có những gia đình riêng. Hãy cố gắng nhớ tên vợ/chồng, con cái họ, ngày sinh của họ cũng như các dịp kỷ niệm khác. Hãy cố gắng hiểu tính tình của họ. Hãy nói chuyện trực diện với họ.

8. Hỗ trợ: Hãy luôn bảo vệ các nhân viên của mình. Hãy dành những lời khen đúng lúc cho họ. Làm tăng niềm tin của họ, làm chọ họ cảm nhận được giá trị của mình và thường xuyên nhắc nhở họ về điều đó. Tạo cho họ cơ hội để được đào tạo. Hãy hưỡng dẫn cho họ, giúp họ phát triển.

9. Thời gian: Thời gian là thứ quý giá nhất. Hãy làm việc có kế hoạch, đúng hẹn.

10. Tin tưởng: Ủy quyền cho cấp dưới. Tạo cho họ cơ hội để thành công, và cả thất bại. Hãy chứng tỏ bạn tin tưởng vào họ./.

10 lời khuyên lúc khởi nghiệp




Lời khuyên thứ nhất: Hãy làm những gì bạn yêu thích. Bạn sẽ dành rất nhiều thời gian, năng lượng để bắt đầu việc kinh doanh và xây dựng nó thành một doanh nghiệp thành công, cho nên điều tối quan trọng là bạn phải thực sự yêu thích một cách sâu sắc những gì mình làm, cho dù nó có là cho thuê hồ câu cá, làm gốm hay tư vấn tài chính.
2. Khởi nghiệp khi bạn vẫn đang còn đi làm cho người khác. Người ta có thể sống mà không có tiền trong bao lâu? Không lâu lắm! Trong khi bạn có thể mất khá nhiều thời gian trước khi doanh nghiệp mới của bạn thực sự kiếm ra tiền. Đi làm thuê cho người khác trong khi bắt đầu doanh nghiệp riêng của mình có nghĩa là bạn vẫn có tiền trong túi trong giai đoạn đầu khởi nghiệp.
3. Đừng bắt đầu một mình. Bạn cần một hệ thống hỗ trợ khi bạn bắt đầu một doanh nghiệp (và cả sau đó nữa). Một thành viên trong gia đình hoặc một người bạn mà bạn có thể chia sẻ ý tưởng, họ biết lắng nghe một cách cảm thông và cho rằng ngay cả khi thất bại thì việc khởi nghiệp của bạn cũng là một bài học vô giá. Sẽ tốt hơn nếu bạn tìm được một cố vấn giàu kinh nghiệm, nếu bạn đủ khả năng, để đăng ký vào một chương trình đầu tư cho những người khởi nghiệp. Sự chỉ dẫn của người dày dạn kinh nghiệm là cách hỗ trợ tốt nhất.
4. Việc đầu tiên là tìm khách hàng. Đừng đợi cho tới khi bạn khai trương chính thức công việc kinh doanh của mình mới tìm kiếm khách hàng, bởi vì việc kinh doanh không thể sống sót nếu thiếu họ. Xây dựng mạng lưới. Tạo dựng các quan hệ. Bán hoặc thậm chí cho không sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn. Bạn không thể bắt đầu công việc marketing quá sớm.
5. Viết kế hoạch kinh doanh. Lý do chính để viết kế hoạch kinh doanh như một việc làm cần thiết đầu tiên là nó có thể giúp bạn tránh được việc lãng phí thời gian và tiền bạc vào việc bắt đầu một công việc kinh doanh không dẫn tới thành công. Người ta nói rằng không lập kế hoạch chính là lập kế hoạch cho thất bại.
6. Nghiên cứu. Bạn sẽ thực hiện rất nhiều nghiên cứu thông qua việc viết kế hoạch kinh doanh, nhưng đó mới chỉ là bắt đầu. Bạn cần phải trở thành một chuyên gia về lĩnh vực, sản phẩm và dịch vụ của mình, nếu như bạn chưa thực sự là một chuyên gia. Tham gia vào các nhóm xã hội hoặc các nhóm chuyên môn trong lĩnh vực của bạn trước khi bắt tay xây dựng doanh nghiệp là một ý tưởng hay.
7. Nhờ chuyên gia giúp đỡ. Vì bạn chỉ điều hành một doanh nghiệp nhỏ, không có nghĩa là bạn phải trở thành chuyên gia trong mọi vấn đề của doanh nghiệp. Nếu bạn không phải là một kế toán hay một người trông hàng, hãy thuê họ. Nếu bạn cần soạn hợp đồng, và bạn không phải là luật sư, hãy thuê họ. Bạn sẽ lãng phí thời gian và có thể là cả tiền bạc nữa, trong một giai đoạn dài, để tự làm những việc mà bạn chưa đủ khả năng làm.
8. Lên kế hoạch cho đồng vốn. Tiết kiệm, nếu bạn phải làm như vậy. Hãy tiếp cận các nhà đầu tư tiềm năng và những người cho vay. Tính xem kế hoạch tài chính phải cần đến của bạn là bao nhiêu. Đừng khởi nghiệp với ý nghĩ sẽ đi đến ngân hàng và rút tiền. Các nhà cho vay truyền thống không thích những ý tưởng mới và không thích những doanh nghiệp không chứng minh được khả năng tài chính.
9. Chuyên nghiệp ngay từ đầu. Tất cả mọi việc về bạn và cách bạn điều hành công việc của mình cần phải làm cho mọi người thấy rằng bạn đang tiến hành một công việc kinh doanh nghiêm túc và chuyên nghiệp. Điều này có nghĩa là bạn phải chuẩn bị tất cả những thiết bị cần thiết như danh thiếp, điện thoại liên lạc, địa chỉ email công việc, đối xử với mọi người một cách chuyên nghiệp và lịch sự.
10. Quan tâm tới các vấn đề pháp lý và thuế trước tiên. Sẽ khó khăn hơn rất nhiều khi phải giải quyết một đống lộn xộn rắc rối đằng sau nếu không để ý ngay đến những vấn đề này. Bạn có phải đăng ký kinh doanh không? Bạn phải nộp những khoản thuế nào? Bạn có phải nộp bảo hiểm và thuế thu nhập cho nhân viên không? Loại hình doanh nghiệp mà bạn lựa chọn sẽ ảnh hưởng như thế nào tới vấn đề thuế thu nhập doanh nghiệp của bạn? Hãy tìm hiểu về các trách nhiệm pháp lý và thuế của bạn trước khi bạn bắt đầu hoạt động và kinh doanh.



Giám đốc không xe hơi



(09:54, 19/06/2007)
Hưng lóc cóc rồ ga xe máy bám theo chiếc Camry bóng lộn tới một nhà hàng sang trọng. Ngồi trong ôtô là đối tác tiềm năng mà anh quyết chèo kéo để ký hợp đồng quan trọng sau bữa ăn.
Trước khi đi, Thuận, bạn của Hưng nửa đùa nửa thật: “Tôi đố ông đi xe máy mà lại ký được hợp đồng lớn. Thời buổi này, giám đốc không xe hơi thì ít ai tin tưởng. Mà đã là ôtô thì đừng nghĩ đến Matiz hay gì khác, phải tầm Ford Focus gần 30.000 USD trở lên nhé”.
Hưng mới ngoài 20 tuổi, vừa thành lập công ty và còn dư gần 30 triệu đồng, đủ để sắm bộ bàn ghế, cái tủ, máy vi tính, rồi tiền đặt cọc thuê văn phòng. "May mà vay được bạn bè chút ít, chưa phải bán con xe máy, bán nó đi lấy gì mà đi lại", Hưng kể.


Có chiếc ôtô sẽ tiện hơn trong giao dịch.
Ảnh minh họa: Hoàng Hà.
Công ty của Hưng kinh doanh quảng cáo, thiết kế trang web, tư vấn pháp luật và một số công việc lặt vặt khác. Sau ba bản hợp đồng nho nhỏ, đây là lần đầu tiên Hưng gặp được một khách hàng tiềm năng. "Nếu họ đồng ý, sau khi trừ một số chi phí đi mình sẽ kiếm được khoảng 50 triệu đồng, một số tiền kha khá kể từ ngày thành lập công ty tới nay”, Hưng háo hức.
Hôm đó, đến giờ hẹn, Hưng đến đón đối tác đi ăn trưa và bàn bạc về đề hợp đồng. "Ôi, xe máy à, ôtô đâu? Thôi tôi sẽ đi xe của tôi, trời nắng nóng lắm”, đối tác thốt lên khi thấy Hưng đến đón bằng xe máy.
Và thế là Hưng lóc cóc theo sau chiếc Toyota Camry 3.0 màu đen bóng lộn kia tới nhà hàng. Cuối cùng, hợp đồng thì chẳng ký được, còn anh phải trả tới 1 triệu đồng cho bữa ăn chiến lược.
Giám đốc Nghị cũng long đong vì chuyện xe hơi. Tốt nghiệp trường Xây dựng vài năm mà chưa kiếm được việc làm đúng ngành nghề, Nghị vừa được thuê làm giám đốc một công ty. Công việc hằng ngày của Nghị là đi giao hàng và ký nhận hóa đơn chứng từ.
“Buổi sáng em đến cơ quan và chiều về bằng Mẹc hoặc Daewoo màu vàng đỏ, khi đi giao hàng em đi Hyundai”, Nghị kể vui. Hỏi ra mới rõ, Mẹc và Daewoo mà Nghị sử dụng chính là xe buýt, còn Hyundai là xe tải đi thuê thường ngày.
Công ty của Nghị làm đại lý trung gian cho một hãng dầu nhớt. Ông chủ, người mở công ty này vì một lý do nào đó mà không đứng tên trên giấy tờ. Nghị vừa là giám đốc, vừa là chủ hàng, vừa là chân giao hàng kiêm khuân vác. Chuyện đi tiếp khách Nghị cũng phải tự lo liệu.
Nghị ngại ngùng nhớ lại những lần đi tiếp khách phải thuê xe ôm đến nhà hàng. “Nhiều lúc gặp khách sang trọng ngượng lắm, buộc phải đi taxi cho đẹp mặt. Mà ngay cả khi tôi đi taxi, độ tin tưởng cũng vẫn chưa cao”, Nghị nói.
Anh Lê Cường, phó giám đốc Công ty tin học HTC thừa nhận: "Từ kinh nghiệm của mình, đi đấu thầu nhiều, ký kết hợp đồng nhiều, tôi công nhận xe hơi không chỉ là phương tiện đi lại. Nó còn là bộ mặt cho việc ngoại giao, ký kết làm ăn. Ngoài ra xe hơi cũng là một tài sản có giá trị tin cậy, nó có thể chứng minh cho sự thành đạt của một doanh nghiệp, cho biết ông chủ của nó là ai, độ tin tưởng đến đâu".
Ông Lê Phạm, chủ một doanh nghiệp in ấn lại tâm niệm: "Cũng còn tuỳ. Tôi nhận thấy nhiều bạn trẻ khá thành công trong việc kinh doanh, làm ăn mà không cần phải nhờ đến ôtô để đi lại với đối tác. Mặc dù vậy, nếu có thì cũng vẫn thuận lợi hơn nhất là việc đi lại với các đối tác là nữ giới”





Bạn trẻ lập nghiệp: Loay hoay vì ngoại ngữ (11:20, 10/05/2007)



Thăng tiến, lương cao là mơ ước của tất cả những người đang chạy đua trên con đường lập nghiệp. Nhưng có những người cả đời chỉ có thể quanh quẩn ở một công ty bé tẹo mà không thể nắm bắt cơ hội làm việc cho các tập đoàn nước ngoài bởi một rào cản duy nhất: trình độ ngoại ngữ.


Chuyên môn - thiếu ngoại ngữ
N.T.Lan tốt nghiệp ngành Tài chính ngân hàng hơn 1 năm với tấm bằng loại khá nhưng vẫn phải "giậm chân tại chỗ" trong một chi nhánh ngân hàng bé tẹo tại Q.2, TPHCM. Lan cho biết, cô hoàn toàn tự tin với khả năng chuyên môn của mình nhưng mỗi lần đụng tới chuyện đổi công việc thì rất "sợ" vì vốn tiếng Anh chỉ đủ dùng để giao tiếp thông thường.
Ngay từ khi còn là sinh viên, H.L.Tuấn đã chứng minh cho mọi người thấy khả năng của mình qua các bản vẽ rất chất lượng và sáng tạo. Trở thành một trong những người có số điểm bảo vệ luận văn cao nhất khóa, Tuấn hăm hở nộp đơn xin việc ở các công ty liên doanh lớn. Nhưng khổ nỗi, chẳng bao giờ anh chàng này vượt qua đến vòng phỏng vấn thứ 2, vì khi gặp sếp người nước ngoài, Tuấn chỉ biết dùng "body language" để... ra dấu! Cuối cùng, sau hơn mấy tháng trời rong ruổi, Tuấn đành chấp nhận làm việc tại một công ty tư nhân với mức lương chỉ bằng một nửa so với những người bạn học yếu hơn mình, nhưng bù lại có trình độ tiếng Anh cao.
Bi kịch: Ít ngoại ngữ và chức cao
Nghe qua có vẻ phi lý nhưng thực tế những điều "phi lý" ấy vẫn xảy ra hằng ngày. T.T.Hoàng hiện đang giữ chức kế toán trưởng tại một công ty Nhật thuộc khu chế xuất. Mức lương của cô lên đến cả 1.000 USD/tháng, nhưng Hoàng tuyệt nhiên không biết một câu tiếng Anh nào. Mọi giấy tờ, văn bản, Hoàng đều giao cho cô kế toán viên. Cô nhân viên này sẽ thay mặt Hoàng trả lời e-mail cho chi nhánh bên Nhật, báo cáo với sếp Nhật. Thậm chí trong cuộc họp với các trưởng phòng, người ta toàn nói tiếng Anh và Hoàng chỉ có thể ngồi nghe rồi nhờ người bên cạnh phiên dịch lại.
Lạ một điều, Hoàng đã giữ cái chức ấy gần 5 năm. Đơn giản chỉ vì Hoàng "quen" với cách luồn lách cho công ty. Thế nhưng, liệu Hoàng có thể "lay lắt" như thế bao lâu nữa, vì mới đây ông sếp mới từ Nhật sang đã phán một câu "nếu không lo học tiếng Anh thì phải "ra đi" trong thời gian sớm nhất". Nghe qua, Hoàng rất hoảng nhưng khổ nỗi học hoài mà chẳng vô được chữ nào. Đến nước này thì xem ra việc không biết ngoại ngữ đã trở thành "bi kịch" thật.
Làm trưởng phòng nghiên cứu nhờ thuộc thành phần "con ông cháu cha", Minh Thái (32 tuổi) chỉ có mỗi việc ngồi đọc báo và lên mạng. Tất cả các tài liệu đều có "đàn em" giải quyết giùm. Cho đến một ngày, cấp trên cử Minh ra sân bay đón đoàn khách nước ngoài mới té ngửa vì Thái chẳng biết nói câu gì ngoài câu "hello", "how are you?" "I'm fine. Thanks! And you?".
Thế là, 7 ngày là khoảng thời gian cho "trưởng phòng giấy" chuẩn bị bàn giao công việc. Rõ ràng, sau vụ việc này Thái mới "ngộ" ra không phải có thế lực là có tất cả mà khả năng chuyên môn, trình độ ngoại ngữ mới thật sự làm nên bộ mặt của một người.
Nhắc đến chuyện này, Ngọc Trinh kể lại tình huống dở khóc dở cười của mình. Trinh tốt nghiệp ngành Quản trị kinh doanh. Thời gian đầu, cô làm cho một công ty tư nhân. Được 6 tháng, cô nộp đơn đến các công ty nước ngoài vì thấy bạn mình làm lương cao quá. Cô nàng ráo riết đi học lớp tiếng Anh cấp tốc trong 4 tuần để đi phỏng vấn. May mắn thế nào, Trinh trót lọt cả 2 vòng và bắt đầu thời gian thử việc.
Nhưng chưa đầy 1 tháng, Trinh đành phải nhận lương cho thôi việc sớm vì không thể hiểu hết ý của ông sếp người Mỹ, thậm chí còn làm tréo cẳng ngỗng hết mọi việc. Cô nàng cười bối rối: "Thật ra khi ấy mình chỉ nghĩ đơn giản là lọt qua mấy vòng phỏng vấn là OK. Nào ngờ, đúng là mọi chuyện không dễ dàng chút nào. Bây giờ nghĩ lại còn cảm thấy xấu hổ".
Ráo riết học ngoại ngữ
Chia sẻ về những kinh nghiệm đau thương của mình, Ngọc Thanh (25 tuổi - học viên cao học ngành Ngôn ngữ) cho biết, đáng lẽ ra Thanh đã giành được suất học bổng đi nghiên cứu tại Canada nhưng chỉ vì không đủ khả năng ngoại ngữ nên đành nhường lại cho người khác. Nếu nói ngoại ngữ chỉ là công cụ thì trong trường hợp này nó đã trở thành một điều kiện tiên quyết cho sự tiến thân.
Thầy Nguyễn Văn Lập (Giám đốc Học vụ Trường ngoại ngữ Á - Âu) cho biết nhu cầu học tiếng Anh của những bạn trẻ ngày càng cao. Thầy Lập nhận xét: "Nhu cầu học tiếng Anh của người trẻ luôn là số 1. Tuy nhiên muốn học có hiệu quả, các bạn phải thật sự nỗ lực hết mình, phải tự học và không được gián đoạn".
Chị Thanh Nga (phụ trách Phòng Tuyển sinh của Trung tâm Anh văn Hội Việt - Mỹ), cho biết: “số lượng học viên người lớn của trung tâm lên đến gần 1.500, đa phần là những người đang đi làm hoặc sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp ra trường cần vốn tiếng Anh để xin việc”.
Quả thật, ngoại ngữ không còn đơn thuần là một công cụ mà chính là tấm vé thông hành để những người trẻ tiếp cận đến đỉnh cao của nghề nghiệp cũng như thế giới bên ngoài. Một nhà tuyển dụng cho biết, người có chuyên môn tốt và ngoại ngữ giỏi chắc chắn sẽ được đắc cử trong những vị trí cao và được hưởng mức lương xứng đáng. Vấn đề còn lại sau bài viết này thuộc về những người đang nắm giữ tương lai của mình, các bạn sẽ làm gì để có thể tự tin nộp đơn ở bất cứ đâu, câu trả lời xin dành cho người đọc.





Cẩm nang khởi sự kinh doanh-Phần 1




Quá trình khởi sự kinh doanh của bạn bắt đầu từ lúc có một ý tưởng lóe lên và có thể tạm gọi là kết thúc khi công ty bạn đã đi vào hoạt động ổn định. Thời gian này có thể chỉ kéo dài vài tháng, có khi lại buộc bạn phải xoay xở hàng năm trời.

Việc phải đối diện với bản liệt kê (chưa đầy đủ) danh sách những việc cần làm như lên kế hoạch kinh doanh chi tiết, đặt tên công ty, tuyển dụng nhân viên, tìm nguồn vốn… làm bạn hoa mắt, nhức đầu vì không biết bắt đầu từ đâu và việc gì cần ưu tiên làm trước. Tuy nhiên bạn đừng quá lo lắng. Tuần tự thực hiện theo 75 bước dưới đây, bạn sẽ cảm thấy dường như quy trình này không quá phức tạp và khó khăn như bạn tưởng.

Bước đầu tiên bạn cần làm là: Đọc và suy ngẫm.

PHẦN 1: KẾ HOẠCH VÀ MỤC TIÊU

1 - 5: Soạn thảo kế hoạch kinh doanh của bạn

Soạn thảo bản kế hoạch kinh doanh là một trong những việc đầu tiên bạn cần tiến hành trước khi bắt tay vào những việc khác. Bản kế hoạch kinh doanh chi tiết được xem như “kim chỉ nam” cho các quyết định của bạn trong suốt cả quá trình hoạt động kinh doanh sau này, giúp bạn tìm ra lời đáp cho câu hỏi về tính khả thi của ý tưởng kinh doanh. Một “tác dụng phụ” của bản kế hoạch kinh doanh là tạo dựng niềm tin cho các nhà đầu tư tiềm năng trước khi họ đồng ý cho bạn vay tiền. Bản kế hoạch kinh doanh còn là một công cụ hỗ trợ trong khi bạn giao tiếp với các đối tác tiềm năng, các bên liên doanh, nhà cung cấp, nhân viên và thậm chí là cả khách hàng.

1. Trước khi lập kế hoạch kinh doanh, bạn hãy nghiên cứu các nguồn lực và công cụ có thể giúp đỡ bạn. Ngoài các cuốn sách kinh doanh, bạn nên nghĩ đến một số chương trình phần mềm chuyên dụng. Bạn cũng có thể nhờ cậy sự trợ giúp trực tiếp từ các tổ chức kinh doanh, hiệp hội ngành nghề địa phương, hoặc tham gia các khóa đào tạo tại các trường cao đẳng, đại học hoặc các cuộc hội thảo kinh doanh. Nếu khả năng tài chính chưa cho phép, bạn không nhất thiết phải thuê dịch vụ của các nhà tư vấn với mức giá tối thiểu 300 USD/giờ.

2. Quan tâm tới những con số. Bạn cần biết rằng một bản kế hoạch kinh doanh phải đảm bảo cả hai yếu tố là định tính và định lượng. Bản kế hoạch doanh của bạn không chỉ bao gồm những viễn cảnh về sự tăng trưởng của công ty bạn trong tương lai, mà nó còn cần được diễn giải trong các thuật ngữ và số liệu tài chính có thể tính toán được. Các con số ở đây càng rõ ràng và chính xác bao nhiêu, chúng sẽ càng giúp bạn có cái nhìn rõ ràng về hoạt động của bạn bấy nhiêu.

Bản kế hoạch kinh doanh luôn được mở đầu bằng phần khái niệm chung, sau đó là phần tài chính. Bạn cần diễn giải các quan điểm tài chính dưới dạng con số. Phần “chữ” sẽ thiếu tính thuyết phục, sẽ thiếu “nghĩa”, nếu bạn bỏ qua phần số liệu tài chính.

3. Hãy đưa ra các con số dự đoán cụ thể và sát với thực tế. Một trong những sai lầm thường gặp nhất khi soạn thảo bản kế hoạch kinh doanh là ước tính doanh thu quá cao, trong khi chi phí lại quá thấp. Tuy nhiên, bạn có thể hạn chế phần nào khoảng cách sai số đó nhờ việc thu hẹp thị trường mục tiêu của bạn cho gần với mức thực tế, sau đó diễn giải doanh thu và chi phí dựa trên thị trường đó. Việc bạn xác định các khách hàng tiềm năng trước, sau đó trừ dần những đối tượng không sẵn sàng mua sắm, không phải là cách thức hiệu quả để tính toán thị trường mục tiêu.

4. Hãy đưa vào bản kế hoạch kinh doanh các ước tính lưu lượng tiền mặt tối thiểu cho từng tháng trong cả năm đầu tiên. Lưu lượng tiền mặt là một yếu tố rất quan trọng, vì thế bạn nên chuẩn bị một ước lượng tổng thể về lợi nhuận và thua lỗ trong vòng ba năm đầu, cũng

BÍ QUYẾT KINH DOANH:PR-MARKETING THƯƠNG HIỆU


Xây thương hiệu bằng... cá tính
Cá tính” nghĩa là gì? Đó không phải là ăn mặc kỳ cục, nói năng kỳ cục và làm những điều kỳ cục. Với ông trùm bất động sản Donald Trump, cá tính trước tiên phải là sự am hiểu chính bản thân mình, giữ chữ tín, dám hành động và cuốn hút bằng sự “ngắn gọn”. Có được như vậy, bạn có thể kiếm tiền và lãnh đạo ngay cả khi... đang ngủ.


"Thương hiệu của lãnh đạo phải là cá tính" - Donald Trump.
Phải biết mình muốn gì
Một quản lý tốt phải là người biết đánh thức khả năng tiềm ẩn của những người làm việc quanh mình.
Tôi có một người bạn cũ làm việc ở phố Wall. Công việc của cậu ấy không được tốt lắm. Vì quý mến cậu ấy, tôi nói với cậu ấy rằng trông cậu ấy ngày càng giống một kẻ thất bại. Tôi không muốn nặng lời, nhưng nghĩ rằng điều đó tốt cho cậu ấy. Cậu ấy nói rằng, cậu ấy cảm thấy bó buộc khi phải nối tiếp nghiệp tài chính của gia đình.
Khi được hỏi thích làm gì, cậu ấy nói rằng cậu ấy thích công việc chăm cỏ tại câu lạc bộ chơi golf. Cậu ấy thích golf, am hiểu về nó và luôn quan tâm đến nó. Tôi khuyên cậu ấy chuyển sang ngành công nghiệp golf thay vì cố chịu đựng công việc tài chính.
Thay đổi quả là khó khăn, nhưng giờ cậu ấy đã trở nên rất thành đạt, vui vẻ và khỏe mạnh. Điều tôi muốn nói ở đây là bạn phải phải biết tự kiểm soát bản thân và dám thay đổi. Nếu cuộc sống hiện tại không phải là những gì bạn mong đợi đừng ngần ngại tự hỏi bản thân đâu là bạn, đâu là những gì cần và phù hợp với bạn. Hãy cắm nguồn điện của mình vào một cái ổ khác, để thấy mình hoạt động tốt hơn.
Bản thân tôi vốn thích sự cạnh tranh. Tôi nghĩ, đó là điều tốt. Thực tế, khi mọi người hỏi tôi bí quyết thành công, tôi thường nói rằng đừng bao giờ bằng lòng với những gì mình đang có. Chỉ có cách ấy, bạn mới có thể thấy được sức mạnh của bạn đến đâu.
Điều đó có nghĩa là hãy đối mặt với những nhược điểm và đừng tự hào với những gì mình đang có. Hãy tìm hiểu về những người thành công hơn bạn tự kiểm điểm xem mình có gì chưa bằng họ. Tôi cũng thường so sánh với bản thân và cố gắng để trở nên tốt hơn.


Muốn là làm - Donald Trump không chỉ là trùm đất đai mà còn là "vua " kinh doanh sắc đẹp. Quanh ông luôn có hàng trăm hoa hậu.
“Hành động”chỉ là lời nói nếu không hành động
Tôi được tờ BusinessWeek chọn là một trong mười doanh nhân có sức cạnh tranh nhất thế giới. Đó quả là một vinh dự lớn lao. Nhưng chắc chắn, tôi sẽ biến nó trở thành động lực để đạt được những thành công lớn hơn nữa.
Nếu bạn không muốn ngồi la cà quán xá, nhâm nhi một tách cà phê và nhìn cuộc đời trôi tuột đi, tôi khuyên bạn hãy bắt đầu biến những gì bạn muốn trong cuộc sống thành sự thật.
Có một câu chuyện thế này: 5 con ếch cùng ngồi trên một súc gỗ. Bốn con quyết định nhẩy đi, hỏi còn mấy con?
Câu trả lời là năm, bởi có sự khác biệt giữa lời nói và hành động.
Vì thế, trước tiên, tôi khuyên bạn hãy nỗ lực để có cho mình một tấm bằng đại học. Theo tôi, nó sẽ đưa bạn tiến xa trong cuộc sống và trong thế giới kinh doanh đầy cạnh tranh ngày nay.
Thứ hai, hãy luôn lạc quan và cố gắng để trở thành người lạc quan. Nó sẽ giúp bạn thành công. Lấy ví dụ một bức tường gạch. Nó đang cản đường đi của bạn. Tốt thôi, đó là điều thường xảy ra. Nhưng bạn có quyền lựa chọn. Bạn có thể bỏ đi, có thể trèo qua tường, đi bên dưới hoặc xung quanh tường.
Nói cách khác đừng để bất cứ thứ gì cản đường bạn. Hãy điều chỉnh cho bản thân luôn cân bằng rồi dùng sự lạc quan đánh bại sự bi quan. Nếu là người lạc quan thì chẳng điều gì có thể khiến bạn gục ngã.
Và cuối cùng, đừng trông mong gì vào người khác, hãy tự giúp mình.


Hãy giữ tín nhiệm đi,
bạn sẽ hiểu thế nào là giá trị của sự trung thực!
Giữ tín nhiệm - Bí quyết thành công
Điều gì sẽ giúp bạn tiến xa trong giới doanh nhân? Không phải trí tụê. Không phải đạo đức. Đơn giản chỉ là bạn phải giữ lời, hoặc trong một số trường hợp, hãy nhớ bạn đã nói gì. Điều đó có vẻ "đơn giản", nhưng lại không dễ thực hiện đối với một số người.
Tôi đến từ thế giới của các công trình xây dựng và phát triển địa ốc, vốn nổi tiếng là khó khăn và nhiều đòi hỏi, và còn cả sự chính xác nữa. Không thể có sự tương đối trong khi xây dựng, vì nhiều người có thể bị thương vì sự tương đối đó. "Cho qua" là không thể chấp nhận được. Và tôi đã áp dụng cách suy nghĩ đó vào mọi việc mà tôi làm.
Có một cam kết trong ngành xây dựng là không được xây cẩu thả. Tôi không liều mạng đối với sự an toàn và tài sản của người khác. Và nếu tôi được biết đến là người cực kì cẩn thận, thì có lý do cho chuyện đó.
Hành động và lời nói rốt cục cũng sẽ mang lại bạn chỉ một trong hai điều: chính trực hoặc không chính trực. Tôi đủ kinh nghiệm để biết được giá trị của sự trung thực.
Với một doanh nhân, đó là sức mạnh có thể giúp bạn vượt qua được tất cả mọi chuyện.
Tạo cho mình sức hút bằng... “ngắn gọn”
Nói ngắn gọn là lịch sự. Nó chứng tỏ rằng bạn tôn trọng thời gian của người khác. Khi phải nghe những bài thuyết trình vô tận, đầu óc con người thường trở nên thiếu tập trung, họ khó lòng lắng nghe những gì bạn nói. Những người nói nhiều thường làm người nghe mất hứng.
Trước khi cộng tác với nhà thầu khoán Brazil Ricardo Bellino ở Trump Realty, Brazil – địa điểm sẽ trở thành khu liên hợp giải trí và sân golf lớn nhất Mỹ La tinh, tôi quyết định chỉ dành cho ông ấy 3 phút để giải trình ý tưởng. Tôi bận rộn và không muốn nghe một bài thuyết trình dài.
Tôi tưởng ông ra sẽ từ chối. Nhưng không. Ricardo đã có một bài thuyết trình tuyệt vời trong đúng khoảng thời gian cho phép. Chính điều đó đã khiến tôi thực sự cảm thấy bị mê hoặc với thỏa thuận mà ông ta đưa ra. Giờ đây chúng tôi là cộng sự.
Hãy tự đặt ra cho bản thân những giới hạn. Ban đầu là thuyết trình trong khoảng thời gian 5 phút, rồi dần biến thành 3 phút. Bất cứ cái gì dài hơn sẽ gây cảm giác đó là một bài giảng lê thê. Hãy nhớ rằng, người bận rộn không thích nghe những thông tin thừa thãi. Chính vì thế, hãy cho họ những gì cần thiết nhất.


Dài dòng chính là bạn đang "ăn cắp" thời gian của người khác.
Thương hiệu phải là cá tính
Tôi chưa bao giờ có ý định biến tên mình thành một thương hiệu. Nhưng những ý tưởng và hàng loạt lý do khác đã khiến Trump trở thành một thương hiệu nổi tiếng.
Tất cả bắt đầu từ Trump Tower. Nó đóng vai trò như hình tượng về ý tưởng thương hiệu của tôi. Ngay từ khi bắt đầu tôi muốn tất cả những gì tôi làm đạt kết quả tốt nhất, có chất lượng cao nhất.
Thương hiệu Trump đi cùng với tiền bạc. Người ta bỏ ra rất nhiều tiền để thuê văn phòng trong tòa nhà của tôi bởi nó gắn liền với tôi và những ý tưởng của tôi. Tôi luôn cố gắng tạo ra những gì hoàn mĩ nhất, muốn cung cấp cho khách hàng của mình những thứ tốt hơn họ mong đợi.
Tạo ra thương hiệu có nghĩa là bạn kiếm tiền ngay cả khi đang ngủ. Chìa khóa cho thành công là luôn luôn đưa ra những quyết định, dự liệu có thể đem lại hiệu quả dù cho là sau này. Đối với tôi, việc trở thành một thương hiệu nổi tiếng không có nghĩa là cứ gắn tên tôi vào bất cứ thứ hàng hóa nào, miễn là nó không làm tôi xấu hổ. Không, tôi tin rằng bất cứ thứ gì gắn tên tôi đều phải phản ánh được chính xác tôi là ai.







Các thương hiệu lớn đã "chết" như thế nào?
Các doanh nghiệp và thương hiệu cũng sinh ra chết đi như con người chúng ta vậy - không ai có thể đoán trước được cuộc sống của chúng sẽ kéo dài bao lâu và chúng bị “khai tử” vì lý do gì. Và chỉ khi sự việc đó xảy ra thì mọi nguyên nhân mới được làm rõ.
1. Nguyên tắc khô cứng dẫn đến hậu quả tai hại.
Hugo Boss, tập đoàn thời trang của Đức, gần đây vừa tuyên bố về việc sẽ ngưng sản xuất trang phục cao cấp dành cho đàn ông dưới cái tên Baldessarini ngay sau khi giới thiệu bộ sưu tập xuân – hè 2007. Lãnh đạo công ty chỉ thông báo ngắn gọn là “Baldessarini hiện nay đã không còn phù hợp với cơ cấu và đường lối kinh doanh của chúng tôi nữa”.
Thương hiệu Baldessarini ra đời từ năm 1993 và chỉ tính riêng năm 2004, nó đã mang về cho Hugo Boss 17 triệu EUR. Trong khi toàn bộ sản phẩm quần áo thời trang có nhãn Hugo Boss (doanh thu trên 1 tỷ EUR trong năm 2005) được làm từ khắp mọi nơi trên thế giới và dây chuyền sản xuất có thể được gọi tên là “xuyên quốc gia”, thì những vật dụng mang tên Baldessarini vẫn chỉ được thiết kế và cắt may tại một xưởng duy nhất. Cuối cùng là chính sự cứng nhắc đó đã giết chết cái tên Baldessarini, khi viễn cảnh phát triển thương hiệu đã bị thu hẹp ngay từ lúc đầu.
Lãnh đạo của hãng thời trang Đức này hiện nay đang tích cực quảng bá cho một thương hiệu cao cấp khác có tên Boss Selection. Tuy vậy, việc công ty Hugo Boss “chôn vùi” thương hiệu Baldessarini không hề ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của dòng nước hoa cùng tên do Procter&Gamble sản xuất.
2. Già cỗi và mệt mỏi.
Do hầu như không có khách hàng mà năm 2004, thương hiệu xe hơi lâu đời nhất nước Mỹ Oldsmobile (ra đời vào năm 1897, trước Cadillac và Ford đến 6 năm) buộc phải rút lui khỏi thị trường. Theo lời của người đại diện cho công ty General Motors, chủ sở hữu của thương hiệu từng một thời là niềm mơ ước của biết bao nhiêu người này, thì doanh số bán hàng của Oldsmobile trong 5 năm cuối cùng đã sụt giảm ghê gớm. Trong những năm 1980 – 1990, General Motors vẫn còn bán được khoảng 1 triệu chiếc xe nhãn hiệu Oldsmobile mỗi năm. Nhưng đến năm 2004, cho dù đã nỗ lực hết sức, lượng hàng bán ra cũng chỉ đạt 250 ngàn chiếc, mặc dù so với mặt bằng chung tại Mỹ thì mức giá 20 ngàn USD không phải là quá cao.
3. “Lúc sống thì chẳng cho ăn…”.
Được mệnh danh là “người đi tiên phong” trong thị trường máy tính cá nhân, công ty IBM vào tháng 12- 2004 đã tuyên bố chấm dứt việc sản xuất máy tính cá nhân. Một trong những lý do chính được lãnh đạo công ty đưa ra là tốc độ bán hàng ngày càng chậm dẫn đến lợi nhuận giảm mạnh.
Việc sản xuất PC của IBM bắt đầu từ năm 1981, nhưng trong vòng 10 năm kế tiếp, hãng lại không mấy quan tâm đến mảng này mà chỉ tập trung nghiên cứu phát triển các thiết bị phần cứng và tối ưu hóa các dịch vụ cung cấp. Mảng máy tính cá nhân của IBM sau đó được một công ty Trung Quốc có tên là Lenovo mua lại và nhờ chính sản phẩm này mà công ty đã vươn lên giữ vị trí thứ ba trên thế giới về sản xuất máy tính cá nhân.
4. Nhân tố dị chủng.
Sau 40 năm thành công rực rỡ trên thị trường thời trang cao cấp, nhà mốt Yves Saint Laurent đã phải đóng cửa vĩnh viễn vào năm 2002. Bản thân ông chủ và là người sáng lập ra nhãn hiệu này, ông Yves Saint Laurent, cho biết ông đi đến quyết định như vậy vì lý do tuổi tác và sức khỏe. Thế nhưng đa số các đại diện của giới kinh doanh thời trang nước Pháp đều biết rõ nguyên nhân thực sự mà người chủ không muốn tiết lộ: đó là mối mâu thuẫn giữa Yves Saint Laurent và đối tác tài chính – chủ nhân tập đoàn Gucci, Francois Pinault. “Giọt nước làm tràn ly” chính là đòi hỏi của Pinault để giám đốc sáng tạo của Gucci, Tom Ford, giữ vai trò nhà thiết kế chính của dòng sản phẩm pret-a-porter (trang phục phổ thông) tại nhà mốt mang tên Yves Saint Laurent.
5. Tính đỏng đảnh của công chúng.
Việc tạp chí Life quyết định ngừng xuất bản vào năm 2000 được giải thích bằng sự lạnh nhạt của độc giả đối với ấn phẩm này. Ra mắt lần đầu tiên cách đây 64 năm, tạp chí Life đã trở thành một phần trong đời sống văn hóa của dân chúng Mỹ.
Số phận của “Cuộc sống” này cũng khá lận đận, khi nó đã buộc phải đóng cửa một lần vào năm 1972. 10 năm sau, tạp chí được khôi phục tuy chỉ có thể ra mỗi tháng một kỳ, thay vì là tuần báo như trước đây. Thế nhưng việc thay đổi này không thực sự cứu được Life. Theo lời thú nhận của cơ quan đại diện của tạp chí, công ty Time Inc. thuộc tập đoàn truyền thông Time Warner, tạp chí Life không đến nỗi phải chịu lỗ, chỉ có điều các chi phí xuất bản tăng nhanh hơn những lợi nhuận mà tờ báo này mang lại.
Có thể nói, tất cả các doanh nghiệp đều ra đời theo một vài trình tự nhất định và giống nhau, nhưng nguyên nhân buộc nó chấm dứt hoạt động thì lại có muôn vàn. Sự rút lui của các “đại gia” không chỉ là những sự kiện khiến cho mọi người chú ý, mà còn là lời cảnh báo cho các công ty còn đang hoạt động trong thị trường đầy biến động với mức độ cạnh tranh ngày càng cao như hiện nay. Những “tấm gương tày liếp” trên đây sẽ là bài học không bao giờ cũ để các doanh nhân soi vào và rút kinh nghiệm cho chính mình


Chiến lược phát triển thương hiệu- Thế nào là hợp lý?
Bạn có từng hỏi tại sao Anchor, một tên tuổi lớn trong ngành công nghiệp thực phẩm của Pháp, lại không sử dụng sản phẩm bơ, cũng như không xúc tiến quảng bá thương hiệu sữa bột của họ ở ? Đơn giản bởi vì thương hiệu này trùng với tên gọi của một loại bia địa phương đã quen thuộc từ lâu, chưa kể các bà nội trợ ở quốc gia Hồi giáo này không thích mua sản phẩm sữa cho con cái, vì theo họ, như vậy có thể tạo ra cho trẻ mối liên hệ tiềm thức với một loại nước giải khát có cồn.
Và quyết định của Anchor là hoàn toàn hợp lý. Hãng đã có một sự đánh giá chuẩn xác trong chiến lược thương hiệu và xúc tiến sản phẩm của mình. Thương hiệu là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất tạo nên khả năng nhận biết, gợi nhớ, phân biệt và định hướng cho khách hàng tìm đến mua và sử dụng sản phẩm. Giả sử Anchor đưa thương hiệu sữa bột vào thì chắc hẳn sản phẩm của hãng sẽ bị lép vế hoàn toàn trước nhãn hiệu bia Anchor nổi tiếng, đồng thời bị một bộ phận lớn dân cư Hồi giáo tẩy chay vì truyền thống tín ngưỡng lâu đời của quốc gia này.
Giờ đây, bạn có thể dễ dàng nhìn thấy chai nước ngọt nhãn hiệu Coca-Cola hay Pepsi-Cola ở khắp mọi nơi, trong bất kỳ cửa hàng nào từ bình dân đến sang trọng. Đó chính là thương hiệu. Kinh doanh ngày nay đòi hỏi các công ty không chỉ cần có được nhận thức đúng đắn và đầy đủ về thương hiệu, mà còn phải có một chiến lược về thương hiệu.
Không chỉ có giới kinh doanh, mà cả xã hội đều…bàn về thương hiệu, đến mức từ “thương hiệu” đã vượt ra khỏi giới hạn của những cuộc họp công ty và đi vào đời sống. Một diễn viên, vận động viên, nhà báo hay nhà hoạt động xã hội khi bắt đầu có uy tín với công chúng, người ta nói: “Ông ấy (hay cô ấy) đã có thương hiệu rồi”. Đến các ngân hàng, xưa nay chẳng thèm để ý đến thương hiệu cũng thấy đến lúc cần quan tâm đến thương hiệu, làm cho công chúng quen thuộc với những cái tên như Citibank hay ACB... Có cả những thương hiệu mới ra đời nhưng đã kịp gặt hái thành công như Trung Nguyên, Thái Tuấn.... Để thu được kết quả đó, các công ty đã phải xây dựng thương hiệu không chỉ là nhãn mác đẹp, bắt mắt, mà đằng sau đó là một chính sách tổng thể và nghiêm túc để quản trị, bảo vệ và phát triển thương hiệu.
Không thể phủ nhận rằng chính sách thương hiệu đóng vai trò rất quan trọng, bởi chính sách này có thể hỗ trợ công ty hoàn thành nhiều mục tiêu kinh doanh khác nhau, đồng thời thuyết phục khách hàng rằng các sản phẩm có cùng nhãn hiệu sẽ có cùng một chất lượng hoặc đáp ứng một số tiêu chuẩn nào đó. Ở các quốc gia khác nhau, chính sách thương hiệu cũng rất khác nhau. Một số công ty sở hữu những thương hiệu nổi tiếng tại nước mình, nhưng khi “đem chuông đi đánh xứ người” mới nhận ra cần phải thay đổi chính sách thương hiệu. Nhiều công ty đã buộc phải đổi thương hiệu, chỉ vì nó mang nghĩa xui xẻo khi phát âm bằng một ngôn ngữ khác. Ví dụ công ty VICK’S Chemical, Pháp, khi kinh doanh tại Đức đã phải đổi tên thành WISK’S, vì từ VICK giống một từ không mấy thanh nhã trong ngôn ngữ Ðức. Không những thế, nhiều rắc rối có thể phát sinh nếu sử dụng cùng một tên thương hiệu tại nhiều quốc gia khác nhau với các ngôn ngữ khác nhau. Chẳng hạn, một công ty Anh đã chào hàng một loại thiết bị y tế với tên là Grab Bucket ở Ðức mà không biết rằng nhãn hiệu này khi được dịch ra sẽ có nghĩa là loại hoa được cúng ở nghĩa trang. Kết quả là sau chưa đầy một tháng, công ty đã phải đổi tên nhãn hiệu của mình.
Một xu hướng đang phổ biến trong chính sách thương hiệu của nhiều công ty là liên kết dọc và gia tăng việc sử dụng nhãn hiệu riêng. Các tập đoàn bán lẻ lớn, các siêu thị, cửa hàng tự phục vụ nổi tiếng ngày càng thắt chặt mối quan hệ với các nhà sản xuất với mục đích gắn nhãn hiệu riêng của mình lên các sản phẩm được tạo ra. Vài năm gần đây, doanh thu từ việc bán sản phẩm với nhãn hiệu riêng chiếm hơn 15% doanh thu bán hàng của các siêu thị ở Hà Lan. Tại các nước EU lân cận, con số này thậm chí còn cao hơn, đến 20- 25%.
Theo kinh nghiệm của nhiều công ty, thì chính sách thương hiệu trước hết phải có một chiến lược lâu dài bao gồm cả các chương trình tiếp thị và xúc tiến giới thiệu sản phẩm phù hợp. Chính sách thương hiệu nên tập trung hướng tới khách hàng, làm sao để sản phẩm của mình đem lại cho khách hàng cảm giác thật nhất và đáng tin cậy nhất.
Chính sách thương hiệu nào nhắm đến đúng nhu cầu của khách hàng với những sản phẩm hàng hoá, dịch vụ phù hợp thì sẽ nhanh chóng thu hút và tạo ra được sự tin cậy từ phía khách hàng. Thương hiệu cà phê Lily của Thuỵ Sỹ là một ví dụ. Tập đoàn kinh doanh cà-phê này đã xây dựng thương hiệu thông qua việc tăng cường ý thức về chất lượng của người trồng cà-phê ở các nước đang phát triển. Nhà sản xuất được nghe, xem các bài giới thiệu, thuyết trình về cà-phê, cách chăm sóc, bảo dưỡng cây, kỹ thuật thu hái, bảo quản và chế biến với sự hạn chế tối đa việc sử dụng hoá chất…, qua đó hình thành trong tiềm thức người trồng cà-phê những yêu cầu về chất lượng thành phẩm mà họ phải đảm bảo và duy trì. Về phía những người trồng cà-phê, họ cũng muốn thể hiện cho khách hàng thấy mình có trình độ thưởng thức cao. Cứ như vậy, tiếng lành đồn xa, cà phê Lily trở nên nổi tiếng với một nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, không dùng hoá chất, chất lượng bảo đảm. Lily không thực hiện quảng cáo thường xuyên trên các phương tiện thông tin truyền thông, mà thay vào đó là các buổi họp báo, giới thiệu sản phẩm, trưng bày tại hội chợ triển lãm. Ngoài ra, Lily thiết kế riêng cho các quán của mình loại máy pha cà-phê Espresso riêng, đặt tách uống cà phê riêng. Đó cũng là nơi thường xuyên tổ chức các buổi thuyết trình, nói chuyện, họp báo của công ty- nội dung không nhất thiết phải đề cập đến cà-phê, nhưng khách khứa bao giờ cũng được mời uống cà phê Lily.
Triết lý trong chính sách thương hiệu của Lily khá đơn giản. Thứ nhất: quan tâm, có ý thức cao về thương hiệu sản phẩm của mình, coi đó là vấn đề sống còn; thứ hai, sản phẩm phải thực sự có chất lượng, nếu không thì mọi hoạt động tiếp thị, quảng cáo khuếch trương chỉ là lừa dối và không thể thuyết phục được khách hàng lâu dài; thứ ba, cần có chuyên gia giỏi về tiếp thị, đặc biệt là về tổ chức giới thiệu sản phẩm tới công chúng; thứ tư, cần phải có thời gian, vì thương hiệu có thực sự vững mạnh cũng phải thể hiện qua sự bền vững với thời gian.
Có 6 bí quyết để xây dựng một chính sách thương hiệu thành công đối với các công ty:
1.Quảng bá thương hiệu không đơn thuần chỉ là quảng cáo, dù quảng cáo là một bộ phận không thể thiếu được trong quá trình phát triển thương hiệu. Cái gốc của thương hiệu là uy tín của sản phẩm và dịch vụ, sự bền vững của chất lượng. Những thương hiệu lớn trên thế giới như Heineken, Coca-Cola, Shell, Ford... đều đặt chất lượng lên hàng đầu. Thậm chí, những thương hiệu dù đã có được uy tín lâu dài cũng sẽ tự đánh mất mình nếu để chất lượng sản phẩm giảm sút. Vì vậy, một chiếc xe máy Honda từ đời 67 đến Honda @ luôn là những bước tiến thể hiện cố gắng tự làm mới liên tục của công ty.
2.Công ty cần phải tiếp cận vấn đề thương hiệu với một chiến lược tổng thể. Đó là việc phải nhận thức đúng và đầy đủ về thương hiệu trong toàn bộ công ty; xây dựng thương hiệu trên cơ sở nghiên cứu thị trường kỹ lưỡng; đăng ký bảo hộ nhãn hiệu sản phẩm trên thị trường trong và ngoài nước; phát triển hệ thống kênh phân phối; quản lý thương hiệu để đảm bảo uy tín và hình ảnh của thương hiệu không ngừng được nâng cao.
3.Công ty cần phải định vị nhãn hiệu một cách rõ nét trong nhận thức của người tiêu dùng để phát huy tối đa nội lực, tập trung vào các mục tiêu chính, triển khai các kế hoạch hỗ trợ và tạo dựng hình ảnh trong tâm trí khách hàng. Ví dụ, công ty nước giải khát Tribeco đã có một chiến lược chuyển đổi thích hợp khi thị trường đồ uống có ga bị hai “người khổng lồ” Coca-Cola và Pepsi-Cola tấn công. Khi vị thế của công ty ở thị trường này thu hẹp dần, Tribeco đã có chiến lược chuyển hướng sang nhóm sản phẩm đồ uống không ga như sữa đậu nành rất thành công. Hay những ví dụ khác: kem đánh răng Aquar Fresh hướng đến 3 mục tiêu là “chống sâu răng, hơi thở thơm tho và hàm răng trắng hơn”; kem đánh răng P/S trà xanh sẽ có màu xanh đặc trưng gợi nhớ những lợi ích từ trà...
4.Nên lưu ý rằng việc xây dựng thương hiệu chỉ đạt hiệu quả tối đa, khi đi kèm theo nó là nhiều biện pháp hỗ trợ khác. Ví dụ thương hiệu bột giặt Omo không chỉ thành công nhờ quảng cáo dày đặc trên truyền hình, mà còn nhờ các chương trình khuyến mãi, triển lãm, tài trợ học sinh nghèo hiếu học và đặc biệt là việc xây dựng Quỹ khuyến học... nên có ảnh hưởng tích cực đến thái độ của người mua.
5.Khi xây dựng thương hiệu, công ty cần lồng vào đó một triết lý vừa phản ánh được tiêu chí của công ty, vừa mang đậm tính nhân văn để tạo niềm tin với khách hàng về giá trị thương hiệu. Chúng ta đã nghe “Nâng niu bàn chân Việt” khi nhắc đến các sản phẩm Biti’s, hay “Hãy nói theo cách của bạn” là nói về thương hiệu Viettel.
6.Cuối cùng, công ty cần tạo ra mối liên kết thương hiệu bền vững trong tâm thức người tiêu dùng chứ không để rơi vào tình trạng “chết yểu” thông qua các chiến dịch quảng cáo dài hạn cũng như các hoạt động tiếp thị sáng tạo và mới lạ.
Như vậy có thể nói thương hiệu là một thứ tài sản vô hình nhưng lại chứa đựng một sức mạnh hữu hình, khi nó quyết định sự lựa chọn của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ của bạn, thậm chí nó còn tác động đến sự thành- bại của hoạt động kinh doanh. Vì lý do đó, một hướng đi cho thương hiệu luôn là thách thức đối với doanh nghiệp. Một Pepsi-Cola của Mỹ cũng có thể sa chân lỡ bước chỉ vì sai lầm trong chiến lược phát triển, còn Nokia của đất nước Phần Lan lạnh giá biết đâu lại lớn mạnh nhanh chóng nếu chọn đúng hướng đi. Đó chỉ là những giả thiết. Nhưng có một sự thật mà các chuyên gia về thương hiệu hiểu rõ là thương hiệu luôn bền vững nhưng lại vận động không ngừng, và trong chiến lược tạo dựng và phát triển thương hiệu thì vai trò quan trọng thuộc về những con người tâm huyết, năng động, sáng tạo biết tìm hướng đi thích hợp cho thương hiệu. Hy vọng rằng thành công của những công ty Việt nam đã xây dựng được chiến lược thương hiệu mạnh như Trung Nguyên, Thái Tuấn, Viglacera… sẽ được nhân rộng thêm lên, để chúng ta ngày càng có nhiều hơn các thương hiệu mạnh mang theo niềm tự hào của công ty sở hữu nó.









Thương hiệu Việt ở xứ triệu voi (Kỳ 1) - Đánh thức “vùng đất mới”)


Chợ Sáy - chợ lớn ở Vientiane - nơi có nhiều người Việt buôn bán - Ảnh: K.Em
Lào đang được giới làm ăn, kinh doanh người Việt đánh giá là một “vùng đất vàng” đầy tiềm năng đã ngủ yên nhiều năm qua. Các cửa khẩu Lào - Việt dọc các tỉnh miền Trung và miền Bắc VN gần đây quá tải thường xuyên vì hàng ngàn người Việt xếp hàng sang Lào làm ăn, mua bán.
Người Việt ở Lào đang trở thành những cầu nối về kinh tế, văn hóa giữa hai vùng đất Việt - Lào vốn có mối quan hệ truyền thống, gắn bó lâu đời.
Từ TP.HCM có thể đáp thẳng chuyến bay đến thủ đô Vientiane của Lào chỉ trong vòng vài chục phút. Nhưng cơ hội làm ăn không chỉ ở thủ đô mà ở khắp các tỉnh của Lào, do đó các cửa khẩu đường bộ luôn dài những dòng người tìm đường sang Lào từ khắp các tỉnh thành của VN.
Nhộn nhịp sang Lào
Quốc lộ 9 (Quảng Trị) sang miền Hạ Lào lúc nào cũng đông dòng xe du lịch, xe của doanh nghiệp chở hàng hóa từ khắp các tỉnh thành ở VN đổ về. Mỗi ngày có trung bình năm chuyến xe chở hàng hóa từ các tỉnh, thành miền Trung như Đà Nẵng, Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị... đi Vientiane, Pakse, Savannakhet...; hơn 20 chuyến xe khách từ các tỉnh miền Trung đưa khách đến các cửa khẩu, sau đó khách tự đón xe Lào đi tiếp. Các tuyến xe khách qua Lào dọc từ Kontum đến Lai Châu được mở ra liên tục theo nhu cầu đi lại của người dân.
Ông Lê Viết Hưng - nhà ở Đà Nẵng, có trên mười năm buôn bán ở Lào - nhận xét rằng chưa bao giờ dòng người Việt qua xứ sở triệu voi đông đảo như hiện nay. Hầu như chuyến xe khách nào cũng đều quá tải. Bình quân một chuyến xe khách khởi hành từ Đà Nẵng đi đến thủ đô Vientiane phải mất gần một ngày rưỡi, nghỉ qua đêm tại cửa khẩu Lao Bảo, đường dài cả ngàn cây số nhưng giá vé lại khá mềm, chỉ trên dưới 200.000 đồng/hành khách nên phù hợp với nhiều người, nhất là doanh nhân bình dân. Ông Hưng cho biết có nhiều người dân cùng làng ở Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam... cùng qua Lào làm ăn nên vào những dịp sau tết âm lịch, có những làng thuê “trọn gói” cả mấy chuyến xe khách về tận làng quê để rước cả “làng” sang Lào làm ăn vui ra phết!
Người VN sang Lào làm ăn chia làm hai giới: giới doanh nghiệp nhận làm các công trình xây dựng, buôn bán cá biển, gỗ, hàng gia dụng, kim hoàn... và giới bình dân, đông nhất là lao động phổ thông. Họ qua Lào làm đủ thứ nghề, từ thợ hồ, thợ nề đến làm móng tay, thợ uốn tóc...
Có những người chỉ mới vài năm trước còn qua lại xứ Lào để buôn thúng bán mẹt nhưng chỉ trong vài năm nhờ siêng năng, biết làm ăn nên bây giờ đã có trong tay cả tỉ tiền kíp, tính ra cũng đến vài tỉ đồng VN. Có người là “trùm” buôn cá biển, có người là đại lý lớn mặt hàng nhựa gia dụng, có người chuyên buôn đi bán lại các máy móc xây dựng, nông ngư cơ... Như ông Lê Viết Hưng là một đầu mối cung cấp các loại vàng, nữ trang cho hầu hết các tiệm vàng lớn do người Việt làm chủ tại Vientiane. Từ hai bàn tay trắng, qua xứ Lào thử vận may với nghề kim hoàn, nhờ giỏi nghề và chịu thương chịu khó, chỉ trong mấy năm, ông Hưng trở thành “đại gia” kim hoàn được nhiều người biết tên.
Cạnh tranh với người Hoa và Thái
Ông Hoàng Cung Thượng Nhân, trưởng văn phòng đại diện Công ty cổ phần Đầu tư và phát triển thủy điện Việt - Lào, cho rằng chính những thuận lợi về nhiều mặt trong giao thương Việt - Lào đã đưa số người Việt sang Lào làm ăn chưa bao giờ nhiều như thời gian gần đây. Từ các tỉnh miền Trung sang các thành phố lớn của Lào chỉ vài trăm kilômet, đường giao thông như các tuyến đường 8, đường 9... khá thuận lợi.


Công trình xây dựng Trung tâm thương mại Pakse do người Việt bỏ vốn đầu tư - Ảnh: Vũ Bình
Có khoảng 30% dân Lào biết nói tiếng Việt, tỉ lệ này khoảng 40-50% ở các vùng biên giới Việt - Lào. Hầu hết viên chức, cán bộ các công sở của Lào đều có thể giao tiếp bằng tiếng Việt. Theo đánh giá của Đại sứ quán VN tại Lào, nhìn chung cuộc sống người Việt tại Lào đều ổn định và có mức sống cao hơn so với mức sống của người dân địa phương. Khoảng 50-60% người Việt ở Pakse, Vientiane, Attapeu... được đánh giá là khá và giàu với mức thu nhập tối thiểu mỗi tháng trên 20 triệu đồng tiền Việt.
Cộng đồng người Việt tại Lào gồm người Việt đã nhập quốc tịch Lào, những người sinh ra và sinh sống lâu đời tại Lào nhưng vẫn mang hộ chiếu VN và những người Việt mới sang Lào để làm ăn. Theo ước tính của các hội người VN, hiện có khoảng 50.000 người Việt đang làm ăn sinh sống tại Lào. Nhưng trên thực tế, con số người Việt tại Lào đông hơn rất nhiều.
VN hiện có 34 dự án đầu tư qui mô tại Lào với tổng vốn đăng ký gần 30 triệu USD, chủ yếu ở các lĩnh vực xây dựng đường sá, trường học, nhà ở, thủy lợi, sản xuất vật liệu xây dựng, vận tải, du lịch… Hai dự án lớn đang được VN thẩm định triển khai tại Lào là dự án thủy điện Xekaman trị giá khoảng 273 triệu USD và dự án trồng 10.000ha cao su có vốn đầu tư khoảng 25 triệu USD.
Một khi hai dự án này được thực hiện, Lào sẽ trở thành đất nước thu hút vốn đầu tư của doanh nghiệp VN cao nhất trong số các nước có mặt doanh nghiệp VN.

Nhưng Lào là “vùng đất mới” không chỉ để riêng người Việt “đánh thức”. Bà Lê Thị Hải, một đại lý cung cấp mặt hàng nhựa gia dụng của các công ty nhựa VN tại Lào, cho biết hàng nhựa Thái Lan và VN đang cạnh tranh nhau quyết liệt. Giá cả hàng Thái cao hơn hàng Việt khoảng 8-10%.
Để giữ vững công việc kinh doanh của mình, nửa năm qua bà Hải đã chuyển từ làm đại lý cho các công ty nhựa các tỉnh phía Bắc VN sang đại lý nhựa cho các công ty tại TP.HCM, vì thị trường Lào đang ưa chuộng các mặt hàng nhựa sản xuất tại TP.HCM.
Nhờ vậy, mặt hàng nhựa VN chiếm được ưu thế ở Vientiane, Pakse, Savannakhet... Các mặt hàng gia dụng khác của VN nếu trước đây chiếm số lượng 60-70% ở các chợ của Lào thì hiện nay đang bị cạnh tranh gay gắt bởi hàng Trung Quốc và hàng Thái.
Không chỉ cạnh tranh nhau về các mặt hàng tiêu dùng, các nhà thầu lẫn thợ xây dựng Thái và Việt cũng cạnh tranh trong việc nhận các công trình xây dựng.
Ông Nguyễn Văn Nhân, người Hà Tĩnh, chủ thầu xây dựng siêu thị tại trung tâm Pakse, cho biết thợ hồ, thợ mộc... người Thái cũng đổ sang Lào đông như thợ người Việt, nhưng thợ xây dựng người Việt vẫn được dân Lào chuộng hơn vì có tiếng khéo tay và kỹ tính. Người Hoa cũng sang Lào làm ăn đông đảo trong khoảng năm năm trở lại đây.
Theo nhiều Việt kiều ở Lào, đối thủ cạnh tranh số một trong làm ăn hiện nay của người Việt tại Lào chính là người Hoa. Nhiều cửa hàng lớn, khách sạn, nhà hàng và các công ty lớn tại Lào đang được người Hoa mua dần hay chiếm cổ phần.
Ở ngay thủ đô Vientiane, các nhà hàng, khách sạn, cửa hiệu đồ sộ của người Việt có mặt ở các khu Wat Chăn, Wat Tay... thì người Hoa cũng đang hình thành nên những phố Hoa ở Savang, Thongkhankham... Mới đây, người Việt hành nghề buôn bán tại Vientiane, Luang Prabang... đã lên kế hoạch thành lập hội ngành nghề của từng tỉnh ở VN qua đây làm ăn để tương trợ, giúp đỡ nhau trong công việc, nhằm giữ ưu thế của người Việt và cạnh tranh lại các bang hội của người Hoa và hội nghề của người Thái


Ứng biến trong giao tiếp với khách hàng



Hãy vạch ra một cách tỉ mỉ tất cả những trường hợp khi có những cuộc tiếp xúc giữa công ty của bạn với khách hàng hoặc khách hàng tiềm năng.
Sau đó hãy tập trung sức lực để làm cho không khí của những trường hợp này chuyên nghiệp và làm cho người ta thấy thoải mái hơn.
Có nhiều trường hợp tiếp xúc giữa công ty của bạn và khách hàng. Trong những trường hợp này, khách hàng:
1. Lần đầu tiên nghe nói đến tình hình của công ty bạn hoặc ý thức được những gì bạn làm.
2. Đích thân gặp mặt bạn hay gọi điện thoại cho bạn.
3. Trông đợi được bạn phục vụ.
4. Tìm hiểu về những sản phẩm và dịch vụ của bạn.
5. Dùng thử sản phẩm của bạn.
6. Thể nghiệm dịch vụ khuyến mãi của bạn.
7. Tìm hiểu cách bạn giải quyết vấn đề.
Trong mỗi trường hợp như thế này, khách hàng có thể gặp phải các vấn đề tiềm tàng như thế nào?
Trong trường hợp thứ nhất, có thể khách hàng không hiểu rõ những gì bạn làm hoặc lo lắng không biết bạn có đủ năng lực giúp họ hay không hoặc bạn có muốn giúp họ hay không. Có thể họ có ấn tượng tích cực hoặc tiêu cực đổi tên nhãn hiệu, địa điểm làm việc hoặc các nhân tố tương tự mà công ty của bạn sử dụng.
Trong trường hợp thứ hai, có thể khách hàng có phản ứng với các biểu hiện bên ngoài hoặc phong cách đặc biệt của công ty bạn như tố chất chuyên nghiệp thấp kém và thái độ không thân thiện lắm...
Trong trường hợp thứ ba, khách hàng có thể cảm thấy bực mình vì phải chờ đợi sự phục vụ không kịp thời của bạn. Hãng Disney đã bỏ ra rất nhiều tiền để phát minh ra các biện pháp làm giảm sự bực bội của khách hàng.
Một bưu cục nơi tôi ở còn dành riêng ra một mảnh đất, bày ra rất nhiều loại tem rất đẹp, thậm chí còn lắp đặt thêm máy chiếu để khách hàng thưởng thức, từ đó làm phân tán sự chú ý của họ, làm cho họ không cảm thấy bực bội vì phải chờ đợi.
Một số nhà hàng còn cho khách hàng nghe nhạc hoặc một thứ gì đó để đọc. Thậm chí, quán bar còn dán trên bồn tiểu tiện trong nhà vệ sinh nam một tờ báo của ngày hôm đó.
Trường hợp thứ tư và trường hợp thứ năm có liên quan tới các kỹ năng liên kết giữa bạn và khách hàng. Việc để cho khách hàng dùng thử sản phẩm của bạn có ý nghĩa rất tích cực đối với việc làm cho khách hàng hài lòng.
Có doanh nghiệp kinh doanh máy tính đã mời khách hàng ngồi xuống thử gõ vào bàn phím, có doanh nghiệp kinh doanh xe hơi lại mời khách hàng lái thử xe. Những người này có thể xem như là những người đã tận dụng hết được cuộc tiếp xúc với khách hàng.
Trường hợp thứ sáu và trường hợp thứ bảy có thể giúp bạn có được những khách hàng trung thành




Kinh nghiệm chinh phục thị trường quốc tế của mô tô Jingchen)




Mô tô Jingchen vừa được Bộ thương mại Trung Quốc đưa vào danh sách những thương hiệu xuất khẩu cần được ưu tiên phát triển. Sau 10 năm vươn ra thị trường quốc tế, Jingchen đã thực hiện thành công chính sách phát triển do chính phủ Trung Quốc đề ra, trở thành thương hiệu được ưa chuộng trong nước và quốc tế. Bài học thành công của Jingchen một lần nữa cho thấy bản lĩnh và tài năng của các doanh nhân Trung Quốc.
Sau 10 năm đề ra mục tiêu trở thành một nhãn hiệu nổi tiếng trên toàn thế giới, hãng mô tô Jingchen đã đạt được ước nguyện khi ngày càng gây được nhiều tiếng vang trên thị trường quốc tế, có sản phẩm được tiêu thụ trên 51 quốc gia và vùng lãnh thổ ở tất cả các châu lục.
Theo thống kê trong năm 2005 và 2006, Jingchen đã xuất khẩu 500.000 xe mô tô, đạt doanh thu hơn 180 triệu USD và là đơn vị dẫn đầu trong ngành công nghiệp Trung Quốc về giá trị xuất khẩu. Từ đầu năm đến nay, doanh thu của Jingchen vẫn phát triển ổn định so với cùng kỳ năm ngoái, và tiếp tục duy trì vị trí số một trong các mặt hàng xuất khẩu của Trung Quốc.
Bộ sưu tập các chứng chỉ hàng đầu thế giới
Xuất phát điểm của tổ hợp xuất nhập khẩu Jingchen là một công ty sản xuất thiết bị hàng không, nắm trong tay những lợi thế về các hoạt động nghiên cứu công nghệ, chế tạo thiết bị phục vụ ngành hàng không. Sản phẩm của Jingchen trước đây được sử dụng rộng rãi trong các dây chuyền sản xuất động cơ hơi nước, cung cấp năng lượng, nhiên liệu… Nhiều sản phẩm của Jingchen gần như không có đối thủ cạnh tranh trên thị trường trong nước.
Khi Jingchen bắt đầu ứng dụng công nghệ của ngành hàng không vào việc sản xuất xe mô tô, tổ hợp này tuyên bố rằng công nghệ sản xuất xe mô tô hiện đại của họ là duy nhất trên thế giới. Vào thời điểm đó, Jingchen đã sở hữu gần 200 bằng phát minh, sáng chế được công nhận và áp dụng rộng rãi trong sản xuất. Phần lớn phát minh, sáng chế này thuộc về lĩnh vực công nghệ và mẫu mã sản phẩm.
Tuy nhiên, những nhà quản lý của Jingchen không cảm thấy hài lòng nếu chỉ dừng lại ở đó. Ngay từ giai đoạn khởi đầu, khi mới triển khai việc sản xuất mô tô Jingchen, tổ hợp này đã quan tâm đến việc thiết lập các mối quan hệ đối tác chặt chẽ với những viện nghiên cứu và các nhà máy sản xuất ở những quốc gia phát triển khác, đặc biệt là tại châu Âu và Mỹ. Trong nhiều năm liên tục, Jingchen đã không ngừng học hỏi những công nghệ tiên tiến trên thế giới và nâng cao chất lượng sản phẩm mô tô, sẵn sàng đáp ứng những tiêu chuẩn khắt khe tại các thị trường nước ngoài tiềm năng.
Do đó, mô tô của Jingchen đã đạt được, thậm chí vượt qua những tiêu chuẩn chất lượng cao cấp của Mỹ và Châu Âu như E-MARK, EURO II (trên toàn châu Âu), TUV tại Pháp, U.S DOT tại Mỹ… Bên cạnh đó, Jingchen cũng đã trình lên chính phủ Trung Quốc đề án CIMS về việc nâng cao khả năng quản l‎ý và phát triển tiêu chuẩn công nghệ, đấy mạnh sức cạnh tranh của các nhãn hiệu mô tô trong toàn ngành công nghiệp Trung Quốc nói chung, cũng như của Jingchen nói riêng.
Tổ hợp này cũng chuyển giao công nghệ cho các quốc gia như Pakistan, Nigeria, Columbia, Indonesia…, cử các chuyên gia sang đào tạo nhân viên tại các chi nhánh nước ngoài về kỹ thuật cũng như dịch vụ hậu mãi, đặc phái những chuyên viên quản lý của mình đến phối hợp cùng các đối tác liên doanh nước ngoài nhằm duy trì và phát triển mối quan hệ hợp tác bền vững.
Mục tiêu hàng đầu: chinh phục người tiêu dùng quốc tế
Khách hàng nước ngoài ưa chuộng sản phẩm của Jingchen không chỉ vì chất lượng sản phẩm, mà còn vì họ cảm nhận được giá trị nhân văn trong từng sản phẩm mô tô cũng như cung cách phục vụ của Jingchen, đó là luôn đặt lợi ích của người tiêu dùng lên hàng đầu. Để làm được điều này, Jingchen đã tiến hành nhiều nghiên cứu quy mô về văn hoá, nhân chủng học.
Trước hết, Jingchen mở rộng thị trường bằng cách phân loại từng thị trường mục tiêu theo tính chất đặc trưng của nó. Chẳng hạn như khi xâm nhập thị trường Nigeria, Jingchen đã nghiên cứu kỹ nhu cầu và mức thu nhập của người tiêu dùng, cũng như điều kiện thời tiết, khí hậu, giao thông của đất nước châu Phi này. Sau đó họ mới đi đến việc sản xuất riêng một dòng xe cho người dân . Sản phẩm này được bán với giá cả phải chăng và đăng k‎ý nhãn hiệu độc quyền tại đây. Chính vì vậy mà hiện tại một nửa lượng xe mô tô lưu hành trên đường phố là của Jingsen.
Bên cạnh đó, tổ hợp Jingchen còn chủ động thiết lập được mạng lưới dịch vụ hậu mãi, trung tâm bảo hành, cung cấp phụ tùng sản phẩm có uy tín trên khắp các thị trường trong và ngoài nước. Mô hình các cơ sở, trung tâm dịch vụ hậu mãi của Jingchen tại hải ngoại hoạt động tương tự như trong nuớc và có sự liên kết chặt chẽ với trung tâm chính tại Trung Quốc. Hầu hết các dịch vụ sửa chữa được triển khai miễn phí cho khách hàng. Các trung tâm kỹ thuật của Jingchen đều có khả năng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày.
Jingchen cũng đặt mục tiêu cạnh tranh lành mạnh trên thị trường quốc tế. Trong môi trường cạnh tranh gay gắt với các hãng xe mô tô nước ngoài, Jingchen không viện đến phương thức giảm giá bán quá thấp để làm phương hại đến thị trường chung. Phần lớn khách hàng mục tiêu của Jingchen là người dân có thu nhập trung bình, do đó dòng sản phẩm chủ lực của tổ hợp này cũng là những sản phẩm mô tô bình dân, giá cả phù hợp. Tuy nhiên, Jingchen cũng rất chú trọng trong việc sản xuất các dòng xe cao cấp như Eupolo. Những sản phẩm cao cấp của Jingchen hiện nay cũng đã xâm nhập thành công vào thị trường châu Âu, Mỹ và Nhật Bản, gây được tiếng vang lớn cho ngành sản xuất mô tô Trung Quốc.
Khuếch trương nhãn hiệu trên thị trường quốc tế
Jingchen đã không tiếc chi phí cho việc phát triển và bảo vệ nhãn hiệu của mình tại các quốc gia khác. Hiện nay nhãn hiệu Jingchen đã được đăng kí bản quyền trên 30 quốc gia và khu vực trên thế giới.
Khoản ngân sách dành cho marketing tại hải ngoại cũng khá tốn kém. Những khoản kinh phí này không được Jingchen tiết lộ, tuy nhiên chỉ cần nhìn vào quy mô của các chiến dịch marketing, những tấm poster được thiết kế chuyên nghiệp và sáng tạo, những clip dàn dựng hoành tráng để quảng cáo trên truyền hình… có thể thấy được Jingchen đã đầu tư khá nhiều vào hoạt động marketing. Bên cạnh đó, tổ hợp này rất tích cực tạo dựng uy tín thông qua các hoạt động nhân đạo, buổi trình diễn hoà nhạc, triển lãm mô tô.
Thành công của Jingchen được một số chuyên gia nước ngoài nhận định: “Cứ nhắc đến mô tô Trung Quốc là người ta lại nghĩ đến Jingchen”. Tổng thống , khi đến thăm cơ sở của Jingchen, đã nói vui vẻ rằng, khi ra đường, hai tai ông nghe thấy toàn âm thanh phát ra từ xe mô tô của Jingchen


Đổi mới thương hiệu



Lợi thế của người tiên phong có thể mang lại sự thống trị thị trường và vai trò dẫn đầu trong một khoảng thời gian nhất định, ngay cả khi xuất hiện sự cạnh tranh.
Nếu một công ty không ở vị trí dẫn đầu trong ngành của mình và cũng không phải là người tiên phong trong một lĩnh vực kinh doanh mới thì họ vẫn có thể sử dụng cách khác là đổi mới hay sáng tạo lại thương hiệu để thay đổi sự cảm nhận của khách hàng và tạo ra một hình ảnh tươi mới và năng động hơn.
Đầu tiên là hoạt động định vị thương hiệu. Đây là hoạt động liên quan đến việc xử lý những cảm nhận từ thị trường và trong các nhóm khách hàng, đồng thời nghiên cứu hình ảnh thương hiệu của đối thủ cạnh tranh. Định vị thương hiệu là tạo ra hình ảnh cạnh tranh, và để tạo tiền đề cho nó, các công ty cần trả lời hai câu hỏi:
• Tại sao thương hiệu của chúng ta khác biệt?
• Tại sao thương hiệu của chúng ta tốt hơn?
Những câu hỏi này luôn nằm trong tiềm thức hay ý thức của người tiêu dùng khi họ tiến đến quyết định mua hàng, đặc biệt khi đánh giá sản phẩm không thấp. Định vị tốt sẽ mang đến nhiều lợi thế cạnh tranh và một hình ảnh thương hiệu siêu hạng, cho phép công ty xây dựng được mức giá tối ưu cho sản phẩm và dịch vụ của mình.
Tái định vị một thương hiệu là một công việc rất khó khăn, tuỳ vào mức độ thiệt hai phát sinh đối với hình ảnh thương hiệu qua từng thời kỳ. Nhu cầu tái định vị thường xuất phát từ các dấu hiệu thị phần và lợi nhuận suy giảm; một cuộc khảo sát thị trường có thể dễ dàng mất đi hay đang gia tăng sức mạnh hình ảnh của nó. Nguyên nhân dẫn đến việc lu mờ hình ảnh có thể là do chất lượng sản phẩm/dịch vụ suy giảm, thiếu tính phù hợp và hiện đạim hoặc hoạt động đầu tư vào thương hiệu không phù hợp. Thông thường, đây là hậu quả của sự yếu kém trong quản trị thương hiệu.
Thương hiệu cũng giống con người - nếu không được chăm sóc quan tâm đúng mức, chúng sẽ tàn lụi. Nissan là một ví dụ hoàn hảo về việc tái định vị một thương hiệu bị lơ là. Nissan vẫn phải đối mặt với một vài thách thức lớn, nhưng việc xoay chuyển tình thế của họ quả là một điều thần kỳ dưới sự dẫn dắt của Carlos Ghoson.
Một ví dụ khác là Samsung, sau khi phải vật lộn hàng chục năm với một hình ảnh vật vờ và một “di sản” về chất lượng sản phẩm bị nghi ngờ, giờ đây họ đã trở thành một thương hiệu phát triển nhanh nhất thế giới


Niềm tin của người tiếp thị (



Bất cứ nhân viên tiếp thị nào cũng cần hiểu rõ sản phẩm mà mình sẽ bán ra, đồng thời cũng cần thực sự nắm bắt tình hình công việc mà mình đang làm. Nếu chỉ nhớ hóa đơn hàng hóa không thôi thì chưa đủ để thích ứng với tình hình, mà bạn còn cần phải quan sát bằng mắt và nghe ngóng khắp nơi bằng đôi tai của mình để nắm rõ xu hướng cạnh tranh của thị trường. Với tốc độ truyền bá thông tin trên thế giới nhanh chóng như hiện nay, thì bất kể là người ta mua một chiếc lò nướng bánh, một chiếc xe hơi, hay là một chiếc máy tính, đều sẽ chạy đi khắp nơi hỏi giá cả, bạn sẽ không thể tưởng tượng nổi những khách hàng bận bịu đó sẽ tín nhiệm bạn như thế nào, đồng thời để lại trong lòng họ sự xúc động vô cùng.
Ngoài ra, bạn còn phải có lòng tin vào sản phẩm mà bạn muốn bán ra. Alber Motry – ông chủ tờ tạp chí “Nước Mỹ” từng nhớ lại câu chuyện bán một loại viôlông vào năm 1919. Dưới sự chỉ đạo của ông, loại đàn này bán chạy giống như việc bán nước giải khát vào mùa hè vậy. Motry mua buôn mỗi chiếc với giá buôn luôn luôn trên 10 USD một chiếc. Khi đó mỗi lần ông bán đi một chiếc thì đồng thời ông cũng tặng cho họ 30 trang nhạc phổ. Cuối cùng vào một ngày, khi có một khách hàng đến tìm ông đòi lấy nhiều trang nhạc phổ hơn, thì đột nhiên ông phát hiện ra loại đàn cổ này chỉ có thể chơi ở tiết tấu cung C, đối với các bản nhạc ở giọng khác không thể chơi nổi. Ông nhớ lại: “Từ khi tôi phát hiện ra loại đàn này chỉ có thể chơi ở cung C, thì số lượng bán đàn ra mỗi ngày, mỗi tuần không nhiều như trước nữa!”
Đương nhiên, muốn có được niềm tin đối với sản phẩm cũng cần thiết phải tạo dựng trong đó chất lượng của sản phẩm, HBS đã từng tiến hành điều tra nghiên cứu về “những nhân tố có thể đảm bảo được thành thích của Công ty trên thị trường” đối với 200 Công ty. Kết quả là 80% người lãnh đạo Công ty trả lời dứt khoát rằng đó chính là “chất lượng”. Cho dù giá cả cao thấp cũng có ảnh hưởng quan trọng đến việc đảm bảo lợi nhuận của Công ty, nhưng không một Công ty nào đặt giá cả lên vị trí số một. Phần lớn các Công ty đều coi “chất lượng” là cách để kiếm được lợi nhuận và là điều kiện để định ra giá cả có lợi. Giám đốc của rất nhiều các Công ty ở Mỹ đã nói: “chất lượng là thứ mà chúng tôi bán ra, cũng là thứ mà khách hàng cần, danh tiếng và sự thành bại của Công ty được xây dựng trên cơ sở này”. Ở Nhật Bản, các doanh nghiệp đều trưng ở khắp nơi những biểu ngữ như: “Chất lượng là số một”, “không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm thì doanh nghiệp mới có tương lai tươi sáng”… Điều “tâm đắc” đầu tiên của rất nhiều Công ty chính là sản xuất ra sản phẩm chất lượng cao làm vừa lòng khách hàng.
Trong sự cạnh tranh của thị trường, cạnh tranh phi giá cả ngày càng quan trọng, chất lượng đã trở thành tiêu chuẩn của cạnh tranh thị trường. Chất lượng là điều kiện quyết định cơ bản nhất đối với hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp, chỉ có chất lượng cao, chất lượng tốt với giá cả hợp lý thì doanh thu mới nhiều và mới có hiệu quả kinh tế cao. Chất lượng là cơ sở cơ bản nhất trong bất cứ mục tiêu dự đoán kinh tế nào của doanh nghiệp, cũng là cơ sở cho niềm tin của người tiếp thị.
Làm bất kỳ công việc gì đều cần phải có sự tự tin, tránh cam chịu đầu hàng, tiếp thị cũng không phải là ngoại lệ. Lòng tin của nhân viên tiếp thị và lòng tin của họ đối với sản phẩm có liên quan đến nhau. Trường hợp của Morty được nhắc tới ở trên cũng hoàn toàn tương tự. Nhân viên tiếp thị ít nhất cũng phải để lại ấn tượng và cảm giác tự tin của mình trong lòng khách hàng. Chính vì thế nhân viên tiếp thị cũng cần bọc lót tốt cho mình, đồng thời rèn luyện kỹ năng thích ứng với mọi tình huống. Trước thái độ tự tin của bạn khách hàng cũng sẽ có được cảm giác yên tâm đối với bạn và sản phẩm của bạn. Hãy ghi nhớ rằng: song song với việc quảng cáo sản phẩm, bạn cũng đang quảng cáo chính bạn!
Thương hiệu trước thách thức của thời gian




Quản lý thương hiệu hiện đại ngày nay cần ứng dụng marketing kép. Những người chịu trách nhiệm về marketing chắc chắn phải nhắm tới sự thoả mãn của các khách hàng hiện tại, đồng thời tìm cách làm cho họ trở nên trung thành và lôi cuốn được những khách hàng tiềm năng tương lai.
Trong phần lớn các công ty, danh sách thương hiệu thường bao gồm các thương hiệu hiện tại và những thương hiệu cũ, nếu không muốn nói là thương hiệu cổ. Nếu những thương hiệu cổ này không kích thích được ban giám đốc marketing và các nhà quản lý trẻ, chúng có lẽ đang phô bày tình trạng kém khả năng sinh lợi. Một thương hiệu như Ricoré tại Pháp chẳng hạn, là một trong những thương hiệu sinh lợi nhất của Nestlé Pháp. Tuy nhiên đó lại là nhãn hiệu địa phương rất cũ.
Một số thương hiệu rất cũ nhưng có vẻ như luôn luôn thời sự còn những thương hiệu mới hơn lại có vẻ như gần hết hạn. Làm thế nào để giải thích cho hai trường hợp trên? Mọi sự khác biệt nằm ở sự cân bằng giữa tính đồng nhất và sự thay đổi: đó là nghịch lý của thương hiệu.
Nghịch lý của thương hiệu
Thế nào là một thương hiệu, một cách cơ bản, đó là tên gọi của một hay nhiều sản phẩm. Để đạt được trạng thái điểm mốc này, cần phải có một tính không đổi theo thời gian: biết tồn tại lâu dài. Đồng thời cùng lúc đó, thị trường vẫn không ngừng phát triển. Những người mới tham gia đưa ra các tiêu chuẩn mới đối với những gì mà chất lượng muốn biểu đạt. Những phong cách sống mới nổi lên, bị các nhân tố thị trường bỏ qua trong thời gian đầu trước khi họ nhận ra là đã bỏ lỡ dịp may. Rossignol và Salomon, biểu tượng của tinh thần Olympic và các cuộc thi đấu, cũng không nhận thấy ngay lập tức những nhóm thanh niên ăn mặc kì lạ báo trước một cuộc cách mạng trong giới trượt băng, đối lập với những giá trị truyền thống mà họ đại diện từ 50 năm nay. Những kênh phân phối mới xô nhào những kênh giá trị truyền thống và làm nảy sinh kẻ thống lĩnh chưa từng biết tới như Dell hay Amazon.
Như vậy có nghĩa là cần phải thường xuyên quyết định cái gì là không thể chạm tới trong thương hiệu để giữ lại và cái gì là có thể, thậm chí phải thay đổi.
Sự nguy hiểm của lối suy nghĩ duy nhất
Thử thách lớn nhất của thương hiệu là tiếp tục chinh phục các khách hàng mới. Ở giai đoạn mà tư duy duy nhất có vẻ như phổ biến trong marketing, người ta không chỉ nói về lòng trung thành, lôi kéo khách hàng, về “giá trị khách hàng dài hạn”.
Tất nhiên điều này rất quan trọng. Nhưng A. Ehrenberg đã chứng minh rằng tỉ lệ trung thành đối với một nhãn hiệu tương quan với tỉ lệ gia nhập thêm. Rất khó tăng yếu tố này mà không tăng yếu tố kia. Tương lai của một thương hiệu cốt là ở việc làm hài lòng các khách hàng hiện tại, nhưng đồng thời lôi cuốn được các khách hàng mới. Vấn đề là, ở thế hệ mới, thương hiệu đang nói đến trong trường hợp tốt nhất, không biểu hiện cho cái gì, trong trường hợp xấu nhất, biểu hiện cho quá khứ. Như vậy sẽ xuất hiện tình thế hoặc dửng dưng hoặc chống đối.
Hố ngăn cách thế hệ
Hố này ít biến đổi phân đoạn như tuổi. Mỗi thang tuổi có một sự đồng nhất bởi việc nó đã trải qua cùng các sự kiện lịch sử, cùng những niềm vui, cùng những mối lo ngại. Do đó các phong tục tập quán được lan truyền càng ngày càng hiệu quả bởi chính những người cùng lứa chứ không phải bởi gia đình. Hậu quả là, sự ảnh hưởng thế hệ lại thông qua thương hiệu. Mỗi thế hệ tự tạo cho mình những thương hiệu riêng. Như vậy có sự cần thiết sống còn của marketing kép.
Đối với marketing kép
Câu hỏi sau rất thường được đặt ra cho các doanh nghiệp: chúng ta có phải tăng cường mối quan hệ với các khách hàng hiện tại hay nên đầu tư vào các mục tiêu và thế hệ mới? Ngày nay, câu hỏi này không còn ý nghĩa nữa. Những người tiêu dùng hiện tại là nguồn lợi nhuận tức thời của chúng ta. Nhưng cần phải biến họ thành kẻ trung thành đồng thời với việc nhằm tới các khách hàng tương lai. Dùng từ “và” để kết nối chứ không phải dùng từ “hoặc”.
Tuy nhiên trong doanh nghiệp, còn nhiều quan điểm phản đối chiến lược marketing kép này. Thường ở bên trong, những khó khăn nhỏ nhất gặp phải trên mục tiêu đổi mới khách hàng được gán cho chính thương hiệu, cho tính không thích đáng đối với những phân đoạn thị trường mới này. Nhưng triệu chứng này liên quan nhiều tới lôgic kẻ bung xung hơn là tới những phân tích thực tế. Đó có phải là vấn đề sản phẩm không thích hợp với mong đợi chưa từng biết đến và làm mất đi những khách hàng tiềm năng mới này không? Càng tôn trọng sản phẩm hiện tại người ta càng không chuẩn bị sẵn sàng cho tương lai. Yoplait đã chứng minh tính hiện đại của mình bằng cách tung Zap tại Pháp và Mỹ tới các thế hệ không còn muốn dùng những sản phẩm cũ nữa.
Smirnoff, sản phẩm hàng đầu, đã hiểu đượ
January 2010
M T W T F S S
December 2009February 2010
1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30 31