Skip navigation.

Log in | Sign up

Kiến trúc Việt Nam

Hướng tới Đại hội KTS Việt Nam tháng 4/2010

Chủ nghĩa hình thức trong kiến trúc việt nam đương đại

GS. TS. KTS. Hoàng Đạo Kính

Trong nhiều thập kỷ chiến tranh và buổi đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, với hoàn cảnh kinh tế eo hẹp, với nền điều hành đất nước theo cơ chế bao cấp và kế hoạch hoá triệt để, những biểu hiện của chủ nghĩa hình thức hầu như không có đất để nảy sinh trong kiến trúc. Khẩu hiệu “Nhanh, nhiều, tốt, rẻ” đã chi phối ngay cả kiến trúc. Thẩm mỹ chỉ được nhắc tới bởi cụm từ “trong điều kiện có thể”. Trong hoàn cảnh như thế, các công trình kiến trúc tuy nghèo nàn, tuy thô sơ, song lại là những thiết chế lành mạnh và không tiềm ẩn những lệch lạc, do lối tư duy gián tiếp và phù phiếm sản sinh.

Thế nhưng, từ khi kinh tế khấm khá lên, Nhà nước có nhiều khả năng chi tiêu mà thiếu sự giám sát của người dân đã quen quên mình là người đóng thuế, cùng một bộ phận nhân dân giàu có lên trông thấy, đã tạo nên mảnh đất màu mỡ cho sự nảy sinh rầm rộ chủ nghĩa hình thức trong kiến trúc.
Chủ nghĩa hình thức trong kiến trúc được hiểu là sự coi trọng hình thức hơn công năng, tính hình thức được đặt trên tính ích dụng hoặc, ở những biểu hiện thái cực hơn, - hình thức đã trở thành mục đích tự thân. Chủ nghĩa hình thức trong kiến trúc có những biểu hiện điển hình như phô trương, phù phiếm, lai căng, bắt chước, làm giả v.v …
Trong nền kiến trúc Việt Nam đương đại, chúng tôi mạnh dạn đề xuất phân biệt: Chủ nghĩa hình thức cơ chế và chủ nghĩa hình thức xã hội.
Trước tiên, ta thử xem xét cái tạm gọi là “Chủ nghĩa hình thức cơ chế”. ở đây, từ “cơ chế” được hiểu là bộ máy Nhà nước và sự đầu tư tài chính từ ngân sách Nhà nước.
Trong trường hợp này, chủ nghĩa hình thức trong kiến trúc thể hiện ở 3 mặt:
- Phô trương cấu trúc hành chính – chính trị bằng các công sở và hệ thống công sở tương ứng với cấu trúc này.
- Khuếch đại quy mô và tôn cao quá mức vị trí của các công trình kiến trúc công quyền.
- Sử dụng ngôn ngữ kiến trúc thời thực dân và lạm dụng các hình thức kiến trúc tốn kém.
ở rất nhiều đô thị to nhỏ hàng huyện và hàng tỉnh, người ta xây cất những toà nhà uỷ ban, đảng uỷ, và các ban ngành, chiếm dụng nhiều đất, đồ sộ quá mức so với xung quanh, rất tốn kém, không sử dụng hết công suất.
Đáng quan ngại hơn là tình trạng hệ thống các cơ quan công quyền ở nhiều địa phương, nhất là ở các tỉnh mới tái lập, được thể chế hoá lộ liễu bằng một tổ hợp kiến trúc tương ứng. ở KT, NB, PV, CB, BĐ v.v... các cơ quan hành chính – chính trị được xây dựng tập trung, trên một trục đường sang trọng và rộng lớn, tách biệt khỏi toàn thể đô thị, thách thức nó. Chúng sẽ chẳng bao giờ hoà đồng, ăn nhập được với phần đô thị khác của mọi người, do sự cách biệt công năng và đề cao trên mức cần thiết vai trò vị trí, do quy mô và cách thức tổ chức không gian, do ngôn ngữ kiến trúc và độ tốn kém của các toà nhà.
Chẳng hạn, quần thể kiến trúc Tỉnh uỷ tỉnh BĐ về quy mô có lẽ đồ sộ hơn bất cứ một dinh Tổng đốc nào dưới thời thực dân. Thậm chí, công trình này còn đường bệ hơn cả Phủ toàn quyền, nay là Chủ tịch Phủ. Nếu nghĩ đây là một tỉnh vùng xa vùng sâu, dân số vài chục vạn, đồng bào còn rất nghèo, thì cái sự đường bệ và sự tự tôn của toà nhà ấy không thể không làm ta ngại ngùng. Chỉ có tiền cơ chế mới có thể cho ra đời những lâu đài cơ chế như thế.
Đặc điểm nổi trội của những toà nhà công sở – trụ sở là sự thổi phồng quy mô và diện tích, sự lạm dụng các sảnh, các hành lang cùng các bao lơn, sự tăng độ cao của trần, sự phô trương hệ thống sân vườn – cây cảnh - đài phun nước – núi non bộ và hàng rào sắt cầu kỳ. Đặc điểm nổi trội của nội thất là những bộ bàn ghế to quá cỡ, làm giả các phong cách Trung Hoa, bằng gỗ quý và chạm khắc rồng phượng rườm rà. Cách đây vài chục năm, cách mạng tịch thu những loại đồ gỗ tương tự của bọn quan lại, và địa chủ, đem chia cho dân. Nay, những đầy tớ của nhân dân, những công chức của Nhà nước, những con người của cơ chế, ung dung toạ trên những bộ đồ ấy. Mỗi lần thấy các vị chức tước phát biểu trên VTTH, đằng sau là cái lưng ghế giả cổ rõ cao, và rõ to, lòng lại day dứt.
Đang thịnh hành một phong cách kiến trúc nhại cổ, giả kiến trúc Pháp thời thực dân, ở các công sở. Người ta cho rằng chỉ nó mới “hoành tráng”, chỉ nó mới đẹp lâu bền. Một vị Chủ tịch tỉnh nọ, tổ chức thi kiến trúc nhà Uỷ ban, tuyên bố rằng Hội đồng tư vấn kiến trúc chỉ có nhiệm vụ chọn giải pháp mặt bằng, còn Chủ tịch đã chọn hình thức mái, - đó là mái Nhà hát Lớn Hà Nội! Ngay ở Hà Nội đang có hiện tượng “cổ hoá” các công sở xây dựng thời bao cấp, bị coi là không phù hợp. Thay vì sự hiện đại hoá, các chủ đầu tư lại nâng cấp bằng cách giao cho các kiến trúc sư biến các công trình kiến trúc vốn dĩ thật thành giả, giả phong cách kiến trúc Tây thế kỷ XVIII – XIX. Cái sự “cổ hoá” thuần tuý vì thị hiếu ấy tốn kém của công quỹ nhiều tỉ đồng.
Chưa một ai, một cơ quan nào làm bài tính: Nhà nước của chúng ta tốn phí bao nhiêu tiền cho việc xây cất những quần thể kiến trúc và các toà nhà công quyền “hoành tráng”? Bao nhiêu tiền bị vứt qua cửa sổ do những ý tưởng phô trương, đua đòi và tự tôn, do thị hiếu thời thượng, - làm giả và bắt chước kiến trúc Tây ngày xưa.
Ta đánh đuổi được Tây thực dân, nay lại rước về và phục hưng cái nền kiến trúc thực dân cách nay hàng thế kỷ. Phổ biến ý kiến cho rằng, như vậy mới bản sắc!?
Chủ nghĩa hình thức cơ chế trong kiến trúc bắt nguồn từ đâu? Có lẽ từ sự nhận thức xa lánh dần bản chất của chế độ ta, từ tệ nạn cơ chế hoá và quan liêu, thói quen phung phí tiền không phải của mình và thậm chí cũng không phải của ai, trình độ văn hoá, thị hiếu “phú nông”, nếu có thể gọi bằng cái từ ấy.
Hội kiến trúc sư gần đây, quá bức xúc với trào lưu “phục cổ” trong kiến trúc công sở, đã cho đăng tải trên tạp chí Kiến trúc một đồ án xây dựng toà nhà Uỷ ban Nhân dân một tỉnh Tây Nguyên, nhại lại kiến trúc toà thị chính thành phố Sài Gòn, để giới kiến trúc sư bình phẩm công khai. Không một ai đồng tình cả. Rốt cuộc, địa phương đã phải từ bỏ ý đồ thực thi đồ án trên. Họ đã tránh được một cuộc kiện về tội sao chép bởi các tác giả toà thị chính Sài Gòn, sống cách nay hơn một thế kỷ.
Gần đây xuất hiện đồ án toà nhà một Bộ ở góc đường Trần Hưng Đạo và Phan Chu Trinh, với diện mạo kiến trúc tưởng như lấy từ kho lưu trữ kiến trúc thế kỷ XIX. Hội lại quyết ra tay, công bố trên tạp chí “Kiến trúc” để các đồng nghiệp bình phẩm. Liệu một Bộ quản lý tiền có nghĩ lại chăng?
Chúng ta đang kiến tạo một xã hội mới, một trật tự mới, vì sao chúng ta lại phải nhồi nhét cái nội dung mới ấy vào những cái vỏ cũ, cái khuôn cũ, một khi bản thân chúng đã cạn kiệt rồi, đã trở thành di sản rồi.
Chúng ta đang kiến tạo một xã hội dành cho nhân dân, cho đồng bào chúng ta, vì sao chúng ta lại không kiến tạo những công trình kiến trúc ích dụng, bớt tốn kém khi đất nước còn nghèo, phù hợp với cái thân xác và cái hồn của người mình, phù hợp với thời đại mình?
Bên cạnh chủ nghĩa hình thức tạm gọi là “cơ chế” ấy, thịnh hành một thứ chủ nghĩa hình thức khác trong kiến trúc, tạm gọi là “xã hội”.
Khác với những người nằm trong cơ chế Nhà nước và sử dụng tiền ngân sách, người dân, giàu hoặc nghèo, trong việc xây dựng hay có những biểu hiện khác nhau của chủ nghĩa hình thức.
Những người giàu có hoặc sẵn tiền, khác với những người thuộc cơ chế, ít phung phí tiền bạc để phô trương, để làm những cái gì không thiết thực. Tương tự như việc một khi phải móc túi mình, không phải ai cũng đã sẵn lòng đến các nhà hàng đắt tiền hoặc các tiệm karaokê. Chủ nghĩa hình thức trong kiến trúc của người giàu hoặc người có tiền biểu hiện ở nhu cầu khoe của bằng những hình thức kiến trúc lạ lẫm, có một không hai (thường mô phỏng các phong cách Âu Châu thời xưa), bằng việc sử dụng những vật liệu quý hiếm và trang thiết bị đắt tiền, đặc biệt bằng sự khuếch trương phú quý và xa hoa.
Những người chỉ đủ tiền để tạo nên chỗ ở cho mình, tại thành thị cũng như nông thôn, cũng không dễ bề tránh khỏi việc chạy theo hình thức: họ cho đắp, cho gắn vào cái hộp nhà thô sơ của mình lỉnh kỉnh những phụ kiện kiến trúc, những hoa văn đúc sẵn và sơn quét bằng những thứ màu mè loè loẹt. Họ bắt chước, họ đua đòi, đôi khi không hiểu rõ lắm những thứ lỉnh kỉnh ấy đến từ đâu, có công dụng gì. Sống trong những căn nhà về cơ bản giống các côngtennơ chất lên nhau thành các tầng, được trang trí diêm rúa và tốn kém, người thôn quê nhiều khi mùa đông vẫn ăn cơm với dưa, mùa hạ với cà muối.
Chủ nghĩa hình thức ở đây, rõ ràng là do dân trí. Một thứ chủ nghĩa hình thức bình dân.
Bổn phận xã hội của các kiến trúc sư chúng ta lớn lao, trọng đại là ở đây: Giúp cho đồng bào có những căn nhà ở vừa tiện nghi, vừa đẹp giản dị, vừa bớt hao tốn tiền của. Giúp cho người dân coi trọng cái ích lợi, hiểu cho đúng cái đẹp.
Chủ nghĩa hình thức trong kiến trúc đương đại đưa ra 2 thách thức, dẫn đến 2 hậu quả khôn lường:
- Sự lãng phí tiền của, công sức, vật liệu và phương tiện của Nhà nước cũng như của nhân dân.
- Sự đi lạc hướng, sự tụt hậu của nền kiến trúc nước nhà.
Song, nếu chủ nghĩa hình thức trong kiến trúc của người dân chỉ là biểu hiện của thị hiếu và dân trí, dẫn đến những sự tốn kém không cần thiết, thì chủ nghĩa hình thức trong bộ máy Nhà nước về phương diện kiến trúc không chỉ đơn thuần là thế. Nó đang là một hội chứng hết sức đáng lo ngại, thúc bách chúng ta xem xét lại các cục diện tư tưởng và nhận thức, các hậu quả nó có thể dẫn tới.
Chúng ta không thể không nhận ra: Không một nước nào trong khuc vực và trên thế giới lại có cái trào lưu xây dựng ồ ạt và đồ sộ các công sở, cái trào lưu giả cổ và nhại cổ, mà cổ lại không phải của dân tộc mình. Họ chỉ hoặc phục chế, hoặc xây theo kiểu cổ với một mục đích nào đó.
Thời đại mới, cuộc sống mới, những đòi hỏi mới, những khả năng mới của khoa học và công nghệ, văn hoá mới, thẩm mỹ mới và, trên hết, con người mới, đòi hỏi một nền kiến trúc mới, hiện đại cả về nội dung lẫn hình thức.
Chúng ta đã đến lúc cần phải nhận ra, tuyên chiến với mọi biểu hiện của chủ nghĩa hình thức trong kiến trúc đương đại.


Kiến trúc Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế Kenzo tange – trích từ những bài viết

Write a comment

You must be logged in to write a comment. If you're not a registered member, please sign up.

June 2009
S M T W T F S
May 2009July 2009
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30