Vấn đề phát triển giáo dục văn hóa và y tế
Wednesday, 18. February 2009, 06:04:49
Việc phát triển giáo dục, văn hoá và y tế có ý nghĩa to lớn trong việc đẩy mạnh tiến bộ xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, hình thành con người mới.
1. Nền giáo dục Việt Nam đa dạng và ngày càng hoàn chỉnh, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Sự nghiệp giáo dục và đào tạo có vị trí chiến lược trong việc hình thành nhân cách con người Việt Nam mới, trong việc nâng cao dân trí, đào tạo, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước và nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định giáo dục là quốc sách.
Trong hơn nửa thế kỷ qua, mặc dù đất nước trải qua nhiều cuộc chiến tranh ác liệt, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, nhưng sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã được chú trọng đầu tư trong phạm vi cho phép.
Hệ thống giáo dục ngày càng hoàn chỉnh, có đủ các cấp học và ngành học, từ mẫu giáo, phổ thông (tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông), bổ túc văn hoá (giáo dục thường xuyên), đến hệ thống các trường trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, cao đẳng và đại học.
Các hình thức tổ chức giáo dục cũng đa dạng: Các trường phổ thông, trường năng khiếu, trường dành cho trẻ mồ côi, trường dành cho trẻ bị khuyết tật, trường phổ thông dân tộc nội trú… do Nhà nước quản lí. Trong mấy năm gần đây đã xuất hiện các trường phổ thông dân lập và bán công.
Trong hệ thống giáo dục cao đẳng và đại học cũng đã xuất hiện thêm một số trường đại học dân lập, đại học cộng đồng (ở một số tỉnh trên cả nước), đại học bán công, đại học mở, hai trường Đại học quốc gia ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, các trường đại học khu vực ở Thái Nguyên, Huế, Đà Nẵng…
Mạng lưới các cơ sở giáo dục hiện nay gồm hơn 23.000 trường phổ thông, 239 trường trung học chuyên nghiệp và 110 trường đại học, cao đẳng (chưa kể các trường dân lập). Trung tâm đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật lớn nhất là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, ngoài ra còn phải kể đến các trung tâm đào tạo tại các thành phố Thái Nguyên, Hải Phòng, Vinh , Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ và Đà Lạt…
Những thành tựu về giáo dục và đào tạo mà nước ta đã đạt được là to lớn. Trước Cách mạng tháng Tám, hơn 80% dân số nước ta không biết đọc biết viết. Hiện nay có tới khoảng 92% dân số từ 10 tuổi trở lên là biết đọc biết viết (năm 1999), là tỉ lệ cao so với nhiều nước đang phát triển ở vùng châu Á – Thái Bình Dương. Trình độ học vấn của nhân dân ngày càng được nâng cao.
Mỗi năm cả nước có khoảng 17 triệu trẻ em đến trường. Nước ta đã hoàn thành phổ cập tiểu học.
Số sinh viên cao đẳng, đại học mỗi năm không ngừng tăng lên; năm 1998 là 682 nghìn người, số tốt nghiệp là trên 103 nghìn người. Số học sinh trung học chuyên nghiệp năm 1998 là 178 nghìn người, số học sinh các trường đào tạo công nhân kỹ thuật là 114 nghìn người.
Ngoài ra cần phải kể đến một lực lượng khá đông đảo trí thức, sinh viên… của cộng đồng người Việt ở nước ngoài đang hướng về quê hương mong đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
2. Một nền văn hoá đa dạng, giàu bản sắc dân tộc
Nước ta có nền văn hiến lâu đời. Bản sắc của dân tộc Việt Nam được tạo nên từ tinh hoa văn hoá của 54 dân tộc chung sống trên toàn lãnh thổ, cộng với việc tiếp thu có chọn lọc và phát triển tinh hoa của các nền văn hoá trên thế giới.
Việc xây dựng nền văn hoá mới, vừa dân tộc, vừa hiện đại có ý nghĩa rất quan trọng trong xây dựng xã hội mới, phát triển kinh tế - xã hội. Bởi vậy, việc duy trì và phát triển bản sắc văn hoá của dân tộc luôn luôn được coi trọng.
Mạng lưới các cơ sở dịch vụ văn hoá đã hình thành và phát triển. Các thành phố, thị xã, huyện lị là các trung tâm văn hoá của khu vực. Ở đây, tuỳ từng nơi mà có các nhà văn hoá, câu lạc bộ, thư viện, hiệu sách, phòng triển lãm nghệ thuật, nhà bảo tàng, nhà hát, rạp chiếu bóng với quy mô khác nhau. Mạng lưới dịch vụ văn hoá còn được phát triển đến cấp xã ở nhiều vùng. Việc phủ sóng phát thanh, truyền hình trên phạm vi cả nước với nội dung phát sóng ngày càng phong phú, hấp dẫn đang góp phần quan trọng vào việc phát triển truyền thông đại chúng, nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân. Các hoạt động văn hoá đối ngoại (nhất là các hoạt động qua phát thanh, truyền hình và báo chí trên mạng Internet) cũng ngày càng được chú trọng.
Thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm văn hoá lớn nhất của cả nước.
3. Một nền y tế ngày càng hoàn thiện
Phát triển dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ cho từng thành viên trong xã hội là một trong những nét ưu việt của chế độ ta. Nhờ việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu tốt mà tỉ suất tử vong của trẻ em dưới 1 tuổi đã giảm mạnh (từ 79% năm 1970, xuống còn 44 ‰ hiện nay). Tuổi thọ trung bình của nhân dân ta đã khá cao (nam 65, nữ gần 70). Nhiều bệnh truyền nhiễm và bệnh dịch hiểm nghèo đã được thanh toán về căn bản.
Mạng lưới dịch vụ y tế phát triển rộng khắp, từ tuyến trung ương, tuyến tỉnh, đến tuyến huyện và y tế cơ sở (cụm xã, xã, phường, cơ quan, xí nghiệp). Bao gồm các bệnh viện chuyên khoa và các bệnh viện đa khoa, viện điều dưỡng. Các phòng khám tư, hiệu thuốc tư nhân đã được phép hoạt động. Tuy nhiên, mạng lưới y tế cơ sở ở các vùng núi, vùng sâu, vùng xa vẫn còn mỏng, thiếu cả về phương tiện và đội ngũ cán bộ.
Việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân được chú trọng, với các chương trình trọng điểm quốc gia như chương trình phòng chống sốt rét, thanh toán bệnh phong, phòng chống lao, phòng chống HIV/AIDS, chương trình tiêm chủng mở rộng, chương trình kiểm soát tình trạng suy dinh dưỡng…
Từ trước đến nay, ngành y tế nước ta vẫn có truyền thống kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại để nâng cao chất lượng phòng và chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ ban đầu đến hộ gia đình, đẩy mạnh hoạt động thể dục thể thao, cái thiện điều kiện vệ sinh môi trường.
Chúng ta có thể tự hào rằng mặc dù bình quân thu nhập theo đầu người ở nước ta còn thấp, tình hình ngành y tế của nước ta vẫn tốt hơn so với hầu hết các nước có thu nhập thấp và thậm chí còn hơn cả một số nước có thu nhập khá cao khác.
4. Những khó khăn và các vấn đề cần giải quyết
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong lĩnh vực giáo dục, y tế và văn hoá vẫn còn nhiều vấn đề phải giải quyết.
Trong giáo dục và y tế, vấn đề ngăn chặn tình trạng xuống cấp của các trường học, bệnh viện và nâng cao chất lượng giáo dục, chất lượng phục vụ đang được đặt ra nhằm đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu ngày càng cao của nhân dân ta về học tập và chữa bệnh, trong điều kiện khả năng tài chính của Nhà nước có hạn. Vấn đề phổ cập tiểu học, tiến tới phổ cập trung học cơ sở, xoá mù chữ và tái mù chữ cũng là mối quan tâm lớn, đặc biệt là ở các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Trong thời đại hiện nay, các luồng thông tin trên hành tinh hầu như không có biên giới do kỹ thuật phát sóng truyền thanh và truyền hình qua vệ tinh, do sự bùng nổ của “văn hoá du lịch”, người dân bình thường cũng có điều kiện hơn để tiếp xúc với các nền văn hoá của thế giới. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tốt cũng phải đề phòng sự “ô nhiễm xã hội” do ảnh hưởng của các loại văn hoá lai căng, sự tuyên truyền thù địch, các lối sống không phù hợp với dân tộc. Việc bảo vệ và gìn giữ, phát triển thuần phong mĩ tục, bảo vệ và tôn tạo các di tích văn hoá – lịch sử cũng là vấn đề cần được đầu tư và quan tâm hơn nữa.
Câu hỏi:
1. Chứng minh rằng hệ thống giáo dục của nước ta đa dạng và khá hoàn chỉnh
2. Tại sao có thể nói những thành tựu về giáo dục và đào tạo của nước ta là to lớn?
3. Những vấn đề nào đang được đặt ra đối với sự phát triển y tế và nền văn hoá dân tộc của nước ta?
4. Hãy vẽ biểu đồ hình cột thể hiện tỉ lệ người biết đọc biết viết của nước ta so với một số nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương dựa trên số liệu sau:
- Việt Nam: 92%
- Malaixia: 85,7%
- Trung Quốc: 82,9%
- Ấn Độ: 53,5%
- Inđônêxia: 85,0%
- Xingapo: 91,4%
(Theo Báo cáo phát triển con người năm 1999 của Liên Hợp Quốc)
http://www.onthi.com/ly-thuyet/van-de-phat-trien-giao-duc-van-hoa-va-y-te_521.html















How to use Quote function: