Cả dân tộc đã ngộ nhận sao?!
Monday, January 5, 2009 7:25:00 PM
Việt Nam và Trung Quốc vừa cắm xong mốc phân định biên giới trên bộ giữa hai nước.
Có nhiều ý kiến trái lề, cho rằng Việt Nam đã chịu sức ép từ Trung Quốc để gấp gáp hoàn tất việc này, và đây cũng là thắng lợi hoàn toàn của Bắc Kinh. Tôi nghĩ không hẳn vậy. Công việc này kết thúc trước thời điểm tròn ba mươi năm Chiến tranh Biên giới phía Bắc – đang gần kề – cũng là một điều hay về mặt ngoại giao cho cả hai phía. Hơn thế, một biên giới chính thức, rõ ràng mà cả hai bên nhà nước đồng ý và có sự xác thực của Liên hiệp quốc, sẽ là cơ sở tối thượng và vững chắc, có thể giúp Hà Nội ngăn chặn – về mặt pháp lý – những toan tính hay hành động lấn lướt thêm nữa về lãnh thổ, từ người đồng chí phương bắc.
Tôi đủ thực tế để (phải) chấp nhận, rằng sau lần phân ranh này, cho dù bản đồ Việt Nam có thể biến dạng trên đường biên phía bắc, thì đó có lẽ cũng là một đánh đổi khả dĩ (?). Thế nhưng, vẫn không thể không có cảm giác nghẹn lòng…
…
Vậy là dư luận bấy lâu nay về những điểm nóng lãnh thổ, là ải Nam Quan và thác Bản Giốc, rồi ngay cả điểm nóng mới cứng là bãi Tục Lãm, giờ đây đã được chính những người có trách nhiệm gián tiếp thừa nhận là đúng! Cho dù chữ “mất” chỉ mang nghĩa tình cảm hay nhận thức quán tính (rằng nó vốn thuộc về Việt Nam [nhưng thật ra không phải?]), và không được thừa nhận chính thức chăng nữa, thì chúng ta quả đã mất toàn bộ hay từng phần những nơi này.
Bãi Tục Lãm, đối với tôi: xa lạ.
Thác Bản Giốc, tôi chưa từng đến, nhưng gắn với một kỷ niệm thời niên thiếu.
Đã lâu, vào một ngày kia, tôi quyết định để cho những kỷ vật tuổi thơ thoát khỏi cái tâm trí đã hoàn toàn không còn những mộng mơ và mộng mị bé con. Trong số này, có một cuốn tập 200 trang, dày cộm lên vì đã dán vào những bức ảnh phong cảnh đất nước được cắt ra từ báo hay bưu ảnh, bên cạnh là những dòng “hoa văn” và những con chữ nắn nót bằng bút bi hai màu xanh, đỏ. Những bức ảnh nhỏ, trên giấy báo đen nhẻm của thời khốn khó, theo thời gian, nay đã nhòa hẳn trong trí nhớ. Nhưng có hai tấm mà tôi không hề quên, vì là ảnh màu, khổ lớn hơn hai trang vở, lấy được từ lịch, mà khi có được tôi đã rất thỏa chí. Một là chiếc cầu Xóm Bóng ở Nha Trang, và hai, chính là thác Bản Giốc.
Tình yêu quê hương khắc vào tôi đơn giản vậy, chỉ là thích thú với những bức ảnh màu hiếm hoi, để rồi không phai trong ký ức.
Những tài liệu từng được công bố chính thức và rầm rộ, về việc dời mốc, nắn dòng của phía Trung Quốc vẫn còn chưa kịp xóa đi trong tâm trí nhiều người, vậy mà nay ta lại đành đoạn thừa nhận một cách nghiễm nhiên những mốc, dòng “nào đó”, để nhận lấy “thực tế” của thác Bản Giốc sao!
Còn ải Nam Quan? Lần đầu tôi biết đến địa danh này là ở cuộc chia ly của cha con Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi.
Cái thuở bé tẹo, trong một cuốn giáo khoa lưu lại của thời trước, cứ in sâu vào đầu tôi là hình vẽ của các bài học lịch sử: Lê Lai cứu chúa, Đặng Dung mài gươm dưới trăng, và Nguyễn Phi Khanh đeo gông đi đày tại cửa ải Nam Quan.
Tuổi thơ, từ sớm tôi đã thuộc câu “Non sông ta liền một dải, từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau” trước khi biết đến chuyện đất nước bị chia cắt, đã “thấy” cửa ải nơi địa đầu biên cương trước khi nghe về vĩ tuyến 17. Và tình yêu non nước tạc vào lòng tôi từ đó – không từ những điều cao siêu, từ sự mến mộ những anh hùng dân tộc – không từ lòng căm thù giai cấp.
Vậy mà giờ đây tôi “được” biết rằng cái ải mà nhiều thế hệ người Việt vẫn nằm lòng đó, trong lịch sử và trên thực tế lại vốn không thuộc về đất nước này! Vậy cả dân tộc ta (chữ “dân tộc” dùng ở đây không ngoa chút nào), liên tục từ nhiều đời nay, đã hoàn toàn ngộ nhận về ải Nam Quan, hay trong chuyện này, chính những người có trách nhiệm bảo toàn cương thổ đã không biết đến lịch sử nào khác của nước nhà, ngoài cái sử liệu tập trung vào Pháp – Thanh?
Việt Nam “được” 3/4 bãi Tục Lãm, Trung Quốc có 3/4 thác Bản Giốc, còn ải Nam Quan thì nằm sâu trong lãnh thổ phương bắc. Đất thì bạn “nhường”, nhưng văn hóa và lịch sử thì bạn quyết lấy!
Mà nào chỉ có thế. Ngoài ba nơi trên, những điểm cao chiến lược dọc biên giới, qua những lần giao tranh hồi tháng Hai năm 1979 và sau đó, nay đã được “phân chia” như thế nào?
Những khẳng định chung chung, rằng ta không hề mất đất, liệu có thuyết phục, khi mà những ý kiến ngược lại thì có thể trưng ra sử liệu và bản đồ, hình ảnh? Quả thật là cần phải có chuyên môn để nắm được về mặt trắc địa, nhưng kỹ thuật đó có phải là thứ siêu phàm, chỉ nằm gọn trong hiểu biết của những người đàm phán và các bộ phận liên quan? Còn nếu nói rằng sẽ công bố sau, liệu có khiến mọi người an tâm rằng đã không có khuất tất nào?
Thêm nữa. Vì sao có chuyện đến tận nay mà Trung Quốc vẫn phải gỡ mìn còn lại từ cuộc chiến năm 1979, gài sâu trong phần đất của họ? Việt Nam ta quả đã xứng danh “tiểu bá”, đến nỗi dù hùng hổ xua quân “dạy một bài học”, lãnh đạo Trung Quốc khi đó vẫn nơm nớm lo cho biên thổ, đến độ phải tự đặt mìn dày đặc trên phần đất của mình vì sợ Việt Nam xâm lược; hay đây chính là đất đai của ông cha ta đã về tay họ, sau những diễn biến quân sự?
Chưa hết. Tại sao tranh chấp nảy sinh ra một cách “bình đẳng”, nhưng lại chỉ toàn những địa danh Việt Nam phải đem ra xẻ, chứ không thấy một tên đất nào của Trung Quốc mà ta chủ động đòi phần để họ buộc phải chia?
Tôi không đủ dữ liệu và chuyên môn để trả lời những câu hỏi như thế. Chỉ biết rằng, một cách khách quan, nếu người Việt ta đã ngộ nhận về lãnh thổ, thì chấp nhận sự thật là việc làm đương nhiên; nhưng nếu ngược lại, lịch sử sẽ không thể bỏ qua sự kiện đau đớn này và trách nhiệm của những người liên quan.
Chỉ có sự minh bạch và trao đổi tận ngọn ngành, gốc rễ, từ mọi phía, mới có thể giải tỏa được nghi vấn và nỗi lòng của con dân nước Việt. Bằng không, như Kant đã nói, “các thế hệ sau sẽ hoàn toàn có quyền bác bỏ những thỏa thuận này như là những cái vô thẩm quyền và phạm tội”!
*
PS: Đây chỉ là những suy nghĩ chợt đến nhưng tôi đã rất khó khăn khi viết, có lẽ vì lòng trĩu nặng. Trong ba đêm gõ phím cho nó, vào đêm thứ nhì, khi cứ ngồi đó mà không tiếp tục được, tôi tìm lại bài Nhớ về Pác Pó, và cứ thế nghe liên tục nhiều lần. Bài này nay được phối lại với tiếng hát Quang Lý, tôi không thích bằng giọng ca ban đầu của một nữ ca sỹ miền Bắc (Thu Hiền hay Thanh Hoa?), có lẽ vì với tôi, giọng hát đó gắn liền với tâm cảm người dân Việt hướng về chốn địa đầu đất nước phải chịu cảnh máu lửa.
Tôi không rõ các vị có trách nhiệm hiện nay, đã từng có cảm xúc như thế nào khi nghe giọng hát dạt dào: “Anh đưa em về sông Bằng, ngày xuân phong lan xanh mộ Kim Đồng…”, và rồi: “Ôi mênh mông trời Cao Bằng, vùi chôn xâm lăng núi rừng điệp trùng, từng tất đất ghi muôn vàn chiến công…”. Tôi cũng không rõ các vị ấy có từng đến xem gian trưng bày “Tội ác quân bành trướng Bắc Kinh”, trong khuôn viên “Nhà trưng bày tội ác Mỹ – Ngụy” hay không, và có ghi vào tâm khảm một bức nào hay không. Riêng tôi, với bài hát này, trong đầu lại hiện lên hình ảnh thi thể những nữ dân quân Việt Nam đã trương lên, nằm chồng chập nhau, có người lõa lồ, trong một cái hố, lẫn với đất đá, rơm rạ!
Chiến tranh qua đi đã lâu, quên đi quá khứ và hướng đến tương lai hòa bình và hữu nghị mới là điều hoàn toàn phải lẽ. Nhưng nó chỉ có thể có được nếu đó không phải là tình hữu nghị của diễn tiến mất đất, mất biển – trong hòa bình!
Dứt khoát không!
*
Ảnh trên: Nhà thơ Bùi Minh Quốc, tác giả của Chống diễn biến hòa bình của chủ nghĩa bành trướng hiện đại Trung Quốc, trong một chuyến chu du biên giới phía Bắc. Tấm ảnh này khá quí báu, vì chụp bên cột mốc biên giới được dựng từ năm 1981. Hiện nay những cột mốc này đã được thay thế, cột mốc cũ không còn nữa (nguồn: Phù Sa và Nguyễn Trọng Tạo).
*
Updated 10/01/2009: Xem ải Nam Quan và chiêm ngưỡng thác Bản Giốc ở đây.
Updated 09/02/2009: Những phụ nữ nằm chồng chất, lẫn với đất đá mà tôi nhắc đến, có lẽ chính là hình ảnh của cái giếng trong entry này của Huy Đức!
Updated 24-25/02/2009: Sau khi VN và TQ “mừng công” việc hoàn thành phân mốc biên giới (23/02/2009), có thông tin mới về việc phân chia bãi Tục Lãm, ở link này. Tiếp tục, lại có bài ngắn diễn đạt ý của Thứ trưởng Vũ Dũng, về việc Việt-Trung đã phân giới những khu vực nhạy cảm như thế nào?
Updated 28/02/2009: 27/02/2009, Tạp chí Cộng sản, Hoàn thành công tác phân giới cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam và Trung Quốc, có thêm hình và bản đồ.
Có nhiều ý kiến trái lề, cho rằng Việt Nam đã chịu sức ép từ Trung Quốc để gấp gáp hoàn tất việc này, và đây cũng là thắng lợi hoàn toàn của Bắc Kinh. Tôi nghĩ không hẳn vậy. Công việc này kết thúc trước thời điểm tròn ba mươi năm Chiến tranh Biên giới phía Bắc – đang gần kề – cũng là một điều hay về mặt ngoại giao cho cả hai phía. Hơn thế, một biên giới chính thức, rõ ràng mà cả hai bên nhà nước đồng ý và có sự xác thực của Liên hiệp quốc, sẽ là cơ sở tối thượng và vững chắc, có thể giúp Hà Nội ngăn chặn – về mặt pháp lý – những toan tính hay hành động lấn lướt thêm nữa về lãnh thổ, từ người đồng chí phương bắc.
Tôi đủ thực tế để (phải) chấp nhận, rằng sau lần phân ranh này, cho dù bản đồ Việt Nam có thể biến dạng trên đường biên phía bắc, thì đó có lẽ cũng là một đánh đổi khả dĩ (?). Thế nhưng, vẫn không thể không có cảm giác nghẹn lòng…
…
Vậy là dư luận bấy lâu nay về những điểm nóng lãnh thổ, là ải Nam Quan và thác Bản Giốc, rồi ngay cả điểm nóng mới cứng là bãi Tục Lãm, giờ đây đã được chính những người có trách nhiệm gián tiếp thừa nhận là đúng! Cho dù chữ “mất” chỉ mang nghĩa tình cảm hay nhận thức quán tính (rằng nó vốn thuộc về Việt Nam [nhưng thật ra không phải?]), và không được thừa nhận chính thức chăng nữa, thì chúng ta quả đã mất toàn bộ hay từng phần những nơi này.
Bãi Tục Lãm, đối với tôi: xa lạ.
Thác Bản Giốc, tôi chưa từng đến, nhưng gắn với một kỷ niệm thời niên thiếu.
Đã lâu, vào một ngày kia, tôi quyết định để cho những kỷ vật tuổi thơ thoát khỏi cái tâm trí đã hoàn toàn không còn những mộng mơ và mộng mị bé con. Trong số này, có một cuốn tập 200 trang, dày cộm lên vì đã dán vào những bức ảnh phong cảnh đất nước được cắt ra từ báo hay bưu ảnh, bên cạnh là những dòng “hoa văn” và những con chữ nắn nót bằng bút bi hai màu xanh, đỏ. Những bức ảnh nhỏ, trên giấy báo đen nhẻm của thời khốn khó, theo thời gian, nay đã nhòa hẳn trong trí nhớ. Nhưng có hai tấm mà tôi không hề quên, vì là ảnh màu, khổ lớn hơn hai trang vở, lấy được từ lịch, mà khi có được tôi đã rất thỏa chí. Một là chiếc cầu Xóm Bóng ở Nha Trang, và hai, chính là thác Bản Giốc.
Tình yêu quê hương khắc vào tôi đơn giản vậy, chỉ là thích thú với những bức ảnh màu hiếm hoi, để rồi không phai trong ký ức.
Những tài liệu từng được công bố chính thức và rầm rộ, về việc dời mốc, nắn dòng của phía Trung Quốc vẫn còn chưa kịp xóa đi trong tâm trí nhiều người, vậy mà nay ta lại đành đoạn thừa nhận một cách nghiễm nhiên những mốc, dòng “nào đó”, để nhận lấy “thực tế” của thác Bản Giốc sao!
Còn ải Nam Quan? Lần đầu tôi biết đến địa danh này là ở cuộc chia ly của cha con Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi.
Cái thuở bé tẹo, trong một cuốn giáo khoa lưu lại của thời trước, cứ in sâu vào đầu tôi là hình vẽ của các bài học lịch sử: Lê Lai cứu chúa, Đặng Dung mài gươm dưới trăng, và Nguyễn Phi Khanh đeo gông đi đày tại cửa ải Nam Quan.
Tuổi thơ, từ sớm tôi đã thuộc câu “Non sông ta liền một dải, từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau” trước khi biết đến chuyện đất nước bị chia cắt, đã “thấy” cửa ải nơi địa đầu biên cương trước khi nghe về vĩ tuyến 17. Và tình yêu non nước tạc vào lòng tôi từ đó – không từ những điều cao siêu, từ sự mến mộ những anh hùng dân tộc – không từ lòng căm thù giai cấp.
Vậy mà giờ đây tôi “được” biết rằng cái ải mà nhiều thế hệ người Việt vẫn nằm lòng đó, trong lịch sử và trên thực tế lại vốn không thuộc về đất nước này! Vậy cả dân tộc ta (chữ “dân tộc” dùng ở đây không ngoa chút nào), liên tục từ nhiều đời nay, đã hoàn toàn ngộ nhận về ải Nam Quan, hay trong chuyện này, chính những người có trách nhiệm bảo toàn cương thổ đã không biết đến lịch sử nào khác của nước nhà, ngoài cái sử liệu tập trung vào Pháp – Thanh?
Việt Nam “được” 3/4 bãi Tục Lãm, Trung Quốc có 3/4 thác Bản Giốc, còn ải Nam Quan thì nằm sâu trong lãnh thổ phương bắc. Đất thì bạn “nhường”, nhưng văn hóa và lịch sử thì bạn quyết lấy!
Mà nào chỉ có thế. Ngoài ba nơi trên, những điểm cao chiến lược dọc biên giới, qua những lần giao tranh hồi tháng Hai năm 1979 và sau đó, nay đã được “phân chia” như thế nào?
Những khẳng định chung chung, rằng ta không hề mất đất, liệu có thuyết phục, khi mà những ý kiến ngược lại thì có thể trưng ra sử liệu và bản đồ, hình ảnh? Quả thật là cần phải có chuyên môn để nắm được về mặt trắc địa, nhưng kỹ thuật đó có phải là thứ siêu phàm, chỉ nằm gọn trong hiểu biết của những người đàm phán và các bộ phận liên quan? Còn nếu nói rằng sẽ công bố sau, liệu có khiến mọi người an tâm rằng đã không có khuất tất nào?
Thêm nữa. Vì sao có chuyện đến tận nay mà Trung Quốc vẫn phải gỡ mìn còn lại từ cuộc chiến năm 1979, gài sâu trong phần đất của họ? Việt Nam ta quả đã xứng danh “tiểu bá”, đến nỗi dù hùng hổ xua quân “dạy một bài học”, lãnh đạo Trung Quốc khi đó vẫn nơm nớm lo cho biên thổ, đến độ phải tự đặt mìn dày đặc trên phần đất của mình vì sợ Việt Nam xâm lược; hay đây chính là đất đai của ông cha ta đã về tay họ, sau những diễn biến quân sự?
Chưa hết. Tại sao tranh chấp nảy sinh ra một cách “bình đẳng”, nhưng lại chỉ toàn những địa danh Việt Nam phải đem ra xẻ, chứ không thấy một tên đất nào của Trung Quốc mà ta chủ động đòi phần để họ buộc phải chia?
Tôi không đủ dữ liệu và chuyên môn để trả lời những câu hỏi như thế. Chỉ biết rằng, một cách khách quan, nếu người Việt ta đã ngộ nhận về lãnh thổ, thì chấp nhận sự thật là việc làm đương nhiên; nhưng nếu ngược lại, lịch sử sẽ không thể bỏ qua sự kiện đau đớn này và trách nhiệm của những người liên quan.
Chỉ có sự minh bạch và trao đổi tận ngọn ngành, gốc rễ, từ mọi phía, mới có thể giải tỏa được nghi vấn và nỗi lòng của con dân nước Việt. Bằng không, như Kant đã nói, “các thế hệ sau sẽ hoàn toàn có quyền bác bỏ những thỏa thuận này như là những cái vô thẩm quyền và phạm tội”!
*
PS: Đây chỉ là những suy nghĩ chợt đến nhưng tôi đã rất khó khăn khi viết, có lẽ vì lòng trĩu nặng. Trong ba đêm gõ phím cho nó, vào đêm thứ nhì, khi cứ ngồi đó mà không tiếp tục được, tôi tìm lại bài Nhớ về Pác Pó, và cứ thế nghe liên tục nhiều lần. Bài này nay được phối lại với tiếng hát Quang Lý, tôi không thích bằng giọng ca ban đầu của một nữ ca sỹ miền Bắc (Thu Hiền hay Thanh Hoa?), có lẽ vì với tôi, giọng hát đó gắn liền với tâm cảm người dân Việt hướng về chốn địa đầu đất nước phải chịu cảnh máu lửa.
Tôi không rõ các vị có trách nhiệm hiện nay, đã từng có cảm xúc như thế nào khi nghe giọng hát dạt dào: “Anh đưa em về sông Bằng, ngày xuân phong lan xanh mộ Kim Đồng…”, và rồi: “Ôi mênh mông trời Cao Bằng, vùi chôn xâm lăng núi rừng điệp trùng, từng tất đất ghi muôn vàn chiến công…”. Tôi cũng không rõ các vị ấy có từng đến xem gian trưng bày “Tội ác quân bành trướng Bắc Kinh”, trong khuôn viên “Nhà trưng bày tội ác Mỹ – Ngụy” hay không, và có ghi vào tâm khảm một bức nào hay không. Riêng tôi, với bài hát này, trong đầu lại hiện lên hình ảnh thi thể những nữ dân quân Việt Nam đã trương lên, nằm chồng chập nhau, có người lõa lồ, trong một cái hố, lẫn với đất đá, rơm rạ!
Chiến tranh qua đi đã lâu, quên đi quá khứ và hướng đến tương lai hòa bình và hữu nghị mới là điều hoàn toàn phải lẽ. Nhưng nó chỉ có thể có được nếu đó không phải là tình hữu nghị của diễn tiến mất đất, mất biển – trong hòa bình!
Dứt khoát không!
*
Ảnh trên: Nhà thơ Bùi Minh Quốc, tác giả của Chống diễn biến hòa bình của chủ nghĩa bành trướng hiện đại Trung Quốc, trong một chuyến chu du biên giới phía Bắc. Tấm ảnh này khá quí báu, vì chụp bên cột mốc biên giới được dựng từ năm 1981. Hiện nay những cột mốc này đã được thay thế, cột mốc cũ không còn nữa (nguồn: Phù Sa và Nguyễn Trọng Tạo).
*
Updated 10/01/2009: Xem ải Nam Quan và chiêm ngưỡng thác Bản Giốc ở đây.
Updated 09/02/2009: Những phụ nữ nằm chồng chất, lẫn với đất đá mà tôi nhắc đến, có lẽ chính là hình ảnh của cái giếng trong entry này của Huy Đức!
Updated 24-25/02/2009: Sau khi VN và TQ “mừng công” việc hoàn thành phân mốc biên giới (23/02/2009), có thông tin mới về việc phân chia bãi Tục Lãm, ở link này. Tiếp tục, lại có bài ngắn diễn đạt ý của Thứ trưởng Vũ Dũng, về việc Việt-Trung đã phân giới những khu vực nhạy cảm như thế nào?
Updated 28/02/2009: 27/02/2009, Tạp chí Cộng sản, Hoàn thành công tác phân giới cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam và Trung Quốc, có thêm hình và bản đồ.

