Khai sáng là gì ? (2)
Sunday, November 2, 2008 4:11:00 AM
Nhưng phải chăng là thành phần giáo phẩm, chẳng hạn một hội đồng chức sắc, hay là một hội đồng trưởng lão đáng tôn kính - như ở Hà Lan họ gọi vậy - có quyền tự mình cam kết bằng một phát nguyện trung thành với hệ thống giáo lý không thể thay đổi nào đó, để bảo đảm cho quyền giám hộ thường trực và bất biến lên từng thành viên của nó, và bằng cách đó, lên toàn thể nhân dân? Tôi trả lời rằng điều đó hoàn toàn không thể được. Một khế ước loại này, kết thúc bằng một nhãn quan hướng đến ngăn chặn vĩnh viễn mọi bước tiến khai sáng của nhân loại, là hoàn toàn vô hiệu và trống rỗng, ngay cả nếu nó được phê chuẩn bởi một quyền lực tối cao, bởi nghị viện đế chế, hay bởi những hiệp ước hòa bình trang trọng nhất. Một thời đại không thể gia nhập một liên minh trên cơ sở thề nguyền để rồi đặt thời đại kế tiếp vào một vị thế bất khả trong việc phát triển và hiệu chỉnh tri thức của mình, đặc biệt là ở những vấn đề quan trọng như vậy, hay trong việc thúc đẩy bất kỳ loại tiến bộ nào bằng khai sáng. Đó sẽ là một tội ác chống lại bản chất con người, mà vận mệnh căn nguyên của họ vốn đặt cơ sở trên chính những tiến bộ như vậy. Các thế hệ sau vì thế sẽ hoàn toàn có quyền bác bỏ những thỏa thuận này như là những cái vô thẩm quyền và phạm tội. Để kiểm chứng một phương cách cụ thể bất kỳ có đạt được sự đồng thuận, với tư cách một luật định cho nhân dân hay không, ta chỉ cần hỏi người dân xem họ có tự nguyện buộc mình tuân thủ một luật như vậy hay không. Điều này có thể là rất khả thi cho một thời điểm ngắn xác định, với tư cách một công cụ để giới thiệu một trật tự nào đó khi còn đang “treo” đợi - như đã vậy rồi - một giải pháp tốt hơn. Điều này cũng có nghĩa là một công dân, đặc biệt là cha đạo truyền giảng, sẽ được gỡ trói, để có thể đóng vai trò là một học giả có những bình giải công khai, thông qua viết lách của mình, về những gì bất tương xứng của các thiết chế hiện hành. Trong khi đó, cái trật tự được thiết lập gần đây sẽ tiếp tục tồn tại, cho đến khi sự thấu suốt của công chúng đối với bản chất của những vấn đề như vậy có được tiến bộ, và tự nó chứng minh là đến thời điểm quyết định, bằng sự đồng ý chung (nếu không phải là hoàn toàn nhất trí), một đề xuất có thể được đệ trình lên nhà vua. Đề xuất đó nhắm bảo vệ một giáo đoàn mà, chẳng hạn, các thành viên của nó đã đồng ý cải biến tổ chức tôn giáo của mình theo chính những quan niệm của họ về những gì được cho là thấu thị cao hơn; mà không nhắm gây cản trở cho những người muốn mọi thứ duy trì như trước đây. Nhưng tuyệt đối không thể cho phép, cho dù chỉ ở một cuộc đời đơn lẻ, việc đồng ý với một thiết chế tôn giáo vĩnh viễn, vốn không một ai có thể công khai đặt vấn đề về nó. Vì điều này gần như vô hiệu hóa “pha” hướng đến tiến bộ của con người, do nó sẽ khiến cho kết quả còi cọc và thậm chí gây hại cho các thế hệ sau. Một người có thể vì riêng mình, và ngay cả trong một thời đoạn giới hạn, đình hoãn khai sáng bản thân trong các vấn đề mà lẽ ra anh ta cần phải biết đến. Nhưng việc từ bỏ hoàn toàn sự khai sáng đó, dù chỉ cho cá nhân anh ta hay ngay đến cho nhiều thế hệ sau, là đã xâm phạm và giẫm đạp lên các quyền thiêng liêng của con người. Dù sao, điều gì đó mà cho dù dân chúng có tự áp đặt lên mình thì vẫn còn ít hơn là cái bị áp đặt từ một nhà vua; vì thẩm quyền lập pháp của ông chính là tùy thuộc vào sự hợp nhất ý chí tập thể của nhân dân nơi chính ông. Miễn là ông nhìn thấy rằng mọi chân lý hay tiến bộ được hình dung đều là những cái tương hợp với trật tự dân sự, bằng cách làm khác đi so với hiện thời, ông có khả năng để cho thần dân của mình thực hiện bất cứ điều gì họ nhận thấy là cần thiết cho sự cứu rỗi tinh thần của họ, những việc mà chẳng liên can đến ông. Nhưng công việc của ông là chặn lại bất kỳ ai dùng vũ lực ngăn cản người khác thực hiện những công việc tốt nhất nhằm xác định và thăng tiến phúc lợi tinh thần đó.
Sẽ thật sự làm giảm uy phong nếu ông can thiệp vào các sự vụ bằng cách buộc thuần phục đối với những viết lách mà trong đó thần dân của ông nỗ lực làm rõ những ý tưởng giáo tín của họ trước sự giám sát của chính quyền. Điều này có thể áp dụng nếu ông hành động trên cơ sở những quan niệm cao thượng của mình - trong trường hợp ông đặt chính mình trước sự phê phán. Caesar non est supra grammaticos - nhưng sẽ là tự hạ phẩm giá thẩm quyền cao quý của mình nếu ông ủng hộ cho nền chuyên chế tinh thần của một số ít kẻ chuyên quyền trong nhà nước của ông để chống lại những thần dân còn lại.
Nếu được hỏi rằng chúng ta hiện đang sống trong một thời đại đã khai sáng rồi chăng. Câu trả lời là không, ta chỉ đang sống trong thời đại của sự khai sáng. Với mọi thứ đang hiện diện, ta vẫn còn một con đường dài phải đi trước khi toàn bộ mọi người có thể ở vào vị thế (hay có thể được đặt vào vị thế) sử dụng nhận thức của chính họ một cách tự tin và thuần thục trong các vấn đề tôn giáo, mà không cần đến sự hướng dẫn từ bên ngoài. Nhưng chúng ta có những chỉ dấu cho thấy khác biệt về con đường mà nay đang được phát quang cho hoạt động của công chúng, với những gì cản trở sự khai sáng phổ quát, đối với sự vượt thoát của con người khỏi tình trạng vị thành niên tự kỷ, thì nay đang dần ít đi. Ở khía cạnh này, thời đại của chúng ta là thời đại của khai sáng - thế kỷ của Frederick.
Một quân vương mà không xem như hạ thấp mình khi nói rằng bổn phận của ông, trong các vấn đề tôn giáo, là không quy định bất cứ điều gì cho dân chúng, mà cho phép họ hoàn toàn tự do; một quân vương mà còn thậm chí hạ mình để chấp nhận danh hiệu táo bạo là người khoan dung, thì chính ông đã được khai sáng. Ông xứng đáng được tôn vinh bằng sự biết ơn của mọi người và hậu thế như là người đầu tiên giải phóng loài người khỏi sự bất trưởng thành (trong chừng mực mà chính quyền có liên quan), và để cho tất cả mọi người tự do sử dụng lý trí của mình trong mọi vấn đề của tâm thức. Dưới sự cai trị của ông, giới chức sắc tôn giáo, trong khi thực hiện bổn phận chính thức, vẫn giữ năng lực học giả của họ, tự do và công khai trình bày những đánh giá và quan niệm của mình trước sự phán xét của mọi người, ngay cả nếu những điều này đâu đó đi chệch khỏi giáo lý chính thống. Điều này thậm chí còn áp dụng nhiều hơn cho những người không bị giới hạn bởi những bổn phận chính thức. Tinh thần tự do này đang lan tỏa ra khỏi biên giới, đến cả những nơi phải đấu tranh với các chướng ngại ngoại tại mà các chính quyền hiểu sai chức năng của họ đã áp đặt lên công chúng. Những chính thể như vậy nay đang chứng kiến một ví dụ sáng ngời về cách thức mà tự do có thể tồn tại mà không có sự hủy hoại, dù là tối thiểu đối với sự hòa hợp chung và sự thống nhất của quốc gia. Con người luôn tỏ ý chí của chính mình, sẽ dần dần rời bỏ sự hoang dại, với điều kiện là những kế sách giả tạo không chủ tâm cầm giữ họ trong đó.
Tôi đã phác họa các vấn đề về tôn giáo như là tiêu điểm của khai sáng, tức sự vượt thoát của con người khỏi tình trạng vị thành niên tự kỷ. Điều này trước hết là vì các nhà cai trị của chúng ta không có lợi ích trong việc đóng vai trò là người giám hộ đối với thần dân, trong các vấn đề về nghệ thuật và khoa học; và thứ hai, vì sự bất trưởng thành tín giáo là nguy hại nhất và đa dạng đến hỗ thẹn hơn tất thảy. Nhưng thái độ tư duy của người đứng đầu nhà nước mà ủng hộ tự do nghệ thuật và khoa học, và thậm chí mở rộng hơn thế, vì ông nhận ra không có nguy hiểm nào đối với quyền làm luật của ông trong việc cho phép thần dân sử dụng tính cộng đồng của lý trí và công khai tư tưởng của họ trước công chúng là thể thức tốt hơn để vạch ra luật pháp, và ngay cả nếu điều này đưa đến sự phê phán thẳng thắn pháp chế hiện thời. Chúng ta đã có một tấm gương sáng chói như vậy, và không một ông vua nào vượt trội hơn người mà chúng ta đang kính trọng.
Nhưng cũng chỉ một người cai trị đã tự khai sáng mình và không hề sợ ma quỷ, thêm vào là có một đội quân hùng hậu, kỷ luật tốt để bảo đảm an ninh công cộng, là có thể dám nói điều mà không một người cộng hòa nào cất tiếng, rằng: “Cứ tranh luận, trong giới hạn mà anh muốn và đối với điều mà anh muốn, chỉ là - hãy tuân phục đi!”. Điều thể hiện trước chúng ta là một hình mẫu lạ lùng và không mong đợi trong nội vụ con người (như ta sẽ luôn nhận thấy khi xem xét họ với một nghĩa rộng nhất, khi mà gần như mọi thứ đều là nghịch lý). Ở mức độ cao của tự do công dân [sử dụng khía cạnh công cộng của tư duy] dường như thuận lợi cho tự do tư duy của nhân dân, nhưng nó vẫn không thể vượt qua những rào cản đối với chính nó. Phía bên kia, ở mức độ tự do dân sự thấp hơn [sử dụng khía cạnh riêng tư của tư duy] đem đến sự tự do trí năng một không gian đủ lớn để mở rộng nó đầy đủ nhất. Vì thế, một khi hạt mầm được thiên nhiên chăm chút cẩn thận, thiên hướng và khuynh hướng đi đến suy nghĩ độc lập sẽ phát triển bên trong lớp vỏ cứng, dần tạo nên phản ứng tinh thần nơi người dân, vốn đang càng tăng dần năng lực hành động tự chủ. Cuối cùng, điều đó ảnh hưởng đến nguyên tắc của chính thể, khi nó nhận ra rằng chính nhà nước có được lợi ích từ việc đối xử với con người đúng với chân giá trị của họ, hơn là xem họ chỉ như những cái máy.
Königsberg, nước Phổ, ngày 30 tháng 9 năm 1784.
-
(Kant, An Answer to the Question: What is Enlightenment?, in: Political Writings, Cambridge University Press, 2000, pp. 54-60.)
*
Trích: Lê Tuấn Huy, Triết học chính trị Montesquieu với việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, Nxb Tổng Hợp TP. HCM, 2005, Phụ lục 5.
Có thể xem thêm entry NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ PHÂN QUYỀN, là một phần trích từ cuốn sách này (nhưng không liên quan đề tài đang đề cập).
Cũng đề nghị đọc thêm tiểu thuyết TRẠI SÚC VẬT để… cười no bụng!
Sẽ thật sự làm giảm uy phong nếu ông can thiệp vào các sự vụ bằng cách buộc thuần phục đối với những viết lách mà trong đó thần dân của ông nỗ lực làm rõ những ý tưởng giáo tín của họ trước sự giám sát của chính quyền. Điều này có thể áp dụng nếu ông hành động trên cơ sở những quan niệm cao thượng của mình - trong trường hợp ông đặt chính mình trước sự phê phán. Caesar non est supra grammaticos - nhưng sẽ là tự hạ phẩm giá thẩm quyền cao quý của mình nếu ông ủng hộ cho nền chuyên chế tinh thần của một số ít kẻ chuyên quyền trong nhà nước của ông để chống lại những thần dân còn lại.
Nếu được hỏi rằng chúng ta hiện đang sống trong một thời đại đã khai sáng rồi chăng. Câu trả lời là không, ta chỉ đang sống trong thời đại của sự khai sáng. Với mọi thứ đang hiện diện, ta vẫn còn một con đường dài phải đi trước khi toàn bộ mọi người có thể ở vào vị thế (hay có thể được đặt vào vị thế) sử dụng nhận thức của chính họ một cách tự tin và thuần thục trong các vấn đề tôn giáo, mà không cần đến sự hướng dẫn từ bên ngoài. Nhưng chúng ta có những chỉ dấu cho thấy khác biệt về con đường mà nay đang được phát quang cho hoạt động của công chúng, với những gì cản trở sự khai sáng phổ quát, đối với sự vượt thoát của con người khỏi tình trạng vị thành niên tự kỷ, thì nay đang dần ít đi. Ở khía cạnh này, thời đại của chúng ta là thời đại của khai sáng - thế kỷ của Frederick.
Một quân vương mà không xem như hạ thấp mình khi nói rằng bổn phận của ông, trong các vấn đề tôn giáo, là không quy định bất cứ điều gì cho dân chúng, mà cho phép họ hoàn toàn tự do; một quân vương mà còn thậm chí hạ mình để chấp nhận danh hiệu táo bạo là người khoan dung, thì chính ông đã được khai sáng. Ông xứng đáng được tôn vinh bằng sự biết ơn của mọi người và hậu thế như là người đầu tiên giải phóng loài người khỏi sự bất trưởng thành (trong chừng mực mà chính quyền có liên quan), và để cho tất cả mọi người tự do sử dụng lý trí của mình trong mọi vấn đề của tâm thức. Dưới sự cai trị của ông, giới chức sắc tôn giáo, trong khi thực hiện bổn phận chính thức, vẫn giữ năng lực học giả của họ, tự do và công khai trình bày những đánh giá và quan niệm của mình trước sự phán xét của mọi người, ngay cả nếu những điều này đâu đó đi chệch khỏi giáo lý chính thống. Điều này thậm chí còn áp dụng nhiều hơn cho những người không bị giới hạn bởi những bổn phận chính thức. Tinh thần tự do này đang lan tỏa ra khỏi biên giới, đến cả những nơi phải đấu tranh với các chướng ngại ngoại tại mà các chính quyền hiểu sai chức năng của họ đã áp đặt lên công chúng. Những chính thể như vậy nay đang chứng kiến một ví dụ sáng ngời về cách thức mà tự do có thể tồn tại mà không có sự hủy hoại, dù là tối thiểu đối với sự hòa hợp chung và sự thống nhất của quốc gia. Con người luôn tỏ ý chí của chính mình, sẽ dần dần rời bỏ sự hoang dại, với điều kiện là những kế sách giả tạo không chủ tâm cầm giữ họ trong đó.
Tôi đã phác họa các vấn đề về tôn giáo như là tiêu điểm của khai sáng, tức sự vượt thoát của con người khỏi tình trạng vị thành niên tự kỷ. Điều này trước hết là vì các nhà cai trị của chúng ta không có lợi ích trong việc đóng vai trò là người giám hộ đối với thần dân, trong các vấn đề về nghệ thuật và khoa học; và thứ hai, vì sự bất trưởng thành tín giáo là nguy hại nhất và đa dạng đến hỗ thẹn hơn tất thảy. Nhưng thái độ tư duy của người đứng đầu nhà nước mà ủng hộ tự do nghệ thuật và khoa học, và thậm chí mở rộng hơn thế, vì ông nhận ra không có nguy hiểm nào đối với quyền làm luật của ông trong việc cho phép thần dân sử dụng tính cộng đồng của lý trí và công khai tư tưởng của họ trước công chúng là thể thức tốt hơn để vạch ra luật pháp, và ngay cả nếu điều này đưa đến sự phê phán thẳng thắn pháp chế hiện thời. Chúng ta đã có một tấm gương sáng chói như vậy, và không một ông vua nào vượt trội hơn người mà chúng ta đang kính trọng.
Nhưng cũng chỉ một người cai trị đã tự khai sáng mình và không hề sợ ma quỷ, thêm vào là có một đội quân hùng hậu, kỷ luật tốt để bảo đảm an ninh công cộng, là có thể dám nói điều mà không một người cộng hòa nào cất tiếng, rằng: “Cứ tranh luận, trong giới hạn mà anh muốn và đối với điều mà anh muốn, chỉ là - hãy tuân phục đi!”. Điều thể hiện trước chúng ta là một hình mẫu lạ lùng và không mong đợi trong nội vụ con người (như ta sẽ luôn nhận thấy khi xem xét họ với một nghĩa rộng nhất, khi mà gần như mọi thứ đều là nghịch lý). Ở mức độ cao của tự do công dân [sử dụng khía cạnh công cộng của tư duy] dường như thuận lợi cho tự do tư duy của nhân dân, nhưng nó vẫn không thể vượt qua những rào cản đối với chính nó. Phía bên kia, ở mức độ tự do dân sự thấp hơn [sử dụng khía cạnh riêng tư của tư duy] đem đến sự tự do trí năng một không gian đủ lớn để mở rộng nó đầy đủ nhất. Vì thế, một khi hạt mầm được thiên nhiên chăm chút cẩn thận, thiên hướng và khuynh hướng đi đến suy nghĩ độc lập sẽ phát triển bên trong lớp vỏ cứng, dần tạo nên phản ứng tinh thần nơi người dân, vốn đang càng tăng dần năng lực hành động tự chủ. Cuối cùng, điều đó ảnh hưởng đến nguyên tắc của chính thể, khi nó nhận ra rằng chính nhà nước có được lợi ích từ việc đối xử với con người đúng với chân giá trị của họ, hơn là xem họ chỉ như những cái máy.
Königsberg, nước Phổ, ngày 30 tháng 9 năm 1784.
-
(Kant, An Answer to the Question: What is Enlightenment?, in: Political Writings, Cambridge University Press, 2000, pp. 54-60.)
*
Trích: Lê Tuấn Huy, Triết học chính trị Montesquieu với việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, Nxb Tổng Hợp TP. HCM, 2005, Phụ lục 5.
Có thể xem thêm entry NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ PHÂN QUYỀN, là một phần trích từ cuốn sách này (nhưng không liên quan đề tài đang đề cập).
Cũng đề nghị đọc thêm tiểu thuyết TRẠI SÚC VẬT để… cười no bụng!

