30 tháng Tư, cái nhìn từ một phía (1)
Monday, April 28, 2008 11:30:00 AM
Tôi nhận được bài này của Thầy Nguyễn Trọng Văn đã vài hôm. Cũng như những lần trước, Thầy Văn cho tôi “tùy nghi sử dụng”.
Đọc rồi mới biết thì ra bài không đề cập chuyện đánh đấm, ý thức hệ hay gì gì đó liên quan, mà chủ yếu về một mảng thực tế của bộ phận trí thức có thể xem là lớn của miền Nam, trong bối cảnh trước và sau cuộc chiến đó. Nội dung của bài xem ra sẽ hết sức lạ lẫm với nhiều người, nhưng có lẽ sẽ gây một ít “sóng gió” trong giới có liên quan chăng?
*
Nguyễn Trọng Văn
30 tháng Tư, cái nhìn từ một phía
-
Trước hết, cần làm rõ ý nghĩa một vài “thuật ngữ” dùng trong bài. Đầu tiên là chữ 30 tháng Tư, chữ này có nhiều nghĩa:
a) Ngày thống nhất đất nước, non sông một dải.
b) Ngày có những người vui mừng chiến thắng.
c) Ngày có những người đau buồn chiến bại.
d) Ngày mọi người nghiền ngẫm những “được / mất” mấy chục năm qua.
e) Hướng về tương lai với tâm trạng rối bời, hoài nghi, hay nói như mấy nhà báo, tâm trạng “wait and see”, v.v...
Với năm nét nghĩa hơi khác nhau như trên, bài này hiểu 30 tháng 4 theo nghĩa (d) và (e), nghĩa là ngày hội họp nhau lại để tổng kết những kỷ niệm vui buồn, cùng nhau hương về một tương lai, dĩ nhiên không u tối ảm đạm nhưng cũng không như một tương lai bằng vàng. Ðầy cam go, thử thách.
Chữ thứ hai đáng lưu ý là cái nhìn từ một phía. Thông thường người ta nói cái nhìn từ nhiều phía để chỉ cái nhìn khách quan, trung thực hoặc ít ra nhu vậy; dùng cái nhìn từ bên trong ám chỉ cái nhìn của người trong cuộc, sự thực bị phanh phui, phơi bày, không che đậy (cháy nhà ra mặt chuột...). Cái nhìn từ một phía khác nhìn từ nhiều phía hoặc nhìn từ bên trong. Vì:
a) Trước hết nhìn từ một phía cho một cái nhìn hạn hẹp nhưng chân thật, khác lạ hơn so với nhìn từ nhiều phía (ví dụ, cảnh váy Marilyn Monroe bị thổi ngược từ dưới lên) hoặc nhìn từ bên trong (ví dụ, vụ PMU18).
b) Sự mới lạ này hoàn toàn không có tính cách lạ hoắc, kỳ dị, đó là sự mới lạ được che dấu nhưng bị lộ ra, bí mật dần dần bị hé mở, vén màn.
c) Đặc tính thứ ba – hậu quả của hai đặc tính trên – là mọi người đều không muốn tin ở những điều“vượt ngưỡng”. Tò mò tìm hiểu nhưng cũng không muốn biết hết sự thật, một phần vì không thể biết hết phần khác, có một cái gì bi đát, nhẫn tâm.
Tóm lại, cái nhìn từ một phía ám chỉ thái độ đã lựa chọn, đã định hướng, trên cùng một chuyến tàu; khác với thái độ dạo chơi, ngoài cuộc, có thể thế này hoặc thế kia... Điều đáng lưu ý là sự khác biệt trên chỉ có tính nguyên tắc, trên thực tế có sự du di, uyển chuyển, người ta có thể chuyển đổi giới tuyến, quan điểm (thời đại của internet, của hội nhập mà).
-
Tôi có nhiều bạn, trong nước và hải ngoại, do đó ngày 30 tháng Tư tôi nhận được nhiều bài vở, thư từ. Trong số này, có thể kể Đi tìm thời gian đánh mất, 30/04/1975 - 30/04/2006 của Nguyễn Văn Lục (Copyright DCVOnline, không ghi ngày), GS. Trần Thái Đỉnh (điện thư của Đỗ Hữu Nghiêm, ngày 11/04/2008), Thư ngỏ gửi GS. Nguyễn Văn Trung của GS. Trần Thái Đỉnh do Đỗ Hữu Nghiêm sưu tầm và phổ biến (Bình Thạnh, 06/02/1996), v.v… Với mấy trình đơn này, chắc cũng khá đủ. Đề nghị lộ trình sẽ như sau: dẫn một đoạn (trong ngoặc kép) sau đó là vài cảm nghĩ của người viết (in nghiêng). Nào, chúng ta bắt đầu!
Phần một
Trước nhất là Đi tìm thời gian đánh mất của Nguyễn Văn Lục. Sau đây là trích dẫn một số đoạn tiêu biểu:
1.1.
“Một triệu một trăm mười ngàn (1.110.000) binh sĩ VNCH đâu rồi? Và 50 binh sĩ Hoa Kỳ còn sót lại? Mà Neil Sheenan trong Innocence perdu đã từng nói ‘Cette guerre que nous n’aurons jamais gagné’ (Trận chiến mà chúng ta đã chưa hề bao giờ thắng). Mà nay chuẩn bị một cuộc hành trình qua sa mạc (une traversé du désert) với khô héo cạn kiệt hy vọng, một hành trình với đầy bất trắc, đe doạ, hiểm nguy (...)
“Trưa 30-4-1975 ngồi một mình thấy tương lai vô định. Lòng buồn vô tả. Nước mắt tuôn trào không ngăn được (...) Vui chưa thấy, lo thì như ứa tràn. Chẳng hiểu chính quyền đối xử ra sao? Đó cũng là mối lo của tất cả mọi người. Chiến tranh đã chấm dứt. Đáng lẽ phải vui mà hoá buồn (…)
“Mãi tới lúc 16 giờ chiều ngày 30/04/1975 ba vị thuyết khách của ông Dương Văn Minh, thuộc thành phần thứ ba là luật sư Trần Ngọc Liễng, giáo sư Châu Tâm Luân và linh mục Chân Tín mới từ trại David Tân Sơn Nhất ra về. Các ông là những người được tướng Dương Văn Minh cử làm đại diện vào trại David chiều ngày 29/04/1975 để thuyết phục những người của Mặt Trận với lời yêu cầu họ đừng đánh phá Sài Gòn. Các tướng Nguyễn Anh Tuấn và đại tá Võ Đông Giang đã hứa chỉ pháo chút ít để làm áp lực với tướng Dương Văn Minh mà thôi. Quân Bắc Việt đã tiến quân vào Tân Sơn Nhất nên các ông bị kẹt lại cho đến chiều 30/04 mới ra về được (...)”
Nguyễn Trọng Văn:
- Các học giả, ký giả Tây phương hay có lối nói hàm hồ, chơi chữ, né tránh chữ thất bại. Ở đây Neil Sheenan cũng vậy, “chúng ta chưa bao giờ thắng”. Điều này khiến tôi nhớ tới giai thoại hai ông chơi cờ tướng: ván đầu hắn không thua, ván hai tôi không thắng, ván thứ ba tôi xin hoà hắn không chịu.
- Nhanh hay chậm, vui hay buồn tuỳ tâm lý con người.
- Điểm cần lưu ý: tướng Dương Văn Minh thuyết phục những người của Mặt trận đừng đánh phá Sài Gòn, nói cách khác, đừng biến Sài Gòn thànhh bình địa.
1.2.
“Đài phát thanh Sài Gòn mở đầu bằng tiếng hát Trịnh Công Sơn. Tiếng hát một thời. Tiếng hát của một đời người . Anh cất tiếng hát không phải khúc hát da vàng nhưng lạc lõng với bài Nối vòng tay lớn bên cạnh đám bạn bè anh, trong đó có Nguyễn Hữu Thái, một sinh viên tranh đấu (...)”
Nguyễn Trọng Văn: đây là điều rất lạ, cho tới nay tôi thấy chưa thấy lời giải thích nào thoả đáng. Trong cuộc chiến ở giây phút vinh quang như vậy, thực sự vai trò của họ là gì hay chỉ đơn thuần là một tình cờ, một khe hở lịch sử? Tôi nghi ngờ lối giải thích của mấy nhà sử học quân đội.
1.3.
“Theo Stanley Karnov, trong Việt Nam viết: “Ngồi trên một chiến xa vào dinh Độc lập. Ông Bùi Tín chuẩn bị đóng hai vai trò một lúc: là nhà báo ông muốn là nhân chứng cho cuộc đầu hàng. Nhưng là sĩ quan cao cấp trong đơn vị của ông, ông muốn chính ông tiếp nhận sự đầu hàng này. Tôi chờ các ông từ sáng nay để trao quyền hành lại cho các ông, đại tướng Minh đã nói như thế khi ông Bùi Tín vào đến đại sảnh. Bùi Tín đáp lại không có vấn đề trao quyền hành. Quyền hành của các ông còn đâu để mà giao. Ông không thể giao một cái mà ông không có (...). Nhưng câu nói quan trọng nhất của Bùi Tín vẫn là câu sau đây: “Cùng là người Việt Nam cả sẽ không có kẻ thắng người bại. Chỉ có người Mỹ là kẻ bại trận. Nếu chúng ta là người yêu nước, đây là lúc để vui mừng vì chiến tranh không còn nữa trên quê hương của chúng ta (…)”
Nguyễn Trọng Văn: đoạn này thường được dẫn lại và được hiểu theo nghĩa rất uyển chuyển / hàm hồ / “nhìn từ nhiều phía”:
- Dĩ nhiên giao quyền hành nhưng ưu tiên đừng tàn phá Sài Gòn.
- Không có kẻ thắng người bại? Đúng là “ngôn ngữ ngoại giao”, dùng một thời gian ngắn thì được, bây giờ mà nhắc lại hoài có vẻ mỉa mai, phản tác dụng. Chúng tôi, các anh, người Pháp trước kia, người Mỹ ngày nay đều biết rất rõ ai thắng ai thua, chúng ta chỉ giả vờ tin là không có kẻ thắng người thua mà thôi. Tuy nhiên có những người hiện đang muốn khai thác niềm tin giả vờ này.
1.4.
“Phía những người thua trận (...) Và kẻ chết cuối cùng vẫn là người có lý. Và tự sát bao giờ cũng được hiểu là một sự hy sinh cuối cùng (ultimate sacrifice) đáng được trân trọng. Không có cái chết vô ích mà chỉ có những cái sống vô ích (...)”
Nguyễn Trọng Văn:
- Mấy câu này thoạt xem thấy cao cả /siêu thoát nhưng suy nghĩ lại thấy lẩm cẩm / triết lý rẻ tiền.
- Tất cả có thể nói ngược lại.
1.5.
“Sau ngày miền Nam bị mất vào tay Cộng sản, nhiều người trong bọn họ trước đó mang ảo tưởng sẽ có vai trò, sẽ được dùng, sẽ được lãnh đạo miền Nam, bị gạt sang bên lề một cách thảm hại, có chức mà không có quyền (...)”
Nguyễn Trọng Văn: tưởng rằng sẽ có vai trò, sẽ được dùng, sẽ được lãnh đạo... Quan điểm “xôi thịt” trên, dù là của các chính khách hay của anh Nguyễn Văn Lục (hoặc do anh Nguyễn Văn Lục phản ánh lại), cũng nên nghiêm túc và cắn răng rút kinh nghiệm!
1.6.
“Có vài người trong chính quyền mới là các ông Năm Xuân Mai Chí Thọ và ông Tạ Bá Tòng, Nguyễn Hộ, Võ Văn Kiệt, ông Sáu Ngọc, giám đốc công an thành phố rồi Sáu Đức tỏ ra nới tay với một số trí thức miền Nam. Không có mấy ông này thì nhiều người cũng khốn khổ lắm (...)”
Nguyễn Trọng Văn: may thay! Đất nước cần nhiều... trái tim hơn.
1.7.
“Thành lập Hội Trí thức Yêu nước. Bên cạnh việc cho Tin Sáng hoạt động trở lại, còn một biến cố khá quan trọng không thể không nói đến ở đây: việc thành lập Hội Trí thức Yêu nước. Để có cơ sở hoạt động, chính quyền đã lấy một cơ sở của các cha dòng Đa Minh. Đó là câu lạc bộ Phục Hưng mà trước đây dành cho sinh viên có chỗ ăn ở. Cơ sở này do cha Đỗ Minh Vọng Cras thiết lập từ 1955. Đây chẳng những là nơi dành cho sinh viên có thể ăn ở, nó còn là chỗ sinh hoạt của các tổ chức sinh viên Công giáo, nơi đào luyện trí thức trẻ trước khi vào đời. Sau Giải phóng, như nhiều tổ chức khác tự động tan rã, linh mục Nguyễn Huy Lịch thời đó đã cho mượn trụ sở này. Người đến tiếp nhận cư xá sinh viên là ông Tạ Bá Tòng, một người cư xử rất tốt với đám trí thức miền Nam. Ông Tạ Bá Tòng đã giao cơ sở này cho Hôi Trí thức Yêu nước mà đại diện là các ông Chu Phạm Ngọc Sơn và Lý Chánh Trung. Tổng thư ký Hội trí thức Yêu nước là ông Huỳnh Kim Báu, một đảng viên Cộng sản (...). Trong số những trí thức cũ, có nhiều nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ trước đó đã theo Mặt trận hoặc có cảm tình với Mặt trận và lúc này họ nổi bật lên như Lý Chánh Trung, Nguyễn Trọng Văn, Hà Thúc Huy, Nguyễn Đình Đầu, Trần Văn Quảng, Huỳnh Ngọc Chênh, Phạm Hoàng Hộ, Chu Phạm Ngọc Sơn, Phạm Biểu Tâm, Châu Tâm Luân, Nguyễn Tân, Nguyễn Hữu Thái, Trương Thìn, Phạm Trọng Cầu, Hỷ Khương, Hoàng Điệp (sic), Trần Long Ẩn, Miên Đức Thắng, Trịnh Công Sơn, Phạm Thế Mỹ, Đỗ Hồng Ngọc (...). Sau nhiều năm chờ đợi nhà nước đã trả lại cơ sở này cho dòng Đa Minh ngày 22/12/2003. Coi như một món quà Noel của Nhà nước (...)”
Nguyễn Trọng Văn:
- Tôi sinh hoạt tại Hội Trí thức Yêu nước một thời gian ngắn rồi về Đại học Tổng hợp, nay là Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn.
- Tin này chắc làm những người bạn Công giáo thấy vui vui...
1.8.
“Viết đến đây tôi có điều để thưa. Trước hết cám ơn anh chị Nguyễn Hữu Thái, cựu sinh viên kiến trúc, cựu sinh viên tranh đấu Sài Gòn cũ người đã có cái hân hạnh đứng... bên cạnh tướng Dương Văn Minh ký giấy đầu hàng Cộng sản. Mặc dầu đã có đôi lần viết hơi nặng lời với anh, anh vẫn không giận, anh vẫn hỏi thăm rồi gửi cho tôi bài viết của chị Trần Thị Tuyết Hoa, vợ anh và chị đã thẳng thắn tiết lộ hai bài hát sáng tác bất hủ của họ Trịnh. Xin dùng mấy dòng chữ này cám ơn anh chị thay độc giả (...)”
Nguyễn Trọng Văn:
- Anh Nguyễn Văn Lục có lối viết nhanh gọn, đôi khi đốp chát và mỉa mai (... hân hạnh đứng bên cạnh tướng Dương Văn Minh ký giấy đầu hàng Cộng sản)
- So với thái độ lịch thiệp, tử tế của anh chị Nguyễn Hữu Thái, tôi nghĩ anh Lục nên làm gì cụ thể hơn để tỏ thiện chí của mình.
1.9.
“Trong số hội viên Hội Trí thức Yêu nước có Nguyễn Văn Trung. Ông chưa tham dự được bao nhiêu buổi hội họp thì đã bị bắt hồi 18 giờ 30, ngày 14 tháng 6, 1978. Với tội danh ghi trong biên bản: Can tội phản Cách mạng. Sau khi bị can bị bắt, vợ của bị can là Trần Thị Minh Chi đã cùng di với chúng tôi khám xét nhà ở thì thấy có những vật kê dưới đây nghi có liên can đến vụ án: một giấy chứng nhận của trường Đại học Văn khoa, một số sách báo, tài liệu cắt báo và chép tay, một máy đánh chữ, một giấy chứng nhận được sách báo cũ (...). Tôi cũng đọc lá thư của bà Chi gửi vào cho chồng đã qua kiểm duyệt của Ban chấp pháp như sau: “Về tả bố, chẳng khác nào như trong truyện được săn sóc nuôi cho ăn uống mập thiệt là mập, trước ở nhà xanh vàng, mặt có những vết nhăn. Bây giờ thấy tròn quay, những nếp nhăn biến đâu...”. Bà Trung đã phải viết như thế đấy. Không viết không được. Viết như thế rồi cũng lộ ra những chỗ viết thực thà trong một lá thư khác như: lưng quần tây của anh rộng nhờ ai khâu bớt vào hai bên (...). Và đến ngày 21 tháng 12 năm 1978, ông Trung nhận được giấy tạm tha với nội dung ... (...). Đối với Nguyễn Văn Trung, có thể tóm tắt trong lời phát biểu sau đây của ông: “Tham gia cách mạng là tham gia vào một quá trình tự huỷ diệt sau này” (...),.v.v…
Nguyễn Trọng Văn: có hai thắc mắc:
- Không biết tại sao Hội Trí thức Yêu nước và các người trong chính quyền “tỏ ra nới tay đối với trí thức” lại không xét tới trường hợp ông Nguyễn Văn Trung.
- Dù có hay không cũng không giúp được gì vì vấn đề xem ra xuất phát tự “bản thân” ông Trung?

