30 tháng Tư, cái nhìn từ một phía (2)
Monday, April 28, 2008 11:23:00 AM
Phần hai
Thứ hai là những bài vở, thư từ được anh Đỗ Hữu Nghiêm cung cấp: GS Trần Thái Đỉnh (điện thư của Đỗ Hữu Nghiêm, ngày 11/04/2008), Thư ngỏ gửi GS Nguyễn Văn Trung của GS. Trần Thái Đỉnh do Đỗ Hữu Nghiêm sưu tầm và phổ biến (Bình Thạnh, 06/02/1996) ...
Về bức thư ngỏ này, để giữ được tính cách khách quan trong khảo cứu khoa học, tôi xin đăng nguyên văn, chỉ lưu ý một điều là nội dung bức thư vô tình làm sáng tỏ câu hỏi số (2) vừa nêu trên.
“(...) 2. Thay cho việc bàn luận loanh quanh, tôi mạn phép công bố lá thư ngỏ mà GS Trần Thái Đỉnh gửi Giáo Sư Nguyễn Văn Trung. Thư đó nó liên quan đến những lập trường Hiện Sinh của ông, đồng thời minh xác quan điểm hiện sinh của ông khác với quan điểm hiện sinh của GS Trung. Cuộc tranh luận triết học này cho người đọc thấy thái độ triết học thẳng thắn của Giáo Sư Trần Thái Đỉnh đối với việc truyền bá chủ nghĩa hiện sinh cho nhiều thế hệ sinh viên và giới trí thức miền Nam trước 30/04/1975. Toàn bộ lá thư này được viết tay trên giấy pelure trắng cứng, khổ 21 x 29,5 cm, gấp đôi thành 8 trang viết trên hai mặt, khổ 14, 74.5 x 21cm [không rõ là khổ gì, do người đánh máy đánh sai? - LTH] và đã trực tiếp trao cho người viết vào năm 1996 tại nhà giáo sư ở Bình Thạnh. Nguyên văn lá thư đó như sau:
Thư ngỏ gửi GS. Nguyễn Văn Trung
Anh Trung,
Cách đây chừng hai tháng, tôi được một người bạn gửi cho bài “Người truyền bá chủ nghĩa hiện sinh nói về chủ nghĩa hiện sinh”, do anh ấy cất ở tập tài liệu “Hãy tỉnh táo”. Tôi bận quá, nay mới viết trả lời anh được, vì tôi coi đây là một món nợ tinh thần đối với sự thật, cũng như đối với bạn bè, trong đó có người đã chết như anh Lê Tôn Nghiêm, có người nay sống xa thành phố chúng ta như LM Thân Văn Tường.
Anh nói anh Lê Tôn Nghiêm, LM Tường và tôi nằm trong âm mưu của đế quốc Mỹ muốn dùng chủ nghĩa hiện sinh để lũng đoạn xã hội miền Nam trước 75. Theo bài kể lại, thì anh đã nói: “Để truyền bá chủ nghĩa hiện sinh có chất lượng, Mỹ đã sử dụng những giáo sư có khả năng, uy tín vào mục đích này… Đợt đầu hầu hết là những giáo sư du học ở nước ngoài tham gia truyền bá chủ nghĩa hiện sinh như Lê Tôn Nghiêm, Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Văn Trung, Lê Thành Trị, Thân Văn Tường…” (tr. 72). Tôi rất lấy làm lạ sao anh lại lôi chúng tôi vào câu chuyện của anh! Mà nói Mỹ dùng chủ nghĩa hiện sinh làm vũ khí phá hoại cũng là điều không đúng sự thật, vì:
a) Mỹ làm gì có chủ nghĩa hiện sinh mà mang vào VN? Chủ nghĩa hiện sinh là riêng của Pháp mà Mỹ không bao giờ ưa Pháp, cũng như Pháp không bao giờ chịu Mỹ. Tôi đố ai có thể kể tên một triết gia hiện sinh người Mỹ. Ngay bên Anh quốc, triết hiện sinh cũng hoàn toàn vắng bóng: năm 1956, tôi nghỉ hè 4 tháng bên Anh, ở chung một trại hè với một giáo sư triết người Anh trong vòng 1 tuần. Ông này rất thông thạo về các trào lưu tư tưởng triết học cổ kim, nhưng về triết hiện sinh, ông chỉ đoc Heidegger và Jaspers, và ít đọc Sartre. Ông bảo Sartre chỉ là văn chương, và “văn chương bẩn thỉu” (ông nhắc tới cuốn “La Nausée” và cuốn ‘l’Ấge de Raison” của Sartre). Ông cho tôi coi tuyển tập triết Tây Phương bằng tiếng Anh, trong đó người ta dành cho Sartre một bài duy nhất hai trang, dịch sang Anh ngữ: The Hole (le trou, cái lỗ) Phải chăng anh Trung đã cảm hứng trang sách này của Sartre để viết rằng… người đàn bà là “cái lỗ thịt”?
Vậy như mọi người đều biết chủ nghĩa hiện sinh là một phong trào chỉ có tại Pháp, do ảnh hưởng lớn lao của Sartre về văn chương và văn nghệ (tiểu thuyết, kịch nghệ, điện ảnh, “các động hiện sinh” của giới trẻ), nhưng giới hiểu biết, nhất là giới đại học và giới cầm bút, đều biết 4 cái triết cùng được gom lại trong phong trào hiện sinh chẳng có gì giống nhau hết. Cho nên những vị giáo sư triết được mọi người khâm phục như J. Walls, P. Ricoeur… đều đồng ý gọi triết của K. Jaspers là philosophie de l’existence (triết hiện sinh), triết của Heidegger là philosophie de l’être (triết hiện hữu), triết của Marcel la Néo-Socratisme (Tân Socrate, hoăc triết học hiện hữu: “Être et Avoir” là một trong những tác phẩm nòng cốt của ông). Vậy chỉ còn Sartre là được dành cho danh xưng existentialisme (chủ nghĩa hiện sinh). Triết của Heidegger rất sâu xa và khó hiểu, vì ông muốn cái làm cho mỗi sự vật là nó. Triết của Jaspers là một sự vươn lên không ngừng, vươn tới chân tướng của con người và vươn lên tới siêu việt. Triết của Gabriel Marcel là một sự tra vấn về bản chất con người, bản chất xã hội. Chỉ có triết của Sartre là một thứ buông thả và ông dùng quá nhiều chất liệu dục tính trong các phân tách về con người. Chính Sartre cũng là triết gia duy nhất trong nhóm hiện sinh đã sống hết sức buông thả, có thể nói là vô luân. Suốt 30 năm trời, ông đã sống như đôi vợ chồng với Simone de Beauvoir, mà không phải là vợ chồng. Rồi về cuối đời, cả khi ông đã ngoài cái tuổi thất thập cổ lai hy, lại có thêm hai người phụ nữ nữa, cùng với Simone, phục vụ sinh lý cho ông: đó là Arlette, “người con nuôi” của Sartre trên danh nghĩa pháp lý, và một người đàn bà nữa mà tôi không nhớ tên, và không cò tài liệu trong tay. (Xin xem Document Paris-Match, bài của Bernard-Henry Lévy, quãng năm 1991.
Tôi thấy cần nhắc lại những điều này có vẻ thừa quá, nhưng vẫn phải nhắc lại, vì bài thuyết trình của anh có những chỗ nhập nhằng. Chẳng hạn anh nói anh Lê Tôn Nghiêm, LM Tường và tôi giảng dạy chủ nghĩa hiện sinh ở Đại học, có thể bản thân anh đã làm việc này, chớ chúng tôi thì tuyệt đối không: hãy soát lại các giáo trình của anh Nghiêm và của tôi ở Đại học Văn khoa Sài gòn và Đại học Văn khoa Huế, có bao giờ chúng tôi dạy chủ nghĩa hiện sinh đâu? LM Thân Văn Tường có dạy Đại Học bao giờ đâu? Ông chỉ dạy Đại Chủng viện Sài Gòn. Không lẽ ông giảng dạy chủ nghĩa hiện sinh cho các chủng sinh? Thực ra ông chỉ viết mấy bài về triết Gabriel Marcel trong tạp chí Bách Khoa thôi, mà triết của Marcel đâu có phải là thứ triết buông thả và sa đọa?
b) Bài thuyết trình của anh làm cho người ta có cảm tưởng như đế quốc Mỹ đã chi phối và khuynh đảo việc giảng dậy Đại học ở Sài Gòn trước 75 đã có phần nào tự trị Đại học, không có Mỹ nào, đảng chính trị nào, dù là Đảng Cần lao của Nhu-Diệm, ở trên hoặc cạnh Hội đồng Khoa. Trừ một trường hợp dưới chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm: Giám mục Ngô Đình Thục đã ép chính quyền, cụ thể là Viện Đại học Huế, không cho anh dạy ở Huế nữa, và chuyển anh về Đại học Văn khoa Sài Gòn. Cũng Giám mục Thục lấy giờ quyền cấm tôi không được day triết Ấn Độ và tư tưởng Phật giáo ở Đại học Văn khoa Huế nữa. Thật ra đây là vấn đề cá nhân. GM Thục cấm tôi dạy về Phật giáo, nhưng ông không có quyền cấm dạy môn tư tưởng Ấn Độ và Phật giáo, vì giữa lúc đó Thượng tọa Thích Thiện Ân vừa đậu Ph.D. ở Nhật về tới Huế, và Thượng tọa tiếp tục giảng dạy môn mà tôi đã phụ trách từ ba năm trước đó.
Trở lại nền tự trị đại học, anh còn biết rõ hơn tôi rằng các giáo sư phụ trách các bộ môn đều toàn quyền và chịu trách nhiệm soạn thảo giáo trình, giảng dạy, ra đề thi, chấm thi, cho đậu hoặc đánh trượt về môn mình phụ trách.
Đàng khác, cho tới tháng 4/1975, nền đại học miền Nam và cụ thể là Đại học Văn khoa Sài Gòn vẫn nằm gọn trong tay các giáo sư du học ở Pháp hay ở Bỉ về. Mấy anh em du học ở Mỹ về đều chịu cảnh “ăn cơm nguội, nằm nhà ngoài”, khó được trọng dụng, và nếu được thu dụng thì bị xếp lương thấp. Vấn đề văn bằng M.A. chỉ được xếp lương ngang với Cử nhân, và việc các đương sự đã tranh đấu để được xếp ngang hang với Cao học, là một cuộc kèn cựa dai dằng ai cũng biết.
Tóm lại, nếu chỉ có triết của Sartre là chủ nghĩa hiện sinh, thì rõ ràng chỉ có anh Trung và mấy đệ tử của anh, cộng thêm vài nhà thơ, là những người đã truyền bá chủ nghĩa hiện sinh buông thả trước năm 75. Anh Lê Tôn Nghiêm có viết về triết hiện sinh của K. Jaspers, nhân việc xuất bản bản dịch cuốn “Triết học nhập môn” của Jaspers, mà anh dã thực hiện. LM Thân Văn Tường viết mấy bài sâu sắc về triết Gabriel Marcel. Còn tôi, chiều theo ước muốn chánh đáng của một số anh em trí thức và sinh viên muốn hiểu nguồn ngọn của triết hiện sinh, tôi đã bỏ công nghiên cứu các tác phẩm của Kierkegard, của Nietzche, của Husserl và của 4 triết gia hiện sinh, từ 4 triết gia trong cái phong trào mệnh danh là hiện sinh. Tôi đã nghiêm khắc phê phán triết học của Sartre, đồng thời đề cao những nét hướng thượng và cao đẹp của triết Jaspers và triết Marcel. Đó là điều người ta không thấy nơi anh Trung. Anh say sưa phổ biến tư tưởng của Sartre. Sartre viết 5 hay 6 cuốn “Situations”, thì anh Trung cũng viết theo 4 hay 5 cuốn “Nhận định”, và cuốn “Ca tụng thân xác” của anh Trung hao hao như cuốn “La Nausée” và cuốn “L’Âge de Raison”. Anh Trung nói một số anh em Giáo Sư Đại Học nằm trong “âm mưu của đế quốc Mỹ” sử dụng anh em để tha hóa và làm sa đọa xã hội miền Nam trước 75. Nếu chỉ có triết của Sartre và chủ nghĩa hiện sinh của Sartre là dơ nhớp và tha hóa con người, nhưng đúng là chỉ có anh Trung và mấy đệ tử của anh là những người đã gây ảnh hưởng xấu trong giới trẻ miền Nam trước 75, trong cái gọi là phong trào chủ nghĩa hiện sinh.
Bạn bè đều thấy anh Lê Tôn Nghiêm và tôi là những người không có tham vọng chánh trị, không tham gia nhóm nào hết. Không phải chúng tôi nhát dảm, nhưng bản chất con người chúng tôi là những nhà giáo thuần thành, chỉ lo nghiên cứu và giảng dạy. Còn anh Trung, ngoài việc viết văn, anh còn đi vào hoạt động chánh trị với tờ “Hành trình” và tờ “Đất nước” mà anh là người sáng lập và chủ biên. Anh lại còn giao dịch với các chánh khách, ta có, Mỹ có, trong số này có thượng nghị sĩ Mc Govern đã có lần vận động để được ra tranh cử chức Tổng thống Mỹ sau đó, nếu tôi không nhớ lầm. Có lẽ vì tất cả những chuyện phức tạp này mà sau năm 1975, anh Trung đã được chánh quyền cách mạng mời đi tĩnh tâm dưỡng trí mấy tháng tại Chí Hòa.
Res clamat domino, của chủ nào thì thuộc về chủ đó, không nên gắp bỏ cho người. Ngay thẳng là cái đức của con người trí thức!
Bình Thạnh 6/2/1996
Đã ký, Trần Thái Đỉnh
“Oakland, CA , Đỗ Hữu Nghiêm đánh máy và phổ biến theo ý của GS Trần Thái Đỉnh trong giai đoạn cuối đời ở Sài Gòn (...)”
Tạm kết
Trong phần này, xin nêu vài cảm nghĩ / bức xúc mong được chia sẻ:
1. Thời đại internet quả thật làm thay đổi / đảo lộn cái nhìn của chúng ta . Vấn đề nào dù riêng tư (hoặc tổng quát) đến đâu cũng trở thành vấn đề chung (hoặc riêng tư) cho mọi người, làm mọi người suy nghĩ, trăn trở. Vấn đề Tri và Hành. Có những người chuyên về tri, có những người chuyên về hành, số người biết kết hợp cả hai - và có hiệu quả - coi bộ hơi ít nhưng hình như tương lai thuộc về họ.
2. Cái nhìn từ một phía xét cho cùng cũng từa tựa như cái nhìn từ nhiều phía. Khác nhau ở điểm này: cái nhìn từ một phía thoạt xem có vẻ gò bó / chật hẹp nhưng biết đâu có lúc, có nơi lại cởi mở / phóng khoáng hơn; cái nhìn từ nhiều phía có cái hay là giúp mở rộng tầm nhìn nhưng cũng có hiểm họa là người ta vùng vẫy trong vòng phấn trắng do chính mình vạch ra nhưng lại tưởng đã vượt được ra ngoài rồi.
3. Cái nhìn khác: đây là một hiện tượng mới, theo nghĩa được nói ra công khai / thẳng thắn chứ không theo nghĩa mới xảy ra: có hiện tượng các nhà văn lớn nước ngoài thường ca ngợi Việt Nam trong khi chính người Việt Nam với nhau, trong nước cũng như hải ngoại, lại thường dành cho nhau sự “chăm sóc đặc biệt” không cần thiết, không biết người nước ngoài nghĩ sao về vấn đề này?
Nhân ngày 30 tháng Tư, mọi người cùng nhìn lại những kỷ niệm vui buồn của mình, của dân tộc. Được tâm sự với các bạn về những hoài niệm thuộc loại “thâm cung bí sử”chẳng phải là một điều may mắn và vui sướng sao?
-
(Dịp 30/04/ 2008)
