My Opera is closing 3rd of March

Subscribe to RSS feed

Việt Nam "chịu" bị bỏ rơi, đó là cơ hội của Trung Quốc! (1)

Việt Nam "chịu" bị bỏ rơi, đó là cơ hội của Trung Quốc! (1) magnify

Báo chí phải lột bài phê phán hành động của Trung Quốc, trường học có công văn không cho sinh viên, giảng viên tham gia biểu tình chống Trung Quốc… Đó là những động thái mà chính quyền đáp ứng lại trước sự sôi sục của công chúng, cả ngoài thế giới thực lẫn trên thế giới ảo sau khi người đồng chí phương bắc hợp thức hóa chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa… Tôi hoàn toàn không ủng hộ những hành động thiếu suy nghĩ (ví dụ hack vào các website TQ, nếu bị truy nguyên không ai đứng ra bảo vệ đâu cho dù là thể hiện lòng yêu nước…) nhưng đến như thế này thì bạc nhược quá thể!...

Thực tế, những “đáp ứng” như thế là điều hoàn toàn dễ hiểu và không có gì lạ. Khẩu chiến suông bằng ngôn từ ngoại giao để rồi hoàn toàn… thúc thủ trước bất kỳ động thái nào về lãnh thổ từ phía Trung Quốc, vẫn là “khuôn mẫu” từ trước đến nay. Vì sao như vậy? Có nhiều nguyên nhân, nhưng quan hệ quốc tế và tương quan địa-chính trị là một trong những điều chủ yếu nhất.

Bài dưới đây của tác giả Hoằng Danh đăng trên talawas gần sáu tháng trước, trong một bối cảnh khác hiện nay. Đương nhiên, dưới ngòi bút của một tác giả không thuộc dòng “chính thống”, bài này công kích thẳng thừng chính quyền Việt Nam trong việc đàn áp đối lập, nhưng được đặt trên nền phân tích gần như toàn diện quan hệ địa-chính trị của vùng Đông Nam Á (và cả với Đông Bắc Á) trong tương quan giữa Việt Nam - Hoa Kỳ - Trung Quốc.

Ở khía cạnh này, những luận điểm đáng chú ý trong bài là:

  • Sau khi ảo tưởng và đi đến phá sản trong chiến lược dùng ASEAN để kiềm chế Trung Quốc, Việt Nam lại quá ảo tưởng về vai trò chiến lược độc nhất vô nhị của mình trong vùng, từ đó quá ảo tưởng về việc mặc nhiên được Hoa Kỳ bảo vệ trong chiến lược địa-chính trị của siêu cường này.
  • Việt Nam không có đồng minh về mặt thể chế để sẵn sàng cùng đứng trong cuộc đối đầu với TQ. Ngược lại, đồng minh thể chế đó lại chính là TQ! (Điều này hình như Hoằng Danh đã viết đâu đó…)
  • Việt Nam bị bỏ rơi trong cuộc “đối đấu” về lãnh thổ với Trung Quốc.
  • Tác giả thách thức Việt Nam “giảm cấp” quan hệ với Hoa Kỳ để dựa vào Trung Quốc, vì như thế Trung Quốc sẽ sẵn sàng và tức thì chớp bất kỳ cơ hội nào vừa có để “ngoạm” tiếp miếng khác của Việt Nam (mà một khi đã “ngoạm” thì không bao giờ Việt Nam lôi ra lại được!).

Đặt trong khung cảnh ngay lúc này, khi quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ và Việt Nam - Liên hiệp Âu châu - ngoài bề mặt và ngôn từ ngoại giao, kinh tế - đang ở vào mức rất thấp về mặt chính trị (xuất phát vẫn là chuyện nhân quyền, dân chủ). Đó há không phải là sự “bơ vơ” của Việt Nam và là thời cơ để Trung Quốc làm tiếp một “phát” sao?

Bài dài, được post vào hai entry.

-

22.6.2007

Hoằng Danh

Lựa chọn chính trị (3): của Hoa Kỳ, qua chuyện đối lập Việt Nam, trong bối cảnh địa-chính trị

1. Đột ngột ra khỏi danh sách CPC, tổ chức Hội nghị APEC, nhận được PNTR, gia nhập WTO - những thắng lợi ngoại giao dồn dập này khiến hình ảnh Việt Nam sáng chói vào những tháng cuối năm 2006 và đầu năm 2007.

2. Chính Hoa Kỳ đã đính ngôi sao này lên vòm trời, vì trong bốn sự kiện vừa nêu đã có đến ba là từ quyết định trực tiếp hoặc quyết định có tính quyết định của quốc gia này. Sự kiện còn lại thì siêu cường số một cũng đóng vai trò chủ chốt trong thành công đầy màu mè của nó, khi vị Tổng thống Mỹ chống chuyên chế mạnh mẽ nhất lại có những hoạt động giúp tô điểm cho nền toàn trị và ngó lơ trước những người đang tranh đấu chống lại ách bạo quyền đó.

Ngày 03 tháng Hai 2007 đã “đi vào lịch sử” khi nó vốn là ngày mà đế quốc không được phép có sự “khoe mẽ” nào trên đất Việt Nam của Đảng Cộng sản, thì Đại sứ Hoa Kỳ lại có cuộc trao đổi trực tuyến hoành tráng, làm lu mờ cả meeting và phát biểu nhàm chán năm nào cũng như năm nào của lãnh đạo sở tại, bởi ông Marine công khai nói đến quan hệ chiến lược giữa đầu sỏ đế quốc với một sừng sỏ chống đế quốc.

Cũng đã có tin về việc Mỹ sẽ tiến hành tìm kiếm quân nhân mất tích trong chiến tranh trên vùng biển Việt Nam. Rồi trong khi lệnh cấm vận vũ khí vẫn duy trì đối với Trung Quốc, nó lại được tháo khoán cho quốc gia láng giềng phía nam.

3. Vừa đến đích (ít ra là trong quan niệm của một số giới quyền lực, thành quả là “đích” đến để khoa trương), theo truyền thống “tự lực cánh sinh” của mình (ít ra là sau khi đã dựa dẫm đến hết mức), không cần đến bàn tay đính lên của Hoa Kỳ nữa, Việt Nam tiếp tục tự chói sáng trên bầu trời bằng cuộc chiến công khai, khốc liệt, phi pháp và bỉ ổi của cả hệ thống bạo lực và truyền thông toàn trị chống lại các nhà hoạt động dân chủ mà vốn vũ khí của họ chỉ là lòng quả cảm và ngôn luận.

4. Cuộc đàn áp lần này là được suy đoán theo nhiều hướng khác nhau: sự nín nhịn quá lâu của phe bảo thủ, có sự giật dây từ bên ngoài, có những thế lực trong nước muốn phá hoại các chuyến công du sang Mỹ, v.v… Tuy vậy, có một điều dễ thống nhất, là bộ máy toàn trị đã và đang hành động một cách có hệ thống chứ không hề là những việc làm bột phát về chiến lược hay sách lược. Nhìn vào hành xử của họ đối với các nhà hoạt động dân chủ và khối dân oan từ trước khi có cuộc đàn áp đến nay, ta dễ dàng nhận ra những toan tính có sẵn về các bước đi chiến thuật, về các biện pháp và thời điểm… đối với từng đối tượng cụ thể[1].

Và cái bối cảnh quan hệ chiến lược với Hoa Kỳ mà cả hai bên đều phô diễn đó đã biến thành ngay một thứ mồi cho giới toàn trị nhử các nhà hoạt động dân chủ và đưa họ vào tròng.

5. Ngoài chuyện đàn áp hung hãn, bất chấp mọi chuẩn mực sơ đẳng nhất về pháp luật và đạo đức, đối với bên ngoài, thái độ của giới cầm quyền Việt Nam cũng không thua gì. Dường như họ muốn chứng tỏ rằng sẽ càng gia tăng cường độ và phạm vi đàn áp trước sự gia tăng phản ứng các nước dân chủ. Đó là một thái độ thách thức công khai đối với cộng đồng quốc tế.

6. Khinh khỉnh đối với châu Âu và những nước như Úc, Canada… khi các nước này hoặc chính trị gia tại đó phê phán chiến dịch đàn áp bất đồng chính kiến tệ hại nhất trong hai mươi năm qua. Trơ tráo chụp mũ các tổ chức nhân quyền quốc tế, mà vốn tiếng nói của họ không một tổ chức hay chính quyền dân chủ nào dám coi thường. Hành xử một cách thô bạo và vô liêm sỉ, bất chấp chuẩn mực ngoại giao với bất kỳ ai trực tiếp liên hệ với giới phản kháng ngoài “chương trình chính thức”…

7. Còn với Hoa Kỳ, Việt Nam thật sự đã đánh vỗ mặt.

Bắt giữ luật sư Lê Quốc Quân vừa từ Mỹ về sau khi tham gia khóa học về xã hội dân sự do chính Quốc hội Mỹ tài trợ, phớt lờ sự lên tiếng của những chính trị gia có liên quan vốn được xếp trong nhóm uy tín hàng đầu nước Mỹ.

Hạ nhục dân biểu Hoa Kỳ khi “dàn quân” ngay trước mũi Loretta Sanchez, không cho tiếp xúc với vợ những nhà bất đồng chính kiến, vu vạ bà tiếp tay cho “khủng bố” bằng cả một chiến dịch truyền thông. Đó là còn chưa kể họ đặt điều một cách ngờ ngệnh đến không thể tưởng tượng rằng bà gây áp lực với Đại sứ Micheal Marine tổ chức cuộc gặp những phần tử chống đối, rằng bà đã vi phạm chính Hiến pháp Hoa Kỳ…

Tiếp tục đàn áp và xét xử không ngơi nghỉ những người phản kháng ôn hoà ngay khi cuộc đối thoại nhân quyền Việt - Mỹ thường kỳ đang diễn ra.

Không ngại ngần nhổ cả lên chữ tín ngoại giao khi lời hứa trực tiếp của một Phó thủ tướng nhiều quyền lực với hành pháp Hoa Kỳ cũng bị nuốt.

Khi cả Hạ viện Mỹ tuyệt đối đồng thanh (chuyện hiếm hoi trong một xứ sở mà hoàn toàn đồng thuận trong quan điểm riêng là điều không tưởng) về nghị quyết chỉ trích chuyện nhân quyền Việt Nam, nhà cầm quyền toàn trị vẫn tiếp tục lu loa về cái gọi là “công việc nội bộ” như một trò đùa ngôn từ.

8. Họ đùa đến mức thật lòng dạy bảo lại cho Hoa Kỳ như thế nào là pháp quyền và dân chủ, luôn vênh mặt trên truyền thông và cả những trao đổi trực tiếp, bằng những lời lẽ mà chỉ có những kẻ trâng tráo nhất trong lịch sử loài người mới không biết ngượng mà nói ra, về việc chỉ có “những kẻ vi phạm pháp luật” bị xử phạt ở Việt Nam chứ không bỏ tù người bất đồng chính kiến, không có tù chính trị.

Giới cầm quyền Việt Nam đang nói với Hoa Kỳ và thế giới mà như chỉ đang nói với đám (mà họ muốn là và coi là) dân ngu của họ. Thái độ ngạo nghễ như vậy khi nói những điều trơ trẽn ở mức hoàn toàn lộ liễu chỉ có được thể giải thích rằng hoặc là do xem người ta quá ngu ngốc, hoặc do chính mình quá ngu ngốc mà tưởng người ta ngu ngốc hay không thể nhận ra cái ngu ngốc của mình. Trường hợp này, là cả hai.

9. Trò đùa của giới toàn trị đối với Hoa Kỳ cũng đã được nâng lên đến “tầm cao mới”, họ không chỉ xem cường quốc này là đối tượng để dạy bảo mà còn là đối tượng để… răn đe. Đến là nực cười, khi chính giới cao cấp Hoa Kỳ ngày càng tỏ một thái độ đồng thuận và cứng rắn với chiến dịch đàn áp tại Việt Nam, phản ứng của nhà nước toàn trị là đưa công an ra đáp lễ.

Tờ Công an Nhân dân (mà ai cũng biết là cơ quan ngôn luận gì), trong một bài hồi gần đây, sau phỉ báng Quốc hội Mỹ (“cố tình đánh lận con đen”) đã dùng văn phong của một bản văn cấp nhà nước mà nói rằng: Cũng phải thẳng thắn nói rằng, hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ đang có lợi ích chung trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác song phương trên nền tảng rộng lớn, ổn định và hiệu quả. Việt Nam sẵn sàng đối thoại thẳng thắn và cởi mở về những vấn đề mà phía Hoa Kỳ quan tâm, để tăng cường hiểu biết giữa hai bên và không để những khác biệt ảnh hưởng đến sự phát triển của quan hệ hai nước trên các lĩnh vực. Nhưng Việt Nam không bao giờ chấp nhận những thái độ áp đặt, kẻ cả, có xu hướng can thiệp vào công việc nội bộ của nước mình.

Đây chính là lời răn đe - theo đúng nghĩa đen - được Hà Nội tung ra với thông điệp đe doạ đến quan hệ chiến lược giữa hai bên.

10. Trước nay Hà Nội vẫn bất chấp cộng đồng quốc tế trong vấn đề dân chủ và nhân quyền, nhưng lần này thái độ của họ “dũng mãnh” và tự tin đến lạ thường, vì sao vậy? Cùng với sự đánh tráo và tráo trở trong văn hóa chính trị toàn trị Việt Nam, thói kêu ngạo cộng sản - như một phần của sự ảo tưởng từ trong bản chất của chủ thuyết này - vẫn là một đặc điểm khó mà có thể gột bỏ của họ.

Bên cạnh việc ảo tưởng quá sớm về vị thế kinh tế và chính trị trên trường quốc tế tạo được trong thời gian gần đây, vốn từ thực chất đến biểu hiện đều xuất phát từ sự vận hành và quan hệ tư bản chủ nghĩa, Hà Nội cũng ảo tưởng quá sớm về vị thế chiến lược của mình trên bàn cờ toàn cầu và trong quan hệ với Hoa Kỳ. Với những gì đã thể hiện, giới cầm quyền toàn trị nghĩ rằng vị thế này có thể cho phép họ bất chấp dân chủ và nhân quyền, thậm chí buộc thế giới dân chủ phải dung dưỡng cho sự chuyên chế của họ.

11. Ai cũng đã rõ, trên phạm vi châu Á, vị thế của Trung Quốc đang nhanh chóng củng cố và bành trướng, và theo truyền thống, chuyển động của nó trước tiên lại hướng xuống phía nam. Cũng theo truyền thống, dù muốn hay không, dù ở mức độ nào và theo nghĩa nào, Việt Nam vẫn trở thành một tiền phương trước sự bành trướng này.

Sự bành trướng thế và lực - mà nay đã lên tới vũ trụ - của một quốc gia cộng sản Khổng giáo (đáng sợ hơn nhiều so với cộng sản ở phía tây) khiến Hoa Kỳ phải nhanh chóng có sự điều chỉnh thích hợp về địa-chính trị trên nhiều mặt, kể cả quân sự. Vị trí tiền phương của Việt Nam khiến quốc gia này trở nên quan trọng trong chiến lược đó.

12. Việt Nam, sau khi hoàn toàn thất bại trong việc sử dụng ASEAN như một đối trọng kiềm chế tham vọng trên biển của Trung Quốc, đã âm thầm thay đổi tư duy chiến lược và tìm đến một đối trọng khác. Đó chính là Hoa Kỳ, vốn cũng đang có chủ đích xác lập vai trò đối trọng trước thế lực đang lên của Trung Quốc tại châu Á, và cần đến Việt Nam như một điểm hiện diện của thế và lực tại Đông Nam Á gần với Trung Quốc nhất.

Với Trung Quốc, Việt Nam cần đến như một đồng minh ý thức hệ trong một thế giới mà chủ nghĩa cộng sản chỉ còn phần co cụm đáng kể tại châu Á[2]. Việt Nam cũng cần người láng giềng này ban cho một quan hệ thân thiện, cần thiết cho việc tập trung phát triển kinh tế, xã hội.

Trung Quốc thì cần Việt Nam được đặt trong vòng ảnh hưởng của mình, để ngăn ngừa sự hiện diện của thế lực Mỹ.

Và ở đây, trên lãnh thổ Việt Nam và biển Đông, cũng như trên khắp vùng Đông Nam Á, Trung Quốc không cần Hoa Kỳ và Hoa Kỳ không cần Trung Quốc. Nếu có chăng thì chỉ là cái đối trọng để hù dọa và khuyên bảo, ve vãn Việt Nam ngả về phía mình.

13. Nhìn vào cục diện hiện nay của quan hệ tay ba này, trong bối cảnh địa-chính trị, Hoa Kỳ dường như yếu thế nhất và Việt Nam là mạnh “thế” nhất.

Trung Quốc thì “yên vị” với vị trí địa lý tự nhiên, không cần phải “bôn ba” và nhọc lòng ve vãn, đổi chác để có sự hiện hiện nào đó, như Hoa Kỳ phải làm. Các căn cứ quân sự tại Hải Nam và Hoàng Sa chắc hẳn đã tạo được “tầm ảnh hưởng” đến bắc và trung phần Việt Nam. Đó là còn chưa kể không biết họ còn đang thực hiện những công trình gì tại những đảo đã chiếm được ở Trường Sa nhằm mở rộng cái tầm đó về hướng nam. Điều duy nhất cần làm là trong khi thực hiện chiến lược vết dầu loang, họ cố gắng tạo cho Việt Nam một cảm giác an ninh lãnh thổ và an toàn chính trị.

Với Hoa Kỳ, cường quốc này đã rời khỏi Đông Nam Á khá lâu, để tái hiện diện, dường như họ sẽ phải làm lại từ đầu dù với bất kỳ quốc gia Đông Nam Á nào, vậy thì chọn phương án tốt nhất là Việt Nam… Chủ động khai thông những chướng ngại rất lớn trên con đường hội nhập của quốc gia cựu thù, những hứa hẹn và thực tế nguồn lợi kinh tế từ đầu tư và thị trường Mỹ, sự hậu thuẫn tại các định chế kinh tế thế giới và hứa hẹn một vai trò lớn hơn trên trường quốc tế dành cho Việt Nam, thậm chí còn ngầm mở ra khả năng về một sự bồi thường chiến tranh trá hình (vụ kiện tác nhân cam)…; Hoa Kỳ phải làm nhiều việc như thế chỉ là để đem lại cho Việt Nam cảm giác rằng không chỉ là lợi ích kinh tế to lớn mà còn nhiều lợi ích chính trị trên bình diện quốc tế, cũng như một sự an toàn lãnh thổ trước sự bành trướng lúc ẩn lúc hiện của phương bắc.

Nhận thấy vị trí địa lý quan trọng của mình trong tính toán chiến lược của Hoa Kỳ, trước tình hình cường quốc này ngày càng nôn nóng về sức mạnh quân sự không minh bạch của Trung Quốc, Việt Nam trở nên mạnh “thế” trước Hoa Kỳ. Cái thế đó càng được củng cố hơn nữa khi nhận ra sự chuyển hướng, nhích lại gần nhau của hai cựu thù này, Trung Quốc cũng đã điều chỉnh cách hành xử. Sự thân thiện trong quan hệ Việt - Trung sau sự kiện đổ máu oan của người Việt trên vịnh Bắc bộ (tháng Giêng 2005) chính là kết quả từ sự chuyển hướng chiến lược của Việt Nam.

Việt Nam nay đang ở vào cái thế được cả hai cường quốc Thái Bình Dương này ve vãn. Trò đi dây của Việt Nam nay đã quá rõ.

14. Sự yếu thế của Hoa Kỳ về địa-chính trị trong quan hệ bộ ba này chính là cái đem lại cho Việt Nam thái độ trịch thượng, đã công khai tráo trở mà lại còn lên mặt dạy bảo lại và răn đe Hoa Kỳ.

Khi cơ quan ngôn luận của công an thay mặt cho nhà nước lên tiếng nhắc Hoa Kỳ không để những khác biệt ảnh hưởng đến sự phát triển của quan hệ hai nước trên các lĩnh vực, Hà Nội đang đòi hỏi Washington phải chấp nhận và dung túng cho họ trong việc đàn áp những người đối lập để đổi lấy một quan hệ chiến lược.

Chuyến thăm của Chủ tịch Nguyễn Minh Triết đến Trung Quốc trung tuần tháng Năm vừa rồi đã diễn ra trong khi đang chuẩn bị cho chuyến đi Hoa Kỳ. Phát biểu của ông Triết trong chuyến đi đã được các báo Đảng ở Việt Nam in rất đậm: Trung Quốc là đối tác hàng đầu. Chuyến thăm này đã được dự trù từ trước, trong bí mật, hay chỉ được thực hiện khi Mỹ gia tăng phản đối chiến dịch đàn áp dân chủ, như một cách thức dằn mặt đối tác bên kia bờ Thái Bình Dương - về phía Việt Nam, và là động thái chớp thời cơ - về phía Trung Quốc?

15. Có phải Việt Nam ở vào vị thế mà vì chiến lược địa-chính trị, Hoa Kỳ buộc phải nhượng bộ dưới bất cứ giá nào, kể cả vứt bỏ giá trị tối thượng của một xã hội dân chủ để vừa phải đem lại các nguồn lợi kinh tế và chính trị cho Việt Nam, vừa phải dung túng cho chuyện đàn áp dân chủ và nhân quyền?

Với những biểu hiện suốt từ sau APEC đến nay, trong tính toán của giới toàn trị, có lẽ là vậy.

16. Việt Nam có một vị trí chiến lược, là cửa ngõ đi vào Đông Nam Á và nằm trên tuyến đường biển quan trọng nối giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Câu này hiện diện trong tài liệu giáo khoa ở Việt Nam. Nó đúng, nhưng hoàn toàn không đủ.

Điểm đầu tiên để xác định chiến lược địa-chính trị chính là biết “đọc” và đọc kỹ bản đồ, điều mà tôi e rằng những người có trách nhiệm ở Việt Nam đã không làm hoặc không thể làm.

17. Đông Nam Á gồm các nước trong vành đai địa giới Myanmar - Thailand - Malaysia - Indonesia - Philippines - vùng biển phía nam Trung Quốc giáp với Việt Nam. Phía bắc Đông Nam Á là Trung Quốc, nam là Australia, đông là Thái Bình Dương và tây là Ấn Độ và Ấn Độ Dương. Trong vành đai này là vùng biển mà Trung Quốc gọi là biển Nam Trung Hoa (cũng là từ chuẩn của bản đồ thế giới) và Việt Nam gọi là biển Đông.

18. Việt Nam là cửa ngõ đi vào Đông Nam Á nhưng không phải là cửa ngõ duy nhất, và cũng không phải là cửa ngõ đối với tất cả.

Việt Nam chỉ là cửa ngõ Đông Nam Á đối với Trung Quốc mà thôi, và cũng chỉ là cửa ngõ đường bộ. Với sự lớn mạnh của hải quân, đảo Hải Nam và Hoàng Sa đã quân sự hoá ở những mức độ nhất định, rồi các hải cảng hùng hậu ven biển phía nam, trong đó kể cả Hongkong và Macau, cửa ngõ trên biển để tiến vào Đông Nam Á của Trung Quốc chưa bao giờ rộng mở như lúc này.

Nga không cần cửa ngõ Việt Nam vì chiến lược địa-chính trị của họ nay rất thực tiễn. Lãnh thổ vắt ngang Âu-Á của họ cho phép họ kiểm soát tốt những vùng họ muốn kiểm soát, nên quan tâm hàng đầu của họ là những vùng địa lý thân thuộc chứ không phải một vùng xa lắc của một cựu đồng minh Soviet.

Việt Nam cũng không hề là cửa ngõ của Mỹ vì Mỹ không muốn tiến lên phía bắc từ đây, và quanh Việt Nam cũng không phải là những chốn mà Hoa Kỳ cần chinh phục trong khó khăn.

19. Mà thật ra dường như vấn đề cửa ngõ vào Đông Nam Á cũng chỉ có Việt Nam tự nhấn mạnh. Thời còn chia cắt, họ cho rằng cuộc chiến là do vị trí cửa ngõ giữa hai chiến tuyến ý thức hệ ở Đông Nam Á. Sau năm 1975 cho đến trước khi mất chỗ dựa vào Liên Xô, vai trò cửa ngõ càng được nhấn mạnh hơn nữa do “mộng bành trướng của chủ nghĩa bá quyền Bắc Kinh”. Hiện nay, trước sự lớn mạnh và tham vọng trên biển của Trung Quốc, dường như Việt Nam lại muốn “làm mình làm mẩy” với Hoa Kỳ về vai trò cửa ngõ này.

20. Thực tế, ngoài Trung Quốc vào Đông Nam Á trực tiếp bằng con đường Việt Nam, thì người ta có thể vào Đông Nam Á theo những hướng khác nhau. Khái niệm “cửa ngõ” cũng chỉ theo nghĩa tương đối tùy theo nơi xuất phát. Chẳng hạn các nước Đông Bắc Á khác hay các nước bên kia Thái Bình Dương, kể cả Hoa Kỳ, để vào Đông Nam Á, thì Philippines là cửa ngõ quan trọng hơn nhiều so với Việt Nam vì nước này giữ vị trí chắn dọc rìa phía đông của các nước Đông Nam Á, và cực bắc của nó (gồm cả một số đảo) cùng với phía nam Đài Loan tạo thành cái cửa mà phần lớn tàu bè vào Đông Nam Á theo hướng đông đều phải qua. Các căn cứ quân sự lớn của Mỹ trước đây tại khu vực này được đặt ở Philippines là vì vậy.

21. Với chiều dài bờ biển trải dọc biển Đông, Việt Nam kiểm soát được các di chuyển từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương ư? Lại là một ảo tưởng.

Một phần hai chiều dài đó đã phải chia sẻ tầm ảnh hưởng với phần lãnh thổ nối dài đến đảo Hải Nam và Hoàng Sa, vậy đó chỉ là hai người bạn kiểm soát lẫn nhau mà thôi. Đó là chưa kể vịnh Bắc bộ, mà vị trí chỉ như một cái hốc, không có vai trò trong tuyến thông thương đông - tây quốc tế.

Hơn một phần hai chiều dài bờ biển còn lại của Việt Nam thì chia sẻ ở mức độ như nhau với các nước lớn là Philippines, Malaysia, Indonesia trong việc “dòm ngó” vào lưu thông hàng hải.

Một điểm đặc biệt chú ý, Việt Nam cũng hay nhắc rằng nước này nằm trên hải lộ có eo biển Malacca, là điểm huyết mạch giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Đây là cách hiểu lập lờ đến huyễn hoặc. Với eo biển này, Việt Nam đã hoàn toàn không còn chút vai trò gì, nó thuộc vùng chi phối trực tiếp của Malaysia, Indonesia và Singapore, nên không thể “ăn theo” một cách vô lối như vậy được.

22. Với cách hiểu cửa ngõ theo “tư duy một cửa” Việt Nam nghĩ rằng từ vị trí của mình sẽ vươn tầm kiểm soát khắp Đông Nam Á. Nếu chịu “tư duy đa cửa” Việt Nam sẽ thấy rằng chính là đất nước này nằm trong một vùng mà cửa nào cũng đều có thể hướng thẳng về họ (như đã từng xảy ra trong chiến tranh). Do vậy, cho dù cái cửa Việt Nam có mở hay bị mở cho Trung Quốc thì các cửa khác vẫn có thể đóng lại, thậm chí bịt kín tầm vươn đã được mở ra đó trong giới hạn của nó mà thôi, vì nên nhớ rằng những cánh cửa này tạo thành một vòng cung mà Việt Nam nằm lọt thỏm trong đó.



[1] Đã dự trù tất cả, từ việc không cho Lê Thị Công Nhân hay Nguyễn Văn Đài thoát ra (ít ra là giới cầm quyền nghĩ đó là đường thoát) qua những chuyến đi ra nước ngoài, cho đến việc Lê Trí Tuệ “mất tích” ngay cả khi đã sang Cambodia và được Cao uỷ Tỵ nạn cấp qui chế, rồi hành động quyết liệt khi Nguyễn Quốc Tuấn công bố kháng thư của mình cùng cáo trạng của chính quyền đối với Nguyễn Quốc Huy, bất chấp các thủ tục tố tụng thành văn, như một hình thức xiết chặt sự cô lập và bao vây về thể chất, tinh thần đối với các nhà dân chủ đang bị giam giữ…

[2] Điều này, nói cho đúng ra, là giới lãnh đạo toàn trị Việt Nam cần một chỗ dựa quốc tế cho quyền lực và quyền lợi của nhóm đầu sỏ, chứ bản thân họ biết Trung Quốc từ xưa đến nay chưa bao giờ là chỗ dựa lưng cho đất nước cả.