Nguyên TBT Đỗ Mười, "ổn định chính trị", và... tôi
Saturday, August 18, 2007 1:00:00 PM
Post tại blog cũ: February 2, 2007 - 05:34pm
-
Chiều qua - trên báo online, và sáng nay [02.02.2007] - trên báo in, tin mừng thọ nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười được loan tải. Trông ông vẫn khỏe mạnh ở tuổi 90. Đã lâu gần như vắng bóng, nay ông xuất hiện lại trên truyền thông khiến tôi nhớ lại kỷ niệm giữa ông với… tôi.
Nói vậy thì phải “giải trình” ngay kẻo bị cho là “phạm thượng”, “thấy người quyền quý bắt quàng quen biết”.
Chả là sau Hội nghị Trung ương 8 của khóa VII, tôi - đương nhiên là một “thằng bé” khi đó - có viết một bài với tựa là Vấn đề của Hội nghị Trung ương 8: ổn định chính trị - cách nhìn lý luận, phân tích sự bất cập của việc đưa ra khái niệm ổn định chính trị và trình bày một quan niệm biện chứng về ổn định. Bài được gửi đến một vài tờ báo và tạp chí Triết học. Cũng như vài bài khác của tôi, đương nhiên là nó không được nơi nào đăng rồi. Một khoảng thời gian sau, tôi giật mình khi thấy Tuổi Trẻ chạy tít phát biểu của Tổng bí thư Đỗ Mười: Ổn định không có nghĩa là giữ nguyên trạng. Điều khiến tôi giật mình là trong bài viết của mình, tôi đã trực tiếp phê phán cách nghĩ ổn định là “nguyên trạng”, để khẳng định rằng ổn định không phải là giữ nguyên trạng.
Tôi đương nhiên không “dám” nói nguyên Tổng bí thư đã trực tiếp lấy câu chữ hay ý tưởng của mình, nhưng có một sự thật là chữ “(giữ) nguyên trạng” rất ít được sử dụng trong văn phong chính trị và lý luận Việt Nam, mà cũng không ai trực tiếp phê phán nó; đồng thời, ngoài Tổng bí thư Đỗ Mười khi đó và ở chính bài phát biểu đó, từ “nguyên trạng” và diễn đạt “ổn định không có nghĩa là giữ nguyên trạng” không thấy dùng trong các văn bản khác của Đảng và Nhà nước. Đó là điều hoàn toàn bất thường vì các từ ngữ và quan điểm chủ đạo chung, từ ngữ và quan điểm của lãnh đạo thường được lặp đi lặp lại, dùng tới dùng lui qua các kỳ đại hội và trên khắp các bục phát biểu. Từ đó đến nay, không bất cứ ai - cả nhà lý luận và nhà lãnh đạo - hay bất cứ bản văn nào đặt vấn đề biện chứng ổn định để lôi “nguyên trạng” ra ánh sáng, mà đơn giản chỉ “ổn định chính trị” là “ổn định chính trị”, và chỉ với “ổn định chính trị”. Chuyện “ổn định không có nghĩa là giữ nguyên trạng” hoàn toàn chỉ như một câu trả lời đột xuất cho một vấn đề “nào đó” được nêu lên đột xuất mà thôi.
Tôi đành tự suy diễn - và không ngại nói ra đây - rằng có thể bài viết của tôi đã được các bậc đại thụ nào đó của triết học Việt Nam khi đó (tại T/c Triết học) đọc, và (qua thêm những trung gian?) thông qua con đường này mà ý kiến của tôi đã “được” tiếp cận đến lãnh đạo.
Bài viết gốc của tôi, giấy gửi bưu điện và bài báo đăng phát biểu của nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười, tôi lưu giữ lại. Tất cả đều đã nhuốm màu thời gian - theo đúng nghĩa đen. Giờ xem lại, chả trách tôi sao “già đầu” rồi còn bị các thầy thời sau đại học cho là “ngựa non háu đá”: cái thuở “hỉ mũi chưa sạch” đó mà đã dám lôi chuyện “húy kỵ” ra nói rồi.
Tôi đã viết bài đó với sự thôi thúc từ trách nhiệm muốn góp phần thúc đẩy việc tiếp tục đổi mới, trước sự lo âu của bản thân, xuất phát từ dự cảm chính trị về một sự trì hoãn hay ngăn chặn đang đến gần đối với đổi mới chính trị, theo sau khái niệm ổn định chính trị này, trong cái thế “nguyên trạng” vốn đã là căn tính của chính trị Việt Nam. Hiện nay, có lẽ không còn nhiều người không thừa nhận rằng đổi mới chính trị đã bị bỏ lại phía sau quá xa so với đổi mới kinh tế. Thời điểm này có lẽ đã thích hợp để công bố bài viết còn nằm im trong ngăn kéo đó.
Sẽ công bố.
Còn bây giờ, xin giới thiệu lại phần phát biểu của nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười.
***
Ổn định không có nghĩa là giữ nguyên trạng
Đỗ Mười
Chúng ta chủ trương tăng cường sự ổn định chính trị để tạo môi trường thuận lợi cho ổn định và phát triển kinh tế. Quan điểm đó được thực tiễn xác nhận là hoàn toàn đúng đắn. Tuy nhiên, ổn định không có nghĩa là giữ nguyên trạng những cái lỗi thời, trì trệ, xơ cứng, không còn khả năng thích ứng với những điều kiện đã thay đổi. Nếu không kịp thời đổi mới những mặt chưa phù hợp trong hệ thống chính trị thì chúng ta sẽ trở thành lực cản đối với quá trình phát triển kinh tế và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Chính vì vậy mà Đại hội 7 đề ra nhiệm vụ tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân, tiến hành cải cách bộ máy Nhà nước.
Tại diễn đàn này, tôi xin phát biểu một số vấn đề về mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước, về tiếp tục đổi mới hoạt động của Quốc hội để thực hiện đúng chức năng là cơ quan quyền lực cao nhất.
Theo quan niệm của chúng ta, trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền, hiệu lực và hiệu quả sự lãnh đạo của Đảng được thể hiện chủ yếu thông qua hiệu lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống tổ chức Nhà nước. Đó là vì Đảng và Nhà nước ta đều có mục tiêu chung và duy nhất là phục vụ lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, vì chỉ có một Nhà nước mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng thì các đường lối, chủ trương của Đảng mới có thể đi vào cuộc sống và mang lại kết quả tốt đẹp. Sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện đúng đắn chẳng những không mâu thuẫn hoặc hạn chế vai trò các cơ quan Nhà nước, ngược lại bảo đảm và phát huy mạnh mẽ vai trò đó. Mấu chốt để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trước hết là xác định rõ nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng. Thực tiễn hơn bốn năm thực hiện Nghị quyết Đại hội 6 đã đem lại cho chúng ta những nhận thức quan trọng về vấn đề này.
Cương lĩnh của Đảng ghi rõ: “Đãng lãnh đạo xã hội bằng Cương lĩnh, Chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác, bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể. Đảng không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống này. Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.
Cơ sở để phân định ranh giới nói trên là ở chỗ Đảng là hạt nhân lãnh đạo chứ không phải là cơ quan quản lý Nhà nước. Đồng nhất chức năng, nhiệm vụ của Đảng với Nhà nước vừa làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa làm suy yếu vai trò quản lý của Nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân. Chúng ta từng có sự lẫn lộn như thế trong thời gian trước đây và hiện nay trong một chừng mực nào đó chưa phải là đã chấm dứt. Tình trạng cấp ủy nhiều địa phương can thiệp quá sâu vào công việc của chính quyền không phải đã hết. Nói cho đầy đủ thì vừa có hiện tượng Đảng bao biện, làm thay công việc của chính quyền, vừa có hiện tượng Đảng buông lỏng vai trò lãnh đạo đối với chính quyền. Cả hai đều gây ra những hệ quả xấu như nhau. Trên thực tế, cuộc sống phong phú và phức tạp hơn những quy định. Có những việc cụ thể không phải bao giờ cũng phân định được rành mạch ranh giới do Đảng hay chính quyền quyết định. Chỉ có thể rút ra được kết luận chính xác thông qua quá trình vừa làm vừa rút kinh nghiệm, vì đây là vấn đề rất mới. Nếu thường xuyên có ý thức đối với vấn đề này thì tôi nghĩ rằng trở ngại này sẽ được giải quyết. Và một điều quan trọng nữa là tới đây cần từng bước cụ thể hóa thành cơ chế các nội dung cơ bản trên đây làm chuẩn mực cho hành động.
Các văn kiện của Đại hội 7 cũng nêu quan niệm về Nhà nước ta như cơ quan quyền lực thống nhất, xuất phát từ nguyên tắc toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân, đồng thời có sự phân công, phân cấp rành mạch. Theo đó, Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp, quyết định nhũng chính sách cơ bản về đối nội và đối ngọai, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Đây là những chức năng rất quan trọng, đồng thời là những yêu cầu rất cao đối với Quốc hội, liên quan đến vận mệnh của nhân dân và tiền đồ phát triển của đất nước. Mấy năm qua, Quốc hội của chúng ta đã tích cực hoạt động theo phương hướng này. Tuy vậy vẫn còn nhiều việc phải làm để thực hiện đầy đủ chức năng là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Như đánh giá của các đại biểu Quốc hội, tính chất hình thức trong hoạt động của Quốc hội vẫn chưa được khắc phục hoàn toàn, tổ chức và lề lối làm việc vẫn còn những vướng mắc và thiếu khoa học, do đó mà hiệu quả hoạt động chưa cao.
Tôi cho rằng trước mắt cũng như lâu dài, hoạt động của Quốc hội cần hướng vào việc thực hiện hai yêu cầu cơ bản. Một là, xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nhà nước có năng lực định ra một hệ thống luật pháp đồng bộ đáp ứng được yêu cầu mới của kinh tế, xã hội và quản lý mọi mặt xã hội văn minh, tiến bộ, là cơ sở bảo đảm cho đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước được thực thi có hiệu quả, là một nhân tố trọng yếu làm cho các quan hệ xã hội của chúng ta trở nên lành mạnh hơn. Hai là, bảo đảm hiệu lực và quyền lực trên thực tế của Quốc hội do Hiến pháp quy định. Diễn đàn của Quốc hội phải thực sự là tiếng nói của nhân dân thông qua các đại biểu của mình về những vấn đề có quy mô quốc gia, không những trong các quyết sách quan trọng, trong việc tổ chức thực hiện, mà cả những nhận xét đối với hoạt động của chính quyền, kể cả vấn đề nhân sự. Tất cả những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền quyết định về mặt Nhà nước phải được đưa ra Quốc hội bàn bạc dân chủ, không được đặt Quốc hội trước việc đã rồi. Nghị quyết của Quốc hội phải là mệnh lệnh tối cao, mang tính pháp lý, không một tổ chức hoặc cá nhân nào được phép thay đổi hoặc không thực hiện. Các quyền của Quốc hội và của đại biểu Quốc hội theo luật pháp phải được tôn trọng và thực hiện đầy đủ.
*
Nguồn: Phát biểu của Tổng bí thư Đỗ Mười tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa 8 (trích): “Ổn định không có nghĩa là giữ nguyên trạng”, Tuổi Trẻ số 89/1991 (1778), ra ngày 30/07/1991.

