My Opera is closing 3rd of March

Subscribe to RSS feed

Kiến trúc phụng vụ: chủ nghĩa Hiện đại và kiến trúc nhà thờ hiện đại (2)

Kiến trúc phụng vụ: chủ nghĩa Hiện đại và kiến trúc nhà thờ hiện đại (2) magnify

Post tại blog cũ: January 18, 2007 - 08:40am

-

Bản gốc: Speaking Of Liturgical Architecture: Modernism And Modern Church Architecture

Randall Smith, 09.2002
Lê Tuấn Huy dịch, 02.2003, chỉnh lý 16.01.2007

(...)

Cái gì đem chúng ta đến với điều mà Fr. Reinhold nghĩ một nhà thờ cần trông như hay cần “thực hiện”? Trong câu trả lời, ông ta đưa cho người đọc điều này - một cái gì đó mà ông gọi là “ngôn ngữ tượng hình” của nhà thờ lý tưởng. (Chú ý rằng cánh cửa đặt giữa bình nước thánh và bệ thờ chính: đó là nơi được ưa thích có tính “ý thức hệ” của Fr. Reinhold.) Theo sơ đồ này, “ngôn ngữ tượng hình” như vậy cuối cùng sẽ cho chúng ta, ông nói, kiểu kiến trúc nghi lễ “thích hợp”.

Bây giờ, để được công bằng, và với sự thích thú được nói tất cả, tôi phải lập tức thêm rằng, theo Fr. Reinhold, “ngôn ngữ tượng hình” của một nhà thờ “thích hợp” không có nghĩa là một “thiết kế kiến trúc thật sự”. Thật vậy, ông nói, “nó có thể được xây theo phong cách gothic, phục hưng, hay hiện đại, nếu có những nguyên do thỏa đáng để quyết định làm điều đó” (nhưng tất nhiên cánh cửa sẽ vẫn cần phải ở giữa).

Nhưng rồi thật mỉa mai, không có chỗ nào trong cuốn sách của mình mà Fr. Reinhold đưa ra cho chúng ta bất kỳ một “nguyên do thỏa đáng” nào để xây dựng những nhà thờ mới, theo bất kỳ kiểu cách nào như gothic hay phục hưng. Thật vậy, ở kết luận, ông khiến hết sức thất vọng. Ông nói về những phong cách cổ, rằng chúng là “đứa con của thời đại của chúng”, và các kiến trúc sư của chúng ta “phải tìm ra cách diễn đạt trong ngôn ngữ hình thể của thời đại chúng ta, như cha ông chúng ta đã làm trong thời đại của họ”.

Nhưng giả định này, tự nó, rằng tất cả các phong cách quá khứ đều đơn giản là “con cái của chính thời đại của chúng” cần được thay thế bằng một ngôn ngữ hình thể mới và hiện đại, phản ánh được thời đại của chúng ta – cho thấy thêm những điều khác trong cái sắc thái tư duy rõ ràng là theo lối hiện đại chủ nghĩa của Fr. Reinhold. Sẽ hoàn toàn là ngoại lai đối với một kiến trúc sư trung cổ hay phục hưng để nói về điều này. Đúng là mâu thuẫn. Các họa sỹ, kiến trúc sư trung cổ và phục hưng đã xem chính mình như sự thực hiện công việc theo một truyền thống mà vốn họ đã phải sống với những tiêu chuẩn của nó. Họ đã không nhìn về quá khứ với sự coi thường và khinh miệt như một cái gì passé[1], như một cái gì đó đã hoàn toàn nhường lại vị trí của mình. Đúng ra, họ nhìn vào những tiêu bản vĩ đại của quá khứ với sự khiêm tốn và hãnh diện, như những thứ cần được tranh đua và học hỏi.

Các kiến trúc sư hiện đại chủ nghĩa, đúng ra, là những người đã nói lên một cách giả tạo cái quan niệm về một nền kiến trúc đang tự tái tạo, bên ngoài toàn bộ lớp vải, trên một “phiến đá trắng”. Và họ cũng là những người cần đến một nền kiến trúc thể hiện được “tinh thần của thời hiện đại”. Đó là, chẳng hạn, Mies van der Rohe, có lẽ là người có ảnh hưởng nhất trong số tất cả các kiến trúc sư hiện đại chủ nghĩa, người đã mô tả kiến trúc như “ý chí của thời đại được lĩnh hội về mặt không gian”.

Trong khi các kiến trúc sư trước đây luôn xem họ như sự tồn tại liên tục với những hình thái và những truyền thống kiến trúc vĩ đại của quá khứ, những người theo chủ nghĩa Hiện đại lại theo đuổi việc vứt bỏ mọi “mắc xích” quá khứ và sáng tạo một nền kiến trúc [hoàn toàn khác] – ngay từ nền tảng; như Descartes đã cố gắng tái tạo triết học bằng việc nghi ngờ tất cả về mặt phương pháp, điều cần được đi trước và cho phép quay lại vào trong tư duy của ông chỉ với những ý tưởng rằng đã có sự rõ ràng và xác thực toán học. Tác giả Tom Wolfe đã viết về những người đã học tập ở Bauhaus, nước Đức chẳng hạn, như sau:

“Các kiến trúc sư và họa sỹ trẻ đã đến Bauhaus, sống, học tập, và nghiên cứu từ ‘Ông hoàng Bạc’ [người sáng lập của Bauhaus, Walter Gropius], đã nói về việc ‘xuất phát từ con số không’. Người ta nghe cụm từ này mọi lúc: ‘xuất phát từ con số không’… thuần khiết làm sao, trong lành làm sao, vinh dự làm sao, khi đã… xuất phát từ con số không!… Thật đơn giản! Thật đẹp đẽ!… Dường như ánh sáng lần đầu tiên đã soi được vào đầu óc lờ mờ của người ta! Lạy Chúa tôi! - xuất phát từ con số không!… Nếu bạn còn trẻ, nó đã là một chất liệu tuyệt vời. Việc bắt đầu từ con số không không thể nói đến điều gì khác hơn là một sự tái tạo thế giới này”.

Đúng như thế, sau Descartes, dường như đã không còn bất kỳ điểm nào trong việc đọc những gì giống như của Plato, Aristotle, hay Thomas Aquinas; vì thế, cũng sau Corbusier và Gropius, dường như đã không còn bất kỳ điểm nào trong việc nghiên cứu Vitruvius, Palladio, hay bất kỳ tác phẩm nào của các kiến trúc sư và các nhà thiết kế cổ điển. Họ, hoàn toàn theo nghĩa đen, đã bị cấm chỉ trước chương trình đào tạo như vậy, với đặc ân của việc “xuất phát từ con số không”.

Và khi cũng những kiến trúc sư này chạy trốn khỏi nước Đức Hitler vào những năm 1930 và định cư tại Hoa Kỳ, họ mang theo bên mình cùng sự nhạy cảm đó để đưa vào các trường phái kiến trúc trên đất nước này. Cho phép tôi, nếu các bạn có thể, trích thêm một đoạn từ Tom Wolf mà trong đó ông mô tả đâu là đặc điểm không trông đợi về “cuộc xâm lược” Đức này:

“Cùng lúc [Wolf nói], vào năm 1937, chính ‘Ông hoàng Bạc’ đã ở đây, trên nước Mỹ này. Walter Gropius, đích thị, bằng xương bằng thịt, tại đây, để lưu trú… Những ngôi sao khác của Bauhaus huyền thoại đã đến cùng thời gian này: Breuer, Albers, Moholy-Nagy, Bayer, và Mies van der Rohe… Nơi đây họ đã đến, không gốc rễ, không một xu dính túi, không có quê hương, mệt lữ, bị hành hạ bởi định mệnh…

“Như một người tỵ nạn đến từ vùng đất lụi tàn, [Gropius] đã hài lòng với sự chào đón thân thiện, một chốn để “đặt cái đầu”, hai ba bữa ăn mỗi ngày - cho đến khi có thể đứng được trên chính đôi chân của mình, nở nụ cười mỗi khi có dịp, và một cơ hội việc làm nếu có bất kỳ ai cần đến. Và thay vì… Vâng, Gropius đã trở thành cái đầu của trường phái kiến trúc tại Đại học Harvard, và Breuer đã liên kết với ông tại đây. Moholy-Nagy mở văn phòng Tân Bauhaus, là cái đã phát triển thành Viện thiết kế Chicago. Albers thì mở văn phòng Bauhaus thôn dã ở khu đồi North Carolina, tại Black Mountain College. [Còn Mies -] Mies được đặt vào vị trí trưởng khoa kiến trúc tại Armour Institute, Chicago. Và không chỉ là trưởng khoa, nhà thầu hàng đầu cũng là ông. Ông đã được dành cả một vùng để sáng tạo, hai mươi mốt công trình cả thảy, khi Armour Institute hợp nhất với Lewis Institute để hình thành Viện Kỹ thuật Illinois. Hai mươi mốt công trình lớn [và nhà nguyện này] ở trung tâm của Depression, vào lúc mà hầu như việc xây dựng đang dừng lại trên đất Mỹ - cho một kiến trúc sư chỉ hoàn thành mười bảy công trình trong sự nghiệp của mình…”.

Đã gây nên lúng túng, có lẽ vậy…, nhưng là việc mà người ta có thể học hỏi để sống với nó… Trong vòng ba năm, giáo trình kiến trúc trên đất Mỹ đã thay đổi, một cách hoàn toàn… Mọi người đã xuất phát từ con số không.

Vì thế, theo tôi, khi những chuyên gia trong lĩnh vực nghi lễ, như Fr. Reinhold, chú tâm vào kiến trúc nhà thờ, họ, như đã vậy, truyền hơi thở của “tinh thần thời đại”: những luồng không khí gần đây đang loa tỏa khắp các trường phái kiến trúc Hoa Kỳ có lẽ thiếu ngay cả việc nhận ra điều mà các kiến trúc sư này đang làm. Nhưng dù có nhận ra điều này hay không, khi một chuyên gia phụng vụ như Fr. Reinhold nghĩ đến kiến trúc nhà thờ, rõ ràng ông nghĩ về những kiểu cách đã được sắp xếp bởi một thế hệ các nhà kiến trúc hiện đại chủ nghĩa, vào lúc mà họ viết và thuyết trình, chi phối tất cả các trường phái chính của kiến trúc Hoa Kỳ.

Thật vậy, cách nhìn của chủ nghĩa Hiện đại, tôi xin được phép nói, vẫn chiếm ưu thế trong các cuộc thảo luận đương đại về kiến trúc nhà thờ. Hãy thử nhìn về, chẳng hạn, một người, cùng với cái mà ông đã bắt đầu: tác giả Steven J. Schloeder. Điều phê phán cơ bản của ông đối với kiến trúc nhà thờ trong thời gian gần đây, là gì? - Không có ý tưởng thích đáng về nghi lễ đằng sau nó. Nên nhớ rằng: “Sự khô khan của công trình”, ông nói, “phản ánh sự khô khan của thần học đương đại”. Nhưng bằng sự phê phán theo kiểu này, ông đã thể hiện chính mình như một nhà hiện đại chủ nghĩa triệt để, trong cách tiếp cận của ông, như bất kỳ một nhà thiết kế nào mà ông phê phán. Rốt cuộc thì vấn đề là công trình này là sai, mà không phải là sự thiếu vắng cái đẹp ở nó. Cuối cùng, cách tiếp cận của ông càng thể hiện chủ nghĩa Hiện đại bao nhiêu, thì càng như là Fr. Reinhold bấy nhiêu.

Và thật vậy, sự nhạy cảm hiện đại chủ nghĩa của Fr. Reinhold tác động không chỉ cách nhìn của ông về cái thích đáng đối với bên ngoài một nhà thờ, nó cũng ảnh hưởng đến cách nhìn nhận mỹ thuật của ông về thiết kế nội thất - và cách thức này, người đi lễ ngày nay sẽ nhận ra tức thì. Hãy lần theo, chẳng hạn, khẳng định về một “nhà thờ giáo xứ lý tưởng”: “nhà thờ giáo xứ lý tưởng”, Fr. Reinhold nói, “là cái mà trong đó kiến trúc tạo nên sự bố trí lý tưởng cho một sự tham dự đầy đủ”. Ngày nay, quan niệm về “sự tham dự đầy đủ và năng động” như một nhân tố quyết định trong nhà thờ, là cái mà phần lớn mọi người cùng hợp sức với Vatican II. Nhưng trong thực tế điều này đã được bắt đầu với những giới chức thẩm quyền ngay từ năm 1947.

Dù vậy, điều thậm chí còn quan trọng hơn, cần ghi nhận, là cái mà Fr. Reinhold đề cập đến khi ông nói về “sự bố trí lý tưởng cho một sự tham dự đầy đủ”. Hãy nhớ rằng, một lần nữa, thay vì xuất phát từ sự khảo sát lịch sử những nhà thờ lừng danh nhất vốn đã cho thấy sự thành công trong việc khuyến khích sự hòa mình đầy đủ và năng động, Fr. Reinhold, tương ứng với phương pháp luận chức năng của mình, “bắt đầu từ con số không”, vì thế có thể nói nói - bắt đầu với “tấm bảng trắng”(3), như thể là không có một nhà thờ nào từng được xây trước đó - và những chuẩn mực của ông đối với chính việc thiết kế theo phong cách chức năng xuất phát từ quan niệm của ông về nhà thờ “lý tưởng”. (Và nhớ rằng, bằng cái “lý tưởng” ở đây, chúng ta không nói đến việc thiết kế đã được cho thấy bằng kinh nghiệm, là tốt nhất hay thực tế nhất; đúng ra, ta nói đến việc thiết kế cần phù hợp với chính cái “lý tưởng” mỹ học: đó là cái nhà thờ “lý tưởng”).

Vậy thì cái gì, theo Fr. Reinhold viết vào năm 1947, là “sự bố trí lý tưởng cho một sự tham dự đầy đủ”? Nó đây (dưới đầu đề lớn và trơ tráo, “Hình thể theo chức năng”):

À, vâng, nó là chốn hội họp có hình quạt, hay là “nhà thờ hình tròn”. Bạn thấy nó mọi lúc. Hay có lẽ tôi nên nói (à, nên nhớ rằng đang nói đến nhà thờ Công giáo). Thật vậy, các chuyên gia nghi lễ đã từng đưa ra quy định về nhà thờ thẳng góc, rồi chuyển thành những giáo đường có hướng xiên để tạo nên cái “nhà thờ theo hình tròn”.

Có ai đã từng tự hỏi sao lại có quá nhiều nhà thờ hiện đại được xây theo cách như vậy? Có ai đã từng tự hỏi tại sao lại không thể xây dựng nhà thờ mới với những gian thẳng góc? Tốt rồi, bây giờ các bạn đã có câu trả lời của mình. Hình dáng đặc trưng này (hình rẽ quạt, hay “nhà thờ hình tròn”, đã không được xác định ở bất kỳ đâu bởi Công đồng Vatican II. Nhưng ta lại thấy nó được quy định, ở đây, bởi các “chuyên gia” phụng vụ người Mỹ, như một “hình thể” chức năng tất yếu của nhà thờ, từ năm 1947 - gần mười lăm năm trước Công đồng II!

Vì thế, chẳng hạn, đây là vài hình thể khả dĩ mà Fr. Reinhold đề xuất:

Thật lạ lùng, những sơ đồ của năm 1947 trông tương tự đến đáng ngờ với những sơ đồ của năm 1998, từ cuốn sách của Steven Schoeder, Kiến trúc thông truyền, có đoạn thuyết minh: “Nhà thờ như những con amip (trên cùng) và như những con paramecium[2] (dưới cùng) - những hình thể khác thường mà Schoeder chê trách về sự diễn dịch sai Công đồng Vatican II. Vâng, điều này đúng mà cũng không đúng.

Điều mà Công đồng đã thông thái cổ súy là niềm tin vào sự “tham dự đầy đủ và năng động” của công chúng. Tuy vậy, cái dường như đã diễn ra là khi các “chuyên gia” nghi lễ người Mỹ nghe đến những lời này vào năm 1965, họ lại đã có sẵn môi trường thực tập, trong một thời gian dài, để liên kết sự “tham dự đầy đủ và năng động” với những giáo đường “hình quạt” và “nhà thờ hình tròn”. Và hơn thế, một khi đã được liên kết, hai ý tưởng này trở nên không thể tách rời. Để “quay trở lại”, như họ sắp đặt, đặt thẳng lại các gian trong nhà thờ, sẽ tương đương với việc bác bỏ những chuẩn mực của Công đồng cho việc “tham dự đầy đủ và năng động”. Thật sự, nay dường như bất khả, đối với các chuyên gia như vậy, để tiếp nhận việc “tham dự đầy đủ và năng động” mà không có thiết kế hình quạt hay nhà thờ hình tròn.

Dẫn chứng cuối cùng của chúng ta, một sự cách tân kiến trúc nhà thờ khác mà mọi người đã gắn kết sai lầm với Công đồng Vatican II, nhưng lại là cái đã thể hiện vào năm 1947, trong chuyên luận ngắn của Fr. Reinhold. Tại trang 20 trong cuốn sách của mình, Fr. Reinhold đề cập đến một cách tân mới tuyệt vời mà ông phát hiện và mong muốn giới thiệu với người đọc: “Rudolf Schwarz (người thiết kế nên nhà thờ nổi tiếng này) - Rudolf Schwarz đề xuất [ý tưởng về] một bức trường trắng phía sau bệ thờ”. “Có một vẻ đẹp tuyệt vời trong tiếp cận nguyên thủy này”, Fr. Reinhold nói, “nhưng chúng ta có sẵn sàng để thực hiện không?”.

Đối với câu hỏi này, câu trả lời, như sau đó lịch sử cho thấy rõ ràng, sẽ phải là chữ “có” được nhấn mạnh.

Nhưng giờ đây câu hỏi là: chúng ta có thể làm cho các chuyên gia phụng vụ phải dừng lại không? Các nhà thờ Thiên chúa giáo có nhất thiết phải có bức tường trắng, trống không, phía sau bệ thờ không? Có bao nhiêu không gian đẹp phía sau bệ thờ đã bị xé nát trong những nhà thờ xưa để dành chỗ cho sự thần diệu của bức tường trắng, trống không phía sau bệ thờ này? Mies van der Rohe, người đã nói về thiết kế nhà thờ, rằng “ít nhiều [đã như thế]”. Vâng, chúng ta thật sự đã quên đi nhiều cái từ “ít” hơn là chúng ta đã từng nghĩ chúng ta nên như thế!

Nhưng hãy xem, thế là đủ. Quan điểm của tôi đơn giản là thế này: ở đây, trong chuyên luận năm 1947 này, ta nhận thấy một xu hướng thịnh hành của các bài giảng, đề xuất và phổ biến đến các chuyên gia nghi lễ trong tương lai những quan niệm sau: một nhà thờ phải được hiểu như một lớp bao phủ, hay “lớp da” quanh một hoạt động nhất định; rằng cái giữ vị trí hàng đầu trong việc xây dựng và thiết kế một nhà thờ, là Hình thể hay Ý tưởng về cái “nhà thờ lý tưởng” được gắn với nó; rằng giáo đường hình quạt hay “nhà thờ hình tròn” là cái “lý tưởng” trong thiết kế (vì thế cần phải có) để có được sự hòa hợp đầy đủ; và rằng nó sẽ được ưu ái nếu chúng ta khuyến khích việc cần có những bức tường trắng, trống không. Tất cả những điều này được nói đến trong năm 1947, khá lâu trước khi Công đồng Vatican II bắt đầu đặt bút lên giấy.

Thật sự tranh luận của tôi là thế này, khi những văn kiện của Công đồng đến Mỹ vào giữa những năm 1960, chúng được diễn giải theo một bối cảnh văn hoá-xã hội vốn đã thấm đầy những đặc trưng kiến trúc hiện đại chủ nghĩa. Và hơn nữa, khi các chuyên gia phụng vụ người Mỹ đọc và diễn giải những văn kiện này, tôi cho rằng, đã thông qua lăng kính diễn dịch của quan niệm kiến trúc hiện đại chủ nghĩa. Nói cách khác, chúng ta đã đi trên con đường kiến trúc nhà thờ theo kiểu này khá lâu trước khi các đức Cha của Công đồng viết lên một chữ trong Sacrosanctum concilium.

Nếu đó là sự thật, có thể rất thích hợp để đưa ra những câu hỏi sau:

Nếu cái mà Fr. Reinhold đề xuất thực chất thể hiện cách tiếp cận hiện đại chủ nghĩa đối với kiến trúc, và nếu chủ nghĩa Hiện đại là một phong cách giống nhưng bất kỳ phong cách nào khác, thì có thật sự khôn ngoan để phong thánh những nguyên tắc này như thể chúng là cái thực chất của kiến trúc nhà thờ Công giáo?

Và nếu, như nhiều nhà bình luận văn hoá đã nhận định, chúng ta đang đi vào thời kỳ “hậu hiện đại”, thì các nhà thờ mọc lên từ những đặc trưng hiện đại chủ nghĩa sẽ có thực sự tiếp tục đáp ứng tốt cho thế hệ sau? Nếu các kiến trúc sư hậu hiện đại đã chuyển động rồi, thì chúng ta có lẽ cũng nên như vậy.

Và thật sự, nếu các kiến trúc sư hậu hiện đại đã bắt đầu tái giới thiệu những nhân tố cổ điển trong các thiết kế của họ, có lẽ chăng chúng ta không nhận thấy chính mình đã hiện diện với một cơ hội mới lý thú, khi Ki-tô hữu chúng ta cũng tái giới thiệu tới các kiến trúc sư đương đại về việc đến với những nhân tố cổ điển và truyền thống của chúng ta?

Có lẽ sẽ có được vẻ đẹp truyệt vời trong cách tiếp cận nguyên thủy này. Nhưng chúng ta có sẵn sàng để thực hiện điều này không?

Xin cám ơn.

*

Randall Smith, Giáo sư, cải đạo sang Công giáo, Cử nhân Hoá học tại Cornell College, Thạc sỹ Thần học tại University of Dallas, Tiến sỹ tại University of Notre Dame, lĩnh vực chuyên môn sâu: thần học lịch sử và thần học đạo đức.



[1] Đã qua.

[2] Kiến thức sinh vật học của tôi không đủ để chuyển từ này thành tiếng Việt, chỉ biết đó là một loại khuẩn hình bầu dục dài.