Những cội rễ của kiến trúc nhà thờ theo phong cách hiện đại
Saturday, August 18, 2007 12:50:00 PM
Post tại blog cũ: January 8, 2007 - 08:29pm
-
Khi bài phỏng vấn chung có tựa Chủ nghĩa hậu hiện đại - đã đăng trên Tia Sáng - có mặt trên mạng và tại Blog của tôi, một số bạn bè hỏi thêm về tài liệu. Tôi nói rằng Hậu hiện đại không còn là điều xa lạ, trên mạng đã có rất nhiều tài liệu, nhiều ý kiến (nói thế để thúc đẩy sự chủ động tự tìm tòi và khai thác thông tin). Nhưng cũng không để phụ lòng, tôi giới thiệu hai bài dịch, dù không trực tiếp nói đến Hậu hiện đại. Hai bài này xem ra rất lạ về đề tài: kiến trúc nhà thờ theo phong cách của chủ nghĩa Hiện đại, có thể sẽ đem đến cho người đọc thêm một ít thông tin thú vị, mà - chủ yếu, sau khi đọc xong - cũng là mở rộng thêm phạm vi cho việc nhận định về HHĐ.
Xin nói thêm, hai bài này không đối lập về quan điểm (cùng đứng trên lập trường Công giáo) nhưng rất khác biệt trong thái độ khi nhận định. Sự tiếp thu hay nhất chính là người đọc có những nhận định, đánh giá của riêng mình.
Đây là bài đầu. Việc giới thiệu bản tiếng Việt của bài này đã nhận được sự chấp thuận của tác giả. Niên đại của những người được nhắc đến trong bài và chú thích là do người dịch thêm vào.
***
Bản gốc: The Roots Of Modernist Church Architecture
Duncan Stroik, 10.1997
Lê Tuấn Huy dịch, 02.2003, chỉnh lý 06.01.2007
“Giáo hội không theo bất kỳ một kiểu cách nghệ thuật nào như chính mình… Nghệ thuật của thời đại chúng ta, từ mỗi chủng tộc và mỗi đất nước, sẽ được phát huy tự do trong lòng Giáo hội, mà vẫn có được sự tôn kính và vinh danh Thiên chúa từ những công trình và nghi lễ mới này.”
- Sacrosanctum Concilium, no. 123[1] -
“Nếu bạn mong thấy được kiến trúc hiện đại chủ nghĩa, bạn phải có nhiều thời gian và chiếc phản lực cơ Learjet riêng[2].”
- Robert Krier -
Đối với nhiều người quan sát có kiến thức, dường như các công trình kiến trúc cách điệu hóa đã đặt thành vấn đề với việc thờ phụng của Công giáo La Mã, như là hướng tất yếu của việc giáo huấn, của khoa nghi lễ hiện đại và thần học đương đại. Nếu như thế, tất nhiên kiến trúc hiện đại chủ nghĩa sẽ là kiểu cách được chính thức phê chuẩn của Giáo hội, và rất khó để phê phán nó.
Thật vậy, vào những năm 1960, sau Công đồng Vatican II, làn sóng ồ ạt xây dựng những nhà thờ chân phương, tương tự như những tòa nhà thương mại hay công xưởng, đã xác quyết niềm tin rằng chúng nhận sự ủy thác từ tinh thần Vatican II.
Nhưng những cái hộp trừu tượng này, những căn nhà trông như cái chuồng và những chạm khắc hỗn tạp, vốn đã có trong kỷ nguyên tiền công đồng cải cách. Thực tế, những hình dáng cấp tiến của nhà thờ đã được thử nghiệm ngay từ buổi bình minh của chủ nghĩa Hiện đại, cuối thế kỷ XIX. Ý tưởng thiết lập hình mẫu nhà thờ theo các thính phòng, các nhà hát Hy Lạp cổ, những căn nhà lớn, hay những nhà hát hình tròn, đã nảy sinh từ những nghi lễ Tin lành, trong các nhà thờ thấp bé. Trong khi đó, phong cách giản lược của các thờ thời hậu công đồng cải cách, lại xuất phát từ trào lưu kiến trúc hiện đại châu Âu.
Thần học hiện đại và nghệ thuật hiện đại chủ nghĩa
Nói đến điều này để chỉ ra rằng kiến trúc nhà thờ hiện nay không đơn giản là đứa con của thần học hiện đại, mà còn là đứa con của những bậc thầy của chủ nghĩa Hiện đại: Le Corbusier (1887-1965), Walter Gropius (1883-1969), Alvar Aalto (1898-1976), Mies van der Rohe (1886-1969), Frank Lloyd Wright (1867-1959), và những người khác. Giáo hội đã sẵn lòng chấp nhận, và ngay cả áp dụng kiến trúc thế tục cho những công trình thiêng liêng của mình. Nhưng trong khi thăng tiến “Phong cách quốc tế” này, Giáo hội phải chăng đã không ý thức được việc theo bước triết học của chủ nghĩa Hiện đại và không chủ tâm bán rẽ thần học của mình?
Trước tiên, dễ dàng để nhận ra rằng cơ sở triết học cho kiến trúc hiện đại chủ nghĩa có thể tìm thấy ở người anh em họ của thần học, là triết học Khai sáng Pháp và chủ nghĩa Duy lý Đức. Ngoài ra, cũng có thể ghi nhận sự tương đương giữa kiến trúc theo phong cách Cải cách Tin Lành và kiến trúc bài thánh vào cuối thế kỷ XX.
Trong phong trào Cải cách Tôn giáo, các nhà thờ Công giáo đã tách đôi giữa tượng, tranh, với những biểu tượng truyền thống. Các nhà thờ mới được thiết kế như những “nhà hội họp”, như thể là quay trở về với Thiên chúa giáo sơ kỳ, khi các con chiên họp mặt tại nhà của nhau. Kiến trúc, sau khi mất đi khả năng biểu thị cái thiêng liêng, đã được xem như vật liệu của cộng đồng hay cho những đòi hỏi chức năng. Quan niệm về nhà thờ như một thính phòng hay nhà hát tròn xuất phát từ những công trình theo phong cách Calvin thời kỳ đầu, vốn được thiết kế nhằm khiến mọi người có thể nghe và thấy người truyền giảng, như tại Charenton, nước Pháp.
Chủ nghĩa Hiện đại đặt biệt thu hút đối với những thiết kế kiểu thính phòng và nhà hát, do những đòi hỏi khoa học về âm thanh và tầm nhìn, cũng như ở điều được cho là hình thức của một công trình cần phải được xác định từ chức năng của nó[3].
Vào thời Cải cách Tôn giáo, việc phá hủy các bệ thờ, tủ thánh, điện thờ đã là chuyện thường tình, và thường thì một linh mục hay bình thánh thế chỗ cho bệ thờ ở trung tâm. Những cấm đoán thần học chống lại các tranh ảnh và hình tượng đã được nối tiếp bởi những người theo chủ nghĩa Hiện đại trong thế kỷ XX, trở thành một loại mỹ thuật chân phương và sự vắng bóng các tranh ảnh.
Nhu cầu đoạn tuyệt quá khứ
Một nguyên lý thực chất của chủ nghĩa Hiện đại, xuất hiện vào khúc quanh [kiến trúc] của thế kỷ XX, là nhu cầu đoạn tuyệt với quá khứ để tìm kiếm một một nền kiến trúc dân tộc, hay “nền kiến trúc của thời đại chúng ta”.
Phù hợp với triết học Hegel (1770-1831), các công trình được xem như sự phản ánh tinh thần của một thời đại cụ thể mà nó được xây dựng lên, và vì thế nó khác biệt với những thời kỳ và những kiểu cách có trước. Điều này được củng cố bởi niềm tin trong “con người hiện đại”, những người mà do tính độc nhất vô nhị trong lịch sử, cần có một nền kiến trúc mang tính độc nhất, hoàn hảo về mặt khoa học, tiến bộ, và trừu tượng.
Điều này đã được làm rõ bởi những người khởi xướng chủ nghĩa Hiện đại, như Louis Sullivan (1856-1924), Frank Lloyd Wright, và Otto Wagner (1841-1918), rằng bất cứ một dáng vẻ nào của các nhân tố hay kiểu cách lịch sử mà không thuộc về thời đại chúng ta, đều cần phải từ bỏ.
Vào lúc đầu, sự từ bỏ này diễn ra dưới hình thức loại trừ hay trừu tượng hóa những mô-típ truyền thống trong các công trình. Sau đó, lấy cảm hứng từ tranh và điêu khắc phi hiện thực, kiến trúc hiện đại chủ nghĩa tìm đến cái đích là sự khác biệt giữa sàn và trần, nội thất và ngoại thất, cửa sổ và tường, thiêng liêng và trần tục, là những cái mà kiến trúc đã từng tự hào trong lịch sử.
Chủ nghĩa Toàn khải kỹ thuật
Về mặt mỹ thuật, kiến trúc hiện đại chủ nghĩa lấy cảm hứng từ những công trình kỹ nghệ, như những cây cầu, các toà nhà công nghiệp, và các đại sảnh lộ thiên, vốn được xây dựng nhanh chóng, to lớn và tiết kiệm. Hệ quy chiếu thực chất ở đây, là máy móc: kiến trúc sư Thụy Sỹ Le Corbusier khẳng định các máy bay, tàu bè, xe hơi, là những hình mẫu cho một nền kiến trúc chức năng. Chính là vì một máy bay được thiết kế hiệu quả cho việc bay, nên một ngôi nhà đã là một cái máy phục vụ cho việc sinh sống. Chính là những khía cạnh bao trùm mang tính nhân học, tâm linh, và truyền thống cho việc cư trú và phát triển một gia đình, đã tách ra “ngôi nhà với tư cách một cỗ máy phục vụ cuộc sống bên trong nó”. Vì thế mà nghi lễ, hình tượng, và thánh vật phải bị thanh trừ khỏi cái “nhà thờ với tư cách cỗ máy phục vụ việc nhóm họp trong nó”.
Sử gia Nicholas Pevsner và những người khác đã vạch ra từ các bài viết của Viollet Le Duc (1814-1879) và John Ruskin (1819-1900), rằng thời hiện đại đòi hỏi không chỉ việc sử dụng những vật liệu hiện đại, như thép, kính và các khối bê-tông gia cường, mà còn hiển nhiên thể hiện trong các công trình kiến trúc.
Cũng có lập luận rằng kiểu cách hiện đại phát sinh từ việc sử dụng những vật liệu hiện đại, và những vật liệu này vốn dĩ đã đưa chính chúng vào trong nghệ thuật cách điệu hóa. Điều này phần nào phê phán việc xây dựng những công trình “vôi vữa”, như Thánh đường St. Patrick và Nhà thờ Quốc gia mang tên Đức mẹ Đồng trinh, được xây dựng trong thế kỷ XX, cũng như nhiều nhà nguyện và nhà thờ được thiết kế bởi các kiến trúc sư theo phong cách cổ điển hay trung cổ.
Thực tế, cùng lúc Auguste Perret (1854-1974) xây dựng nhà thờ đại sảnh bê-tông theo phong cách hiện đại ở Paris, Ralph Adams Cram (1863-1942) và những người khác đang xây những nhà thờ kiểu gothic và phục hưng có gia cường bê-tông (tại West Point và California), với những nét trang trí, các đường gờ và chạm khắc. Không giống như những người Rome cổ đại đã sử dụng bê-tông ẩn trong tường và mái vòm của những công trình theo phong cách cổ điển, vào đầu thế kỷ XX, các kiến trúc sư theo chủ nghĩa truyền thống đã sử dụng hầu hết những kỹ thuật xây dựng hiện nay, có hệ thống sưởi và đường ống, với tinh thần nghệ thuật vị nhân sinh.
Nhà thờ với tư cách một công trình điêu khắc trừu tượng
Trong khi đa phần các nhà thờ Công giáo đã xây dựng tại Mỹ trước 1940 là theo kiểu truyền thống, thì nhiều giáo đoàn Tin lành, Nhất thể[4], và Thiên chúa Khoa học[5] đã thử nghiệm những công trình kỹ nghệ.
Thánh đường Unity, 1904, do Frank Lloyd Wright thiết kế, là một khán phòng lập phương với những trang trí hình học và cỏ cây. Trong khi đó, "der liebe Meister"[6] Louis Sullivan (1856-1924) thiết kế cho Liên hiệp Nhà thờ Giám lý St. Paul[7], 1914, lại là hình ảnh trừu tượng của một nhà hát Rome cổ đại.
Tại Đức, cuối những năm 1920, Otto Bartning (1883-1959) đã thiết kế những nhà thờ Phúc âm hình tròn với kính, thép và bê-tông, kết hợp một ít tranh tượng và trục nối.
Dominikus Bohm (1880-1955) theo bước người đi trước, thiết kế theo trường phái thể hiện xúc cảm[8] cho nhiều nhà thờ Công giáo, trong đó có St. Engelbert, một công trình hình tròn kết hợp với trần parabol.
Rudolf Schwarz (1897-1961) cũng đã thiết kế nhiều nhà thờ Công giáo sử dụng những hình thể trừu tượng cùng với một không gian của “Phong cách quốc tế”.
Schwarz và Bohm cùng kết hợp với trào lưu nghi lễ ở Đức, và đã tạo ra những không gian trừu tượng cho nghi lễ Công giáo trước cả Vatican II. Sau chiến tranh thế giới II, trào lưu hiện đại chủ nghĩa lan ra khắp nơi như thể hiện chiến thắng của kỹ thuật từ trong chiến tranh. Nhiều người chăn chiên đã theo bước chính quyền và doanh nhân, xây dựng những nhà thờ theo phong cách trừu tượng, bất đối xứng, và vị lai[9], bằng những vật liệu hiện đại.
Ở Pháp, cha xứ dòng Dominic, Pierre Marie-Alan Couturier, đã đặt hàng mười lăm họa sỹ hiện đại nổi tiếng nhất trang trí tường, thảm thêu, các hình khảm, kính mờ, cho nhà thờ Đức Mẹ mộc mạc ở Assy.
Cũng dưới sự bảo trợ của cha Couturier, kiến trúc sư người Pháp Le Corbusier đã thiết kế hai nhà thờ có lẽ là nổi tiếng nhất của thế kỷ XX: Nhà thờ hành hương Notre Dame du Haut tại Ronchamp, và Tu viện dòng Dominic Ste. Marie de la Tourette.
Le Corbusier từ đầu đã nói rất rõ rằng ông không là một giáo dân, và ông nhận những dự án này vì được tự do thể hiện những ý tưởng của mình trong một bối cảnh mở. Ronchamp là hình ảnh thu nhỏ của nhà thờ như một công trình điêu khắc trừu tượng, và được Le Corbusier so sánh với một đền thờ mặt trời.
Bên cạnh đó, La Tourette là một công trình giao nhau khốc liệt giữa một nhà nguyện bê-tông có hình nhà mồ, với một tu viện, và… không sử dụng được.
Tu viện này đã có nhiều vấn đề, gồm cả trạng thái u uất vì các gian trông như những phòng giam, rồi thêm những không gian ngột ngạt đã khiến nó phải đóng cửa. (Trong một thời gian nó trở thành trung tâm ẩn dật cho các kiến trúc sư).
Cha Couturier, với niềm tin mọi “nghệ thuật chân chính” đều là “nghệ thuật thiêng liêng”, lập luận rằng tốt hơn thì một người vô thần có năng khiếu thực hiện các công trình Công giáo, thay vì để cho một họa sĩ ngoan đạo nhưng kém năng lực. Luận điểm này đối lập với cách nhìn đã đi vào lịch sử của Giáo hội, là “giáo lý như núi”, vốn đã nằm trong cách nghĩ của các kiến trúc sư, giáo dân, hay người những thợ thủ công.
Với cha Couturier, kiến trúc nhà thờ đã không còn được xem là một người thầy, người chủ, hay người truyền giáo, mà là một không gian chức năng dành cho hội họp. Cũng như vậy, người kiến trúc sư không còn là những người đồng sáng tạo được truyền cảm hứng, mà thay vào đó, tác phẩm của anh ta trở thành mạch dẫn cho chính sự thể hiện cá nhân anh ta và “tinh thần của thời đại”.
Quan niệm phụng vụ cấp tiến
Điều đáng lưu ý là khác với Wright ở Mỹ và Aalto ở Phần Lan, một ít “bậc thầy” của chủ nghĩa Hiện đại thích thú trong việc thiết kế các nhà thờ và giáo đường Do Thái (Le Corbusier đã từ chối những dự án khác). Một phần niềm tin trong “con người hiện đại” là tôn giáo là cái gì đó phi khoa học, và vì thế mà nhà thờ vốn không thích hợp với những nhu cầu đương thời. Trong khi phần đông các nhà hiện đại chủ nghĩa đi từ cái nền Tin lành, thì một phần lớn khác là những người vô thần hay bất khả tri. Trừ ra Mies van der Rohe (1886- 1969) và Eero Saarinen (1910-1961), mà nhà thờ do họ thiết kế có thể được xem là những công trình siêu phàm, những công trình được mô phỏng bởi những người khác thì nguyên bản mất đi sức mạnh biểu tượng của nó.
Những nhà thờ dòng Benedictine ở Mỹ, tương tự như những nhà thờ Dominic ở Pháp, là những khách hàng lớn của nghệ thuật và kiến trúc theo chủ nghĩa Hiện đại, đồng thời cũng là bước tiến mới trong nghi lễ. Tại Collegeville, Minnesota, họ đã thuê Marcel Breuer (1902-1981), nhà thiết kế thuộc trường phái Bauhaus[10], và tại St. Louis họ đặt hàng một số tu viện cho Gyo Obata (1923-), người đã thiết kế phi trường St. Louis. Các công trình này đều có kiểu dáng đẹp, không theo lối truyền thống, và được nhiệt liệt hoan nghênh từ giới kiến trúc.
Cùng lúc với những công trình này, các văn kiện của Vatican II cũng đang được soạn thảo. Các chương nói về nghệ thuật, dù ngắn gọn, lại mang chất thơ, truyền cảm, và sống động, khác với truyền thống Công giáo. Dù vậy, theo tinh thần nhằm cải cách và phục hồi nghi lễ, đặt biệt là nghi lễ Thiên chúa giáo sơ kỳ, đã có ít những quan tâm được chỉ ra từ giới kiến trúc cho việc khôi phục kiến trúc Thiên chúa giáo sơ kỳ.
Sự chấp nhận của Công đồng dành cho phong cách gắn với thời đại và bác bỏ việc hạn chế đối với bất kỳ một phong cách cụ thể nào, có thể được xem như việc thận trọng mở ra cánh cửa đi đến chủ nghĩa Hiện đại. Vào lúc này giới kiến trúc đã hoàn toàn cắt đứt với truyền thống lịch sử của nó, như bước vào một cơn lũ. Một ít kiến trúc sư và nhà thiết kế như Anders Sovik, Frank Kaczmarcik, và Robert Hovda đã cố gắng theo bước Schwarz và Couturier, minh chứng cho một nền kiến trúc hiện đại thấm đầy tinh thần thần học Thiên chúa giáo. Việc đặt cơ sở một phần trên những tìm tòi về các nhà nghiên cứu nghi lễ, Jungmann, Bouyer, và những người khác, họ đã thăng tiến một loại công trình “phi nhà thờ” nhấn mạnh đến công năng hội họp, không theo khuynh hướng thứ bậc, các nhân tố cố định, tức là loại ngôn ngữ kiến trúc truyền thống.
Sự bác bỏ của các kiến trúc sư này đối với phần lớn nghi lễ và kiến trúc Thiên chúa giáo đã sánh đôi cùng sự cổ súy của họ cho một nền mỹ thuật trừu tượng, dường như là để rửa tội, chứng thực, và xe duyên chủ nghĩa Hiện đại với Nhà thờ.
Những nguyên tắc về “không gian” nghi lễ hiện đại sau đó đã được thể hiện trong văn kiện năm 1978 về Phụng vụ của Hội đồng Giám mục, “Môi trường và Nghệ thuật trong Thờ phụng của Công giáo”, thực chất chính là nguyên lý bài thánh tượng của chủ nghĩa Hiện đại những năm 1920.
“Giải kết cấu”[11] đối với chủ nghĩa Hiện đại
Thật trớ trêu, cùng lúc mà Giáo hội Công giáo hoà giải với chủ nghĩa Hiện đại vào đầu những năm 1960, giới kiến trúc đã chứng kiến sự khởi đầu một một loạt những phê phán đối với Chủ nghĩa Hiện đại.
Các kiến trúc sư Robert Venturi (1925-), Louis Kahn (1901-1974), và Charles Moore (1925-1993), trong những công trình và bài viết của họ đã đề xướng một phong cách kiến trúc vừa mới vừa cũ, mang nét ký ức, biểu tượng, và hàm nghĩa. Chúng xuất hiện khắp nơi, và được biết đến như là trào lưu “Hậu hiện đại”. Chúng cũng truyền cảm hứng vào công trình của phần lớn các kiến trúc sư khác, như John Burgee, Michael Graves, Allan Greenberg, Philip Johnson, Thomas Gordon Smith, và Robert Stern, là những người luôn sẵn lòng theo đuổi những dự án đô thị nhân văn và tính đa dạng của phong cách kiến trúc.
Trong khi tiếp tục trung thành với phong cách hiện đại chủ nghĩa, nhiều quan niệm triết học đã bị đặt vấn đề và phê phán. Khuynh hướng bảo tồn, các kiến trúc sư “sám hối”, cùng với các sử gia về kiến trúc và những tai họa về kết cấu, đã phơi bày giới hạn và sai lầm của chủ nghĩa Hiện đại.
Về phía bên kia, giới thiết kế theo nghi lễ, họ chỉ vừa vặn thừa nhận những phê phán đối với chủ nghĩa Hiện đại và tiếp tục tạo cơ hội hồi phục phong cách này, hay thậm chí “giải kết cấu” các công trình kiến trúc nhà thờ, như đã được chứng kiến trong hai cuộc thi quốc tế gần đây, một là cho nhà thờ mới ở Rome, và một là cho Thánh đường Los Angeles.
Một truyền thống của tinh thần Sức sống - quay về với tương lai
Trong khi hầu hết các kiến trúc sư được đào tạo từ chiến tranh thế giới II chỉ có một nền tảng giới hạn về kiến trúc cổ-trung đại, thì đã có sự gia tăng chưa từng có trên khắp thế giới những kiến trúc sư sử dụng ngôn ngữ mỹ thuật truyền thống, cũng như một số trường phái kiến trúc hướng đến việc lấy tinh thần vị nhân sinh thay cho chủ nghĩa Hiện đại.
Cảm hứng to lớn truyền cho các kiến trúc sư, giới chăn chiên và người thế tục là các chương trong Giáo lý vấn đáp của Giáo hội Công giáo, về giáo huấn của Giáo hội Hoàn vũ đối với những biểu trưng, hình ảnh, và nhà thờ với tư cách một biểu tượng nhìn thấy của ngôi nhà của đức Chúa cha.
Trong những thập niên gần đây, ta đã thấy một lượng lớn các nhà thờ Công giáo mới xây hay được sửa chữa mới đã thể hiện những mục tiêu này, và cũng là mục đích của Vatican II, thông qua việc phục hồi những biểu trưng, biểu tượng, và các hình thể. Những điều này được thể hiện ở công trình sửa mới Nhà thờ St. Mary ở New Haven, công trình cải tạo Thánh đường Madeleine ở Salt Lake City, Giáo xứ San Juan Capistrano ở California, Nhà thờ Đức mẹ ở New Jersey, Nhà thờ St. Agnes ở New York, và Thánh đường Brentwood ở Anh.
Các công trình này, cùng với những công trình khác, cho thấy tương lai của kiến trúc Công giáo sẽ vượt qua những giới hạn chật hẹp của mỹ thuật hiện đại chủ nghĩa, để mở rộng đến truyền thống sức sống[12] của một nền kiến trúc thiên về sự thiêng liêng.
*
Duncan Stroik là Trưởng khoa Kiến trúc thuộc Đại học Notre Dame, người sáng lập Tạp chí Sacred Architecture.
[1] Sacrosanctum Concilium: Thánh chế phụng vụ: văn kiện của Công đồng Vatican II (1962-1965), ban hành năm 1963, quy định các vấn đề thuộc phạm vi nghi lễ và thờ phụng. Các phân đoạn 122-130 nói về mỹ thuật và bày trí.
[2] Learjet: hãng hàng không dân dụng và quân dụng Mỹ-Thụy Sĩ, thành lập từ cuối những năm 1950.
[3] Chức năng luận (Functionalism): quan niệm nhấn mạnh đến tính tiện ích hay mục đích của một đối tượng được đề cập.
[4] Phái Nhất thể (Unitarianism): một phái Tân giáo nhấn mạnh đến sự tự do cá nhân trong niềm tin và bác bỏ quan niệm Chúa ba ngôi.
[5] Thiên Chúa giáo Khoa học (Christian Science): một phái Tân giáo ở Mỹ, do Mare Baker Eddy sáng lập năm 1886, nhấn mạnh đến sự điều giải/ điều trị trong tinh thần con người.
[6] “Thầy (Louis Sullivan) quý mến”.
[7] Liên hiệp Nhà thờ Giám lý (United Methodist Church): hiệp hội của phái Tân giáo Giám lý (Methodism). Giáo phái này do John Wesley (1703-1791) sáng lập, chủ trương rằng niềm tin và việc thực hành giáo lý là có liên quan đến các phúc lợi xã hội và đạo đức cộng đồng.
[8] Trường phái thể hiện cảm xúc / Cảm xúc luận (Expressionism): khuynh hướng nghệ thuật đầu thế kỷ XX, chủ trương rằng người nghệ sỹ cần/ phải được thể hiện xúc cảm nội tâm, những trải nghiệm sống của chính mình.
[9] Vị (tương) lai (Futurism): khuynh hướng nghệ thuật ở Italy những năm 1910, cố gắng thể hiện sức mạnh và những giá trị của thời đại máy móc.
[10] Trường phái kiến trúc Đức, do Walter Gropius sáng lập năm 1918, khởi nguồn cho chủ nghĩa Hiện đại trong kiến trúc.
[11] Tháng Mười 2004, sau loạt bài nhân việc Derrida qua đời, tại talawas đã có một cuộc trao đổi về cách dịch “Deconstruction”. Do Derrida đã không có một định nghĩa chính thức cho khái niệm này, nên việc viện dẫn những tài liệu hay cách hiểu nào đó làm cơ sở cho từ Việt tương ứng dường như cũng điều có thể có lý, xét theo khía cạnh đó. “Giải cấu trúc”, “Giải kiến tạo” hay “Hủy tạo”…, xin để thống nhất sau vậy; ở đây, trên bình diện kiến trúc, tôi xin chọn từ “Giải kết cấu” vì nó có vẻ thích hợp hơn cả.
[12] Thuyết sức sống (Vitalism): học thuyết cho rằng cuộc sống có một sức sống sinh động, khác hẳn “đời sống” vật lý và hóa học.
Ở đây, khi nhắc đến thuyết này, tác giả muốn nói rằng chủ nghĩa Hiện đại do nhấn mạnh đến tính máy móc của thời đại, đã làm khô cứng kiến trúc nhà thờ. Và tương lai của kiến trúc nhà thờ chính là hướng đến một tương lai “mang tính quá khứ”. Điều này có nghĩa là trong khi phát triển tính hiện đại, sẽ trở về kết hợp với những gì được cho là sống động, mang những ý nghĩa hồi ức, tâm linh, thiêng liêng đã thể hiện trong kiến trúc nhà thờ như trước khi có chủ nghĩa Hiện đại.

