Sunday, 16. December 2007, 13:03:38
Trường Sa, Paracel Islands, Hoàng Sa, Spratly Islands
...
Liên kết:
Vietnam asserts sovereignty over Paracel Islands and Spratly Islands
Trung Quốc và thủ đoạn chiếm đoạt Hoàng Sa, Trường Sa: Phần 1: Những chứng tích lịch sử,
Phần 2: Những thủ đoạn bẩn thỉu của Bắc Kinh,
Phần 3: Hãy cảnh giác với bá quyền Trung Quốc
Quần đảo Hoàng Sa ở vào khoảng giữa vĩ tuyến 16° – 17° và kinh tuyến 111° – 113° đông, cách Huế khoảng 490 km và Yulin (Du Lâm), hải cảng phía nam của đảo Hải Nam khoảng 350 km.
Toàn thể quần đảo Hoàng Sa có diện tích khoảng 15.000 km², gồm trên 30 đảo nhỏ và những hòn đá nhô khỏi mặt nước, chia ra làm hai nhóm chính: Nhóm Đông (Amphitrite) mà đảo lớn nhất là đảo Phú Lâm (Woody Island), dài không quá 4 km, rộng khoảng 2 hay 3 km; và Nhóm Tây (Crescent) mà đảo lớn nhất mang tên Hoàng Sa (Pattle Island), diện tích khoảng 0,3 km². Đảo Phú Lâm cách đảo Hoàng Sa khoảng 87 km.
Quần đảo Trường Sa ở vào khoảng vĩ tuyến 12° bắc và kinh tuyến 111° đông, cách bờ biển Việt Nam khoảng 400 km, cách Philippin khoảng 300 km và cách Trung Quốc khoảng 1.500 km.
Toàn thể quần đảo Trường Sa có diện tích khoảng 160.000 km², gồm trên 100 đảo và những hòn đá nhô lên mặt biển, trong đó có khoảng 26 đảo hoặc đá chính.
Người dân Việt Nam đã phát hiện ra các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu đời. Những tài liệu lịch sử để lại đã chứng minh quan hệ chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo này ít ra là từ thời Chúa Nguyễn, vào thế kỷ thứ XVII.
Cho đến ngày bị Pháp đô hộ, các triều đại kế tiếp trị vì nước Việt Nam đã thực sự nắm chủ quyền trên hai quần đảo này mà không có nước nào cạnh tranh và coi các hải đảo này hoàn toàn thuộc lãnh thổ của nước ta.
Mãi đến đầu thế kỷ XX, năm 1909, trước sự đe doạ của chủ nghĩa bành trướng Nhật Bản, Trung Hoa mới bắt đầu chú ý tới quần đảo Hoàng Sa và sau này, trong những năm 1928, 1932, biểu hiện ý đồ tranh giành chủ quyền với chính quyền bảo hộ Pháp - chỉ biểu hiện ý đồ chứ không có hành động chiếm hữu thực sự.
Cũng cần nhấn mạnh là hồi đó, cho đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất, đòi hỏi của Trung Quốc chỉ nhằm vào quần đảo Hoàng Sa chứ không đả động đến quần đảo Trường Sa.
Trong suốt thời kỳ Pháp thuộc, với tư cách là quốc gia kế thừa, Pháp không hề khước từ chủ quyền trên hai quần đảo, tiếp tục khẳng định quan hệ chủ quyền và phản đối những yêu sách của Trung Quốc.
Trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đã chiếm các hải đảo trên dãy Hoàng Sa và Trường Sa để làm căn cứ quân sự.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, lợi dụng danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật Bản, năm 1947, quân đội Tưởng Giới Thạch đổ bộ lên đảo Phú Lâm (thuộc Nhóm Đông của quần đảo Hoàng Sa) và đảo Ba Bình (Itu Aba) của quần đảo Trường Sa, trong khi đó, quần đảo Pháp đóng ở đảo Hoàng Sa (thuộc Nhóm Tây của quần đảo Hoàng Sa) và một số đảo khác của quần đảo Trường Sa.
Chính phủ Bảo Đại chính thức thay thế Pháp ở quần đảo Hoàng Sa năm 1950 và chính quyền Ngô Đình Diệm ở quần đảo Trường Sa năm 1956.
Sau khi chiến thắng ở lục địa, chính quyền Bắc Kinh thay thế quân đội Quốc dân đảng Trung Hoa ở đảo Phú Lâm (thuộc quần đảo Hoàng Sa) năm 1956, trong khi đó Đài Loan vẫn tiếp tục thường xuyên có mặt ở đảo Ba Bình (thuộc quần đảo Trường Sa).
Năm 1974, quân đội Bắc Kinh đã sử dụng vũ lực, loại quân đội của chính quyền Việt Nam Cộng hoà ra khỏi quần đảo Hoàng Sa, và năm 1988, đổ bộ lên một số hòn đảo của quần đảo Trường Sa.
I. LUẬN ĐIỂM PHÁP LÝ CỦA TRUNG QUỐC
Trong tranh chấp chủ quyền hải đảo với Việt Nam, phía Trung Quốc đã đưa ra những căn cứ pháp lý gì?[2]
Trước tiên, cũng cần nói rõ là, lập trường của chính phủ Bắc Kinh và của chính quyền Đài Loan không khác nhau. Chính phủ Trung Quốc lặp lại những lập luận đã được chính quyền Tưởng Giới Thạch sử dụng trước kia.
1. Bằng chứng lịch sử
Trong khi đòi hỏi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc luôn luôn khẳng định rằng các hải đảo này là đất đai của họ đã từ lâu đời. Nói khác đi, Trung Quốc có danh nghĩa thụ đắc chủ quyền (titre d’acquisition) trước Việt Nam.
Để chứng minh, nhà cầm quyền Trung Quốc viện dẫn nhiều tác phẩm lịch sử, tài liệu địa lý, di vật khảo cổ v.v.., trong đó có những tài liệu từ đời Tam Quốc, đời nhà Tống, đời nhà Nguyên, nhà Thanh. Tuy nhiên, những tài liệu đó không những thiếu chính xác mà còn không chứng minh được quan hệ chủ quyền của nhà nước Trung Quốc đối với hai quần đảo.
Qua những tường thuật của các tác giả, người ta không rõ những hải đảo được kể ra có thuộc hai quần đảo Hoàng Sa hoặc Trường Sa hay không, hay chỉ là những đảo kế cận đảo Hải Nam, bởi vì những hải đảo đó mang nhiều tên khác nhau và địa điểm so với bờ biển cũng không rõ.
Những tài liệu ấy đôi khi trái ngược với nhiều nguồn tài liệu địa dư khác của chính Trung Quốc, mô tả vương vực phía nam Trung Quốc chấm dứt bởi đảo Hải Nam.
Ngay cả những tài liệu nói tới một số sự kiện lịch sử tương đối rõ hơn để chứng minh một số biểu hiện chủ quyền như
• Cuốn sách của Vũ Kinh Tổng Yếu về chính sách quốc phòng đời Tống, có lời đề tựa của vua Tống Nhân Tông (1023-1053) nói đến cái gọi là việc tuần binh hải quân từ Quảng Đông tới Hoàng Sa!
• Việc vua nhà Nguyên (thế kỷ XIII) ra lệnh cho một nhà thiên văn nổi tiếng là Quách Tử Kính đo thiên văn ở trên lục địa Trung Quốc và cả trên bốn bể, nghĩa là hàm ý trên cả các đảo thuộc Hoàng Sa!
• Cuộc viễn chinh do Sử Bật chỉ huy đi đánh Giava năm 1293 có ghi trong Nguyên sử, đặt cả vùng Hoàng Sa dưới sự tuần binh!
• Việc tướng Ngô Thăng thuộc triều Thanh, chỉ huy tuần binh các vùng biển trong thời gian 1710 – 1712 được diễn dịch ra là bao gồm cả vùng Hoàng Sa v.v.!
cũng chỉ xác nhận Trung Quốc biết sự hiện hữu của quần đảo Hoàng Sa thôi chứ không minh chứng được sự chiếm hữu, bởi vì những tài liệu đó quá rời rạc, lẻ tẻ, hơn nữa rất mập mờ, nếu không nói là hoàn toàn thiếu cơ sở nghiêm túc.
Dẫu sao, tất cả các tài liệu do Trung Quốc đưa ra chỉ dẫn chứng sự phát hiện hải đảo.
Thế nhưng, theo luật quốc tế, những phát hiện hoặc kiến thức về địa dư, kể cả sự lui tới của những dân chài lưới trên hải đảo, chưa phải là một yếu tố đủ để chứng minh quan hệ về chủ quyền trên đất đai khám phá ra.
Muốn cho sự phát hiện có một hiệu quả pháp lý, nó phải được tiếp theo bằng một sự chiếm hữu thực sự (occupation effective) kèm theo một ý chí biểu hiện chủ quyền bằng những hành vi của một cơ quan quyền lực nhà nước tối cao chứ không chỉ đơn thuần là một hành động tư nhân.
Trái với Trung Quốc, Việt Nam đã đưa ra nhiều chứng cớ lịch sử chứng minh một cách vững chắc rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu đã thuộc đất đai của mình.
Ban đầu, các quần đảo có tên nôm là Bãi Cát Vàng. Theo ông Lưu Văn Lợi, tên Cát Vàng có ghi trên bản đồ của Đỗ Bá Công Đạo và tác giả người Anh Gutzlaff trong một bài đăng trên tạp chí Hội Địa dư Luân Đôn năm 1849 nhan đề Địa dư của Triều đại Nam Kỳ cũng gọi là Katvàng.[3]
Những tài liệu lịch sử của Việt Nam đã ghi chép về các hải đảo này từ đời Lê Thánh Tông (cuối thế kỷ XV). Bản đồ thời Hồng Đức thế kỷ XVII cũng có ghi.
Phía Việt Nam không những đưa ra các tài liệu về sự phát hiện đất đai và hiểu biết về địa lý, mà còn chứng minh rằng nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu và quản lý hành chính thực sự hai quần đảo ấy.
Tài liệu đầu tiên xác nhận chủ quyền Việt Nam là tác phẩm “Tuyển tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ đồ thư” của Đỗ Bá, viết vào thế kỷ XVII.[4] Tiếp theo là tác phẩm Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn năm 1776.
Trong sách này, sử gia Việt Nam có ghi rõ địa điểm của đảo Hoàng Sa (đi đường biển 3 ngày, 3 đêm), sự khai thác do nhà nước tổ chức và số lượng kim khí thu lượm được từng năm (1704, 1705, 1709, 1713, v.v.).
Theo Lê Quý Đôn, Chúa Nguyễn lập ra một công ty nhà nước gọi là “Công ty Hoàng Sa” với chức năng ra các hải đảo này khai thác hải sản và thu lượm hàng hoá do các tàu ngoại quốc bị đắm bỏ lại từ đầu thế kỷ XVIII.
Năm 1821, Phan Huy Chú đã dành một chương dài trong bộ Lịch triều hiến chương loại chí nói về quần đảo Hoàng Sa (địa lý, tài nguyên, tổ chức Công ty Hoàng Sa…).
Các bản đồ hoặc các tác phẩm địa dư xuất bản năm 1774, 1838, 1882 (Giáp Ngọ Bình Nam đồ, Đại Nam nhất thống toàn đồ, Đại Nam nhất thống chí) ghi chú các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam.
Sự cai trị thực sự các quần đảo cũng được nói rõ trong các bộ sử như:
*Đại Nam thực lục (1821 – 1844)
*Đại Nam thực lục tiền biên (1600 – 1775)
*Đại Nam thực lục chính biên
*Đại Nam nhất thống chí (1865 – 1882)
*Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ (1843 – 1851)
Đầu thế kỷ XIX, các triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức tiếp tục củng cố chủ quyền trên các hải đảo.
Vua Gia Long đặc trách Công ty Hoàng Sa ra các đảo thăm dò đường hàng hải, thi hành công tác vẽ bản đồ.
Năm 1833, vua Minh Mệnh cho dựng một ngôi đền, một bia và trồng cây xanh làm dấu cho các tàu bè dễ nhận ra đảo, tránh bị đắm tàu.
Năm 1836, vua Minh Mệnh ra lệnh cho đô đốc hải quân đóng cột gỗ, có khắc dấu những nơi đã thanh tra:
“năm thứ 17 thời Minh Mệnh, vâng lệnh nhà vua, đô đốc Phan Hữu Nhật tới Hoàng Sa để xem xét và ghi chú địa hình và đóng cột mốc để đánh dấu sự kiện”.
Những tài liệu lịch sử nói trên cũng như tính xác thực của chúng đã được các tác giả nước ngoài nhìn nhận.
Do đó, có thể nói rằng, liên tục từ đầu thế kỷ XVIII cho đến thời kỳ là thuộc địa của Pháp, qua hoạt động chiếm hữu của cơ quan quyền lực tối cao của nhà nước mà không gặp sự phản đối của nước nào, nhất là Trung Quốc, Việt Nam đã thụ đắc chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thể theo đúng những quy tắc của luật quốc tế hiện hành hồi đó.
Tuy sử Việt Nam (Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ, 1843-1851) khẳng định: “quần đảo Hoàng Sa hoàn toàn thuộc đất đai hàng hải của nước ta và giữ một vai trò chiến lược to lớn”, sự thực chủ quyền nói ở đây bao gồm một vùng rộng hơn là vùng Hoàng Sa.
Những sách địa dư Việt Nam viết thời kỳ thế kỷ XIX (nhất là Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú năm 1821 và Đại Nam nhất thống chí, 1865-1882) đưa ra con số 130 hòn đảo.
Con số này dĩ nhiên không phù hợp với số đảo hiện nay thống kê ở quần đảo Hoàng Sa một cách riêng rẽ (30 đảo). Trái lại, nó đúng là tổng số đảo của cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hợp lại.
Ngoài ra, các sử liệu của Việt Nam nói rõ có nhiều công ty có địa bàn hoạt động riêng biệt. Một trong những công ty lập ra vào thế kỷ XIX mang tên Bắc Hải, là tên bấy giờ của quần đảo Trường Sa, tên chung cho cả Việt Nam lẫn Trung Quốc.
Giả thuyết này cũng được chứng minh bằng bản đồ do thời Minh Mệnh năm thứ 14 lập ra có ghi chú hai quần đảo riêng với tên riêng.
Trung Quốc không những không đưa ra được những chứng cớ lịch sử về liên hệ chủ quyền với hai quần đảo mà còn không đưa ra được dấu vết nào chứng tỏ sự phản đối của Trung Quốc về sự thụ đắc chủ quyền của các vua chúa Việt Nam trong suốt thế kỷ XVIII và nhất là thế kỷ XIX khi các triều vua Việt Nam tổ chức việc khai thác có hệ thống các quần đảo dưới quyền tài phán của mình.
Tóm lại, cho tới thời kỳ Pháp đô hộ Việt Nam, với hiệp ước bảo hộ năm 1884, ta có thể kết luận như Monique Chemillier – Gendreau:
“Việt Nam đã giữ chủ quyền không có cạnh tranh trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, phù hợp với hệ thống pháp lý của thời ấy, suốt trong gần hai thế kỷ”[5].
Tuy nhiên, danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam bước vào một thời kỳ mới trong đó chủ quyền Việt Nam bị ảnh hưởng bởi sự đô hộ của chế độ thuộc địa, rồi trải qua Chiến tranh thế giới thứ hai và hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, với sự chia cắt đất nước thành hai miền, dưới hai chế độ chính trị khác nhau.
Qua những thử thách ấy, trong tình hình hết sức phức tạp đó, với những sự kế thừa quốc gia trên phương diện quốc tế, danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam có thể bị sứt mẻ hay mất đi không, nói cách khác, quyền thụ đắc chủ quyền có bị thời hiệu không.
Ta sẽ thấy, nếu sự thụ đắc chủ quyền không bị thời hiệu (prescription acquisitive) thì cũng bị đe doạ một cách trầm trọng, nhất là khi Việt Nam hoàn toàn bị loại ra khỏi quần đảo Hoàng Sa kể từ năm 1974.
2. Quan hệ giữa hoàng đế và vua nước chư hầu
Như trên đã nói, Trung Quốc hoàn toàn không quan tâm đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong suốt hai thế kỷ XVIII và XIX.
Sau khi Pháp thiết lập sự đô hộ trên nước Việt Nam, lần đầu tiên Trung Quốc biểu hiện sự quan tâm đến quần đảo Hoàng Sa là năm 1909.
Trước sự đe doạ của Nhật Bản có ý tranh giành chủ quyền trên đảo Pratas thuộc lãnh thổ Trung Quốc, ở phía đông bắc Hoàng Sa, nhà cầm quyền Lưỡng Quảng muốn đi một bước trước Nhật Bản trên đảo Hoàng Sa.
Tháng 4 năm 1909, chính quyền Trung Quốc đã cho xúc tiến một cuộc thăm dò quần đảo Hoàng Sa. Báo cáo về cuộc thăm dò của sĩ quan hải quân Trung Quốc chứng tỏ cho đến lúc đó chính quyền Trung Quốc hoàn toàn không hề biết địa điểm chính xác của các hải đảo.
Phái đoàn thăm dò đã cắm cờ Trung Quốc trên đảo để biểu dương sự hiện diện của Trung Quốc.
Tuy nhiên, động tác tượng trưng trên không được nối tiếp bằng một sự chiếm hữu thực sự cũng như một ý chí biểu hiện chủ quyền của một quyền lực tối cao (nhà cầm quyền Lưỡng Quảng chỉ là một chính quyền địa phương), nhất là luật quốc tế sau Định ước Berlin 1885 đã quy định những điều kiện khắt khe hơn về sự thụ đắc chủ quyền trên một vùng đất đai.
Mãi đến năm 1928, thấy có viễn tượng khai thác tài nguyên, Trung Quốc lại nhòm ngó quần đảo Hoàng Sa, thành lập một uỷ ban thanh tra các đảo Hoàng Sa, thảo ra một báo cáo với dự định khai thác tài nguyên trên các đảo. Và tiếp theo đó, năm 1932, dự định cho đấu thầu việc khai thác phân chim ở Hoàng Sa.
Chính phủ Pháp, với tư cách đại diện triều đình Huế, đã phản đối, khẳng định liên hệ chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và đề nghị đưa ra trọng tài phân xử nhưng Trung Quốc từ chối đề nghị của Pháp. Có lẽ vì họ không có một cơ sở pháp lý vững chắc.
Trước những chứng cớ lịch sử chính xác về văn tự chủ quyền của triều đình Huế, phía Trung Quốc đã đưa ra lập luận khác, dựa trên ý niệm chư hầu. Trong một văn thư gửi Bộ Ngoại giao Pháp ngày 29-9-1932, Trung Quốc cho rằng vua Việt Nam, với tư cách là một chư hầu đã hoạt động mệnh danh hoàng đế Trung Quốc. Những hành động ấy chỉ “xác định chủ quyền Trung Quốc trên những đảo không thuộc Việt Nam”!
Chúng ta biết rằng quan hệ chư hầu giữa các triều vua Việt Nam và hoàng đế Trung Hoa là một quan hệ phức tạp, vừa có tính cách ngoại giao vừa có tính cách văn hoá, nước chư hầu nhìn nhận mình nằm trong vùng ảnh hưởng văn hoá của văn minh Trung Quốc. Nó thể hiện qua việc gửi sứ giả sang cầu cống hoàng đế Trung Hoa, kèm theo những lễ vật, đặc sản địa phương quý giá vào các thời điểm khác nhau, hoặc hàng năm hoặc khi có sự thay đổi ngôi vua hoặc vào dịp kế thừa triều đại hoặc sau một cuộc chiến tranh giành độc lập để bình thường hoá quan hệ ngoại giao, nhất là để xoa dịu thể hiện của một nước láng giềng khổng lồ mới bị bại trận.
Như F. Joyaux đã nhận định “triều đình Việt cần sự thụ phong Trung Hoa để được kính nể, cũng như một quốc gia tân tiến ngày nay không thể tránh khỏi sự thừa nhận quốc tế để đứng vững. Vả lại, đứng về quan điểm Trung Hoa, ý tưởng có hai dân tộc khác nhau là không thoả đáng. Đúng ra nên thay thế nó bằng hai thế giới tiếp cận: văn minh và không văn minh. Thế giới văn minh, nghĩa là Khổng giáo, có tôn ti đối với hoàng đế (mà chúng ta gọi là hoàng đế Trung Hoa), để được tham gia vào thế giới này mà nước Đại Việt là một thành viên bởi vì sử dụng chữ viết Trung Hoa và tôn trọng những nghi lễ Trung Hoa, biểu hiện của nền văn minh, không có con đường nào khác là chịu làm chư hầu của hoàng đế. Nghĩa là sự cầu cống, thực ra bao hàm một hệ thống quan hệ hết sức phức tạp. Đối với Trung Quốc, nó phản ánh một sự phụ thuộc tối đa trong đó Trung Quốc có thể hy vọng giữ được nước Đại Việt mà không gây ra phản ứng “đế quốc” từ nước này. Đối với nước Đại Việt, ngược lại, phản ánh sự độc lập tối đa của mình mà không gây ra phản ứng đế quốc của Trung Quốc. Trong trường hợp này, cũng như trường hợp kia, bởi bản chất Khổng giáo của hai quốc gia, sự cầu cống, ít ra chứng tỏ sự chia sẻ chung một hệ thống giá trị”.[6]
Nhưng nghĩa vụ kính nể của triều đình Huế đối với nhà Thanh chỉ có tính cách thuần hình thức. Đây không phải là một quan hệ lệ thuộc.
Lập luận của Trung Quốc về chư hầu không có một giá trị pháp lý nào.
Một án lệ quốc tế, vụ tranh chấp chủ quyền các đảo Minquires và Ecréhous trên biển Manche, có thể đem ra áp dụng ở đây.
Trong vụ này, Pháp cho rằng mình có chủ quyền nguyên thuỷ bởi lẽ các công tước vùng Normandie là chư hầu của vua Pháp. Anh quốc cho rằng tước quyền của vua Pháp trên vùng Normandie chỉ đơn thuần có tính cách hình thức.
Toà án Quốc tế đã bác bỏ đòi hỏi của Pháp, cho rằng nếu vua Pháp có văn tự phong kiến nguyên thuỷ trên những hòn đảo của biển Manche, văn tự đó liên quan tới một thời phong kiến xa xôi, đã chấm dứt từ năm 1024.[7]
Thế mà quan hệ chư hầu của Việt Nam đối với Trung Quốc còn lỏng lẻo hơn quan hệ giữa công tước miền Normandie đối với vua nước Pháp.
3. Hiệp uớc Pháp – Thanh 26-6-1887
Trong văn thư nói trên, chính phủ Trung Hoa đưa ra một luận cứ thứ hai dựa vào Hiệp ước Pháp – Thanh ký ở Bắc Kinh ngày 26-6-1887, phân chia biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ (miền Bắc Việt Nam).
Theo Điều 3 của bản Hiệp ước, những điểm tranh chấp ở vào phía đông và đông bắc của Móng Cái, ở bên kia đường biên giới do Uỷ ban phân chia biên giới ấn định, thuộc về Trung Quốc. Các hòn đảo ở phía đông kinh tuyến Paris, 105043’ kinh tuyến đông – nghĩa là con đường biên giới bắc nam đi qua mũi phía đông (la pointe orientale) của hòn đảo Trà Cổ - thuộc về Trung Quốc, và các đảo ở phía tây của kinh tuyến ấy thuộc về Việt Nam.
Nói khác đi, Trung Quốc cho rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở về phía đông của ranh giới ấy thuộc về Trung Quốc.
Tuy nhiên, mục đích của Hiệp ước 1887 là phân định biên giới giữa Bắc Kỳ (miền Bắc Việt Nam) và Trung Quốc. Hiệp ước chủ yếu liên quan đến đất liền. Nó chỉ có mục đích phụ để giải quyết những đảo nhỏ không quan trọng ở gần bờ biển nhất, mà không cần phải chỉ định rõ tên.
Hiệp ước cũng chỉ định rõ điểm khởi đầu của con đường phân chia ranh giới đi qua mũi đông của đảo Trà Cổ mà không chỉ điểm cuối bởi vì bề dài của nó tuỳ sự hiện hữu của những đảo gần bờ biển.
Nếu theo cách giải thích của Trung Quốc để kéo dài đường ranh giới tới giao điểm với bờ biển Trung Kỳ (miền trung Việt Nam) thì tất cả các đảo ở phía Nam của Huế đều thuộc chủ quyền của Trung Quốc!
Công ước Vienne ngày 29-6-1969 điển pháp hoá những quy tắc giải thích các hiệp ước quốc tế nhấn mạnh vào vai trò của thiện ý trong việc giải thích và vào sự cần thiết giải thích các văn bản theo nghĩa thông thường của các từ và dưới ánh sáng của mục đích và đối tượng của hiệp ước (Điều 31). Điều 32 cho phép xem xét những công trình sửa soạn hiệp ước và những bối cảnh mà hiệp ước đã được ký kết.
Mà mối quan tâm khi ký Hiệp ước 1887 khi đó giữa Pháp và Trung Quốc là vấn đề thương mại. Lúc đó cả hai bên không ai nghĩ tới các quần đảo.
4. Cái gọi là sự “khước từ chủ quyền” của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Trung Quốc đưa ra ba sự kiện sau đây để khẳng định cái gọi là Việt Nam đã “khước từ chủ quyền” trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:
• Ngày 15-6-1956, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp đại sứ quán Trung Quốc hình như đã khẳng định rằng: “theo những tài liệu lịch sử của phía Việt Nam thì những đảo thuộc Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc”.
Lời tuyên bố này có được xác nhận không?
Đây là một tuyên bố miệng hay có ghi trong biên bản?
Những câu hỏi này cho đến nay không có câu trả lời, do đó, khó có thể cho nó một giá trị về phương diện pháp lý.
• Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngày 14-9-1958 nhân dịp Trung Quốc công bố quyết định ngày 04-9-1958 nới rộng vùng lãnh hải của họ ra 12 hải lý và chỉ định rõ là quyết định liên quan đến lãnh hải của lục địa Trung Quốc và tất cả các hải đảo thuộc Trung Quốc trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa.
Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ghi:
“Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt bể”.
• Cuối cùng, Trung Quốc cũng dựa trên một tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 09-5-1965 liên quan tới vùng chiến đấu của quân đội Hoa Kỳ theo đó Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hình như đã tố cáo rằng vùng này gồm “một phần lãnh hải Trung Hoa tiếp cận với một phần quần đảo Tây Sa”.
Trước hết, cần để ý là công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ ghi nhận và tôn trọng bề rộng lãnh hải mới 12 hải lý của Trung Quốc thôi chứ không đả động tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Dẫu sao, sau Hiệp định Genève, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ kiểm soát phần lãnh thổ trên vĩ tuyến 17, phần lãnh thổ miền Nam trong đó có các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lúc đó hoàn toàn do chính quyền Sài Gòn kiểm soát.
Do đó, lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có hiệu quả pháp lý về chủ quyền trên các hải đảo này.
Hơn nữa, các sự kiện nói trên đã xảy ra trong những bối cảnh chính trị và quân sự đặc biệt ở từng thời điểm.
Trước sự biểu dương lực lượng của Hạm đội 7 của Hoa Kỳ trên eo biển Đài Loan, sát gần biên giới Trung Quốc trong những năm cuối thập kỷ 50, có thể coi lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như một cử chỉ hỗ trợ Trung Quốc về mặt chính trị chống lại chính sách khiêu khích của Hoa Kỳ, bởi vì việc nới rộng lãnh hải từ 3 hải lý ra 12 hải lý nhằm mục đích đẩy lùi tàu chiến Hoa Kỳ ra xa ngoài biên giới hơn.[8]
Sau này, lời tuyên bố liên quan đến vùng chiến đấu cũng vậy, là lúc cuộc chiến tranh ở Việt Nam đang bước vào giai đoạn khẩn trương mới, với sự can thiệp quân sự trực tiếp của Hoa Kỳ và Việt Nam, bằng những trận tấn công ồ ạt của không quân và thuỷ quân, bằng sự đổ bộ của hàng trăm ngàn lính Mỹ. Một cuộc chiến tranh khốc liệt bắt đầu lan rộng ra cả hai miền Nam - Bắc. Tuy nhiên, trong tình hình quốc tế giữa thập kỷ 60, Hoa Kỳ tự kiềm chế chỉ can thiệp vào giới hạn lãnh thổ Việt Nam hay Đông Dương, chứ không dám xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc.
II. MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ LẬP TRƯỜNG PHÁP LÝ CỦA TRUNG QUỐC
1. Một sự vi phạm các nguyên tắc căn bản của luật quốc tế
Như đã trình bày ở trên, những lập luận của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý vững chắc, hoàn toàn trái với những quy tắc của công pháp quốc tế và những án lệ về thụ đắc chủ quyền trên đất đai.
Những hành động chiếm đóng các hải đảo bằng vũ lực là một sự vi phạm rõ ràng Hiến chương Liên hợp quốc mà Điều 2 đoạn 4 cấm sử dụng vũ lực để xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia.
Quyết nghị số 2625 ngày 24-10-1970 sau khi đã nhắc lại rằng mọi sự chiếm hữu đất đai là bất hợp pháp đã quy định: “mọi quốc gia có nghĩa vụ phải tránh sử dụng sự đe doạ hoặc sử dụng vũ lực để vi phạm biên giới quốc tế hiện hữu của một quốc gia khác, như một phương tiện để giải quyết những tranh chấp quốc tế, kể cả những tranh chấp về đất đai và những vấn đề liên quan đến biên giới của các quốc gia”.
Cho đến nay, vì đuối lý, Trung Quốc đã nhiều lần từ chối đề nghị giải quyết tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng trọng tài hoặc trước toà án quốc tế.
2. Luận cứ của Trung Quốc đưa ra trong vụ tranh chấp hoàn toàn mâu thuẫn với chính lập trường của Trung Quốc trước kia về luật quốc tế
2.1. Về sự phát hiện đất đai vô chủ
Trước kia Trung Quốc chỉ trích luật quốc tế cho rằng phương Tây đã dùng luật quốc tế như một khí cụ cho chủ nghĩa thực dân đế quốc.
Những quy tắc về thụ đắc đất đai dựa trên sự phát hiện đầu tiên những đất đai vô chủ trên thế giới, nhất là ở châu Mỹ, châu Phi, châu Úc v.v. không kể đến sự hiện hữu của dân bản xứ tại đây coi là “không văn minh”.
Tuy nhiên, những quy tắc nói trên là những quy tắc phát sinh từ thời kỳ đầu chủ nghĩa thuộc địa. Sau đó, những quy tắc của luật quốc tế về thụ đắc chủ quyền đã tiến hoá, quy định những điều kiện về sự chiếm hữu thực thụ và ý chí biểu hiện chủ quyền của cơ quan quyền lực tối cao của nhà nước đó.
Vậy mà Trung Quốc vẫn đơn thuần dựa vào sự phát hiện đất đai từ xưa, nghĩa là quy tắc lỗi thời của thời thực dân, để khẳng định quan hệ chủ quyền và coi như mình có danh nghĩa chủ quyền trước Việt Nam.
2.2. Về những hiệp ước ký kết trong thời kỳ thực dân
Vì chính Trung Quốc trước kia cũng đã là nạn nhân của chính sách thực dân của các cường quốc phương Tây tới xâu xé, cắt xén đất đai của mình (những hiệp ước thiết lập đặc quyền ngoại giao theo luật quốc tế phương Tây trong thời kỳ 1842-1860) nên khi thu hồi độc lập Trung Quốc không thừa nhận những hiệp ước gọi là “hiệp ước bất bình đẳng” do các cường quốc phương Tây áp đặt cho Trung Quốc.
Vậy mà Trung Quốc lại không ngần ngại lấy Hiệp ước Pháp - Thanh 1887 để làm cơ sở cho sự đòi hỏi chủ quyền của mình[9].
Hiệp ước này giống hệt những hiệp ước bất bình đẳng khác bởi vì nó được ký kết hai năm sau cuộc chiến tranh Pháp – Thanh giữa cường quốc Pháp và triều đình Trung Hoa yếu ớt thời đó.
Mục đích chính của Hiệp ước là xác nhận sự thôn tính và kiểm soát Đông Dương thuộc vùng ảnh hưởng của Trung Quốc trước kia.
2.3. Về sự hỗ trợ các nước tranh đấu cho độc lập tự do trong thế giới thứ ba
Trước kia Trung Quốc tự cho mình là vô địch trong việc hỗ trợ các nước trong thế giới thứ ba đấu tranh giải phóng dân tộc. Thế mà trong tranh chấp với Việt Nam, Trung Quốc vẫn không ngần ngại đưa ra lập luận quan hệ hoàng đế - chư hầu để đòi hỏi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
3. Những biểu hiện của chủ nghĩa bành trướng hàng hải[10]
Ngày 25-02-1992, Trung Quốc công bố đạo luật về lãnh hải và vùng tiếp giáp. Điều 2 của đạo luật này đưa ra những yêu sách của Bắc Kinh ở biển phía nam và phía đông Trung Hoa, quy định: “Lãnh hải gồm vùng nước tiếp giáp với đất đai của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Đất đai của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa gồm đất đai trên lục địa và những đảo ngoài khơi, Đài Loan và những đảo phụ cận, kể cả đảo Shenkaku, đảo Pescadores, đảo Pratas, đảo Tây Sa (Hoàng Sa), Nam Sa (Trường Sa) và những đảo khác thuộc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa…”.[11]
Như vậy, Trung Quốc đã đặt đại bộ phận Biển Đông (khoảng 80%) dưới chủ quyền của mình, như chúng ta cũng thấy khi nhìn bản đồ.
Trung Quốc cố tình dùng những từ rất mù mờ về phương diện địa dư và pháp lý để chỉ các vùng biển cũng như biên giới hàng hải của mình, không rõ đường biên giới đưa ra là liên quan đến bề rộng của lãnh hải hay là liên quan đến vùng đặc quyền kinh tế.
Chúng ta biết rằng vùng biển Trung Quốc nhắm ở đây mà ta gọi là Biển Đông, đóng một vai trò hết sức quan trọng về mặt chiến lược, không những về phương diện quân sự mà cả về mặt giao thông hàng hải và hàng không trên mặt nước, cũng như về mặt kinh tế với tiềm năng khai thác hải sản, nhất là dầu lửa và khí đốt ở dưới thềm lục địa.
Cần biết rằng ¼ trọng lượng vận tải hàng hải quốc tế đi qua hai bên quần đảo Trường Sa.
Kiểm soát vùng này là kiểm soát tất cả những tàu bè chở hàng và năng lượng đi từ eo biển Malacca để sang Hồng Kông, Thượng Hải, Đài Loan, Nhật Bản, v.v..
Cũng cần biết thêm rằng 70% cung ứng dầu lửa của Nhật Bản được chở qua Biển Đông.
Tài nguyên dưới đáy biển cũng rất quan trọng, ước lượng hàng trăm tỷ tấn dầu.
Nắm chủ quyền trên vùng biển này, sẽ kiểm soát cả những vùng khai thác dầu khí quan trọng như:
- Nam Côn Sơn, Đại Hùng, Thanh Long, Tư Chính
- Natuna
- Malampaya, Camaga (Bắc Palawan)
- Jintan, Serai, Saderi ngoài khơi Sarawak,
Về phương diện pháp lý, chúng ta biết rằng Trung Quốc đã ký và mới đây đã phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc 1982 về luật biển.
Thế nhưng, theo Điều 121, khoản 3, nếu như Hoàng Sa và Trường Sa có thuộc chủ quyền Trung Quốc đi chăng nữa thì các quần đảo này vì chỉ gồm những hòn đảo diện tích nhỏ bé, khí hậu lại khắc nghiệt, con người không thể sinh cơ lập nghiệp ở đó, nghĩa là không có khả năng có một đời sống kinh tế tự túc, thì các đảo chỉ được nhìn nhận lãnh hải mà thôi chứ không có quyền có thềm lục địa hoặc vùng đặc quyền kinh tế riêng.
Hơn nữa, các quần đảo này vì ở xa bờ biển Trung Quốc quá 24 hải lý nên không thể ảnh hưởng tới sự phân định vùng lãnh hải của lục địa Trung Quốc được.
Do đó, đường biên giới hàng hải mà Trung Quốc yêu sách chủ quyền hoàn toàn vi phạm những điều khoản của Công ước Liên hợp quốc về luật biển.
Trắng trợn hơn nữa, tháng 5 năm 1992, Bắc Kinh cho phép Công ty Crestone của Mỹ thăm dò một vùng nhượng địa 24.155 km2 ở phía tây Trường Sa, ngay bên cạnh Đại Hùng. Đây là một vùng mà Trung Quốc gọi là Vạn An Bắc 21 và Việt Nam gọi là bãi đá ngầm Tư Chính, nằm trên thềm lục địa của Việt Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 300 km và cách đảo Hải Nam khoảng 1.000 km. Vùng này không thể thuộc thềm lục địa của Trường Sa được (ngay cả khi được nhìn nhận có thềm lục địa đi nữa) bởi vì nó đối diện với Trường Sa và bị ngăn cách nhau bằng một rãnh sâu từ 1.800 tới 2.000m[12].
Trước sự phản đối quyết liệt của Việt Nam, tháng 7 năm 1992, Trung Quốc đã cho thuỷ quân đổ bộ, như đã xảy ra năm 1988, lên một vài hòn đảo nữa và đóng mốc chủ quyền và trấn an Công ty Crestone của Mỹ về phương diện an ninh.
Những hành động của Trung Quốc vừa đề cập biểu hiện rõ ràng chủ nghĩa bành trướng hàng hải bất luận những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế.
Cũng không thể quên rằng, trong tranh chấp với Việt Nam trên các hải đảo, Trung Quốc luôn luôn lợi dụng những thời cơ thuận lợi để thực hiện mưu đồ bành trướng, như việc thay thế phát xít Nhật sau Chiến tranh thế giới thứ hai để chiếm đảo Phú Lâm ở quần đảo Hoàng Sa và Ba Đình ở quần đảo Trường Sa, rồi lợi dụng lúc tình hình cuộc chiến tranh ở Việt Nam đang khẩn trương năm 1974 để độc chiếm quần đảo Hoàng Sa, rồi đổ bộ lên quần đảo Trường Sa năm 1988 khi Việt Nam đang bị khó khăn về kinh tế, rồi lợi dụng khoảng trống chiến lược trong vùng Đông Nam Á, với sự rút lui của hải quân Liên Xô và của Hạm đội 7 của Mỹ sau thất bại ở Việt Nam để mưu toan kiểm soát Biển Đông.
4. Những nguy hại của chính sách “sự kiện đã rồi” và sự chiếm hữu kéo dài hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng vũ lực của Trung Quốc
Chính sách của Trung Quốc hiện nay là kéo dài tình hình “sự kiện đã rồi”, chống lại mọi đề nghị thương thuyết hay giải pháp giải quyết pháp lý qua trọng tài hoặc Toà án quốc tế, định những thời cơ thuận lợi để lấn tới, như Trung Quốc đã làm trong quá khứ.
Vấn đề đặt ra đối với Việt Nam hiện nay là làm sao giành lại được hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Chúng ta đã đấu tranh gần một thế kỷ để giành lại độc lập và thống nhất, nhưng phải nói rằng mục tiêu toàn vẹn lãnh thổ vẫn chưa đạt được khi nước ta còn bị mất quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa do ông cha ta để lại.
Chúng ta cũng không nên quên rằng diện tích của hai quần đảo, kể cả vùng lãnh hải 12 hải lý, lớn hơn quá nửa diện tích đất đai của Việt Nam.
Đây là sự mất mát lớn, mà chắc chắn là không thể lấy lại bằng vũ lực. Do đó, mặt trận ngoại giao và pháp lý rất quan trọng.
Theo luật quốc tế, mặc dù nước ta có danh nghĩa chủ quyền vững chắc và mặc dù Trung Quốc đã chiếm đóng đất đai của nước ta một cách bất hợp pháp nhưng nước ta cũng vẫn phải tiếp tục củng cố quan hệ chủ quyền của mình, và nhất là phải cảnh giác phản đối, lên án bất cứ những hoạt động nào của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền ấy, nếu không chủ quyền của nước ta sẽ bị thời hiệu hoá. Đó chính là điều mà Trung Quốc sẽ chờ đợi.
Mấu chốt của vấn đề chính là sự tương quan lực lượng. Hiện nay, toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa bị Trung Quốc chiếm, mà Trung Quốc là một cường quốc đang đi lên, kinh tế phát triển mạnh, bối cảnh quốc tế thuận lợi cho họ. Trong khi đó, nền kinh tế nước ta tuy đã mở cửa nhưng vẫn còn chập chững.
Cũng nên nhắc rằng, ý đồ của Trung Quốc thôn tính quần đảo Hoàng Sa từ gần một thế kỷ nay và cả đối với quần đảo Trường Sa từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay là nhất quán. Trung Quốc và Đài Loan cùng một lập trường thống nhất trong tranh chấp với nước ta. Trong khi đó, trong quá khứ chúng ta cũng có nhiều sơ hở do hoàn cảnh khách quan đem lại.
Việc cần làm hiện nay là xây dựng ý thức dân tộc về sự bảo vệ chủ quyền của nước ta trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng cách thông tin, giáo dục rộng rãi cho dân chúng và nhất là cho thế hệ trẻ, về vị trí chiến lược và kinh tế quan trọng của nó, về quan hệ chủ quyền của nước ta, v.v. như đã xây dựng ý thức dân tộc giành độc lập, thống nhất đất nước trước kia.
Đào Văn Thụy – Tạp chí Thời đại
Có bổ sung 1 số hình minh họa
*Tham luận đọc tại Hội Thảo Hè “Vấn Đề Tranh Chấp Biển Đông” tại New York City, ngày 15-16 tháng 8, 1998.
[1] Luật gia Paris.
[2] Về tranh chấp Hoàng Sa – Trường Sa, xem tác phẩm của giáo sư Pháp Monique Chemillier – Gendreau: La souveraineté les archipels Paracels et Spratleys, L’Harmattan, Paris, 1996. Về lập trường của Việt Nam, xem Lưu Văn Lợi: Cuộc tranh chấp Việt – Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1995.
[3] Lưu Văn Lợi, Sđd, tr. 27.
[4] Chi tiết xin xem bài của tiến sĩ luật Từ Đặng Minh Thu – B.T.
[5] Monique Chemillier – Gendreau, Sđd, tr. 78.
[6] François Joyaux: La Chine et le règlement de la première guerre d’Indochine, Ed. de la Sorbonne, 1979, p. 44-45.
[7] Vụ án các đảo Minquiers và Ecréhous, Toà án Quốc tế 17-11-1953.
[8] Lưu Văn Lợi, Sđd, tr. 64.
[9] Michael Bennett: Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và sự sử dụng luật quốc tế trong tranh chấp về quần đảo Trường Sa, Tạp chí luật quốc tế Standford, bộ 28, tr. 91 – 92.
[10] Virginie Raisson: Quần đảo Trường Sa, trung tâm những căng thẳng ở châu Á, quái dị của cuộc tranh chấp ở Biển Đông, Le Monde Diplomatique, tháng 3-1996; Henri Labrousse: Những tham vọng hàng hải của Trung Quốc, Tạp chí Quốc phòng, tháng 2 – 1994, tr. 331 và tiếp.
[11] Trong số những đảo nói trên, ngoài trường hợp Đài Loan, Hoàng Sa, Trường Sa, còn có tranh chấp chủ quyền trên các đảo Pescadores giữa Trung Quốc và Đài Loan, trên các đảo Shenkaku giữa Trung Quốc, Đài Loan và Nhật Bản. Chỉ có đảo Pratas là thuộc lãnh thổ Trung Quốc.
[12] Xem Brice M. Clagget: Những yêu sách đối kháng của Việt Nam và Trung Quốc ở khu bãi ngầm Tư Chính và Thanh Long trong Biển Đông, Tạp chí Dầu mỏ và khí đốt (Anh), số 10-11, 1995.
Sunday, 16. December 2007, 12:46:14
Trường Sa, Paracel Islands, Hoàng Sa, Spratly Islands
...
Liên kết:
Vietnam asserts sovereignty over Paracel Islands and Spratly Islands
Lập trường của Trung Quốc trong tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và luật quốc tế
Trung Quốc và thủ đoạn chiếm đoạt Hoàng Sa, Trường Sa: Phần 2: Những thủ đoạn bẩn thỉu của Bắc Kinh,
Phần 3: Hãy cảnh giác với bá quyền Trung Quốc
TRUNG QUỐC VÀ THỦ ĐOẠN CHIẾM ĐOẠT HOÀNG SA, TRƯỜNG SA
Dẫn nhập :
Từ nhiều thập niên nhà cầm quyền Trung Hoa đã biểu lộ những hành động nhắm về hai quần đảo Hoàng Sa (Paracels) và Trường Sa (Spratley hay Spratly) của Việt Nam mà họ đặt tên là Xisha (Tây Sa) và Nansha (Nam Sa).
Nước này đã sưu tập nhiều tài liệu nhằm chứng minh rằng từ lâu tổ tiên của người Trung Hoa đã “khám phá” hai quần đảo này đồng thời đến những nơi đó để “khai thác” ; nhưng nhà cầm quyền Trung Hoa sẽ vô cùng lúng túng để trả lời hai điểm sau : Từ bao giờ Trung Hoa chiếm đóng hai quần đảo này và họ đã hành sử “chủ quyền” của họ tại những nơi này như thế nào ?
PHẦN I: QUỐC GIA VIỆT NAM TỪ LÂU ĐÃ HÀNH XỬ QUYỀN LÀM CHỦ CỦA MÌNH MỘT CÁCH LIÊN TỤC TẠI HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA.
Hoàng Sa và Trường Sa tọa lạc ngoài biển khơi Việt Nam, giữa Biển Ðông, điểm gần nhất của Hoàng Sa cách cù lao Ré một đảo cận bờ của Việt Nam – khoảng 120 hải lý và cách Ðà Nẵng, về phía Ðông, 170 hảI lý ; điểm gần nhất của quần đảo Trường Sa thì cách vịnh Cam Ranh khoảng chừng 250 hải lý về hướng Ðông.
Những nhà du hành ở thời kỳ khai phá chỉ có một khái niệm rất mơ hồ về Hoàng Sa và Trường Sa. Họ cho rằng nơi đó hiện hữu một vùng biển rộng lớn có nhiều dãi cát và đá ngầm, vô cùng nguy hiểm cho thuyền bè qua lại. Thời xưa người Việt Nam gọi đó là Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa, Vạn Lý Hoàng Sa, Ðại Trường Sa hay Vạn Lý Trường Sa... Trong cổ sử cũng như trên các bản đồ của Việt Nam thì ghi nhận như thế. Hầu hết các bản đồ của những nhà hải hành Tây Phương từ thế kỷ thứ 16 đến thế kỷ thứ 18, Hoàng Sa và Trường Sa được ghi dưới các tên Pracel, Parcel hay Paracels [1]. Một cách tổng quát, những bản đồ này đã vẽ vùng Hoàng Sa ở giữa biển Ðông, về phía Ðông bờ biển Việt Nam và cách xa những đảo cận bờ.
Sau này nhờ tiến bộ khoa học và sự phát triển của ngành hàng hải người ta mới phát hiện có những khác biệt rõ rệt giữa Hoàng Sa và Trường Sa.
Hai quần đảo được vẽ hiện nay trên những bản đồ hàng hải quốc tế dưới những tên Paracels và Spratley hay Spratly, thực sự là Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Các tên “Xhisha” và “Nansha” là những cái tên mà nhà cầm quyền Bắc Kinh chỉ mới đặt ra từ vài thập niên nay cho hai quần đảo này với dụng ý làm cớ nhằm biện hộ cho việc xâm lấn của họ sau này.
1/ Chủ quyền lịch sử của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Dân tộc Việt Nam từ lâu đã khám phá Hoàng Sa và Trường Sa. Quốc gia Việt Nam đã chiếm hữu và hành sử chủ quyền của mình tại các nơi đây.
Nhiều bộ cổ sử và nhiều bản đồ xưa của Việt Nam đã ghi nhận một cách rõ rệt rằng Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa, Vạn Lý Hoàng Sa, Ðại Trường Sa hay Vạn Lý Trường Sa đã từ lâu là lãnh thổ của Việt Nam.
* Bộ Toàn Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Ðồ Thư, là bộ bản đồ của Việt Nam do Ðỗ Bá, tự Công Ðạo, thành lập vào thế kỷ thứ 17, đã ghi đại ý rất rõ rệt trong phần phụ chú phủ Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Nam rằng: “ngoài biển khơi có một quần đảo với những bãi cát dài, được gọi là Bãi Cát Vàng”, “mỗi năm vào tháng cuối mùa đông, Chúa Nguyễn [2] phái ra đó một hải đội gồm 18 chiếc thuyền để thu nhặt hàng hóa, nhờ vậy mới có được một số lượng lớn vàng, bạc, tiền, súng ống và đạn dược”.
* Bản đồ Giáp Ngọ Bình Nam Ðồ do Ðức Doãn Quận Công Bùi Thế Ðạt thiết lập năm 1774 cũng có ghi nhận Bãi Cát Vàng là một phần lãnh thổ Việt Nam. [3]
* Tác phẩm Phủ Biên Tạp Lục của nhà bác học Lê Quí Ðôn (1726 1784) viết về lịch sử, địa lý và hành chánh của Ðàng Trong (miền Nam hiện nay) dưới thời Chúa Nguyễn, viết rằng những đảo Ðại Trường Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa) thì thuộc về phủ Quảng Ngãi:
“Ngoài khơi cửa An Vĩnh [4] thuộc huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi, có một đảo tên là đảo Ré, chiều dài khoảng 30 dặm [5]. Ngày xưa, dân làng Tu Chính ra trồng đậu tại đó. Người ta vượt biển đến đó mất bốn canh (một đêm có năm canh). Phía xa hơn đảo Ré là những đảo Ðại Trường Sa. Ở đó có nhiều hải sản và hàng hóa các loại. Công Ty Hoàng Sa được thành lập để ra đó thu nhặt đồ vật. Phải mất ba ngày ba đêm để đến những đảo này, đây là vùng gần Bắc Hải”.
* Ðại Nam Nhất Thống Toàn Ðồ là bản đồ Việt Nam thành lập năm 1838, có ghi nhận Hoàng Sa và Trường Sa là một phần lãnh thổ của Việt Nam.
* Ðại Nam Nhất Thống Chí, địa dư chí của Việt Nam được Quốc Sử Quán nhà Nguyễn (1802 1945) viết năm 1882, ghi nhận rằng Hoàng Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam và trực thuộc hành chánh tỉnh Quảng Ngãi. Ðoạn văn liên hệ viết về tỉnh này đại để như sau:
“Ở phía Ðông của tỉnh Quảng Ngãi thì có những đảo cát gọi là Hoàng Sa; nơi đây cát và biển kết lẫn vào nhau để tạo thành bờ triền; phía Tây là vùng núi dựng như là những tường thành chắc chắn; phía Nam tiếp giáp với Bình Ðịnh ở đèo nằm ngang thuộc Bến Ðá; phía Bắc tiếp cận với tỉnh Quảng Nam ở đèo Sa Thọ”.
Từ nhiều thế kỷ đã qua, nhiều nhà hàng hải và truyền giáo tây phương đã xác nhận rằng Hoàng Sa (Parcel hay Paracels) thì thuộc về Việt Nam:
* Một nhà truyền giáo tây phương, đi từ Pháp đến Trung Hoa năm 1701 trên chiếc thuyền tên Amphitrite, đã viết trong một lá thư như sau: “Hoàng Sa là một quần đảo thuộc vương quốc An Nam” [6].
* Linh mục J. B. Chaigneau (Bá Ða Lộc), cố vấn của vua Gia Long, năm 1820 có viết một phụ chú thêm vào trong bút ký “Mémoire sur la Cochinchine” [7]:
“Nước Nam (Cochinchine), đứng đầu là vị Hoàng Ðế, gồm có Cochinchine (tức miền Nam), Tonkin (miền Bắc)... một số đảo có người sinh sống không xa bờ và quần đảo Hoàng Sa (Paracels), gồm có nhiều đảo nhỏ, đá, bãi san hô... không có người ở”[8]
* Linh mục J. L. Tabert, trong “Ghi nhận về Ðịa Lý Việt Nam” (Note sur la géographie de la Cochinchine), xuất bản năm 1837, đã trình bày quần đảo Hoàng Sa như là một phần của lãnh thổ Việt Nam và ghi rõ thêm rằng Việt Nam gọi “Paracels” hay “Pracel” dưới tên là Cát Vàng [9].
Bản đồ An Nam Ðại Quốc Họa Ðồ do ông năm 1838, có vẽ một phần của quần đảo Hoàng Sa với phụ chú : “Paracel hay Cát Vàng”, ở phía ngoài những đảo cận bờ của miền Trung Việt Nam, tức ở vào vị trí của Hoàng Sa hiện tại.
* Qua bài viết “Géographie de l’Empire Cochinchine” của Gutzlaff năm 1849 trong đó có một đoạn ghi nhận rằng Paracels thuộc lãnh thổ Việt Nam, có tên là “Kat Vang” [10].
Các triều đại vua chúa cai trị Việt Nam trong những thế kỷ đã qua đã phái nhiều đội thuyền để thám hiểm nhằm thẩm định tài nguyên ở Hoàng Sa và Trường Sa. Những bộ sử và địa dư chí của Việt Nam từ thế kỷ thứ 17 đã ghi lại kết quả của những cuộc thám hiểm này:
* Toàn Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Ðồ Thư (thế kỷ thứ 17) đại ý viết:
“Ngoài biển khơi có một quần đảo kết tạo bằng những dãi cát dài, có tên “Bãi Cát Vàng”, độ dài khoảng 400 dặm và rộng khoảng 20 dặm, nổi lên từ biển sâu, đối diện với đoạn bờ biển từ bến Ðại Chiêm [11] đến bến Sa Vinh [12]. Vào mùa gió Tây Nam, những thương thuyền của các nước đi ngang vùng này thường bị đắm. Những người đi trên thuyền thì bị chết đói. Hàng hóa thì dồn đống ở nơi đó.” [13]
Lê Quí Ðôn (1776) viết trong Phủ Biên Tạp Lục đại ý như sau:
“Làng An Vĩnh, thuộc huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi thì ở cận biển. Ở ngoài khơi của làng này, về hướng Ðông Bắc, có trên 130 đảo trải dài, lớn nhỏ hay đá ngầm, từ đảo này qua đảo khác khi thì mất một ngày, khi thì mất vài canh bơi thuyền. Trên một vài đảo thì có nước ngọt. Một trong những đảo đó có tên Bãi Cát Vàng, có chiều dài ước lượng 30 dặm, mặt đảo bằng phẳng, tọa lạc ở một vùng nước rất trong; nơi đây có rất nhiều ổ yến. Chim chóc thì nhiều vô số kể và chúng tấn công người không sợ hãi. Người ta cũng gặp rất nhiều sò ốc quái dị, có mầu sắc sặc sở gọi là ốc tai tượng, lớn bằng cái nia và dấu trong thân những hạt to bằng ngón tay, màu đục nhưng không đẹp như ngọc trai; vỏ ốc người ta có thể đẽo ra từng miếng hay dùng để chế biến vôi làm nhà. Cũng có những loại ốc xa cừ dùng để chạm trổ và ốc hương. Thịt ốc có thể muối hay dùng làm nhiều món ăn. Những thương thuyền ngoại quốc bị gặp bão ở vùng biển này thì thường bị đắm và trôi dạt vào ở những đảo này”.
* Ðại Nam Thực Lục Tiên Biên, là một quyển lịch sử nói về các Chúa Nguyễn, do Quốc Sử Quán viết năm 1844 (nhà Nguyễn) viết đại ý như sau:
“Ngoài khơi làng An Vĩnh huyện Bình Sơn phủ Quảng Ngãi có hơn 130 đảo và đá ngầm lớn nhỏ, trải dài hàng ngàn dậm nên gọi là Vạn Lý Trường Sa; khoảng cách từ đảo này đến đảo kia độ một ngày hoặc vài canh đi thuyền. Trên một vài đảo có giếng nước ngọt. Sản phẩm ở đây gồm hải sâm, rùa, đồi mồi, sò ốc có hình màu sắc sặc sở v.v...”
* Ðại Nam Nhất Thống Chí (1882) có ghi đại ý:
“Quần đảo Hoàng Sa ở phía Ðông của đảo Ré, huyện Bình Sơn. Bắt đầu từ bờ biển Sa Kỳ, nếu thuận gió người ta có thể đi đến đó trong ba hay bốn ngày thuyền. Người ta tính có hơn 130 đảo và đá ngầm lớn nhỏ, những đảo này cách nhau có khi một ngày, có khi vài canh đi thuyền. Trong những đảo này, có những bãi cát vàng trải dài hàng trăm dặm gọi là Vạn Lý Trường Sa. Trên những dãi cát đó có giếng nước ngọt và chim chóc ở đó nhiều vô số kể. Ngưòi ta cũng thấy có hải sâm, rùa, sò ốc có màu sắc sặc sở, đồi mồi... và hàng hoá của những thương thuyền bị bão đánh đắm”.
* Theo Ðại Nam Thực Lục Chính Biên, lịch sử của nhà Nguyễn, viết năm 1848, Trương Phúc Sĩ là Ðội Trưởng, sau khi lãnh mệnh đi Hoàng Sa để lấy địa hình thì trở về có tâu lên vua Minh Mệnh rằng Hoàng Sa “được kết tạo do những dãi cát ở ngoài khơi và kéo dài vô định”. [14]
Những bộ sách khác viết dưới thời nhà Nguyễn như Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí (1821), Hoàng Việt Ðịa Dư Chí (1833), Việt Sử Cương Giám Khảo Lược (1876) đều diễn tả Hoàng Sa với những chi tiết tương tự.
Vì biết rằng Hoàng Sa và Trường Sa có nhiều hải sản quí giá và nhiều hàng hóa do những thuyền buôn bị đắm trôi dạt vào, cho nên các triều đại của Việt Nam từ thời xa xưa ấy đã tổ chức để gây huê lợi các nơi đây, biểu lộ vì thế tính chủ quyền của quốc gia Việt Nam tại các nơi đó. Có nhiều sách về lịch sử và địa dư của Việt Nam đã ghi nhận một cách rất rõ rệt việc tổ chức và cách thức sinh hoạt của các công ty Hoàng Sa có nhiệm vụ làm huê lợi tại các đảo này.
* Toàn Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Ðồ Thư (thế kỷ 17) có viết đại ý:
“Mỗi năm vào tháng cuối của mùa Ðông, chúa Nguyễn gởi ra Bãi Cát Vàng một đội thuyền gồm 18 chiếc để thu nhặt hàng hóa, có được vì thế một số lượng vàng, bạc, tiền, súng ống và đạn dược.”
* Phủ Biên Tạp Lục (1776) ghi đại ý:
“Thời nhà Nguyễn có thành lập công ty Hoàng Sa gồm có 70 người, thuộc làng An Vĩnh, tuyển theo lối luân phiên. Mỗi năm, vào tháng 3, công ty được lệnh chuẫn bị lương thực trong 6 tháng, gồm 5 chiếc thuyên giong buồm đi ra đảo. Phải mất 3 ngày 3 đêm đi thuyền mới đến. Ở đây đi săn và đi đánh cá thỏa thuê. Công ty thu nhặt những hàng hóa của những thương thuyền bị đắm gồm có: dao kiếm, tiền bạc, vòng kiền bạc, đồ vật bằng đồng, những thỏi kẽm, chì, súng, ngà voi, sáp vàng, đồ sứ, vải vóc bằng len cũng như vãy rùa, vỏ đồi mồi, hải sâm, những hạt trai ở trong loại sò ốc có màu sắc rực rỡ. Ðến tháng 8 cùng năm thì đoàn thuyền trở về cập bến Cửa Eo để giao những phẩm vật thu được vào thành Phú Xuân. Những hàng hóa này sau khi cân lượng, khảo sát và định giá và xếp loại tùy theo giá trị. Sau đó người ta có thể bán để lấy tiền riêng những phẩm vật như hải sâm, đồi mồi, sò ốc, nhận giấy chứng nhận và được trở về nhà...”
“Nhà Nguyễn cũng cho thành lập công ty Bắc Hải nhưng không xác định công việc của công ty này. Người ta tuyển người ở hoặc ở làng Tu Chính thuộc phủ Bình Thuận, hoặc ở làng Cảnh Dương, những người tình nguyện khi đã nhận được lệnh công tác thì được miễn các thứ thuế. Những người này xuống thuyền để đi về Bắc Hải, những đảo Côn Lôn, những đảo thuộc vùng Hà Tiên, để đánh bắt rùa, đồi mồi, bào ngư, hải sâm. Chỉ huy trưởng công ty Hoàng Sa cũng là chỉ huy trưởng của công ty Bắc Hải”.
* Ðại Nam Thực Lục Chính Biên (1844) viết đại ý:
“Trong những ngày đầu trị vì, nhà Nguyễn đã thành lập công ty Hoàng Sa gồm 70 người, tuyển từ dân làng An Vĩnh. Mỗi năm, vào tháng thứ ba, những người này xuống thuyền giong buồm ra khơi. Phải mất ba ngày ba đêm mới đến nơi. Họ thu nhặt hàng hóa, đến tháng tám thì trở về và giao nộp những hàng hóa này. Cũng có công ty Bắc Hải tuyển người ở làng Tu Chính, thuộc phủ Bình Thuận, hay ở làng Cảnh Dương. Công ty này giong thuyền ra Bắc Hải, Côn Lôn để thu nhặt hàng hóa. Công ty này cũng được đội trưởng của công ty Hoàng Sa điều khiển.”
* Sau thời chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn mặc dầu bận rộn với sự quấy nhiểu liên tục của nhà Thanh và Xiêm La, nhưng cũng nhận thấy sự hữu dụng ở các đảo này nên vẫn giữ nguyên các công ty Hoàng Sa. Trong những tài liệu tìm thấy được, người ta có thể nhắc đến lệnh đại khái sau đây của quan Thượng Tướng Công:
“Lệnh cho Hồi Ðức Hầu thuộc công ty Hoàng Sa dẫn 4 thuyền ra Hoàng Sa và những đảo khác để thu nhặt những đồ vật bằng vàng, bằng bạc, bằng đồng và những khẩu đại bác lớn nhỏ cũng như các loại rùa có vãy, đồi mồi, các loại cá quí sau đó đem những phẩm vật này về kinh đô như tập tục ngày trước.”
Vì thế dưới thời Tây Sơn, chính quyền nước Việt Nam tiếp tục thâu hoạch huê lợi tại Hoàng Sa va thiết lập chủ quyền của Việt Nam tại đó.
* Từ khi lên ngôi năm 1802 cho đến khi ký hiệp ước bảo hộ với Pháp 1884, những vị hoàng đế nhà Nguyễn liên tục có nhiều hành động để củng cố chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Năm 1815 hoàng đế Gia Long phái Phạm Quang Anh cầm đầu công ty Hoàng Sa lãnh sứ mạng tìm hiểu lộ trình hàng hải đi ra Hoàng Sa. [15]
Năm 1816 hoàng đế Gia Long ra lệnh cho thủy binh và công ty Hoàng Sa đi ra đảo Hoàng Sa để nghiên cứu lộ trình đi đến Hoàng Sa. [16]
Năm 1833 hoàng đế Minh Mệnh ra lệnh cho bộ Công chuẫn bị thuyền bè và người để ra Hoàng Sa vào năm tới nhằm xây một đền thờ, dựng một bia và trồng cây.[17]
Năm 1834 hoàng đế Minh Mệnh gởi ra Hoàng Sa đội thủy quân gồm khoảng 20 người, đội trưởng là Trương Phúc Sĩ để làm công tác lấy địa hình. [18]
Năm 1835 hoàng đế Minh Mệnh ra lệnch cho thủy quân Ðô Ðốc Phạm Văn Nguyên đem quân và nhân công thuộc hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Ðịnh ra đảo Hoàng Sa cùng với vật liệu để nhằm xây dựng tại đó một ngôi đền. Một tấm bia, được dựng phía bên trái và một tấm chắn gió, dựng phía trước, của ngôi đền. [19]
Năm 1836 hoàng đế Minh Mệnh chấp thuận một đề nghị của bộ Công, ra lệnh cho thủy quân Ðô Ðốc Phạm Hữu Nhật đem một số chiến thuyền ra Hoàng Sa để làm công việc trắc địa. Công tác này được ghi lại qua Ðại Nam Thực Lục Chính Biên đại ý như sau:
“Tất cả những hải đảo được thăm viếng, dầu là đảo nhỏ hay dãi cát, đều được thám hiểm và được mô tả chính xác chiều dài, chiều rộng, diện tích và chu vi, độ sâu của vùng biển chung quanh, những khó khăn hay dễ dàng lúc tàu bè gặp phải lúc cặp bến. Tất cả được đo đạc và được trình bày trên bản đồ. Mặc khác, cũng phải ghi rõ bến khởi hành, hướng theo đó đi đến nơi và chiều dài ước lượng bằng dặm. Ðồng thời phải định vị các đảo đã cặp bến so với bờ trên đất liền bằng cách xác định tên, tọa độ, phương hướng của phủ, huyện đối diện hay ở kế bên và ước lượng độ dài của đảo đối với bờ trên đất liền bằng dặm. Tóm lại, tất cả đều được ghi chép, mô tả chi tiết tỉ mỉ để trình lên hoàng đế.”
Ðại Nam Thực Lục Chính Biên cũng ghi rằng những cột mốc gỗ do Ðô Ðốc Phạm Hữu Nhật đem theo để cắm trên các đảo được viết những chữ có ý nghĩa như sau:
“Vào năm Bính Thân, tức triều Minh Mệnh thứ 17 (1836), Thủy Sư Ðô Ðốc Tổng Quản Hải Quân Phạm Hữu Nhật lãnh chiếu chỉ ra đảo Hoàng Sa để phụ trách việc lấy trắc địa, đến nơi đây để cắm mốc này để ghi nhớ muôn đời”. [20]
* Những hoàng đế nhà Nguyễn không những chỉ để ý về chủ quyền và lợi lộc của Hoàng Sa và Trường Sa mà còn lo ngại cho sự an ninh của thuyền bè các nước khác đi ngang qua vùng biển này. Năm 1833 hoàng đế Minh Mệnh ra chiếu lệnh cho bộ Công, có nội dung như sau: Lãnh hải đối diện vùng tỉnh Quảng Ngãi là những đảo Trường Sa trải dài bao la mút mắt mà nơi đó bầu trời lẫn lộn với nước biển có chung một màu, người ta không biết được mực nước tại đây nông hay sâu. Thời gian gần đây có nhiều thương thuyền bị đắm. Vì thế bắt đầu từ bây giờ chuẫn bị thuyền lớn để vào năm tới “gởi người đến đó để trồng cây. Cây cối khi lớn lên trở thành rừng, cho phép những nhà hàng hải trông thấy dễ dàng vùng đá ngầm này và tránh xa. Ðây là một công việc mà các thế hệ tương lai sẽ hưởng được kết quả.” [21]
Ðây chắc chắn là một hành động biểu lộ trách nhiệm của vị chủ tể quốc gia về lãnh thổ của nước mình đối với các thương thuyền ngoại quốc. Việc này cho thấy đích thực Hoàng Sa và Trường Sa hiển nhiên là một phần lãnh thổ của Việt Nam.
Những bộ cổ sử và địa chí của Việt Nam cũng như những lời ghi nhận của các nhà hàng hải hay truyền giáo Tây Phương ghi trên, cho thấy rằng từ lâu, và trải dài hàng nhiều thế kỷ, từ triều đại này sang triều đại khác, quốc gia Việt Nam đã làm chủ một cách liên tục hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sự có mặt đều đặn của của công ty Hoàng Sa do nhà nước thành lập tại hai quần đảo này để thi hành công việc trong thời gian 5, 6 tháng mỗi năm, là một bằng chứng không thể phản biện việc hành sử chủ quyền của quốc gia Việt Nam tại hai quần đảo này. Việc quốc gia Việt Nam chiếm hữu cũng như khai thác huê lợi hai quần đảo này chưa bao giờ gặp sự chống đối của bất kỳ một nước nào, kể cả nước Trung Hoa. Việc này cũng là một bằng chứng khác cho thấy đã từ lâu, Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ nước Việt Nam.
2/ Pháp Quốc nhân danh Việt Nam tiếp tục hành sử chủ quyền của quốc gia Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Từ khi ký kết hiệp ước 1884 với triều đình nhà Nguyễn, nước Pháp đã thay mặt Việt Nam trong những quan hệ ngoại giao với các nước ngoài đồng thời bảo đảm chủ quyền cùng toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Theo tinh thần của hiệp ước này, nước Pháp tiếp tục hành sử chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Theo đây là một vài bằng chứng:
* Những pháo hạm của Pháp thường xuyên tuần tiễu trong Biển Ðông, kể cả những vùng Hoàng Sa và Trường Sa.
* Năm 1899, Toàn Quyền Paul Doumer đề nghị Paris một dự án xây dựng tại đảo Hoàng Sa (Pattle) thuộc quần đảo Hoàng Sa một đèn pha nhằm hướng dẫn thuyền bè qua lại trong vùng biển này. Dự án không thực hiện được vì thiếu tài chánh.
* Bắt đầu từ năm 1920, đội hải thuyền thuộc quan thuế Ðông Dương tăng cường thêm những vụ tuần tra trong vùng Hoàng Sa để trừ khử nạn buôn lậu.
* Năm 1925, Hải Học Viện Nha Trang đã gởi chiếc thuyền mang tên De Lanessan đến Hoàng Sa để thực hiện một công tác nghiên cứu hải học. Ngoài ông chủ tịch Viện Hải Học là A. Krempf, người ta còn ghi nhận có những nhà bác học khác như Delacour, Jabouille... đã thực hiện những cuộc nghiên cứu về địa chất, về sinh vật v.v...
* Tháng 3 cùng năm (1925), Binh Bộ Thượng Thư Thân Trọng Huệ của triều đình Huế xác nhận thêm lần nữa là Hoàng Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam.
* Năm 1927 chiếc thuyền De Lanessan thực hiện một công tác nghiên cứu khoa học tại Trường Sa.
* Năm 1929 sứ bộ Perrier – De Rouville đề nghị xây dựng bốn đèn pha ở bốn góc quần đảo Hoàng Sa [trên các đảo Tri Tôn (Triton), Linh Côn (Lincoln), bãi Ðá Bắc (recif Nord), Bom Bay (Bombay)].
* Năm 1930 Thông Báo Hạm mang tên Malicieuse đến quần đảo Hoàng Sa.
* Tháng 3 năm 1931 chiếc Inconstant đến quần đảo Hoàng Sa.
* Tháng 6 năm 1931 chiếc De Lanessan đến quần đảo Hoàng Sa.
* Tháng 5 năm 1932 pháo hạm mang tên Alerte đến quần đảo Hoàng Sa.
* Từ ngày 13 tháng 4 năm 1930 đến 12 tháng 4 năm 1933, chính phủ Pháp đã gởi những đội ngũ hải quân thả neo liên tiếp trên những đảo chính của quần đảo Trường Sa. Ðó là: Trường Sa (Spratley), An Bang (Caye Amboine), Itu Aba, nhóm hai đảo Sóng Tụ [22], Loại Ta, Thị Tứ.
* Ngày 21 tháng 12 năm 1933, Toàn Quyền M.J. Krautheimer ký một nghị định sát nhập những đảo Trường Sa, An Bang, Itu Aba , Sóng Tụ, Loại Ta, Thị Tứ vào tỉnh Bà Rịa.
* Năm 1937 chính quyền Pháp gởi viên kỷ sư trưởng ngành công chánh tên Gauthier ra đảo Hoàng Sa để lựa chọn nơi thích hợp nhằm dựng một đèn pha và một bãi đáp cho thủy phi cơ.
Tháng 2 năm 1937 tuần dương hạm tên Lamotte Piquet do Phó Ðô Ðốc Estava chỉ huy ghé thăm quần đảo Hoàng Sa.
* Ngày 30 tháng 3 năm 1938, Hoàng Ðế Bảo Ðại ký sắc lệnh nhằm tách Hoàng Sa ra khỏi tỉnh Quảng Ngãi để sát nhập lãnh địa tỉnh Thừa Thiên.
* Ngày 15 tháng 6 năm 1938, toàn Quyền Brévié ký nghị định nhằm thành lập một ủy ban hành chánh tại Hoàng Sa tùy thuộc tỉnh Thừa Thiên.
* Năm 1938 Pháp cho dựng một cột đánh dấu chủ quyền, hoàn tất việc xây dựng một đèn pha, một trạm thời tiết và một trạm vô tuyến trên đảo Hoàng Sa (Pattle) đồng thời cho xây dựng một trạm thời tiết và một trạm vô tuyến tại đảo Itu Aba thuộc quần đảo Trường Sa.
* Ngày 5 tháng 5 năm 1939, Toàn Quyền Brévié ký nghị định nhằm sửa đổi nghị định ngày 15 tháng 6 năm 1938 và thành lập hai ủy ban hành chánh trên quần đảo Hoàng Sa: Ủy Ban Nguyệt Thiềm “Croissant et indépendances” và Ủy Ban “d’Amphitrite et dépendances”.
Trong suốt thời kỳ đại diện Việt Nam trong lãnh vực giao tiếp với nước ngoài, nước Pháp không ngừng xác nhận chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và phản đối chống lại mọi hành động ảnh hưởng đến việc này.
* Trong chiều hướng đó, ngày 4 tháng 12 năm 1931 và ngày 24 tháng 4 năm 1932, nước Pháp đã phản đối chính quyền Trung Hoa về vấn đề chính quyền địa phương tỉnh Quảng Ðông tổ chức đấu thầu nhằm khai thác phân chim tại quần đảo Hoàng Sa.
* Ngày 24 tháng 7 năm 1933, nước Pháp đã thông báo cho Nhật Bản việc gởi quân ra các đảo chính của Hoàng Sa; Nhật Bản đã phản đối việc này nhưng Pháp đã bác bỏ.
* Ngày 4 tháng 4 năm 1939, nước Pháp đã phản đối việc Nhật Bản đã đặt một số đảo thuộc Hoàng Sa dưới quyền của Nhật Bản.
3/ Việc phòng vệ và sự hành sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa từ khi Thế Chiến Thứ 2 kết thúc.
* Sau khi trở lại Việt Nam sau Thế Chiến Thứ 2, chính quyền Pháp đã gởi các chiến hạm đến Hoàng Sa, xây dựng một trạm thời tiết trên đảo Hoàng Sa và chống lại những hành vi xâm lấn của Trung Hoa.
* Ngày 7 tháng 9 năm 1951, trưởng phái đoàn của chính phủ Bảo Ðại là ông Trần Văn Hữu, nhân dịp Hội Nghị San Francisco về việc ký hiệp ước hòa bình với Nhật Bản, có tuyên bố rằng đã từ lâu Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam: “... Và vì phải nắm lấy mọi cơ hội để triệt tiêu tất cả những mầm mống tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền của dân tộc chúng tôi tại Hoàng Sa và Trường Sa, từ muôn đời, những quần đảo này là một phần lãnh thổ của nước Việt Nam.”
Tuyên bố này đã không gây một phản đối, hay một sự dè dặt nào trong 51 nước tham dự tại Hội Nghị.
* Năm 1953, thuyền của kỷ sư trưởng Girod đến Hoàng Sa để làm những nghiên cứu về hải học, địa chất, địa lý và môi trường.
Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa sau đó là chính quyền lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam cũng đã hành sử chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Một vài bằng chứng:
* Năm 1956 hải quân Việt Nam Cộng Hòa tiếp thâu Hoàng Sa và Trường Sa sau khi Pháp rút đi.
* Năm 1956, cục Hầm Mỏ thuộc bộ Công Nghiệp và Thủ Công Nghiệp với sự giúp đỡ của lực lượng Hải Quân của Việt Nam Cộng Hòa đã thực hiện một cuộc nghiên cứu trên bốn đảo: Hoàng Sa (Pattle), Quang Ảnh (Monkey), Hữu Nhật (Robert), Duy Mộng (Drumond).
* Ngày 22 tháng 10, Việt Nam Cộng Hòa sát nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Phức Tuy.
* Ngày 13 tháng 7 năm 1961, Việt Nam Cộng Hòa sát nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam mà trước đó thuộc Thừa Thiên đồng thời thiết lập tại đó một làng đặt tên là Ðịnh Hải, trực thuộc quận Hòa Vang và đặt ra một ủy viên hành chánh để điều hành.
* Từ năm 1961 đến năm 1963, Việt Nam Cộng Hòa đã cho xây dựng lần lược những trụ cột chủ quyền tại những đảo chính của quần đảo Trường Sa: Trường Sa, An Bang, Sóng Tụ Tây, Sóng Tụ Ðông, Thị Tứ, Loại Ta.
* Ngày 21 tháng 10 năm 1969, Việt Nam Cộng Hòa sát nhập làng Ðịnh Hải vào quận Hòa Long, trước đó thuộc quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.
* Vào tháng 7 năm 1973, Viện Nghiên Cứu Nông Nghiệp thuộc Bộ Phát Triển Nông Nghiệp của Việt Nam Cộng Hòa đã thực hiện một cuộc nghiên cứu tại đảo Nam Ai (Nam Yit) thuộc quần đảo Trường Sa.
* Tháng 8 năm 1973, bộ Kế Hoạch và Phát Triển Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa đã tổ chức, cùng với sự hợp tác của xí nghiệp Nhật Bản có tên Maruben Corporation, việc khảo sát phân chim tại quần đảo Hoàng Sa.
* Ngày 6 tháng 9 năm 1973, Việt Nam Cộng Hòa sát nhập các đảo Trường Sa, An Bang, Itu Aba, Sóng Tụ Ðông, Sóng Tụ Tây, Loại Ta, Thị Tứ, Nam Ai (Nam Yit), Sinh Tồn (Sin cowe) và những đảo chung quanh vào xã Phước Hải, quận Ðất Ðỏ tỉnh Phước Tuy.
Ý thức Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam đã truyền từ đời này sang đời nọ, vì thế chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã hết lòng bảo vệ chủ quyền của mình tại hai quần đảo này mỗi khi có ngoại bang manh nha ý đồ tranh chấp hay muốn lấn chiếm bất kỳ đảo nào tại nơi đây.
* Ngày 1 tháng 6 năm 1956, khi các nước Trung Quốc, Ðài Loan và Phi Luật Tân dành chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa, bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa liền công bố một tuyên cáo xác định chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo này.
* Ngày 22 tháng 1 năm 1959, nhà cầm quyền Việt Nam Cộng Hòa bắt giữ và giam cầm 82 người dân Trung Hoa lục địa vì những người này đã xâm nhập bất hợp pháp lên đảo Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Hòa thuộc quần đảo Hoàng Sa.
* Ngày 20 tháng 4 năm 1971, Việt Nam Cộng Hòa xác nhận lại chủ quyền của Việt Nam tại Trường Sa nhằm trả lời Mã Lai nhân nước này đòi chủ quyền tại một số đảo thuộc quần đảo này.
* Ngày 10 tháng 7 năm 1971, nhân một cuộc họp báo, Tổng Thống Phi Luật Tân ra tuyên bố về quần đảo Hoàng Sa, Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa xác nhận lại ngày 13 tháng 7 năm 1971 chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo này.
* Năm 1974, Trung Quốc đã dùng vũ lực xâm lăng nhóm đảo phía Tây Nam quần đảo Hoàng Sa. Ngày 19 tháng 1 năm 1974 chính quyền Việt Nam Cộng Hòa ra tuyên cáo lên án Trung Quốc đã xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam; ngày 28 tháng 6 năm 1974, tuyên bố trước kỳ họp thứ 2 và thứ 3 của Hội Nghị Liên Hiệp Quốc về Luật Về Biển tổ chức tại Caracas rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam; ngày 14 tháng 2 năm 1974, công bố một tuyên cáo xác nhận hai quần đảo này thuộc lãnh thổ Việt Nam. Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời CHMNVN cũng ra tuyên bố ngày 20 tháng 1 năm 1974 quan điểm của mình qua ba điểm nhằm giải quyết những sai biệt về lãnh thổ.
Ngày 5 và 6 tháng 5 năm 1975, Chính Phủ CMLTCHMNVN công bố đã giải phóng Trường Sa.
* Tháng 9 năm 1975, đại diện của Chính Phủ CMLTCHMNVN tại Hội Nghị Thời Tiết ở Colombo tuyên bố rằng Hoàng Sa thuộc về Việt Nam và yêu cầu OMM tiếp tục ghi nhận trạm thời tiết của Việt Nam tại Hoàng Sa trong danh sách các trạm thời tiết của OMM (Trạm thời tiết Hoàng Sa được ghi trong danh mục OMM với mã số 48.860).
Sau khi thống nhứt năm 1976, Chính Phủ CHXHCNVN đã nhiều lần xác nhận chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa, như qua nội dung văn thư đã gởi đến các nước liên quan, hay trong lúc thương thuyết ở cấp phó bộ trưởng bộ Ngoại Giao, bắt đầu ở Bắc Kinh vào tháng 10 năm 1977, hay trong những tuyên bố của bộ trưởng bộ Ngoại Giao nhân dịp Hội Nghị OMM tại Genéve (1980), Ðại Hội Quốc Tế về Ðịa Chất tại Paris (tháng 7 năm 1980), v.v...
Dựa trên căn bản những dữ kiện lịch sử cụ thể và những nguyên tắc của luật quốc tế cũng như tập quán của quốc tế, người ta có thể lấy ra những kết luận như sau:
Thứ nhứt: Quốc Gia Việt Nam đã từ lâu chiếm hữu thực tế các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào lúc mà chúng không thuộc về một nước bất kỳ nào.
Thứ nhì: Từ lúc chiếm hữu đó đến nay trải qua nhiều thế kỷ, Quốc Gia Việt Nam đã hành sử một cách liên tục và cụ thể chủ quyền của mình tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Thứ ba: Quốc Gia Việt Nam đã luôn bảo vệ mạnh mẽ thẩm quyền và danh nghĩa của mình đối với bất kỳ một hành động nào xâm phạm đến chủ quyền, lãnh thổ và quyền lợi của Việt Nam liên hệ đến Hoàng Sa và Trường Sa.
Saturday, 15. December 2007, 15:49:38
Hoàng Sa, Trường Sa, Vietnam, Paracel Islands
...
Liên kết:
Vietnam asserts sovereignty over Paracel Islands and Spratly Islands
Lập trường của Trung Quốc trong tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và luật quốc tế
Trung Quốc và thủ đoạn chiếm đoạt Hoàng Sa, Trường Sa: Phần 1: Những chứng tích lịch sử,
Phần 3: Hãy cảnh giác với bá quyền Trung Quốc
TRUNG QUỐC VÀ THỦ ĐOẠN CHIẾM ĐOẠT HOÀNG SA, TRƯỜNG SA
PHẦN II: HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CHƯA - BAO - GIỜ LÀ LÃNH THỔ CỦA TRUNG HOA.
Bất chấp thực tế hiển nhiên là Trường Sa và Hoàng Sa thuộc lãnh thổ của Quốc gia Việt Nam, trung ương đảng cộng sản lãnh đạo Trung Hoa đã thử biện hộ cho mưu đồ bành trướng của họ tại Hoàng Sa và Trường Sa qua việc bóp méo nội dung một số cổ sử để mạo nhận rằng “Trung Hoa là nước đầu tiên đã khám phá, khai khẩn, thâu huê lợi và quản lý các quần đảo gọi là Xisha (Tây Sa) và Nansha (Nam Sa). Từ ngàn năm nay, những chính phủ Trung Hoa liên tục đã đặt quyền pháp trên những nơi đây. Dân tộc Trung Hoa là người chủ tại hai quần đảo này không thể phản biện”. [23]
Mặc khác, trung ương đảng CS Trung Hoa đã xảo ngôn cho rằng Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam chỉ là những đảo và những dãi cát cận bờ thuộc miền Trung Việt Nam, chứng minh vì thế hai quần đảo này không phải là Tây Sa và Nam Sa của Trung Hoa.
Nhưng thực tế vẫn là thực tế, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã và sẽ vĩnh viễn là của Việt Nam.
1/ Những lý lẽ của nhà cầm quyền Trung Hoa đưa ra nhằm ngụy biện các việc “khám phá”, “khai khẩn” và “thâu huê lợi” của dân tộc Trung Hoa tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Những tài liệu đã được Bộ Ngoại Giao Trung Quốc công bố ngày 30 tháng 1 năm 1980 đã nhắc tới hai tác phẩm [24] từ thời Tam Quốc (220 265) để chứng minh rằng từ lâu Trung Hoa đã “khám phá” Tây Sa và Nam Sa. Họ cũng đưa ra một danh sách 6 tác phẩm[25] từ đời Tống đến đời Thanh (thế kỷ 11 đến thế kỷ thứ 19) và xác nhận rằng những tác phẩm này ”kể lại những cuộc hành trình của người Hoa đi đến Tây Sa và Nam Sa và những hoạt động sản xuất mà họ đã thực hiện từ hơn ngàn năm” và “đã đặt tên lần lượt cho hai quần đảo này với những tên sau đây : Jiurulozhou, Shitang, Qianlishitang, Wanlishitang, Changsha, Qianlichangsha, Wanlichangsha » v.v..., để chứng minh rằng dân tộc Trung Hoa đã “khám phá”, “khai khẩn” và “thu hoạch huê lợi” ở Nam Sa và Tây Sa.
Nhưng thực tế thì nội dung phần trích dẫn từ hai tác phẩm thời Tam Quốc thì rất mơ hồ. Riêng về 6 tác phẩm từ đời Tống đến đời Thanh thì chúng chỉ nhằm vào việc ghi chép những sự hiểu biết của dân Trung Hoa qua các thời đại này về các lãnh vực địa lý, lịch sử, tập quán… của những xứ khác trong vùng Ðông Nam Châu Á và vùng Nam Châu Á và về các hải trình từ Trung Hoa đi đến các nước khác ; trong đó không hề có những ghi chép về những cuộc du hành của người Hoa tại hai quần đảo này cũng như sự mô tả về “hoạt động sản xuất” tại đó. Những cái tên ngày xưa, theo Bắc Kinh, là tên mà các tác phẩm đó chỉ hai quần đảo, giả sử rằng thực sự đúng là như thế, thì chúng chỉ là những tên mà người Trung Hoa đã sử dụng trong quá khứ để mô tả địa lý các nước ngoài hay là những hải trình ở trên Biển Ðông, những cái tên của các địa phương này không hề có giá trị pháp lý để chứng minh rằng các quần đảo đó thuộc Trung Hoa.
Riêng về việc “khám phá” của Trung Hoa, giả sử sự việc này đúng như thế, thì nó cũng không có một ý nghĩa pháp lý nào để chứng minh rằng từ thời kỳ đó, những quần đảo mà người Trung Hoa gọi là Tây Sa và Nam Sa thuộc lãnh thổ của Trung Hoa. Sự việc “khai khẩn” và sự việc “thâu huê lợi” của người Hoa tại Tây Sa và Nam Sa giả sử có thật thì cũng chỉ là hành động của cá nhân, vì thế quốc gia Trung Hoa không có cách nào để nhận chủ quyền ở hai quần đảo đó.
2/ Vấn đề giả mạo dữ kiện để minh chứng thẩm quyền của các triều đại Trung Hoa tại Hoàng Sa và Trường Sa qua hồ sơ của bộ Ngoại Giao Trung Quốc.
Ðiểm chính mà công luận đòi hỏi chính quyền Trung Hoa phải chứng minh là : từ bao giờ và bằng cách nào quốc gia Trung Hoa chiếm đóng Tây Sa và Nam Sa ? Bắc Kinh đã vô phương giải thích một cách đứng đắn. Vì thế chính quyền Trung Hoa chỉ xác nhận bằng những lời nói chung chung như ”những nhà cầm quyền Trung Hoa tiếp nối đã hành sử thẩm quyền” tại hai quần đảo. Và để chứng minh họ đưa ra một số bằng chứng trong thời kỳ từ thế kỷ thứ 11 đến thế kỷ thứ 19, mà 3 bằng chứng giả mạo như sau :
2.1/ Bằng chứng 1 : Hồ sơ đã ghi ở trên của bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã trích dẫn một đọan văn và cho là của Wu Jing Zong Yao, viết dưới triều Renzong (1023 1063) Bắc Tống : Triều đình Bắc Tống ”ra lệnh cho quân đội hoàng gia tuần tiễu xây dựng ở Guangnan (hiện thời là Quảng Ðông) một nơi đóng quân nhằm vào việc tuần tiễu trên biển” và “xây dựng những chiến thuyền bằng loại có sống giữa (navire à quille)»... “Nếu người ta theo gió Ðông để cho thuyền đi về hướng Tây Nam, mất 7 ngày để từ Tunmenshan đến Jiuruluozhou”.
Cho rằng rằng Jiuruluozhou là “quần đảo Tây Sa”, hồ sơ trên kết luận rằng ”triều đình Bắc Tống đã sử dụng thẩm quyền của mình ở quần đảo Tây Sa”, và “hải quân Trung Hoa đã tuần tiễu cho đến Tây Sa”.
Nhưng sự thật thì hoàn toàn không đúng như thế. Wu Jing Zong Yao đã viết như sau :
”... ra lệnh cho quân đội hoàng gia thực hiện việc tuần tiễu, xây dựng một trại quân cho việc tuần tiễu trên biển tại hai bến tàu ở phía Ðông và phía Tây khoảng cách là 280 trượng [26], cách Tunmenshan 200 lí [27] và xây dựng những chiến thuyền bằng loại có sống giữa.
Nếu người ta theo gió Ðông để cho thuyền đi về hướng Tây Nam, mất 7 ngày để đi từ Tunmenshan [28] đến Jiuruluoshou, thêm 3 ngày nữa thì đến Pulaoshan (thuộc Huanzhou) [29], sau khi đi thêm 300 lí về hướng Nam thì tới Lingshandong. Ở phía Tây Nam của nơi này thì có các nước Dashifu, Sizi, Tianzhu [30] . Không thể ước lượng được khoảng cách. [31]”
Như thế rõ ràng trong phần trích dẫn ghi trên đây của Wu Jing Zong Yao, một đoạn ghi lại việc hoàng đế của Bắc Tống ra lệnh ”xây dựng một trại quân dùng vào việc tuần tiễu trên biển” ở bến Quảng Châu (Guangzhou), một đoạn khác mô tả vị trí địa lý của trại quân ghi trên, và một đoạn khác mô tả hải trình đi từ bến Quảng Châu cho đến Ấn Ðộ Dương. Không thấy chỗ nào ghi rằng hải quân Trung Hoa đi tuần tiễu cho đến quần đảo “Xisha” (Tây Sa). Như thế, hồ sơ của bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã cắt một đoạn để dán vào một đoạn khác nhằm ngụy tạo bằng chứng để dành lấy Hoàng Sa của Việt Nam. [32]
2.2/ Bằng chứng 2 : Hồ sơ dẫn trên của bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã dựa lên những việc quan sát thiên văn xãy ra ở Nam Hải và đầu triều Nguyên (Yuan) để khẳng định rằng ”dưới triều Nguyên, quần đảo Xisha Tây Sa thuộc lãnh thổ Trung Hoa”.
Theo Yuanshi, lịch sử chính thức của triều Nguyên (Yuan), những quan sát thiên văn đã thực hiện vào đầu triều đại này được kể lại như sau :
”Những đo lường về bóng của mặt trời tại bốn biển được thực hiện ở 27 vị trí, phía Ðông cho tới Kaoli Cao Ly, phía Tây cho tới Tianchi, phía Nam cho tới Zhuya, phía Bắc cho tới Tiele.” [33]
Dưới tựa đề “quan sát bốn biển”, Yuanshi đã ghi lại 27 vị trí [ii][34] mà nơi đó đã được thực hiện những quan sát thiên văn, trong đó gồm có các nơi Kaoli, Tiele, Beihai, Nanhai.
Những dữ kiện đã ghi lại trong “Yuanshi” cho thấy rõ ràng rằng những quan sát thiên văn tại 27 vị trí không phải là việc “quan sát khắp đất nước” như hồ sơ của Bắc Kinh đã khẳng định, mà là việc “quan sát ở bốn biển”.
Ðó chính là lý do mà “Yuanshi” cũng đã ghi chú những vị trí ở ngoài lãnh thổ Trung hoa như Kaoli (Ðại Hàn), Tiele (Sibérie, Nga), Beihai (vùng bờ biển ở Sibérie), Nanhai (Biển Ðông). [35]
Giả sử rằng vị trí quan sát thiên văn vùng “Nanhai” ở tại Xisha (Tây Sa tức Hoàng Sa), việc này cũng không có nghĩa là Xisha thuộc lãnh thổ Trung Hoa từ thời Yuan (Nguyên). Bộ Yuanshi cũng đã xác nhận rằng lãnh thổ Trung Hoa về hướng Nam chỉ đến đảo Hải Nam và không vượt qua sa mạc Gobi [36] ở phương Bắc.
2.3/ Bằng chứng 3 : Hồ sơ của bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã trích dẫn việc một toán tuần tiễu trên biển do Phó Ðô Ðốc Wu Sheng chỉ huy, từ 1710 và 1712, dưới đời nhà Thanh : ”Khởi hành từ Qiongya, đội hải quân đi đến Tonggu và đi ngang qua Qizhouyang và Sigengsha, trải qua như vậy 3.000 lí, để tự mình thực hiện một vòng kiểm soát”, để khẳng định ”Quizhouyang là vùng đảo Xisha – Tây Sa, tại đó lực lượng hải quân của tỉnh Quảng Ðông đảm trách việc tuần tiễu”.
Nhưng sự thực thì hoàn toàn không phải như vậy. Những địa danh trong đoạn trích dẫn trên đây thì ở trong vùng chung quanh đảo Hải Nam :
Quiongya, đó là “vùng quân sự Quiongya (đảo Hải Nam) dưới triều Thanh, bộ chỉ huy đóng ở Qiongshan gần thành phố Hải Khẩu (Haikou), ở phía Bắc đảo Hải Nam. [37]
Tonggu thì ở điểm Ðông Bắc đảo Hải Nam. [38]
Qizhouyang chỉ vùng biển có 7 đảo mang tên Qizhou ở về phía Ðông đảo Hải Nam. [39]
Sigengsha là một dãi cát ở phía Tây đảo Hải Nam. [40]
Sư thật tìm thấy qua sự nghiên cứu khách quan ở những văn bản gốc. Việc này cho thấy rằng bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã có hành động cố ý giả mạo để cho Qizhouyang trở thành “vùng đảo Tây Sa” và việc tuần tiễu của Wu Sheng chung quanh đảo Hải Nam trở thành việc tuần tiễu “vùng đảo Tây Sa”, cuối cùng kết luận rằng vùng này ngày xưa ”được lực lượng hải quân tỉnh Quảng Ðông phụ trách việc tuần tiễu”.
Sự đối chiếu những đoạn trích dẫn trên đây do Bắc Kinh đưa ra với các bản chánh đã cho thấy rõ rệt rằng ba điểm này không hề có một tương quan nào với quần đảo “Xisha”.
Bắc Kinh cũng đã nói sai khi cho rằng một số địa dư chí của các địa phương của Trung Hoa dưới thời Minh và Thanh có viết ”Quảng Châu (Wanzhou) bao gồm Qianlichangsha (Thiên Lý Trường Sa) và Wanlishitang” [41] nhằm mục đích chứng minh rằng ”quần đảo Xisha và Nansha vào thời đó thuộc Wanzhou (Quảng Châu), phủ Qiongzhou (Khâm Châu), tỉnh Quảng Ðông”. Nhưng trong bộ Da Qing Yi Tongzhi (Ðại Thanh Nhất Thống Chí), bộ địa dư chính thức được viết bởi Viện Quốc Gia Sử Học dưới triều nhà Thanh với lời dẫn nhập của hoàng đế Xuanzong năm 1842, không hề có đoạn nào ghi nhận rằng “Qianlichangsha” và “Wanlishitang” thuộc về Wanzhou (Quảng Châu), phủ Qiongzhou (Khâm Châu), tỉnh Quảng Ðông. Cũng có thể do lý do này mà nhà cầm quyền Bắc Kinh đã không trích dẫn đoạn nào thuộc bộ sách này, mặc dầu đây là một bộ sách chính thức của quốc gia Trung Hoa.
Mặc khác, nhà cầm quyền Bắc Kinh cũng tạo dựng lên bằng chứng đó là ba bản đồ Trung Hoa (tất cả được thực hiện dưới triều nhà Thanh) [42]. Người đọc có thể tự hỏi rằng tại sao họ không công bố những bản đồ này. Hành động dấu diếm này người ta có thể hiểu dễ dàng, đó là tất cả những bản đồ của Trung Hoa, cho đến những năm đầu của Cộng Hoà Trung Hoa, thì không có ghi nhận về Xisha và Nansha như là nhà cầm quyền Bắc Kinh đã tuyên bố. Hay là họ phải cần thời gian để vẽ bản đồ ?
Về việc đổ bộ chớp nhoáng quần đảo Xisha, thừa lệnh của Tổng Ðốc Quảng Ðông Zhang Renjim, Ðô Ðốc Hải Quân Li Zhun cầm đầu 170 quan quân, vào năm 1909, đã đổ bộ lên một số đảo thuộc Xisha, thì đây là một hành động bất hợp lệ, bởi vì ít nhất từ hàng thế kỷ, Hoàng Sa mà Trung Hoa gọi là Xisha, đã là một lãnh thổ của Việt Nam. Ðây không phải là một vùng hải đảo vô chủ.
Về việc đổ bộ của Hải Quân Cộng Hòa Trung Hoa trên đảo Phú Lâm (Ile Boisée) thuộc Hoàng Sa và đảo Itu Aba thuộc Trường Sa vào tháng 12 năm 1946 là một hành động xâm lăng, bởi vì đã từ lâu, hai quần đảo này đã thuộc chủ quyền Việt Nam.
Về việc chiếm đóng của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa tại nhóm đảo Ðông Bắc từ năm 1950 và từ 1974 nhóm Tây Nam của quần đảo Hoàng Sa lúc đó dưới sự kiểm soát của Việt Nam Cộng Hòa, cũng là một hành động xâm lăng bằng vũ lực.
Việc xâm lăng, xãy ra chớp nhoáng hay sau đó chiếm đóng lâu dài, hoặc bất kỳ hành động nào của Trung Hoa ở Hoàng Sa và trên đảo Itu Aba thuộc Trường Sa là một hành vi xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Những hành động này chà đạp luật pháp quốc tế và sẽ không đem lại cho kẽ gây hấn bất kỳ một quyền hạn hay có một chủ quyền nào ở những nơi này.
3/ Một dẫn chứng mới của Bắc Kinh : Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam không phải là “Xisha” và “Nansha” của Trung Hoa.
Hồ sơ dẫn trên của bộ Ngoại Giao Trung Quốc được kết luận bằng một sự khẳng định long trọng : ”Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam không phải Xisha của Trung Hoa”, cũng tương tự ”Quần đảo Trường Sa của việt Nam không phải Nansha của Trung Hoa” ; Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam chỉ có thể là ”những đảo và những dãi cát cận bờ ở Trung phần Việt Nam”. Phía Trung Hoa còn khẳng định thêm rằng phía Việt Nam không thể ”chứng minh rằng Trường Sa tức là Nansha của Trung Hoa”. Ðây là những lý lẽ mới mẻ mà Trung Hoa chưa từng sử dụng.
Từ những lý lẽ này lại người ta thấy rằng, một mặt, Bắc Kinh công nhận sự hiện hữu của những đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, mặc khác họ cũng cho rằng có sự hiện hữu của những đảo gọi là Xisha và Nansha. Như thế thì những cái gọi là “Xisha” và “Nansha” thì chúng ở đâu ? Những quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu đã thuộc lãnh thổ của Việt Nam, chúng đã được ghi nhận trong một số lượng lớn sử sách của Việt Nam và được vẽ trên nhiều bản đồ của Việt Nam cũng như Tây Phương (dưới tên Paracels và Spratley hay Spratly). Những người lãnh đạo Trung Quốc đã tự cho rằng hai quần đảo này thuộc về lãnh thổ của Trung Hoa mà không trình bày ra một bằng chứng nào và đặt tên cho hai quần đảo này là “Xisha” và “Nansha”. Và hôm nay họ lại lên tiếng cho rằng Việt Nam không thể chứng minh rằng Hoàng Sa và Trường Sa tức là “Xisha” và “Nansha” của họ. Thật là không có cách nào để diễn tả cái điêu ngoa của những lời xảo trá này. Việc này cho thấy Bắc Kinh đã không còn tìm thấy được một lý do nào đứng đắn và thuyết phục hơn để tranh cãi với Việt Nam về Hoàng Sa và Trường Sa.
Tất cả những tác phẩm của Việt Nam đã phân biệt một cách rõ rệt giữa Hoàng Sa và những đảo cận bờ ở miền Trung Việt. Trong Phủ Biên Tạp Lục, nhà bác học Lê Quí Ðôn đã ghi rõ rằng Ðại Trường Sa ở về phía bên kia của đảo Ré và để đi đến đó phải mất ba ngày và ba đêm.
Bản đồ Ðại Nam Nhất Thống Toàn Ðồ cũng có vẽ Hoàng Sa Vạn Lý Trường Sa ở về phía bên kia các đảo cận bờ như cù lao Chàm, cù lao Ré, cù lao Xanh (Puolo gambi), cù lao Thu (Poulo Cécir de mer) v.v…
Mặc khác, những người cầm quyền Trung Quốc đã bóp méo bài viết năm 1837 của linh mục J.L. Tabert để cho rằng quần đảo Hoàng Sa mà linh mục này đề cập chỉ là ”những đảo và dãi cát gần bờ thuộc miền Trung Việt Nam”. Những người này không biết thật hay là giả đò không biết ? Bởi vì năm sau, 1838, Linh mục Tabert cho in bản đồ An Nam Ðại Quốc Họa Ðồ trong quyển Tự Ðiển Latin Việt (Dictionarium Latino Anamiticum) và trên bản đồ này, phía ngoài của những đảo chánh ven bờ thuộc miền Trung Việt Nam như là cù lao Chàm, cù lao Ré, cù lao Xanh, cù lao Thu v.v… có vẽ một cách minh bạch “Paracel seu Cat Vang”. Như vậy là linh mục Tabert đã phân biệt một cách rõ rệt giữa quần đảo Hoàng Sa ở giữa Biển Ðông với những đảo cận bờ của miền Trung Việt Nam. Hầu như tất cả những bản đồ của những nhà hàng hải Tây Phương vào các thế kỷ thứ 16, 17, và 18 đều vẽ Pracel hay Parcel trong vùng của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hôm nay, và chúng ở cách xa những đảo cận bờ của miền Trung Việt Nam.
Năm 1959, có 82 ngư dân thuộc Trung Quốc trên 3 chiếc thuyền cặp vào 3 đảo thuộc Hoàng Sa đó là các đảo : Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Hòa, nhưng những người này bị nhà cầm quyền Việt Nam Cộng Hòa bắt giữ. Về việc này bộ Ngoại Giao Trung Quốc ngày 29 tháng 2 năm 1959 có công bố một tuyên bố phản đối Việt Nam Cộng Hòa. Những ngư dân của Trung Quốc, theo như nội dung của bản tuyên bố này, thì bị bắt không phải tại những đảo cận bờ ở miền Trung Việt, mà họ bị bắt trên ba đảo Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Hòa thuộc quần đảo Hoàng Sa.
Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã tố cáo ngày 19 tháng 1 năm 1974 việc quân đội Trung Quốc đã đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, ngày 20 tháng 1 năm 1974, bộ trưởng bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã công bố một tuyên cáo để giải thích việc xâm lăng này. Ðây là một việc không thể chối cãi rằng tất cả sự việc đã xãy ra tại Hoàng Sa mà Bắc Kinh gọi đó là “Xisha”, và kể từ thời điểm đó, quân đội Trung Quốc chiếm đóng Hoàng Sa chứ không phải những đảo ven bờ của miền Trung Việt.
Hai thí dụ trên đây chứng minh rằng, cho đến trước ngày 30 tháng 1 năm 1980, tức thời điểm mà bộ Ngoại Giao Trung Quốc công bố hồ sơ nhắc ở trên, những gì mà Bắc Kinh gọi là “Xisha” và “Nansha” thì đúng là các quần đảo “Hoàng Sa” và “Trường Sa”, chứ không phải là những đảo cận bờ của miền Trung Việt Nam, tức là Paracels và Spratley hay Spratly trên các bản đồ hải trình của hàng hải quốc tế.
Bởi vậy, những quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam không bị thay đổi vị trí địa lý do việc “hán hóa” tên của chúng ; và cũng không thuộc về Trung Hoa vì những trá ngụy dấu đầu lòi duôi do nhà cầm quyền Bắc Kinh dựng lên.
******************************************************************************
Mặc dầu đã làm biết bao nhiêu phong trào tuyên truyền láo khoét và đã bỏ ra biết bao công sức từ mấy thập niên nay để cắt dán tài liệu nhằm bóp méo nội dung để tạo dựng lên những lý lẽ, nhưng Bắc Kinh vô phương chứng minh được rằng từ khi nào Trung Hoa đã chiếm hữu Hoàng Ha và Trường Sa và quốc gia này đã hành sử chủ quyền của họ ra sao tại những nơi đây. Sự việc rất đơn giản :
Bởi vì quần đảo Hoàng Sa (Paracels) và quần đảo Trường Sa (Spratley hay Spratly) mà nhà cầm quyền Trung Quốc gọi là “Xisha” và “Nansha” chưa bao giờ thuộc về lãnh thổ của Trung Hoa.
Kết Luận
Chắc chắn là có những vấn đề tại Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng việc cần thiết là những vấn đề này phải đặt ra cho đúng.
Trên căn bản thực tế lịch sử và luật quốc tế người ta thấy rõ rệt điều này :
Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đã từ lâu và bất biến là lãnh thổ của Việt Nam, bởi vì quốc gia Việt Nam đã chiếm hữu hai quần đảo này từ khi chúng chưa thuộc về bất kỳ một quốc gia nào và Việt Nam đã thiết lập tại những nơi đây thẩm quyền quốc gia đồng thời hành sự thực sự chủ quyền của mình tại hai quần đảo này một cách liên tục.
Về phần Trung Hoa, quốc gia này chưa từng chiếm hữu Hoàng Sa và Trường Sa, mà họ gọi dưới hai tên Xisha và Nansha, họ cũng chưa từng hành sự chủ quyền của họ trên hai quần đảo này. Cho đến đầu thế kỷ 20, quốc gia Trung Hoa cũng chưa bao giờ lên tiếng đòi hỏi chủ quyền tại những nơi này. Thế nhưng ngày hôm nay họ lại bóp méo lịch sử bằng cách trưng bày những bằng chứng không đúng sự thật để lên tiếng dành chủ quyền Xisha và Nansha.
Như vậy ở điểm này, về thực tế, không phải là sự khác biệt về quan điểm giữa Việt Nam và Trung Hoa, mà đó là một hành vi gây hấn và xâm lăng của Trung Hoa tại quần đảo Hoàng Sa – lãnh thổ không thể tách rời của việt Nam, đồng thời đó là những yêu cầu hách dịch và vô lý tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Nhà cầm quyền Trung Hoa phải trả lại cho Việt Nam quần đảo Hoàng Sa và từ bỏ mọi yêu sách tại quần đảo Trường Sa. Ðây là một việc đương nhiên và phù hợp với luật pháp quốc tế.
Những tham vọng của Bắc Kinh tại hai quần đảo Hoàng Sa và Tường Sa chỉ để lộ đường lối chính trị bành trướng chủ nghĩa và chủ nghĩa bá quyền của một đế quốc, nhắm xâm chiếm Việt Nam, cũng như Lào và Cam Bốt, để từng bước kiểm soát Biển Ðông, biến thành nơi này một cái ao sau nhà, dùng bán đảo Ðông Dương như một bàn đạp để bành trướng về hướng Ðông Nam Châu Á.
Những hành động của nhóm lãnh đạo Trung Hoa – xâm lăng Hoàng Sa và âm mưu cướp đoạt Trường Sa – không những chỉ là một hành động xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam mà còn là một mối đe dọa lên quyền lợi của các nước quanh vùng Biển Ðông cũng như đến nền hòa bình và ổn định ở khu vực Ðông Nam Á.
Dân tộc Việt Nam nhứt quyết tranh đấu để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của mình tại Hoàng Sa và Trường Sa, chống lại mọi mục tiêu bành trướng của nhóm lãnh đạo Trung Hoa. Công cuộc tranh đấu của người Việt Nam chống lại khuynh hướng bành trướng và bá quyền của Bắc Kinh đã được sự ủng hộ của nhiều tổ chức, chắc chắn sẽ đem lại một chiến thắng trọn vẹn.
[1] Bản đồ của những nhà hành hải Bồ Ðào Nha, Hòa Lan, Pháp như Lazaro Louis, Ferdanao Vaz Dourdo, Joso Teixira, Janssonius, Willem Jansz Blaeu, Jacob Aertsz Colom, Theunis Jacobsz, Hendrick Doncker, Frederich De Wrt, P. Duval, Van La ngren, v.v...
[2] Dòng dõi Chúa Nguyễn 1558 1775, lãnh đạo Ðàng Trong, tức miền Nam VN hiện nay.
[3] Xem bộ Hồng Ðức Bản Ðồ.
[4] Phía Nam của Sa Kỳ, làng An Vĩnh ở trên đảo Ré cũng thuộc Quảng Ngãi.
[5] Ðơn vị đo chiều dài của Việt Nam, khoảng 500 mét.
[6] Xem “Mistère des Atolls – Journal de Voyage au Paracel”, đăng trong tuần báo “Indochine” số 3, 7 và 10 tháng 7 năm 1941.
[7] Từ ngữ Cochinchine hay Cochinchina trong các bài viết của người Tây Phương thì gồm có hai nghĩa tùy theo hoàn cảnh : Việt Nam hay chỉ là miền Nam.
[8] A. Salles có ghi lại trong “Bulletins des Amis du vieux Huê”, số 2, 1923, trang 257.
[9] Note on Geography of Cochinchina của Linh Mục Jean Louis Tabert, đăng trong The Journal of the Aslatie Society of Bengal. Vol VI, 1837, page 745.
[10] Geography of the Cochinchinese Empire, đăng trong The Journal of the Royal Geography Society of the London, bộ số XIX, 1849, trang 93.
[11] Tức là bến Cửa Ðại thuộc Quảng Nam – Ðà Nẵng.
[12] Sa Vinh tức Sa Huỳnh hiện nay, thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
[13] Ngày xưa Bai Cat Vang là một vùng rất nguy hiểm, đầy dẫy những dãi cát và đá ngầm, ở ngoài khơi của Biển Ðông.
[14] Quyển 122, kỳ 2.
[15] Quyển 50, kỳ 1.
[16] Quyển 52, kỳ 1.
[17] Quyển 104, kỳ 2.
[18] Quyển 122, kỳ 2.
[19] Quyển 154, kỳ 2.
[20] Quyển 165, kỳ 2.
[21] Quyển 104, kỳ 2.
[22] Tức là Sóng Tụ Tây (Caye du Nord Ouest) và Sóng Tụ Ðông (Caye du Sud Est)
[23] Hồ sơ của bộ Ngoại Giao Trung Quốc công bố ngày 30 tháng 1 năm 1980.
[24] Nan Zhou Yi Wu Zhi, Funanzhuan
[25] Mong Liang Lu, Qao Yi Zhi Luc, Dong Xi Yang Kao, Shun Eeng Xiang Song, Zhi Nan Zheng Fa, Hai Guo Wen Jian Lu.
[26] Trượng : đơn vị đo chiều dài của Tàu ngày xưa, tương đương 3,51 mét.
[27] Lí : Ðơn vị đo chiều dài của Tàu ngày xưa, tương đương 0,5 Km.
[28] Tunmenshan ở tại cửa sông Zhoukiang (Quảng Ðông)
[29] Pulaoshan tức là đảo Cham, Huanzhou là nước Chàm.
[30] Dashifu, hay Dashi, theo một sách cổ của Trung Hoa, đó chỉ một vương quốc thời Trung Cổ ở trong vịnh Persique ; Sizi là Srilanka (Tích Lan) ; Tianzhu là Ấn Ðộ (theo các sách của Tangshu, Songshi, Gugintushuzisheng).
[31] We Jing Zong Yao, bộ 1, quyển 20, trang 19a, 19b.
[32] Nhà cầm quyền Bắc Kinh không những chỉ cắt dán tài liệu lịch sử nhằm bóp méo nội dung của các sử liệu đó mà họ còn phiên dịch một cách sai lệch tựa đề của các quyển sách đã trích dẫn. Thí dụ : “Dao Yi Zhi Luc” có nghĩa hiện thời “Khái quát về những đảo quốc (pays barbares insulaires)» (theo khái niệm khinh bỉ của Trung Hoa, “barbare – man, mọi” có ý nghĩa là người ngoại quốc, đã được dịch là “Khái quát về các đảo” ; Hai Guo Wen Jian Lu có nghĩa là “Những sự việc nghe và thấy tại các xứ ngoại quốc”, đã được dịch như sau “Những sự việc nghe và thấy tại các vùng cận biển”.
[33] “Yuanshi”, quyển 48, trang 1a và 1b.
[34] “Yuanshi”, quyển 48, trang 7a và 7b.
[35] Xem giải thích trong quyển Hai Guo Tu Zhi xuất bản năm 1842.
[36] Xem Zhung Wen Da Ci Dien, 1963 (do Ðài Loan công bố)
[37] Theo Yuanshi (phần địa danh), Li Da Gang Wu Poa (nhà Thanh)
[38] Xem bản đồ của Zhung Quo Sin Ju Ji, năm 1917 (do Báo Chí Thương Mại Thượng Hải ấn hành)
[39] idem
[40] Bản đồ hàng hải Trung Hoa, tỉ lệ 1/500.000, trang nói về “bán đảo Liễu Châu (Leizhou) và đảo Hải Nam), do Trung Quốc ấn hành tháng 5 năm 1965 bằng Việt ngữ và Hoa ngữ.
[41] “Guangdong Tongzhi Quảng Ðông Thống Chí», “Qiongzhou Fu Zhi, Khâm Châu Phủ Chí”, “Wan Zhou Zhi, Quảng Châu Chí”
[42] “Huang Quing Gezhi Fen Tu” (1755), “Da Quing Wan Nian Yi Tong Di Li Quan Tu” 1810, “Da Quing Yi Tong Xia Quan Tu” (1817).
Nguồn :
(Quần Ðảo Hoàng Sa và Trường Sa Lãnh Thổ Việt Nam: Trương Nhân Tuấn lược dịch từ hồ sơ “Les Archipels Hoang Sa et Truong Sa, Territoire Vietnamien” 1981, ......, CAOM, Aix En Provence, Pháp Quốc )
Thursday, 13. December 2007, 15:35:53
Vietnam, Trường Sa, Paracel Islands, Hoàng Sa
...
Liên kết:
Vietnam asserts sovereignty over Paracel Islands and Spratly Islands
Lập trường của Trung Quốc trong tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và luật quốc tế
Trung Quốc và thủ đoạn chiếm đoạt Hoàng Sa, Trường Sa: Phần 1: Những chứng tích lịch sử,
Phần 2: Những thủ đoạn bẩn thỉu của Bắc Kinh
TRUNG QUỐC VÀ THỦ ĐOẠN CHIẾM ĐOẠT HOÀNG SA, TRƯỜNG SA
PHẦN III: HÃY CẢNH GIÁC VỚI BÁ QUYỀN TRUNG QUỐC.
“Chúng ta phải chinh phục trái đất. Đó là mục tiêu của chúng ta… Theo tôi, trái đất của chúng ta là quan trọng nhất, tại đây chúng ta sẽ xây dựng một quốc gia hùng mạnh. Nhất định phải thầm nhuần một quyết tâm như vậy!” Phát biểu của Mao Trạch Đông tại Hội nghị toàn thể lần thứ VI Ban chấp hành TW ĐCS Trung Quốc tháng 6 1961.
Tham vọng chiến lược toàn cầu của Bắc Kinh có nguồn gốc sâu xa về lịch sử và đã thoát thai từ khuôn mẫu tham vọng của những Tần Thuỷ Hoàng, Hốt Tất Liệt, Càn Long… những kẻ đã tự phong cho mình cái tước hiệu “Con trời”. Theo nếp suy nghĩ của họ, đã là “con trời” thì họ nắm trong tay quyền bính do trời ban, đã có thể tuỳ tiện đi “bình” và “trị” thiên hạ, tức là tất cả những mảnh đất nằm dưới bầu trời!
Thời cổ xưa, hàng nghìn năm về trước, các “con trời” đó đã xem thế giới này, “thiên hạ” này như là một hình vuông, đất nước mà họ trực tiếp trị vì và là vòng tròn tiếp giáp các cạnh của hình vuông đó, nơi cư trú của dân tộc “thượng đẳng” văn minh, còn các dân tộc sống ở bốn góc kia mang tên: Tây Nhung, Đông Di, Bắc Địch, Nam Man đều là những giống người man rợ. Ngai vàng của hoàng đế Trung Hoa được đặt tại tâm điểm của vòng tròn cũng tức là của toàn thiên hạ. Các “con trời” đó nối tiếp nhau tự cho mình cái quyền đi “khai hoá” các giống người man rợ chung quanh bằng cách xua quân “thiên triều” đến chiếm lĩnh đất nước của họ, biến những đất nước đó thành những quận huyện biên cương của “thiên triều”, hoặc ít ra cũng thành những chư hầu hằng năm phải tiến cống vật báu để “thiên triều” sử dụng. Đây chẳng qua chỉ là một hình thức thu “tô” của tên chúa đất trùm thiên hạ, xem tất cả những con người sinh ra dưới bầu trời này đều là “nô lệ”, hoặc “nông nô” của hắn!
Trong khuôn khổ mối quan hệ giữa “thiên triều” và các nước chư hầu, chỉ cần một nước chư hầu nào đó chậm “tiến cống”, hoặc do thiên tai, mất mùa, gặp khó khăn trong việc mò hạt trai đáy biển, tìm ngọc trên núi, thu ngà voi, sừng tê giác trong rừng nên “tiến công” không đủ số đã được thiên triều quy định hoặc có đôi chút hành động, ngôn ngữ bị gán cho là “phạm thượng” là thiên triều lập tức lấy đó làm cớ để hưng binh “thảo phạt”, “để dạy cho nước chư hầu đó một bài học nhớ đời”, hoặc nếu thuận lợi, biến luôn nước chư hầu đó thành quận, huyện của thiên triều để dễ bề sai phái, thu tóm nhân lực và tài nguyên. Các “con trời” Trung Quốc thật đúng là những tên thực dân đầu tiên trong lịch sử và cũng là những tên thực dân ngoan cố dai dẳng nhất trên mặt quả đất!
Đứng trên tâm điểm của cái “thế giới hình vuông” đó, các “con trời” Trung Quốc đã từ thế kỷ này đến thế kỷ khác nhìn ra bốn hướng để xuất quân chinh phục. Thực tiễn lịch sử trong hai thiên niên kỷ vừa qua cho thấy rõ hai yếu tố địa lý và dân tộc đã có ảnh hưởng quan trọng đến việc vạch kế hoạch xuất chinh của các “con trời” qua triều đại của Trung Quốc.
Trước hết, nhìn về hướng đông, tức là nhìn về quần đảo Nhật Bản, các “con trời” Trung Quốc không thể nào thấy cái hào thiên nhiên bát ngát, tức là biển Nhật Bản, che chở cho đất nước lại cũng có một “thiên hoàng”. Đã có một lần, đế quốc Mông Nguyên tiến đánh các hòn đảo Phù Tang, nhưng một cơn bão lớn đã dìm đắm phần lớn các chiến thuyền chở đạo quân Mông Nguyên, cứu đất nước Nhật Bản khỏi phải trải qua một cơn thử thách gay go. Sau đó, lại đến 3 lần thảm bại của quân Mông Nguyên trên đất Việt Nam, từ Hốt Tất Liệt đến con cháu của y phải bãi bỏ âm mưu thôn tính Nhật Bản. Chính nhờ vị trí địa lý thuận lợi đó mà các “thiên hoàng” Phù Tang cậy vào thế lợi của sự cách bức về biển cả, mới dám tự xưng là “Hoàng đế nước mặt trời mọc” khi giao dịch với “Hoàng đế nước mặt trời lặn” Trung Hoa. Sau này, từ đầu thế kỷ thứ XX đến tháng 8 1945, “Hoàng đế nước mặt trời mọc” đã có nhiều dịp xuất chinh xâm chiếm một phần khá lớn lãnh thổ Trung Quốc.
Nhìn về các hướng bắc, hướng tây, tây bắc, tây nam, phạm vi bành trướng đều có những giới hạn nhất định. Nơi thì “thiên triều” vấp phải những dân tộc “du mục” thiện chiến với những đạo quân sống trên mình ngựa, thoắt ẩn, thoắt hiện trên những cánh đồng cỏ mênh mông, và những bãi sa mạc bát ngát, nơi thì gặp phải đất đai của những “thiên triều” ở các hướng đó lại thường thưa dân, khô cằn, nghèo nàn phẩm vật. Tiểu lục địa Ấn Độ thật hấp dẫn nhưng lại quá xa xôi cách trở, ngoài ra, lại bị ngăn cách bằng bức tường thành hầu như bất khả xâm phạm, tức là dãy núi Hi ma lai a cao ngất quanh năm tuyết phủ.
Như vậy, miếng mồi béo bở nhất, dễ vươn tay với tới ở hướng nam là nước Đại Việt, với khí hậu ôn hoà, tài nguyên phong phú, đặc biệt đây lại là cửa ngõ để quân của “thiên triều” có thể từ đấy tiến dần xuống khu vực Đông Nam châu Á người đông của lắm, một bàn đạp để có thể bước vào Ấn Độ Dương, sang tiểu lục địa Ấn Độ và xa hơn nữa có khi có được một hải quân hùng hậu. Dưới con mắt của các “con trời”, Đại Việt là ngưỡng cửa mà quân của các “thiên triều” phương Bắc cần vượt qua nhằm bước vào không gian mênh mông đáp ứng giấc mộng chinh phục ngông cuồng.
Sùng bái Tần Thuỷ Hoàng, Hốt Tất Liệt, đến tận mây xanh, tập đoàn phản động Bắc Kinh đã, đang và sẽ đứng trên một lập trường, quan điểm với các “con trời” thuộc triều đại phong kiến Trung Quốc trước đây, đã biến chất hoàn toàn, cách nhìn, cách đặt và cách giải quyết vấn đề của họ tất nhiên “tương đồng” với những “tiền bối” mà họ sùng bái và cả với những tên trùm đế quốc, thực dân cũ và mới mà họ xem là bè bạn, đồng minh thân thiết. Phải đâu cái bản chất “bành trướng đại dân tộc bá quyền” của họ chỉ mới bộc lộ gần đây.
Ngay trong thời kỳ “nội chiến quốc cộng”, giữa tướng Mỹ Marshall, sau này làm bộ trưởng ngoại giao của chính quyền Truman ngay sau Chiến tranh thế giới II, và một số người tại Diên An đã diễn ra những cuộc ve vãn chính trị. Đây chính là những khoé mắt đưa tình đầu tiên mà kết quả chung cuộc là cuộc “hôn nhân chính trị” hay đúng hơn “cuộc liên minh ma quỷ” đã được Đặng Tiểu Bình ký kết với Tổng thống Mỹ Ca tơ tại Washington. Ngay từ gần nửa thế kỷ về trước đó, một số người tại Diên An đã phác hoạ bước đi trên con đường bành trướng, bá quyền của họ đối với châu Á, là bước đi song song với với đế quốc Mỹ, dựa vào đế quốc Mỹ. Sóng gió ba đào do cuộc nội chiến, cuộc xâm lược của đế quốc Nhật và cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đã làm đứt quãng sự “tìm hiểu” giữa Washington và Diên An mà Ét ga Xnâu, một nhà báo Mỹ kiêm tình báo CIA Mỹ, làm môi giới.
Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa được thành lập thật là một cơ hội để chắp nối mối tình Washington Bắc Kinh. Thế nhưng cuộc chiến tranh Triều Tiên lại nổ ra. Đầu tháng 11 1950, khi quân đội Mỹ tiến đến gần bờ sông Áp Lục, “tướng Mác Ac tơ cho rằng thời cơ can thiệp ồ ạt (của Trung Quốc) đã qua lâu rồi, người Trung Quốc chắc chắn sẽ không bước vào cuộc chiến khi lực lượng Bắc Triều Tiên đã không còn hiệu lực chiến đấu trong khi trước đây, chỉ cần Trung Quốc giúp thêm đôi chút là Bắc Triều Tiên đã có thể chiếm toàn bộ bán đảo Triều Tiên”.
Không phải là Mác Ac tơ đã không hiểu khá rõ đường lối chiến lược toàn cầu của Bắc Kinh lúc đó. Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình thế giới và tình hình nội bộ Trung Quốc lúc đó, hành động quá trắng trợn của Mác Ac tơ đưa quân đội Mỹ đến tận sát bờ sông Áp Lục, uy hiếp trực tiếp vùng công nghiệp đông bắc Trung Quốc, đã đặt Bắc Kinh trong một tình thế không thể nào can thiệp. Cho tới nay, vẫn còn có những người trong các giới chính trị và quân sự than thở rằng: phải chi lúc đó quân của Mác Ac tơ dừng bước tiến cách bờ sông Áp Lục vài chục ki lô mét, lấy đó làm khu đệm để làm “yên lòng” Bắc Kinh! Cuộc chiến tranh Triều Tiên đã kết thúc với đường ranh giới giữa lực lượng các bên tham chiến tại vĩ tuyến 38. Như thế, ngay từ đầu năm 1950, Bắc Kinh cũng đã thực hiện chính sách “níu áo quân Mỹ” ở lại châu Á để ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc để chống lại Liên Xô và như thế làm bình phong để Bắc Kinh nấp sau đấy, “tu chỉnh binh mã”, từng bước dần dần thay chân chú SAM khi lông cánh đã mọc đầy đủ.
Tham vọng bành trướng của Bắc Kinh có lẽ lúc nào cũng vượt qua cả giới hạn giấc mơ của Hốt Tất Liệt. Ngày từ những năm đầu 1960, Bắc Kinh đã phái những đoàn công trình xây dựng đường sắt, đường bộ sang “giúp đỡ” một số nước ở Đông châu Phi. Trước khi bị lật đổ, tên vua Ê ti o pi a Hai lê Xê la xi ê đã được Bắc Kinh liệt vào hàng “bạn thân quý”, nhất của Trung Quốc.
Cơ lô đơ Ac nun, đại tá, chuyên viên chiến lược Pháp đã viết: “Noi gương theo đế quốc Rô ma đã đặt ách thống trị của họ trước đây đựa trên một hệ thống đường sá, Trung Quốc cũng đã cho xây dựng những con đường mới từ Tân Cương đến Pa ki xtan, xuyên qua miền Tây Ca sơ mia, từ Tân Cương đến Nê Pan, từ Tây Tạng đến Ne Pan, từ Vân Nam đến lưu vực sông Mê Công xuyên qua Lào. Bắc Kinh đã chuẩn bị cho bước đường bành trướng của chúng như thế đấy.
Đưa ra thuyết “ba thế giới”, Bắc Kinh đã bộ lộ tham vọng làm “bá” cái “thế giới thứ ba”, mà theo định nghĩa của họ, gồm những nước “kém phát triển”, xem đấy là bước đầu tiên để dần dần leo lên làm “bá” hai “thế giới” nói trên, tức là làm “bá chủ” thế giới. Đông Nam Á nằm trong khu vực địa lý chiến lược chính trị mà Bắc Kinh tự cho là vừa tầm tay với của họ. Đây lại là khu vực giàu có nguyên liệu chiến lược và là nơi có hàng chục triệu Hoa kiều cư trú, môi trường thuận lợi để Bắc Kinh cấy “đội quân thứ năm” nguy hiểm của họ. Tiến được đến eo biển chiến lược Xingapo có nghĩa là đến được cửa ngõ để bước vào Ấn Độ Dương và châu Phi, Trung Cận Đông, tiểu lục địa Ấn Độ ở các bên bờ biển Đỏ để thông lên đến tận châu Âu. Một khi đã phản bội chủ nghĩa xã hội, lao vào con đường bành trướng đại dân tộc, bá quyền, thì “nam chinh” đã trở thành hướng tất yếu thu hút nỗ lực phiêu lưu của Bắc Kinh. Vì thế mà không phải chuyện ngẫu nhiên khi mục tiêu xâm lược lần đầu tiên của Bắc Kinh là những nước trên bán đảo Đông Dương.
Ngay từ những năm đầu 1960, Bắc Kinh đã đặc biệt quan tâm Lào. Các đội quân “xây dựng đường sá” Trung Quốc đã khẩn trương làm đường nối liền Vân Nam tới Phong xa lì, một tỉnh ở miền cực bắc Lào. Con đường này được kéo dài dần xuống Luông Pha băng. Từ đây, đã có sẵn con đường chiến lược chạy men dọc theo bờ sông Mê Công, xuyên suốt nước Lào từ bắc chí nam, xuyên suốt Cam pu chia để đến cảng Kom pông Xom nằm trên vịnh Thái Lan. Đây là con đường nối liền nội địa Trung Quốc với vịnh Thái Lan, nằm giữa Việt Nam và Thái Lan, dẫn đến bán đảo Ma lắc ca và eo biển Xingapo.
Từ năm 1966, mâu thuẫn gay gắt trong nội bộ giới cầm quyền Bắc Kinh từ chỗ âm ỉ đã nổ bùng, bước sang giai đoạn thanh trừng quyết liệt lẫn nhau. Người đời thế gian vẫn thường nói đó là do bản chất xấu xa của người Trung Quốc. Cuộc “đại cách mạng văn hoá” đã làm đảo lộn đời sống chính trị, xã hội của Trung Quốc.
Vào đầu những năm 1970, sóng gió chính trị trên lục địa Trung Quốc có phần lắng bớt, ngôi thứ trên bậc thang quyền lực đã được phân định phần nào về ngoài mặt, tuy rằng hậu trường vẫn chứa đầy rẫy mưu mô, thủ đoạn tranh chấp, sát hại lẫn nhau.
Lúc đó, quan điểm chính trị của Bắc Kinh đã dựa trên nền tảng thuyết “thế giới đại loạn” với nội dung hàm ý Bắc Kinh không còn bị ràng buộc bởi lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thế giới đã đại loạn, thì xem ra là thù, lấy thù làm bạn cũng chỉ là chuyện thường tình. Ngồi trên ghế tổng thống Mỹ, Ních xơn đã hiểu đầy đủ tín hiệu đó. Đầu năm 1971, Bộ trường quốc phòng Mỹ Le đơ tuyên bố trước quốc hội Mỹ rằng “từ quan điểm chiến lược “hai cuộc chiến tranh rưỡi” của chính quyền Ken nơ đi, chính quyền Ních xơn đã chuyển sang quan điểm chiến lược “một cuộc chiến tranh rưỡi”, lấy chiến trường châu Âu là nơi chuẩn bị tiến hành một cuộc chiến tranh lớn”. Tờ thời báo Mỹ Diễn đàn quốc tế, số ra ngày 10 30 1971, viết : Từ quan điểm “hai cuộc chiến tranh rưỡi” chính quyền đảng cộng hoà thấy cần thiết phải nhấn mạnh một cách được chứng mính (với Bắc Kinh) rằng : Mỹ đã sẵn sàng cắt giảm quân sự chuẩn bị tiến hành chiến tranh tại châu Á, tức là chiến tranh nhằm chống lại nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa”.
Đây là tín hiệu của Washington báo cho Bắc Kinh biết rằng Mỹ đã sẵn sàng để Bắc Kinh chính thức gia nhập hàng ngũ các thế lực phản động quốc tế chống lại ba dòng thác cách mạng thế giới, mà mũi nhọn chủ yếu chĩa vào Liên Xô. Mạt cưa, mướp đắng đã gặp nhau, Kít xinh giơ, bộ trưởng ngoại giao Mỹ thuộc chính quyền Ních xơn, đã thực hiện chính sách ngoại giao con thoi với Bắc Kinh, dẫn đến cuộc viếng thăm Bắc Kinh của tổng thống Mỹ vào năm 1972. Sau này, cả Ních xơn lẫn Kít xinh giơ đã thú nhận rằng: Cuộc mua bán chính trị giữa Bắc Kinh và Washington đã chủ yếu xoay quanh món hàng “Việt Nam”. Lúc đó, Ních xơn và Kít xinh giơ đã úp mở tuyên bố rằng “Vấn đề Việt Nam sẽ được Mỹ giải quyết tại Bắc Kinh” và để Mỹ chấp nhận “thiết lập quan hệ bình thường với Trung Quốc, Bắc Kinh phải thi hành các biện pháp áp lực với Hà Nội để Hà Nội chấp nhận sự có mặt của Mỹ và sự tồn tại của chế độ ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu tại niềm Nam Việt Nam.
Sau Hiệp định Giơ ve vơ về các nước Đông Dương, Bắc Kinh đã khẩn trương giở mọi thủ đoạn để xâm nhập Cam pu chia qua các chế độ Xi ha núc, Lon Non, rồi cuối cùng họ đã thành công trong việc sử dụng bè lũ Pôn Pốt Iêng Xa ri làm bọn tay sai trung thành của họ. Khi nhân dân Cam pu chia nổi dậy lât đổ bọn đao phủ diệt chủng này, Bắc Kinh xem như bị mất đi một bàn đạp cực kỳ quan trọng cho mưu đồ “nam chinh” lâu dài, rộng lớn của họ. Chính vì thế, họ cay cú đến điên cuồng.
Dưới con mắt bành trường đại dân tộc, bá quyền của Bắc Kinh, Việt Nam vẫn là cái đê ngăn chặn làn sóng “nam chinh” của họ trong suốt mấy nghìn năm lịch sử. Trước đây thấy rằng chưa có đủ điều kiện, thời cơ để tiến vào Việt Nam và xuyên qua Việt Nam qua trục đường bộ, Bắc Kinh đã tìm cách xâm chiếm những quần đảo của Việt Nam tại biển Đông.
Đầu năm 1974, sau khi quân đội Mỹ đã phải rút lui khỏi miền nam Việt Nam theo Hiệp định Pa ri và thấy rõ nguỵ quân, ngụy quyền Sài Gòn đã ở vào nguy cơ sụp đổ không thể nào tránh khỏi với sự thoả thuận của Washington, Bắc Kinh đã cho quân đổ bộ lên chiếm đảo Hoàng Sa vào ngày 20 1 1974. Bộ Ngoại giao Mỹ lúc đó đã ra thông cáo tuyên bố rằng : “Mỹ không dính líu vào cuộc tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam cộng hoà (ngụy quyền Sài Gòn) về quần đảo Hoàng Sa”.
Xây dựng một hải quân hùng mạnh đòi hỏi phải chi phí lớn lao mà nền kinh tế Trung Quốc ngày này chưa thể kham nổi. Mặt khác, sự hoạt động của hạm đội vẫn phải dựa vào những hải cảng, những sân bay trên đất liền. Tham vọng bành trướng đại dân tộc, bá quyền nước lớn đã thúc đẩy Bắc Kinh gấp rút chĩa mũi nhọn vào Việt Nam, xem đấy là cửa ngõ của con đường nam chinh của họ. Bắc Kinh đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược Viêt Nam hồi năm 1979. Thế nhưng trận chiến đó của cái “chiến dịch Nam chinh” nằm trong khuôn khổ kế hoạch “bá chủ toàn cầu”, với Thiên An Môn là trung tâm của quả đất, với Trung Nam Hải là nơi ở của “vầng mặt trời hồng” của thế giới, đã bị đánh bại ngay trên tuyến biên giới Việt Nam. Bọn “hâu bối” Hốt Tất Liệt mới lại chịu chung số phận “tiền bối” của chúng.
Cuộc chiến tranh năm 1979 mà Bắc Kinh tiến hành xâm lược chỉ là bước thang đầu của chiếc thang bành trước của họ đối với các nước trên bán đảo Đông Dương và toàn bộ khu vực Đông Nam Á. Kể từ đó, bọn phản động Bắc Kinh đang toan tính “thua keo này bày kheo khác”. Tất cả nhân dân Việt Nam anh hùng hãy đề cao cảnh giác trước âm mưu này của bọn hiếu chiến…
Showing posts 5 -
8 of 15.