Cách Gieo Vần, Nguyên Tắc Đối, Luật Bằng Trắc và Cách Họa
Wednesday, April 29, 2009 3:14:21 AM

Xin phép được khai bút cho chủ đề này bằng ngôn ngữ sách vở một chút.
Thực ra thì mình cũng hem biết hay không nhớ (vì nhớ mang máng là trước đi học phổ thông được nhắc đến thì phải). Cũng thích kiểu gieo vần vui vui, tếu tếu với chúng bạn...
Entry này ai có tâm trạng thì đọc
Thơ Đường Luật còn có những tên gọi khác nhau như: Thơ Đường, Đường Thi, Thất Ngôn Bát Cú và Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật. Thơ Đường Luật có 2 loại: Tứ Tuyệt (tức mỗi câu có 7 chữ và mỗi bài có 4 câu) và Bát Cú (tức mỗi câu có 7 chữ và mỗi bài có 8 câu). I- Cách Gieo Vần Thơ Đường Luật có luật lệ nhất định của nó, bạn không thể biến chế một cách khác được. Cách gieo vần như sau: - Suốt bài thơ chỉ gieo theo một vần mà thôi. Ví dụ: Vần ơi thì đi với ơi, vần tâm thì đi với tâm hoặc tầm. - Trong bài thơ có 5 chữ vần được gieo ở cuối câu đầu (câu số 1) và ở cuối các câu chẵn (2, 4, 6 và 8). Ngoài việc các chữ cuối của câu 1,2,4,6,8 phải cùng một vần ra, cả 5 chữ mang vần đó phải khác nhau, trừ khi cùng chữ nhưng khác nghĩa (Ví dụ: dặm trường và mái trường or trái mơ và giấc mơ…) - Gieo vần thì phải hiệp vận (tức cho đúng vận của nó). Ví dụ: hương, thương, trường... Nếu gieo vần thưa với thây thì bị lạc vận. Còn nếu gieo vần không hiệp với nhau thì gọi là cưỡng vận hay ép vận, chẳng hạn như: in với tiên. II- Nguyên Tắc Đối Các câu đối với nhau phải thật chỉnh, cả về ý, tình, và thể loại từ ngữ, v.v... Thể loại từ ngữ tức tính từ phải đối với tính từ, danh từ phải đối với danh từ, động từ phải đối với động từ, v.v... Trong bài thơ có 4 phần: Đề (gồm có Phá đề và Thừa đề ) Thực hoặc Trạng, Luận, và Kết.
| 1. Đề gồm có hai phần: - Phá đề (câu thứ 1): Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà, - Thừa đề (câu thứ 2): Cỏ cây chen đá, lá chen hoa. | 2. Thực hoặc trạng (câu thứ 3 và câu thứ 4) Hai câu này phải đối với nhau. Lom khom dưới núi, tiều vài chú, Lác đác bên sông, chợ mấy nhà. Ghi chú: Lom khom đối với lác đác (trạng tự ) và bằng đối với trắc. Tiều đối với chợ (danh từ ) và bằng đối với trắc. Chú đối với nhà (danh từ ) và trắc đối với bằng. | 3. Luận (câu thứ 5 và câu thứ 6) Luận có nghĩa là luận bàn. Hai câu này bàn bạc thêm về nội dung của bài thơ, về phong cảnh hay về tình cảm. Hai câu này phải đối với nhau. Nhớ nước, đau lòng con quốc quốc Thương nhà, mỏi miệng cái gia gia Ghi chú: Nhớ đối với thương (động từ ) và trắc đối với bằng. Nước đối với nhà (danh từ ) và trắc đối với bằng. Đau lòng đối với mỏi miệng (trạng từ ) và bằng đối với trắc. Con quốc quốc đối với cái gia gia (danh từ ) và trắc đối với bằng. | 4. Kết (câu thứ 7 và câu thứ 8) Hai câu kết không nhất thiết phải đối nhau, nhưng phải giữ luật bằng trắc. Dừng chân đứng lại: trời, non, nước, Một mảnh tình riêng ta với ta (Qua Đèo Ngang - Bà Huyện Thanh Quan) Ghi chú: Dừng chân là vần bằng đối với một mảnh là vần trắc; đứng lại là vần trắc đối với tình riêng là vần bằng; nước là vần trắc đối với ta là vần bằng. |
| 1. Thanh: Gồm có Thanh Bằng và Thanh Trắc.- Thanh Bằng: là những tiếng hay chữ không có dấu (như: minh, lan, thanh, trinh...) và những tiếng hay chữ có dấu huyền (ví dụ như: mà, hoàng, thành, trình...) - Thanh trắc: Là những tiếng hay chữ có dấu sắc (') dấu hỏi (?) dấu ngã (~) và dấu nặng (.). Ví dụ: Nhớ, tưởng, lữ, vọng… | 2. Luật: Thơ bát cú làm theo hai luật: Luật Bằng và Luật Trắc. a) Luật Bằng: Chữ thứ hai ở câu đầu thuộc vần Bằng. Ví dụ: Vu vơ dạo bước ngắm trời xinh Luật Bằng Vần Bằng-Cách dùng mẫu tự và viết tắt như sau: B = Bằng, T = Trắc và V = Vần. Luật Bằng Vần Bằng như sau: 1. B B T T T B B (V) 2. T T B B T T B (V) 3. T T B B B T T 4. B B T T T B B (V) 5. B B T T B B T 6. T T B B T T B (V) 7. T T B B B T T 8. B B T T T B B (V) Ví dụ: Mời cô đến với góc vườn thơ Khánh tiếng lung lay gót nhẹ chờ Thi vận mực tươi hoa khẽ hé Hoạ âm giấy liễng nhạc đường tơ Nghe mưa tí tách buông màn khói Thử gió vi vu thoảng giấc mơ Một cách gieo hồn đùa lãng tử Bài này chớ để ngó chơ vơ b) Luật Trắc: Chữ thứ hai ở câu đầu thuộc vần Trắc. Ví dụ: Luyến nhớ trời quê buổi nắng vàng Luật Trắc Vần Bằng-Luật Trắc Vần Bằng như sau: 1.T T B B T T B (V) 2.B B T T T B B (V) 3.B B T T B B T 4.T T B B T T B (V) 5.T T B B B T T 6.B B T T T B B (V) 7.B B T T B B T 8.T T B B T T B (V) Ví dụ: Văng VẲNG tai NGHE tiếng KHÓC gì? Thương CHỒNG nên KHÓC tỉ TÌ tị Ngọt BÙI, thiếp NHỚ mùi CAM thảo, Cay ĐẮNG, chàng ƠI, vị QUẾ chị Thạch NHŨ, trần BÌ, sao ĐỂ lại, Quy THÂN, liên NHỤC, tẩm MANG đị Dao CẦU, thiếp BIẾT trao AI nhỉ? Sinh KÝ, chàng ƠI, tử TẮC quỵ (Bà Lang Khóc Chồng - Hồ Xuân Hương) Chú Thích: Những chữ IN HOA (chữ thứ 2, 4 và 6) đều phải theo đúng luật, còn những chữ khác (trừ chữ ở cuối câu) có thể không cần phải theo luật. Mẹo để nhớ: Nhất (chữ thứ 1), tam (chữ thứ 3), ngũ (chữ thứ 5) bất luận Nhị (chữ thứ 2), tứ (chữ thứ 4), lục (chữ thứ 6) phân minh Nghĩa là chữ thứ nhất, thứ ba và thứ năm không kể (bất luận), tức không nhất thiết phải theo đúng luật; còn chữ thứ hai, thứ tư và thứ sáu thì bắt buộc phải theo luật (phân minh). Nếu không theo luật thì gọi là thất luật. | 3. Niêm-Những chữ phải đi cặp với nhau và dính với nhau. Ví du: Luật Bằng Câu 1 niêm với câu 8 1.B B T T T B B (V) 8.B B T T T B B (V) Câu 2 niêm với câu 3 2.T T B B T T B (V) 3.TT B B B T T Câu 4 niêm với câu 5 4.B B T T T B B (V) 5.B B T T B B T Câu 6 niêm với câu 7 6.T T B B T T B (V) 7.T T B B B T T Ví dụ: Luật Trắc Câu 1 niêm với câu 8 1. T T B B T T B (V) 8. T T B B T T B (V) Câu 2 niêm với câu 3 2. B B T T T B B (V) 3. B B T T B B T Câu 4 niêm với câu 5 4. T T B B T T B (V) 5. T T B B B T T Câu 6 niêm với câu 7 6. B B T T T B B (V) 7. B B T T B B T Cũng có trường hợp nhà thơ làm sai luật, thay vì đang ở Luật Bằng thì lại đổi sang Luật Trắc. Vì Niêm không đi với nhau nên gọi là Thất Niêm. Ví dụ: Dùng bài thơ Cảnh Làm Lẽ (Lấy Chồng Chung) của Hồ Xuân Hương (đúng niêm luật) để đổi sang thất niêm (xem chữ thứ 2 IN HOA): Kẻ ĐẮP chăn bông, kẻ lạnh lùng, Chém CHA cái kiếp lấy chồng chung! Năm THÌ mười họa, nên chăng chớ, Một THÁNG đôi lần, có cũng không... Cố ĐẤM ăn xôi, xôi lại hỏng, Cầm BẰNG làm mướn, mướn không công. Thân NÀY ví biết dường này nhỉ, Thà TRƯỚC thôi đành ở vậy xong. Đổi thành thất niêm: Kẻ ĐẮP chăn bông, kẻ lạnh lùng, Chém CHA cái kiếp lấy chồng chung! Cố ĐẤM ăn xôi, xôi lại hỏng *** (thất niêm) *** Cầm BẰNG làm mướn, mướn không công. Năm THÌ mười họa, nên chăng chớ, Một THÁNG đôi lần, có cũng không... Thân NÀY ví biết dường này nhỉ, Thà TRƯỚC thôi đành ở vậy xong. Chú ý: Dù chỉ đặt sai có một câu (câu thứ 3) nhưng bị thất niêm toàn bài thơ. Thế mới biết luật thơ Đường khắt khe biết dường nào! Khi làm thơ Đường Luật thì phải giữ cho đúng niêm luật. Nếu không, dù bài thơ của bạn có nội dung hay mấy đi nữa thì cũng không thể chấp nhận được. Như đã nêu ra ở trên là các câu đối với nhau phải thật chỉnh. Có điều là không bắt buộc phải từng chữ một đối nhau mà có thể đối theo cụm từ. Nếu 3 chữ tạo thành nhóm danh từ (ở câu 3 chẳn hạng) thì ở câu 4 cũng dùng 3 chữ cùng nhóm để đối lại Ví dụ: Ngày vương mãi nhớ hương tình cũ Tháng quyện hoài mong bóng dáng xưa (Trích "Xóm Tịnh Chiều Luyến Nhớ" -Vân Hạc) ngày (danh từ, bằng) đối với tháng (danh từ, trắc) vương (động từ, bằng) đối với quyện (động từ, trắc) mãi (phó từ, trắc) đối với hoài (phó từ, bằng) nhớ (động từ, trắc) đối với mong (động từ, bằng). hương tình cũ (cụm danh từ) đối với bóng dáng xưa (cụm danh từ) |
| 1) Họa Vần: Dĩ nhiên bài HỌA phải dùng lại vần của bài XƯỚNG, nhưng luật có thể thay đổi và ý nghĩa của bài Họa hoàn toàn khác với bài XƯỚNG. Ví dụ như trong trường hợp VH dùng vần bài “Nhớ Nhà” của Bà HTQ để làm bài “Cảnh Vật Ngày Xuân” Nhớ Nhà (Bà HTQ—Xướng) Vàng tỏa non tây, bóng ác tà Ðầm đầm ngọn cỏ, tuyết phun hoa Ngàn mai lác đác, chim về tổ Dặm liễu bâng khuâng, khách nhớ nhà Còi mục thét trăng miền khoáng dã Chài ngư tung gió bãi bình sa Lòng quê một bước càng ngao ngán Mấy kẻ tình chung có thấu là Cảnh Vật Ngày Xuân (Vân Hạc—Họa vần) Lụa thắm tung bay phất phới tà Vườn hồng rực rỡ bướm vờn hoa Xanh xanh khóm trúc xinh bờ dậu Trắng muốt cành lê đẹp góc nhà Trước ngõ mai đào chờ nắng xuống Bên thềm cúc lựu đón sương sa Hương trời sắc nước nên thơ quá Cảnh vật ngày Xuân quả thật là… | 2) Họa Vần Đối Luật: Như tên gọi, bài HỌA dùng luật trái với bài XƯỚNG. Nếu bài Xướng gieo theo Luật Bằng thì bài Họa đi theo Luật Trắc và ngược lại. Ví dụ: Xuân Hứng (Hàn Mặc Tử—Luật Bằng) Non sông ngàn dặm ngắm càng xinh Ừ tết năm nay thật hữu tình Pháo nổ nổ tan luồng thất nghiệp Xuân về về ghẹo khách ba sinh Hoa tươi sánh với thiên kiều gái Cảnh đẹp dường như thủy mặc tranh Cao hứng đã toan cầm bút vịnh Đào nguyên đâu lại thoảng qua mành Xuân Mộng (Họa by Vân Hạc—Luật Trắc) Cảnh vật khoe mình dưới nắng xinh Kià Xuân đã đến đượm hương tình Tưng bừng pháo nổ mừng hồi phục Rộn rã lời chào chúc tái sinh Vạn bướm hòa màu tô mộng cảnh Ngàn hoa trải sắc vẽ mơ tranh Bên song thiếu nữ cười duyên dáng Cứ ngỡ bồng lai đứng tựa mành | 3) Hoạ Nguyên Vận: Ngoài việc giữ cùng luật, bài họa phải có chủ đề và ý nghĩa giống như bài Xướng. Ví dụ: Trời Quê Luyến Nhớ (Xướng by Vân Hạc) Luyến nhớ trời quê buổi nắng vàng Đàn em hớn hở hát reo vang Bờ xa thấp thoáng đò đầy chuyến Bến cũ xôn xao chợ lắm hàng Bát ngát nương dâu dài cuối xóm Bao la ruộng lúa ngập thôn trang Tha phương vọng mãi mùa Xuân trước Viễn xứ miên man nỗi nhớ làng NHỚ QUÊ XƯA (Hoạ by Bích Trân) Đàn bướm vờn hoa dưới nắng vàng Hè về phượng nở, giọng ve vang Cành cây chim chóc gù xây tổ Bến chợ thuyền ghe bốc dở hàng Chán cảnh bon chen rời phố thị Vui đời mộc mạc đến thôn trang Quê người vẫn nhớ về quê cũ Nhớ mái nhà xưa nhớ xóm làng |







Toan Minh NguyenMinhToanNguyenHi85 # Thursday, April 30, 2009 4:17:20 PM
Sao ma nho thoi con di hoc qua, nhat la luc luyen thi vao khoi H nay..