We move in silence...

---từ bên kia bờ biển xanh sâu

Subscribe to RSS feed

văn chương, viết lách - tản mạn dài

4792715970_1b6571252c_b
@chillhiro

Thỉnh thoảng, tôi lại muốn nói về vai trò của văn chương nói chung và viết lách nói riêng trong cuộc sống của mình.

Vì qua ngần ấy thời gian, trong rất nhiều thứ đã và vẫn đang thay đổi, thì như một phép màu, hai điều đó vẫn còn lại trong tôi, vẹn nguyên như từ thuở ban đầu.

Và cũng vì một lẽ đơn giản khác, trong lòng tôi chưa bao giờ thôi nghĩ bản thân mình là một người viết, dù theo thời gian và tuổi tác dần tăng, mọi thứ cũng ngày càng trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Kết bạn, tâm tình, chia buồn sẻ vui, sự tập trung, khả năng đọc, thói quen suy ngẫm và ở một mình, khóc, sống tử tế, nói ít làm nhiều,... Dĩ nhiên, ‘viết văn’ cũng là một trong số đó.



Nói về văn chương.

Cho đến giờ, tôi có thể khẳng định bản thân mình là một kẻ theo đạo-Paustovsky. Tôi yêu mọi câu viết của ông bác nhà văn đáng mến này, những dòng văn khỏe khoắn, biết soi vào những điểm sáng nhỏ nhất và không hề lãng quên những điều giản đơn cũ kỹ vẫn hiện diện hàng ngày trong cuộc sống của chúng ta. Paustovsky đối với tôi giống như một Ông Thần Thiện luôn xuất hiện bất cứ lúc nào tôi cần. Những lúc trống rỗng nhất, đọc văn ông, tôi thấy mình như được tiếp thêm sức mạnh. Ông khiến tôi muốn viết, muốn đến tột cùng, tựa như đó chính là niềm khao khát sau cùng mà tôi còn biết đến. Dù rằng có một sự thật hiển nhiên là những gì tôi viết ra sau đó đều rất khác ông, về hình thức, về nội dung, về tất cả mọi thứ.

Dần dà, trong những buổi chiều ngồi nhâm nhi từng chương một trong cuốn Một mình với mùa thu, tôi đã hiểu ra điều quan trọng nhất mình tìm thấy ở nhà văn này là gì. Đó không phải là những cách thức để cho ra đời một truyện ngắn hay, hoặc phác thảo sơ bộ của một tác phẩm dài kỳ, hay vai trò của những nhân vật chính, phụ nên như thế nào mới phải trong câu chuyện của chúng ta. Đó cũng không phải là sự thán phục trước một người am tường ngôn từ và sử dụng chúng khéo léo đến độ luôn luôn chạm được vào lòng ta. Hay cảm giác ngưỡng mộ tuyệt vời trước cảnh trí thiên nhiên Nga qua những gì văn, thơ ca ngợi. Mà đơn giản hơn rất nhiều, chỉ là sự say mê và tình yêu Paustovsky dành cho văn chương và cuộc đời này, tưởng như đã xuyên qua khoảng cách xa vời vợi của thời gian và địa lý, vượt cả trở ngại lớn lao về tiếng nói và ngôn từ, mà truyền lại cho tôi.

Hãy hình dung ra một luồng sáng vàng rực lao vun vút từ thế kỷ 19 cho đến thế kỷ 20, từ Liên bang Nga xa xôi sang tận Việt Nam nhiệt đới gió mùa, từ một ông bác ngoài lục tuần đến một thiếu nữ tuổi 23.

Nếu nó khiến bạn thấy kỳ khôi quá đỗi thì tôi sẽ đổ một phần lỗi này cho Paustovsky, vì ông viết sao mà tha thiết quá, vì lòng yêu mến và niềm tin tưởng của ông sao mà vô tư và sáng ngời quá, nên tin rằng những ai lỡ say mê ông cũng sẽ có chung cảm nhận này như tôi, cứ luôn cảm thấy có một ánh mắt chân thành, trìu mến và lãng đãng hiện diện xuyên suốt qua các trang văn, nhìn theo ta, dõi theo ta, có lúc lại ngập ngừng nửa như muốn nói ra, như gửi gắm, như nhắn nhủ, rằng, hãy kế thừa tình yêu ấy của ông.

Những rung động bỗng dễ dàng xảy ra hơn bao giờ hết. Những cảm xúc tưởng đã ngủ quên giờ lại được đánh thức một cách dễ dàng. Và vẻ đẹp giản dị trong ngôn ngữ của chúng ta, sao cứ khiến tôi sung sướng đến run rẩy vì đã có cơ hội được đọc những dòng văn thể hiện tuyệt vời vẻ đẹp ấy. Một phần ba thời gian trong cuộc đời chúng ta là dành cho giấc ngủ. Nhưng phân nửa niềm vui sướng trong cuộc sống này, chính văn chương đã mang lại cho tôi. Nó khiến cuộc sống của tôi trở nên thi vị theo từng giai đoạn. Đời sống nội tâm của một đứa con gái hơn 20 tuổi cũng từ non nớt, nông nổi dần trưởng thành và chín chắn hơn. Và có một điều lạ lùng là càng đọc sách lâu năm, càng gắn bó với văn chương theo nhiều khía cạnh, đọc càng nhiều tác phẩm và nhà văn, tôi lại càng nhận ra điểm chung duy nhất, cội nguồn gốc rễ của tất cả sự sáng tạo thần kỳ và tưởng tượng bay bổng kia, không đâu khác hơn ngoài cuộc sống. Điều đó cũng có nghĩa, càng đọc văn, càng yêu văn, tư tưởng sống của tôi lại càng gắn liền với thực tại hơn cả.

Song đó lại không phải là cuộc sống thực tại khô khan và tẻ nhạt bình thường mà rất nhiều người - trẻ lẫn không trẻ - đều luôn kêu ca, than vãn khi mở miệng nói về. Mặt họ trở nên rầu rĩ, ánh mắt cũng mờ mịt xa xăm, hai tay hết vòng ra sau gáy lại đấm liên tục vào vai vì mệt mỏi, còn miệng thì mở ra rồi ngậm lại mãi mà lời nói ra vẫn chưa được tròn câu. Không, thực tại của tôi không phải như vậy và con người đang-còn-trẻ của tôi cũng chẳng hề giống họ một chút nào. Thực tại của tôi vẫn luôn trung thành và tôn trọng tất cả những điều lành và điều dữ nó đang chứa đựng, nhưng có một thứ tình cảm dịu dàng và vị tha nào đó, đã giúp tôi chung sống tốt lành với mọi điều đang diễn ra.

Sự thật là tôi nghĩ mình có thể chịu được mọi thứ, chỉ cần mỗi ngày được ngồi đọc sách vào buổi chiều, mỗi sáng thức dậy sớm và chạy bộ cho đến khi cả người vã đầy mồ hôi, mỗi tối quây quần bên mâm cơm cùng ba mẹ, và sáng chủ nhật hàng tuần cùng em gái đến nhà thờ. Sau khi loại bỏ đi những mối bận tâm không cần thiết, những thú vui chỉ thuộc về tuổi trẻ và kẻ dư dả thời gian, những đám đông ồn ào và luôn phải chạy theo xu hướng, cuộc sống của tôi chỉ còn lại những điều bình thường như thế. Nhưng với tôi, nhờ có sự góp mặt của văn chương, nhờ vào hương thơm nhẹ nhàng tỏa ra từ những trang sách cũ, mà đã trở nên đáng trân quý biết là bao.

Những rung cảm mãnh liệt và sâu xa nhất trong tâm thức tôi, chỉ được mở ra trọn vẹn và hoàn toàn nhất, với văn chương mà thôi.




Một kẻ thích đọc.

Và cảm thấy văn chương là một trong điều đẹp đẽ nhất trên đời này, dĩ nhiên sẽ viết và còn đau đầu nhiều vì cái sự viết lách ấy, dù chỉ là không chuyên, dù chỉ để thỏa mãn và an ủi bản thân mà thôi. Tôi cũng không phải là ngoại lệ.

Mỗi khi viết ra một điều gì đó, chỉ cần là một người viết có tâm, sẽ luôn có một sự trăn trở đi kèm theo. Cho đến khi câu chuyện hoàn thành, nỗi trăn trở ấy vẫn không hề mất đi mà ngược lại, chỉ càng mạnh mẽ thêm hơn. Có bao nhiêu điều muốn nói, bao nhiêu chuyện để kể nhưng không sao tìm ra được cách thức và ngôn từ thích hợp. Thế là, ta đâm ra giận sự vụng về của bản thân, hờn nỗi thiếu kém tài năng của chính mình, nhưng sau cùng lại nhanh chóng quên đi tất cả ngay khi ý tưởng về một câu chuyện mới vừa nảy ra.

Điều tôi thích nhất ở internet là một người có thể được gọi bằng nhiều cái tên khác nhau. Tương tự như thế, trong văn chương, là một kẻ có thể sống qua nhiều cuộc đời khác biệt.

Chính cảm giác đó khiến tôi say mê, một sự say mê không thể nào lý giải. Giãi bày những tâm tư trong lòng, đi đến những nơi chốn yêu thích, gặp gỡ mọi con người thú vị và đáng mến trong cuộc sống này, trao cho nhau những tình cảm chân thành và trong sáng nhất, vẽ nên những giấc mơ muôn màu, dệt nên những ngày xanh nắng ấm.

Tôi quả thật đã viết vì những điều như thế, và vẫn chỉ muốn viết vì những điều như thế.

Thời gian khi viết là thời gian tâm hồn đủ đầy nhất. Cuộc sống khi viết là cuộc sống rộng mở và bao la nhất. Và con người khi viết là con người tử tế và trong lành biết bao.

Thời gian gần đây, tôi ít khi viết blog. Không phải vì không có gì để viết, mà chỉ vì muốn lắng lòng, muốn gom góp cảm xúc, muốn nhìn lại mọi thứ, muốn viết ra những thứ có dáng hình rõ ràng, có bắt đầu và kết thúc, có ánh sáng hiện ra sau khi đêm dài qua đi, chứ không muốn cứ tiếp tục mài mòn mình, bằng những vụn vặt rất miên man và mê mải.



Chuyện liên quan đến bạn đọc.

Từng có một bạn đọc – có lẽ là bé tuổi hơn tôi - bảo rằng thích Phương lúc trước hơn là Phương bây giờ. Một bạn đọc khác đã yêu quý Hồng tươi đủ nhiều để mang nó về blog và giới thiệu với bạn bè. Và câu nói đó đã xuất hiện trong một hoàn cảnh như thế đấy, bên dưới Hồng tươi, một câu chuyện ngắn nói về cậu bé Phả không có cha và người mẹ tên Mùi cứ mãi đi tìm một khu vườn thuộc về tuổi thanh xuân.

Khi đọc được lời phàn nàn đó, đầu tiên tôi chỉ thấy lạ lùng. Vì tôi thật tình không rõ "Phương lúc trước" là thế nào và "Phương bây giờ" là người ra sao? Giữa hai con người – cùng là tôi đó – có gì khác nhau sao? Đã có chuyện gì xảy ra mà tôi chưa được biết chăng, dù là với chính bản thân tôi?

Về sau, tôi lại trộm nghĩ, người bạn đọc đó đã dùng từ sai mất rồi, hoặc là quá ngắn gọn đến mức khiến người khác phải hiểu sai ý. Lẽ ra bạn ấy phải nói rằng, thích những tác phẩm lúc trước hơn là bây giờ của Phương. Nếu nói như thế, không phải sẽ rõ ràng và hợp lý hơn sao?

Vì rằng câu chuyện dẫu có một đời sống riêng thì vẫn là một vật thể chết, còn người viết, dẫu là một cô gái 20 hay cụ ông ở tuổi thập bát lai hy, vẫn cứ là một con người đang-sống với nhịp tim đập qua từng giờ, từng phút lại mỗi khác nhau.

Vì rằng câu chuyện có thể đứng lại mãi mãi ở thời khắc nó được sinh ra nhưng người viết thì còn cả một con đường dài đầy mệt nhọc để đi về phía trước. Tôi bây giờ rất khác với tôi tuổi 15, câu chuyện của năm nay cũng không còn dáng hình của năm trước nữa, dù cô gái viết ra chúng vẫn ở nguyên nơi đấy, nụ cười và ánh mắt vẫn như xưa.

Và còn vì rằng mỗi người viết đều sẽ có một đối tượng người đọc rất khác nhau, và theo thời gian, nhiều người trong số đấy sẽ bỏ đi và những người mới sẽ thay vào. Người viết tin vào con đường mình đã chọn, còn người đọc thì chung tình với tác phẩm mình đã yêu. Thế nên, người đọc tạm thời, người đọc trên từng chặng đường dẫu rất nhiều nhưng mấy ai dễ theo ta đến dài lâu? Văn chương, viết lách, chữ nghĩa đến cuối cùng vẫn là con đường lấy cô đơn và sáng tạo làm bạn, trong mệt nhoài lại đong đầy sướng vui, có nói thế nào cũng không từ bỏ được. Nghĩ lại thì cũng không khác với chạy bộ là bao, đặc biệt là ở điểm chỉ có thể tiến chứ không được phép lùi.

Tôi vẫn chưa mường tượng ra được cuộc sống 10 năm, 20 năm sau của mình là như thế nào. Tôi sẽ vẫn ở đây, tìm niềm vui trong viết lách, khi đau đớn lại tìm về tình thân để được chữa lành, và vẫn một mực tin rằng cuộc đời này tuy buồn nhưng đẹp lắm?

Thật khó khăn khi phải hình dung ra và nói về những điều mình không thể chắc chắn. Chỉ biết rằng bây giờ, ngay lúc này đây, ở cái tuổi 23 đã qua gần nửa chặng đường và 1/3 cuộc đời 60 năm ôi đẹp quá cũng đã trôi xa mất rồi, tôi lấy làm sung sướng vì mình đã được sống và đã được biết đến văn chương. Tôi cũng lấy làm sung sướng vì rằng tiếng Việt thân yêu, ngôn ngữ mẹ đẻ thân yêu của tôi sao mà giàu đẹp và sáng trong đến thế. Và tôi lấy làm sung sướng hơn nữa vì rằng trong một ngày dài 24 tiếng, sau những bận rộn, lo toan, trách nhiệm, thời gian tôi có vẫn thư thả dôi ra, đủ để tôi có thể ngồi xuống, nắn nót trên giấy hoặc gõ tay trên bàn phím, những câu, những chữ, những đoạn, những dòng, nguyên sơ nhất và rực rỡ nhất, từ tận đáy lòng tôi.

Như một người bạn thân yêu đã có lần nhắn nhủ, dù thế nào cũng sẽ luôn dõi theo tôi.

Thật lòng, tôi cũng muốn bản thân mình bớt ngượng ngùng đi và đủ tự tin để đáp lại: mong bạn, hãy luôn luôn, dõi theo mình.

Về Sho, Arrietty và nỗi buồn thuần khiết nhất

,

Nếu có thể, hãy bật loa trong lúc bạn đọc entry này nhé ^_6

Tôi xem phim của Ghibli không nhiều. Bắt đầu từ Ponyo bên bờ biển, rồi Vùng đất linh hồn, Lâu đài di động của Howl, The Cat Returns,...

Chỉ bấy nhiêu là quá ít so với gia tài đồ sộ gần 30 phim cho đến giờ của Ghibli. Ngoại trừ Ponyo xem cách đây nửa năm, những phim còn lại đều phải đợi đến dịp nghỉ Tết dài ngày này. Khi thời gian của ngày cũng bỗng nhiên dài hẳn ra, và mùi hương thoang thoảng của hoa cúc trồng trong chậu nhỏ, cùng bầu trời luôn luôn trong xanh bất cứ khi nào ta nhìn đến, đã biến buổi chiều trở thành khoảnh khắc hưởng thụ bất tận của những kẻ tự cho phép bản thân biếng lười.

Trong một ngày như thế, giữa một buổi chiều như thế, tôi xem xong một trong những bộ phim hoạt hình hay nhất đời mình và ý nghĩ “viết một cái gì đó” bật lên ngay sau đó, như một cách tuyệt vọng nhằm níu kéo những dư âm cảm xúc vừa trôi qua, sau khi đã lấp đầy lòng tôi trong vài mươi phút ngắn ngủi.

So với những phim khác, cốt truyện của The Borrower Arrietty đơn giản đến mức gần như không có gì. Câu chuyện mở đầu bằng việc cậu bé Sho dọn đến ngôi nhà của bà cô, nơi mẹ cậu đã từng ở lúc nhỏ. Là một cậu bé ốm yếu, lại mang trong người cơn bệnh tim, Sho đến nơi yên tĩnh này để tịnh dưỡng và chờ đợi cuộc phẫu thuật diễn ra không lâu sau đó. Từ bé cậu đã chẳng có cha, mẹ cậu lại bận rộn với công việc đến mức gần như bỏ quên mất đứa con ốm yếu của bà. Cuộc sống của Sho chỉ là một màu nhợt nhạt, không có ý nghĩa với bất cứ ai và giờ đây, đối mặt với cuộc phẫu thuật quan trọng của đời mình, cậu cũng chẳng có bất cứ động lực nào để hy vọng và tin tưởng.

Trái ngược với Sho, Arrietty là một cô bé tí hon thuộc về thế giới của Những Người Vay Mượn. Giống như trong những câu chuyện cổ chúng ta từng được đọc, loài người này bé xíu và sống trong những ngôi nhà, sử dụng những dụng cụ cũng bé xíu hệt như họ. Mỗi ngày, khi đêm xuống, họ sẽ đến nhà con người để “vay mượn” những thứ họ cần cho cuộc sống nhưng con người thì dư thừa. Đường, khăn giấy, gạo, muối, sữa, cả ga và điện. Chỉ có một nguyên tắc duy nhất giúp đảm bảo an toàn cho cuộc sống của họ và luôn được tuyệt đối tuân theo: không được để cho con người nhìn thấy.

Arrietty 14 tuổi, háo hức theo bố trong chuyến đi “vay mượn” đầu tiên của mình và đã tìm được một cây kim gút tuyệt đẹp như là “vật vay mượn” đầu tiên trong cuộc đời cô bé. Nhưng thay cho cây kim ấy, một viên đường dành cho mẹ đã bị Arrietty đánh rơi. Khi cùng bố hợp sức lấy tấm khăn giấy trong hộp, một sự cố nho nhỏ đã xảy ra, cô bé đã bị Sho nhìn thấy. Sau những phút ngỡ ngàng, sự bàng hoàng ập đến, cuối cùng là thảm họa. Bị nhìn thấy, đồng nghĩa với việc sự tồn tại của loài Người Vay Mượn bị phơi bày.

Và cũng chính từ giây phút đó, những cảnh phim đáng nhớ nhất của chúng ta đã bắt đầu…



Thời gian là mùa hè và thi thoảng lại có những cơn mưa. Bối cảnh đơn giản chỉ với ngôi nhà nơi Sho ở và vùng thôn quê trong lành xung quanh. Nhạc nền nhẹ nhàng nhưng đượm buồn. Lời thoại không nhiều nhưng nói lên được nhiều ý nghĩa. Hình tượng nhân vật quen thuộc nhưng không nhàm chán. Tổng hòa những điều đó, cùng với cách dẫn chuyện cuốn hút đặc trưng của Ghibli, một bộ phim mới nghe qua tưởng đâu rất buồn chán đã trở nên day dứt lạ lùng. Và những bài học về cuộc sống được lồng khéo léo vào phim qua những chi tiết nhỏ cũng khiến ta phải suy ngẫm nhiều. Về Sho, một cậu bé cô đơn và thiếu lòng tin vào cuộc sống. Về Arrietty, dẫu nhỏ bé nhưng tháo vát, kiên cường, và luôn mang theo trong lòng câu nói của bố: “Dù thế nào, chúng ta vẫn phải sống.” Về Haru-san, và sự phán xét võ đoán của một người có thể gây ra những thương tổn gì cho kẻ xung quanh mình. Về cả nỗi buồn lúc chia tay và một tình bạn đẹp có thể ở mãi trong tim những ai từng có. Về cuộc sống của riêng mỗi người, mỗi giống loài, mỗi thân phận, dù khác biệt về môi trường và phương thức tồn tại, vẫn còn đó những điểm chung về niềm tin và khát khao được sống, về sự dũng cảm đối mặt và mở lòng đón nhận, về cả những kỷ niệm đẹp như một giấc mơ dang dở mà bất cứ ai đã sống, đang sống và sẽ sống trong thế giới này rồi cũng sẽ một lần trải qua và nhớ về mãi mãi.



Như mọi khi, những nhân vật “người xấu” trong tác phẩm của Ghibli vẫn không khiến người xem ghét bỏ hoàn toàn. Không phải họ muốn làm những điều xấu đó, mà vì không còn chọn lựa nào khác và đôi khi là vì không nhận thức điều mình làm mang nghĩa "xấu" với người khác. Như Haru-san, trong lúc gọi điện cho hãng diệt côn trùng, đã nói rất rõ ràng rằng: “Có thứ gì đó nho nhỏ trong nhà. Không phải gián. Và tôi không muốn giết họ.” Chỉ bởi vì thì là rằng là một người gúp việc cần mẫn và tận tụy, lại sống bao năm ở ngôi nhà này, Haru đã sớm nhận ra rằng đồ đạc trong nhà cứ ít dần đi từng chút một. Trực giác mách cho bà biết phải có ai đó ở quanh đây và mùa hè năm đó, nhờ vào sự có mặt của Sho cùng sự nhạy cảm, chân thành của một cậu bé quen cuộc sống cô đơn, bà đã tìm ra họ. Điểm không đáng yêu duy nhất của Haru-san là bà đã quá vội buộc tội những người vay mượn ấy là những tên trộm. Từ đó, đã khiến cho cuộc sống của gia đình Arrietty đứng trước một bước ngoặt lớn.

Cũng là người lớn như Haru-san đấy nhưng bà cô của Sho thì mới dễ thương làm sao. Cả người ông đã quá cố của cậu. Họ luôn luôn tin rằng có những người tí hon sống xung quanh mình và chỉ mong có thể nhìn thấy những người ấy một lúc nào đó. Thậm chí, còn làm cả một ngôi nhà gỗ thật đẹp và tiện nghi để dành tặng cho những người bạn nhỏ của mình. Và luôn kể lại cho con cháu của mình về niềm tin ấy. Chỉ tiếc rằng, trong thế giới 6,7 tỉ người này, có được bao nhiêu người như Sho, cô và ông cậu, cảm thấy mừng rỡ và hạnh phúc khi biết được có một giống loài khác ta đang sống bên cạnh ta? Và cũng trong thế giới 6,7 tỉ người ấy, sẽ có bao nhiêu người kém đáng yêu như Haru-san dù bản chất không hề xấu?

Còn những Người Vay Mượn, để tồn tại họ phải ‘vay mượn’ mọi thứ có thể từ con người, những thứ giúp họ duy trì cuộc sống. Nói một cách nào khác, họ cũng đã vay mượn phân nửa cuộc sống của mình. Thế mà, chỉ với một bà cô tọc mạch ích kỷ như Haru-san, cuộc sống ấy đã trở nên rất bấp bênh.



Kết thúc phim của Ghibli, nếu không phải viên mãn đến mức khiến người ta nhoẻn miệng mỉm cười và nhìn ra sân thấy nắng vàng ngập mắt, thì sẽ là một nỗi buồn man mác mang đầy dư âm của tiếc nuối và chia ly. Nhiều người vẫn bảo Vùng đất linh hồn có một kết thúc buồn, khi Chihiro phải theo cha mẹ trở về thế giới của mình, còn Haku thì ở lại và không rõ sẽ đi đâu, về đâu. Nhưng nỗi buồn ấy ít ra vẫn còn được xoa dịu bởi lời hứa “nhất định sẽ gặp lại” của Haku.

Giữa Sho và Arrietty lại khác. Vì họ đã thật sự giã biệt nhau, vì Arrietty đã gỡ chiếc kẹp tóc của mình tặng cho Sho và mang theo viên đường cậu tặng như món quà chúc lên đường bình an. Vì giữa đêm khuya, Sho đã hối hả theo chân mèo Niya giữa vùng quê thanh vắng chỉ để mong tìm được bạn và nói lời chào nhau sau cùng. Vì cuối cùng Arrietty cũng đã ôm lấy ngón tay Sho và khóc. Những giọt nước mắt xanh biếc rơi trên những chiếc lá, sáng ánh lên lần cuối cùng rồi chìm vào màn đêm sâu thẳm khi cô bé rời đi, chạy thật nhanh qua những thân cây về chỗ của gia đình mình. Vì cả, họ đã trở thành một phần của nhau, trở thành ký ức, trở thành giấc mơ, trở thành một kỷ niệm đẹp đẽ trong ngần.

Sự ra đi của gia đình Arrietty là một cuộc chia tay buồn nhưng lại mở ra một khởi đầu mới nhiều hy vọng và tươi sáng hơn, cho tất cả. Theo dòng nước, họ đi. Với sự giúp đỡ của Spiller, một trong những đồng loại ít ỏi còn tồn tại, họ đi. Mang theo lời cầu chúc và nỗi nhớ mong của Sho, họ đi. Bỏ lại sự thất vọng và cáu um lên vì bị qua mặt của Haru-san, họ đi.

Chỉ chúng ta là ở lại, trên sườn đồi mênh mông quạnh quẽ ấy, nơi Sho đứng lại một mình, trong gió lạnh, giữa đêm đen, nghe thấy tiếng mèo Niya vừa gừ gừ những tiếng kêu ngái ngủ vừa dụi đầu vào chân cậu.

Trên khoảng không xanh đen bao la kia, có vì sao nào vừa lóe sáng…



P/s: Tựa đề entry được giúp sức 1/2 từ Nguyên. Cám ơn bồ nhiều nhiều lắm. Tựa cũ tôi vẫn chưa thật ưng ý lắm :P.

chập chờn



Khách sạn tôi ở có tên 19/4.

Ấn tượng đầu tiên là có khá nhiều cầu thang. Sau nữa là nằm ở một con đường trung tâm của thành phố Phan Thiết, Từ Văn Tư.

Lúc đi nhận phòng, leo lên 2 tầng lầu bằng cầu thang bộ. Nền lát đá hoa cương sạch sẽ dù có hơi lạnh lẽo. Các tầng lầu xây theo kiến trúc hình chữ nhật xếp chồng lên nhau, nhờ thế dôi ra một khoảng trống lộ thiên chứa đầy ánh sáng mặt trời, là sân khấu dành riêng cho một hòn non bộ khổng lồ rất có tính biểu trưng đặt ngay gian tiền sảnh. Từ bất cứ phòng nào đẩy cửa bước ra, cũng có thể nhìn thấy ngay khối bonsai đẹp đẽ ấy.

Hôm chúng tôi đến Phan Thiết, trời không có nắng. Quang cảnh của thành phố được một lớp sương mờ giăng phủ. Mọi thứ có vẻ trở nên mơ hồ và dịu vợi hơn. Những quả núi xanh xa bí ẩn đến nghẹt thở. Chúng liên tục ẩn hiện sau những tàng cây, mái nhà, cột ăngten, cánh đồng, im lặng chạy theo chúng tôi. Lúc xe ngừng ở khu du lịch Suối Cát, mua 2 quả quýt da xanh, lên xe chỉ bóc vỏ ra ngửi. Người hướng dẫn viên của công ty du lịch bảo rằng đó là một trong những cách hữu hiệu trị chứng say xe.

Giống như một đứa dở hơi lúc nào cũng có hành động bảo vệ bản thân, tôi mang theo trong chuyến đi này những thứ quan trọng nhất đối với tinh thần. Quyển sổ dày chỉ để ghi lại những gì đã nhìn thấy, lá thư của bạn thân yêu, chiếc tách sứ màu đỏ rực ủ nồng hương cà phê mỗi khi đêm xuống, và quyển Đảo Tường Vy rất mỏng của An. Có lúc cảm thấy, những thứ thật sự cần thiết cho một chuyến đi xa chỉ như thế mà thôi. Nhưng thực tại với vẻ đẹp ngỡ ngàng luôn đánh bay mọi mộng tưởng huy hoàng. Sau khi đã tỉnh táo hơn, vẫn phải nhét đầy ba lô quần áo và các vật dụng cá nhân.

Ở bàn viết trong phòng khách sạn, nhân lúc bạn cùng phòng tắm sớm, ngồi viết một lá thư dài ở bàn trà bên ngoài ban công. Từ chỗ ngồi có thể nhìn thấy một phần thành phố chìm trong sương gió, hoang liêu vô cùng. Đồi núi là phông nền vĩ đại nhất, khiến những gì bày ra trước mắt ta kiêu hãnh đến tận cùng. Và cũng cô độc đến tận cùng.

Lá thư viết trên giấy trắng kẻ ngang, vào lúc 1 giờ trưa của một ngày tháng 11 năm 2008, ở một nơi cách xa Sài Gòn hơn 200 cây số đường xe đi. Lá thư như mọi khi vẫn mở đầu bằng lời chào thương mến nhất, sau lại kéo dài ra mãi bởi những nỗi tâm tình miên man. Sau nữa, đã biến mất trước khi kịp hoàn thành, kịp gửi đi, kịp quay ngược chặng đường 200 cây số ban đầu để đến tay một cô gái giữa muôn vàn cô gái nơi Sài thành phồn hoa ấy.

Tất cả những gì còn lại, chỉ là nỗi băn khoăn vô hạn của tôi về cánh cửa để mở và những cơn gió không ngừng tuôn xuống từ những ngọn núi cao.

cảo thơm lần giở trước đèn


Tựa entry cũng là câu status ở diễn đàn sachxua.net.


Năm 2011 của tôi khép lại bằng việc nhờ cậy một người xa lạ tìm giúp mình quyển Một mình với mùa thu của Paustovsky. Và năm mới 2012 đã mở ra ngay sau đó với việc đứng ở quầy giao dịch của bưu điện xã trong một buổi chiều 20 Tết, chờ đến lượt mình ký nhận một bưu phẩm nặng 325g, gửi về từ thành phố cách đấy 2 giờ đi xe, mang theo quyển sách tôi vẫn hằng mong mỏi bấy lâu.

Cảm giác khi xé lớp vỏ bọc, cầm quyển sách trên tay, cũng giống như một nỗi ám ảnh dài cuối cùng cũng đã đến lúc tan biến, một điều tưởng chừng như không thể đã trở thành có thể, một niềm vui bình dị lan tỏa rõ ràng đến từng đầu ngón tay khi lật qua những trang sách vàng bợt bạt lớn hơn tôi cả 4 năm tuổi đời. Trong lúc đó đã nhớ ngay đến em Dương, người hiện giờ đã không còn được gọi bằng tên Dương nữa, và cả những lúc em cặm cụi ngồi gõ từng đoạn ngắn trong sách gửi tặng tôi.

Những quyển sách được tặng, những quyển sách tự mình mua lấy, những quyển sách nhờ người tìm hộ, những quyển sách yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên, từ dòng văn đầu tiên, từ hình ảnh đầu tiên. Phần lớn niềm vui của tôi đều được sinh ra từ đấy, và rồi cũng chỉ quanh quẩn ở nơi đấy, theo thời gian không ít đi cũng chẳng nhiều hơn, chỉ vừa đủ để những lúc rơi vào tình cảnh quá buồn mà không hiểu vì sao, sẽ vươn vai đứng lên, đi dọn lại kệ sách, như một cái cớ đáng yêu, hòng tìm lại cho mình những niềm vui cũ kỹ.



Không hiểu vì sao, nhưng đã từng cảm thấy Những lối đi dưới hàng cây tăm tối rất cô đơn khi đứng trên kệ sách dù rằng xung quanh nó không thiếu những quyển đồng vai phải lứa về mặt nội dung lẫn tầm vóc tác giả. Chỉ đến khi Giọt rừng xuất hiện, lấp vào nỗi cô đơn ấy một sự hiện diện vừa như in bằng khổ in 12x20 thanh nhã của mình, và cả một bầu không khí trong trẻo, nên thơ đẫm chất thiên nhiên Nga, tôi mới cảm thấy một góc của giá sách đã vui lên đôi phần.

Fred Vasgas lại khác. Trong những cánh rừng vĩnh cửuDưới những ngọn gió biển, những cái tên tưởng chừng như quá thơ để làm tiêu đề cho thể loại truyện trinh thám, song lại hàm chứa một sự thi vị đến thuyết phục đối với những ai đã theo bước chàng cảnh sát trưởng Adamsberg, cùng xúc mây trong bầu trời ý nghĩ, cùng lần theo những manh mối mỏng manh do trực giác lên tiếng, và tận hưởng sự vui thú của những kẻ đến quán bar, ngồi uống một mình bên quầy rượu và để cho sự ồn ào của đám đông giúp khám phá ra điều gì đó trong mớ bòng bong những giả thiết đang hình thành. Thật sự mà nói, trong năm qua, Fred là nữ tác giả duy nhất khiến tôi có thể đọc liên tiếp một lúc ba quyển dày cộp trong thời gian chưa đến hai tuần. Rất, rất quyến rũ và rất, rất thông minh.

Cũng có một số nhà văn khác chỉ bằng vào một quyển sách duy nhất đã trở thành người không thể nào thay thế được trong trí nhớ của tôi. Cảm giác đó vẫn còn đây, nguyên vẹn như hồi tháng tư ấy, khi tôi vì đọc Istanbul - Thành phố và Hồi ức của Orhan Pamuk mà buồn bã cả mấy tuần liền. Hüzün của Istanbul. Nếu như bạn còn nhớ. Bất chấp sự khó đọc vì lối văn diễn giải dài dòng như không bao giờ muốn đặt dấu chấm hết và sự khó hiểu vì quá nhiều vấn đề, hình ảnh, tầng nghĩa được nói đến trong cùng một lúc, Istanbul vẫn mê hoặc lạ lùng với những ai đã và đang tìm kiếm một ví dụ thuyết phục cho sức mạnh của văn chương. Tôi không có ý định đọc thêm những tác phẩm khác của ông, những tác phẩm văn chương hư cấu thật sự. Tôi không muốn phải xẻ đôi hay xẻ ba lượng tình cảm mình đã dành cho Istanbul. Và còn vì tôi hiểu rất rõ, sở dĩ tôi yêu quyển sách này đến thế, là vì nhân vật chính của nó là một thành phố, với một nỗi buồn lớn lao trong suốt đã dần hóa thành một loại không khí đặc biệt nuôi dưỡng đời sống tinh thần cho cư dân nơi đó.

Cũng khiến người ta phải bật khóc nhưng không thảng thốt hay sững sờ nhiều như Thiên Táng của Hân Nhiên, Tuyết Hoa Bí Phiến của Lisa Lee là một câu chuyện gần như chỉ dành riêng cho nữ giới. Gót sen ba tấc, nữ thư, lão đồng, gian buồng của những người phụ nữ, chị em kết nghĩa, chúng ta sẽ mãi mãi bên nhau. Rất khó để nói về câu chuyện này chỉ trong vài dòng, nhưng rất dễ để xem hết bản phim cùng tên dựng lại từ tiểu thuyết của nó trong thời gian chưa đến 120 phút. Tôi thích vẻ mệt mỏi của Lý Băng Băng trong phim này, cả dáng vẻ độc lập của một người phụ nữ trưởng thành ở cô. Nhưng cứ nhớ mãi ánh mắt của Jeon Ji-Hyun không sao quên được. Cảnh cô ngồi ở phòng trà, nụ cười thoảng nhẹ bên môi, nhìn Arthur vừa hát vừa đi về phía mình với lời tỏ tình say đắm trong ánh mắt. Một bộ phim có thể khiếm khuyết về tổng thể nhưng phải đọng lại được một điều gì đó trong lòng người xem. Tuy vậy, đa phần khán giả đều đến rạp vì tò mò về đề tài đồng tính nữ trong phim chứ không hẳn để tìm kiếm một sự trải nghiệm mới sau khi đã đọc qua tiểu thuyết của Lisa Lee.

Đã từng nhận được một lời nhờ giới thiệu giúp một quyển sách có thể xoa dịu tâm hồn cho người đọc từ một người bạn chớm quen. Khi đó, vừa hay cũng là lúc tôi đọc xong Đồi Thỏ của Richard Adams (mà tôi vẫn thích gọi là Cây Phỉ và những người bạn ^_6). Cảm nhận về quyển sách này cũng vô cùng giản đơn: nó khiến tôi cảm thấy hạnh phúc! Hạnh phúc là một tính từ hiếm khi tôi dùng để nói về việc đọc một quyển sách. Đơn giản vì không nhiều lắm những nhà văn có thể khiến cho người đọc của họ cảm thấy tâm hồn mình đủ đầy đến mức phải thốt lên thành lời hai tiếng "hạnh phúc" đó. Nhưng may thay, quyển sách được tặng vào tuổi 23 lại khiến tôi có được sự đủ đầy ấy dễ dàng đến thế. Thật sự phải cám ơn em Linh về điều này, và cả về câu nói "em đã nghĩ đến Phương ngay khi nhìn thấy Đồi Thỏ". Tâm hồn tôi không những được xoa dịu mà còn trở nên tươi mới và vững mạnh hơn rất nhiều sau khi đọc xong quyển sách này, chỉ không rõ người bạn chớm quen ấy, từ dạo ấy cho đến nay, đã đồng hành được chặng đường nào cùng Cây Phỉ hay chưa?

fall again

Điều đầu tiên và dễ nhận thấy nhất khi đạp tuyết trở về blog sau một thời gian dài đi vắng là chức năng căn lề cho video của Opera đã được cải thiện hơn nhiều so với trước kia. Ít ra thì giờ đây ta đã có thể bê một clip bên Youtube về đây và đặt nó ở bất cứ vị trí nào ta thích. Trái, phải, hoặc là giữa.

Và phát hiện này gây cho tôi đủ nhiều thích thú để đi dạo một vòng quanh blog, xem xem những video ấy liệu có gì khác đi, khi chúng đã được đặt đàng hoàng ngay ngắn ở giữa entry chứ không phải nép suốt vào lề trái trong một thời gian dài như trước?



Khung sidebar phía bên phải blog cũng vừa xuất hiện một dòng tin RSS lạ trong thời gian qua. Dòng tin ấy liên kết trực tiếp với những cập nhật mới nhất bên trang viết wordpress của tôi. Nhìn đơn giản như thế thôi nhưng tôi đã phải khốn khổ nhiều với nó. Cả Y Vờ nữa chứ. Tôi nghĩ, nếu có hội "Những người mê đắm Opera" thì hai đứa chúng tôi xứng đáng được liệt tên đầu tiên vào danh sách. Sự mê đắm bắt nguồn từ cảm giác an toàn rất cá nhân. Sự mê đắm đã dần trở thành chìm đắm. Nó cũng giống như một vùng nước sâu tuy riêng biệt nhưng không tách rời với thế giới bên ngoài. Qua lớp nước trong suốt chứa đầy những sinh vật phù du trôi nổi, chúng ta vẫn cùng nhau nhìn thấy, và hiểu ra nhiều điều.



Ánh sao xanh đang rơi, tiếng ai hát giữa cánh đồng, gió chiều mang mùi thơm rạ cháy.

Ngước mặt nhìn trời, không phải vì muốn tìm lại những ngày qua tháng mất,

mà chỉ mong thấy được lòng mình,
rộng trải, thênh thang, nguyên lành.

Rory O'Shea was here



Thỉnh thoảng, tôi cũng muốn mắc phải chứng mất trí nhớ tạm thời. Trong một thời gian không quá ngắn cũng chẳng quá dài, chỉ vừa đủ để xem đi đọc lại những cuốn sách hay bộ phim mình yêu thích là tuyệt nhất.

Năm 14 tuổi, tôi dành mong muốn này cho Harry Potter.

Lên 18, tôi có cả một giá sách với những quyển tuyệt hay đáng để người ta quay ngược hoặc cho đi thêm hàng ngàn phút của cuộc đời mình.

Bước sang tuổi 20, thời gian đang có cứ như bị giật đi từng phút một. Song tôi vẫn thích ngồi mơ mộng về những vùng đất chưa từng đi qua, hoặc ôn lại những kỷ niệm đã có với những thành phố từng gặp gỡ.

Còn bây giờ, Rory O'Shea was here, ước gì chưa từng xem để có thể lại xem, cùng những cảm xúc vẹn nguyên như thuở ban đầu.


vẫn ở đây

Tháng 6 năm 2006, blog này được tạo ra ở Opera. Tính đến tháng 6 năm nay, cũng đã tròn 5 năm.

5 năm, nhân lên với 365 ngày sẽ cho ra một chuỗi thời gian dài đăng đẵng. Nhưng là kẻ trong cuộc, ở cột mốc 5 năm sau nhìn lại khoảnh khắc bắt đầu ở 5 năm trước, bằng cách lần giở những trang blog, cảm giác của tôi cũng giống như xem lại một quyển album cũ. Có những nụ cười ngây ngô, có những mất mát ngọt ngào, có ánh nắng của buổi sớm, có sao rơi trong đêm khuya.

Giống như chiếc máy chụp ảnh sticker vẫn được đám đông yêu thích vì muôn vàn phông nền tự chọn, trang blog này, là nơi trình diễn của riêng tôi.

dear July

Khi mình viết những dòng này, ngoài trời, một cơn giông đang về.

Tín hiệu của đường truyền cứ nhấp nháy liên tục, mình nhìn chăm chú vào nó và hiểu rằng đó là một sự lo âu dành cho thời tiết đang ngày càng trở nên tồi tệ hơn ở bên ngoài. Mưa to và xối xả, thỉnh thoảng còn kèm theo ánh chớp. Và một thứ tiếng động ì ầm nào đó cứ lan ra mãi từ chân trời phía xa. Tựa như những tầng trời đang trở mình, những đám mây xám, trĩu nước đang không ngừng nâng lên và hạ xuống. Rõ ràng, sự vận động kiến tạo địa hình không chỉ diễn ra trên mặt đất.



Cách đây vài phút, mình vừa đọc lại một lá mail cũ. Cô gái viết thư cho mình hiện giờ đang ở vùng đất phía bên kia đại dương, có lẽ vừa thức dậy, đã ăn sáng xong, hoặc đang ngồi xắt trà trong quán nhỏ ở khu phố người Hoa nơi cô đang làm thêm. Cô không thích trà hương nhài, nhưng nhiều ngày qua chỉ xắt duy nhất một loại trà này, vì thế cũng đã dần trở nên quen thuộc với nó, hơn nữa còn bắt đầu cảm thấy dễ chịu khi ngửi thấy hương thơm nhẹ nhàng của nó.

Hẳn cậu đã nhận ra rồi, cô gái mà mình đang nói tới, là cậu. Và lá mail đó cũng chính là những gì cậu đã viết cho mình cách đây hơn một tháng.

Mình muốn hồi âm lại lá thư ấy cho cậu. Muốn nói cho cậu biết rằng mình vừa đặt mua một quyển sách có tên Trà Thư đây, nhưng chờ mãi qua nay mà chẳng thấy nhân viên bên nhà sách gọi điện liên hệ nên mình lo lắm. Đợi khi nào mình nhận được sách, đọc xong, sẽ kể qua thư cho cậu nghe nhé.

Còn muốn nói cho cậu biết, khi tuổi mới năm nay bước đến, là vào một ngày đầu tuần bề bộn công việc. Trong những người mình mong mỏi, một số người vẫn nhớ, và một số khác đã quên. Nhưng mình không còn cảm thấy buồn hay đau lòng vì điều đó nữa. Mình nghĩ, cuối cùng mình cũng đã học được cách chấp nhận rồi.

Có lúc rất muốn hỏi cậu, có còn nhớ làng đào La Cả ấy hay không? Còn nhớ câu chuyện nếu viết ra lời mở đầu cho nó chắc chắn sẽ là "Anh đưa cô đi thăm làng đào La Cả" mà có lần mình từng kể cho cậu nghe không? Mình sắp viết đến nó rồi đây. Khi viết xong, cậu sẽ lại là người đầu tiên đọc được, như mình đã từng hứa.

Cũng không rõ từ khi nào, nhưng mình bắt đầu có một thói quen, luôn giấu kín những câu chuyện trong suốt quá trình từ ươm mầm cho đến khi viết chúng ra. Không nói cùng một ai, cũng không cần phải có bất kỳ sự góp ý hay đọc trước nào. Chỉ mình và nó, đối diện với nhau, nhìn nhau chăm chú. Mình đau đáu dõi theo nó lớn dần lên qua những trang word, nó tò mò đáp lại bằng những ánh sáng và bóng tối cứ không ngừng sinh ra, trong suốt những đêm tối dài.

Chính vì thế mà mình luôn nghĩ, có một cuộc tâm tình song phương ở giữa người viết và câu chuyện. Đôi bên nhìn thấy nhau, hiểu rõ lòng nhau, dù vẫn còn đâu đó một nỗi sợ hãi mơ hồ vì không thể cùng nhau đi đến hết con đường. Cuộc tâm tình ấy, ẩn trong riêng tư, được đêm tối bao bọc, cảm giác cũng giống như ngồi một mình trước hiên nhà vào lúc trăng lên. Nghe gió mát thổi qua, nghe tiếng chim ăn đêm xào xạc, nghe tiếng lá rụng lăn hối hả qua sân. Mặt nước ở phía xa rất trong và rất sáng, gợn mãi những vòng sóng khẽ như một hạt bụi rơi.

Ước gì cậu có thể có mặt ở đó, ngồi cùng mình vào những đêm như thế. Bàn tay mình sẽ nắm lấy tay cậu, và hơi ấm nhận được từ cậu khi ấy, sẽ theo mình đến suốt cuộc đời này.



Đôi khi, mình tự hỏi, liệu chúng ta có quên nhau không nếu không có một liên lạc nào trong suốt hai, năm năm?

Đôi khi, mình tự hỏi, mối liên hệ giữa chúng ta có thực sự đặc biệt và bền vững như trước nay mình vẫn luôn tin tưởng?

Không tìm đâu ra được câu trả lời cho những câu hỏi đó. Mình biết. Chúng ta luôn than thở với nhau rằng chúng ta đã quá già so với các em nhỏ hiện nay. Mình cũng thường về vnfic nhìn lại, lớp người viết cùng thời cậu và mình hiện nay cũng không còn ai nữa. Chỉ có những dòng chữ nằm lại mãi nơi đó, cái thuở vì đọc văn mà quý người. Sau lại vì mến người càng thêm trọng văn. Bây giờ, những điều giản đơn như thế đã trở nên cũ kỹ lắm rồi. Mình cũng chẳng đọc được văn ai ở nơi đó nữa. Mơ mộng lãng mạn quá thì khác xa những gì mình đang sống. Bi kịch, tự kỷ cũng chỉ là đoạn đường bị bỏ lại sau lưng khi người ta đi về phía trước. Mình đã đủ lớn để nhận ra rằng phải biết vùi mình xuống trong cuộc sống này, phải biết vùi mình xuống, giữa những nỗi buồn và niềm đau, giữa những bộn bề và trọng trách, giữa ước mơ và hiện thực, giữa tự do và ràng buộc.

Mình biết, khoảng thời gian tốt đẹp nhất của chúng ta đều đã trôi qua rồi. Ngay cả việc viết lách cũng không còn dễ dàng nhiều như trước. Lấp đầy chữ trên một trang word trắng dần trở thành một điều gì đó rất khó khăn. Kể lại rõ ràng cho nhau nghe đầu đuôi một câu chuyện, nếu vẫn còn làm được, thật khiến người ta mừng đến rơi nước mắt.

Chỉ là mình không hiểu, vì sao mãi vẫn không từ bỏ được?





Trong một cơn giông, cậu có biết điều gì là đáng sợ nhất?

Âm thanh cuồng loạn của gió.

Những cánh cửa khua nhau ầm ĩ nếu ta không kịp đóng.

Tiếng con nít ở đâu đó khóc ré lên vì sấm.

Quầng sáng trắng của ngọn đèn tuýp bỗng trở nên quá nhạt và có thể phụt tắt bất cứ lúc nào.

Tiếng mưa sàn sạt như có cả một đội quân đang càn quét tìm người trên mái nhà ta.

Gương mặt lo âu của mẹ.

Và cả ánh nhìn đầy mỏi mệt của cha.



Nhưng may thay, trong đêm mưa giông ngày hôm nay, mình chỉ có một mình. Một mình ngồi trước máy tính, một mình nhìn ra màn mưa gió bên ngoài cửa sổ.

Một mình viết cho cậu.



@chillhiro

Mộng không trở lại, Tây Hồ này

梦不回,这西湖


Nhiều năm trước, còn chưa từng đi đến Hàng Châu, nhưng tôi đã nhiều lần nằm mộng thấy Tây Hồ.

Sau này đến Tây Hồ, mới hay cảnh trong mơ và cảnh đời thực chẳng hề giống nhau.

Sau nữa, lại mơ thấy Tây Hồ, lần này lại là một cảnh tượng khác.

Như vậy, trong lòng tôi Tây Hồ có đến ba dáng vẻ khác nhau: thứ nhất là mơ thấy khi chưa đi đến, thứ hai là cảnh thật đời thật, và cuối cùng là cảnh mơ thấy sau khi đã đi đến tận nơi.

Rốt cuộc, đâu mới là Tây Hồ, tôi thật sự không rõ.

Cũng có thế, lời giải đáp cho băn khoăn này của tôi cũng như lời giải đáp cho mọi băn khoăn khác của chúng ta, vốn đều không tồn tại, chỉ là hư vô mà thôi. Khi chúng ta đến gần nhất chân tướng của một sự việc, cũng là lúc ta cách xa nó hơn bao giờ hết.







Từ Bạch đê, Tô đê, Đoạn kiều, đến Cô sơn, Ngô sơn, Phong Ba đình; rồi Bảo Lục tháp, Lôi Phong tháp, Lục Hòa tháp, Tây Linh Ấn Xã, đến Miếu Nhạc, Tam Đàm Ánh Nguyệt, Bình Hồ Thu Nguyệt. Nghe đến tên mười danh lam thắng cảnh ấy của Tây Hồ, nhiều người sẽ liên tưởng ngay đến văn thơ nhiều đời trước. Từ bé tôi cũng thế, chỉ được nghe kể thôi đã luôn ao ước có ngày được đến với nơi đây.

Bạn có thể bảo rằng Tây Hồ chẳng qua chỉ là một hồ nước, bất quá xung quanh còn có thêm vài tòa đình đài lầu các bắt mắt người xem.

Nhưng với tôi mà nói, Tây Hồ giống như một giấc mộng con, lúc nào cũng vương vấn ở trong lòng, chỉ chực khi tôi lơ đãng, lại hiện ra và quyến dụ không thôi.

Trong cảm nhận của tôi, trong lòng Tây Hồ ẩn giấu một nỗi buồn man mác. Ví như chữ Tây (西) trong Tây Hồ, là một chữ ít nét cô đơn. Những chữ khác khi ghép vào với nó đều tự nhiên sinh ra một ý tứ buồn bã muộn phiền, khoảng trống trong lòng chữ Tây chứa đầy gió, sự thê lương vì thế bị giấu đi, chỉ còn hiện ra những nét hoang vắng mơ hồ.

Chung quy lại cũng bởi vì phong cảnh ở nơi đây như thế, cùng với những truyền thuyết nhân sinh mang đầy tính chất phong tình oán hận đã từng diễn ra ở chốn này, mà đã tạo nên một Tây Hồ với những câu chuyện chỉ quẩn quanh mấy nỗi "Cầu nối cầu, cầu dài không thật dài, núi Đơn Côi mà chẳng đơn côi, thương tình không thương tâm", phảng phất như mặt hồ khói nước mông lung kia, khiến cho lòng người mãi hoài nhớ tâm tình năm xưa.

Đó là những tàn dư trong giấc mộng của tôi về Tây Hồ, mộng ấy, qua rất nhiều năm vẫn gián đoạn không thành.


Lần đầu tiên đi ngắm Tây Hồ là trong một chuyến hành trình dài đầy khổ sở, cuối cùng khi đến được Hàng Châu, trên mặt đã nhuốm đầy phong sương, tinh thần mệt mỏi rã rời, chẳng còn thiết tha du ngoạn nơi nào khác ngoài việc một mình đứng ở Tô đê, ngắm mặt trời lặn thong dong về phía trời Tây.

Thái Thú Hàng Châu Tô Thức khi xưa vẫn chưa có danh là Đông Pha cư sĩ, đã cho khơi Tây Hồ lấy nước tưới ruộng giúp dân, đất đào lên được dùng đắp thành một cái đê mà về sau sáng sớm mỗi ngày ông đều đến đó tản bộ. Cách đó không xa, là nhịp cầu nơi Bạch nương tử từng đứng che ô đã tình cờ gặp gỡ chàng Hứa Tiên năm nào. Xa hơn nữa, như có thể thấy được Tô Tiểu Tiểu ôm trọn hết thảy bi thương ngồi xe du bích(*) quyết tuyệt rời khỏi thế giới này.[1]

Úc Đạt Phu nói: tôi cho rằng trên thế gian này không có nơi đâu đẹp bằng, yên tĩnh bằng, dễ đi vào lòng người bằng, cảnh thu tàn trên Tây Hồ.

Lúc Úc Đạt Phu nói ra những lời này, cũng là vào tiết này trong năm, nhưng đã cách đây 80 năm về trước. Dãy dãy núi xanh bao quanh Tây Hồ, lá chết ngả vàng như mơ, từ xa nhìn lại cây lá như đang vươn chồi trong một mùa tái sinh mới. Lúc này, ánh tà dương chẳng còn dọa dẫm được ai, nhưng bóng nắng cuối ngày lại khiến mọi thứ trở nên đáng mến hơn rất nhiều. Những tia nắng cuối cùng còn sót lại lướt chầm chậm qua gương mặt phố núi rồi biến mất. Bên bờ hồ, cây lá dập dờn, gió gợn sóng biếc, núi xanh nơi xa xa như hòa làm một với vùng sơn khê heo hút, dòng nước gần bờ đã nhuộm thành màu đỏ quạch như gương mặt kẻ say, sóng bạc lấp loáng sáng.

Giọng nói từ ngàn xưa đang vọng về, thời gian của ngàn đời vẫn đang trôi mãi.

Phóng mắt ra khắp mặt hồ, như nhìn thấy hai hòn đảo Nguyễn Công Đông và Tiểu Doanh Châu sóng vai nhau đứng giữa trời chiều, cảnh mông lung như thực như hư. Có thể nhìn thấy xa xa, nhịp cầu uốn cong duyên dáng nằm bên trên sóng nước mênh mông, liễu thướt tha buông mình trong gió, soi bóng xuống mặt hồ phẳng lặng như gương. Gần đó, đám sen mùa hạ đã úa tàn rã rượi, chỉ còn sót lại vài cánh mỏng màu hồng nhạt, nổi lên giữa quang cảnh điêu tàn xung quanh, mang theo một vẻ đẹp gần như lãnh đạm.

Dương Vạn Lý từng ở bên hồ hát tiễn khách rằng "Tiếp thiên liên diệp vô cùng bích" (Liền trời sắc lá xanh xanh ngắt)[2]. Chỉ một mình ông ngồi đó ngân nga, tư thế điềm nhiên như chứa cả dáng núi bóng mây, đóa hoa sen vươn cao giữa Tây Hồ năm ấy dường như cũng tỏa ra ánh huyền hoặc sống động hệt như thần thái của ông. Nước gợn hết đợt này đến đợt khác, quang cảnh Tây Hồ nhờ có chúng mà sinh động hơn vài phần.

"Đến bờ xin người nhớ ngoảnh lại, tiên cảnh Bồng Lai giữa trùng khơi."

Nhớ đến một câu thơ của Bạch Cư Dị, tôi cũng học theo đó mà ngoái đầu nhìn về phía Cô sơn, núi vẫn xanh như trước, gối đầu lên sóng nước Tây Hồ mà chìm vào giấc ngủ say, trăm năm cũng chưa từng biến chuyển. Bạch Cư Dị, khi đứng bên bờ Tây Hồ khi ấy, trong lòng có thầm thở than cho sự đối lập giữa vĩnh hằng của nước non và khoảnh khắc ngắn ngủi của đời người, giống như tôi?

Đầu cùng của Tô Đê, chính là cảnh nắng chiều Lôi Phong nức tiếng gần xa: tòa tháp cao cao, sừng sững in bóng giữa nền trời, chừng như chạm được đến cả những tầng mây tía trên cao. Núi non trùng trùng điệp điệp, dáng núi gần xa khó phân, đậm nhạt khó biết. Mặt hồ phẳng lặng phía dưới như cũng chìm trong một sắc vàng rực rỡ, ánh sáng chao trên đầu con sóng, dập dềnh mãi không ngừng.

Tôi ngắm đến thảng thốt, cảnh đẹp say lòng nhưng lại không thể chạm vào, khiến người không khỏi cảm khái. Gió hồ lướt qua, liễu mảnh reo lên xào xạc. Tòa bảo tháp Lôi Phong đó, rất lâu rất lâu về trước từng là nơi giam hãm một con xà yêu có tu vi ngàn năm.

Thiếp tu hành suốt năm trăm năm, chỉ vì một cuộc tao ngộ bên cầu, cùng người.

Thành Hàng Châu phía đối diện xa như núi gần tựa nước, hư huyễn chẳng khác nào ảo ảnh thế gian. Thực ra, phải đi đến nơi đâu mới là cuộc sống của hiện thực, lẽ nào, lẽ nào, đây là Tây Hồ trong giấc mộng của tôi sao?


Lần thứ hai đến Tây Hồ, là một buổi tối có trăng sau mưa, theo lời hẹn của chúng bạn đến Lãng Văn Oanh uống trà.

Hai bên bờ Bạch Đê liễu rủ như khói, dọc theo bên hồ, nơi nơi đều là sóng nước mênh mang, mỗi bước chân đi cũng giống như đang đầm mình trong nước. Nhìn khắp xung quanh, một vùng nước non bao la bát ngát, vài hòn đảo xanh tươi um tùm, một chiếc thuyền hoa lênh đênh giữa dòng, dáng núi bất động trong đêm tối, Lục Hòa Tháp và Lôi Phong Tháp đối mặt nhìn nhau.

Những cụm núi bao quanh bốn phía, mặt giữa là một ngọn núi lớn án ngữ. Núi cũng không cao lắm, nhưng tầng tầng lớp lớp, có gần có xa, sắc xanh ban ngày của Tây Hồ lúc này đã biến thành một vùng thẳm xanh dịu dặt, đâu đâu cũng thấy, sóng nước lượn lờ khoảng mông mông.

Gió đêm thổi lạnh khiến tôi bỗng chốc rơi vào suy tư, suy tư của tôi cũng giống như dòng nước, chìm nổi, giao nhau, tự do, quấn quýt. Tây Hồ là cố hương lý tưởng trong lòng chúng văn nhân xưa nay. Trăm nghìn năm trôi qua, họ vẫn có thể cảm tác ra bao áng văn thơ ca ngợi nơi này, ngẩn ngơ đứng ở bên hồ, ánh mắt say mê như có sóng. Chỉ cần đến được Tây Hồ, dù sau đó rồi cũng sẽ đi, đối với chính mình vẫn là một niềm an ủi. Thân phận, tiền tài, công danh, những thứ đó đã không còn quan trọng nữa. Chỉ có lý tưởng và mộng tưởng đang lẳng lặng dệt nên trong lòng kia, mới khiến họ thanh thản, sướng vui.

Một chiếc thuyền nhỏ chầm chậm lướt qua, cắt ánh trăng bạc trên mặt hồ thành muôn ngàn mảnh vỡ. Tất cả mộng tưởng trong văn hóa Trung Hoa của chúng tôi, có lúc bấp bênh, có khi chán nản, đều được chiếc thuyền ấy chở trên lưng.

Tây Hồ từ đó về sau, tơ liễu phiêu phiêu, gió mát mị người, sóng nối sóng, bóng lồng bóng, tiếng tiêu như phượng hoàng than khóc, quan to quý nhân mắt nhập nhèm chìm trong say sưa, văn nhân dùng thơ văn tán thưởng, ca kỹ xiêm áo điệu đàng ngày đêm ca múa. Ở nơi đây, giết chóc và ca vũ không thể cùng tồn tại, mọi thứ đều như một giấc mộng yên vui, cực lạc nhân gian. Thời thế nhiễu nhương, kẻ khôn ngoan hết thảy đều náu mình, cảnh chém giết đao quang kiếm ảnh nơi phương Bắc xa xôi ngày càng mờ nhạt đi trong trí nhớ con người. Từ khi đó, Tây Hồ trong dòng chảy thời gian đã luôn hiện lên như một hình ảnh thanh tú phong nhã, một nơi chốn an nhàn tươi vui, có ý tứ minh thiện, nhưng cũng trống rỗng và thanh nhàn.

Hồ nước ơi, hồ nước ơi, một ngàn năm tiêu dao, tới khi nào mi mới có thể dừng lại?

Sự xuất hiện của Tây Hồ có thể so với những dòng tuyệt cú của Tây Tử. Nhận ra điều đó, Tây Hồ bắt đầu ước hẹn, quyến rũ, bày ra tất cả sắc vóc, phô ra sắc xanh miên man, còn cả cả những tình yêu say đắm não lòng.

Tây Hồ là nơi để lại cho đời nay nhiều chuyện kể hơn bất cứ nơi nào khác. Những nữ tử dung nhan thanh tao tú lệ, những nam nhân ánh mắt như sương sa khiến người xuyến xao. Theo thời gian, sau thời của Tô Tiểu Tiểu và Chu Thục Trinh, vẫn còn có nhưng người con gái khác, như Bạch nương tử, Đỗ Thập Nương, Chúc Anh Đài, nhiều hơn thế nữa là những cô gái chẳng lưu lại tên tuổi cho đời. Các nàng tự mình thương mình, lẻ loi vời vợi. Tạo hóa ban cho các nàng những số kiếp hồng nhan bạc mệnh, Tây Hồ lại nhờ đó mà góp dày tình cảm nhân sinh, từ một quang cảnh non xanh nước biếc vô tư vô lự cũng dần dần cũng trĩu nặng tâm tư như một con người. Các nàng như hoa xuân từ từ héo rũ, người mất, tiếng cũng chẳng còn.

Lúc thưởng trà ở Văn Oanh các, không biết mưa lại rơi xuống từ khi nào.

Ngoài cửa sổ ngoài tiếng mưa vẫn chỉ có tiếng mưa, tí tách tí tách, rơi mãi không ngừng, khiến mắt cay, khiến lòng đau, khiến tâm xót xa, tình lưu luyến. Vào lúc này, đã không còn trông thấy được điều gì nữa, nhưng đồng thời lại có cảm giác như thấu suốt tất cả. Tựa như trước mắt là khung trời trống rỗng ngoài cửa sổ phía Tây, nơi những tình cảm dịu dàng đã dệt thành tơ mỏng chăng ngang khắp trời, một chiếc kéo vô hình cứ cắt mãi, những đoạn tơ tình đứt lìa rồi lại sinh ra.

Một khoảnh khắc ấy, hồn phi phách tán, ái hận khôn nguôi.

Đột nhiên nhớ tới một vị văn nhân nào đó đã từng nói qua, một tòa thành luôn cần có một người canh gác, giống như một chiếc đồng hồ cổ ở quảng trường những thành phố lớn ngày nay hay một tiếng trống báo canh thời xưa vẫn có, mỗi khắc mỗi giây đều lên tiếng nhắc nhở chúng ta phải biết trân trọng thời gian của mình, phải biết sống sao cho đáng. Điều Tây Hồ nhắc cho chúng ta nhớ đến không phải chỉ có mỗi Hàng Châu, mà còn có cả một chiều sâu văn hóa của Trung Quốc. Khi suy nghĩ ấy vừa nhen lên trong lòng tôi, thì Tây Hồ cũng đã bắt đầu trở nên lớn lao hơn, xa cách hơn, mờ ảo hơn.

Nhưng mà, đây chính là Tây Hồ tôi đã từng mơ thấy sao?




Từ đó về sau, Tây Hồ vẫn xuất hiện trong những giấc mộng chập chờn của tôi, nhưng đã khác đi nhiều so với trước. An tĩnh, an tĩnh đến mức gần như kiên quyết. Hồ nước ấy, nơi chốn ấy, đã sớm đi qua phồn hoa, chìm nổi bao đời, vì vậy mà tâm tĩnh lòng yên. Lôi Phong tháp, Bảo Lục tháp, Hào Các, Tĩnh Tử tự, đứng yên lặng và buồn thảm trong đêm tối; phật chủ, yêu nữ, bóng ma, u buồn và cô độc, những điều đơn giản nhất cũng dần dần trở nên phức tạp khi bóng đêm buông xuống; nhịp thở của cuộc sống thế tục, tiếng tràng hạt lần tay, tiếng cầu phúc, tiếng oán than, trai gái hờn giận, vang lên rõ ràng như quẩn quanh bên tai; trái tim của thành thị vẫn luôn luôn đập, trong đêm tối sẽ bay lên sướng vui hoặc đớn đau chìm xuống; giữa lúc thời gian trôi qua, mới cũ giao hòa, thay đổi và chuyển hóa là không thể nào tránh khỏi. Từng có một thời, sự phồn vinh che lấp phế tích nơi đây.

Giữa mưa bụi mờ mịt, tiếng sáo trúc văng vẳng đâu đây, là ai lên dây cho cây trúc huyền, ai vẫn say mê múa ca trong bóng tối, là oanh ca? Hay yến lượn? Ảo giác tìm về?

Mưa gõ nhịp trên mái ngói thanh thanh, nước biếc ôm ấp dãy tường xưa rêu phủ, nơi ngõ vắng song sâu, khẽ vuốt ve hàng bờ rào loang lổ, hình dung ra buổi ban sơ có người từng tựa lưng đứng ở nơi này, ánh mắt sáng trong, nụ cười tươi tắn. Nhắm mắt lại, dường như đã mấy đời trôi qua. Mưa cứ rơi, rơi mãi, khiến tháng năm bạc trắng, hoa mẫu đơn chìm trong điêu linh, nhện giăng tơ kết tổ, bụi thời gian phủ mờ hết thảy những dĩ vãng vàng son.

Trên thanh đồng giá nến, lưu lại vài giọt sáp tang thương, gương mờ nhòe nhoẹt, tìm đâu thấy nụ cười môi đỏ của hồng nhan. Ngoái đầu nhìn lại mùa du, liễu râm bóng, những phiến đá bám đầy rêu xanh, hồ nước rập rờn không rõ cười hay khóc, cơn mưa phùn biết khi nào thôi rơi, kiếp trước của bạn, kiếp này của tôi, tất cả đều đã được ghi chép lại...

Xa xa, tường trắng bạch một màu, ngói đen thẫm như mực, nhịp cầu mái cong cong, hành lang quanh co chạm trổ, chim én xây tổ dưới rường nhà, êm ấm an vui.

Trong giấc mơ của tôi, hoa sen tàn trôi trên mặt nước, rã ra muôn ngàn mảnh, lẳng lặng chết đi, dần vón lại thành một phế tích. Tôi ở trong mơ vẫn biết, mùa xuân năm sau sẽ đến, một mùa sen mới sẽ lại nở rộ khắp nơi, Tây Hồ sẽ lại trở mình thức giấc, từ một phế tích xa xưa trở thành giấc mộng khiến bao người ước mong.

Nhưng mộng ấy, đã không trở lại, Tây Hồ này.



(Bài và ảnh: 小林|Tiểu Lâm
Đã được đăng trên tạp chí Hàng Không Hạ Môn số 5 năm 2010)
Phương dịch

Read more...

Ô Trấn trà sự





Kể chuyện trà ở thành cổ Ô Trấn(*)



Trong sáu cổ trấn ở vùng Giang nam, Ô Trấn chỉ là một thành thị nho nhỏ, nằm bên một dòng chảy khúc khuỷu quanh co, chở trong lòng những con nước bình đạm ngày đêm trôi mãi. Lần thứ hai đến Ô Trấn, định rằng sẽ thăm thú phong cảnh vùng Giang Nam, rốt cuộc có bao nhiêu thời gian đều ngồi lại cả trong một trà quán cũ, bao nhiêu chi phí dành cho chuyến đi rốt cuộc cũng đều quy về mỗi tiền trà.

Ở các trấn nhỏ vùng sông nước Giang Nam, chẳng gì nhiều bằng trà quán. Một tấm phướn đề tên, một nhịp cầu cong cong nước chảy. Quán thường không lớn lắm, tất cả bàn ghế đều làm từ gỗ, dáng vẻ cũ kỹ và xa xưa, trải đều từ bên trong ra đến dãy hành lang bên ngoài, cách bày trí thoạt nhìn có vẻ ngẫu nhiên nhưng thật ra lại rất có ý tứ đối với bố cục tổng quát của cả gian quán nhỏ.

Trà quán này tuy đã mở cửa nhiều năm nhưng cách bày biện và dáng dấp vẫn giữ được phong vị năm xưa: phòng ở, tường, sàn nhà, bàn ghế gỗ, phòng bếp, quầy hàng, cửa thông gió áp mái, cửa sổ gỗ khắc hoa văn. Ở trước quầy hàng treo rất nhiều tách sứ và chén tử sa (1), trên mỗi món đều thuật lại một câu chuyện cổ hoặc lai lịch của một sự tích xa xưa nào đó. Còn có siêu nước làm từ vỏ trúc, chỉ nhìn qua đã biết là đồ vật có niên đại cao. Ánh mặt trời mờ mờ chiếu xuống từ cửa sổ áp mái, rọi vào bên trong gian quán, cảnh tượng cũng giống một câu trong tiểu thuyết Lỗ Tấn từng viết, cuộc gặp gỡ giữa những năm tháng xa xôi.

Nơi đây thật ra cũng chẳng phải một thắng cảnh nổi tiếng hay một danh lam đặc biệt gì khiến du khách phải dừng chân ghé lại. Chỉ là nơi dân trong trấn vẫn thường nghỉ chân chuyện phiếm hàng ngày. Không có những thiết bị tiện nghi hiện đại, cũng chẳng màng cái gọi là đèn đóm sáng choang, nhưng vết tích do thời gian để lại, đã đủ khiến người chìm đắm. Ngồi xuống một chạc ghế ngựa dài, gọi một ấm trà Long Tĩnh cùng một đĩa lạc luộc hãy vẫn còn nóng sực, rồi nhàn nhã ngắm người qua kẻ lại nói cười xôn xao trên con đường nhỏ bên ngoài. Điều đơn giản đó, giữa cuộc sống bận rộn ngày nay, cũng đã là một hạnh phúc giản dị khó tìm.

Ở vùng Giang Nam sông nước, những quán trà như thế hầu như có mặt ở khắp mọi nơi, tuy ở những nơi rất khác nhau song cách bày trí và mục đích ra đời của chúng hầu hết đều như một. Muốn nói cho rõ nguồn cơn thì lại phải ngược dòng thời gian trở về hơn một nghìn năm trước, bắt đầu xuất hiện từ thời nhà Hán, hưng thịnh phải kể đến Tống, Minh. Ở những quán trà lớn hơn, còn có thể nghe kể chuyện và thưởng thức tiết mục Bình Đàn (2). Nhịp sống ở vùng Giang Nam lắm sông nhiều nước cũng thanh nhàn và bình đạm như một con nước trôi ngang, cứ như hàng ngàn năm qua vẫn luôn lặng lẽ trôi đi giữa hương trà, khói thuốc và bóng nước chao. Các cô cậu chạy bàn trong quán cũng chẳng ít, trà cụ thường mang theo bên mình là một ấm nước vòi dài, khi cần, tay trái chỉ khẽ nâng cao thân ấm, nước sẽ theo đó chảy xuống: một lần, hai lần, rồi ba lần, nước sôi đổ đầy ấm mà không tràn ra ngoài, trên mặt bàn cũng tuyệt nhiên không vương một giọt nước. Cách thức rót trà này được dân trong nghề gọi là "Phượng Hoàng tam điểm đầu" (3), chỉ trong vài phút hương thơm đã tràn ngập khắp nơi nơi.

Khách của trà quán cũng hội đủ mọi dạng người khác nhau, kẻ về hưu, nhóm hương thân phụ lão, có người quen, kẻ lạ, nhưng chỉ bằng một hai ấm trà nhất phẩm, đã có thể trò chuyện qua lại hơn nửa ngày trời. Cũng ít ai nông cạn đến mức vội vã uống một hơi cạn sạch, đa số đều chậm rãi nhâm nhi, từ tốn thưởng thức, từ lúc nhấc tách lên nhấp một ngụm nhỏ cho đến lúc đặt tách xuống thở ra mãn nguyện, cũng là cả một khoảng thời gian dài. Những ai đã sống đủ lâu để hiểu được lòng người, rõ được sự đời, càng uống lại càng miên man.

Đời sống an tường và yên ả của một thị trấn nhỏ, đều đã hiện ra một cách rõ nét nhất ở một nơi lãng đãng khói hương như trà quán đây. Không khí hòa thuận vui vẻ, tiếng nói cười xen nhau, mỗi khi ai đó chạm ly mừng bạn hữu, nhận anh em, âm thanh lanh canh vui tai đến lạ, giữa từng đợt khói trà trắng mờ bốc mình lên cao là giọng kể chuyện Bạch Xà trầm trầm đều đều trong tiết mục Bình Đàn vọng ra từ chiếc radio cũ. Tổng hòa tất cả những điều ấy, đã tạo ra một bầu không khí đặc biệt, chân thật và đầy sức sống, cho trà quán vùng Giang Nam.

Chuyện về trà, không phân nhã tục, ngay khi đi vào đời sống sinh hoạt đã nghiễm nhiên tìm được chỗ đứng cho mình. Mỗi người trong chúng ta đều đã tự mình cho đi mấy phần thời gian của bản thân, giữa lúc trầm ngâm bên ly trà, hạ qua đông đến. Một ly trà, trong lúc chậm rãi đặt xuống, thời gian trước mắt cũng như quay ngược, dư vị của tháng năm, còn có cả hoài niệm của một thời từng không cam tâm, tình nguyện.

Uống hết một ly trà Giang Nam, đã có thể hiểu thêm không ít về chuyện xưa nay. Khách chỉ ngồi đó, giản đơn và thanh thản, trà ở trước mặt, càng uống vị càng đạm nhiên, nhưng thời gian càng trôi qua lại càng trở nên sâu nặng trong lòng nhau. Tự hỏi cuộc sống thật sự ở Giang Nam phải chăng cũng chính là như thế?

Vì sao bản thân lại yêu thích trà quán như thế, lý do thật nói không nên lời. Bước vào quán, thoải mái ngồi xuống, gọi một ấm trà, cùng mọi người nói mãi nói mãi, thời gian trôi qua bao lâu cũng không biết. Như thế, sẽ có lúc đột nhiên nhận ra rằng, cuộc sống của chúng ta hiện nay gấp gáp quá, lúc nào cũng vội vàng như đang tháo chạy, cần nên có chút thời gian để sống chậm lại, tận hưởng tận tình hơn, nhờ đó mà phát hiện ra vẻ đẹp bị lãng quên của sinh mệnh, đời sống ngắn ngủi này cũng nhờ thế mà có thể hoàn thiện hơn vài phần.

Tôi nghĩ, sự quyến rũ khó cưỡng lại của trà là ở chỗ, nó hầu như không có mùi vị gì, nhưng sau cùng chính sự ‘không có gì’ đó lại vượt trên tất thảy. Tựa như cái chết, ai trong chúng ta mới nghe qua lại chẳng hoảng sợ, tâm loạn lòng lo, sau lại bình thản chấp nhận, an nhiên chờ đón.

Ngoài cửa sổ là mùa xuân đang đến, cây cỏ sinh sôi, những nỗi muộn phiền lắng dịu. Trà vì đắng mà chạm được vào tâm, ngấm sâu vào lòng, nhưng hãy chậm rãi thôi, thư thả thôi, cũng như ở ngoài kia, những năm tháng tươi đẹp nhất đang trôi qua.

(Bài và ảnh: 小林|Tiểu Lâm
Đã được đăng trên tạp chí Đông Phương Phong Tình)
Phương dịch

Read more...