Tâm Linh,Thiền Định,Con Người

Mankind - Enlightenment - Love. www.matma8x.tk

Subscribe to RSS feed

Posts tagged with "mel"

Sticky post

Thiền Định Toàn Cầu Hằng Ngày { MEL - HUESA}

,

Thiền Định Toàn cầu Hằng Ngày

Thiền định toàn cầu hàng ngày nhằm mục đích gửi tình thương và sự tri ân tới quả địa cầu thương yêu và giảm bớt sự tổn thương cho Nhân Loại. Tất cả mọi người đều đuợc chào đón tham dự buổi thiền định này, không quan trọng bạn là ai và ở đâu trên quả địa cầu.

Xin hãy lưu ý rằng Cô Theresa Thu Thuỷ luôn luôn thiền định cùng tất cả các Anh Chị Em trên toàn thế giới (cho dù chương trình Tivi này hoạt động hay không)

Chương trình phát sóng – Chú ý là cần vào trước 10 phút

Địa chỉ này giúp bạn dễ dàng biết được giờ địa phương của bạn, kiểm tra giờ địa phương ở các vùng khác nhau.

(Giờ Việt Nam là 17h)
Số Người Truy Cập

Xem bản đồ những người đang cùng thiền với bạn ở  đâu

Mật mã cuối cùng và lời tiên tri cổ, thông điệp của sự sống

, , , ...

Lại 1 đêm nữa lại đến. Sau mỗi 1 ngày, sau khi lột bỏ hết những chiếc mặt nạ "đời" của mình ra thì mỗi chúng ta lại đối diện với chính mình, với chính con người thật của mình. Trong sự vô thinh, không gian, thời gian như dừng lại. Khi trở về với cái nguồn cội, trạng thái Vô thức, gạt bỏ hết tham, sân si; cởi bỏ ra khỏi mình các tâm trạng hỷ, nộ, ái, ố, bi, kinh, khủng, xóa bỏ bản ngã để thấy chân ngã, Phật tánh của mình, "sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc", tại nơi đây, chúng ta đang ở bên trong thánh điện, được tiếp xúc với Ngài, bên cạnh các Đấng,"các vị tiền bối" , "những người anh em", và Thầy. Không có sự phân biệt gì giữa các Đấng và mọi người ở đây cả, chỉ có ánh sáng của sự minh triết và những liên hoa đăng tỏa ánh sáng vàng, mỗi 1 tia sáng phát ra ở đây không chói lòa mà thấu qua rất ấm áp, đầy ắp như tình thương của mẹ vậy. Ánh sáng này phát từ các Đấng cũng như vậy nhưng còn ấm áp hơn rất nhiều. Mỗi lần đến nơi đây, lại được tiếp nhận những căn duyên mới, quyền năng mới, học được nhiều bài học mới và nhận những nhiệm vụ mới. Chỉ có tình yêu thương vô điều kiện và lòng chân thành là chìa khóa đầu tiên để giúp con người giác ngộ, để cho được trợ duyên, được đánh thức Phật tánh của mình thức dậy, để được tìm ra chân lý của đường đạo, đường đời. Trên đường đời, sẽ có rất nhiều cánh cửa, mỗi cánh cửa sẽ có 1 ổ khóa, mỗi ổ khóa đó có 1 mật mã, hãy giải mật mã đó và mở cánh cửa đó ra, Ta sẽ thấy được Chân Lý, sự hiện diện cho sức mạnh của Thượng Đế trong mỗi chúng ta và cho chúng ta được giác ngộ, minh triết.

Lần này, nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu là tìm ra 1 mật mã trong 1 lời tiên tri cổ. Nó quyết định sống còn cho vận mệnh của Nhân Loại trên quả địa cầu trong giai đoạn cuối của chu kỳ này. Lịch sử có thể tái diễn lại của hơn 40 ngàn năm trước? Thầy nói đúng: "Trên Thiên Đàng không cần anh chị em giúp mà chỉ có ở trần gian này mới cần sự giúp đỡ của anh chị em". Chỉ có con người mới giúp được con người mà thôi. Hơn 40 ngàn năm trước, các vị thầy tu cổ đã đánh mất đi 1 phần cuộc sống của họ rồi dần dần đưa cả Nhân Loại vào giai đoạn dần diệt vong, ngày nay các anh chị em có muốn giống như họ không? hay chúng ta sẽ thay đổi lại và làm chủ vận mệnh của chính chúng ta? Câu hỏi này xin dành tặng lại cho các bạn đạo, bạn đời, những người anh em và cho những người đã đọc, đang đọc và sắp đọc thông điệp này.

Bình Minh xin tặng lại lời Thầy Lương Minh Đáng đã từng dạy cho các anh chị em Nhân Điện ( Mỗi 1 lời dạy đều là 1 mật mã, thấu hiểu chân lý của những lời này các anh chị em sẽ biết được câu trả lời và thông điệp đằng sau câu hỏi của Bình Minh):
Những Lời Dạy Của Thầy Lương Minh đáng


1-Anh chị em phải xoá bỏ những gì không cần thiết trong quá khứ, để học hỏi được những điều của ngày hôm nay và những gì của ngày mai.

2- Anh chị em biết tất cả muôn loài vạn vật đều là một, kể cả chúng ta . Và linh hồn Thượng Đế có trong mỗi người .

3- Giúp được một người bằng thành lập 5-7 cái chùa. Giúp ở đây là đưa một linh hồn đi tu, trở về với Thượng Đế : chứ không phải đem tiền đóng góp xây 5-7 cái chùa là có công đức.

4- Đời giúp ta sáng tỏ đường Đạo, ta giúp Đời trong lúc lâm nguy.

5- Chúng ta phải đứng trên bình diện của tốt, xấu, đúng, sai, v.v…để xem, cả hai chỉ là một. Như vậy chúng ta mới có sự hợp nhứt trong tâm trí để dễ dàng đạt sự Minh Triết Giác Ngộ .

6- Sự tin cậy và tín ngưỡng được thể hiện qua hành động của anh chị em .

7- Bị thất bại trong việc đem lại hạnh phúc cho mọi người còn hơn là thành công về sự gây đau khổ.

8- Chỉ khi nào anh chị em biết thương linh hồn mình, thì anh chị em mới có thể thương mọi người được.

9- Thầy nắm giữ chìa khoá mở cửa chân lý cho anh chị em . Và chân lý là sự thật, chân lý là Thượng Đế .

10- Khi chứa những điều tốt trong tâm, thì anh chị em sẽ không trở thành người xấu được.

11- Khi còn thể xác , tất cả mọi người đều bị lệ thuộc bởi phong tục tập quán, gia đình xã hội ,v.v…Do đó chúng ta chỉ thể hiện tình thương được tối đa 70% mà thôi. Khi lìa bỏ thể xác , linh hồn chúng ta mới thể hiện tình thương 100%.

12-Sự chấp nhận đem lại sự tự do hoàn toàn.

13- Trên Thiên Đàng không cần anh chị em giúp , mà chỉ có ở trần gian này mới cần sự giúp đỡ của anh chị em .

14-Khi bị con người thử thách thì anh chị em sẽ bị suy yếu, nhưng nếu Thượng Đế thử thách thì anh chị em sẽ trở thành vững mạnh hơn.

15-Nếu gạt bỏ được tham vọng và sự ham muốn của mình, thì anh chị em sẽ biết thương mọi người và Thượng Đế sẽ ở gần anh chị em .

Ngày yêu thương

, , ,

Hà Nội mùa đông rồi. Có những đêm nằm thấy rét co ro( Chăn mỏng) nhưng mặt vẫn tỉnh queo. Lâu lắm rồi mới lại viết Blog. Hôm nay, tranh thủ mượn em Laptop của mình ở công ty về( công ty ko cho mang về vì chưa lấy được bằng đại học từ trong SG chuyển ra để nộp, em kế toán nguyên tắc nhưng cũng phải thương anh chứ, tối về chả có gì dùng để nghe nhạc, xem phim, chia sẽ giúp đỡ các ACE, bà con nữa chứ). Mọi người cứ giục bảo viết entry mới đi, chia sẻ đi. Đúng là mình ôm cả đống để làm gì nhiều cho nặng. Thả hết vào cái entry này cho thoải mái hay như các thầy nói "giải phóng tư tưởng".
Thế là chị gái mình cũng lên xe hoa về nhà chồng rồi. Mọi việc cũng suôn sẻ và thuận lợi. Cũng qua đợt "vu quy" này thì mới thấy lòng người thật ấm áp và qua việc này mới thấy là những người xung quanh mình ai tốt, ai chưa tốt , ai thật, ai không thật . Thật ra thì mình biết hết từ lâu rồi nhưng muốn trải nghiệm lại để cần có sự điểu chỉnh phù hợp. Cảm ơn tất cả các ACE trong đại gia đình Bình Minh, những người bạn cấp 2 ( Phong, Đại, Lan, Chi, Việt), cấp 3( Hiếu, Tiến), những đồng nghiệp ở DKT và những người anh em đã đến giúp và chung vui cùng gia đình Bình Minh.

Đời người ở chu kỳ này ai cũng chỉ sống tối đa có 120 năm thôi. Nhân loại đang vào giai đoạn cuối "mạt pháp" nên tất cả mọi điều đều có thể xảy ra. Con người đầy tham- sân- si và sự ích kỷ nên khi thấy nhiều khả năng mới xuất hiện( pháp thuật cổ được khôi phục lại) thì ai cũng cho rằng đó là kỳ lạ. Rồi tò mò. Rồi khám phá, tìm tòi, học hỏi. Rồi bản ngã được dâng cao, đầy sự ích kỷ, tham lam xâm chiếm thì Chân- Thiện- Mỹ của con người bị ẩn đi như trong màn sương đục. Và..."Chỉ có con người mới giúp được con người". Xin các Đấng hãy tha thứ và thương cho những kẻ mà đang núp dưới danh nghĩa của các Ngài mà đang đi rao giảng thực hành những điều không đúng. Với tình yêu thương lớn, nhân loại đã lùi ngày phán xét xuống 1 giai đoạn nhưng Bình Minh vẫn nói lại rằng: " Mọi lời tiên đoán không hề sai". Có thể chỉ có 1 mình bạn biết được, nhận được thông điệp này. Hãy yên lặng, lắng nghe thông điệp đang được truyền đi từng giây phút một cho bạn, cho tôi và cho tất cả mọi người. Hãy trân trọng từng giây phút mà bạn đang có, hãy sống chân thành với bản thân mình và hãy nói lời yêu thương với những người mà bạn yêu trong tình thương vô điều kiện.

Hà Nội, ngày 4-12-2010, ngày yêu thương,

Bình Minh

Thiền định và ra ngoài không gian

THIỀN ĐỊNH VÀ RA KHÔNG GIAN.

MÊ KÔNG:
Kính thưa thầy,xin thầy dạy cho chúng con ý nghĩa mới nhất của thiền định và ra ngoài không gian?

Thầy:
Thế giới tâm linh là thế giới vô hình,vô thanh,vô sắc và con người có cơ duyên giao hòa với thế giới tâm linh(thiền định,nhập định hay ra ngoài không gian)thì trong thời khắc giao tiếp đó những quy luật ở thế giới hữu hình tạm hết ý nghĩa và các sóng điện trong não bộ thay đổi,vì nó được trường tâm linh Thượng Thiên điều khiển để thay đổi.Thay đổi để tiến hóa,để tiếp nhận băng tần sóng điện mới,để đón các Đấng ngự vào cõi lòng mình,để các Đấng chỉ dạy cho anh chị em học hỏi,nói nôm na hình tượng như vậy cho dễ hiểu dễ nghe.Chứ các ổng ấy nhờ Thầy giúp cả rồi,vì mấy ổng đã dạy anh chị em mãi mấy ngàn năm nay,càng dạy,anh chị em càng tiến hóa tụt lùi.Bài học cũ dạy vào thời đại mới khó khăn lắm.
Thiền hay ra ngoài không gian có cùng một ý nghĩa,nhưng khác nhau về cấp độ đừng nhầm lẫn sẽ lãnh hậu quả và vi phạm thì ráng mà chịu.Ý thầy muốn nói là:muốn tiếp cận với kĩ thuật ra ngoài không gian,anh chị em phải học từ lớp 16 trở lên,vì được Thầy truyền điện,trao cho năng lực mới,giới thiệu các Đấng mới đến giúp,thì mới có thể thực hành được.
Khi thiền hay ra ngoài không gian,những thông điệp dạng sóng đặc biệt sẽ cập nhật tới các tế bào siêu điện ảnh trong não vộ anh chị em,để giúp cơ thể vật chất bằng xương bằng thịt của chị emđược tắm trong trường tâm linh vô hình,trường tâm linh Thượng Đế.
Lúc đó nhịp sinh học của cơ thể anh chị em,đồng pha với các băng tần sóng điện ngoài không gian.Các giác quan mới lạ ẩn chứa trong não bộ của anh chị em thức,ứng với chiều không gian tâm linh vô hình mà anh chị em tiếp xúc.Tù đó,những cảm giác siêu thoát,nhẹ nhàng,thanh tao,an toàn được dấy lên trong anh chị em,đó chính là lúc các thông điệp”rác”trong đời sống hàng ngày của anh chị em như thông điệp sân hận,đố kỵ,ích kỷ v..v… chuyển thể thành các sóng điện mới gần băng tần của vũ trụ,băng tần toàn thiện,băng tần từ bi,băng tần tình thương.Tình yêu con ngươi và muôn loài vạn vật được khơi dậy trong cõi lòng anh chị em từ những giây phút thay đổi tâm linh này.Đây là quá trình và là bản chất của sự tiến hóa.
Học tong vô thức cũng diễn ra song hành trong lúc anh chị em thiền định,ra ngời không gian,vì rằng não bộ con người giống như một cái túi đựng toàn các sọng điện dạng ”rác” như đã nói ở trên,làm cho không gian não bộ chặt cứng những thông điệp loại này,nên không còn chỗ để chứa những thông điệp mới.Nhờ công phu luyện tập,quá trình thanh lọc các thông tin “rác” này,nên cái túi kia có chỗ để anh chị em tiếp nhận cái mới trong đời sống.
Cái mới trong đời sống đâu có phức tạp mà là cái rất đơn giản,đó là tình yêu thật của con người với con người và cái mới ẫn chứa trong mỗi hành động việc của con người hướng tới việc giúp mọi người tiến hóa thi thanh cao lắm .
Học trong vô thức là học bài học tâm linh mới,thật vậy cấu hình tư tưởng của anh chị em mang tính chất mới ,đồng dạng với cấu hình tư tưởng tự nhiên,nên nó ẫn chứa sức mạnh tự nhiên siêu việt,mà người đời thường nói đó là sức mạnh tình thương.Ở quê Thầy,thuở chiến tranh có những bà má quê mùa thôi ,nhưng dám đứng chặn một đoàn quân để bảo vệ sự bình an cho xóm ấp quê má.
Khi cấu hình tư tưởng tình thương đã mặc định trong anh chị em,thì đó là trạng thái con số “ O “ được hình thành ,các công thức Nhân Điện Thầy dạy cho anh chị em sẽ phát huy sức mạnh tình thương của nó để giúp đồng bào mình qua cơn hoạn nạn thử thách của bệnh tật hay thảm họa tự nhiên .
Thiền Nhân Điện dừng lại ở cấp nhập môn Nhân Điện,để anh chị em làm quen với thế giới vô hình và lên lớp cao Thầy có khuyên anh chị em Thiền đâu nào ?Tuy nhiên anh chị em có nhu cầu thiền cũng không sao.Anh chị em có biết vì sao không ?Ngành Nhân Điện là ngành thực hành,khác hẳn hoàn toàn với các truuwòng phái thiền còn lại ,người ta thiền vì cho mục đích cho cá nhân họ là chính còn Nhân Điện Thiền không chỉ cho mình,mà thiền là truyền điện ,hay truyền điện trong trạng thái thiền giúp người và muôn loài tiến hóa.Chính vì vậy mà Thượng Thiên tiếp tục trao chìa khóa cho Thầy và Thầy trực tiếp trao lại cho anh chị em những công thức nhận điện mới nhất,hiệu quả nhất giúp mình,giúp đời và giúp muôn loài.
Lẽ ra lớp học Nhân Điện dạng ngắn ngày phổ cập hiện nay chỉ dừng lại lớp 13 gì đó là vừa,nhưng Thầy nhận thầy anh chị em thích nghiên cứau Nhân Điện ,nhưng lại nhác tập,nhác hành động,nên buộc phải bổ túc mãi,đến hôm nay là lớp 19 rồi,mà xem ra vẫn chưa xong.Thầy nhắc để anh chị em nhớ ngay ở lớp 13 Thầy nhủ anh chị em hằng ngày truyền điện cho các vùng miền đẻ hạt giống tình thương ,hạt giống Bồ Đề đến với muôn loài vận vật ,để những băng tần bất diệt bất tử,các cô hồn nương vào điện năng anh chị em phát ra ,nà siêu thoát,mà tiến hóa theo đường hướng của Ngài,đở rối loạn trật tự xã hội.
Nhưng đã mấy ai làm việc này điều đặn thường xuyên ,được một vài buổi rồi anh chị em chán.Thầy đành phải mở lớp bổ túc sau này và muốn ra ngoài không gian thì anh chị em phải truyền điện thật nhiều cho các vùng miền.Do thích ra ngoài không gian nên anh chị em đã tích cực luyện tập,nên anh chị em thấy đó thế giới thay đổi như thế nào.Người ta lo chiến tranh lớn xảy ra làm phương hại đến sự sống muôn loài ,nhưng đau có lớn đến mức đó.Động đát sóng thần ,bão tố cũng vậy cường độ và tần xuất khi bão vào đến đất liền giãm rất nhiều nghe ! Nếu không thì chết hết.

Master : Lương Minh Đáng

TIÊN ĐOÁN VẬN MẠNG THẾ GIỚI VÀ SỰ ĐÁP ỨNG CỦA NGÀNH NHÂN ĐIỆN

,

TIÊN ĐOÁN VẬN MẠNG THẾ GIỚI

( THEO ÔNG EDGAR CAYCE )

VÀ SỰ ĐÁP ỨNG CỦA NGÀNH NHÂN ĐIỆN

Nghiên Cứu bởi DAVID DANH NGUYỄN

Tháng 7, 2007 Colorado, U.S.A. 06/22/07

I. TIÊN ĐOÁN VẬN MẠNG THẾ GIỚI

“Hạnh phúc là tình yêu ngoài bản ngã. Người ta không bao giờ có được hạnh phúc hay biết được hạnh phúc, nếu chỉ biết yêu thích những gì thuộc về bản ngãû của mình”

- Edgar Cayce (Happiness is love of something outside of self. It may never be obtained, may never be known by loving only things within self or self's own domain)

“Ta mưu cầu lòng tha nhân chứ không phải sụ hy sinh” - Đức Giêsu (I seek mercy, and not sacrifice)

Hơn 10 năm nay, đối với con tiên tri chỉ là chuyện của dĩ vãng. Nhưng mới đây, tình cờ con chú ý một tờ báo lá cải (báo xuất xứ không đáng tin) nói về hồn của ông Edgar Cayce (sống từ năm 1877- đến ngày 3, tháng 1, 1945) hiện về trong một đại hội của các nhà có khả năng tâm linh ở Copenhagen, Đan Mạch, ngày 22 tháng 4, 2007 vừa qua.

Chủ tọa buồi hợâp là bà tiến sĩ Dr. Anika Boehm. Bà cho biết ông Cayce đến chỉ có vài phút và cho biết là người Atlantis, trước giờ vẫn chờ đợi nhân loại nhận biết tới họ, họ ở dưới lòng biển (con nghĩ là ông Cayce quên nói là ngưòi Atlantis họ đã tái kiếp vô anh chị em nhân điện hết rồi). Truớc nguy cơ diệt vong của loài ngưòi, họ không chờ đợi được nữa và sẽ tự ra mặt vào cuối năm nay. Họ sẽ dạy cho con người sự hiểu biết để tự cứu lấy mình.

1. Đầu tiên là kỷ thuật tạo năng lượng không ô nhiễm môi trường. Chúng ta không còn trả tiền điện hay tiền xăng nữa vì điện chạy trong nhà, cơ xưởng, văn phòng, xe cộ đều miễn phí

.2. Công thức chữa hết mọi chứng bịnh và giúp sống tới 130 tuổi.

3. Chỉ cách tạo ra nước và thức ăn cho mọi người. Nạn đói chỉ còn là chuyện của dĩ vãng.

4. Chỉ cách thức ngưng chiến tranh

.Lúc đầu, người ta còn chống đối, nhưng rồi hằng triệu người sẽ nghe theo và coi người Atlantis như là những vị cứu tinh của nhân loại. ---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------Ở điểm này, Có một điều con chưa rỏ là ông Cayce có tái kiếp chưa? Nếu ông hiện ra thì có nghĩa là ông chưa tái kiếp. Sự hiện ra của ông lại trái ngược với tài liệu trong quyển sách *The Reincarnation of Edgar Cayce? (Tái Kiếp của ông Edgar Cayce ?) do tác giả Wynn Free và David Wilcock, cho biết ông David Wilcock nghe “tiếng nói giấc mơ” cho biết ông là tái kiếp của ông Edgar Cayce. Edgar Cayce born 3/18/1877 David Wilcock born 3/8/1993Theo tài liệu thì ông Cayce cho biết ông sẽ tái kiếp và sẽ trở về trụ sở A.R.E. của ông, Association for Research and Enlightenment, Hội Nghiên Cứu và Giác Ngộ, ở Virginia vào năm 1998. Còn ông Wilcock thì năm 1997 có tới thăm trụ sở A.R.E. và năm 1998 tuyên bố có sự liên hệ tới trung tâm này.---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------1. Xây Kim Tự ThápCả 2 ông đều ‘nhớ’ lại xưa kia khoảng 10, 490 năm trước ở đất nước Ai Cập ông là thượng tế tên là RA (cao tăng), đã góp phần xây Kim tự tháp Giza bằng năng lực (esoteric power) dành riêng cho người đã được khai mở (luân xa?). Họ có khả năng dùng sức lực trong thiên nhiên (forces in nature) để điều khiển sắt trôi trên mặt nước và hằng tấn đá bay bổng trong khơng khí. Kỷ thuật xây của họ tốn 100 năm (năm 10490 – 10390).Hình sư tử đầu người là để lưu niệm vị cố vấn đã lãnh đạo quốc dân (nhân điện gọi là bà Sphinx). Thời này có giống người có đuôi (giống người hạ cấp có cái đuôi bị bắt làm nô lệ và bị coi là vật dụng (things) bởi giống người cao cấp không có cái đuôi). Người và thú vật có sự liên hệ (Thầy có nói thú vật có thể tu trong thời kỳ đó). Dưới chân bên phải của hình sư tử là nơi chứa hồ sơ lịch sử thăng trầm của loài người từ khi bắt đầu và kỷ thuật xây dựng Kim Tự Tháp.Các kỷ thuật nhấc tảng đá nặng nhiều tấn lên:a. Hai ănten, âm bên trái, dương bên phảùi, tạo một từ trường (lực xoáy) làm nhấc bổng các tảng đá kim tự tháp. (Ăn ten dương giống ăn ten nhân điện, có vòng tròn lớn và 2 ngạnh). Các ănten được dựng trên 1 mảnh đất “linh thiêng” (vùng đất có lực từ trường mạnh từ lòng đất, gọi là mạng lưới hòa năng, harmonic grid)Two antennae between which a solitron field (or "vortex") levitated pyramid stones.

© Copyright Hardy & Killick, Pyramid Energy, p. 165.



Auckland, Tân Tây Lan, mạng lưới hòa năng (harmonic grid từ dĩa CD của ông Bruce Cathie)

Mạng lưới hòa năng của trái đất có các điểm linh thiêng.

10 điểm xoáy nguy hiểm (tam giác quỷ là 1 điểm xoáy nguy hiểm)

b. Nhấc bổng các tảng đá bằng tiếng động âm thanh (điều này có 3 nhà bác học người Mỹ nói cho Thầy nghe vào năm 1990 là họ đã dùng âm thanh mở được cửa Kim tự tháp Giza, 2 người vô mà không trở ra)

Ông Masoudi, một nhà viết sử thế kỷ thứ 10, cho biết theo truyền thuyết, người Ai Cập dùng các mảnh giấy có viết chữ và đặt dưới các tảng đá, và sau đó người ta dùng một thanh kim khí gõ lên tảng đá. Nó tạo một tiếng ngân vang khiến cho tảng đá được nhấc lên (nặng từ 50 tới 200 tấn) và di chuyển khoảng 70 thước dọc theo các trục kim khí. Cứ như thế các tảng đá được tiếp tục nhấc lên và dời đi để xây dựng Kim tự tháp.

Trong thánh kinh, người Do thái theo truyền thuyết, hạ được tường thành Jericho xuống bằng cách thổi kèn đồng. Có thể đây là một hình thức dùng âm thanh nhấc xuống.

Ông bác sĩ Dr. Jarl, Thụy Sĩ, năm 1939 có qua Aicập để nghiên cứu, sau đó được mời qua Tây tạng, và chứng kiến các thầy tu Tây tạng dùng âm thanh nhấc các tảng đá lên cao 250 thước. 19 nhạc khí gồm 13 cái trống hở 1 bên, 6 cái kèn đồng, xếp thành vòng cung 900 cách xa tảng đá 63 mét. Đứng sau mỗi nhạc khí là một hàng các thầy tu, 8-10 người. Người đứng giữ vòng cung bắt đầu hát và gõ một trống nhỏ theo nhịp điệu. Sau đó các nhạc khí hòa theo. 4 phút sau đó tảng đá bắt đầu bay lên lắc lư hai bên và nhấc bổng càng nhanh tới bờ của gềnh núi. Mỗi giờ họ nâng được 5-6 tảng đá. Hình phát họa các thâỳ Tây tạng nhấc nổi các tảng đá lên không trung bằng tiếng động âm thanh. (Dr Jarl’s sketch showing how Tibetan monks were able to raise stone blocks into the air using the power of sound.)

Ông Edward Leedskalnin, một người Mỹ ở gần Miami, Florida, tự cho là biết được bí mật xây Kim tự tháp. Ông xây lâu đài Coral Castle bằng đá san hô mất 28 năm bằng những tảng đá nặng 30 tấn. Ông chết năm 1952 mà không tiết lộ kỹ thuật xây cất, mặc dầu trước đó có các kỹ sư và quan chức chánh phủ tới thăm hỏi. Ông làm việc vào ban đêm. Trẻ em rình rập thấy ông làm cho các tảng đá bay bổng lên không trung như bong bóng. Kỷ sư Chris Dunn giải thích là ông Leedskanin đã dùng làn sóng radio làm cho đá san hô rung chuyển theo tầng số rung của tảng đá, và dùng một từ trường để lật các cực nam châm của các nguyên tử để chúng nó bị đẩy ngược lên bởi từ trường của trái đất.Fig. 5.6 Cửa cổng lâu đài nặng 9 tấn. Dùng làm cửa xoay, cửa cao gần 3 mét được dựng lên một cách toàn hảo và quân bình đến nổi một em bé chỉ cần dùng một ngón tay để mở cửa ra. (The Nine-ton Gate at Coral Castle. Originally used as a turnstile, the 8-foot-tall gate is perfectly mounted and balanced so that a child can open it with the touch of a finger.14)

Các đền lũy ở Peru, nam Mỹ, có các tảng đá nặng 120 tấn. Người da đỏ truyền rằng các tảng đá được di chuyển bằng cách thổi kèn đồng. Đền thờ Uxmal ở Yutacan nam Mỹ, theo truyền thuyết của người Mayan, đuợc xây bởi các người lùn. Họ di chuyển đá nặng chỉ cần bằng những tiếng hút gió.Ông Tom Danley, cố vấn của NASA, kỷ sư âm thanh, đã chế một dụng cụ có thể nhấc bổng vật nhỏ. Bản quyền của ông được đọc như sau: “Dụng cụ nhấc bổng bằng âm thanh gồm có 2 nguồn âm thanh đối chiếu. 2 nguồn này có các làn sóng tạo ra các giếng năng lượng âm thanh trong đó một vật thể có thề được nhấc bổng lên. Các giai đoạn của một nguồn âm thanh có thể thay đổi tương đối với nguồn âm thanh bên kia để có thể di động vật thể theo một cái trục giữa 2 nguồn âm thanh”. Ông đo luồng gió trong Kim tự tháp Ai cập tạo rung động âm thanh khoảng 9 hertz xuống 0.5 hertz (tương đương với não bộ của người đang thiền định). Nó tương đương với nốt nhạc cung Fa. Nốt nhạc Fa này hòa nhịp với quả đất và cơ thể con người

.Ông John Keeley ở Philadelphia (1827-1898). Ông tốn 50 năm chế các dụng cụ dùng ‘lực giao cảm’ hay ‘thiên lực’ để nhấc bổng đồ vật hay làm rã đá vôi. Ông tính đem phổ biến và bán các dụng cụ này, nhưng không thành vì các dụng cụ này phải được điều chỉnh theo đúng theo sự rung động của mỗi cơ thể và môi trường xung quanh. Ơng cĩ thể khiến sắt nặng 3 tấn bay bổng lên, tự làm cơ thể ông bay bổng bằng cách chỉ cần thổi kèn miệng hay hút gió.

Đức Giêsu cũng đi trên nước nhờ biết bay bổng. Ông thầy Antonio, dòng Phan xi cô, thế kỷ 15, thường hay bay lên ngọn cây.Các khoa học gia cho biết con bọ gián theo luật năng động nó không thể bay được. Nó bay đuợc nhờ nó biết cách tự nhấc bổng lên. Một số tác giả khác khơi ý kiến là lực nhấc bổng đã giúp giải thích làm sao chim và sâu bọ bay được, làm sao cá lội được.Ông Viktor Schauberger, quan sát con cá quả và cá mòi nhảy cao 60 mét, ông tin rằng có một định luật đối ngược với trọng lực. Ông cho rằng nếu nước hoặc không khí được xoáy quấn theo hình số 8, tạo nên một lực có thể gây nhấc bổng gọi là lực xoáy hướng nội. Ông đã chế hai mẫu hình dĩa bay cở 6 tấc rưỡi cho Đức quốc xã. Và nó đã bay thẳng lên được

.Ông Blavatsky cho rằng loài chim và loài cá gồm cả cá voi lúc lặng nhanh đều có bản năng đổi điện cực và trọng lực. Con người cũng có thể học làm được như vậy.

2. Người AtlantisNhững người nguyên thủy gồm có các giống người Atlantis, Lemurian, La, Ur hay Da. Tuy nhiên, giống người Atlantis là giống đầu tiên tạo hình thể con người ở 5 chổ khác nhau. Tùy theo môi trường xung quanh người Atlantis có màu da trắng, da nâu, da đen, và da đỏ. (Điều này có lần Thầy đã nói với con là lúc khởi thủy, không phải chỉ có một cặp nam nử như cặp ông Adong bà Evà, mà là có 5 căp nam nữ ở những chổ khác nhau.) Có khoảng 133 triệu linh hồn trên trái đất lúc bấy giờ.

Riêng ởû sa mạc Sahara có giống người có đuôi. Người Atlantis đã tái kiếp nhiều lần, nhất là ở bên Mỹ. Họ mang theo khả năng kỷ thuật và hướng chiều cực đoan. Họ thường phô trương nghiệp lực của cá nhân họ và của phe nhóm, đó là nghiệp lực ích kỷ và bóc lột người khác. (Điển hình là giới tư bản bên Mỹ)

3. Năm 1999 trận chiến Armageddon đã xảy ra trong lãnh vực tâm linh.Ông Cayce tiên đoán trận chiến Armageddon (giữa Thượng Đế và Ma Vương) đánh nhau không phải trên trái đất mà trận chiến tâm linh giữa “lực lượng cao hơn của ánh sáng” và lực lươnïg thấp hơn của đen tối”, (có lẻ ông Cayce muốn nói các linh hồn chưa tái kiếp tu cao và các linh hồn chưa tái kiếp thiếu tu). Lý do của cuộc chiến là để ngăn ngừa các linh hồn sau khi chết ở lãnh vực thấp khỏi tái kiếp lại, chỉ dành riêng cho các linh hồn giác ngộ mới được phép tái kiếp.

Kết quả sẽ là 1000 năm dành để xây dựng một thế giới hòa bình và giác ngộ. Sau 1000 năm, các linh hoàn sau khi chết ở lãnh vực thấp mới được phép tái kiếp. Lúc đó “vương quốc thiên đàng” đã được thiết lập trên trái đất. (Điều này trong nhân điện Thầy có nói là các em bé sinh sau 1975 là các linh hồn giỏi, và người nào được mở luân xa 100% sẽ được tái kiếp liền. Thiên đàng trần gian sẽ kéo dài nhiều ngàn năm).

* Kinh thánh cũng có nói là sau một trận tiêu diệt kinh hoàng và thảm khốc cho nhân loại do trận chiến giữa quân đội chúa Kytô và quân đội Satan trong trận ác chiến cuối cùng, Armageddon, sẽ có 1000 năm hòa bình toàn hảo và công chính.

Trên đây là trận chiến tâm linh xảy ra trong thế giới vô hình, để chọn các linh hồn tái kiếp lại để sống và đóng góp vào đời thượng ngươn thánh đất.Còn thế giới hữu hình có hơn 6 tỉ ngườiđang sống, ai sẽ được chọn để xây dựng và hưởng cuộc sống của thời thượng ngơn thánh đức hay thiên đàng trần gian?Thầy đã có lần gợi ý cho con biết là trong cuộc sàn lọc sau cùng để tuyển lựa nhân loại mới, con người mới, có thể phải hy sinh 1/3 hay 1/4 nhân loại, con số có thể nhiều hơn hay ít hơn. Thí dụ: nhân loại có 1/3 thể xác tốt, 1/3 thể xác xấu, 1/3 lưng chừng. Như vậy số 1/3 tốt và 1/3 lưng chừng sẽ được giữ lại. Hy vọng 1/3 lưng chừng sẽ theo số 1/3 tốt để tu tiến, như vậy ta sẽ có được 2/3 nhân loại trở nên tốt. Còn 1/3 xấu sẽ phải hy sinh chờ tái kiếp trong một xã hội mới sau này.

4. Sự trở lại của Đấng Kytô (có thể đã xảy ra rồi)Ông Cayce cho biết Đấng Kytô trở lại năm 1998. Người ta nghĩ là ông đoán sai bởi vì người ta cứ tưởng rằng chúa Kytô sẽ trở lại từ trời cao bay xuống với các thiên thần thổi loa và người chết sống lại và bò ra từ các mồ mã trong khắp các nghĩa điạ trên thế giới. Cái ýø tưởng chúa phục sinh này là hậu quả của sự hiểu lầm khái niệm về tái kiếp.Ông Cayce cho biết Đức Giêsu đã tái sanh nhiều lần và triết lý của ngài có góp phần vào việt phát triển các triết lý của các đạo giáo trên thế giới. Mỗi đạo giáo đều tìm cách phô trương Đấng tối cao của họ. Nhưng các đạo giáo không ý thức ra được Đấng tối cao của họ và của các đạo giáo gồm tóm lại cũng chỉ là một Đấng tối cao, một Đấng Thượng Đế duy nhất.

5. Lục địa Atlantis bị tiệu diệt bởi một loạt các thiên tai do con người và thiên nhiên gây ra giữa khoảng 12,000 tới 17,000 năm trước. (thời kỳ 3) (Thầy nói lần thứ 3 cách đây 50,000 năm) Các nhà khảo cổ về thời tiết cho biết mưa lũ ở Ai Cập đã ngưng trước công nguyên 10,000 năm. Do đó tượng bà Sphinx đã bị hao mòn do nước mưa lũ phải xảy ra hơn 10,000 năm trước công nguyên. (Thầy có nói là Kim tự Tháp Ai cập có ít nhất 16,000 năm)

6. Trái đất đổi trục khoảng năm 2001Ông Cayce cho biết ngày đổi trục có thể là ngày 31 tháng 10 (Ngày kỷ niệm ông Nô e trong thánh kinh đóng tàu lớn để chứa mỗi loại thú vật một cập đôi, thoát khỏi lụt đại hồng thủy, trên toàn quả địa cầu, ròng rả mưa 40 đêm ngày).Trái đất đổi trục là do các trận chiến tranh (nổ bom nguyên tử), các sự trổi dậy trong lòng đất, (nhiên liệu dầu mỏ bị hao mòn, núi lửa phun), và có sự sai biệt trong sự xê dịch trục trái đất so với vị trí của sao Bắc đẩu.Trái đất đổi trục sẽ dẫn tới: ngâp lục các vùng bể và tan các tảng băng, mất hầu hết nước Anh và nước Nhật, bắc Âu châu ngập lụt rất nhanh, núi lửa vùng nhiệt đới và Thái bình dương, hâm nóng trái đất, đất mới nổi lên đông bắc Mỹ Châu gọi là “Atlantis”, tiêu diệt lan rộng khắp Los Angeles, San Francisco, xóa New York, và khắp nơi bị đổi mùa.

* Ô Cayce cho biết những cái ông thấy có thể không xảy ra hay xảy ra khác đi, đều tùy thuộc vào thái độ hành động và chuẩn bị của con người

.7. Trung hoa sẽ là cái nôi của đạo chúa Kytô mới. (Ý nói Việt Nam là cái nôi của ngành nhân điện vì người Việt nam là tổ tiên của người Trung Hoa)

Ông Cayce cho biết là triết lý đạo công giáo ngày nay không phải triết lý của Đức Giêsu. Lúc bấy giờ, triết lý của Đức Giêsu (theo nhóm Gnosticism) bao gồm triết lý của các đạo giáo ở Ai Cập, Do Thái, Ba Tư, Ấn Độ, và Hy Lạp. Chính vì quyền lợi trần tục (thí dụ như giáo dân phải vâng lời tuyệt đối giáo hội, còn hàng giáo phẩm chức sắc thì được miễn dịch, miễn tố tụng, miễn thuế) mà Triết lý nguyên thủy của Đức Giêsu bị chính giáo hội công giáo xóa và các sách vở ghi lại bị đốt vào năm 553. Thay vào đó người ta sửa đổi kinh sách, thêm vào các lễ nghi trần tục ruồm rà, không ai được tin có luân hồi tái sanh. Ai chống đối đều bị bách hại và bị giết.

Thật ra tất cả các đạo, Thiên chúa giáo, Phật giáo, Khổng giáo, Hồi giáo, Ấn độ giáo, Shinto giáo (Nhật bổn), Bà Hai giáo, Do Thái giáo, Plato giáo, đạo nào cũng đều cho là đạo của họ số một sau thời kỳ gạn lọc và sẽ là đạo duy nhất còn tồn tại. (thật ra trong thời thượng ngươn đâu còn có còn đạo gì nữa, nhân điện đã vượt lên hết mọi đạo lý và gồm tóm lại tất cả các đạo lý làm thành một chân lý duy nhất: đó là con người thương con người, tình thương ngoài bản ngã, lòng tha nhân và nhân đạo làm gốc. Không còn tranh chấp giữa các đạo giáo, có nghĩa là, sẽ không còn xảy ra chiến tranh nữa

.8. Tai họa và tận thế sẽ đến sau Giáo hoàng cuối cùng (theo nhân điện, tận thế là hết đời hạ ngươn)

* Ông Cayce cho biết sẽ có sự tàn phá của thành Rome và đó là ngày khánh chung của giáo hội La mã.

* Ngoài ra ông thánh Malachy O Morgan (1094-1148) là một linh mục tiên đoán đúng danh tánh của 112 vị giáo hoàng công giáo từ năm 1143 tới nay. Theo tiên đoán này chỉ còn 1 ông giáo hoàng nữa tên là Petrus Romanus, Peter the Roman, Phêrô người La Mã, thì thành phố 7 ngọn đồi (Vatican) sẽ bị tiêu diệt và coi như tận thế (tận thế xã hội cũ loài người).

Một vài thí dụ về biệt hiệu của các Giáo hoàng:- Pastor et Nauta (107): Chủ chiên và chiếc thuyền. Giáo hoàng John 23 lấy biểu tượng thánh giá và chiếc thuyền.- Flos Florum (108): Hoa của các hoa. Giáo hoàng Paul 6 có hình hoa trên áo choàng.- De Medietate Lanae (109): Nữa vầng trăng. Giáo hoàng John Paul I, 1978, chỉ làm 34 ngày và chết (người ta đồn bị Mafia giết vì ông điều tra tài chánh hội thánh)- De Labore Solis (110): Từ xứ nhọc mệt mặt trời. Giáo hoàng Jonh Paul II, đến từ Krakow, Ba Lan. Ở thế kỷ 16, ông Copernicus, sanh sống ở Krakow, đã nhọc mệt chứng minh trái đất chạy xung quanh mặt trời. - Gloria Olivae (111): Sáng danh cây ô liu, biểu tượng của dòng Bênêđictô. Giáo hoàng đương kim lấy tên hiệu là Bênêđictô thứ sáu. Ở thế kỷ thứ 6, ông thánh Bêneđictô cũng tiên tri là một người thuộc dòng Bênêđictô sẽ làm giáo hoàng trước khi tậân thế. Dòng này chủ trương sửa soạn ngày tận thế.- Petrus Romanus (112): Phêrô người La mã (người Ý) Giáo hoàng cuối cùng.* Đức giáo hoàng Piô thứ 10, năm 1909, sau khi ngồi xuống nhắm mắt lại cũng thấy thành Vatican bị tiêu diệt, giáo hoàng bỏ chạy, đạp lên xác các tu sĩ công giáo. Hình ảnh ông thấy thật là khủng khiếp

.* Thông điệp thứ 3 của Đức Mẹ Lộ Đức, yêu cầu hội thánh công giáo phổ biến trể lắm là năm 1960. Nhưng mãi 40 năm sau, là năm 2000, Hồng Y Ratzinger (bây giờ là Giáo Hoàng) đã tiết lộ thông điệp thứ 3 chỉ có vài chục chữ. Nội dung cho biết cô Luci thấy một Giáo hoàng dẫn một đoàn người, đầu tiên Giáo hoàng đi qua một thành phố lớn, ông thấy sự hoang tàng, ông cầu nguyện cho các xác chết. Sau đó ông đi lên đỉnh ngọn đồi, theo sau là các hồng y, tổng giáo mục, linh mục, các nữ tu, dì phước. Khi tới đỉnh đồi ông bị bắn chết lúc ông đang với tay lên cây thánh giá, và đoàn người theo ông đều bị bắn chết hết.

Sau đó thiên thần hiện ra rẩy nước thánh như làm phép lên các xác chết và hết thông điệp.Chiến tranh gọi là Thánh chiến giữa đạo Ky tô giáo và Hồi giáo đã kéo dài suốt 5 thế kỹ từ thế kỷ thứ 10 tới thế kỷ 16. Đầu tiên người công giáo đi hành hương Jerusalem bị người Hồi ngược đãi. Sau đó các nước Âu châu viện cớ bảo vệ người đi hành hương đem quân qua đánh chiếm các quốc gia Á rập dưới sự hổ trợ của các Giáo hoàng La mã. Sách sử ghi chép vô số hậu quả chiến tranh tôn giáo bao gồm ép buộc theo đạo bằng máu lửa, ngục tù, hà hiếp đàn bà trẻ con rất dã man.Vua Louis thứ 9 của nước Pháp (1215-1270) đã đi thánh chiến 2 lần.

Lần đầu thất bại thê thảm, ông bị bắt ở AiCập, sau đó được thả với số tiền chuộc lớn. Lần thừ 2 ông tử trận ở Tunisia. Thật ra ông không chết, ông theo đạo Hồi và khi chết người Hồi tôn ông làm thánh. Sau này công giáo cũng phong thánh cho ông gọi là St. Louis, thánh Louis.Trong thời kỳ Giáo hoàng Piô thứ 9 (1846-1878), người Do thái bị dồn vào các trại tập trung trong tất cả các nước thuộc quyền hạn của giáo hoàng. Người Do thái bị ngươc đãi khắp nơi. Họ có thể bị vào tù chỉ vì họ dám thuê người công giáo làm việc giặt dũ cho họ. Con cái người Do thái thường xuyên bị ép và rửa tội theo đạo Chúa.

Giáo hoàng Piô 9 có lực lượng an ninh chìm trà trộn vào dân chúng. Dân chúng bi tra tấn và bị hành hình chỉ vì một vài lỗi phạm nhỏ. Các tòa án của các linh mục xử không cần luật sư biện hộ. Nhiều giáo dân không cần xưng tội cũng có thể bị tra tấn hành hình và còn có thể bị bỏ quên trong các nơi trảm quyết.Đức Giáo John 23 đã lên tiếng xin lỗi người Do thái bị giáo hội Công giáo bách hại hơn 1000 năm. Đức giáo hoàng John Paul 2 xin lỗi về việc giáo hội im lặng để 6 triệu người Do Thái bị Đức quốc xã giết trong các trại tập trung trong thế chiến thứ II.

Đức giáo hoàng đương kim Benedicto, ngày 12 tháng 9, 2006, đọc bài diễn thuyết tại đại học Regensburg ở Đức, đã gây nên nhiều phản ứng mạnh từ phía các tín hữu Hồi giáo khắp nơi về việc đề cập tới sự bạo hành của các giáo chủ Hồi giáo trong quá khứ. Cuối tháng 6, 2007, Giáo hoàng Benedicto đã tuyên bố là chỉ có Giáo hội Công giáo La mã là giáo hội của Chúa, còn các giáo hội công giáo khác (Anh giáo, Chính thống giáo ở Nga, Hội thánh Tin Lành Luther) là các giáo hội thiếu sót.

Mặt khác, tất cả các giáo hoàng đều bắt buộc giáo dân phải tin rằng những việc làm của giáo hoàng thì không bao giờ sai lầm bởi vì đó là làm theo ý của Chúa.

9. Ông Mabus, sẽ là ai ? Theo ông Nostradamus, khi ông Mabus ra đời, không bao lâu Mabus bị giết, thì sẽ có sự trả thù ghê gớm, đưa đến trận ác chiến hằng trăm quốc gia, sau chổi (hỏa tiển liên lục địa) sẽ bay trên trời, người và vật hy sinh vô số kể. Theo sự suy đoán của các chuyên gia giải tiên tri, Mabus đọc ngược lại là Subam hay Saddam ( thay chữ ub bằng ad). Ông đã bị giết. Khối á rập và người Hồi giáo sẽ trả thù. Chiến tranh sẽ xảy ra giữa Iran và Do thái, châm ngòi cho chiến tranh lang rộng giữa Hồi giáo (bao gồm khối Á rập) và Thiên chúa giáo (bao gồm Hoa kỳ và các nước Âu Châu), rồi Nga và Trung Cộng cũng bị liên can rồi cũng nhảy vào vòng tạo nên chiến tranh thế giới.

Sau hết sẽ có một vị Thầy tâm linh cao cả “sẽ tới từ phương đông”, mang lại sự Giác ngộ cho nhân loại.

10. Nghiệp lực là ký ức của các kiếp trước. Ông Cayce cho biết nghiệp lực chỉ là ký ức của quá trình tiền kiếp nằm trong tiềm thức của con người. Ký ức này có cái hòa hớp với Đấng tạo hóa, có cái không hòa hợp. Phản ứng của nghiệp lực trong các ký ức không hòa hợp với Đấng tạo hóa là thúc đẩy linh hồn đi tìm những hoàn cảnh thích hợp để sửa sai hay tự tạo ra hoàn cảnh giống như xưa để tự mình sửa sai. Càng sửa sai nhiều chừng nào thì linh hồn càng minh triết hơn, càng tiến hoá thêm, càng gần Đấng tạo hóa hơn.

Ngược lại, nếu linh hồn không chịu sửa sai, cứ tiếp tục càng quấy, thì sẽ gặp cản trở và chướng ngại của Đấng tạo hóa hay Đấng Phép Tắc. Nghiệp lực có thể được thay đổi, gia giảm, hay trở nên tốt đẹp hơn nếu linh hồn biết tha thứ cho người khác xúc phạm tới mình. Tha thứ cho ngứời khác nhiều chừng nào thì sẽ lãnh nhận sự thương xót và sự tha thứ cho chính mình nhiều chừng náy.

11. Những tiên đoán của đạo Bà Hai.(Baha’i)

(1) Một nền y học mới ra đời, một lối chữa bệnh rút từ tâm linh và coi thể xác như một hệ năng lượng.

(2) Khả năng trực giác sẽ thành một thông lệ

.(3) Khoa học và tâm linh ngưng đối chọi. “Nghiên cứu” và “giác ngộ” trở thành tổ hợp.

(4) Thay đổi toàn diện địa dư và khí hậu.

(5) Xã hội được san bằng. (Ai cũng giàu, không có ai nghèo)

(6) Lãnh đạo quốc tế sẽ dời về phương Đông. Trung Hoa sẽ là cái nôi của “đạo Ky tô mới” (cái nôi của một xã hội mới, thực thi các minh triết của ngành Nhân Điện. Trung hoa sẽ xát nhập vào Việt Nam, Trung hoa cũng sẽ là Việt Nam)

(7) Khám phá về khảo cổ sẽ làm thay đổi lối hiểu biết về lịch sử loài người. Tổ tiên nhân loại muốn hòa nhập tâm linh và khoa học.

(8) Sự tiếp tục của kiếp người sẽ được coi như chuyện đương nhiên không tranh cãi. Không có sự chết, chết chỉ là chuyển từ một trạng thái ý thức này qua một trạng thái ý thức khác. Không ai còn sợ chết.

(9) Nguyên tắc đồng nhất thể hay nhất hóa (oneness) sẽ trở nên hiện hành trong các hoạt động của con người. Nhất thể của Thượng Đế hướng dẫn tất cả các truyền thống về đạo giáo. Nhất thể của năng lượng sẽ hướng dẫn khoa học. Đồng nhất của nhân loại sẽ điều khiển chính trị.

(10) Đấng Kytô sẽ tái xuất hiện trực tiếp trong cuộc sống trần tục. Đức Giêsu chỉ là thể xác của Đấng Kytô 2000 năm trước. Đức Giêsu cũng là con người như những người khác và cũng vấp phạm để tiến hóa. Trong thời kỳ Atlantis, hiện thân nhiều kiếp của Đức Giêsu gồm có ông Adong (Adam) chồng bà Ê-và, ông Noe đóng tàu, ông Maisen (dẫn dân Do Thái ra khỏi Ai cập)

.II. NHÂN ĐIỆN ĐÁP ỨNG VẬN MẠNG THẾ GIỚI

1. PHƯƠNG THỨC 1 (Chương trình bao quát: giải quyết điện, nước, thực phẩm và đời sống an bình)

(1.1) DIỄN BIẾN

DIỄN BIẾNNếu Thượng Đế chấp nhận chương trình nầy thì tự khắc sẽ cho cây ăn teng phát điện tiêu dùng trên toàn cầu (khoảng cuối năm 2007 ?). Đây là giây phút mở màng cho cuộc diện của Hội Long Hoa. Báo chí truyền thanh, truyền hình trên toàn thế giới sẽ chứng kiến và bàn cải sự việc này. Không mấy chốc, chánh phủ Úc châu, giơí khoa học, giới tư bản sẽ tìm đến thầy. Rồi lần lược các quốc gia khác cũng tìm đến Thầy. Hàng rào an ninh bắt đầu rải ra xung quanh Thầy.

Mọi sự việc trên thế giới hầu như ngưng lại. Cả thế giới đều tập trung chú ý xem xét sự việc hư thực ra sao. Lúc này Thầy sẽ liên lạc với tất cả anh chị em ngành Nhân điện qua e-mail, điện thoại, fax. Thầy sẽ cho biết những cây ăn ten lớn thay thế cho nhà đèn (công ty điện) dùng để phát điện cho khu vực nào, vùng nào. Sau đó Thầy sẽ phát họa chương trình cung cấp nước, tạo nước trong lành và tạo thức ăn không có hóa chất.

Uy tín củaThầy càng ngày càng tỏ rạng. Nhân loại bắt đầu nghe lời Thầy giảng dạy càng ngày càng đông. Không bao lâu hòa đồng tôn giáo được Thầy giải đáp thỏa đáng. Nhân loại ý thức được họ chỉ có một tổ tiên, một giáo chủ duy nhất duy nhất. Đó là Thượng Đế. Chiến tranh trở thành sự kiện lịch sử tiến hóa của nhân loại và chiến tranh sẽ không bao giờ xảy ra nữa.

(1.2) ĐÁP ỨNG:

Thượng Đế cho Cây Ăngten phát điện và ngành Nhân điện chính thức ra mặt với thế giới Nhân điện, trước giờ vẫn chờ đợi nhân loại nhận biết tới họ, họ ở khắp 5 châu. Truớc nguy cơ diệt vong của loài ngưòi, họ không chờ đợi được nữa và sẽ tự ra mặt vào cuối năm nay. Họ sẽ dạy cho con người sự hiểu biết để tự cứu lấy mình.

1. Đầu tiên là kỷ thuật tạo năng lượng không ô nhiễm môi trường. Chúng ta xử dụng cây ăn ten phát điện chạy trong nhà, cơ xưởng, văn phòng, xe cộ, máy bay, tàu thủy.

2. Công thức chữa hết mọi chứng bịnh đã có sẵn và giúp sống hơn 130 tuổi.

3. Chỉ cách tạo ra nước trong lành và thức ăn không có hóa chất cho mọi quốc gia.

1. Chỉ cách thức ngưng chiến tranh. (Hòa đồng các tôn giáo. Ý thức được các Đấng tối cao của các giáo phái cũng chỉ là một Đấng. Lúc đầu, người ta còn chống đối, nhưng rồi hằng triệu người sẽ nghe theo và coi người Nhân điện như là những vị cứu tinh của nhân loại. Nghiệp lực ích kỷ và bóc lột người khác sẽ được thay thế bằng tình thương tha nhân và mưu cầu lợi ích chung.


2. PHƯƠNG THỨC 2

(Hệ thống ănteng phát điện toàn thế giới, sát nhập hệ thống truyền thanh, truyền hình, viễn thông vào hệ thống ănteng)

(2.1) Trong thời cổ Ai Cập: Ngườøi ta đã biết dùng cây ănteng để phát điện và truyền điện đi các nơi bằng các làn sóng. Hai ănten, âm dương, tạo một “trưỡng lực xoáy” làm nhấc bổng các tảng đá để xây kim tự tháp. Các ănten được dựng trên 1 mảnh đất “linh thiêng” (vùng đất có lực từ trường mạnh từ lòng đất, gọi là mạng lưới hòa năng, harmonic grid)Two antennae between which a solitron field (or "vortex") levitated pyramid stones.


(2.2) ĐÁP ỨNG: Thiết lập một cây đại ănteng cao 1000 mét ở Việt Nam. Đặt nó ở trên núi Phansipan (3134 mét), núi cao nhất vùng Đông dương, trong vùng Sapa. Núi Phansipan giáp cao nguyên Sơn La phía tây bắc, giáp núi Tam Đảo phía đông nam ? Fansipan (3143m) which named the rooftop of Indochina; is divided into two parts which having different ecological conditions: Northwest with Son La - Moc Chau tableland; and Northeast with mountains range as a convex bow-shaped toward the East and Southeast converge to Tam Dao mountain.

Cây đại ăng ten phát điện qua các làn sóng cho toàn cầu. Các hệ thống truyền thanh, truyền hình, viễn thông, điện thoại cầm tay, và hệ thống vị trí toàn cầu (GPS: Global Positioning System) cũng sẽ được sát nhập vào hệ thống ănteng này.

Mỗi quốc gia sau này cũng có thể dựng các ănteng cở trung bình để thu và phát điện và cũng sát nhập các hệ thống truyền thanh, truyền hình, viễn thông, điện thoại cầm tay, và hệ thống vị trí toàn cầu (GPS: Global Positioning System) vào hệ thống ănteng này.

3. PHƯƠNG THỨC 3 (Trong cõi vô hình chọn lựa linh hồn tốt cho tái kiếp và trong thế giới hiện hữu chọn thể xác tốt cho tiếp tục sống để xây dựng thiên đàng trần gian.

(3.1) Năm 1999 trận chiến tâm linhArmageddon đã bắt đầu xảy ra và sẽ tiếp tục trong thế giới vô hình ?Đây là trận chiến quyết liệt giữa các linh hồn chuẩn bị tái kiếp và các linh hồn đã lìa trần. Mục đích là tuyển lựa các linh hồn giỏi xuống xây dựng thiên đàng trần gian. Các linh hồn này bao gồm những linh hồn đã được khai mở Luân xa 100% khi còn sống.Sau 1000 năm nữa, tức là khoảng năm 3000, thì các linh hồn ở lãnh vực thấp mới được phép tái kiếp. Lúc đó “vương quốc thiên đàng” đã được thiết lập trên trái đất. Linh hồn thấp cứ theo gương các linh hồn cao mà học hỏi tiến hóa. Hy vọng nhân loại hưởng được nhiều ngàn năm an bình toàn hảo và công chính.

(3.2) Còn thế giới hữu hình có hơn 6 tỉ người đang sống, ai sẽ được chọn để xây dựng và hưởng cuộc sống của thời thượng ngơn thánh đức hay thiên đàng trần gian? Thầy đã có lần gợi ý cho con biết là trong cuộc sàn lọc sau cùng để tuyển lựa nhân loại mới, con người mới, có thể phải hy sinh 1/3 hay 1/4 nhân loại, con số có thể nhiều hơn hay ít hơn. Thí dụ: nhân loại có 1/3 thể xác tốt, 1/3 thể xác xấu, 1/3 lưng chừng. Như vậy số 1/3 tốt và 1/3 lưng chừng sẽ được giữ lại. Hy vọng 1/3 lưng chừng sẽ theo số 1/3 tốt để tu tiến, như vậy ta sẽ có được 2/3 nhân loại trở nên tốt. Còn 1/3 xấu sẽ phải hy sinh chờ tái kiếp trong một thể các mới để sống trong một xã hội hoàn toàn mới sau này. 1/3 nhân loại sẽ phải hy sinh bằng cách nào? Để họ già chết tự nhiên? Trong thời gian dài thì được. Còn trong thời gian ngắn, mà 1/3 nhân loại tức là 2 tỉ người được Thượng Đế mời trở về chắc có thể phải do chiến tranh toàn cầu gây nên, hay do sụp đổ các đại lục như châu Atlantis chìm xuống lòng biển thời xưa, hay do bệnh đau (chiến tranh nguyên tử, vi trùng, hóa học) mà không may mắn gặp được người đã học Nhân điện giúp chữa trị ?

4. PHƯƠNG THỨC 4 (Phổ Biến Nhân Điện Toàn cầu giúp giải quyết chiến tranh và mang lại hòa bình)

(4.1) Ngành Nhân Điện chúng ta cần được dạy, hướng dẫn rộng rãi cho hết mọi người trên toàn quả địa cầu. Chương trình hướng dẫn các lớp học Nhân điện đầu tiên do học viên đảm trách. Chương trình cần học viên của mọi thứ tiếng nói, của mọi quốc gia. Lần lượt các cơ sở giáo dục của các quốc gia sẽ hợp tác và đảm nhận vai trò dạy các lớp học của ngành Nhân điện này thay thế cho các học viên và các trung tâm của ngành Nhân điện.

Chương trình hướng dẫn trên các đài truyền hình của tất cả các quốc gia do Thầy trực tiếp đảm trách sẽ phát sóng hằng ngày, hằng tuần, tùy theo nhu cầu và lịch trình nghị sự của các quốc gia, nhất là các nhu cầu cần sự quyết định và cố vấn của Thầy trong các lãnh vực như chính trị, kinh tế, khoa học và tâm linh.

(4.2) Sau khi học ngành Nhân Điện, các đạo giáo bắt đầu ý thức ra được Đấng tối cao của họ và của các đạo giáo khác gồm tóm lại cũng chỉ là một Đấng tối cao, một Đấng Thượng Đế duy nhất. Do đó, Không còn tranh chấp giữa các đạo giáo, có nghĩa là, sẽ không còn xảy ra chiến tranh nữa.

Sự trở lại của Đấng Kytô (Đấng Kytô đây là bao gồm các Đấng cao cả, các vị thầy cao cả ở Atlantis, và đoàn người Như Lai mà Thầy cho biết họ đã xuống trần gian hết rồi)Sự trở lại của Đấng Kytô, Đấng Mohamed, Đức Phật Thích Ca, Đức Phật Di Lạc, cũng chỉ là một Đấng Tạo Hóa hóa thân.

5. PHƯƠNG THỨC 5 (Đổi trục trái đất: tác hại và tác dụng)

(5.1) Trái đất đổi trục khoảng năm 2008-2010? Tác hại ra sao?Ông Cayce cho biết ngày đổi trục có thể là ngày 31 tháng 10 (Ngày kỷ niệm ông Nô e trong thánh kinh đóng tàu lớn để chứa mỗi loại thú vật một cập đôi, thoát khỏi lụt đại hồng thủy, trên toàn quả địa cầu, ròng rả mưa 40 đêm ngày).Trái đất đổi trục là do các trận chiến tranh (nổ bom nguyên tử), các sự trổi dậy trong lòng đất, (nhiên liệu dầu mỏ bị hao mòn, núi lửa phun), và có sự sai biệt trong sự xê dịch trục trái đất so với vị trí của sao Bắc đẩu.Trái đất đổi trục sẽ dẫn tới: ngâp lục các vùng bể và tan các tảng băng, mất hầu hết nước Anh và nước Nhật, bắc Âu châu ngập lụt rất nhanh, núi lửa vùng nhiệt đới và Thái bình dương, hâm nóng trái đất, đất mới nổi lên đông bắc Mỹ Châu gọi là “Atlantis”, tiêu diệt lan rộng khắp Los Angeles, San Francisco, xóa New York, và khắp nơi bị đổi mùa.

(5.2) ĐÁP ỨNG:

Nếu trái đất đổi trục, trọng lực và điện cực trong cơ thể con người bị thay đổi. Nhân loại có chịu nỗi không sựï thay đổi này không ? Ngành Nhân Điện có khả năng giúp nhân loại chịu đựng được sự thay đổi này. Nếu trái đất bi ô nhiểm toàn cầu vì phóng xạ nguyên tử, nhân loại có chịu nỗi chất phóng xạ không? Ngành Nhân Điện có khả năng hóa giải chất độc nguyên tử và biến đổi chất độc thành phân bón vô cùng tốt cho nông nghiệp.

* Ô Cayce cho biết những cái ông thấy có thể không xảy ra hay xảy ra khác đi, đều tùy thuộc vào thái độ hành động và chuẩn bị của con người

.(5.3) Trái đất đổi trục khoảng năm 2008-2010? Tác dụng đổi trục của trái đất ra sao ?: Có thể trái đất có một quỷ đạo mới hình tròn, tạo ra khí hậu chỉ có một mùa quanh năm, dư nước ngọt, môi trường sốùng trong lành, hết ô nhiểm, khí hậu ôn hòa quanh năm, giúp con người sống lâu ?

Nếu trục trái đất bớt nghiên lại hay thẳng đứng thẳng góc với mặt trời thì quỷ đạo của trái đất xoay xung quanh mặt trời sẽ không còn là hình bầu dục, mà sẽ là hình tròn. Do đó một năm sẽ ít hơn 365 ngày, có thể chỉ còn lại 300 ngày và mỗi một năm chỉ có 1 mùa mát mẻ êm dịu giống như mùa xuân và mùa thu hợp lại.Sau khi đổi trục, đất và nước sẽ chia lại quả địa cầu. Đất liền sẽ nhiều hơn biển dành chổ cho khoảng 80 tỉ nhân loại ra đời trong tương lai. Nước biển sẽ bốc hơi tạo thành nước ngọt rơi xuống sông hồ, mạch nước ngầm, sông hồ trong các sa mạc. Nước ngọt sẽ dư sài để uống và trồng trọt. Đồng thời một quả địa cầu hoàn toàn mới, không có ô nhiểm môi trường, và một khí hậu tốt sẽ giúp cho nhân loại sống luôn khỏe mạnh, khỏi đau yếu bệnh tật.

(5.4) ĐÁP ỨNG: Nhân Điện đã có những chương trình phục hồi và phát triển nông nghiệp, phát triển kinh tế cho toàn cầu sau khi trục trái đất thay đổi. 6. PHƯƠNG THỨC 6 (Tất cả tôn giáo sẽ được gôm về làm một)

(6.1) Trung hoa sẽ là cái nôi của đạo chúa Kytô mới. (Ý nói Việt Nam là cái nôi của ngành nhân điện vì người Việt nam là tổ tiên của người Trung Hoa) Ông Cayce cho biết là triết lý đạo công giáo ngày nay không phải triết lý của Đức Giêsu. Lúc bấy giờ, triết lý của Đức Giêsu (theo nhóm Gnosticism) bao gồm triết lý của các đạo giáo ở Ai Cập, Do Thái, Ba Tư, Ấn Độ, và Hy Lạp. Chính vì quyền lợi trần tục (thí dụ như giáo dân phải vâng lời tuyệt đối giáo hội, còn hàng giáo phẩm chức sắc thì được miễn dịch, miễn tố tụng, miễn thuế) mà Triết lý nguyên thủy của Đức Giêsu bị chính giáo hội công giáo xóa và các sách vở ghi lại bị đốt vào năm 553. Thay vào đó người ta sửa đổi kinh sách, thêm vào các lễ nghi trần tục ruồm rà, không ai được tin có luân hồi tái sanh. Ai chống đối đều bị bách hại và bị giết. Thật ra tất cả các đạo, Thiên chúa giáo, Phật giáo, Khổng giáo, Hồi giáo, Ấn độ giáo, Shinto giáo (Nhật bổn), Bà Hai giáo, Do Thái giáo, Plato giáo, đạo nào cũng đều cho là đạo của họ số một sau thời kỳ gạn lọc và sẽ là đạo duy nhất còn tồn tại.

(6.2) ĐÁP ỨNG: Thật ra trong thời thượng ngươn đâu còn có còn đạo gì nữa, nhân điện đã vượt lên hết mọi đạo lý và gồm tóm lại tất cả các đạo lý làm thành một chân lý duy nhất: đó là con người thương con người, tình thương ngoài bản ngã, lòng nhân đạo và tha nhân làm gốc. Không còn tranh chấp giữa các đạo giáo, có nghĩa là, sẽ không còn xảy ra chiến tranh nữa.7. PHƯƠNG THỨC 7 (Tận thế và Tai ương)

(7.1) DIỄN TIẾN: Tai họa và tận thế sẽ đến sau Giáo hoàng cuối cùng ?

* Ông Cayce cho biết sẽ có sự tàn phá của thành Rome và đó cũng đánh dấu ngày khánh chung của Giáo hội La mã

* Ngoài ra ông thánh Malachy O Morgan (1094-1148) là một linh mục tiên đoán đúng danh tánh của 112 vị giáo hoàng công giáo từ năm 1143 tới nay. Theo tiên đoán này chỉ còn 1 ông giáo hoàng nữa tên là Petrus Romanus, Peter the Roman, Phêrô người La Mã, thì thành phố 7 ngọn đồi (Vatican) sẽ bị tiêu diệt và coi như tận thế (tận thế xã hội cũ của loài người).

* Thông điệp thứ 3 của Đức Mẹ Lộ Đức, yêu cầu hội thánh công giáo phổ biến trể lắm là năm 1960. Nhưng mãi 40 năm sau, là năm 2000, Hồng Y Ratzinger (bây giờ là Giáo Hoàng Benedicto) đã tiết lộ thông điệp thứ 3 chỉ có vài chục chữ. Nội dung cho biết cô Luci thấy một Giáo hoàng dẫn một đoàn người, đầu tiên Giáo hoàng đi qua một thành phố lớn, ông thấy sự hoang tàng, ông cầu nguyện cho các xác chết. Sau đó ông đi lên đỉnh một ngọn đồi, theo sau là các hồng y, tổng giáo mục, linh mục, các nữ tu, dì phước. Khi tới đỉnh đồi ông bị bắn chết lúc ông đang với tay lên cây thánh giá, và đoàn người theo ông đều bị bắn chết hết. Sau đó thiên thần hiện ra rẩy nước thánh như làm phép lên các xác chết và hết thông điệp.

(7.2) ĐÁP ỨNG: Theo nhân điện, tận thế chỉ là kết thúc một chu kỳ hạ ngươn. Nhưng nếu thế giới có tai họa gì đi nữa, giả dụ đó là chiến tranh nguyên tử, hay chiến tranh vi trùng, chiến tranh hóa học, thì ngành Nhân Điện đã chỉ hết công thức để cứu vớt và chữa trị tập thể cho các nạn nhân để giúp họ còn sống soát lại sau tai ương.

8. PHƯƠNG THỨC 8

(Hậu quả cuộc chiến tranh thế giới thứ 3: Loài người đi đến ý thức và giác ngộ vượt bực trong thời gian ngắn để lấy đà nhảy vọt tới một thế giới cộng đồng)

(8.1) Ông Mabus là ai? Theo ông Nostradamus, Mabus là nhân vật thứ ba đưa đến sự xáo trộn toàn cầu sau hai ông trước đó là Napoleon và Hitler. Theo ông Nostradamus, khi ông Mabus ra đời, sống không bao lâu Mabus bị giết, thì sẽ có sự trả thù ghê gớm, đưa đến trận ác chiến hằng trăm quốc gia, sau chổi (hỏa tiển liên lục địa) sẽ bay trên trời, người và vật hy sinh vô số kể.

Theo sự suy đoán của các chuyên gia giải tiên tri, Mabus đọc ngược lại là Subam hay Saddam ( thay chữ ub bằng ad). Ông đã bị giết. Khối á rập và người Hồi giáo sẽ trả thù. Chiến tranh sẽ xảy ra giữa Iran và Do thái, châm ngòi cho chiến tranh lang rộng giữa Hồi giáo (bao gồm khối Á rập) và Thiên chúa giáo (bao gồm Hoa kỳ và các nước Âu Châu), rồi Nga và Trung Cộng cũng bị liên can, sau cùng rồi cũng nhảy vào vòng chiến tạo nên trận thế giới đại chiến thứ 3.

(8.2) ĐÁP ỨNG: Sau trận thế giới đại chiến thứ 3, nhu cầu của con người là làm sao tìm được một hướng đi, một ngã rẽ hoàn toàn mới, một triết lý mới, một vị cứu tinh cao cả để hướng dẫn nhân loại ra khỏi thảm cảnh của vết xe củ. Nhu cầu nầy được giải đáp thỏa đáng đúng lúc nhờ sự xuất hiện của một vị Thầy tâm linh cao cả “tới từ phương đông”, hướng dẫn một đoàn người Như Lai nhân điện của ngài, giúp mang lại sự Giác ngộ cho toàn thể nhân loại. Lịch sử nhân loại lần đầu tiên được bước vào một chu kỳ mới hạnh phúc thật sự, một thế giới đại đồng, thiên đàng trần gian, mọi người đều nở nụ cười trên môi

.9. PHƯƠNG THỨC 9 (Nhân loại cần được mở luân xa 100% giúp xóa đi nghiệp lực và cần các bài học mới giúp phát triển tình thương ngoài bản ngã, lòngï tha nhân.)

(9.1) Nghiệp Lực là gì ? Nghiệp lực là ký ức của các kiếp trước. Những ký ức nào không hòa hợp với Đấng tạo hóa thì cần có những bài học mới để cá nhân hay tập thể đó có dịp sửa đổi.

Nghiệp lực có thể được thay đổi, gia giảm, hay trở nên tốt đẹp hơn nếu linh hồn biết tha thứ cho người khác xúc phạm tới mình. Tha thứ cho người khác nhiều chừng nào thì sẽ lãnh nhận sự thương xót và sự tha thứ cho chính mình nhiều chừng nấy. Ngược lại, nếu nghiệp lực cứ tiếp tục tăng thì cá nhân hay tập đoàn đó sẽ gặp những bức tường cản trở, giống như bị kẹt trong mạng lưới của luật pháp.

(9.2) ĐÁP ỨNG: Nhân Điện giúp mở Luân xa 100% giúp xóa đi nghiệp lực và gieo hột giống bồ đề từ bi tha nhân. Nhân loại cần những bài học tiêu cực giúp xóa dần các thói hư tật xấu của bản ngã như hướng chiều ích kỷ, ganh tị, tham lam, ta đây tự đắc. (Các lớp học Nhân Điện đều có dạy cách xóa dần các thói hư tật xấu của bản ngã. Nhân loại cũng cần những bài học tích cực giúp gây dựng các đức tánh tốt của bản ngã như tình thương ngoài bãn ngã, lòng tha nhân. (Lớp 19 Thầy có dạy cách xóa dần bản ngã để hướng về chân ngã)

10. PHƯƠNG THỨC 10 (Tiếp tục xây dựng đời thượng ngươn cho quả địa cầu và cho vũ trụ)

ĐÁP ỨNG: Những tiên đoán của đạo Bà Hai.(Baha’i) chỉ là một phần nhỏ của cuộc đại tạo và sẽ lần lượt sẽ được ngành Nhân Điện thực hiện.(1) Một nền y học mới ra đời, một lối chữa bệnh rút từ tâm linh và coi thể xác như một hệ năng lượng(Đây là lối trị bệnh của ngành nhân điện)

(2) Khả năng trực giác sẽ thành một thông lệ (Đây là khả năng luân xa 6 của nhân điện)

(3) Khoa học và tâm linh ngưng đối chọi. “Nghiên cứu” và “giác ngộ” trở thành tổ hợp.(Ngành Nhân điện chủ trương phát triển cả hai mặt khoa học và tâm linh)

(4) Thay đổi toàn diện địa dư và khí hậu. (Hình thành các quốc gia theo địa dư mới, và khí hậu một mùa mát dịu quanh năm)

(5) Xã hội được san bằng. (Ai cũng giàu, không có ai nghèo)

(6) Lãnh đạo quốc tế sẽ dời về phương Đông. Trung Hoa sẽ là cái nôi của “đạo Ky tô mới” (Cái nôi của một xã hội mới, thực thi các minh triết của ngành Nhân Điện. Trung hoa sẽ xát nhập vào Việt Nam, Trung hoa cũng sẽ là Việt Nam)

(7) Khám phá về khảo cổ sẽ làm thay đổi lối hiểu biết về lịch sử loài người. Tổ tiên nhân loại muốn hòa nhập tâm linh và khoa học. (Mục tiêu của Nhân điện là Khoa học và tâm linh tương trợ lẫn nhau) (Khám phá khảo cổ sẽ cho thấy dân tộc Việt Nam đã có hơn 7000 năm và một nền tâm linh cao)

(8) Sự tiếp tục sống của kiếp người sẽ được coi như chuyện đương nhiên không tranh cãi. Không có sự chết, chết chỉ là chuyển tiếp từ một trạng thái ý thức này qua một trạng thái ý thức khác. Không ai còn sợ chết. (Nhân điện có những phương pháp giúp cho con người sống lâu, trẻ mãi, và ngay lúc còn sống vẫn có thể chuyển kiếp qua một thể xác khác)

(9) Nguyên tắc đồng nhất thể hay nhất hóa (oneness) sẽ trở nên hiện hành trong các hoạt động của con người. Nhất thể của Thượng Đế hướng dẫn tất cả các truyền thống về đạo giáo. Nhất thể của năng lượng sẽ hướng dẫn khoa học. Đồng nhất của nhân loại sẽ điều khiển chính trị.(Minh triết của ngành Nhân điện bao gồm tất cả các đạo giáo sẽ là căn bản cho một nền tâm linh mới và sẽ gom tất cả các đạo giáo về làm một. Tất cả các ngành khoa học đều dựa trên một căn bản chính, đó là năng lượng vũ trụ hay năng lượng của Thượng Đế. Một chánh phủ của cộng đồng thế giới sẽ hình thành.)

(10) Thượng Đế tối cao qua Vị Thầy tâm kinh cao cả của ngành Nhân điện sẽ luôn có mặt trên quả địa cầu để hướng dẫn nhân loại, giúp nhân loại xây dựng thiên đàng trần gian, giúp nhân loại đại minh triết, đại giác ngộ để sau này nhân loại di chuyển nền tâm linh cao độ của quả địa cầu này lên thiết lập lần lượt trên các hành tinh khác trong vũ trụ bao la.

Cầu Nguyện

Cầu Nguyện

Bài của : Tâm Tịnh

Không ai có thể chối cải được những tiến bộ và thành công vượt bực của tất cả các ngành khoa học, trong đó có cả ngành y khoa trong vòng một thế kỷ qua. Có lẻ cũng chính vì những thành tựu lớn lao nầy mà các nhà khoa học, các Bác Sĩ y khoa càng tin tưởng vào những khả năng cụ thể của các loại kỷ thuật tân kỳ, các món dược liệu hóa chất v..v.. không lý gì đến những phương pháp trị bịnh đặc biệt khác mà họ vẫn cho là những trò lừa gạt hay những chuyện mê tín dị đoan.

Thực tế trong y học đã xảy ra thật nhiều truờng hợp lạ kỳ, đã có những người bịnh ung thư nặng vào thời kỳ cuối cùng chỉ còn chờ chết, những người bị bại liệt hoặc câm điếc, đui mù v..v.. như những phế tật vô phương cứu chữa, bổng nhiên họ lại lành hẵn bịnh mà không cần một sự can thiệp chữa trị nào của các Bác Sĩ Âu Tây. Điều nầy y học gần như không sao giải thích được chỉ có những ghi nhận là một số người đã được lành bịnh chỉ bằng những phương pháp đơn giản là xoa bóp, cầu nguyện…..Bác Sĩ Y khoa Larry Dossey đã viết cuốn “Healing words” kể lại những trường hợp lạ lùng trong y học : có những người bị bịnh nan y chờ chết đã khỏi bịnh chỉ nhờ Cầu Nguyện !!

Bác Sĩ Randolph Byrd, một chuyên viên nổi tiếng về bịnh tim mạch đã làm một cuộc thử nghiệm cho 393 bệnh nhân bị bệnh đau tim và, phải nằm phòng săn sóc đặc biệt ở bệnh viện nổi tiếng San Francisco General Hospital, Hoa Kỳ. Một nửa số bệnh nhân nầy được trị bịnh cùng một phương cách và điều kiện như một nửa kia, nhưng họ lại được một nhóm người cầu nguyện cho họ được mau lành bịnh. Cả hai nhóm thực ra đều không cho biết là người nào được cầu nguyện, người nào không được cầu nguyện, để cho cuộc thí nghiệm được vô tư tuyệt đối. Nhóm người đến cầu nguyện chỉ được biết tên của bệnh nhân mà thôi. Họ cầu nguyện hàng ngày cho bệnh nhân cho đến khi bệnh nhân được xuất viện. Cách thức cầu nguyện như thế nào hoàn toàn do nhóm quyết định.

Mười tháng sau, cuộc thí nghiệm kết thúc và kết qủa đã vượt ra ngoài dự đoán của những người hoài nghi nhất. Nhóm được cầu nguyện ít bị nhiểm trùng gấp 5 lần nhóm không được cầu nguyện, ít bị suy tim gấp 2 lần ½ nhóm không được cầu nguyện . Trong khi cả 2 nhóm được điều trị cùng một dưỡng đường, Bác Sĩ, Y Tá, thuốc men …nghiã là mọi điều kiện đều giống như nhau nhưng mà kết qủa lại hoàn toàn khác nhau. Lời giải thích chỉ có thể là do những lời cầu nguyện ?

Các cuộc thử nghiệm nghiêm chỉnh trên đây đã khiến cho Bác Sỹ William Nolen, một người hết sức hoài nghi đã từng viết nhiều cuốn sách chống lại sự trị bịnh bằng đức tin gọi là “ Faith healing” mà ông cho là những vai trò lừa gạt, bịp bọm, nay cũng phải lên tiếng rằng : Các cuộc thử kể trên cho tôi thấy là các bác sĩ cũng nên khuyến cáo sự cầu nguyện, vì đây cũng là một vị thuốc công hiệu “.

Bác Sĩ Larry Dossey, cũng như đại đa số các bác sĩ và khoa học gia đều là những người hoài nghi, sau khi được chứng kiến nhiều phép lạ trong y học với chức vị Y Sĩ Trưởng của một bệnh viện lớn ở Dallas, đã bỏ hẳn nghề cũ để chuyên tâm khảo cứu về đời sống tâm linh và ảnh hưởng của sự cầu nguyện lên đời sống như thế nào. Ông đã chứng kiến những vụ giải phẩu, bệnh tâm thần, áp huyết cao, đau tim, ung thư…được chữa trị lành nhờ cầu nguyện , và ông đã đưa ra những lời khuyên.

1- Cầu nguyện dưới nhiều hình thức: Có thể cầu nguyện dưới hình thức là cầu xin một điều gì thực sự rõ ràng hay chỉ cầu nguyện một cách bình bình thản không cầu xin một điều gì rõ ràng ngoài một lời cầu chung chung nguyện theo ý Chúa. Nhiều cuộc thí nghiệm đã cho thấy là chỉ cần một thái độ thành khẩn cầu nguyện chung chung cũng đủ mang lại nhiều phước lành và kinh nghiệm thực tế cũng cho thấy là nếu như chỉ cần cầu nguyện không thôi thì ta sẽ dễ dàng thực hiện nó ở bất cứ nơi đâu và bất cứ lúc nào, có thể cầu nguyện ở nhà, cầu nguyện khi lái xe, khi đi làm, đi chợ…..

2- Sức mạnh của tình thương yêu : Trong một cuộc khảo sát trên 10,000 người bị bệnh tim mạch do Y Sĩ Đoàn Mỹ AMA tổ chức thì những người được sự chăm sóc, an ủi, cầu nguyện tận tình của vợ, chồng hoặc người thân thì bị lên cơn đau tim tới 50% hơn những người cô đơn, có xung khắc trong gia đình. Những người từng có kinh nghiệm về ảnh hưởng của sự cầu nguyện có khả năng tạo ra những ảnh hưởng rất lớn vượt qua thời gian lẫn không gian. Khi người cầu nguyện đem hết lòng hết sức ra sức cầu nguyện thì nhiều tia điện lành sẽ phát ra giúp ích cho người được cầu nguyện.

Bà Anges Sanford viết: “ Tình yêu thương có khả năng làm cho tia lửa được bùng cháy trong tâm tư của mỗi con người. “Đã có những người bị ung thư tụy tạng, một thứ ung thư mà tỷ lệ tử vong lên tới 95%, được chữa lành nhờ sự cầu nguyện ở xa.

3- Cầu nguyện không thôi : Nhiều người kể lại rằng những lời cầu nguyện tự nhiên, thành khẩn, không có chủ đích thường đem lại nhiều kết qủa hơn là những lời cầu nguyện có chủ đích. Sự cầu nguyện có một sức mạnh vô hình giống như một người gởi một tín hiệu lên hệ thống internet và rồi người nhận qua một mã số đậc biệt nào đó đã nhận được tín hiệu và đậc biệt là nhận được cả hệ qủa.

4- Cầu nguyện trong tiềm thức: Nhiều người nghĩ rằng chúng ta chỉ có thể cầu nguện trong khi ta tỉnh thức nhưng thực ra chúng ta còn có thể cầu nguyện trong giấc ngủ, trong giấc mơ, trong tiềm thức và đôi khi loại cầu nguyện nầy còn mang lại nhiều hiệu qủa hơn cả những lời cầu nguyện trong khi ta còn tỉnh thức, ý thức nữa.

Trên đây là những tài liệu được tóm lược từ một bài viết trên báo chí Việt ngữ của Bác Sĩ Hoa Lư. Các tín đồ của các tôn giáo từ lâu đã biết đến giá trị của những lời cầu nguyện, vì nhiều Bác Sĩ như là qúi vị bác sĩ nói trên đã có cơ hội nhận thức được gía trị của sự cầu nguyện, riêng người học viên của ngành Nhân Điện càng ý thức rõ hơn ai hết gía trị của những lời cầu nguyện. Không chỉ có sự tin tưởng gía trị những lời cầu nguyện mà chúng ta còn thực hành hằng ngày những lời cầu nguyện. Điều quan trọng là chúng ta biết rõ đối tượng chúng ta cầu nguyện, phương tiện giao tiếp với các Đấng Thiêng Liêng, thời gian và hiệu qủa rất nhanh chóng những lời cầu nguện của người học viên NĐ.

Đó là những lợi ích vô cùng lớn lao của ngành NĐ, ân huệ rất lớn của Thượng Đế đặc biệt ban bố cho người học viên NĐ qua trung gian là Thầy LMĐ. Tuy NĐ không phải là một tôn giáo, nhưng chính vì sự lợi ích lón lao của sự cầu nguyện cho nên tuy là không bắt buộc như những nghi thức tôn giáo, cầu nguyện đã trở thành gần như là một nghi thức quen thuộc và thường lệ của người học viên NĐ. Thầy Đáng dạy là học viên NĐ cần nên thực hành sự cầu nguyện hằng ngày: cầu nguyện khi luyện Kim Tự Tháp, cầu nguyện khi truyền điện, khi trị bịnh, khi được trị bịnh, khi đi đến một nơi chốn nào, khi sửa soạn làm một công chuyện gì…

Sự cầu nguyện trong ngành NĐ không cần nói ra bằng lời nói bởi vì nhân loại có qúa nhiều ngôn ngữ khác nhau và năng lực của lời nói luôn luôn rất hạn chế, chỉ có năng lực của tâm linh mới mạnh mẽ, đầy đủ và nhanh chóng chuyển đạt mọi lời cầu nguyện. Tuy nhiên, Thầy Đáng cũng đã chính thức dạy cho mọi người học viên bất kể tiếng nói ngôn ngữ khác nhau cùng xử dụng chung một lời cầu nguyện bằng tiếng Việt:

“ Cầu Nguyện Ngọc Hoàng Thượng Đế “

Thầy dạy phải chú trọng đến âm điệu của lời cầu nguyện nầy thì mới đạt được hiệu năng lớn. Trường hợp không thuận tiện để thốt ra bằng lời, chúng ta có thể cầu nguyện câu nầy trong thầm lặng bằng tư tưởng.

Nhiều học viên NĐ đã từng có được nhng kinh nghiệm về hiệu năng của những lời cầu nguyện. Tài liệu của Bác Sĩ Hoa Lư có đề cập đến những dòng điện của lời cầu nguyện. Điều nầy hoàn toàn không xa lạ đối với người học viên NĐ. Chẳng những không hề xa lạ, nhiều học viên còn có những cảm nhận rất rõ rệt dòng điện nầy.

Thầy Đáng có dạy là chúng ta có thể cảm nhận được những dòng điện giao tiếp của các Đấng Thần Linh ở vùng Luân xa 5, riêng phần cá nhân tôi đã từng có những sự cảm nhận nầy khi tôi thực hành sự cầu nguyện Các Đấng Thiêng Liêng. Gần đây Thầy Đáng còn dạy chúng ta cũng có những năng lực tâm linh và chúng ta có thể biết được năng lực của những linh hồn nầy tùy theo vùng cảm nhận.

Tóm lại, con người là một sinh vật siêu đẳng trong các loài sinh vật của trái đất trên phương diện tiến hóa, văn minh, tài giỏi …nhưng không vì thế mà con người có thể vượt qua tất cả. Lúc nào, ở đâu con người thực ra cũng phải đối diện với nhiều vấn đề nan giải, vượt qua sức lực của con người. Một câu chuyện tưởng tượng của một nhà văn xưa nhưng lại có nhiều ý nghĩa, đó là câu chuyện Tề Thiên Đại Thánh, học được 72 phép biến hóa thần thông, muốn xưng làm Tề Thiên Đại Thánh, náo loạn cung đình, nhưng khi dùng phép cân đẩu vân nhảy một cái đi bao nhiêu là ngàn dậm, rồi cho dù Tôn Ngộ Không có nhảy bao nhiêu xa, rốt cuộc y vẫn còn ở lòng bàn tay của Đức Phật.

Chúng ta, thực ra cũng không khác gì Tôn Hành Gỉa, với một ít thông minh tài trí, một ít thành tựu, thành công, đôi khi chúng ta cứ tưởng mình như Tề Thiên Đại Thánh. Thực ra chúng ta luôn luôn chỉ là những sinh vật vô cùng nhỏ bé trong vũ trụ bao la, vô cùng yếu đuối trong quyền năng vô lượng của các Đấng Cao Cả Thiêng Liêng.

Cho nên, một khi ta gặp phải những chuyện gì vượt ra ngoài tài sức, khả năng Thượng Đế đã ưu ái ban cho thì chúng ta chỉ còn có thể “ cầu nguyện” . Chúng ta phải cầu nguyện thật chân thành và tuyệt đối không được tham lam. Chúng ta có thể được nhưng mà chúng ta cũng có thể là không được, dù là chúng ta đã cầu nguyện chân thành. Bởi vì những điều chúng ta cầu xin có được hay không được là tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố khác, những yếu tố thường không nằm trong khả năng giải quyết hoặc là hiểu biết của chúng ta, những yếu tố luôn được đan mắc trong nhiều định luật tất yếu như “ luật nhân qủa” bíên chuyễn như “ luật tuần hoàn “, “ luật luân hồi” v..v.. Cho nên dù được hay không được, chúng ta cũng vẫn phải vui vẽ tuân phục ý của các Đấng Cao Cả Thiêng Liêng.
< Bình Minh trích từ Mel Center >

Bài Học Ngàn Vàng

Trích Lược của Nguyễn Trinh

Trong đời thường, trong xã hội mà chúng ta đang sống, đôi khi vì tính tham danh, tham quyền, tham lợi, ích kỷ, hận thù, đố kỵ..v.v.. chúng ta có những hành động mù quáng điên rồ, tàn nhẫn để hại người, hậu qủa là chúng ta sẽ nhận lãnh những hậu qủa thê thảm của nó.

Quyển “ BÀI HỌC NGÀN VÀNG” do Hòa Thượng Thích Thiện Hoa viết vào năm 1967, gồm có nhiều câu chuyện ngắn rất phổ thông trong đại chúng, nhưng thực tế lại có rất ít người cảm nhận ra ý nghĩa sâu xa và lợi ích to lớn của bài học Nhân Qủa. Cũng có nhiều người nhận thấy quyển sách nầy rất hay như Vua Đột Quyết, tướng Thạnh Bảo hay bà Năm Cây Thị sau khi nhận những hậu qủa của việc làm sai trái của mình, cũng có nhiều người đã từng hiểu, từng biết giá trị của bài học ngàn vàng nhưng không chịu thực hành.

Trong ngành Nhân Điện, chúng ta cũng nhận thấy có một điểm tương tự như thế. Bài học NĐ sơ cấp như tịnh tâm, hít thở, hiểu được chức năng và gía trị các luân xa, được khai mở luân xa 100%....là những bài học đáng gía ngàn vàng. Hiện nay chúng ta có thể học những bài học sơ cấp này chỉ tốn chút ít tiền, kết qủa đạt được là ta có thể giúp sức khỏe cho ta, trị bịnh giúp cho người thân, nhưng thực tế, một số người đã học qua cũng lơ là xao lãng bỏ quên, hoặc tệ hơn vì thực hành không đúng, chưa đạt được kết qủa mong muốn nên bỏ cuộc. Có người hiểu sai về ngành NĐ nên có thái độ dè biểu, chê bai, đã kích..v..v..

Trong ngành NĐ, ngoài những bài học sơ cấp còn có những bài học tâm linh dành cho những lớp học cao cấp do Thầy Lương Minh Đáng truyền dạy. Muốn học những lớp cao này, học viên phải đóng học phí, có người cho là ít, nhưng cũng có người bảo là nhiều. Cũng giống như bài học ngàn vàng của ông lảo vô danh rao bán, chỉ một câu nói, ý nghĩa vỏn vẹn hai chữ “ Nhân Qủa” với cái gía đúng một ngàn lạng vàng. Ai cũng cho là qúa đắt, còn ông lão nói qúa rẽ nếu biết thực hành. Trong lớp học NĐ nhiều ngày, nhiều giờ, Thầy LMĐ không chỉ dạy cho ta một bài học mà là nhiều bài học về tâm linh. Không chỉ dạy lý thuyết mà Thầy còn truyền cho học viên nguồn năng lực mạnh mẽ, kỳ bí để học viên có đủ năng lực để thực hành bài học lý thuyết của Thầy dạy. Điều quan trọng là học viên phải thực hành phần việc của mình. Có người nhận được kết qủa tốt do thực hành đúng, có người không thực hành ( học rồi để đó), có người thực hành sai nên không tìm thấy kết qủa mong muốn rồi trách Thầy, trách bạn …..

Chúng ta chỉ cần học thuộc các bài học và thực hành cho đúng các bài học “ Nhân Loại, Giác Ngộ, Tình Thương “ chúng ta sẽ được thăng tiến rất cao trên cả hai con đường Đời và Đạo. Nói theo ngôn từ của Thầy Đáng là : “Đời giúp cho con người bớt đau, bớt bịnh, bớt khổ, bớt lụy, bớt phiền ..v..v…. Đạo thì giúp cho linh hồn bất tử bất diệt đi tu, thăng tiến, siêu thoát về với Thượng Đế”.

Trở lại đầu đề “ Bài Học Ngàn Vàng “ nói về nhân qủa này, trong các lớp học NĐ, các học viên cũng thường nêu câu hỏi về chuyện nhân qủa thì thường Thầy Đáng không luận hai chữ nhân qủa theo lý thuyết Phật Giáo cao xa, mà Thầy thường nói là các học viên có nhiều căn cơ trình độ khác nhau, mỗi học viên nghe câu nói của Thầy tùy căn cơ trình độ của mình mà hiểu biết. Câu nói của Thầy vẫn còn văng vẳng bên tai tôi : “ Bây giờ anh chị em học đi, rồi anh chị em về thực hiện, thực hành đi, giúp người ta hết đau bớt bịnh đi, đó là anh chị em đã làm công qủa công đức rồi đó, là anh chị em đã làm việc cho Thượng Đế, anh chị em sẽ được bồi đáp, không phải con người hồi đáp, mà là Thượng Đế hồi đáp. Người đời có hồi đáp thì chỉ hồi đáp có một hai mà thôi, mà cũng ít khi con người hồi đáp lắm. Anh chị em đừng trông mong sự hồi đáp của con người mà anh chị em hãy trong mong vào sự hồi đáp của Thượng Đế, mà trông vào Thượng Đế thì cái nầy chắc lắm. Thượng Đế thì luôn luôn sẽ hồi đáp mà hồi đáp nhiều lắm, cái nầy anh chị em khỏi lo. Anh chị em cứ an tâm mà làm đi, làm nhiều công qủa công đức chừng nào thì sẽ được Thượng Đế hồi đáp nhiều chừng ấy, cái nầy thì chắc chắn 100%, nhưng mà anh chị em cũng nhớ là đừng có bao giờ đòi hỏi, đừng bao giờ trông đợi, anh chị em cứ làm việc đi, toàn tâm toàn ý mà làm việc, làm việc vì thiện tâm thiện ý, chứ không phải vì tự tư, tư lợi, vì cầu mong hồi đáp, dù là sự hồi đáp của ai, kể cả sự hồi đáp của Thượng Đế, của Thánh Thần, Trời Phật “.

Tóm lại, tôi nhận thấy mỗi học viên NĐ dù là ở cấp lớp nào, cũng đều nhận được nhiều bài học qúy gía từ Thầy Đáng, từ ngành Nhân Điện, từ nguồn năng lượng vũ trụ vô biên, từ quyền năng khả năng của các Đáng Thiêng Liêng Cao Cả, của Thượng Đế, tuỳ theo tôn giáo hay cách gọi của mỗi người. Chúng ta chỉ cần mỗi ngày ôn luyện lại những bài học mà mình đã học và thực hành đúng những bài học qúy báu mà mình đã có thì chắc chắn mình sẽ đạt được kết qủa tốt, chúng ta sẽ nhận được ân phước vô lượng của các Đấng Tối Cao ban cho.

Thấu hiểu và tinh tưởng các bài học cơ bản : nhân nào qủa nấy, gieo nhân tốt sẽ gặt qủa tốt. Tục ngữ VN cũng có câu ở hiền gặp lành, làm tốt sẽ gặp tốt…chúng ta muốn có qủa lành trái ngọt thì phải luôn luôn làm việc tốt, việc thiện, thành tâm an lạc, người người được an vui hạnh phúc, thế giới được an bình, không có chiến tranh chết chốc ./.

< Bình Minh trích từ Mel Center >

Phân Tử EPR

Phân tử EPR

Bài của Minh Tâm

Nhiều người vẫn tưởng khoa học phải là những gì cụ thể, thực nghiệm, còn siêu hình, trái lại là một phạm trù khác biệt hẳn khoa học. Nói tới khoa học là nói tới những thứ có thể hoặc nhìn thấy, đong, đo, điếm dược ..v..v..! nhưng gần đây, sau khi đọc bài viết về một phân tử có tên “phân tử EPR” của Tiến Sĩ Hoàng Xuân Phong trên báo Xuân Thương Nghiệp Tuần Báo số 181, tôi thấy là ranh giới của hai ngành Khoa Học và Tâm Linh Siêu Hình đã gần như không còn nữa !.

Trước nhứt, chúng ta nói về “ phân tử EPR”. Đó là tên gọi của một cập phân tử song sinh cùng một “bà mẹ nguyên tử” (một nguyên tử bị kích động sẽ phát sinh cùng lúc 2 phân tử EPR), có cùng chung mọi tính chất điện, lượng, năng, quang, sinh tử ..v..v., cùng chia xẻ với nhau mọi thứ tuyệt đối, tất cả, đúng như câu nói “ tuy hai mà mà một, tuy một mà hai” một cách tuyệt đối nhất ! Bất chấp sự khác biệt vị trí không gian, bất cứ điều gì xảy ra cho phân tử nầy thì cũng sẽ xảy ra cho phân tử kia và ngược lại, cho dù hai phân tử EPR cùng mẹ nầy có cách biệt nhau bằng cả một khoảng cách của vũ trụ.

Đây là điều gần như không thể hình dung hay tưởng tựợng theo quan niệm vật lý hiện tại, ngành vật lý còn bị giới hạn trong tốc độ cực đại là tốc độ ánh sáng 300,000 km/ giây, nó chỉ có thể được hiểu biết và chấp nhận trong ngành “vật lý lượng tử”, ngành vật lý vượt qua ý niệm không gian, thời gian, ngành vật lý phi vận tốc và phi định hướng ! Một số nhà khoa học còn đặt tên là “ ngành vật lý không thể hiểu được “!

50 năm sau khám phá cập phân tử song sinh EPR, người ta đã đi đến kết luận là “Cái mà người ta gọi là cập phân tử song sinh EPR, thực ra chỉ là một phân tử duy nhất, nhưng đồng thời nó lại có mặt ở 2 nơi khác nhau “, giống như hiện tượng phân thân chúng ta nghe thấy trong những câu chuyện “Phong Thần”,“ Tây Du Ký” ngày xưa ! Một Tôn Hành Giả nhổ một túm lông phun vèo một cái đã biến thành nhiều Tôn Hành Giả giống hệt nhau ! Một vật thể duy nhất nhưng lại được trải ra trong không gian vũ trụ, trong một điều kiện vật lý nào đó, bao trùm tất cả vũ trụ ! những ý niệm chúng ta chỉ có thể hiểu được khi đi sâu nghiên cứu về “trường năng lựơng vũ trụ “, “hạt năng lựơng vũ trụ”, “lượng năng lượng vũ trụ” v.v.. Ngay cả nhà Bác Học Thiên Tái Albert Einstein lúc đầu cũng đã gọi mĩa mai quan điểm vật lý lưong tử nầy là “quan niệm thần giao cách cảm”, nghiã là quan niệm tưởng tượng, quan niệm không đúng !

Một chút giải thích:

Một Vật Lý Lượng Tử giải thích rằng một nguyên tử thường hằng đối với chúng ta là một nguyên tử bị triệt tiêu vận tốc, và thu hẹp trong không gian 3 chiều. Kích động một nguyên tử là giải phóng vận tốc các phân tử và giải phóng các chiều không gian của phân tử. Một khi các phân tử được giải phóng vận tốc và lấy lại 10 chiều không gian thì nó trở lại bản thể nguyên thuỷ của nó là bản thể vũ trụ, bản thể phi thời gian, phi không gian, tương thông, tương đồng vạn vật vũ trụ, một hiện tượng giống như hiện tượng nguyn, phân tử EPR1 của Thậy Đáng sẽ lập tức cảm nhận và sẽ lập tức tương thông đễ giúp đỡ.

Trường hợp của Các Đấng cũng tương tự. Khi chúng ta chân thành tin tưởng vào một Đấng Thiêng Liêng Cao Cả nào đó là chúng ta đã gởi đến Đấng đó một phân tử EPR2 của chúng ta. Khi chúng ta chân thành cầu nguyện để được cứu giúp, một dòng điện tâm linh sẽ xuất hiện đễ liên kết hai phân tử EPR song sinh EPR1 & EPR2 và hiện tượng Tâm Linh hay “ Thần Giao Cách Cảm” sẽ xảy ra. Chúng ta vừa đề cập đến “dòng điện Tâm Linh” liên kết 2 phân tử EPR là sự khác biệt lớn lao giữa” Ngành Nhân Điện “ và các Ngành Khoa Học Vật Lý, kể cả các ngành Vật Lý Lượng Tử “. Dòng điện Tâm Linh thuộc về một không gian đa chiều và tốc độ vượt qua tốc độ ánh sáng, cho nên nó có những khả năng có thể nói là kỳ lạ. Chỗ bế tắc của các Ngành Vật Lý, Khoa Học chính là vì thiếu chất xúc tác dòng điện Tâm Linh của ngành Nhân Điện, một dạng loại “ chià khóa” cho các ngành Khoa Học tương lai. Cho nên trong tương lai, vì lợi ích của nhân loại, con người, thế giới, thiên nhiên ..v..v ..Nhân Điện và các ngành Vật Lý, Khoa học, Kỷ Thuật ..vv.. sẽ phải nhìn nhận và hợp tác nhau trên đường tiến hóa và phục vụ Nhân Loại.

Nói cho rõ hơn, “Dòng điện Tâm Linh” có tính chất tổng hợp, đa năng, đa chiều không gian cho nên Ngành Nhân Điện sẽ giúp giải quyết nhiều chuyện bế tắc của các ngành Khoa học, Kỷ Thuật, Vật Lý hiện tại. Trên thực tế, tính chất đồng bộ của dòng điện tâm linh tương tự tính chất đồng bộ của hai phân tử EPR, cho phép Ngành Nhân Điện có đầy đủ khả năng liên lạc bằng tâm linh để chửa trị những chứng bịnh của cơ thể con người, cho dù đó là những cá nhân ở cách xa người chữa trị, tương tự như lối chữa trị bịnh bằng cảm ứng hay bằng “thần giao”, nhưng không phải là “thần thông” mà rất phù hợp với những kiến thức mới của những ngành khoa học mới như Ngành Khoa Học Lương Tử.

Khám phá khoa học về phân tử song sinh EPR mang đầy tính chất kỳ bí, nhưng đồng thời nó cũng mang đầy tính chất lợi ích cho toàn thể nhân loại trong thế kỷ tới đây, nhằm gỉai quyết nhiều khó khăn, bế tắc của con người, xã hội lẫn thiên nhiên, vũ trụ, nhưng muốn chấp nhận những khám phá mới mẽ, kỳ bí nầy chúng ta cần biết đến những nguyên lý cơ bản của các nền khoa học chân chính là: “ nguyên lý không chắc chắn” và “nguyên lý không thể hiểu được”.

Muốn hiểu biết, chấp nhận hoặc thực hiện được những nguyên lý trên đây, chúng ta cần làm một số việc mà Thầy Đáng dạy là “ dọn mình”. Từ ngữ “ dọn mình” trong các tôn giáo để chỉ về trạng thái tinh thần sẵn sàng đi theo con đường Đạo dạy là “ xóa bỏ hết mọi ý niệm củ, mọi ràng buộc của ý thức nhân lọai đã có từ trước cho tới bây giờ “ dọn mình “ là ở vào trạng thái tinh thần hòan toàn tự do , một trạng thái tinh thần hoàn toàn khác với trạng thái tinh thần dọn mình của các tôn giáo.

“Dọn mình” của các tôn giáo là đi theo triệt để con đường người khác đã vạch ra sẵn” dọn mình” của ngành Nhân Điện là đi theo những con đường hoàn toàn mới, những con đường chưa hề có mặt ở trần gian, những con đường mới và luôn luôn đổi mới ! những con đường tự mịnh tìm thấy bằng phương tiện là “ dòng điện tâm linh” tiếp nhận những “ ngôn ngữ tâm linh” để hoàn thành những nhiệm vụ có thể là rất khó khăn, có thể là rất mới mẽ của Thượng Đế giao phó.

Bằng “ sự dọn mình “ như thế đó, chúng ta mới có thể nắm bắt được những “ Nguyên Lý Không Chắc Chắn” và “Nguyên Lý Không Thể Hiểu Được” trên đây, để có thể ứng dụng được những khám phá vô cùng mới mẽ của các ngành khoa học tương lai trong đó có ngành Nhân Điện.

Một vài ví dụ: Chỉ trong vòng một tích tắc đồng hồ, 30 giây thời gian, Thầy Đáng có thể cùng lúc truyền đi một dòng “ thần giao cách cảm “ chúng ta thường nói đến: hai vật thể khác biệt nhau hoăc cách xa nhau ngàn dậm, thậm chí kẻ bên này vũ trụ và kẻ ở bên kia bờ vũ trụ cũng vẫn có thể tương thông đồng cảm ứng.

Đi sâu hơn thì đây là phạm vi của các Ngành Thiên Văn, Địa lý, Tử Vi,..v.v.. bởi vì các ngành nầy chuyên nghiên cứu về mối tương quan giữa các biến chuyển của Trời, Đất, Vạn Vật với con người, cá tính, tài năng, vận mệnh …những ngành học nếu nghiêm chỉnh thì là những ngành học vô cùng vi diệu, cao thăm, nhưng đó là những chuyện chúng ta sẽ đề cập đến trong một số bài viết khác.

Thực tế, các nhà khoa học của thế kỷ mới đã tiếp cận thế giới” thần giao cách cảm”. Mùa Xuân 1993, một nhóm 6 nhà khoa học gồm 2 người Canada, 2 người Mỹ, 1 người Úc và 1 người Do Thái đã viết trên tạp chí “ Physiscal Review Letters “ một bài viết về lý thuyết phân thân mà các nhà làm phim khoa học gỉa tưởng đã từng thực hiện trong loạt phim khoa học gỉa tưởng “ Star Trek” rằng về phương diện lý thuyết thì chúng ta có thể làm biến mất một người hay tương tự sẽ hiện ra ở một nơi khác.

Đây là một viễn ảnh đầy khích lệ của các nhà khoa học không gian, những người muốn tìm một con đường tắt nhanh chóng nhất để đi vào vũ trụ không gian mà không qua những phương tiện vật lý thông thường hiện nay, những phương tiện vật chất bị giới hạn trong không gian 3 chiều, thời gian ngày đêm, giờ phút, vận tốc ánh sáng 300,000km/giây, tiến vào không gian 5,7,8,9,10 chiều của khoa vật lý lượng tử vũ trụ.

Sáu nhà khoa học nói trên đã làm thí nghiệm trên một cập phân tử song sinh EPR.

Khi đem một phân tử X tác động lên phân tử EPR1

Không cần tác động trên phân tử EPR2

Những chọn lựa phản ứng của phân tử EPR1 như thế nào thì phân tử EPR2 cũng phản ứng y như vậy.

( dù phân tử EPR2 không hề tiếp xúc với phân tử X, và cho dù phân tử EPR2 ở đâu)

Tính chất nầy thật thú vị và đầy lợi ích cho nhân loại trong tương lai, những chuyện có tính chất thần thoại như thần giao cách cảm đã có thể trở thành hiện thực bằng những phương tiện mới của những ngành vật lý mới, trong đó có Ngành Nhân Điện.

Trong ngành Nhân Điện hiện nay, ý niệm cập phân tử EPR song sinh đã bị vượt qua, cả ý niệm thời gian, không gian, vận tốc …cũng đang nhanh chóng vượt qua. Một hai năm trước đây, thời gian truyền điện để trị bịnh của ngành NĐ còn đòi hỏi 5 phút, 3 phút. Ngày nay rút lại chỉ còn là 30 giây cho bất cứ ai, bất cứ số lựơng bao nhiêu người, ở bất cứ nơi đâu. ( hoc viên ở cấp cao). Lý do ngành NĐ thực hiện được những điều có tính cách kỳ diệu kể trên chỉ là vì ngành NĐ đã đi vào những lãnh vực vật lý lượng tử mà các nhà khoa học trên đây mới vừa khám phá những bước đầu tiên.

Trong một số lớp học, Thầy Đáng có đề cập đến chuyện cầu nguyện, hoậc cầu nguyện các Đáng Thiêng Liêng Cao Cả của Đạo giáo cá nhân mình, các bậc Ông Bà Tổ Phụ mình yêu mến, hoặc gỉa, người học viên có thể cầu nguyện. Thầy Đáng cứu giúp trong cơn hoạn nạn, lâm nguy. Khi anh chị em cầu nguyện thì thể xác của Thầy Đáng không thể nghe, không thể tới, nhưng mà linh hồn Ông Thầy Đáng sẽ nghe được và linh hồn của Thầy Đáng sẽ tới ngay đễ cứu giúp anh chị em, bất kể là lúc đó ông Thầy Đáng đang ở đâu hoặc là đang làm gì.

Điều này đã được nhiều anh chị em trong ngành NĐ khắp nơi trên thế giới chứng nghiệm. Điều này cũng có thể chứng minh, giải thích một cách rõ ràng, dễ hiểu theo nguyên tắc của phân tử EPR vừa kể trên. Một học viên khi được Thầy Đáng đã gởi tới người học viên một phân tử EPR 2, khi người học viên suy tưởng, cầu điện đến 56 quốc gia trên thế giới để truyền điện mở luân xa, hoặc trị bịnh cho vài ba ngàn người, chỉ trong vòng 30 giây thới gian, một học viên có thể truyền điện để tăng gia sản xuất hoa màu cho một cánh đồng lúa, bắp. Chỉ với 1 kim tự tháp nhỏ bằng mica trong suốt, người học viên NĐ có thể thu hút được năng lượng của vũ trụ cho nhiều lợi ích của con người. Chỉ với 3 vòng tròn antena bằng đồng đơn sơ người học viên NĐ có thể thu hút và biến đổi NLVT thành năng lượng kỹ nghệ để làm cháy những bóng đèn, làm chạy những máy điện ….

Ngày nào chúng ta còn bị lệ thuộc vào những kiến thức cũ của nhân loại, ngày đó chúng ta còn những khả năng hạn chế của con người. Chính các nhà khoa học cũng đã từng công nhận rằng, ngay cả những bộ óc vĩ đại nhất của nhân loại cũng chỉ xử dụng có 5% - 7% tiềm năng khả năng của con người mà thôi, phần còn lại 93% -97% tiềm năng khả năng con người chúng ta vẫn chưa hề xử dụng tới hoặc không bao giờ chúng ta có thể xử dụng tới nếu như chúng ta cứ đi theo những lối mòn xưa cũ.

Những cái mới là những cái rất khác biệt với những cái cũ, cho nên muốn tiếp nhận những cái mới, điều kiện bắt buộc là chúng ta phải quên đi những cái cũ, quên đi một cách triệt để, một điều rất khó thực hiện đối với những đầu óc nặng duy lý của các nhà khoa học , rất ưa chuộng chúng cứ của chúng ta, nhưng mà, qua câu chuyện phân tử EPR trên đây, chúng ta thấy rõ ràng rằng có những chuyện “ khó tin nhưng có thật” và nó lại nằm trong những nguyên lý căn bản của khoa học, nguyên lý không chắc chắn và nguyên lý không thể hiểu được.

Vậy thì, bạn có phải thắc mắc về một điều mà bạn cho là phi lý, hoặc bạn thấy là không thể hiểu được hay không ? Tôi không hề thích mấy chữ tin tưởng mù quáng, nhưng tôi lại nhận thấy những giới hạn tri thức của con người, cụ thể là của cá nhân tôi, tôi không thể hiểu làm sao một bông hoa có thể nở, một con chim có thể hót, một con cá có thể bơi….có muôn vạn điều của vạn vật mà tôi không hiểu biết, vậy thì tôi cũng đâu cần phải thắc mắc thêm về một điều kỳ lạ nào đó của khoa học hay là của thiên nhiên.

Tôi không thắc mắc nữa hay nói cho đúng ra tôi không còn muốn thắc mắc nữa, trái lại, tôi thấy vô cùng thú vị khi nhận ra những định luật biến đổi của vạn vật và nguyên lý không thể hiểu được của khoa học. Với những định luật và nguyên lý nầy, chúng ta có thể “ dọn mình” để đi vào thế kỷ mới, thiên niên kỷ mới, vượt qua những giới hạn của khoa học kỹ thuật, kiến thức con người, với tới những tiềm năng khả năng của con người….vượt qua những tiềm năng con người, tiến tới sự hòa nhập với những năng lực siêu nhiên, những điều tưởng là rất khó, rất xa nhưng thực tế là rất gần, nếu như chúng ta chiụ “ dọn mình” chiụ tiếp nhận NLVT, nếu chúng ta chiụ nghe tiếng nói của các Đấng Thiêng Liêng lúc nào cũng ngự trị trong tâm não, trong từng nhịp thở của là phổi, từng nhịp đập của con tim chúng ta, những cái tuy vô hình nhưng vẫn hiện hữu, những cái tuy là hiện hữu nhưng vẫn cứ vô hình, những tính chất kỳ lạ của Phân Tử EPR, những tính chất kỳ bí của NLVT, Nhân Điện, Luân Xa, Kim Tự Tháp…./.

< Bình Minh trích từ Mel Center >

Vai Trò Người Phụ Nữ Trong Lãnh Vực Tâm Linh

Bài Viết của : Lâm Ái Hoa

Từ xưa, theo phong tục tập quán của hầu hết các quốc gia trên thế giới, vai trò của phụ nữ trong xã hội rất thấp, họ không mấy được xem trọng. Nhất là trong lãnh vực tâm linh thì người phụ nữ chỉ được xem là phụ thuộc. Trong thực tế, sự ý thức tự do và bình đẳng thì người đàn bà đóng một vai trò rất là quan trọng cho sự tiến hóa tâm linh của nhân loại, mà từ lâu các vị giáo chủ cố tình quên mất ý nghĩa nầy, khiến cho nền tâm linh của nhân loại bị lệch lạc và chưa phát triển đến mức độ siêu việt của nó.

Theo tập tục, ngoài xã hội thì thân phận người phụ nữ tuỳ thuộc vào chồng con. Trong vấn đề tâm linh thì rất ít khi một vị chủ trì của tu viện là nữ giới. Thường thường những vị nữ tu sống ẩn dật một mình hay theo một nhóm nhỏ nữ tu đồng môn ( lineages) xuất thế để tu hành, họ tự hành xác để kềm chế ước muốn, họ chỉ đóng góp sự hoằng đạo bằng lời nói thay vì đọc và viết. Ngay cả trong sự thực hiện bí pháp luyện mạng của bổn đạo (để tâm thân hòa hợp vào điển giới ) thì sự thành công rất khó đối với phụ nữ vì những quan niệm kiêng cữ thiền định trong những ngày kinh kỳ của một tháng.

Thời kỳ hơn hai ngàn năm trăm năm trước, người đàn bà tại Ấn Độ phải bị chôn chung với người chồng khi chồng bị chết trước họ, và trong cộng đồng tu viện chung quanh Đức Phật Thích Ca thì địa vị của các tăng sĩ luôn luôn đứng trước đối với ni cô, dù là những vị sư cô gìa cũng chỉ có vai trò thứ nhì ( a second-class role ). Do đó, những vị nữ tu dưòng như thiếu sự tự do, nhưng thực tế có lẽ họ chấp nhận cái đời sống tâm linh rất tự chủ của họ.

Dần dần, vai trò phụ nữ ngoài xã hội được nâng lên thì địa vị của họ trong lãnh vực tâm linh cũng được chú ý và tôn vinh. Người nữ tu đã có thể làm viện trưởng dòng tu củ mình hay chủ trì một Đạo viện, ngay cả họ có thể làm một vị giáo sư giảng dạy tâm linh để đi khai hóa tư tưởng người đời. Theo kinh nghiệm thì những vị thượng tọa, linh mục, hay một người lãnh đạo tinh thần nam giới có quan niệm tu hành cổ truyền thì tính tình qúa nghiêm khắc, và đôi khi cố chấp làm cho những người chung quanh không được thỏai mái. Những tu viện của các dòng tu chính thống Orthodox trên đảo Aegean mà hàng 15 thế kỷ không có một bóng người nữ được đặt chân tới lai vãng, nhưng bây giờ các hội thánh không có bằng chứng gì đối kháng để phân biệt gía trị, hay khả năng khác nhau giữa phái tính.

Những thầy tu trong các tu viện cũng như những nữ tu sĩ trong những nhà dòng tu kín thì có cùng giới luật, giờ giấc làm việc và cầu nguyện, ngay cả những lời kinh cầu và các bài học thử thách gian nan cũng giống nhau. Điều đáng lưu ý hơn trong Cơ Đốc Giáo là sự sử dụng tính chất thiêng liêng của Đạo Giáo để giúp cho nhân loại biết giác ngộ. Nếu chỉ chú trọng đến hình thể khác nhau của phái tính nam trọng nữ khinh thì tự mình làm giảm đi kính thước tâm linh của chính mình.

Cuối thể kỷ 20, Đạo Phật ngày càng trở nên phổ thông, và phụ nữ ngày càng quy y Phật Pháp đông hơn thanh niên. Mặt khác, trên thế giới có sự đóng góp của nhiều giáo phái và những bộ môn tâm linh thịnh hành việc hướng dẫn nhân loại theo tư tưởng mới: Đời và Đạo song tu, nên sự xuất hiện của họ không còn bị gò bó bởi nhiều luật lệ như trước. Hiện nay, một trong những tôn giáo chính như đạo Thiên Chúa thì có Mẹ Theresa lừng danh. Tinh Lành có bà Mục Sư Ang Son Yơo ( người Đại Hàn được phong chức tại Hoa kỳ, Trưởng Hộ Thánh Manna Mission tại Los-Angeles, tác gỉa của quyển sách Người Đàn Bà Hạnh Phúc) . Các vị nữ giáo sư tâm linh quen thuộc như: Bà Vô Thương Sư Thanh Hải ( người lảnh đạo phép tu qua cách khai mở Tâm Ấn ), Bà Jetsunma Ahkon Lhamo ( một người Mỹ lai Ý, truyền bá Phật Pháp Tây Tạng tại Hoa Kỳ ), Dr. Minh Hiệp và Dr. Lily Hạnh ( người gỉang dạy bộ môn Nhân Điện, nối nhịp cầu tâm linh giữa năm Châu ), v..v.

Đặc biệt nhất là bộ môn Nhân Điện, bằng quan niệm chấn chỉnh tư tưởng nhân loại trong ý thức giác ngộ và quan điểm tự do, họ đã mở ra những cái thắt gút ràng buộc thể xác và linh hồn mình. Hành gỉa Nhân Điện không phải thực hiện lễ nghi tôn thờ phượng, không theo giáo cấm, điều quy mà ngược lại, trong những họat động nghiên cứu và phục vụ nhân loại thì họ đạt dược tâm điểm nơi mà con nguời thức tỉnh ở trạng thái tự nhiên nhất (không có sự phân biệt nam hay nữ). Sự biểu hiện giới tính đã bị tự do hóa một cách hòan toàn. Tất cả hành gỉa Nhân Điện đều được Thầy Đáng khai mở hệ luân xa, và được sử dụng những phương pháp điển năng một cách bình đẳng để giúp bản thân, gia đình và mọi người trong việc bảo vệ sức khỏe và tu học trên con đường thăng tiến tâm linh.

Thầy Đáng đã cho biết rằng: “ Tuỳ theo quan niệm của người đời đặt ra, các nhà Văn Sử học và Đạo học thường là đàn ông, chứ nếu các bà viết sách đầu tiên thì cũng ghi lại Thượng Đế là đàn bà “ Cho nên, đối với Thầy Đáng thì không có sự phân biệt điện năng trong hiện thân của người nam hay nữ, không có sự giới hạn âm hay dương trên đường chân lý, vì âm với dương hội nhập cũng trở về số không, là không khí, là điện năng vũ trụ nuôi dưỡng muôn loài vạn vật:

“Thiên, Địa, Nhân và vạn vật đồng nhất thể “, cũng là từ những tia sáng của Thượng Đế. Chúng ta có thể mường tượng hình ảnh này qua bộ phim:” Sứ mạng đến Hỏa Tinh, Mission To Mars “. Một Phi Hành gia đi ra không gian, sau khi được duyên may gặp” Diệu Trì Kim Mẫu “, Mother’s soul “,được Mẹ linh hồn của muôn loài điểm hóa anh ta. Đó là hình ảnh tiêu biểu bà Mẹ năng lượng màu vàng óng ánh, Mẹ bốc lấy một nắm năng lượng từ tim Mẹ, biến đổi thành những chuỗi DNA và rải xuống qủa địa cầu, lập tức những chuổi DNA kia biến ra nhiều rong rêu và nòng nọc, trong khí nước ẩm của địa cầu một số nòng nọc biến dạng thành loài bò sát. Dưới sự thay đổi của ngủ hành, một số loài bò sát biến dạng thành động vật có vú. Môi trường sống giúp cho một số động vật có vú thay hình đổi dạng thành con người như ngày nay. Người Phi Hành gia kia chợt giác ngộ: “Về nguồn, Back to the source”, anh ta khẳng định đó là điểm anh từng mong tìm về, thì lập tức Kim Mẫu đưa anh ta về với khối sáng. Bộ phim có lẽ dựa vào quan niệm thuyết tiến hóa của Dakwin. Theo Thầy Đáng thì có 10 người đầu tiên được sinh ra trên qủa địa cầu này.

Dù bằng những ý niệm khác nhau, nhưng chúng ta hằng tin rằng Thượng Đế là cha linh hồn của muôn loài vạn vật, Ngài đã sinh ra càn khôn vũ trụ mà Đạo giáo gọi là Tiên Thiên. Ngài phân khí tạo ra Mẹ thành lập muôn loài vạn vật trên mặt đất tức là lập ra Hậu Thiên. Mẹ sinh ra lương thực, hoa màu nuôi dưỡng các con của Mẹ sống trên qủa địa cầu. Mẹ mong đợi các con nào lớn khôn biết nghiên cứu học hỏi tâm linh thì Mẹ âm thầm tiến dẫn đến chân sư:

“ ngồi trong con đặng phi thường

Mẹ đem con đến tận đường hằng sanh

Xưa con không thấu cội nhành

Vì đường đạo bế “biệt cành hoa rơi

Từ con cách Mẹ phương Trời

Trầm luân khổ hải chơi vơi song trần

Dầu thương nhắm mắt đưa chân

Giờ nay gặp lối nghiệp trần giảm tiêu

Ngọc Hư định phép cũng nhiều

Phái vàng Mẹ lãnh dắt dìu trẻ thơ

Trước kia trẻ vẫn mịt mờ.

Từ đây mới hẳn ơn nhờ Mẫu Nghi

Đắc truyền khai mối Tam Kỳ

Dưới tay cậy có Diệu Trì Cửu Nương

Chín cô đã sẵn lòng thương

Mẹ tận độ chúng bườm trương thóat vòng…”

( Trích trong bài kinh Cao Đài : Táng tụng Công Đức Diêu Trì Kim Mẫu )

** Đường đạo bế : bí Pháp luyện mạng (để hòa hợp thân tâm vào điển giới) của các tôn giáo đã bị thất truyền rồi ( Vì nếu tu hành mà không chuyên mạng thì không thể đọat đạo )

** Ngọc Hư: Chỉ Ngọc Hư Cung hay Bạch Ngọc Cung là nơi điều hành luật thiên nhiên của Thượng Đế.

** Phái vàng: Chỉ Phật Giáo. Mẹ Diêu Trì điểm đạo cho các vị cao tăng đắc qủa Phật.

** Tam Kỳ: Tức kỳ ba là vào thế kỷ 20, thời kỳ Hạ Ngươn dân tộc Việt Nam được Thượng Đế mở đạo Cao Đài, ban cho Thiên Nhản ( giúp định tinh thần) và bí pháp để tự tu luyện mở Huệ Quang Khiếu ( luân xa 6) rồi mở Thiên Môn ( vị trí của Nguơn Thần tức luân xa7 ).Để tu luyện sự giác ngộ và thực sự minh triết ( true wisdom).

**Diêu Trì Cửu Nương : Chín vị Tiên Nữ giúp Mẹ Diêu Trì bên Cao Đài, khai hóa chúng sinh bằng kinh điển, giúp phái nữ luyện bí pháp theo cách riêng của vị Tiên Nương, và hướng dẫn những linh hồn của tín đồ Cao Đài trên con đường Thiêng Liêng Hằng Sống.

Nước Việt Nam có một tôn giáo dân tộc mà chính Thượng Đế là Giáo Chủ, Ngài ban kinh điển để lập đạo từ năm 1926, đó là Đạo Cao Đài. Tính chất của tôn giáo này là thực hiện lễ nghi thờ phượng Thượng Đế, và noi theo kinh điển giảng dạy của tất cả các Đấng Thiêng Liêng Cao Cả như: Đại diện cho Phật Giáo là Nhiên Đăng Cổ Phật và Quan Thế Âm Bồ Tát; đại diện cho Tiên Giáo là Đức Lão Tử và Lý Thái Bạch ; đại diện cho Thánh Giáo là Đức Jesus Christ và Đức Khương Tử Nha. Do đó, tất cả các tôn giáo đều bình đẳng và đại đồng.

Thượng Đế là giáo chủ mà chỉ xưng là Tiên, là Bồ Tát và tín đồ gọi Ngài là “Thầy” cho nên nhiều người không hiểu, còn đánh gía thấp tôn giáo dân tộc của mình, theo tâm lý chung người ta thích ca tụng những tôn giáo lớn mà quên đi món qùa qúi gía Thượng Đế đặc biệt ban hồng ân. Những bài kinh điển của các Đấng ban xuống cho bậc tu Đại Thừa là những bài bí pháp, dạy tính đồ cách thiền định, luyện bằng sự vận chuyển Tinh Khí Thần để khai mở luân xa 6 & 7 , đồng thời kết hợp thể dục để tạo sức mạnh cho khí ( năng lượng) dễ lưu thông. Mục đích sau cùng của bí pháp là hướng dẫn tín đồ luyện “kim đơn” tức tạo ra thánh thai, là đệ nhị xác thân. Đó là con người bằng xương bằng năng lượng của chính mình, con người thực sự minh triết.

Đằng sau Thượng Đế và các Đấng trên là sự quan sát của Kim Mẫu. Mẹ linh hồn của muôn loài vạn vật mà ít có ai trong chúng ta biết đến. Mẹ âm thầm nâng đỡ cho những đứa con nào muốn tu mà không biết đường tu. Hằng năm, cứ đến ngày 15 tháng 8 âm lịch là các tòa thánh Đạo Cao Đài có tổ chức ngày lễ lớn: “Hội Yến Diêu Trì Kim Mẫu”, những tín đồ đến tham dự trong những ngày này, hay tại gia trang lập bàn thờ đọc kinh cầu nguyện thì môi trường chung quanh đó được tiếp nhận năng lượng tốt, dù trời đang mưa bão thì cũng trở nên quang đãng lập tức.

Thượng Đế vì thương yêu nhân loại mới lập Đạo độ Đời cứu rổi chúng sanh. Lập Đạo nầy không được thì Ngài lập Đạo khác cho đến khi nào được mới thôi. Cho nên sự tuyển chọn chân linh ngày càng dễ dàng hơn. Điều này dẫn đến sự xuất hiện của nhiều giáo phái hay bộ môn mới rao giảng tâm linh và những phương pháp khai tâm, mở trí cho con người sớm tiếp nhận được điện năng thiêng liêng của Thượng Đế mà sớm giác ngộ để tu luyện sự minh triết giúp đời.

Phương pháp hữu hiệu nhất là trong bộ Nhân Điện, người học viên chỉ theo học trong một thời gian ngắn, coi như là những khóa luyện Đạo cấp tốc trong thời kỳ tận độ, những ai có duyên lành được sự tiến dẫn đến bộ môn NĐ, không phân biệt nam, nữ, tuổi tác. Ai đến với những lớp học đều hưởng được quyền lợi ngang nhau. Trong những buổi học Master truyền điện chung cho tất cả học viên. Khi ra về mỗi người mang theo gói qùa “điện năng” bằng nhau, nhưng tại gia họ phải biết luện tập thiền định, nghiên cứu học hỏi và phục vụ nhân sinh tạo công qủa, công đức là những phương tiện hòa nhập linh hồn, thể xác trong điển giới của Thượng Đế.

<Bình Minh trích từ Mel Center>

Tâm Sinh Lý Hợp Nhất

Vấn Đề Tình Dục Trong Xã Hội Ngày Nay :

Nó nhan nhản khắp nơi, nó tràn ngập trong phim ảnh, nó len lỏi rất nhiều trong những chương trình thông thường trên mạng lưới truyền thanh truyền hình, nó vang lên trong lời ca tiếng hát, nó đầy dẫy trong sách vở, báo chí và internet. Xã hội ngày nay nó bị ám ảnh bởi vấn đề tình dục.

Chắc có lẻ chưa bao giờ ở thời kỳ nào mà vấn đề tình dục được khai thác tối đa như trong xã hội ngày hôm nay. Nó trở thành một món hàng, nó được đầu tư và kinh doanh, con người tiếp tục phát triển sâu rọng xoay quanh vấn đề tình dục. Nhưng thật sự con người hiểu biết qúa ít và nông cạn về vấn đề tìng dục giữa phái nam và phái nữ.

Gần đây, sự thiếu hiểu biết về vần đề tìng dục là một mối đe dọa kinh hoàng trong xã hội loài người đó là sự truyền nhiểm bệnh giang mai, hoa liểu,... tác hại nhất là ảnh hưởng của AIDS, đã lan rộng trên toàn cầu. Dân tộc Phi Châu là bị nặng nề nhất.

Vấn đề tình dục nó cũng nói lên phẩm hạnh đạo đức của một quốc gia. Có nhiều quốc gia chú trọng đến vấn đề nầy, tại Mỹ có những sự cải tổ bắt đầu từ năm 1967, họ đưa vấn đề tìng dục vào học đường, họ tìm hiểu và nghiên cứu, mặc dù cả quốc gia đã cố gắng đưa ra nhiều đường hướng tốt đẹp, nhưng trong thực tế lúc nào cũng xảy ra ngược lại, bóng tối của vấn đề hỗn loạn tình dục tiếp tục phủ đầy, trên xã hội và quốc gia họ.

Một Vài Ý Kiến Về Vấn Đề Tình Dục Trong Xã Hội:

Tình dục là một cảm tính tự nhiên của con người, ý kiến và phê bình về vấn đề nầy thực không đơn giãn. Nếu dựa vào quy luật xã hội, tôn giáo và phong tục tập quán thì vấn đề lại khác. Ở những quốc gia tân tiến nhất có biết bao chương trình và kế hoạch về vấn đề tình dục, nhắm vào sự hạnh phúc và sức khỏe con người, tuy nhiên vẫn còn ở trong nhiều giới hạn. Cho đến hôm nay chưa có một chương trình hay một kế hoạch nào hoàn chỉnh về vấn đề nầy, ngay cả những sự kêu gọi lòng đạo đức của con người từ những tôn giáo. Xã hội tiếp tục tuột dần và bóng tối đầy đau khổ. Tình dục, tình yêu hay tình thương nó tùy vào mức độ rung động ở nảo bộ con người theo từng đối tượng. Nếu con người điều khiển được mức độ rung động này, hay làm chủ được phần điện năng thoát ra ngoài là một hình thức tu của con người. Muốn hiểu rỏ vấn đề nầy cần phải có một trình độ tu học, một trình độ tiến hóa cao về mặt tâm linh. Phần đông nhân loại hiểu sai về vấn đề tình dục giữa hai tính phái, từ đó không biết bao nhiêu sự chao đảo xảy ra:

** Quan niệm qúa khích: người phụ nữ phải ở trong sự khép kín và lệ thuộc vào người đàn ông. Quan niệm " Chồng Chúa Vợ Tôi " rất lâu đời ở xã hội Á Đông. Ở quan niệm nầy con người vẫn không học hỏi được gì hay hơn là thỏa mãn lòng ích kỷ của người đàn ông.

** Quan niệm qúa tự do: vấn đề tình dục xảy ra khắp nơi, bất cứ ở đâu, điển hình là đế quốc La Mã xa xưa. Họ nghỉ rằng đó là chân lý của hạnh phúc là niềm vui, và dẫn đến sự điên lọan không còn đạo đức trong vấn đề tình dục. Chữ "romantic" có dùng diễn tả những cơn sốt về tình dục. Dù tự do nhưng họ vẫn không tìm thấy được hạnh phúc của con người, của những cập vợ chồng ở thế gian nầy.

** Quan niệm trung dung: vấn đề tình dục cần phải được hướng dẫn và giáo dục. Vấn đề tình dục phải dựa trên những đạo đức, căn bản của xã hội hoặc tôn giáo, con người phải ý thức về trách nhiệm và hậu qủa. Dù vậy con người vẫn chưa thật sự thấy được cái hạnh phúc lâu dài. Nếu ý thức được rằng mọi sự việc diễn ra gíup cho nhân loại học hỏi và tiến hóa. Thì sự hổn loạn và đau khổ của con người không là lỗi của ai cả, vì trìng độ hiểu biết và mức độ tiến hoá của họ chưa đủ khả năng gíup họ vượt lên những đau khổ của họ.

Ngày nay những nhà Tâm Lý Học, Sinh Lý Học kết hợp với những phương tiện hiện đại nhất của khoa học vẫn chưa tỉm thấy được cái chìa khóa mang hạnh phúc thật sự, tình yêu thật sự đến cho con người. Ngành ND đưa ra một vấn đề bổ túc sau gọi lả Tâm Sinh Lý Hợp Nhất

Chìa Khóa Của Hạnh Phúc Trọn Vẹn :

Ngày nay nói đến vấn đề hạnh phúc, tình yêu hay tình dục thì cả một thị trường mua bán, từ những phim ảnh báo chí đến những phương pháp thiền và Yoga rồi đến những loại dược thảo có tính cách kích thích mạnh, con người luôn tìm tòi đủ phương cách để thỏa mãn dục vọng của mình, đôi khi dẫn họ đến sự bất lực và tuyệt vọng.

Ngành ND xuất hiện vào giữa năm 1989 với mục đích gíup con người về hai phương diện: đời giúp thể xác hết đau bớt bịnh, mặt đạo thì giúp cho linh hồn học hỏi tiến hóa. Ngoài những bài giảng hướng dẫn con người tìm những chân lý của đời sống và trở về sự minh triết của mình. Thầy Đáng cũng có đề cập qua vấn đề TSLHN trong lớp 7 đặc biệt tại Saint Louis cho những cặp vợ chồng có trình độ đại học và cấp 7 trở lên, Thầy cũng khuyến khích những cặp vợ chồng là Bác sĩ, Dược sĩ hay những người có trình độ kiến thức về Y khoa, nghiên cứu cẩn thận về vấn đề TSLHN.

TSLHN không phải lá một phương pháp hay một kỹ thuật để hưởng thụ trong quan hệ tình dục giữa những cặp vợ chồng. Mà nó là phương pháp giúp con người an vui, khỏe mạnh, kéo dài tuổi thanh xuân và phát triển tâm linh. Điều này có mới lạ và buồn cười, trong thời gian ngắn con người thật là khó hiểu và khó chấp nhận như là phương pháp một phương pháp hổ trợ trên con đường tu học của mình. Nhưng cũng đừng quên rằng khi người ta nói đến Niết Bàn, nói đến Thiên Đàng là nói đến một tình yêu thương trọn vẹn và minh triết.

Sau đây là kết qủa, sau một thời gian ngắn nghiên cứu vấn đề TSLHN từ một số anh chị em có dự qua buổi hội thảo với Thầy.

--- Giúp con người sảng khoái, sáng suốt.

--- Làm gỉam nhịp đập của tim, kéo theo phương pháp đặt Kim Tự Thấp trị phía trước vị trí của tim. Tạo cho con người bình thản và trầm lặng.

--- Sự hợp nhất trong TSLHN là một năng lực mạnh, là hợp lực của tình yêu và minh triết.

Do kết qủa đó, ta kết luận rằng TSLHN là chià khóa của tỉnh yêu thật sự và trọn vẹn. Phương pháp TSLHN là như thế nào, tôi chưa được phép trìng bày rỏ ở đây, nếu có cơ duyên anh chị em sẽ lãnh hội được từ Thầy.

Vấn Đề TSLHN Trên Con Đường Tu Học Của Chúng Ta :

Đã từ lâu đời người tu theo Phật cho rằng : " Đời là bể khổ " nên tìm cách diệt khổ, mà đầu mối của khổ là Thất Tình Lục Dục, nên thoát ly gia đình là một hình thức diệt khổ. Tựa thiền là hình thức diệt dục. Nên đối với họ không bao giờ chấp nhận vấn đề TSLHN trong đường tu của họ.

Người tu theo đạo Thiên Chúa, cũng có phần không lập gia đình, quyết tu hành để sau được về Thiên Đàng. Chúa vì gỉai khổ cho thế gian nên phải thọ khổ ( bị đóng đinh trên thập tự gía ) đây cũng là bí pháp tu hành mà Chúa dạy cho con người : hy sinh giúp cho mọi người. Những điếu nầy thật trăm đắng ngàn cay.

Những người luyện đạo tu Tiên, vì sợ khổ nên tìm cách thoát khổ, cắt gia ly ái, ẩn nơi thâm sơn cùng cốc, tọa thiền luyện đạo. Chuyện tình nam nữ đối với họ chỉ là sự loạn động “làm tẩu hỏa nhập ma”.

Nhìn chung chung thì cách tu nào cũng có khuynh hướng gạt bỏ tình dục và phái nữ chỉ có vai trò phụ thuộc và hổ trộ. Đối với sự nghiên cứu của ngành ND, thì âm dương luôn tác động ngược nhau nhưng nếu điều hòa và hợp nhất thì sẽ tạo ra một sức mạnh vô biên. Ca dao của VN có câu: “đồng vợ đồng chồng tát cạn biển đông “ tát cạn biển đông ở đây có nghĩa là vợ chồng đã đi hết đoạn đường đời, học hết những bài học cần phải học ở thế gian, tát biển đông ở đây cũng có thể nói là vợ chồng có đầy đủ sự minh triết và giác ngộ họ có thể là Phật , Thánh, và Tiên.

Thầy Đáng dạy rằng thế gian nầy là một trường học lớn, trong sự tiến hóa của Càn Khôn Vũ Trụ , những khó khăn đến với chúng ta, chúng ta vui vẽ và chấp nhận, thì đó là bài học của chúng ta, đó là tu. Vợ chồng đồng tu là một hình thức cao qúy nhất, là con đường tu cao nhất. TSLHN là phương pháp kết hợp Tâm Linh và Thể Xác của những cặp vợ chồng trong không gian 4 chiều, sức mạnh có được giúp họ bước lên những nấc tiến hóa cao. Thì ra đây là hình thức không tu mà là tu.

Phương pháp TSLHN thật ra chỉ có gía trị khi cả hai, vợ và chồng có năng lực mạnh của luân xa 6 . Trường hợp của David Kroresh ở Waco Texas, cũng muốn có năng lực mạnh trong sự hợp nhất của sinh lý, để trở thành một Thánh nhân, tuy nhiên ông ta thất bại. Thật ra vấn đề TSLHN con người cũng có đề cập đến từ xa xưa, điển hình trong pho kiếm hiệp kỳ tình “ Thần Điêu Đại Hiệp “ khi Dương Hóa và Cô Long luyện kiếm “ song bích hợp nhất “ là hình thức cùa vấn đề TSLHN.

Mặc dù chúng ta đang sống trong xã hội văn minh, nếu chúng ta quan sát kỷ thì rất nhiều mối đe dọa cho con người ở tương lai, riêng vấn đề tình dục trong xã hội thật là kinh hoàng, không cách nào chặn đứng hoặc trì kéo lại : hằng năm có trên dưới một triệu con gái dưới tuổi thành niên đã có con, trong đó 75% là ngoại hôn , 80% những bà mẹ rơi vào cảnh nghèo túng, trả cho những vấn đề này nhà nước hao tốn khỏang 7 tỉ đô la. Trong năm vừa qua có hơn 3 triệu trẻ em trong lứa tuổi thiếu niên bị nhiểm bịnh trong vấn đề tình dục . Vấn đề tình dục và hạnh phúc có thể xây cho nhân loại một Thiên Đàng, cũng có thể đưa con người vào địa ngục.

Nhìn quanh xã hội ngày nay thật là hổn loạn, chính sự hổn loạn nầy làm mất đi cái gì là thánh thiện và cao qúy nơi con người. Chúa đến thế gian này dạy cho con người tình yêu thương cao qúi đó: có phải hai tâm hồn đến với nhau là một hứa hẹn vô điều kiện “ anh sẽ vì em mà xây một lâu đài tình ái”, “ song sâu còn có đáy mà yêu thương vô bến bờ”, “anh sẽ vì em mà xây dựng một Thiên Đàng của Chúng ta”… Đúng vậy sự yêu thương thánh thiện xưa nay vốn ở trong con người, khi hai người yêu nhau là họ đưa nhau đến một chân trời rồi xây dựng một Thiên Đàng nhỏ cho tình yêu của họ, nếu họ biết chăm sóc và bồi dưỡng cái Thiên Đàng của họ thì thế gian này chính là một Thiên Đàng, thì đường tu đâu phải xa.

Kết Luận:

Khi đưa ra vấn đề TSLHN, chắc chắn có nhiều ý kiến phê phán và thách thức, điều này cũng đúng thôi, vì kiến thức ở đời là một bài học dài vô tận, phê phán thì cũng giới hạn trong một hiểu biết nhỏ nào đó thôi. Khi các luân xa được khai mở, cũng là lúc mà sự tiến hóa tâm linh của con người càng thêm rõ nét, các phần ở nảo bộ của con người luôn được tiếp nối vào nguồn năng lượng vô biên, mà Thầy thường gọi là NLVT hay Năng Lượng của Thượng Đế. Cũng vì vậy ma 2 chúng ta có được băng tần tổng hợp qua sự rung động của luàn xa 6 và đây cũng là then chốt cu6a vấn đề: TSLHN.

Chúng ta đang ở trong thời kỳ đầy mọi hổn loạn, con người lúc nào cũng bận tâm và lo lắng . Trong mọi trường nầy là cơ hội cho chúng ta học hỏi cái xấu cái tốt, học hỏi cái thiện cái ác, học hỏi cái thanh cái trược….chúng ta phải biết chấp nhận và học những gì xãy đến với chúng ta , vì bài học nào cũng cần thiết cho sự tiến hóa. Nếu cảm thấy hoang mang và giao động thì hãy nhớ rằng THượng Đế và các Đấng luôn ở bên ta ( đó là luân xa 6 ) để hổ trợ ta trên bước đường tiến hóa./.

<Bình Minh trích từ Mel Center >
May 2013
M T W T F S S
April 2013June 2013
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31