My Opera is closing 3rd of March

maychieuwifi

NHÀ PHÂN PHỐI MÁY CHIẾU SONY, PANASONIC VÀ THIẾT BỊ VĂN PHÒNG GIÁ TỐT NHẤT VIỆT NAM...HOTLINE : 0907 399 279 - 098 68 39 686

Subscribe to RSS feed

CÀ PHÊ CA LI...

Ngồi quán cà phê mỗi sáng là thói quen của nhiều đàn ông, con trai trước khi đi làm. Đến quán cà phê không phải chỉ uống cà phê. Đúng vậy! Tại quán cà phê còn nhiều thức uống khác, như nước trái cây xay (nước sinh tố) kem và v.v.

Đến quán cà phê cũng không phải nhất thiết uống cà phê vì ghiền. Đến quán cà phê tại các khu phố Việt tại Mỹ còn có thể đánh cờ, coi các trận đấu thể thao, đánh số đề …chơi lô tô, và cuối cùng – rất quan trọng – rửa mắt (ngắm các bóng hồng).

Tại San Jose quán cà phê đã xuất hiện rất sớm, những quán cà phê lúc đầu đơn giản đã mở cửa từ khi có bước chân người Việt đến định cư. Ban đầu, theo lời “Người di cư nhức đầu vừa phảI” kể rằng “Chúng tôi tìm đến nhau chớ không phải vì ghiền uống café.” Cái quán có thể là một căn phòng nhỏ trong khu chung cư, hoặc một cái garage ở một góc phố thuận tiện gần nơi có đông đảo người Việt ngụ cư. Nhiều người Việt “cố cựu” cho biết, vào những ngày đầu của cơn quốc biến, nơi xứ lạ, người “Di Tản Buồn” ly hương thường tìm đến nhau để chia xẻ tâm tình, hỏi thăm tin tức và tìm hơi ấm của người đồng hương, thì quán café là nơi thuận tiện nhất. Địa điểm của quán không cần sang trọng, không cần ở trong thương xá hay shopping center. Quán nằm ở đâu cũng có khách tìm đến. Cái thuở đó, sau năm 75 ở San Jose, khách đến quán không cầu kỳ đòi hỏi nhiều. Khung cảnh quán còn mang đậm nét Việt Nam. Khung cảnh của quán càng nhiều chất VN càng thu hút. Từ bàn ghế, cái phin pha café nhỏ giọt, trên chiếc muỗng cho một tí ti “bơ”, và nhất là không thể thiếu sữa đặt có đường … Từng ấy thứ có thể giữ khách lại hàng giờ, và sẻ trở lại trong nhiều lần.

Khách hàng đến quán cà phê vào dạo ấy là những anh trung niên, những vị cao niên (vì lớp trẻ chưa ra đời). Đến quán là để tìm chút hơi ấm quê hương. Những quán cóc đầu tiên nằm trên đường số 9, đường 13, đường William. Ông Đà Lạt, bà Kim Hương, quán Văn … là một trong những “chủ nhân” đầu tiên.

Theo thời gian, mọi chuyện đều thay đổi, thay đổi dễ nhận ra là cảnh quan của quán. Là những trang bị “hiện đại, tân kỳ” hơn. Quán cần có nhiều màn ảnh lớn, càng có nhiều TV càng tốt, ngoài món ruột là cà phê, quán cần trang bị thêm các bàn chơi games, bán vé số Loto …và không thể thiếu: tiếp viên trẻ đẹp…v.v.

Tại Nam California, Little SàiGòn, dân số Việt Nam chừng trên 300,000 người, nhu cầu nhiều, và quán cà phê là không thể thiếu. Thập niên 75-85 có hàng vài chục quán café với đầy đủ tính chất Việt Nam. Di tản có thể bỏ lại tất cả, nhưng cái quán cà phê không thể không mang theo. Nam Cali có Diễm, Lục Huyền Cầm, Tao Nhân v.v và v.v. Các quán cà phê mang đậm màu sắc quê hương với nhạc Trịnh, các tiếng ca Khánh Ly, Lệ Thu…Quán còn là nơi tập họp của các tao nhân mặc khách, những buổi ra mắt sách, ngâm thơ, trình diễn văn nghệ. Quán cà phê là nơi dừng chân của bao khách giang hồ lưu lạc. Quán cà phê là nơi chốn (có thể nói là nơi dành riêng) cho các buổi sinh hoạt văn hóa, quán cà phê Việt thời “khai hoang” ở Mỹ rất ư là đẹp, rất ư là Sài Gòn.

Theo thời gian, vào những năm sau 90’s, thời “hậu hiện đại” các quán cà phê cũng theo đà “đổi mới” để đáp ứng nhu cầu mới “cấp thiết” hơn. Các quán cà phê không còn là nơi chốn “văn nghệ”, quán cà phê chỉ dành riêng cho các đấng mày râu. Người ta không còn mời nhau đến quán cà phê, trai thanh gái lịch không còn hẹn hò nơi các quán cà phê, sách báo, thơ văn, chữ nghĩa đã rời quán cà phê “di tản,” “tái phối trí” ở một nơi chốn khác.

Tại Nam Cali, quán cà phê Dĩ Vãng là một “mô hình” mới của sự “đổi mới”, một cách làm ăn “tiếp thị” mới để xứng đáng với sự “đổi mới”. Dĩ Vãng rất được chú ý, nó “danh trấn giang hồ” các tiểu bang xa về thăm “thủ đô” đều nhắc đến nó, và muốn được đi một lần cho biết.

Người ta đến đó không phải để thưởng thức ly cà phê, nhưng đến để ngắm các người đẹp. Một khách cho biết ý kiến: “Gái ở đây vừa cao, vừa thon gọn, vừa đẹp …nhất là cách ăn bận thì hết chỗ …ngó lơ.” (Theo một vài số liệu ‘thống kê’ không chính thức thì các tiếp viên làm việc ở đây không người nào có mức lương không dưới 4 ngàn ‘tiền tươi’. Để có một sự lượng định khá chính xác, người ta làm một sự so sánh thì: Lương của một kỹ sư vào thời điểm đó khoảng 4,000 đô la chưa trừ thuế.) Các tiếp viên ở đây chạy xe “xịn,” ăn bận thời trang. Một thời hoàng kim của quán cà phê?)

Miền Bắc California, hiền thục hơn, “phát triển” chậm hơn. Các quán cà phê tại San Jose (theo số liệu quảng cáo trên các báo, đài phát thanh, niên giám: San Jose 31 quán, San Francisco 4 quán, Oakland 10 quán, Sacramento 3 quán. Con số này có thể lớn hơn) vẫn còn mang hơi ấm của quán cà phê. Có nghĩa là, quán cà phê vẫn là nơi lui tới của những khách văn nghệ, của nhà văn, nhà thơ, ông lão, thanh niên nam nữ, sinh viên học sinh. Quán cà phê còn là nơi chốn thanh lịch mãi cho đến năm 90. Nhưng (một chữ nhưng quái ác) thời gian đã làm thay đổi tất cả. Hiện nay, quán cà phê không còn như xưa. Những tên gọi thơ mộng dành để đặt tên cho quán không còn nữa. Quán cà phê, nói một cách đời thường thì đang “xuống cấp” trầm trọng. Những buổi sinh hoạt văn nghệ không còn được tổ chức ở quán cà phê nữa, nó như “khủng long” đã tuyệt chủng. Quán cà phê thời “hậu hiện đại” là những nơi “thông tục” rất đời thường với các ghế ngồi lỏng lẻo, ồn ào, xô bồ xô bộn. Sinh viên, học sinh không còn dám hẹn nhau ra quán cà phê. Bây giờ quán là nơi chốn dùng để ngồi đồng, trao đổi chuyện làm ăn, là đánh lô-tô, chơi game, hoặc để giết thì giờ.

Những quán cà phê tại San Jose: Heo May, Lang Thang, Cheo Leo, Vỉa Hè, M. Cà-phê, Cà-Phê Nguyên v.v. Những quán này theo thời gian và nhu cầu đã có những “M” rất mát mẻ “diễu hành” qua lại “vui lòng khách đến.” Sự mát mẻ của các “M” đôi khi rất “lồ lộ một toà thiên nhiên.”

Trở lại, những năm cuối thế kỷ XX, kinh doanh quán cafe là “một vốn 4 lờI” mau giàu và “phất” lên như diều gặp gió. Theo sự tìm hiểu của phóng viên thì “mô hình” tiếp viên trẻ đẹp rất ăn khách. Quán QH (nay đã đóng cửa) là một điển hình. Người ta kể lại những tiếp viên xin vào làm nơi quán này, sau khi được chủ nhân “interview” xong, nếu được nhận vào làm, thì chủ nhân ứng ra một số tiền để tiếp viên “sửa sang” lại dung nhan cho “hợp với nhu cầu thời đại mớI”. Mua y phục, sửa nhan sắc, học cách chiêu đãi khách hàng v.v. Quán thu hút nhiều giới đến đây ngồi đồng. Buổi sáng là những thanh niên, buổi trưa là những trung niên, và buổi chiều tổng hợp mọi loại khách hàng. Một doanh nhân của một công ty lớn mời bạn đi ăn trưa, anh đã đưa bạn ra quán QH. Anh cười nói “Đi ăn ở đây thì món ăn không ngon lắm, nhưng món khác thì tuyệt vời.” Anh nháy mắt cười. Có đến quán mới biết, sự tuyệt vời của quán là rất “thoáng mát”, các tiếp viên có đủ y phục “truyền thồng” là áo dài, áo ngắn nhưng thà đừng bận còn hơn. Quần áo rất “thoáng”. Kinh doanh đang trên đà phát triển thì quán bị đóng cửa. Nhiều tin đồn chung quanh việc đóng cửa của quán, không biết tin nào đáng tin cậy. Sau QH là quán RR đi theo “mô hình” của QH, rồi cũng đóng cửa. Có một dạo, các tên tuổi các quán cà phê LT, CL, BG đã gây nhiều tai tiếng với các vụ nổ súng, thanh toán nhau.

Hiện nay, năm 2006, các quán café không còn theo một mô thức nào nhất định, tuy nhiên việc kinh doanh vẫn là một thị trường béo bở. Trong lãnh vực kinh doanh quán cà phê, có người dùng âm thanh; có người dùng ánh sáng và trang trí; có người nhờ vào sự hấp dẫn, duyên dáng của tiếp viên; có người dùng phẩm chất của cà phê để thu hút khách. Và dùng bất cứ cách nào thì quán cà phê vẫn là nơi hội ngộ của văn chương và âm nhạc (định nghĩa này dựa theo ý kiến và quan niệm riêng của khách hàng cà phê trước năm 1975 ở Sài gòn.)

Sài Gòn xưa, hầu như mọi người đều biết uống cà phê, giới bình dân thì vào quán cóc, ngồi ghế thấp, uống bằng ly thủy tinh (còn có tên quen thuộc là “xây chừng”) hoặc bằng dĩa; một giới khác, đi uống cà phê là thưởng thức hương vị của cà phê và không khí của quán, bên cạnh đó thưởng thức nhạc hay, nghe đọc sách hoặc trao đổi chuyện văn chương. Những tên tuổi đã đi vào lòng giới văn nghệ Sài Gòn như Pagode, Hầm Gió, Da Vàng, Hương Xưa, Nắng Mới…

Cà phê tại Mỹ trong cộng đồng VN không còn những đìều bất thành văn đó nữa. Hiện nay, khách đến quán cà phê dường như không phải để uống cà phê, nhưng đến vì thói quen, đến để gặp bạn bè tán gẫu, trao đổi làm ăn, hoặc đến để “nghía” các tiếp viên và đi về. Cà phê Việt trên đất Mỹ không là “café” đúng nghĩa, cà phê Việt ở Mỹ là “café kho” , café tiền chế, café “đại trà”; và như thế, dù quán cà phê ở Mỹ có hiện đại, có trang trí “hoành tráng” hay thô sơ vẫn ở “cấp độ” của một cái quán cóc với cà phê bít-tất. Quán cà phê không còn lưu lại ở nơi người khách những kỷ niệm.

Để kết thúc bài viết này, xin được trích một đoạn của nhà văn Nguyễn Mạnh An Dân viết về cà phê Sài Gòn: “Ở mỗi hẻm nhỏ, mỗi góc phố, mỗi hàng cây, mỗi cổng trường đều thấp thoáng bóng hình của tuổi nhỏ, của quê xưa. Tôi xin nhắc là anh em nào muốn gặp các nhà văn nhà thơ, muốn nhìn họ ngậm ống vố, đeo kiến cận nói chuyện văn chương thì mời đến quán Cái Chùa, anh em nào muốn có không khí trẻ trung đầm ấm mời đến Hầm Gió; anh em nào muốn có chỗ riêng tư tâm sự thì cứ theo đường Nguyễn Văn Học chạy tuốt lên Gò Vấp, vào quán Hương Xưa, ở đó có vườn cây đẹp, cô chủ đẹp và cái cách người ta đối với nhau cũng rất đẹp. Tất cả những gì tôi nhắc tới là một chút ngày cũ, một chút cảnh xưa, một phần hơi thở và nhịp sống của Sài Gòn trong trí nhớ.”