Một số vấn đề về đất đai

Subscribe to RSS feed

Luật tự nhiên – Luật cũ- Luật mới (Lex Naturalis, Loi Naturelle, Natural Law)

A. LUẬT TỰ NHIÊN
Luật tự nhiên trong tiếng Việt tương đương với lex naturalis trong tiếng Latinh, (loi naturelle tiếng Pháp, natural law tiếng Anh); và cũng có thể dịch là luật thiên nhiên hay bản nhiên. Trải qua lịch sử, có nhiều quan niệm khác nhau về luật tự nhiên.
I. LỊCH SỬ
1. Vấn đề của luật tự nhiên bắt đầu từ các triết gia Hylạp cổ thời. Tại đây cũng như tại nhiều nơi khác trên thế giới, những người cầm quyền tự coi mình thay Trời trị dân. Thế nhưng không thiếu lần họ ra những luật lệ chẳng hợp ý Trời chút nào hết. Để phản đối lại các quyết định độc đoán ngạo mạn ấy, Antigone, Socrate khẳng định rằng các nhà cầm quyền không thể tự đồng hóa với Trời được: các luật lệ mà họ ra có thể là phi pháp nếu đi ngược với luật của Trời. Các triết gia gọi quy chuẩn tối cao ấy là luật tự nhiên. Thế nhưng, khi giải thích bản chất và nguồn gốc của luật tự nhiên thì có rất nhiều thuyết khác nhau. Platon thì đặt nó trong thế giới của ý luận, và chỉ có các triết gia mới khám phá được. Còn Aristote thì đặt nền tảng của luật tự nhiên trong chính bản tính của con người (natura humana).
2. Trong khi mà tại Hylạp vấn đề luật tự nhiên được đặt ra để kháng cự lại những luật bất công của nhà nước, thì tại Rôma, vấn đề được đặt ra hơi khác. Tại đây, các công dân Rôma được điều hành do dân luật (ius civile, ius civium); thế còn tương quan với các dân khác sẽ do luật gì chi phối? Các pháp gia trả lời: do luật chư dân (ius gentium). Nói khác đi, ngoài dân luật do nhà cầm quyền đặt ra và có giá trị trong nước, còn có một luật khác có tính cách phổ quát hơn, chi phối tất cả các dân trên thế giới.
3. Các giáo phụ Kitô giáo đã lấy lại tư tưởng của các triết gia Hylạp và Rôma (Seneca, Cicéron), nhưng lồng trong khung cảnh mới của mối tương quan giữa Thiên Chúa với con người. Luật tự nhiên được coi như là một hình thức mạc khải tự nhiên của Thiên Chúa, nhờ đó con người biết được điều tốt điều xấu để mà làm hay tránh. Thánh Augustinô (và các học phái tiếp theo) đồng hóa luật tự nhiên với lương tâm, theo nghĩa là ý thức về những bổn phận phải làm hay phải tránh; luật tự nhiên là nền tảng cho các luật lệ chế định (lex posivita). Luật tự nhiên đã được Chúa mạc khải cho con người ngay từ buổi tạo dựng; nhưng sau đó do tội nguyên tổ, con người dần dần mất ý thức về luật ấy cho đến lúc Chúa Kitô, nhờ công cuộc cứu chuộc, đã lập lại nó. Luật tự nhiên được tu chính bởi Phúc âm.
4. Qua Thời trung cổ, thánh Tôma Aquinô quan niệm luật tự nhiên cách khác. Dĩ nhiên, theo truyền thống của các giáo phụ, Tôma cũng coi luật tự nhiên như là biểu thị của đường lối Thiên Chúa đối với con người. Tuy nhiên Tôma không quan niệm rằng đó là một bộ luật đã được Chúa ban hành cho nhân loại vào hồi sơ khai trước khi phạm tội. Tôma hiểu luật tự nhiên như là luật dựa trên bản tính con người do Thiên Chúa tạo dựng. Con người, nhờ lý trí, có thể khám phá ra bản tính ấy, biết được điều gì hợp với bản tính, và điều gì trái với nó. Thực vậy, con người không những đã có khuynh hướng về điều thiện nói chung, nhưng còn có khả năng nhận biết điều thiện hảo cho bản thân, chủng loại (tỉ như bảo vệ sự sống cá nhân, truyền sinh và giáo dục con cái, sống hòa hợp với Đấng Tạo Hóa, với tha nhân trong xã hội). Tưởng cũng nên biết là theo Tôma, luật tự nhiên chưa phải là một mớ những mệnh lệnh chi tiết rõ ràng, bất biến. Đúng hơn, nó bao gồm một số giá trị phổ quát; và sau đó, lý trí con người sẽ tìm cách ứng dụng vào những hoàn cảnh khác nhau. Thế nhưng, khi áp dụng những giá trị phổ quát vào những điều kiện cụ thể, con người không tránh khỏi những do dự và sai lầm.
5. Occam đã đảo lộn thứ tự vừa nói: Occam hạ giá của lý trí xuống, không nhìn nhận cho nó cái khả năng để khám phá ra sự thực. Đối lại, Occam đề cao vai trò của ý chí trong luật lệ: điều tốt hay xấu không phải là tự bản chất của nó tốt hay xấu, nhưng là chỗ có hợp với ý chí của nhà lập pháp hay không. Occam đi tới lý luận cực đoan như thế này: nếu Chúa truyền cho mình ghét Chúa thì mình cũng phải vâng theo. Trong bối cảnh đó, không lạ gì mà Occam quan niệm rằng luật tự nhiên là những mệnh lệnh mà Thiên Chúa đã ấn định cho con người. Vai trò của lý trí là đi từ những quy tắc nguyên thủy ấy để rút ra những quy chuẩn khác để mà hành động.
6. Trong thời cận đại, quan điểm về luật tự nhiên lại thay đổi. Tuy vấn đề luật tự nhiên vẫn còn được sử dụng để đối kháng lại các luật lệ bất công của nhà nước, nhưng các triết gia về pháp luật không còn quan niệm nó như tiếng nói của Trời nữa, nhưng là đi từ bản chất của con người, trong trạng thái tự nhiên trước khi kết ước sống thành xã hội. Tuy rằng thuyết này đã được dùng làm nền tảng cho bản Tuyên ngôn các quyền tự do con người vào thời cách mạng Pháp, nhưng quan niệm luật tự nhiên như là luật mà con người sống trong tình trạng sơ khai đã làm giảm giá nó khá nhiều, khi người ta tự hỏi: Tại sao con người ở thời đại văn minh lại phải trở về tình trạng cổ lỗ man rợ làm gì? Đây là luận cứ của bao nhiêu chế độ độc đoán muốn loại bỏ luật tự nhiên, để dễ áp đặt các luật lệ mà họ đặt ra, coi như là tối cao tuyệt đối rồi. Thế nhưng, như chúng ta đã biết, trước những tội ác của các chế độ phát xít quân phiệt của thời đại chúng ta, công luận đã nhận thấy rằng cần phải có những quy tắc nào cao hơn để kiểm soát và chế tài các luật lệ của nhà nước. Một lần nữa, giống như thời thượng cổ Hylạp, cần phải tìm về luật tự nhiên. Nhưng luật tự nhiên là gì? Đây là những vấn đề đặt ra cho thần học luân lý.

II. NHỮNG VẤN ĐỀ THẦN HỌC CHUNG QUANH LUẬT TỰ NHIÊN

Kinh thánh có nói đến luật tự nhiên hay không? Dĩ nhiên, có lẽ trong Kinh thánh không thấy xuất hiện từ ngữ ấy, và nhất là Dân Do thái cũng như Dân Kitô giáo tìm thấy mẫu mực hành động nơi Giao ước chứ không phải chỉ nơi luật tự nhiên. Thế nhưng, tư tưởng về luật tự nhiên không phải là không có trong Kinh thánh. Không thiếu học giả Kinh thánh coi 10 điều răn của Chúa là những quy định của luật tự nhiên. Thêm vào đó, thánh Phaolô, nhìn nhận rằng dân ngoại đã được Chúa ban cho luật luân lý để biết đường cư xử; tiếc rằng chẳng mấy ai tuân theo cả. Dựa vào đó, Luther và các tác giả Tin lành không đánh giá luật tự nhiên, bởi vì theo họ, con người đã sa đọa mù quáng, nên không còn biết luật tự nhiên là gì nữa.
Trong thần học luân lý công giáo ngày nay, có thể nói được là vấn đề luật tự nhiên được đặt lên dưới ba khía cạnh sau đây, tương đương với ba cách hiểu tiếng “natura, naturalis":
a. luật tự nhiên đối lại với luật siêu nhiên;
b. luật tự nhiên đối lại với luật chế định;
c. là luật nằm trong bản chất của sự vật.

1. Tự nhiên (naturalis), đối với với siêu nhiên (super-naturalis). Luật tự nhiên được coi như sự mạc khải tự nhiên, nghĩa là tiếng gọi của Thiên Chúa dành cho hết mọi người. Hiểu như vậy, có thể coi luật tự nhiên như là tiếng lương tâm, thôi thúc con người hành động có trách nhiệm, sử dụng lý trí của mình để nhận biết đường ngay nẻo chính. Dưới khía cạnh này, luật tự nhiên là nơi mà các tín hữu Kitô giáo có thể gặp gỡ đối thoại với các người thuộc các tôn giáo khác, cũng như cả với những người không theo tín ngưỡng nào, để cùng tìm ra một cách thế cư xử luân lý.

2. Tự nhiên (naturalis) đối lại với chế định (hay thiết định, thực tại, positiva). Luật tự nhiên khắc trong tâm khảm con người, đối lại với những luật lệ thành văn của các nhà cầm quyền. Dưới khía cạnh này cũng có thể coi luật tự nhiên như là lương tri: con người cần phải biết sử dụng lý trí của mình để xét đoán phải trái, nhờ đó không những có thể phê phán về các hành động của mình mà cả những luật lệ của xã hội nữa, xem chúng có hợp với luân lý, với công bằng hay không.

3. Tự nhiên (naturalis) theo nghĩa là thiên nhiên hay bản chất (natura). Trong hai khía cạnh trên đây, chúng ta thấy rằng luật tự nhiên phần nào đồng hóa với lương tâm. Còn khía cạnh thứ ba thì nhấn mạnh đến một tiêu chuẩn khách thể. Thực vậy, lương tâm, lương tri hay lý trí là cơ quan để nhận định điều phải điều trái; thế nhưng, dựa vào tiêu chuẩn gì để mà phán đoán nhận định. Câu trả lời là tìm nơi bản chất của sự vật (natura rei), tức là hoặc qua sự tìm hiểu thiên nhiên vũ trụ, hoặc là học hỏi chính bản tính của con người. Đó là nói trên nguyên tắc, chứ trên thực tế thì chúng ta biết rằng sự hiểu biết của khoa học về thiên nhiên và về vũ trụ vẫn còn ở giai đoạn khởi đầu: cứ xem các tiến bộ của các khoa thiên văn, vật lý, hóa học thì biết. Điều tương tự cũng có thể nói về sự hiểu biết về bản chất của con người, với những tiến bộ không những về tâm lý mà còn về y học, sinh vật học.
Dưới khía cạnh thứ ba này, có vấn nạn sau đây được đặt lên chung quanh sự “hiểu biết” về luật tự nhiên. Rằng chúng ta chấp nhận có một luật tự nhiên, do chính Đấng Tạo Hóa xếp đặt; nhưng những gì mà chúng ta học biết từ xưa tới nay đã phản ánh trung thực tới mức nào của luật tự nhiên? Nói cách nôm na hơn: sự hiểu biết của chúng ta ngày hôm nay về luật tự nhiên thực sự phản ánh bao nhiêu phần trăm cái luật tự nhiên? Có thể xảy ra chuyện rằng hiện thời chúng ta lầm tưởng rằng mình đã biết tới 90% rồi, nhưng sang thế kỷ tới, hậu thế sẽ chê chúng ta chưa biết hết luật tự nhiên? Đó là những câu hỏi được nêu lên chung quanh các phương pháp ngừa thai: thế nào là phương pháp hợp với thiên nhiên, thế nào là đi ngược với thiên nhiên; rồi từ đó lan ra các câu hỏi khác về luân lý phái tính (tỉ như đồng tính luyến ái) và ngày nay trong khía cạnh y học (thụ thai nhân tạo).
Tuy nhiên, dầu rằng đang khi mà trong nội bộ GH có những cuộc tranh luận về thẩm quyền của Quyền giáo huấn đối với luật tự nhiên, thì về phía đối ngoại, ai ai cũng đồng ý rằng GH phải lên tiếng nhiều hơn nữa để bảo vệ phẩm giá con người, bảo vệ nhân quyền. Thế nhưng nhân quyền dựa vào đâu nếu không phải trên bản tính của con người, những quyền lợi bất khả xâm phạm, dựa trên bản tính và phẩm giá của con người? Dù sao thì nhân quyền chính là một ngôn ngữ mới của luật tự nhiên vậy.

III.Vài nguyên tắc luân lý căn bản của sinh hoạt chính trị

Học thuyết xã hội của GH giả thiết rằng con người cần phải sống trong xã hội, và xã hội cần có một quyền bính (GS 25). Chúng ta không thể nào chấp nhận thuyết vô chính phủ (anarchisme), vì nó dễ đưa tới chế độ luật rừng. Những nguyên tắc phát biểu sau đây đặt ra những tiêu chuẩn trong việc tổ chức trật tự xã hội.

1. Trật tự xã hội cần được dựa trên bốn cột trụ sau đây: chân lý, công bằng, tình yêu và tự do.
a. Nói tới chân lý (sự thực) có nghĩa là tránh những gì gian dối, úp mở. Áp dụng vào lãnh vực chính trị, chân lý đòi hỏi phải hành động thẳng thắn sáng sủa, dưới ánh sáng mặt trời, chứ không phải lén lút, âm mưu xảo quyệt. Chân lý đòi hỏi quyền được thông tin trung thực.
b. Công bằng, nghĩa là của ai thì phải trả cho người ấy. Công bằng xã hội không những chỉ đòi hỏi cấm trộm cắp nhưng còn phải lưu ý tới hạng người thấp cổ bé họng, đã bị tước lột tất cả những quyền lợi căn bản của họ. Công bằng cũng bao hàm quyền của các công dân được tham gia vào việc điều hành quốc gia.
c. Tình yêu. Lịch sử cho thấy rằng tình yêu hay bác ái đã đi trước dọn đường cho công bằng. Một vài trợ cấp trước đây được coi như là do lòng nhân đạo nhưng dần dần đã trở thành quyền lợi xã hội. Dù vậy, công bằng không bao giờ nên tách rời khỏi bác ái: một xã hội chỉ biết có công bằng mà không đếm xỉa tới bác ái thì sẽ biến những tương quan xã hội thành chế độ bàn giấy, thành những tranh chấp quyền hành hay quyền lợi.
d. Tự do. cần phải nhìn nhận cho các công dân sự tự do đến mức tối đa; sự tự do chỉ bị hạn chế khi công ích đòi hỏi. Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ có quan điểm rằng: Tự do là một yêu sách của phẩm giá con người: những chế độ hạn chế quyền tự do nhân danh một thứ trật tự mà chính họ áp đặt thì sớm muộn gì không những sẽ sụp đổ mà còn lôi cuốn theo sự băng hoại của xã hội nữa. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể bỏ qua sự kiện lịch sử là CNCS đã vượt ra ngoài ranh giới trong quá khứ khi mà tại các nước mệnh danh là tự do đã làm biến dạng ý nghĩa của từ ngữ này: hoặc là tự do chỉ nằm trong tay một thiểu số còn đa số thì làm nô lệ; hoặc là tự do đồng nghĩa với phóng túng lăng loàn không còn đếm xỉa gì đến chân lý, công bằng và yêu thương. Vì vậy, sự tôn trọng tự do phải được phát biểu cụ thể qua sự bảo vệ nhân quyền.

2. Con người cần tới xã hội để phát triển; và mục tiêu của xã hội nhằm phụng sự con người. Con người phải là nguyên ủy, chủ thể và cứu cánh của các thể chế xã hội. Giao điểm giữa cứu cánh của con người với cứu cánh của xã hội là công ích. Khái niệm về công ích gồm ba yếu tố chính sau đây:
a) Tôn trọng và cổ võ các quyền căn bản của con người;
b) Việc phát triển những nhu cầu tinh thần và vật chất của xã hội;
c) Hoà bình và an ninh của xã hội và của các phần tử.

3. Không thể hoàn toàn đồng hoá xã hội với quốc gia hay nhà nước. Quốc gia là một cấp của xã hội, quen gọi là xã hội chính trị (societé politique). Ngoài xã hội chính trị còn có những xã hội dân sự khác nữa, thí dụ gia đình, hiệp hội, tôn giáo. Trong các xã hội sơ khai cổ truyền (thí dụ như trong các bộ lạc) không có sự phân biệt ấy; nhưng với những xã hội tân tiến và đa diện ngày nay, sự phân biệt ấy ngày càng rõ rệt. Sự phân biệt giữa quốc gia với nhà nước cũng đã được các pháp chế dân chủ nhìn nhận: nhà nước ám chỉ bộ máy pháp lý quyền hành của quốc gia; bộ máy ấy có thể thay ngôi đổi chủ hay biến dạng, còn quốc gia dân tộc là cái gì bền vững trường tồn. HTXH Giáo hội chống lại tất cả mọi chủ nghĩa toàn chế (totalitarisme), khi đặt nhà nước làm tiêu chuẩn pháp lý tối thượng, không đếm xỉa gì tới Thiên Chúa, luật tự nhiên, lương tâm con người: những chế độ định đoạt tất cả các sinh hoạt không chừa chỗ cho những xã hội khác (gia đình, hiệp hội). Đối lại, HTXH khẳng định rằng còn có một thứ luật cao hơn luật nhà nước (luật luân lý, luật tự nhiên), đàng khác đề ra nguyên tắc hỗ trợ (subsidiarité)...


B. NHÂN PHẨM VÀ NHÂN QUYỀN

1. Phẩm giá “tự nhiên” của con người
Phẩm giá tự nhiên, nghĩa là phẩm giá nội tại con người có, duy chỉ vì nó là người, không phải do xã hội hay quyền bính nhân loại nào ban cho. Phẩm giá tự nhiên, do đó, cũng có nghĩa là lý trí con người có thể nhận ra nó.
Con người là một sinh vật trong thiên nhiên và là một phần của thế giới vật chất, nhưng đồng thời lại vượt lên trên nó nhờ trí khôn và tự do. Bằng chứng là con người có khả năng hiểu biết thiên nhiên, và nhờ đó có thể biến đổi thiên nhiên, sử dụng thiên nhiên theo ý mình, nghĩa là làm chủ nó. Triết học từ xa xưa đã định nghĩa con người là con vật có lý trí. Và dân gian cũng nói như thế (chẳng hạn trong chuyện ngụ ngôn thi vị Con cọp và người nông phu). Khi ĐGH Gioan-Phaolô II quả quyết “con người là trung tâm và đỉnh cao của mọi thụ tạo trên trái đất”, thì đó không hẳn là một khẳng định của giáo lý và chắc hẳn bất cứ ai cũng có thể chấp nhận, dù không tin vào một Thiên Chúa tạo thành. Đàng khác, nhờ trí khôn và tự do, con người là động vật duy nhất trên trái đất có một đời sống tinh thần và đặc biệt là đời sống đạo đức, luân lý. “Con người không coi mình chỉ như một mảnh vụn của thiên nhiên hay một yếu tố vô danh trong xã hội loài người”. Mọi vật có thể được sử dụng như phương tiện cho con người nhưng chính con người thì không là phương diện cho bất cứ vật nào khác. Mỗi người đều có phẩm giá riêng làm cho họ luôn luôn là một giá trị tự nơi bản thân mình và cho bản thân mình; nhờ phẩm giá đó, họ vượt lên trên thế giới vật chất về mặt giá trị.

Một trong các châm ngôn của nền đạo đức học của triết gia Emmanuel Kant (1724-1804) là: “Bạn hãy kính trọng nhân tính (con người) như một cứu cánh, không bao giờ đối xử với nó như một phương tiện”. Đó là một nền đạo đức rất cao cả, dựa hoàn toàn trên lý trí hay bản tính nhân loại. Kant đối chọi “phẩm giá” hay “phẩm cách” (dignity) với “trị giá” (price): trị giá là một giá trị mà người ta có thể tìm được cái gì tương đương với nó (ví dụ trị giá của một tác phẩm nghệ thuật), còn phẩm giá là cái làm cho mỗi con người là “độc nhất vô nhị”, không thay thế nổi. Con người chỉ có phẩm giá, không có trị giá. Người ta không được phép nhìn con người theo khía cạnh duy lợi ích; không được dùng con người làm phương tiện để đạt tới điều gì khác, chẳng hạn để mua vui, hay ngay cả để phục vụ công ích xã hội hoặc phục vụ tiến bộ khoa học.

2. Phẩm giá “siêu việt”
Những điều nói trên về nhân phẩm theo quan điểm triết học không bị chối bỏ trong cái nhìn của đức tin, trái lại còn được nâng lên tới tột đỉnh. HTXH khẳng định phẩm giá con người là siêu việt và có giá trị siêu việt vì được đặt cơ sở trên chính mầu nhiệm Tạo thành và mầu nhiệm Cứu chuộc
- Con nguời nhìn trong trật tự tạo thành
Phẩm giá siêu việt của con người phát xuất trước tiên từ việc con người được Thiên Chúa dựng nên theo hình ảnh của Người và giống như Người...
Truyền thống thần học thường giải thích theo ba nghĩa (x. Homme/Image de Dieu, trong: Dictionnaire de Théologie, Cerf, Paris 1988):
- Một là con người có khả năng đi vào một mối tương quan cá vị với Thượng đế, khả năng đối thoại với Người;
- Hai là con người có khả năng tự lập, tự trị (autonomie), tự quyết và một sự tự do đồng sáng tạo (liberté co-créatrice) nào đó;
- Ba là con người có khả năng làm chủ, tức là thống trị và biến đổi vạn vật.

-Hai quan niệm giản lược về con người

a. Ngoài định nghĩa đã nêu về con người (là con vật có lý trí), triết học còn định nghĩa con người là con vật xã hội. Chiều kích xã hội là một chiều kích thiết yếu của con người. HTXH cũng khẳng định như vậy,VÀ còn có thể đi đến tận nền tảng sâu xa nhất của xã hội tính của con người.
Theo ĐGH Gioan-Phaolô II,“HẠN CHẾ căn bản của CNXH là ở quan niệm về con người” khi “coi cá nhân chỉ đơn giản là một nhân tố, một phần tử trong cấu trúc xã hội”, tương tự như một bộ phận trong một guồng máy hay một hệ thống, “đến nỗi điều thiện hảo (bonum) của mỗi người hoàn toàn tùy thuộc vào hoạt động của bộ máy kinh tế và xã hội”, thậm chí “chính điều thiện hảo ấy cũng có thể có được mà không cần đến chọn lựa tự do của cá nhân, không cần quyết định duy nhất, tuyệt đối và có trách nhiệm [của cá nhân] trước điều thiện hay điều ác. Như thế, con người chỉ còn là một tổng hợp [tổng hòa] những tương quan xã hội, và lúc ấy con người không còn được quan niệm như một chủ thể có quyền tự quyết về luân lý".

Nguyên nhân sâu xa của sai lầm trên là thuyết vô thần.HTXH giải thích: “Việc phủ nhận Thiên Chúa cắt đứt con người khỏi gốc rễ của mình,và vì thế, khuyến khích việc tổ chức lại trật tự xã hội mà không đếm xỉa gì đến phẩm giá và trách nhiệm của ngôi vị” (Bách chu niên, số 13).

b. Sau khi CNXH tan giã ở Đông Âu,không đương nhiên có nghĩa là các nước đang phát triển chỉ còn chọn lựa duy nhất là chủ nghĩa tư bản. Có thể phân biệt hai cách hiểu tên gọi “CNTB”.

Theo cách thứ nhất, “CNTB” chỉ về nền kinh tế thị trường, (cũng có thể gọi là “kinh tế thương mại” hay “kinh tế tự do”), nghĩa là “một hệ thống kinh tế nhìn nhận vai trò căn bản và tích cực của kinh doanh, nhìn nhận thị trường, quyền tư hữu và trách nhiệm về hậu quả đối với các phương tiện sản xuất, cũng như sự sáng tạo tự do của con người trong địa hạt kinh tế”. Hiểu như thế thì, giải pháp CNTB là thích hợp. Còn cách thứ hai hiểu CNTB như “một hệ thống, trong đó tự do kinh tế không hề bị giới hạn trong một khuôn khổ pháp lý vững chắc” –, một khuôn khổ nhằm làm cho tự do kinh tế có thể thực sự phục vụ tự do của con người …TBCN theo nghĩa này thì không thể chấp nhận được (Bách chu niên, số 42, x. TL số 335).

Văn minh Tây phương hiện đại tỏ ra rất đề cao con người, nhưng không phải con người hiểu như ngôi vị mà là con người như cá nhân,- chủ thể của những quyền lợi và bổn phận. Nó có khuynh hướng giới hạn quyền bính của các định chế và truyền thống (gia đình, giáo hội, nhà nước) thường bị coi là “áp bức và ngu dân”, để ưu tiên cho các quyền lợi của cá nhân (chẳng hạn nhìn nhận những cuộc sống chung của hai người đồng phái là hợp pháp như hôn nhân, chỉ vì quyền lợi của những người trong cuộc). Nhưng vì không đề ra được cho các cá nhân một lẽ sống có giá trị, nên lớp trẻ một thời được hưởng thụ mọi tiện nghi của xã hội tiêu thụ, đã quay lại chống chính cái xã hội nuông chiều họ ấy, chống lại mọi biểu tượng của quyền uy (Establishment), đòi bãi bỏ mọi thứ cấm đoán, luật lệ. Dường như họ muốn một sự tự do không hạn chế, dù không biết dùng tự do để làm gì. Phải chăng chủ nghĩa cá nhân của nền văn hóa Tây phương hiện đại là hậu quả kéo dài của chủ nghĩa Tự do (Libéralisme), phát sinh từ phong trào Khai Minh (Enlightenment) của châu Âu thế kỷ XVIII và cuộc đại cách mạng Pháp 1789?

Nền văn minh Tây phương hiện đại nói là đề cao con người, nhưng vì cắt đứt con người khỏi mọi chiều kích siêu việt và những chân lý nền tảng khách quan, nên thực tế nền văn minh ấy lại thường hạ thấp con người, thậm chí chà đạp con người, như lịch sử thế kỷ XX đã cho ta thấy, và như chúng ta vẫn đang thấy diễn ra khắp nơi.

NHÂN QUYỀN

Từ thời Trung cổ Tây phương và cả trước đó, đã có những phác thảo luật pháp về các quyền con người, nhưng phải đợi đến hạ bán thế kỷ XVIII, người ta mới gặp những bản Tuyên ngôn nhân quyền đầy đủ.
Trước hết là bản Tuyên ngôn độc lập của Hiệp Chủng Quốc ngày 4.7.1776, cũng như những bản Tuyên ngôn lập hiến khác về quyền của các tiểu bang thuộc liên bang Hoa-Kỳ (Virginia, Pensylvania, Maryland và Bắc Carolina năm 1776; Vermont năm 1777; Massachusetts năm 1780; New Hamshire năm 1783). Bản Tuyên ngôn long trọng khẳng định: “Chúng tôi coi là hiển nhiên những chân lý sau đây: Mọi người được dựng nên bình đẳng, được Đấng Tạo Hóa ban cho những quyền bất khả nhượng”. Tuyên ngôn nhấn mạnh đến quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Tiếp đến là Tuyên ngôn quyền Con người và quyền Công dân (Déclaration des Droits de l’Homme et du Citoyen) của Pháp năm 1789. (x. René Coste, L’Eglise et les Droits de l’homme, Desclée Paris 1982, bản dịch Việt ngữ: Giáo Hội và vấn đề nhân quyền, ronéo, không đề tên dịch giả và năm in, tr. 12). Đây là khúc ngoặt quyết định trong lịch sử nhân quyền, vì tuy chịu ảnh hưởng của bản Tuyên ngôn của Hoa-Kỳ, bản Tuyên ngôn nhân quyền này không dựa trên những xác tín tôn giáo nhưng coi nhân quyền là quyền tự nhiên dựa trên bản tính con người. Bản Tuyên ngôn độc lập của Hiệp chủng quốc ra đời trong phong trào đòi tự do dân chủ do những người châu Âu định cư tại Mỹ khởi xướng chống lại chính quyền thuộc địa Anh, còn Tuyên ngôn nhân quyền của Pháp dựa trên trào lưu triết học duy lý thế kỷ XVII và XVIII, được mệnh danh là Triết học Ánh Sáng (philosophie des Lumières). Mặc dù các nhà cách mạng Pháp chỉ muốn dựa trên lý trí và đã quyết liệt chống lại Giáo Hội nhưng chính “sức năng động đặc thù của Kitô giáo”, đặc biệt là “chủ nghĩa nhân bản Kitô giáo thời Phục Hưng” đã góp phần sinh ra bản Tuyên ngôn nhân quyền của họ (x.R Coste, sđd tr.13).

Lý tưởng Tự do, Bình đẳng, Huynh đệ mà nó đề ra, rốt cuộc cũng chỉ dành cho một thiểu số trong xã hội là giai cấp tư sản. Thiếu sót lớn của nó là quan niệm con người như một cá nhân đơn độc và do đó trừu tượng, không phải con người mang tính xã hội, con người liên đới với đồng loại, đặc biệt với người nghèo khổ, người bị bỏ rơi. Thực tế, quan niệm đó đã hỗ trợ cho thuyết Tự do kinh tế tức chủ nghĩa Tư bản, dẫn tới sự ra đời của giai cấp công nhân và việc bóc lột khủng khiếp giai cấp này. Nó cũng đã đẩy mạnh sự ra đời của CNXH, đặc biệt là CNXH mệnh danh là khoa học của Marx và Engels, mà về sau sẽ trở thành chủ nghĩa Cộng sản (hay chủ nghĩa xã hội hiện thực).

Bản tuyên ngôn nổi tiếng của thời hiện đại là Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10.12.1948. Tác giả chính của bản văn này là René Cassin, nhà luật học nổi tiếng người Pháp. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, thế giới đã nhất trí với nhau về một tuyên ngôn khẳng định những quyền căn bản của con người, với xác tín rằng: “Việc nhìn nhận phẩm giá của hết mọi người trong gia đình nhân loại và các quyền lợi bình đẳng, bất khả nhượng của con người là nền tảng để có được tự do, công lý và hoà bình trên thế giới” (Tuyên ngôn, Lời mở đầu). Từ Tuyên ngôn 1789 của Pháp đến Tuyên ngôn quốc tế này, đã có một bước tiến lớn trong ý thức về nhân quyền: thay vì chỉ nhấn mạnh tới các quyền tự do cá nhân, người ta đã đề cao thêm các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá. Về sau, ý thức ấy sẽ còn được mở rộng tới quyền tập thể của các dân tộc, chủng tộc, nhóm dân thiểu số v.v. như quyền được phát triển, được chia sẽ của cải, được hưởng hoà bình (x.René Coste, sđd, tr 27 và 32).
Liên Hiệp Quốc còn tiếp tục công việc phát huy nhân quyền bằng nhiều văn kiện quan trọng khác, như: Hiệp ước về qui chế cho người tị nạn (1951), Hiệp ước về quyền chính trị của phụ nữ (1952), Tuyên ngôn về quyền trẻ em (1959), Hiệp ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá (1966). Tuyên ngôn về quyền của người tàn tật (1975).
Xét về mặt pháp lý, Tuyên ngôn quốc tế chỉ là một nghị quyết, không phải một thỏa ước; nó chỉ nêu một “lý tưởng chung cho mọi dân tộc, mọi quốc gia vươn tới” (Lời mở đầu), do đó cũng chỉ mang hình thức một sức mạnh trị tinh thần mà thôi, nhưng trong thực tế ảnh hưởng của nó rất lớn và không ngừng gia tăng.
Bản Tuyên ngôn quốc tế này đã được đại đa số các nước hoan nghênh, nhưng bị nhiều nước Hồi giáo phê bình vì cho rằng bản Tuyên ngôn không tính đến bối cảnh văn hóa và tôn giáo của các nước ngoài châu Âu. Năm 1981, đại diện Iran tại Liên Hiệp Quốc phát biểu: “Tuyên ngôn là một cách hiểu “thế tục” về truyền thống Do-thái và Kitô giáo; người Hồi giáo không thể áp dụng nó mà không vi phạm Luật căn bản (sharia) của mình.” Đối lại bản Tuyên ngôn của Liên Hiệp Quốc, họ cũng đưa ra bản Tuyên ngôn Cairo về nhân quyền trong Hồi giáo, đuợc Tổ chức các nuớc Hồi giáo biểu quyết ủng hộ ngày 30.6.2000. Bản tuyên ngôn này có những điều phù hợp với bản tuyên ngôn của Liên Hiệp Quốc nhưng cũng có những điều bất cập, ví dụ: Không được ép buộc ai thay đổi tôn giáo mình để theo một tôn giáo khác hoặc trở thành vô thần, nhưng cũng không ai được quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng của mình. Nguyên do của những bất cập nói trên là: tất cả mọi quyền lợi và mọi tự do được nêu lên trong bản Tuyên ngôn đều phải lệ thuộc vào luật Hồi giáo Sharia (Luật căn bản). Nói cách khác nền tảng của các bản Tuyên ngôn nhân quyền của Pháp và của Liên Hiệp Quốc là bản tính con người, còn trong Hồi giáo, luật Sharia là nguồn của nhân quyền.

3. Vài lời về nhân quyền
a- Nền tảng
Nhân quyền đặt nền tảng trên phẩm giá của ngôi vị con người và phát sinh trực tiếp và đồng thời từ chính bản tính của họ, do đó trí khôn có thể nhận thức được, còn đức tin thì mang lại cho chúng một nền tảng vững chắc hơn.
b- Những đặc tính
Vì nằm ngay trong bản tính con người nên các quyền con người là:
- phổ quát, nghĩa là chung cho hết mọi người trong tư cách là người (ai ai cũng có bản tính người như nhau),
- bất khả xâm phạm, không ai được phép xâm phạm vì bất cứ lý do nào,
- và bất khả nhượng, cũng giống như ta không thể nhượng tính người của mình cho ai, và ai cố tước đọat các quyền ấy khỏi người khác là xâm phạm tới bản tính của chính họ.

Giữa con người với nhau luôn luôn tồn tại những khác biệt, đôi khi rất quan trọng, như khả năng thể lý, khả năng trí tuệ, khác nhau về giới tính, chủng tộc v.v., nhưng bản tính và phẩm giá của mọi người là như nhau, vì thế mọi kỳ thị liên quan tới các quyền con người là không thể chấp nhận, và “trái với ý Thiên Chúa. Người ta nói nhân quyền là quyền tự nhiên, quyền do thiên nhiên, chứ không phải do một ai hay một thể chế nào ban phát cho, vì thế “sức mạnh của nó là bất diệt”...
- Có thể thêm đặc tính không thể phân chia. Các quyền căn bản của con người liên kết với nhau thành một tổng thể, do đó phải bảo vệ chúng không chỉ một cách riêng lẻ là đủ, nếu bảo vệ một phần các quyền mà thôi sẽ là gián tiếp không nhìn nhận tất cả các quyền con người, vì các quyền đó tương ứng với những đòi hỏi của nhân phẩm.
c - Nhân quyền, xã hội và chính quyền
Cho dù đặc tính xã hội là thiết yếu cho con người, thì vẫn đúng là “các quyền này có trước xã hội và phải được xã hội công nhận”; chính quyền phải tôn trọng nhân phẩm, do đó tôn trọng nhân quyền, phải đưa ra những khung luật cần thiết để bảo vệ và thăng tiến nhân quyền; nếu chà đạp hoặc phủ nhận các quyền này, chính quyền sẽ mất tính hợp pháp về mặt luân lý, cho dù họ có tìm cách tồn tại dựa vào sức mạnh hay bạo lực. Nền tảng đích thực và bền vững của thể chế dân chủ, chính là ở chỗ biết nhìn nhận rõ rệt các quyền con người.
d- Quyền lợi và nghĩa vụ.
Đã có quyền lợi thì cũng có nghĩa vụ, điều này đúng cả trên bình diện xã hội lẫn bình diện luật tự nhiên. Thí dụ: quyền được sống kèm theo nghĩa vụ phải bảo tồn sự sống, quyền được hưởng một đời sống xứng hợp buộc ta có nghĩa vụ phải ăn ở cho có phẩm cách; quyền được tự do tìm chân lý buộc ta có bổn phận càng phải nhiên cứu và mở mang tầm học tập”. “Bởi thế, người nào chỉ biết đòi hỏi quyền lợi mà quên nghĩa vụ của mình hay không chu toàn nghĩa vụ đó, tức là dùng tay này phá hủy công việc tay kia đang xây dựng”.
đ- Quyền của các dân tộc và quốc gia
Phạm vi nhân quyền được mở rộng ra để bao gồm cả quyền lợi của các dân tộc và các quốc gia. “Điều gì đúng với cá nhân thì cũng đúng với các dân tộc”. “Các quyền của các quốc gia không là gì khác hơn là ‘các quyền con người’ được vun đắp ở cấp đời sống cộng đồng’” (TL, số 157).

Trích:HTXHGH, ngày 10-10-2011 10:14 AM GMT+7

Ngẫm suy về

Nhân sinh ai cũng biết mọi sự vật trong trời đất sẽ tan biến qua thời gian, dù cứng như đá, vững như đồng, những lâu đài thành quách, cả núi cao ngàn trượng…những gì càng to lớn, chất ngất cao, khi đổ vỡ thường gây ra dư chấn không chỉ khoảnh khắc đang xảy ra mà cả ngàn vạn năm sau con người còn dò tìm ngọn ngành, soi rọi tính năng, di chỉ, sự kiện…để làm nấc thang khám phá, xây dựng tầng tầng lớp lớp tri thức của con người thông qua thời gian, mở ra ý niệm tồn sinh và hủy diệt.

Tuổi thọ của đời người thường rất mong manh, ngắn ngủi. Thời gian cảm nhận sự sống không bao giờ lâu, cứ tiếp truyền tư duy có, thương đau có, để kiến tạo những ước mơ không chỉ thách thức với muôn loài, mà muốn làm bá chủ với không gian và thời gian… Nhưng lại khó vượt qua chính bản thân mình trước tồn sinh và rã mục, dù tư duy cao thấp, giàu nghèo may mắn, trầm luân khổ ải…và nhờ đó sự kết nối trong mọi công cuộc kiến tạo xã hội loài người luôn thuộc tính chuyển động mạch nguồn của sự sống, luôn chênh vênh bên bờ vực đổ vỡ, nhiều hơn tồn tại. Nhất là sự tồn tại trong không gian sống, qua thời gian ghi nhận, giá trị nhân văn triết học, sáng tạo nghệ thuật, khoa học và nâng cao giá trị làm người. Từ những sự kiện phụng hiến đó đã làm đẹp nhân thế vượt thời gian không còn lằn biên hẹp hòi ranh giới, hành chính, địa dư, quốc tịch…

Và bên cạnh đó cũng không thiếu lòng ham muốn vị kỷ, ác độc tự tôn của lớp người lấy tính lực quyền năng, sức mạnh bầy đàn, áp đặt mạnh được yếu thua, luôn tỏ quyền uy, linh thiêng có, sa đọa có, súc vật có, trung mưu đồ bá đạo, và càng bá đạo siêu đẳng cấp, lại tạo dựng thêm một số nô tì mềm môi, uốn lưỡi, truy cập ngữ nghĩa đó đây, mang đầy sắc màu, ý tưởng, phủ dụ… để tụng ca hình tượng anh minh, kiệt xuất, thần thánh vạn tuế, vạn vạn tuế…

Ôi thảm thương thay nhân loại có được bao nhiêu người được lưu truyền đế chế, ngôi vị ngàn năm. Hay chỉ còn lại để hậu sinh những lời phẩm bình của con người qua môi miệng, ngôn ngữ, chữ viết…một khí cụ bất biến, nhẹ như bấc, nặng cả ngàn cân, cứ thế nhập thế giữa đời làm đèn soi, làm thước đo, làm chứng nghiệm trước bão giông, trước mọi hoàn cảnh bị dập vùi. Và không có sự dập vùi nào không được khai mở trước thời gian, thời gian luôn đi về phía trước, để cuộc đời được soi rọi, học hỏi tính nhân văn.
(chungta.com)
29/12/2011.