Wednesday, 15. October 2008, 07:55:34
namevgo, pr
Tương lai quảng cáo
Quảng cáo ngày nay xuất hiện ở rất nhiều hình thức - dạng mới nhất: branded entertainment. “There is a buzz in the ad world over a new concept called branded entertainment. In a nutshell it means an advertisement that poses as stand-alone programming”. Buzz ở câu đầu có nghĩa lời đồn, lời bàn tán còn in a nutshell ở câu sau là nói ngắn gọn. Theo cách giải thích này thì branded entertainment là quảng cáo nhưng nấp đằng sau một chương trình độc lập - ví dụ một bộ phim nhiều tập về gia đình một anh chàng lái xe tải chở bia Tiger với nhiều tình tiết chung quanh nghề của anh này. Cái này khác với lối quảng cáo sản phẩm bên trong bộ phim, điển hình là loại phim James Bond với đủ loại sản phẩm ăn theo, gọi là product placement. Vì thế mới có nhận xét: “This [branded entertainment] essentially takes product placement to a new level”.
Xin nói thêm về bộ phim James Bond “Die Another Day” được mệnh danh là “a giant advert”. Từ quảng cáo advertisement thường được viết tắt là ad (tiếng Mỹ) hay advert (tiếng Anh). Theo BBC, “Twenty companies will see their products on the big screen, having paid between them $70m for the privilege”. Privilege ở đây là quyền quảng cáo sản phẩm lồng trong phim này, với giá không phải rẻ: 20 công ty trả tổng cộng 70 triệu đô la. Bộ phim này đạt kỷ lục quảng cáo kiểu product placement nên được giới marketing gọi đùa là “Buy Another Day”. Giới phê bình thì chê: “But critics say some of the authentic Bond characteristics have been sacrificed on the altar of advertising”. Chú ý cách dùng từ theo kiểu liên tưởng mà khi dịch sang tiếng Việt thường bị đánh mất: sacrifice là hy sinh theo nghĩa tế thần cho nên mới có từ altar (bệ thờ, án thờ).
Nhân nói chuyện quảng cáo, xin nhắc lại hai từ thường bị dùng sai: trademark (nhãn hiệu) và brand name (thương hiệu) - cho dù đôi lúc chúng được dùng thay cho nhau, trademark nhắm đến khía cạnh pháp lý, như chuyện đăng ký, chuyện bảo vệ... còn brand name là nói đến khía cạnh quan hệ với khách hàng, như chuyện xây dựng, củng cố, phát triển... và quảng cáo!
Tuy nhiên, trong bài viết “The Future of Advertising Is Here”, tạp chí Inc.com cho rằng: “It’s becoming increasingly possible to target “smart ads” specifically to people who want them. And best of all, you can do this for a fraction of the price of mass-market”. Như vậy, quảng cáo của tương lai là quảng cáo thông minh nhắm đến những đối tượng khách hàng cụ thể với chi phí bằng một phần nhỏ của loại quảng cáo đại trà. Các dạng quảng cáo của Google là một ví dụ.
Mới tuần trước, CNN Money đăng bài “Google Web Search Is A Game-Changer In Advertising Field” để phân tích xu hướng quảng cáo mới trong đó Google đang đóng vai trò tiên phong. Game-changer là người thay đổi diện mạo, thay đổi cách chơi... Sau khi mô tả một trường hợp điển hình khi một doanh nghiệp nhỏ chuyển sang quảng cáo trên Google và thành công, CNN Money viết: “The scenario is repeating itself again and again as businesses large and small move their ads from print, TV and radio to the Internet”. Scenario trong câu này là câu chuyện tương tự như thế và print là báo in nói chung.
Một dạng quảng cáo khác nữa là giả vờ làm dân nghiệp dư đưa thông tin lên các blog. “Corporate megaliths like Nike and the beverage giant Diageo have gotten in on the game as well, the former with a grainy online clip of Brazilian soccer star Ronaldinho performing a series of literally unbelievable feats with a soccer ball, the latter with a parody music video, released straight to YouTube”. Corporate megaliths là các doanh nghiệp khổng lồ, các “đại gia”; như Nike tung lên mạng đoạn băng chất lượng xấu cảnh Ronaldinho làm xiếc với quả bóng còn hãng Diageo đưa lên YouTube một clip ca nhạc hát nhái để quảng cáo cho loại rượu vodka Smirnoff của họ. Dân trên mạng ngây thơ tải về và gửi cho nhau, đâu ngờ đấy là quảng cáo!
Ít ai ngờ có lần “Sony Ericsson dispatched 60 actors to tourist attractions to pose as sightseers and ask people to take their picture with a new camera phone before going on to extol its virtues-all without disclosing their connection to the company”. Quảng cáo theo lối truyền miệng như thế không biết có hiệu quả đến đâu nhưng Sony Ericsson bị cáo buộc là “misleading the consumers”.
Vì thế, xu hướng chung của quảng cáo là stealth advertising, tức là quảng cáo mà không nói đấy là quảng cáo. Người ta thường nói “advertising relies on its ability to take certain liberties with the truth” - to take liberty with là không màng đến, không chú ý đến. Cho nên khi người xem không biết đấy là quảng cáo, họ càng dễ bị tác động bởi nội dung chào mời. Từng đã có quy định “an infomercial is required to announce itself as a paid advertisement at its beginning, its end, and each time the viewer is exhorted to buy anything”. Infomercial là cách kết hợp giữa information với commercial (quảng cáo theo kiểu tự giới thiệu trên ti vi), cũng như advertorial là cộng advertisement với editorial (hình thức tương tự trên báo in). Với các hình thức mới, quảng cáo đang len vào cuộc sống mà có thể chúng ta không nhận ra.
Theo Thời Báo Kinh Tế
Những Điều Quảng Cáo Học Được Từ PR
Vào những năm 2000-2002, có thể nhiều nhà nghiên cứu thị trường và marketing đã có lý khi đưa ra dự đoán PR sẽ lật đổ sự thống trị của quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bởi vì, khi đó các doanh nghiệp tiến hành quảng cáo quá rầm rộ với tần suất dày đặc khiến chúng trở nên nhàm chán và mất đi sự tín nhiệm đối với khách hàng.
Trong khi đó, khái niệm PR khá mới mẻ và được xem như một công cụ tương đối hiệu quả để tạo dựng hình ảnh của doanh nghiệp trong lòng công chúng. Hai từ khóa của PR là “hiểu biết lẫn nhau” và “công chúng”. Hiểu biết lẫn nhau là quan hệ hai chiều và rất quan trọng để đem đến thành công cho PR. Đây không chỉ là việc doanh nghiệp truyền tới công chúng thông điệp của mình, mà còn bao gồm cả việc doanh nghiệp lắng nghe tiếng nói của công chúng. Rất nhiều doanh nhân coi truyền thông như một luồng thông tin một chiều phát ra từ họ, và quên mất việc lắng nghe thị trường.
Mặc dù, nếu đem so sánh với PR, quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng đồng nghĩa với việc truyền thông tin một chiều từ phía các doanh nghiệp, nhưng tầm quan trọng của nó nếu so sánh với PR cũng cần phải được xem xét lại. Trong thời điểm hiện nay, chúng ta đang sống ở trong một thời đại mà những kênh truyền thông có ảnh hưởng và tác động trực tiếp hàng giờ, hàng phút lên tất cả mọi người: 24 giờ/ngày và 7 ngày/tuần.
Bạn hãy tưởng tượng một ngày của các khách hàng tiềm năng sẽ diễn ra như thế này: sau khi thức dậy, thứ đầu tiên mà họ đọc trong khi nhấm nháp một tách cà phê sáng sẽ là một tờ báo. Trên đường từ nhà đến cơ quan, họ sẽ bật radio trên ô tô để nghe tin tức thời sự. Đến văn phòng làm việc, việc đầu tiên là họ sẽ bật máy vi tính để kiểm tra hộp thư và sau đó sẽ ghé thăm một vài trang web. Đến giờ nghỉ trưa, sang quán ăn ở cạnh cơ quan, rất có thể họ sẽ nhìn thấy nhiều bảng thông cáo, yết thị hay biển quảng cáo tại những nhà chờ xe buýt hoặc treo dọc đường đi. Và sau đó, trong lúc chờ bữa ăn trưa, họ tranh thủ đọc một tờ tạp chí yêu thích nào đó. Họ lại tiếp tục nghe radio trên đường từ cơ quan về nhà. Và sau một ngày làm việc căng thẳng, mệt mỏi, khi về đến nhà, họ sẽ bật ngay tivi, lướt xem tin tức. Về khuya, trong khi theo dõi một trận đấu bóng đá hay thể thao có đội mà mình hâm mộ trên tivi, họ lại lướt web để tìm kiếm một món quà để tặng cho một thành viên trong gia đình nhân dịp sinh nhật sắp đến.
Khách hàng đã đọc, nghe, nhìn trên rất nhiều phương tiện truyền thông trong ví dụ nói trên. Và đây cũng chính là những cơ hội để khách hàng có thể nhận được các thông điệp từ bạn. Vậy bạn cần phải làm cách nào để những thông tin đó có thể đọng lại trong tâm trí của khách hàng? Hãy tạo lập một chiến lược marketing tích hợp, sử dụng đồng thời các phương tiện thông tin truyền thông để tác động trực tiếp lên khách hàng và có sức thuyết phục để họ đi đến quyết định sử dụng sản phẩm/dịch vụ của bạn.
Khi thực hiện chiến lược quảng cáo tích hợp, bạn cần đạt được các mục tiêu sau:
1. Gây ấn tượng mạnh mẽ trong tâm trí của khách hàng
Một thương hiệu, sản phẩm/dịch vụ mới, khi thâm nhập thị trường rất cần có những chương trình quảng cáo rộng rãi trên báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng để người tiêu dùng nhận biết về sự tồn tại của chúng. Trước hết, việc này nhằm tăng cường nhận thức của các khách hàng mục tiêu hiện tại và sau đó là tạo ra sự nhận thức về sự tồn tại của chúng cho các khách hàng mới hoặc tại thị trường mới.
Tuy nhiên, để gây ấn tượng và ghi dấu ấn sâu đậm trong tâm trí của khách hàng, thông điệp và hình ảnh mà bạn đưa ra phải thống nhất, đánh trúng vào tâm lý và ý thích của khách hàng, nhưng đồng thời cũng phản ánh được những mặt tích cực, ưu điểm, lợi thế có trong sản phẩm/dịch vụ của bạn.
2. Tối đa hóa sự ảnh hưởng của các phương tiện thông tin đại chúng
Khi tiến hành quảng cáo, bạn cần tìm hiểu khách hàng tiềm năng của mình sử dụng và tin cậy những nguồn thông tin nào. Sự phù hợp của thị trường mục tiêu với phương tiện thông tin đại chúng được lựa chọn chính là cơ hội cho quảng cáo của bạn đến được với khách hàng.
Quảng cáo trên các phương tiện truyền thông: TV, radio, báo, tạp chí… có ưu thế là sự tác động mạnh, phạm vi ảnh hưởng rộng và phong phú, tuy nhiên đòi hỏi chi phí cao và tần suất lớn. Mỗi phương tiện truyền thông có những đặc trưng riêng biệt, có những điểm mạnh nhưng cũng có những điểm yếu. Vì vậy, một chiến dịch quảng cáo tích hợp được đánh giá là thành công khi lợi dụng được tất cả các thế mạnh của từng loại phương tiện truyền thông đó.
Ví dụ, nếu thiết lập một trang web dành riêng cho quảng cáo sản phẩm trong công ty, thì bạn có thể đưa ra những thông điệp có tính chiều sâu hơn và sinh động hơn rất nhiều so với việc quảng cáo trên các dạng phương tiện khác. Các quảng cáo ngoài trời lại có lợi thế gây ấn tượng nhanh và trực tiếp đến thị giác người tiêu dùng. Trong khi đó, nếu gửi thư trực tiếp, e-mail hay đăng tin quảng cáo trên báo chí bạn có thể cung cấp cho khách hàng đầy đủ các thông tin về các chiến lược khuyến mại. Các quảng cáo ngắn gọn on-line trên các web quảng cáo hoặc ở ngoài đường phố có thể kích thích sự tò mò và hướng khách hàng tiềm năng đi tìm kiếm nhiều thông tin hơn về bạn.
3. Duy trì và mở rộng khách hàng
Đối với các đối tượng khách hàng khác nhau, phương pháp và cách thức lựa chọn phương tiện để tiếp thị cũng rất khác nhau. Ví dụ, với những đối tượng khách hàng chưa từng sử dụng sản phẩm/dịch vụ của bạn, có thể thích hợp với loại hình quảng cáo bằng bưu thiếp, quảng cáo trên báo chí hoặc sử dụng PR. Trong khi đó, với những khách hàng đã từng dùng sản phẩm/dịch vụ của bạn, có thể sử dụng thư tay trực tiếp, thư điện tử.
Các doanh nghiệp, nếu chỉ sử dụng một hoặc hai phương tiện quảng cáo, thì thường rất khó khăn để giữ và duy trì được lòng trung thành của khách hàng hiện tại và thu hút các khách hàng mục tiêu, đồng thời cũng dễ để mất khách hàng vào tay các đối thủ cạnh tranh khi mà họ sử dụng rộng rãi các phương tiện để quảng cáo với tần suất dày đặc và cường độ tác động mạnh. Bằng cách lựa chọn chiến lược quảng cáo tích hợp, áp dụng trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng, đáp ứng nhu cầu thông tin khác nhau của mọi đối tượng khách hàng, bạn có thể duy trì và mở rộng đối tượng khách hàng mà không khiến họ bị nhàm chán, buồn tẻ và có cảm giác bị làm phiền.
4. Trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của khách hàng
Một chiến dịch quảng cáo tích hợp có thể “theo gót” khách hàng tiềm năng suốt cả ngày. Ở ví dụ ban đầu đưa ra về các phương tiện thông tin, báo chí mà họ có thể xem, nhìn thấy hoặc nghe thấy trong ngày, cho thấy nếu bạn biết tận dụng tối đa và có hiệu quả các phương tiện này, hình ảnh của bạn sẽ trở nên quen thuộc, gần gũi và không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của họ. Khi đó, có thể nói, chiến dịch quảng cáo của bạn đã thành công.
(Theo bwportal)
Philip Kotler bàn về quảng cáo & PR
Hàng thập kỷ qua, trong thế giới marketing, không ai không biết đến vị giáo sư lỗi lạc giảng dạy tại trường quản lý kinh doanh Kellogg School, Phillip Kotler. Ông là tác giả cuốn Marketing Management (Quản lý Tiếp thị) - một trong những cuốn sách được sử dụng rộng rãi nhất trong các trường đại học kinh doanh – cùng vô vàn các bài viết và phân tích về hoạt động này. Kotler được xem như người khai phá “tiếp thị xã hội” (social marketing) hiện đại, cùng rất nhiều giải pháp marketing nổi tiếng khác.
Cuốn sách mới của ông, According to Kotler (Theo Kotler), là sự tổng hợp tất cả các nguyên tắc then chốt nhất trong tiếp thị và cách thức ứng dụng vào các hoạt động kinh doanh thường nhật, từ những vụ scandal kiểm toán, outsourcing, toàn cầu hoá, lưu kho đến tiếp thị trực tuyến. Kotler bàn về nhiều chủ đề mới hiện đang gây tranh luận như “demarketing” (phản tiếp thị), “reverse marketing” (tiếp thị đảo chiều), “body advertising” (quảng cáo cơ thể), và rất nhiều vấn đề khác,...
Dưới đây là một vài nhận định, phân tích về quảng cáo và PR của Kotler, căn cứ trên hàng nghìn các câu hỏi mà ông đã nhận được trong nhiều năm qua từ các khách hàng, sinh viên, người nghe thuyết trình và các nhà báo.
Về sự cần thiết cho phương thức tiếp thị hỗn hợp mới (new marketing mix)
Nhiều năm trước đây Neil Borden đã đưa ra một danh sách dài các công cụ marketing trong tiếp thị hỗn hợp. Và chúng ta luôn có thể bổ sung vào danh sách đó. Câu hỏi ở đây không phải là “những công cụ nào thiết lập nên sự tiếp thị hỗn hợp ?” mà là “những công cụ nào đang trở nên quan trọng hơn trong sự tiếp thị hỗn hợp?”.
Ví dụ, chúng ta cảm thấy rằng quảng cáo đang được thực hiện quá nhiều trong khi giao tế công cộng (PR) thì chưa được chú trọng đúng mức. Vấn đề này đã được Al Ries ủng hộ trong cuốn sách nổi tiếng The Fall of Advertising and the Rise of PR (Quảng cáo thoái vị, PR lên ngôi). Và những công cụ tiếp thị trực tiếp (direct-marketing) cũng đang chứng tỏ tầm quan trọng ngày một cao trong sự tiếp thị hỗn hợp.
Về các giải pháp thay thế khi dường như các quảng cáo trên truyền hình đang mất dần sự hiệu quả
Theo Kotler, ngày nay trung bình một người bình thường nhận được hàng trăm quảng cáo mỗi ngày. Quảng cáo trên truyền hình mất đi tính hiệu quả vì sự gia tăng chóng mặt số lượng các quảng cáo, số lượng các kênh truyền hình cũng như việc giảm thời lượng xem truyền hình của người xem. Kết quả là các nhà tiếp thị phải quan tâm tới những phương thức khác để thu hút sự chú ý của mọi người.
Dưới đây là một số giải pháp:
- Nhà tài trợ. Thông qua chương trình tài trợ, các công ty có thể đặt logo của mình trên các sân vận động, in trên quần áo vận động viên, hay trên sân khấu trình diễn,... để thu hút sự chú ý của mọi người.
- Được đề cập tới trong các show truyền hình, các buổi trò chuyện trước công chúng,... Tại Mỹ, trong một show truyền hình buổi tối, MC nổi tiếng David Letterman thường đề cập một cách gián tiếp tới các nhãn hiệu nổi tiếng và các lời khuyên mua sắm.
- Sắp đặt, bố trí sản phẩm. Trong bộ phim 007 nổi tiếng, Die Another Day, điệp viên James Bond lái chiếc xe Aston Martin, sử dụng điện thoại di động Sony và đeo chiếc đồng hồ sang trọng hiệu Omega. Các sản phẩm cũng được đề cập tới trong các cuốn truyện 007.
- Xúc tiến trên đường phố. Nhiều hãng điện thoại di động đã thuê những nam nữ diễn viên nổi tiếng đi lại trong những khu vực đông người và đề nghị người qua đường chụp cho họ một tấm hình sử dụng chiếc điện thoại di động mới. Rõ ràng rằng người chụp ảnh sẽ rất ấn tượng và nói với mọi người về chiếc điện thoại di động có chụp hình đó.
- Chứng thực của những nhân vật nổi tiếng. Lời chứng thực chất lượng sản phẩm của siêu sao bóng rổ Michael Jordon đã giúp doanh số bán hàng của Nike tăng vọt. Hay lời chứng thực bất ngờ của cựu thượng nghị sỹ Mỹ Bob Dole đã khiến cả nước Mỹ quan tâm tới Viagra.
- Quảng cáo trên thân thể. Nhiều sinh viên đại học Mỹ trong thời gian qua đã đồng ý để hãng Dunkin Donuts in logo trên trán họ trong một thời gian nhất định.
Về những thách thức giao tiếp chính
Thách thức quan trọng nhất hiện nay là làm sao để mọi người chú ý đến sản phẩm hay dịch vụ của bạn. Mọi người bị chìm ngập trong các quảng cáo và họ luôn tìm cách tránh xa chúng. Thách thức đặt ra là làm sao để tìm ra những phương thức mới thu hút sự chú ý của mọi người, qua đó góp phần định vị vững chắc nhãn hiệu của bạn trong tâm trí họ. PR và tiếp thị truyền khẩu đang đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và duy trì hình ảnh nhãn hiệu.
Về vấn đề các giao tiếp tiếp thị tích hợp ngày nay
Trong quá khứ, chúng ta theo học các khoá học riêng lẻ về quảng cáo, xúc tiến bán hàng, giao tế công cộng và những công cụ giao tiếp khác. Mỗi sinh viên trở thành chuyên gia trong từng lĩnh vực cụ thể, họ hầu như không nắm vững các công cụ khác và có xu hướng bảo vệ cho công cụ của mình.
Rõ ràng rằng, đây không phải là một ý tưởng hay, đặc biệt là khi tính hiệu quả của từng công cụ giao tiếp luôn thay đổi theo thời gian. Quyết định về việc phải phân bổ như thế nào cho từng công cụ xúc tiến khác nhau sẽ không dẫn tới những kết quả mong đợi. Một ai đó phải chịu trách nhiệm chung. Hãy gọi nhân vật này là Giám đốc giao tiếp (Chief communication office - CCO). Vị CCO sẽ chịu trách nhiệm trước mọi việc liên quan tới giao tiếp trong và ngoài công ty – không chỉ là những công cụ giao tiếp thông thường mà còn là hình thức sắp xếp, tổ chức công ty, trang trí văn phòng làm việc và thậm chí là hình thức của chiếc xe tải chở hàng.
Giờ đây, các trường dạy về tiếp thị sử dụng phương thức mới ngày một nhiều. Trước tiên, họ giúp các sinh viên hiểu được vai trò của tất cả các công cụ giao tiếp khác biệt. Thứ hai, sinh viên phải nắm vững rằng nhãn hiệu công ty và các thông điệp khác hàng cần được truyền tải nhất quán trên tất cả các kênh truyền thông. Vì vậy, nếu một công ty sản xuất sản phẩm chất lượng cao, thì công ty đó phải đảm bảo được việc truyền tải đồng thời hình ảnh này trong tất cả các thông điệp của mình
Về vấn đề các công ty vẫn tiếp tục chi tiền cho quảng cáo trên truyền hình, thậm chí ngay cả khi các kênh truyền hình mới ra đời ngày một nhiều, và họ không nhận ra rằng tính hiệu quả của phương thức này đang suy giảm.
Các công ty dường như vẫn mù quáng không nhận ra những thay đổi lớn trên thị trường giao tiếp truyền thông. Việc quảng cáo với tần xuất lớn, lãng phí tiền bạc và chọc tức mọi người đã trôi qua. Kotler khuyên rất nhiều khách hàng nên giảm dần ngân quỹ dành cho quảng cáo trên truyền hình.
Nếu quốc gia của bạn chỉ có một vài đài truyền hình, một vài đài truyền thanh và một số ít tờ báo, thì chiến lược quảng cáo trên các phương tiện này sẽ rất hiệu quả. Nhưng khi một quốc gia có hàng trăm đài truyền hình, hàng nghìn tờ báo, thì việc tiếp cận một số lượng đông đảo người xem sẽ rất tốn kém.
Thậm chí cả những quảng cáo tại các sự kiện hay giải thể thao lớn như Olympic cũng đang mất dần tính hiệu quả. Sự phân đoạn mạnh mẽ của thị trường yêu cầu các nhà tiếp thị cần thay đổi mục tiêu tiếp thị và quan tâm tới tiếp thị cá nhân. Hành động này sẽ giúp các công ty tiết kiếm đáng kể chi phí quảng cáo. Liệu có hiệu quả với việc quảng cáo thức ăn cho mèo trên đài truyền hình quốc gia nếu chỉ có chưa tới 25% gia đình nuôi mèo?
Về vấn đề các hãng quảng cáo cần hành động như thế nào trong bối cảnh hiệu quả của các quảng cáo truyền thông quy mô lớn đang giảm dần
Các hãng quảng cáo giờ đây không thể thịnh vượng nếu chỉ xây dựng các quảng cáo và lựa chọn phương tiện truyền thông đăng tải nữa. Có rất nhiều cách thức mới để tiếp cận với khách hàng. Các hãng quảng cáo thông minh sẽ tự chuyển đổi mình thành những hãng dịch vụ giao tiếp truyền thông. Họ sẽ làm việc với các khách hàng để lựa chọn những thông điệp tốt nhất và các công cụ giao tiếp hiệu quả nhất – cho dù đó là các quảng cáo truyền thống, câu chuyện PR, sự kiện khách hàng, xúc tiến bán hàng, tài trợ, direct mail, email hay bán hàng từ xa.
Một vài hãng quảng cáo còn bổ sung thêm cho mình các năng lực giao tiếp khi tự tạo ra hay xây dựng mạng lưới với các công ty PR, các công ty xúc tiến bán hàng và các công ty direct-marketing với mong muốn trở thành một công ty giao tiếp truyền thông tổng thể.
Về mặt hạn chế chính của quảng cáo
Những quảng cáo truyền thống xem ra vẫn như một màn độc diễn. Các công ty ngày nay sẽ gặt hái nhiều lợi ích đáng kể bằng việc xây dựng những hệ thống giúp đối thoại trực tiếp giữa công ty và các khách hàng (cả hiện tại và tiềm năng).
Về việc internet có trở thành một công cụ quảng cáo hiệu quả
Một vài năm trước đây, CEO của hãng Procter & Gamble nói rằng ông sẽ cảm thấy rất hạnh phúc với việc chuyển một phần lớn ngân quỹ quảng cáo khổng lồ của P&G sang internet nếu ông có thể tìm thấy những cách thức quảng cáo hiệu quả tại đây. Cho đến nay, internet đã trở thành một công cụ quảng cáo nở rộ không kém quảng cáo truyền hình, truyền thanh và báo chí.
Thực sự các quảng cáo bằng banner không được mọi người mở ra nhiều. Do vậy, các nhà quảng cáo đang gây sức ép với các trang web về việc đăng tải các quảng cáo pop-up. Tuy nhiên, nhiều trang web thấy rằng việc này khá rủi ro. Mọi người có thể lựa chọn khoá quảng cáo pop-up.
Google đã phát triển một hệ thống tự động quảng cáo dựa trên chủ đề mà mọi người đang tìm kiếm. Ví dụ, nếu bạn gõ “BMW” trên Google, phía bên phải trang web sẽ hiện lên quảng cáo BMW. Mặc dù vậy, hiện còn quá sớm để nói về tính hiệu quả của quảng cáo trực tuyến sẽ như thế nào trong tương lai.
Về phương thức tiếp cận đông đảo khách hàng một cách hiệu quả nhất
Các nhà quảng cáo sẽ không thể thấy lại những ngày tháng huy hoàng khi mà họ có thể tiếp cận hàng triệu khách hàng trong một buổi tối nhờ quảng cáo trên chương trình truyền hình hay trên một tạp chí ăn khách.
Có ba lựa chọn ngày nay: Một là quảng cáo trên một số lượng nhất định các kênh truyền thông với thời gian cụ thể. Hai là quảng cáo tại các sự kiện hay giải thể thao lớn như Olympic, Worldcup,… để thu hút đông đảo người xem. Và cuối cùng là xây dựng một hệ thống dữ liệu khổng lồ bao gồm tên những ai có mối quan tâm lớn nhất tới những gì công ty bạn cung cấp.
Về lời kêu gọi dành nhiều chi phí hơn cho PR
Kotler hoàn toàn đồng ý với lời kêu gọi này. Quảng cáo đã được chú trọng quá nhiều trong quá khứ, đặc biệt là các quảng cáo truyền thông quy mô lớn. PR vẫn còn khá mới mẻ và chưa được quan tâm đúng mức. PR bao gồm rất nhiều công cụ khác nhau: xuất bản phẩm, sự kiện, tin tức, tham gia cộng đồng, vận động hành lang và đầu tư cho xã hội,….
Khi một khách hàng nhìn thấy một quảng cáo, họ biết ngay đó là một... quảng cáo, và họ cố gắng tránh xa nó. PR rõ ràng có một cơ hội tốt hơn để truyền tải thông điệp của bạn tới đông đảo mọi người.
Hơn nữa, những thông điệp PR có thể làm mới lại và đáng tin cậy hơn. PR được trang bị những công cụ tốt hơn để xây dựng một hình ảnh đẹp về sản phẩm hay dịch vụ mới. Có thể thấy, mối quan tâm tới PR đang gia tăng – minh chứng rõ nét nằm ở đầu đề cuốn best-selling gần đây của Al và Laura Ries - Quảng cáo thoái vị, PR lên ngôi.
Theo bwportal - Dịch từ MarketingProfs
Tương lai quảng cáo
Quảng cáo ngày nay xuất hiện ở rất nhiều hình thức - dạng mới nhất: branded entertainment. “There is a buzz in the ad world over a new concept called branded entertainment. In a nutshell it means an advertisement that poses as stand-alone programming”. Buzz ở câu đầu có nghĩa lời đồn, lời bàn tán còn in a nutshell ở câu sau là nói ngắn gọn. Theo cách giải thích này thì branded entertainment là quảng cáo nhưng nấp đằng sau một chương trình độc lập - ví dụ một bộ phim nhiều tập về gia đình một anh chàng lái xe tải chở bia Tiger với nhiều tình tiết chung quanh nghề của anh này. Cái này khác với lối quảng cáo sản phẩm bên trong bộ phim, điển hình là loại phim James Bond với đủ loại sản phẩm ăn theo, gọi là product placement. Vì thế mới có nhận xét: “This [branded entertainment] essentially takes product placement to a new level”.
Xin nói thêm về bộ phim James Bond “Die Another Day” được mệnh danh là “a giant advert”. Từ quảng cáo advertisement thường được viết tắt là ad (tiếng Mỹ) hay advert (tiếng Anh). Theo BBC, “Twenty companies will see their products on the big screen, having paid between them $70m for the privilege”. Privilege ở đây là quyền quảng cáo sản phẩm lồng trong phim này, với giá không phải rẻ: 20 công ty trả tổng cộng 70 triệu đô la. Bộ phim này đạt kỷ lục quảng cáo kiểu product placement nên được giới marketing gọi đùa là “Buy Another Day”. Giới phê bình thì chê: “But critics say some of the authentic Bond characteristics have been sacrificed on the altar of advertising”. Chú ý cách dùng từ theo kiểu liên tưởng mà khi dịch sang tiếng Việt thường bị đánh mất: sacrifice là hy sinh theo nghĩa tế thần cho nên mới có từ altar (bệ thờ, án thờ).
Nhân nói chuyện quảng cáo, xin nhắc lại hai từ thường bị dùng sai: trademark (nhãn hiệu) và brand name (thương hiệu) - cho dù đôi lúc chúng được dùng thay cho nhau, trademark nhắm đến khía cạnh pháp lý, như chuyện đăng ký, chuyện bảo vệ... còn brand name là nói đến khía cạnh quan hệ với khách hàng, như chuyện xây dựng, củng cố, phát triển... và quảng cáo!
Tuy nhiên, trong bài viết “The Future of Advertising Is Here”, tạp chí Inc.com cho rằng: “It’s becoming increasingly possible to target “smart ads” specifically to people who want them. And best of all, you can do this for a fraction of the price of mass-market”. Như vậy, quảng cáo của tương lai là quảng cáo thông minh nhắm đến những đối tượng khách hàng cụ thể với chi phí bằng một phần nhỏ của loại quảng cáo đại trà. Các dạng quảng cáo của Google là một ví dụ.
Mới tuần trước, CNN Money đăng bài “Google Web Search Is A Game-Changer In Advertising Field” để phân tích xu hướng quảng cáo mới trong đó Google đang đóng vai trò tiên phong. Game-changer là người thay đổi diện mạo, thay đổi cách chơi... Sau khi mô tả một trường hợp điển hình khi một doanh nghiệp nhỏ chuyển sang quảng cáo trên Google và thành công, CNN Money viết: “The scenario is repeating itself again and again as businesses large and small move their ads from print, TV and radio to the Internet”. Scenario trong câu này là câu chuyện tương tự như thế và print là báo in nói chung.
Một dạng quảng cáo khác nữa là giả vờ làm dân nghiệp dư đưa thông tin lên các blog. “Corporate megaliths like Nike and the beverage giant Diageo have gotten in on the game as well, the former with a grainy online clip of Brazilian soccer star Ronaldinho performing a series of literally unbelievable feats with a soccer ball, the latter with a parody music video, released straight to YouTube”. Corporate megaliths là các doanh nghiệp khổng lồ, các “đại gia”; như Nike tung lên mạng đoạn băng chất lượng xấu cảnh Ronaldinho làm xiếc với quả bóng còn hãng Diageo đưa lên YouTube một clip ca nhạc hát nhái để quảng cáo cho loại rượu vodka Smirnoff của họ. Dân trên mạng ngây thơ tải về và gửi cho nhau, đâu ngờ đấy là quảng cáo!
Ít ai ngờ có lần “Sony Ericsson dispatched 60 actors to tourist attractions to pose as sightseers and ask people to take their picture with a new camera phone before going on to extol its virtues-all without disclosing their connection to the company”. Quảng cáo theo lối truyền miệng như thế không biết có hiệu quả đến đâu nhưng Sony Ericsson bị cáo buộc là “misleading the consumers”.
Vì thế, xu hướng chung của quảng cáo là stealth advertising, tức là quảng cáo mà không nói đấy là quảng cáo. Người ta thường nói “advertising relies on its ability to take certain liberties with the truth” - to take liberty with là không màng đến, không chú ý đến. Cho nên khi người xem không biết đấy là quảng cáo, họ càng dễ bị tác động bởi nội dung chào mời. Từng đã có quy định “an infomercial is required to announce itself as a paid advertisement at its beginning, its end, and each time the viewer is exhorted to buy anything”. Infomercial là cách kết hợp giữa information với commercial (quảng cáo theo kiểu tự giới thiệu trên ti vi), cũng như advertorial là cộng advertisement với editorial (hình thức tương tự trên báo in). Với các hình thức mới, quảng cáo đang len vào cuộc sống mà có thể chúng ta không nhận ra.
Theo Thời Báo Kinh Tế
Marketing mục tiêu và Quảng cáo ?
Nếu bạn đã nghe marketing truyền thống nói đến việc 50% các hình thức quảng cáo bị lãng phí thì đừng vội tin điều đó vì sự lãng phí còn lớn hơn con số 50% nhiều. Quảng cáo bằng phương tiện truyền thông chỉ nhắm đến ví tiền nhỏ của người tiêu dùng và họ hoàn toàn bị động trong hình thức quảng cáo này, vì vậy không có gì ngạc nhiên khi tỷ lệ lãng phí lớn hơn 50%. Hãy tưởng tượng tình huống 50% số người xem quảng cáo của hãng Ford đã mua xa của hãng này, hoặc thử nghĩ xem có đúng sau khi xem quảng cáo cheeseburger của McDonald thì 50% khách hàng chuyển qua ăn món mới đó.
Thực tế không phải như vậy, cả Ford và McDonald là những công ty có ngân sách dành cho quảng cáo khổng lồ. Chẳng hạn như McDonald từng bỏ ra 14% tổng lợi nhuận cho việc quảng cáo, chấp nhận sự kém hiệu quả của phương thức quảng cáo cũ, nhưng có lẽ doanh nghiệp của bạn thì không thể làm việc đó. Bạn không thể bỏ ra tiền tỉ chỉ để quảng cáo trên truyền hình vì với số tiền đó, bạn có thể tổ chức các hoạt động để tăng độ nhận biết của khách hàng đối với thương hiệu của mình.
Những người làm marketing giỏi ngay từ đầu năm mới đã phải dự tính trước ngân sách marketing cho cả năm. Sau hàng trăm giờ nghiên cứu, thảo luận, đánh giá và tính toán, họ ngồi lại với nhau thảo luận về chiến lược marketing và chỉ dừng công việc khi tất cả mọi người rời phòng họp với vẻ mặt tươi cười, mãn nguyện. Một điều hết sức quan trọng là thông tin của buổi họp trên phải tuyệt đối giữ bí mật, nếu đối thủ biết được và áp dụng trước thì công sức xem như đổ sông đổ biển.
Trong kinh doanh, không có cái gì trường tồn, tuyệt đối. Chúng ta hãy lưu ý tìm những ý tưởng mới trong những hoạt động của mình để thúc đẩy việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng qua:
Phân khúc thị trường càng chính xác càng tốt, cả về địa lý lẫn đối tượng khách hàng. Áp dụng quy luật 80/20, tuy cũ nhưng vẫn còn hiệu quả (80% doanh thu đến từ 20% khách hàng của bạn).
Phân tích thông tin cũng như thói quen mua sắm của 20% khách hàng đó và tập trung mọi nguồn lực có thể để đáp ứng những nhu cầu này.
Tập trung vào hiệu quả của truyền thông, quảng cáo. Nếu bạn chọn hình thức quảng cáo thông qua truyền thông đa phương tiện thì chỉ nên tập trung vào 20% khách hàng thường xuyên sử dụng những công cụ này và không nhắm tới một đối tượng nào khác. Nhắm tới những đối tượng khác là lãng phí.
Các phương tiện truyền thông cũng góp phần phân khúc khách hàng, ví dụ các bảng quảng cáo ngoài trời dành cho một khu vực cộng đồng dân cư cụ thể, còn truyền hình cáp dành cho những đối tượng khách hàng chọn lọc hơn.
Những tạp chí thương mại, chuyên ngành chỉ phục vụ cho một nhóm nhỏ khách hàng quan tâm đến lĩnh vực mình yêu thích. Một vài hình thức bán hàng trực tiếp hoặc dịch vụ nghiên cứu cũng có thể giúp bạn dự đoán thói quen tiêu dùng của từng nhóm khách hàng.
Bạn cũng có thể sử dụng radio để gửi thông điệp phù hợp với thái độ và lối sống của khách hàng. Mỗi đài phát thanh đều công bố đối tượng khách hàng của mình và những nhóm khách hàng đó có trình độ học vấn, thói quen tiêu dùng khác nhau, sinh sống tại những vùng khác nhau. Những thính giả nghe nhạc dân ca sẽ có thói quen tiêu dùng rất khác so với những người nghe nhạc cổ điện, nhạc trẻ.
Hãy cố gắng những cách tốt hơn để tối ưu hóa từng đống ngân sách marketing cho sản phẩm hoặc dịch vụ. Chỉ nên tập trung vào 20% khách hàng tốt nhất của mình vì họ mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho bạn. Củng cố vững chắc thị trường “hốc” đó và hạn chế việc lãng phí ngân sách marketing càng nhiều càng tốt, bạn sẽ thấy hiệu quả hoạt động marketing của mình tăng lên đáng kể.
(Theo DNSGCT)
Quảng cáo hiệu quả trên các phương tiện thông tin đại chúngSử dụng đồng thời các phương tiện thông tin truyền thông để tác động trực tiếp lên khách hàng.Gần đây, mọi người nhắc nhiều đến quan hệ công chúng (PR), có lúc PR được đánh giá rất cao trong quảng cáo, tiếp thị và phát triển thương hiệu. Thậm chí, nhiều nhà nghiên cứu thị trường và marketing đã từng dự báo: PR sẽ lật đổ sự thống trị của quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Vào những năm 2000-2002, có thể họ đã có lý khi đưa ra những dự đoán như vậy. Bởi vì, khi đó, các doanh nghiệp tiến hành quảng cáo quá rầm rộ với tần suất dày đặc khiến chúng trở nên nhàm chán và mất đi sự tín nhiệm đối với khách hàng.
Trong khi đó, khái niệm PR khá mới mẻ và được xem như một công cụ tương đối hiệu quả để tạo dựng hình ảnh của doanh nghiệp trong lòng công chúng. Hai từ khóa của PR là “hiểu biết lẫn nhau” và “công chúng”. Hiểu biết lẫn nhau là quan hệ hai chiều và rất quan trọng để đem đến thành công cho PR.
Đây không chỉ là việc doanh nghiệp truyền tới công chúng thông điệp của mình, mà còn bao gồm cả việc doanh nghiệp lắng nghe tiếng nói của công chúng. Rất nhiều doanh nhân coi truyền thông như một luồng thông tin một chiều phát ra từ họ, và quên mất việc lắng nghe thị trường.
Mặc dù, nếu đem so sánh với PR, quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng đồng nghĩa với việc truyền thông tin một chiều từ phía các doanh nghiệp, nhưng tầm quan trọng của nó nếu so sánh với PR cũng cần phải được xem xét lại. Trong thời điểm hiện nay, chúng ta đang sống ở trong một thời đại mà những kênh truyền thông có ảnh hưởng và tác động trực tiếp hàng giờ, hàng phút lên tất cả mọi người: 24 giờ/ngày và 7 ngày/tuần.
Bạn hãy tưởng tượng một ngày của các khách hàng tiềm năng sẽ diễn ra như thế này: sau khi thức dậy, thứ đầu tiên mà họ đọc trong khi nhấm nháp một tách cà-phê sáng sẽ là một tờ báo. Trên đường từ nhà đến cơ quan, họ sẽ bật radio trên ô-tô để nghe tin tức thời sự. Đến văn phòng làm việc, việc đầu tiên là họ sẽ bật máy vi tính để kiểm tra hộp thư và sau đó sẽ ghé thăm một vài trang web. Đến giờ nghỉ trưa, sang quán ăn ở cạnh cơ quan, rất có thể họ sẽ nhìn thấy nhiều bảng thông cáo, yết thị hay biển quảng cáo tại những nhà chờ xe buýt hoặc treo dọc đường đi. Và sau đó, trong lúc chờ bữa ăn trưa, họ tranh thủ đọc một tờ tạp chí yêu thích nào đó. Họ lại tiếp tục nghe radio trên đường từ cơ quan về nhà. Và sau một ngày làm việc căng thẳng, mệt mỏi, khi về đến nhà, họ sẽ bật ngay tivi, lướt xem tin tức. Về khuya, trong khi theo dõi một trận đấu bóng đá hay thể thao có đội mà mình hâm mộ trên tivi, họ lại lướt web để tìm kiếm một món quà để tặng cho một thành viên trong gia đình nhân dịp sinh nhật sắp đến.
Khách hàng đã đọc, nghe, nhìn trên rất nhiều phương tiện truyền thông trong ví dụ nói trên. Và đây cũng chính là những cơ hội để khách hàng có thể nhận được các thông điệp từ bạn. Vậy bạn cần phải làm cách nào để những thông tin đó có thể đọng lại trong tâm trí của khách hàng? Hãy tạo lập một chiến lược marketing tích hợp, sử dụng đồng thời các phương tiện thông tin truyền thông để tác động trực tiếp lên khách hàng và có sức thuyết phục để họ đi đến quyết định sử dụng sản phẩm/dịch vụ của bạn.
Khi thực hiện chiến lược quảng cáo tích hợp, bạn cần đạt được các mục tiêu sau:
1. Gây ấn tượng mạnh mẽ trong tâm trí của khách hàng
Một thương hiệu, sản phẩm/dịch vụ mới, khi thâm nhập thị trường rất cần có những chương trình quảng cáo rộng rãi trên báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng để người tiêu dùng nhận biết về sự tồn tại của chúng. Trước hết, việc này nhằm tăng cường nhận thức của các khách hàng mục tiêu hiện tại và sau đó là tạo ra sự nhận thức về sự tồn tại của chúng cho các khách hàng mới hoặc tại thị trường mới.
Tuy nhiên, để gây ấn tượng và ghi dấu ấn sâu đậm trong tâm trí của khách hàng, thông điệp và hình ảnh mà bạn đưa ra phải thống nhất, đánh trúng vào tâm lý và ý thích của khách hàng, nhưng đồng thời cũng phản ánh được những mặt tích cực, ưu điểm, lợi thế có trong sản phẩm/dịch vụ của bạn.
2. Tối đa hóa sự ảnh hưởng của các phương tiện thông tin đại chúng
Khi tiến hành quảng cáo, bạn cần tìm hiểu khách hàng tiềm năng của mình sử dụng và tin cậy những nguồn thông tin nào. Sự phù hợp của thị trường mục tiêu với phương tiện thông tin đại chúng được lựa chọn chính là cơ hội cho quảng cáo của bạn đến được với khách hàng.
Quảng cáo trên các phương tiện truyền thông: TV, radio, báo, tạp chí… có ưu thế là sự tác động mạnh, phạm vi ảnh hưởng rộng và phong phú, tuy nhiên đòi hỏi chi phí cao và tần suất lớn. Mỗi phương tiện truyền thông có những đặc trưng riêng biệt, có những điểm mạnh nhưng cũng có những điểm yếu. Vì vậy, một chiến dịch quảng cáo tích hợp được đánh giá là thành công khi lợi dụng được tất cả các thế mạnh của từng loại phương tiện truyền thông đó.
Ví dụ, nếu thiết lập một trang web dành riêng cho quảng cáo sản phẩm trong công ty, thì bạn có thể đưa ra những thông điệp có tính chiều sâu hơn và sinh động hơn rất nhiều so với việc quảng cáo trên các dạng phương tiện khác. Các quảng cáo ngoài trời lại có lợi thế gây ấn tượng nhanh và trực tiếp đến thị giác người tiêu dùng. Trong khi đó, nếu gửi thư trực tiếp, e-mail hay đăng tin quảng cáo trên báo chí bạn có thể cung cấp cho khách hàng đầy đủ các thông tin về các chiến lược khuyến mại. Các quảng cáo ngắn gọn on-line trên các web quảng cáo hoặc ở ngoài đường phố có thể kích thích sự tò mò và hướng khách hàng tiềm năng đi tìm kiếm nhiều thông tin hơn về bạn.
3. Duy trì và mở rộng khách hàng
Đối với các đối tượng khách hàng khác nhau, phương pháp và cách thức lựa chọn phương tiện để tiếp thị cũng rất khác nhau. Ví dụ, với những đối tượng khách hàng chưa từng sử dụng sản phẩm/dịch vụ của bạn, có thể thích hợp với loại hình quảng cáo bằng bưu thiếp, quảng cáo trên báo chí hoặc sử dụng PR. Trong khi đó, với những khách hàng đã từng dùng sản phẩm/dịch vụ của bạn, có thể sử dụng thư tay trực tiếp, thư điện tử.
Các doanh nghiệp, nếu chỉ sử dụng một hoặc hai phương tiện quảng cáo, thì thường rất khó khăn để giữ và duy trì được lòng trung thành của khách hàng hiện tại và thu hút các khách hàng mục tiêu, đồng thời cũng dễ để mất khách hàng vào tay các đối thủ cạnh tranh khi mà họ sử dụng rộng rãi các phương tiện để quảng cáo với tần suất dày đặc và cường độ tác động mạnh. Bằng cách lựa chọn chiến lược quảng cáo tích hợp, áp dụng trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng, đáp ứng nhu cầu thông tin khác nhau của mọi đối tượng khách hàng, bạn có thể duy trì và mở rộng đối tượng khách hàng mà không khiến họ bị nhàm chán, buồn tẻ và có cảm giác bị làm phiền.
4. Trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của khách hàng
Một chiến dịch quảng cáo tích hợp có thể “theo gót” khách hàng tiềm năng suốt cả ngày. Ở ví dụ ban đầu đưa ra về các phương tiện thông tin, báo chí mà họ có thể xem, nhìn thấy hoặc nghe thấy trong ngày, cho thấy nếu bạn biết tận dụng tối đa và có hiệu quả các phương tiện này, hình ảnh của bạn sẽ trở nên quen thuộc, gần gũi và không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của họ. Khi đó, có thể nói, chiến dịch quảng cáo của bạn đã thành công.
(Theo bwportal)
Những điểm khác biệt giữa quảng cáo và PR
Quảng cáo là gió – PR là mặt trời
Một trong những chuyện ngụ ngôn của Aesop kể rằng, một hôm gió và mặt trời tranh cãi nhau xem ai là người mạnh hơn.
Bỗng thấy một khách bộ hành trên đường, cả hai bèn thách nhau xem ai cởi được chiếc áo khoác của khách bộ hành thì người đó sẽ là người thắng cuộc. Gió bắt đầu trước, bằng cách thổi, càng lúc càng mạnh, nhưng càng mạnh bao nhiêu, áo càng dính chặt vào người bấy nhiêu.
Đến phiên mặt trời, mặt trời chỉ cần toả ánh nắng. Chẳng bao lâu khách cảm thấy nóng nực và tự cởi áo khoác ra. Mặt trời đã thắng cuộc
Bạn không thể dùng sức mạnh để đột nhập vào trong đầu khách hàng tiềm năng. Quảng cáo được hiểu như một sự áp đặt, một khách hàng không mời mà đến, cần thiết phải chống lại. Việc bán hàng cũng như ngọn gió kia càng thổi mạnh bao nhiêu, khách hàng tiềm năng càng cưỡng lại thông điệp bán hàng bấy nhiêu.
Những người bán quảng cáo nói về sự tác động. Làm những mẫu quảng cáo trên báo in lớn hơn, làm những tờ quảng cáo chèn vào giữa tờ báo hoặc làm những tờ gấp và phải đầy màu sắc. Còn những mẫu quảng cáo trên truyền hình phải “hành động” mạnh hơn, câu chuyện phải “điên” hơn và giật gân hơn. Gia tăng những giây quảng cáo trên sóng phát thanh nhiều hơn nữa. Nhưng, chính xác, đây chỉ là những hứa hẹn. Đừng chú ý đến tôi. Tôi chỉ là quảng cáo mà thôi.
Một mẩu quảng cáo càng cố gắng gây ấn tượng cho người khác bao nhiêu thì càng có ít khả năng đạt mục tiêu bấy nhiêu. Thật ra, thỉnh thoảng, khách hàng tiềm năng cũng mất cảnh giác – và gió sẽ chiến thắng. Nhưng điều này là không thường xuyên.
PR là mặt trời. Bạn không thể buộc phương tiện truyền thông đại chúng truyền đạt thông điệp của bạn. Quyền đó hoàn toàn nằm trong tay của họ. Tất cả những gì bạn có thể làm là mỉm cười và cố cung cấp cho họ những nguyên liệu hữu dụng nhất.
Khách hàng cũng không chấp nhận một điều áp đặt nào từ những tin, bài trên báo. Ngược lại, họ hy vọng rằng báo chí cố gắng giúp thông báo về một dịch vụ hay một sản phẩm tốt vừa xuất hiện mà thôi.
Quảng cáo cần sự bùng nổ - PR đòi hỏi xây dựng từng bước.
Đã trở thành một tín điều đối với những nhà làm quảng cáo rằng một chiến dịch quảng cáo cần phải được phát động như một vụ “nổ mặt trời”. Nhất là đối với các thương hiệu mới.
Khi bạn cố gắng xây dựng một thương hiệu mới, bạn phải hoàn tất nhiều việc cùng lúc. Nào là thu hút sự chú ý, nào là gây ấn tượng mạnh trong tâm trí khách hàng, nào là thêm thắt một hay nhiều thuộc tính tích cực vào thương hiệu mới.
Đó là một khối lượng công việc khổng lồ mà quảng cáo không thể đáp ứng được. PR sẽ là một chọn lựa tốt hơn nhiều.
Thực ra, nếu bạn phát động một thương hiệu mới bằng một chiến dịch PR, sẽ không có một chọn lựa nào khác: bạn phải sử dụng một chiến thuật tiện tiến, vì bạn không có cách nào điều phối những phương tiện truyền thông đại chúng. Bạn nên bắt đầu từ những cái nhỏ nhất – thường là đăng một thông tin ngắn về thương hiệu mới trên một tờ báo nhỏ nào đó. Rồi từ đó,bạn sẽ “cuốn chiếu” chương trình dần lên trên những báo,đài lớn hơn.Nếu bạn may mắn,bạn có thể “lên" đến các chương trình truyền hình như Today, Moneyline hay thậm chí chương trình World News Tonight.
Khi bạn nghiên cứu lịch sử những thương hiệu thành công nhất trên thế giới, bạn sẽ phải ngạc nhiên vì sự khởi đầu thật chậm chạp của chúng. Vào năm đầu tiên, hãng Coca – Coke chỉ bán được vỏn vẹn 50 đôla nước cốt. Qua nhiều thập kỉ, Coca-Coke vẫn chủ yếu chỉ là một thương hiệu nước uống bán bằng ly ở tiệm tạp phẩm.
Ngày nay chúng ta biết Coca-Coke đóng chai là cốt lõi của thương hiệu đó, nhưng đã phải mất 42 năm để doanh số nước ngọt Coca-Coke đóng chai vượt qua doanh số của nước bán từ vòi đổ vào ly.
Điển hình thành công nhất về máy tính cá nhân laptop (đơn vị bán lẻ), chính là máy tính Apple II, có lúc số lượng bán lên hàng triệu chiếc. Thế mà vào hai năm đầu của nó, chỉ bán được 43.000 chiếc máy tính Apple II trên thị trường.
Quảng cáo là hình ảnh- PR là lời nói
Nhà quảng cáo vĩ đại nhất trên đại lộ Madison đã chết 2.500 năm, nhưng học thuyết của ông vẫn hằn sâu trong tâm trí của tất cả những con người đấy sáng tạo ởđó.
Nói cho cùng, quảng cáo ngày nay hầu như chỉ toàn hình ảnh.Lời nói nếu có chỉ để tăng cường cho hình ảnh mà thôi. Như những con ếch phùng mang kêu, “Budweiser”
Lời nói ít được tin cậy trong một mẫu quảng cáo. Một công ty nói “Chúng tôi là tốt nhất” sẽ không thuyết phục được ai. Phản ứng tiêu biểu của người tiêu dùng là “công ty nào mà chẳng nói như thế”.
Quảng cáo tự dồn chính nó vào một góc hình ảnh. Bạn có thể tranh cãi với những lời nói hay từ ngữ,nhưng bạn không thể tranh cãi với một hình ảnh. Không ai cãi, ”Đó không phải là một con ếch.”
Sự vận động lại là một chuyện khác. Đầu óc suy nghĩ bằng lời, không phải bằng hình ảnh. Khách hàng tiềm năng sẽ quyết định mua mặt hàng nào là dựa trên sự so sánh bằng lời lẽ. Cái này mới là tốt nhất, cái này mới là rẻ nhất,l ớn nhất, nhẹ nhất, an toàn nhất…
Anh chàng Joe sẽ không gọi phục vụ mang ra một “loại bia mà Louie uống”. Không, anh ta sẽ kêu một loại bia khác và nghĩ, "Vua của các loại bia, loại bia bán chạy nhất ở Mỹ, loại bia mà tất cả bạn bè tôi đều uống.”
Bản chất của PR là diễn đạt bằng ngôn từ một thương hiệu sao cho có thể thuyết phục được giới truyền thông đăng tải tin bài về sản phẩm hay dịch vụ của nó. Nếu hình ảnh có được sử dụng thì chúng chỉ để hỗ trợ cho ngôn từ. Chúng làm cho thông điệp trở nên đáng tin cậy hơn.
Ví dụ như, trong thông cáo báo chí về Trung tâm An toàn mới thành lập trị giá 85 triệu đôla của hãng Volvo tại Gothenburg, Thuỵ Điển, có kèm hình ảnh về vụ đụng xe thử nghiệm. Bức ảnh đó hỗ trợ cho vị thế an toàn của thương hiệu đó.
Làm thế nào để quảng cáo ngày càng hướng về dùng ngôn từ, và nhờ thế, càng hiệu quả hơn? Chỉ có cách tập trung vào những ngôn từ và ý tưởng đã được thông tin đại chúng tạo lập trong tâm trí khách hàng.
Quảng cáo “chết” – PR “sống”
Không có gì vô dụng cho bằng mẩu quảng cáo của ngày hôm qua. Nó sẽ kết thúc trên tường của một đại lý quảng cáo hay trong một cuốn sách về các quảng cáo đoạt giải thưởng. Nhưng, đối với một người tiêu dùng bình thường, một mẩu quảng cáo chẳng khác nào một chú bướm: sống ngắn ngủi rồi chết.
Đối với PR thì không như thế. Một tin tức hay bài báo hay sẽ sống mãi. Chiến lược cơ bản của PR là đăng tin trong một tờ báo và, giống như leo thang,đưa nó đến một tờ báo lớn hơn, hoặc từ báo in sang đài phát thanh hay truyền hình.
Bạn cũng có thể sử dụng tin như đang xuống thang, tờ Wall Street Journal là một ví dụ. Một tin đăng trước tiên trên tờ Wall Street Journal thường cũng sẻ xuất hiện dưới hình thức này hoặc hình thức khác trên những tớ báo nhỏ hơn.
Máy tính và Internet cũng giúp đẩy nhanh quá trình này. Trước khi viết bài về một sản phẩm hay về một công ty, phóng viên thường phải kiểm tra xem những tờ báo khác đã viết gì về chủ đề đó. Thông tin trên một tờ báo có thể sẽ được phản ánh lại trên nhiều tờ báo khác trong những năm sau đó. (Ngược lại,không có ai lại đi phối kiểm với những quảng cáo cũ).
Trong PR hiện đại, điều quan trọng là có được bài báo đầu tiên thật thích hợp. Bài báo đầu tiên này sẽ có ảnh hưởng lớn đến các tin bài sau đó.
Các phương tiện truyền thông đại chúng vận hành y như đầu óc một con người. Một khi có một cụm từ đã hình thành trong đầu, thì quả là nan giải khi muốn thay đổi nó. ”Tỉ phú Ron Perlman” là cụm từ mà giới truyền thông vẩn sử dụng để chỉ ông chủ của hãng mỹ phẩm Revlon. Mặc dù với sự sa sút của Revlon và các khoản đầu tư khác của ông Perlman không còn là một tỉ phú nữa từ nhiều năm rồi.
Nhưng, đối với giới truyền thông thì vẫn cứ là “tỉ phú Ron”.
("The fall of ads, the rise of PR", Al Ries và Laura Ries)
Sunday, 22. June 2008, 12:41:03
namevgo, pr
Từ quản lý sự tin tưởng đến quản trị sự thay đổiTừ khoảng năm năm nay, trong ngành quản trị ở Âu Mỹ, có một hội thảo thường thu hút nhiều lãnh đạo của các tổ chức kinh tế, xã hội và chính trị.
Chương trình đào tạo gồm bốn chuyên đề: quản lý sự tin tưởng (trust management), quản lý sự trung thành (loyalty management), quản lý quan hệ công dân (citizen relationship management) và quản lý sự thay đổi (change management).
Thật ra, các môn ấy đã có từ lâu: quản lý sự tin tưởng, phát triển đồng thời với kinh tế mạng tri thức, nhưng khởi nguyên từ ngành quản trị tâm lý nhân sự, nhằm giải quyết các nghi kỵ và tị hiềm giữa những thành viên và bộ phận khác nhau của doanh nghiệp trong việc chia sẻ thông tin. Quản lý sự trung thành, phát xuất từ việc điều hành thị trường vi mô, có mục đích thiết chế hóa những quan hệ lâu dài giữa doanh nghiệp và các đối tác thương mại của nó. Quản lý quan hệ công dân muốn tìm hiểu tính chất hoạt động của các định chế kinh tế trong mối tương quan với môi trường xã hội. Quản lý sự thay đổi là để tạo thế chủ động cho các tổ chức trước những đột biến của tình hình.
Tuy nhiên, điều đặc biệt là hội thảo kết hòa nội dung của bốn môn trên nhằm giúp các cấp lãnh đạo phá bỏ định kiến, từ việc tương tác nhiều cách tiếp cận khác nhau, để triển khai một tầm nhìn thấu đáo về các vấn nạn trong môi trường hoạt động của họ.
Đầu tiên là phân biệt ba hình thái của tin tưởng: niềm tin, lòng tin và sự tin tưởng. Hai khái niệm đầu nói về trạng thái tinh thần và tâm lý của cá nhân: không có hay không còn niềm tin và lòng tin, cuộc sống biến thành bất ổn và là nguồn bất mãn thường xuyên cho con người. Khái niệm sau phân tích tính chất vận hành của xã hội: không có sự tin tưởng, mọi cộng đồng đều không có khả năng tồn tại. Nói gọn, nếu con người cần niềm tin và lòng tin để sống thì xã hội cần sự tin tưởng để phát triển! Tin tưởng, do vậy, là nền tảng cấu thành bản chất của mọi tương quan mang tính tích cực trong mọi tổ chức nhân quần: không có nó, mọi quan hệ trở thành sự đối kháng liên tục và ngày càng trầm kha giữa các quyền lợi cục bộ trước mặt.
Nhưng còn thêm nữa là sự khác biệt giữa tin tưởng chủ động và tin tưởng thụ động: tin vào số mạng, vào thiên mệnh, vào anh minh của bề trên, vào một quyền thế tối cao là tin tưởng thụ động, nghĩa là làm cho con người thấp kém đi, biến thành lệ thuộc hoàn toàn vào những thiết chế mà khởi nguyên do chính nó đặt ra. Tin tưởng chủ động, trái lại, là động lực thúc đẩy mỗi một con người vượt thắng chính nó để xứng đáng với sự tin tưởng của nó về nó và của người khác đối với nó.
Do vậy, các thể chế độc tôn vẫn đòi hỏi sự phục tùng của con người bằng cách định hướng lòng tin của nó về một thực thể toàn năng nằm trên nó và ngoài nó. Ngược lại, những thể chế năng động tạo điều kiện cho con người tin tưởng vào bản thân, vào khả năng của nó trong việc sáng tạo ra chính nó.
Từ đó, niềm tin của con người là sự trực diện trước tiên với chính nó, trở thành một ý thức về sự tự do trong khuôn khổ của tất cả các mối ràng buộc và hệ lụy đương nhiên phải có: tin tưởng vào bản thân đòi hỏi đồng thời sự tin tưởng vào người khác vì người luôn luôn cần người để sống... cho ra người!
Tin tưởng, trong chiều hướng ấy, phát triển theo thế kiềng ba chân: trước tiên là tự tin để từ đấy mà tin được người và để người tin được ta! Trong nghĩa tích cực nhất, nội hàm của sự tin tưởng là sự tương nhập giữa tự tin và tin tưởng lẫn nhau.
Diễn trình trên được gói gọn trong công thức: Tin tưởng = Hiểu biết + Chia sẻ + Phán xét (Trust = Understanding + Sharing + Judgment), với nghĩa như sau: hiểu biết ở đây không chỉ là kiến thức, tri thức và kỹ năng cần thiết của mỗi một con người để xác định chỗ đứng của nó trong môi trường sống mà còn cơ bản là hiểu mình và hiểu người vốn là tiền đề của sự chia sẻ lẫn nhau trong quá trình chung sống của cộng đồng. Tuy nhiên, để sự tin tưởng được bền vững, điều thiết yếu còn là phải đặt mình dưới sự phán xét của người khác và của chính mình.
Tin tưởng, như thế, không chỉ mang tính chủ động mà còn là một tiến trình hết sức năng động: muốn sự tin tưởng càng ngày càng vững chắc thì hiểu biết lẫn chia sẻ và phán xét cần càng ngày càng phải được nâng tầm. Tin tưởng là một quá trình phải được tôi luyện, vun bồi và chứng minh!
Lý do chủ yếu là vì, trong thâm tâm, tin tưởng vẫn luôn luôn tiềm ẩn một nỗi nghi ngại: nghi ngại về một thất vọng có thể gây ra bởi chính sự tin tưởng! (cũng tương tự như tình yêu luôn luôn đi kèm với nỗi sợ về chính tình yêu ấy).
Nói chính xác, tin tưởng là sự chế ngự nỗi nghi ngờ. Nhưng chỉ là chế ngự chứ không phải là hoàn toàn triệt tiêu, chính vì vậy mà sự tin tưởng vẫn thường chỉ là tin tưởng trong một lĩnh vực nào đấy (khác với lòng tin vẫn thường là toàn diện và lắm khi mù quáng) và sự tin tưởng cần phải được đặt vào các cơ chế để kiểm định sự tin tưởng nhằm tăng cường sự tin tưởng!
Chính vì không nhận thức rõ các điều trên mà nỗi nghi ngại vẫn thường bị đồng nhất với sự mất tin tưởng. Thực chất là trái lại: chính vì có tin tưởng nên mới có nghi ngại, bởi nếu đã chẳng có chút tin tưởng gì, ai lại tốn công để xác minh về một điều mà ngay từ đầu đã chẳng tin là nó có thể có?! Ngộ nhận ấy là tiền đề của biết bao oái ăm lịch sử: vì đồng hóa thẩm tra và kiểm sát với việc gây ra sự mất tin tưởng đối với quyền thế đương thời nên nhiều cấp lãnh đạo đã dẹp bỏ các định chế đối trọng, không ngờ rằng chính việc dẹp bỏ trên lại là nguyên nhân cơ bản gây ra sự mất tin tưởng đối với thể chế hiện hành: bộ phận đối trọng của động cơ ô tô là cái phanh, vậy có ai dám tin tưởng để ngồi với người lái trên một ô tô máy cực mạnh nhưng cái phanh lại có cũng như... không?!
Và tính biện chứng trong quản lý sự tin tưởng là chỗ ấy: muốn sự tin tưởng lẫn nhau trở thành thiết chế cơ bản của những mối tương quan trong cộng đồng, các định chế xã hội cần phải được mở rộng để những nghi ngại được lên tiếng thẩm vấn lẫn nhau và cùng thẩm tra sự tin tưởng. Trách nhiệm của lãnh đạo trong việc phát huy sự tin tưởng chính là không chỉ thẩm thấu mà còn biết trân trọng đúng mức những nỗi nghi ngờ có nguyên cớ!
Trong cùng động thái ấy, quản lý sự trung thành được xác lập từ một định đề tiên quyết: muốn người khác trung thành với mình thì trước tiên mình phải luôn trung thành với những giá trị và các nguyên lý hành xử mà chính mình đã đề cao. Trung thành đòi hỏi một vị thế xứng đáng với sự trung thành ấy. Thuật ngữ chuyên môn rất cô đọng: giữa trung thành (loyalty) và vị thế xứng đáng với sự trung thành ấy (loyalty status) là một sự trói buộc không thể cắt rời (bonding, với nghĩa đầu tiên là cần thiết phải trung thực với chính mình: faithfulness, fidelity)! Trung thành là một phẩm chất chỉ có thể sống được với sự nhất quán: sáng nắng chiều mưa hay nói một đằng làm một nẻo hoặc đánh trống bỏ dùi thì làm sao kêu gọi được sự trung thành, trung tín đích thực?! Có chăng thì đấy chỉ là một loại ràng buộc với nhau trên cơ sở sự phân chia quyền lợi và quyền lực của những cá nhân đồng thuyền mà dị mộng!
Cũng do vậy mà chức năng “lội nước đi trước”, “đứng mũi chịu sào”, thậm chí là “nêu gương”, của các cấp lãnh đạo trong việc quản lý quan hệ công dân, nghĩa là trong việc thúc đẩy tất cả các tác nhân trong tổ chức góp phần làm cho môi trường sống của cộng đồng ngày càng có chất lượng nhân văn và nhân bản hơn, là rất quan trọng: muốn vai trò công dân được phát huy thì tiên quyết là những người có quyền hành trong mọi cơ cấu của cộng đồng phải minh chứng việc gánh vác đầy đủ trách nhiệm công dân của mình.
Cần phải hiểu rõ về khái niệm “nêu gương” của người lãnh đạo vừa được nêu ra. Trong một tập truyện ngắn của Mark Twain (nhà văn Mỹ, tên thật là Samuel Langhorne Clemens, 1835-1910), có một mẩu đối thoại thâm trầm: “Tôi rất khác anh, anh bạn à. Anh đạo đức hơn tôi nhiều: anh không thể nói dối vì anh không biết nói dối. Nhưng tôi có một đạo lý làm người cũng đáng để gọi là cao: tôi biết nói dối, và tôi có thể nói dối nhưng tôi lại không nói dối”! Ngụ ý ở đây là: chẳng ai hoài vọng quá đáng là người lãnh đạo phải có một đạo đức xuất phàm, mà chỉ cần, thông qua cách hành xử của họ, thể hiện sự ngay thẳng và minh bạch là cũng đủ để động viên tích cực những người dưới quyền của họ.
Và chính là nhờ sự động viên ấy mà việc quản lý sự thay đổi phát huy được hiệu năng của nó. Theo giới chuyên gia quốc tế, muốn tạo thế chủ động trong tiến trình thay đổi thì phải cần ba chữ “C”, đó là “Contribute, Collaborate, Create”, nghĩa là “góp phần, hợp tác và sáng tạo” “với ý như sau: để sự thay đổi cần thiết của/và trong các tổ chức không bị rơi vào trạng thái hỗn loạn, cần thiết phải đón đầu các xu thế mới nhằm điều hợp thực tại đồng thời với việc khai thác và lợi dụng tình thế.
Muốn vậy, lãnh đạo phải tạo điều kiện cho tất cả các thành viên trong cơ chế tham gia hợp tác với nhau trên nền tảng khuyến khích sự sáng tạo của họ. Nhưng chữ “C” cuối, nghĩa là Create-Sáng tạo lại cần thêm một cấu hình khác để thật sự trở thành thành nguồn động năng hiệu dụng. “Công thức” là: Creativity = Identities + Ideas & Knowledge + Emotional Intelligence, hiểu theo hướng là sự sáng tạo của mỗi một cá nhân góp phần vào việc làm chủ tiến trình thay đổi chỉ được hình thành từ việc tôn trọng bản sắc và tính đặc thù (identities) của cá nhân đó.
Chính từ việc tôn trọng ấy mà các sáng kiến đến từ tri thức (ideas & knowledge) của con người được phát huy nhờ sự xúc tác của trí tuệ cảm năng (emotional intelligence). Nói gọn: sự dấn thân của mỗi một con người được phát huy tối đa khi nó được vinh thăng như một chủ thể có cội nguồn, có tim và có óc. Và cũng từ đó mà sự tin tưởng lẫn nhau của con người và sự tin tưởng của nó đối với lãnh đạo được gia cố và gia tăng!
Như trên là tóm lược về đường hướng và phương pháp luận tư duy của diễn trình từ quản lý sự tin tưởng đến quản trị sự thay đổi ở Âu Mỹ. Nhưng rốt cuộc lại hiện ra vấn đề gai góc: management của Tây, so với quản lý, quản trị ở Ta lại là hai tâm thức có nhiều dị biệt!
Cứ tầm nguyên ngữ nghĩa thì rõ: management là từ ghép bởi man và agement. Man - con người, phát xuất từ hai chữ gốc của cổ ngữ Hy Lạp là manu và mana. Manu là “bàn tay lao động” và mana là “trí tuệ định hướng kết quả của lao động từ bàn tay”. Agement, khởi nguyên từ age gốc Latinh, có nghĩa đầy đủ là “sắp xếp lại thời đại mà con người đang sống”. Do vậy, management tiềm tàng một nhân sinh về “lao động có tư duy nhằm cải tạo thời đại”.
Khác hẳn với nội hàm triết lý của quản lý và quản trị: “quản”, theo gốc Hán, có nghĩa là “gánh vác, phụ trách, trông coi, chăm nom”. Nhưng “lý” ở đây không phải là “lý lẽ” hay “pháp lý” hoặc “chỉnh lý”, mà căn nguyên chính lại là “xóm làng” (vì thế mà có “lý trưởng, lý hào, lý mục... đảm trách “sự vụ làng xã”, thậm chí đến cả “lý toét”). “Trị”, thuộc bộ thủy trong gốc Hán, có nghĩa là “làm cho đừng dậy sóng, cho sự việc êm xuôi”.
Thì ra một bên là “cải tạo thời đang sống từ lao động có tư duy” và một bên lại “trông coi, sửa sang việc làng xã, làm cho đừng nổi cộm sự vụ”. Chả trách mà tận đến nay, tư duy nước ta đã qua mấy bận ba đào từ hội nhập đến toàn cầu hóa mà chung quy vẫn “hòa cả làng” trước những “chuyện thường ngày ở huyện”.
(Theo Tôn Thất Nguyễn Thiêm/Thesaigontimes)
Showing posts 1 -
50 of 120.