
[/IMG]Ngày 06 tháng 6 năm nay đã diễn ra Lễ trao tặng Giải thưởng Văn hóa Tezuka. Trong suốt buổi lễ, các mangaka được giải đã nói lên những suy nghĩ, tình cảm và kế hoạch tương lai của họ. Hãy cùng Thánh địa Manga tìm hiểu về giải thưởng uy tín này.
Giải thưởng Văn hóa Osamu Tezuka là một trong số những Giải thưởng Truyện tranh (manga) uy tín nhất Nhật bản. Giải thưởng có tên gọi Osamu Tezuka, được khởi xướng bởi Asahi Shimbun vào năm 1997.
Không nên nhầm lẫn Giải thưởng Văn hóa Tezuka với Giải thưởng Tezuka của NXB Shueisha mà được tạo ra năm 1971 (Weekly Shonen Jump) hay Giải thưởng Anime/Manga Osamu Tezuka được AnimeEast tạo ra năm 1995.
Ban đầu, người ta trao hai giải thưởng là Giải thưởng Lớn (Grand Prize) và Giải Tuyệt diệu (Award for Excellence). Bên cạnh đó còn có Giải Đặc biệt (Special Award) dành cho những cá nhân hoặc tổ chức có công trong việc phát triển manga.
Hội đồng giám khảo được lựa chọn từ những độc giả manga, những tác giả chuyên nghiệp, nhà văn, nhà phê bình và những nghệ sĩ trong nhiều lĩnh vực khác. Dựa trên một bảng tiêu chí chung, họ sẽ đề cử ra danh sách những người vào chung cuộc của giải thưởng. Trong vòng bỏ phiếu chung cuộc, mỗi giám khảo có thể cho điểm với điểm số 15 trong đó tối đa 5 điểm cho mỗi tiêu chí. Tác phẩm đạt điểm cao nhất cuối cùng sẽ được nhận Giải thưởng Lớn.
Năm 2003, đã có 2 giải thưởng mới được thêm vào là Giải Tiềm năng (New Hope Award, nguyên văn tiếng Nhật là Shinsei) và Giải thưởng Truyện ngắn (Short Story Award). Như vậy là có 3 giải thưởng phụ: Giải Tiềm năng, Giải thưởng Truyện ngắn và Giải Đặc biệt.
Tác giả nhận Giải thưởng Lớn sẽ kèm theo phần thưởng 2 triệu Yên và một tượng kỷ niệm chương bằng đồng đỏ. Trong khi các tác giả nhận được giải thưởng khác sẽ có phần thưởng 1 triệu Yên và một tượng kỷ niệm.
Hàng năm, Asahi Shimbun công bố tác giả đoạt giải trên tờ báo của mình, dưới đây là một thông báo như vậy:

Người nhận được Giải thưởng Lớn lần thứ 11, tác giả Ryoko Yamagishi phát biểu tại buổi lễ trao giải: "Nhờ có Ngài Tezuka, manga đã được lan truyền phổ biến trên khắp thế giới. Tôi rất vui mừng và tự hào khi nhận được giải thưởng này". Bà cũng cho biết thêm những thông tin về phần hai của tác phẩm Maihime Terpsichore: "Tôi muốn thay đổi tiến độ vẽ của manga này để đem lại một điều gì đó thực sự thú vị và nhiều bất ngờ".
Nobuhisa Nozoe và Kazuhiro Iwata là hai tác giả nhận được Giải Tiềm năng cùng nhau. Nozoe phát biểu: "Tôi muốn tinh thần của Kyojin Onishi kéo dài mãi mãi". Còn Iwata nói rằng, "Tôi coi việc nhận được giải thưởng này như một động lực để chúng tôi làm việc tốt hơn nữa. Hi vọng mọi người sẽ đón nhận tác phẩm của chúng tôi".
Tác giả Hiromi Morishita xúc động nói khi nhận Giải thưởng Truyện ngắn: "Một người bạn ở quê của tôi đã viết trong thư cho tôi rằng: Ngài Tezuka là Vua Manga. Cô ấy gọi là Vua chứ không phải là Vị chúa. Tôi nghĩ, cuộc đời của một mangaka có thể đưa ông ta trở thành Vị chúa của Manga".
Dưới đây là danh sách giải thưởng qua các năm:
* 1st (1997) Giải thưởng Lớn: Fujio F. Fujiko (Doraemon)
Danh sách chung cuộc:
- Takayuki Yamaguchi (Apocalypse Zero)
- Minetarō Mochizuki (Dragon Head)
- Taiyo Matsumoto (Ping Pong)
- Gonta King and Hagin Yi (Sotenkoro)
Giải Tuyệt diệu: Moto Hagio (Zankoku na Kami ga Shihai Suru)
Giải đặc biệt: Minoru Naiki vì đã sáng lập và quản lý Gendai Manga Toshokan (Thư viện Manga Hiện đại).
* 2nd (1998) Giải thưởng Lớn: Jiro Taniguchi and Natsuo Sekikawa (Botchan No Jidai)
Danh sách chung cuộc:
- Yu Koyama (Azumi)
- Kentaro Miura (Berserk)
- Minoru Furuya (Go! Inachu Ping Pong Club)
- Naoki Urasawa (Monster)
- Koji Aihara (Mujina)
- Taiyo Matsumoto (Ping Pong)
- Gonta King and Hagin Yi (Sotenkoro)
- Rieko Saibara (Yunbokun)
Giải Tuyệt diệu: Aoki Yuji (Naniwa Kin'yuudou)
Giải đặc biệt: Shotaro Ishinomori cho những năm tháng đóng góp cho manga và công nghiệp manga của Nhật bản.
* 3rd (1999) Giải thưởng Lớn: Naoki Urasawa (Monster)
Danh sách chung cuộc:
- Kentaro Miura (Berserk)
- Minetaro Mochizuki (Dragon Head)
- Kyoko Okazaki (Untitled)
- Award for Excellence:
- Akira Saso (Shindo: The Prodigy)
Giải đặc biệt: Fusanosuke Natsume cho những đóng góp của ông trong lĩnh vực phê bình manga.
* 4th (2000) Giải thưởng Lớn: Daijirou Moroboshi (Saiyuu Youenden)
Danh sách chung cuộc:
- Kentaro Miura (Berserk)
- Waka Mizuki (Itihaasa)
- Eiichiro Oda (One Piece)
- Hideki Arai (The World is Mine)
Giải Tuyệt diệu: Minetaro Mochizuki (Dragon Head)
Giải đặc biệt: Frederik L. Schodt cho những sự thúc đẩy phổ biến manga Nhật bản trên toàn thế giới.
* 5th (2001) Giải thưởng Lớn: Reiko Okano (Onmyoji)
Danh sách chung cuộc:
- Kentaro Miura (Berserk)
- Yumiko Oshima (Even Goo-Goo is a Cat)
- Kazuichi Hanawa (Keimusho no Naka)
- Eiichiro Oda (One Piece)
- Takehiko Inoue (Vagabond)
Giải Tuyệt diệu: Kotobuki Shiriagari (Yajikita in Deep)
Giải đặc biệt: Akira Maruyuma vì những hỗ trợ cho các tác giả tại Tokiwa-so.
* 6th (2002) Giải thưởng Lớn: Takehiko Inoue (Vagabond)
Danh sách chung cuộc:
- Reiko Shimizu (Himitsu: Top Secret)
- Eiichiro Oda (One Piece)
- Yumi Hotta and Takeshi Obata (Hikaru no Go)
- Hideki Arai (The World is Mine)
Giải Tuyệt diệu: Kentaro Miura (Berserk)
Giải đặc biệt: Không có.
* 7th (2003) Giải thưởng Lớn: Fumiko Takano (The Yellow Book: A Friend Named Jacques Thibault)
Danh sách chung cuộc:
- Yumiko Oshima (Even Goo-Goo is a Cat)
- Hisaichi Ishii (Gendai Shiso no Sonansha-tachi)
- Taro Minamoto (Fuunji-tachi: Bakumatsu)
- Yumi Hotta and Takeshi Obata (Hikaru no Go)
- Ichiko Ima (Hyakki Yako Sho)
- Shuho Sato (Say Hello to Black Jack)
- Izo Hashimoto and Akio Tanaka (Shamo)
- Shinsei (New Hope) Award:
- Yumi Hotta and Takeshi Obata (Hikaru no Go)
Giải thưởng Truyện ngắn: Hisaichi Ishii (Gendai Shiso no Sonansha-tachi)
Giải đặc biệt: Shigeru Mizuki cho những sáng tạo và năm tháng hoạt động của ông.
* 8th (2004) Giải thưởng Lớn: Kyoko Okazaki (Helter Skelter)
Danh sách chung cuộc:
- Ai Yazawa (Nana)
- Satoshi Fukushima (Boys and Girls)
- Hiromu Arakawa (Fullmetal Alchemist)
- Taro Minamoto (Fuunji-tachi: Bakumatsu)
- Chika Umino (Honey and Clover)
- Ryoko Yamagishi (Maihime Terpsichore)
- Yamato Suzuki (Manga Travelogue: The Narrow Road to Oku)
Giải Tiềm năng: Takashi Morimoto (Naniwadora Ihon)
Giải thưởng Truyện ngắn: Risu Akizuki (OL Evolution)
Giải đặc biệt: Taro Minamoto vì đã tiên phong trong đề tài lịch sử và những đóng góp vào văn hóa manga.
* 9th (2005) Giải thưởng Lớn: Naoki Urasawa (Pluto)
Danh sách chung cuộc:
- Tobira Oda (Danchi Tomoo)
- Hitoshi Iwaaki (History)
- Ichiko Ima (Hyakki Yako Sho)
- Ryoko Yamagishi (Maihime Terpsichore)
- Tomoko Ninomiya (Nodame Cantabile)
- Fumiyo Kono (Yuunagi no Machi Sakura no Kuni)
- Takehiko Inoue (REAL)
- Yoko Kondou (Suikyou Kitan)
Giải Tiềm năng: Fumiyo Kono (Yuunagi no Machi Sakura no Kuni)
Giải thưởng Truyện ngắn: Rieko Saibara (Jokyo Monogatari)
Giải đặc biệt: Kawasaki City Museum cho bộ sưu tầm và triển lãm manga từ thời Edo đến nay.
* 10th (2006) Giải thưởng Lớn: Hideo Aduma (Disappearance Diary)
Danh sách chung cuộc:
- Akimi Yoshida (Eve no Nemuri)
- Tobira Oda (Danchi Tomoo)
- Moyoco Anno (Hataraki Man)
- Hitoshi Iwaaki (Historie)
- Daisuke Igarashi (Little Forest)
- Masayuki Ishikawa (Moyashimon)
- Ai Yazawa (Nana)
- Tomoko Ninomiya (Nodame Cantabile)
- Okawara Ton (Ousama no Shitateya ~Saruto Fuinito~)
- Takehiko Inoue (REAL)
Giải Tiềm năng: Asa Higuchi (Ookiku Furikabutte)
Giải thưởng Truyện ngắn: Risa Itou (collection of short stories)
Giải đặc biệt: Kousei Ono cho nhiều năm giới thiệu truyện tranh nước ngoài vào Nhật bản và đóng góp những bài bình luận manga.
* 11th (2007) Giải thưởng Lớn: Ryoko Yamagishi (Maihime Terpsichore)
Danh sách chung cuộc:
- Tobira Oda (Danchi Tomoo)
- Tsugumi Ohba and Takeshi Obata (Death Note)
- Yoshihiro Yamada (Hyouge-mono)
- Daisuke Sato abd Yu Ito (Koukoku no Shugosha)
- Masayuki Ishikawa (Moyashimon)
- Fumi Yoshinaga (Ooku)
- Hiromi Morishita (Osaka Hamlet)
Giải Tiềm năng: Nobuhisa Nozoe, Kazuhiro Iwata and Kyojin Onishi (The Divine Comedy)
Giải thưởng Truyện ngắn: Hiromi Morishita (Osaka Hamlet)
Giải đặc biệt: Không có.
L@m Jimmy, biên dịch từ Comipress (
http://comipress.com/article/2007/07/12/2289)