Skip navigation.

NGHE AN TOURISM PROMOTION CENTER

TRUNG TÂM XÚC TIẾN DU LỊCH NGHỆ AN

July 2009

( Monthly archive )

DIA CHI CAN THIET CHO DU KHACH

KHÁCH SẠN

SÀI GÒN KIM LIÊN RESORT KHÁCH SẠN XANH (GREEN)
80 đường Bình Minh, TX. Cửa Lò Đường Bình Minh, Cửa Lò
ĐT: 038. 3952899 ĐT: 038. 3949949

KHÁCH SẠN CÔNG ĐOÀN KHÁCH SẠN HẠ LONG
74 đường Binh Minh, TX. Cửa Lò 18, đường Sào Nam, TX. Của Lò
ĐT: 038. 3949802 ĐT: 038. 3824617

KHÁCH SẠN LÂM SƠN HẢI KHÁCH SẠN HÒN NGƯ
Đường Nguyễn Thúc Tự, Nghi Hương, Cửa Lò Đường Bình Minh, Cửa Lò
ĐT: 038. 3955888 ĐT: 038. 3824127

KHÁCH SẠN THÁI BÌNH DƯƠNG KHÁCH SẠN THIÊN ÂN
92 Bình Minh, Cửa Lò Đường Bình Minh, TX. Cửa Lò
ĐT: 038. 3824164 ĐT: 038. 3955999

KHÁCH SẠN BẠCH TUYẾT KHÁCH SẠN TUẤN ANH
Đường Bình Minh, Cửa Lò Đường 6, khối 1, P. Thu Thủy, Cửa Lò
ĐT: 038. 3949456 ĐT: 038. 3949123

KHÁCH SẠN VIỄN ĐÔNG KHÁCH SẠN BIỂN NHỚ
09 đường Sào Nam, Cửa Lò Đường Bình Minh, Cửa Lò
ĐT: 038. 3949387 ĐT: 038. 3951736

KHÁCH SẠN HƯƠNG GIANG KHÁCH SẠN HỒNG KÔNG
Nghi Hương, Cửa Lò Đường Bình Minh, Cửa Lò
ĐT: 038. 3951999 ĐT: 038. 3951629

KHÁCH SẠN HOA ĐỒNG TIỀN KHÁCH SẠN SAO BIỂN
Đường Bình Minh, Cửa Lò Phường Thu Thủy, Cửa Lò
ĐT: 038. 3824901 ĐT: 038. 3824405

NHÀ HÀNG – QUÁN ĂN

NHÀ HÀNG HOA SỮA HÀ NỘI QUÁN
TX. Cửa Lò Ki ốt 90+91 bãi biển Cửa Lò
ĐT: 038. 3951838 ĐT: 038. 3824384

CƠ QUAN HÀNH CHÍNH

TRUNG TÂM XÚC TIẾN DU LỊCH NGHỆ AN
ĐT: 038. 359 8488 - Hotline: 0904 023 223

HĐND-UBND TỈNH NGHỆ AN
03 Trường Thi, TP. Vinh
ĐT: 038. 3842366 – 3844859

SỞ KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ NGHỆ AN UBND THỊ XÃ CỬA LÒ
20 đường Trường Thi, TP. Vinh Đường Nguyễn Sinh Cung, TX. Cửa Lò
ĐT: 038. 3592246 ĐT: 038. 3636666 – 3824153

ĐỘI CỨU HỘ CỬA LÒ Công ty dịch vụ môi trường
ĐT: 038. 3824830 ĐT: 038. 3824329

CÔNG AN THÀNH PHỐ VINH
Số 65-Nguyễn Thị Minh Khai- TP.Vinh-Nghệ An
ĐT:0383.839478

PHÒNG BÁN VÉ MAY BAY
Số 02-Lê Hồng Phong- TP.Vinh-Nghệ An
ĐT:0383.847359

PHÒNG BÁN VÉ GA VINH
Số 01-Trường Chinh- TP.Vinh-Nghệ An
ĐT:0383.853302

PHÒNG BÁN VÉ Ô TÔ XE KHÁCH
Số 77-Lê Lợi- TP.Vinh-Nghệ An
ĐT:0383.844127

NHÀ HÁT DÂN CA NGHỆ AN
Số 76-Nguyễn Du- TP.Vinh-Nghệ An
ĐT:0383.855368

RẠP 12/9
Đường Quan Trung-Tp Vinh-Nghệ An
ĐT:0383.565448

TRUNG TÂM THI ĐẤU THỂ THAO
Số 06-Đào Tấn-TP.Vinh-Nghệ An
ĐT:0383.566047

SÂN TENNIS
-Khách sạn Phương Đông
-Câu lạc bộ lao động
-Công viên Nguyễn Tất Thành

SÀN NHẢY
Sàn nhảy Memory tại câu lạc bộ lao động-TP.Vinh-Nghệ An

KARAOKE
Tại các khách sạn lớn trên địa bàn tỉnh

MASSAGE
Tại các khách sản lớn trên địa bàn tỉnh

SHOP THỜI TRANG THUỲ VÂN
Số 33-Đinh Công Tráng-TP.Vinh-Nghệ An
ĐT:0383.598338

HIỆU GIẦY QUANG LÊ
Số 76-Đinh Công Tráng-TP.Vinh-Nghệ An
ĐT:0383.5898287

NHÀ SÁCH THÀNH VINH
Số 59-Trần Phú-TP.Vinh-Nghệ An
ĐT:0383.591167

SIÊU THỊ CHUYÊN BÁN ĐỒ VÀ DỤNG CỤ THỂ DỤC, THỂ THAO
Số 58-Đào Tấn-TP.Vinh-Nghệ An
ĐT:0383.586106

CÔNG TY CỔ PHẦN XE KHÁCH NGHỆ AN
ĐT:0383.837548

SỬA CHỮA Ô TÔ LẤY NGAY
Số 219-Lê Lợi-TP.Vinh-Nghệ An
ĐT:0383.844242

SỬA CHỮA Ô TÔ QUỐC BẢO
Số 238-Trường Chinh-TP.Vinh-Nghệ An
ĐT:0383.85456

BỆNH VIỆN

BỆNH VIỆN VIỆT NAM-BA LAN
Số 15-Nguyễn Phong Sắc-TP.Vinh-Nghệ An
ĐT:0383.844528

BỆNH VIỆN NHI NGHỆ AN
ĐT:0383.844721

BỆNH VIỆN Y HỌC DÂN TỘC
Xóm Yên Hoà-Hà Huy Tập-Tp.Vinh-Nghệ An
ĐT:0383.844528

BƯU ĐIỆN THÀNH PHỐ
Số 02-Nguyễn Thị Minh Khai-TP.Vinh-Nghệ An
ĐT:0383.561407

NGÂN HÀNG

NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG
Số 07-Nguyễn Sỹ Sách-TP.Vinh-Nghệ An
ĐT:0383.842842

NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG BẾN THUỶ
Số 22-Lê Duẩn-TP.Vinh-Nghệ An
ĐT:0383.842548

NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
Số 216-Lê Duẩn-TP.Vinh-Nghệ An
ĐT:0383.841235

NGÂN HÀNG TMCP BẮC Á
Số 115-Nguyễn Thái Học-TP.Vinh-Nghệ An
ĐT:0383.844277

NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG NGHỆ AN
Số 09-Nguyễn Sỹ Sách-TP.Vinh-Nghệ An
ĐT:0383.842033

NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ ĐBSCL
Số 05-Nguyễn Sỹ Sách-TP.Vinh-Nghệ An
ĐT:0383.594473

THỊ XÃ CỬA LÒ

UBND Thị Xã:
-Xã Nghi Hương-Thị xã Cửa Lò
ĐT:0383.824144
-Công An thị xã:
Đường Nguyễn Sinh Cung-Thị xã Của Lò
ĐT:0383.955595

NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THỊ XÃ CỬA LÒ
-Chi nhánh Cửa Lò
Đường Bình Minh
ĐT:0383.824168

-Phòng giao dịch cảng Cửa Lò
Phường Thu Thuỷ
ĐT: 0383.945274

-Phòng giao dich Cửa Hội
Xã Nghi Hải
ĐT: 038.829407

-Phòng Văn Hoá Thông tin
ĐT: 0383.824175

-Công ty dịch vụ môi trường
Xã Nghi Thu-Thị xã Cửa Lò
ĐT: 0383.824329

BƯU ĐIỆN CỦA LÒ
Số 1-Đường Binh Minh-Thị Xã Của Lò
ĐT:0383.824104

-Cán bộ du thuyền
Khối 6-Phường Thu Thuỷ-Thị xã Cửa Lò
0383.951489

-Công viên trung tâm Cửa Lò
Đường Bình Minh-Thị Xã Cửa Lò
ĐT:0383.824537

CÁC HÃNG LỮ HÀNH
-Công ty Cp Du Lịch Nghệ An
Số 13-Quang Trung-TP.Vinh-Nghệ An
ĐT:0383.843635

-Công ty Khách Sạn Du Lịch Phương Đông
+ Trung tâm Lữ hành QT Phương Đông
Số 02-Trường Thi-TP.Vinh-Nghệ An
ĐT:0383.562229

+Trung tâm Lữ hành Trường Sơn
Số 33-Nguyễn Văn Cừ-TP.Vinh-Nghệ An
ĐT:0383.592542

+Trung tâm lữ hành Hữu Nghị
Số 77-Lê Lợi-TP.Vinh-Nghệ An
ĐT:0383.599455

+Trung tâm lữ hành du lịch Bông Sen Vàng
Số 39-Quang Trung-TP.Vinh-Nghệ An
ĐT:0383.588889

*Author: Pham Bach
E-mail: bachdulich@gmail.com
Mobile: 0904 023 223

Ảnh: Thành cổ Vinh,Du lịch Nghệ An

TRUNG TÂM XÚC TIÊN DU LỊCH NGHỆ AN: Cần tuyển gấp 04 (bốn) nhân viên có yêu cầu như sau:

1. Nhân viên tư vấn Dự án

Yêu cầu: Tốt nghiệp đại học các chuyên ngành Kinh tế, Quản trị kinh doanh, Marketing, Du lịch, Ngoại ngữ,...có trình độ chuyên môn khá. Kỹ năng vi tính, giao tiếp, kinh nghiệm, ngoại hình,...đáp ứng yêu cầu.

ưu tiên: Nam giới, độ tuổi từ 24 - 30, sống tại Tp. Vinh hoặc các huyện gần. Ngoại ngữ tốt

Công việc: Tư vấn, lập các dự án đầu tư cho các nhà đầu tư là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có liên quan đến lĩnh vực Du lịch trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

Tư vấn, tổ chức các hoạt động quảng bá, xúc tiến đầu tư, du lịch trên địa bàn

2. Nhân viên Văn phòng:

Yêu cầu: Tốt nghiệp Đại học ngành Du lịch, Quản trị Kinh doanh Du lịch. Có kỹ năng vi tính, ngoại ngữ, giao tiếp thành thạo. Ngoại hình khá.

ưu tiên: Nam giới, độ tuổi từ 24 - 30, sống tại Vinh hoặc các huyện gần. Ngoại ngữ tốt

Công việc: Là nhân viên thuộc Trung tâm, thực hiện các công việc về tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch Nghệ An như: Quản trị website, thiết kế market, đồ hoạ, khảo sát doanh nghiệp, dịch web, tiếp xúc và hỗ trợ, tư vấn doanh nghiệp, tham gia các hoạt động, sự kiện quảng bá, xúc tiến du lịch, tư vấn tour, tuyến, điểm, dịch vụ du lịch,...

3. Nhân viên phụ trách kinh doanh:
Nam, Nữ dưới 35 tuổi. Tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng các ngành Du lịch, Quản trị kinh doanh, Marketing, Khách sạn,...Sử dụng tiếng Anh thành thạo. ưu tiên người có kinh nghiệm trong lĩnh vực sell tại các khách sạn từ 2* trở lên, có kỹ năng giao tiếp và chăm sóc khách hàng tốt,..
Mức lương: Khởi điểm 3.000.000 đồng. Làm việc tại Tp. Vinh

4. Nhân viên chạy dự án:
Nam, Nữ dưới 35 tuổi. Tốt nghiệp đại học các ngành Du lịch, Quản trị kinh doanh, Kinh tế,...Uu tiên người có kinh nghiệm, có mối quan hệ và nhanh nhẹn, biết việc. Khả năng ứng xử và xử lý linh hoạt là một ưu tiên,...
Công việc chính: Phụ trách và chịu trách nhiệm chính các vấn đề về thủ tục đầu tư, giấy tờ,...dự án.
Mức lương: Khởi điểm 4.000.000 đồng. Làm việc tại Cửa Lò và tp. Vinh

Liên hệ: Trung tâm Xúc tiến Du lịch Nghệ An
Địa chỉ: 06 - Đào Tấn - tp. Vinh - Nghệ An

Tel: (038) 359 8488 Fax: (038) 359 8377

Mobile: 0904 023 223 (A. Bách)

E-mail: bachdulich@gmail.com

Website: www.vietnamtourism.com/nghean

Phát triển bền vững Du lịch Biển, Đảo Nghệ An: Thực trạng và những vấn đề đặt ra cần quan tâm

Phát triển bền vững Du lịch Biển, Đảo Nghệ An:
Thực trạng và những vấn đề đặt ra cần quan tâm
*Phát biểu tại Hội thảo Biển, đảo Nghệ An July 2009
Kính thưa các vị khách quý !
Thưa các Quý vị đại biểu !
Từ xa xưa, những vùng ven biển, vùng đảo hoang sơ đã thu hút con người đến nghỉ ngơi, khám phá và sinh sống.
Ngày nay, với sự đa dạng các loại hình du lịch: tắm biển, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, lặn biển, lướt ván, bơi thuyền, vượt sóng...Du lịch đã trở thành ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước có biển, đảo. Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng phát triển du lịch biển, đảo đã được khẳng định
Nghị quyết số 16/NQ/TU của BCH Đảng bộ tỉnh Nghệ An về việc ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết TW 4 đã xác định: “Đẩy mạnh phát triển du lịch biển, đảo và ven biển trở thành kinh tế chủ lực của kinh thế biển và ven biển Nghệ An”.
Tiềm năng du lịch biển, đảo là rất lớn, thực tế đã chứng minh điều đó trong hoạt động khai thác du lịch biển, đảo những năm qua ở Nghệ An.
I. Thực trạng tiềm năng và công tác phát triển du lịch biển, đảo tại Nghệ An thời gian qua *
1. Tiềm năng, lợi thế phát triển du lịch biển, Nghệ An
1.1. Điều kiện tự nhiên
Nghệ An có 82 km bờ biển trải dài từ Quỳnh Lưu đến Cửa Hội với nhiều bãi tắm đẹp như bãi biển Cửa Lò, Nghi Thiết, Bãi Lữ (Nghi Lộc), Diễn Thành , Diễn Hải (Diễn Châu), Quỳnh Phương, Quỳnh Bảng, Quỳnh Liên...(Quỳnh Lưu), cùng nhiều di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, có khả năng để xây dựng và phát triển thành nhiều sản phẩm du lịch đa dạng, hấp dẫn.
Các bãi biển của Nghệ An thoải, cát mịn, nước trong, phần nhiều còn mang tính hoang sơ, có cảnh quan thiên nhiên đẹp rất thuận lợi cho việc khai thác phục vụ du lịch biển như: Bãi tắm Cửa Lò 800 ha, bãi Nghi Thiết 100 ha, bãi Cửa Hiền 150 ha, bãi Quỳnh Phương - Quỳnh Bảng 670 ha, bãi Diễn Thành 100 ha, bãi Lữ 52 ha.
Nước biển tại đây có độ mặn không vượt quá 30%, sóng trung bình khoảng 1 - 1,2 mét rất thích hợp cho hoạt động vui chơi giải trí.
Với địa hình có nhiều bán đảo nhỏ nhô ra như: đảo Lan Châu, Hòn Ngư (Cửa Lò), mũi Rồng, Tiên Phong (Nghi Lộc), hòn Câu (Diễn Châu)... tạo cho biển Nghệ An có nhiều bãi tắm riêng biệt, có thể làm công viên du lịch và khu nghỉ dưỡng du lịch sinh thái.
Tại các bãi biển Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu có nhiều núi đồi, độ cao không quá 500m so với mực nước biển, với các khu rừng tái sinh, rặng Phi lao, rừng ngập mặn xanh tốt, tạo cho cảnh quan thiên nhiên nơi đây nét nguyên sơ, không khí trong lành, rất thích hợp cho phát triển du lịch sinh thái.
Đặc biệt cách Cửa Lò 4 km là đảo Ngư, có cảnh quan thiên nhiên đẹp, có chùa Ngư, có thể xây dựng thành khu du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, tâm linh, tắm biển, nghỉ dưỡng và nuôi thả động vật hoang dã. Xung quanh đảo Ngư có mực nước sâu trên 10 m, đáy biển ghồ ghề, có nhiều loại hải sản sinh sống, thích hợp phát triển loại hình du lịch lặn biển.
1.2. Tài nguyên du lịch nhân văn
Vùng ven biển Nghệ An có trên 324 di tích, danh thắng, chiếm 31% tổng số di tích danh thắng toàn tỉnh, trong đó có 50 di tích, danh thắng đã được xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh. Nhiều di tích, danh thắng đã trở thành điểm du lịch hấp dẫn như: Đền Cờn, Đền Cuông, đền thờ Cương quốc công Nguyễn Xý, chùa Ngư, đền Vạn Lộc, đình làng Quỳnh Đôi, Đền thờ vua Quang Trung và lâm viên Núi Quyết, rừng Bần ngập mặn Hưng Hoà, hồ Vực Mấu, hồ Xuân Dương, lèn Hai Vai, di chỉ khảo cổ học Quỳnh Văn...
Cùng với các di tích lịch sử văn hoá, vùng ven biển Nghệ An có nhiều lễ hội dân gian, truyền thống. Các lễ hội còn lưu giữ được những nét văn hoá riêng từng vùng miền, tái hiện lại những phong tục, tập quán và cuộc sống của nhân dân vùng biển, có sức hấp dẫn, thu hút khách du lịch như: Lễ cầu ngư của nhân dân vùng biển; lễ hội đền Cuông; lễ hội đền Cờn; Lễ hội đền thờ Cương Quốc công Nguyễn Xý; Lễ hội đền Vạn Lộc.v.v..
Cùng với các lễ hội tại các địa bàn ven biển còn lưu giữ những làn điệu dân ca hò vè, hát ví dặm, ca trù.v.v..
Đặc biệt, vùng ven biển Nghệ An có nhiều đặc sản và món ăn ngon, hấp dẫn khách du lịch như: tôm, cua, ghẹ, mực nhảy, cà pháo Nghi Lộc, canh lá Lằng (Quỳnh Lưu), cháo Lươn Vinh, cam Xã Đoài, nước mắm Vạn Phần…nhiều làng nghề truyền thống sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ như: nghề mây tre đan ở xã Nghi Phong (Nghi Lộc), nghề đúc rèn Nho Lâm (Diễn Châu) .v.v..
2. Thực trạng về đầu tư phát triển du lịch
2.1. Về hạ tầng phục vụ du lịch
Trong những năm qua, nhận thức rõ tiềm năng, lợi thế vầ hiệu quả lo lớn của việc phát triển du lịch biển, Nghệ An đã quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các địa phương vùng ven biển, nhất là về kết cấu hạ tầng kỹ thuật với tổng mức vốn đầu tư hàng trăm tỷ đồng. Hệ thống đường giao thông đến các khu điểm du lịch biển của Nghệ An đã được nâng cấp một bước. Từ quốc lộ 1A đã có các tuyến đường bộ dẫn đến các bãi biển của Nghệ An. Các tuyến đường Vinh - Cửa Lò, Nam Cấm - Cửa Lò, đền Cuông - Cửa Hiền và đường ven biển từ Nghi Lộc -Quỳnh Lưu tiếp tục được nâng cấp, mở rộng. Nhờ đó vùng ven biển có hệ thống hạ tầng khá tốt để phát triển du lịch.
2.2. Về cơ sở vật chất phục vụ du lịch
Trong thời gian qua việc đầu tư xây dựng cơ sở lưu trú du lịch đã có tốc độ phát triển nhanh. Năm 2002, các huyện thị ven biển mới chỉ mới có 108 cơ sở lưu trú với 2.775 phòng, 5.696 giường, tập trung ở khu vực Vinh và thị xã Cửa Lò thì đến năm 2008 các địa phương ven biển đã có 344 cơ sở lưu trú với 8.574 phòng, 17.067giường, trong đó có 1.832 phòng với 3.721 đủ tiêu chuẩn quốc tế. Phân bố theo các khu vực như sau:
Khu vực thành phố Vinh: có 94 cơ sở lưu trú với 2.527 phòng, 4.746 giường; thị xã Cửa Lò có 214 cơ sở lưu trú với 5.340 phòng, 11.132 giường; Quỳnh lưu có 15 cơ sở lưu trú với 206 phòng, 400 giường; Diễn Châu có 18 cơ sở lưu trú với 325 phòng, 531 giường; Nghi Lộc có 03 cơ sở lưu trú với 176 phòng, 258 giường và hàng trăm quán gió, nhà hàng nằm trên các bãi biển.
Quy mô và chất lượng các khách sạn được xây dựng đã có xu hướng chất lượng ngày càng cao và quy mô ngày càng lớn với hệ thống dịch vụ khá đa dạng. Năm 2002 các huyện, thị ven biển mới có 03 cơ sở lưu trú đạt hạng 2 sao, 02 khách sạn đạt hạng 1 sao thì đến năm 2008 đã có 01 khách sạn 4 sao, 07 khách sạn 3 sao, 13 khách sạn 2 sao, 02 khách sạn 1 sao và trên 200 cơ sở lưu trú du lịch khác đạt tiêu chuẩn tối thiểu.
Vốn đầu tư cho các cơ sở lưu trú cũng tăng nhanh. Năm 2002 các huyện thị vùng ven biển mới có mức đầu tư 420,7 tỷ đồng thì đến năm 2008 đã tăng lên mức trên 1.687,5 tỷ đồng.
Hiện tại một số đơn vị đã đầu tư xây dựng sản phẩm, dịch vụ du lịch cao cấp tại Cửa Lò như dự án khu du lịch 4 mùa do Tổng công ty du lịch Hà Nội đầu tư xây dựng, dự án Tổ hợp sân gôn, khách sạn, biệt thự cao cấp ở Nghi Hương và Nghi Hoà do Công ty cổ phần Golf biển Cửa Lò đầu tư với tổng diện tích 132,7 ha, số vốn đầu tư hơn 1.527 tỷ đồng,...
3. Thực trạng về hoạt động kinh doanh du lịch ở Nghệ An
Trong thời kỳ 2002 - 2008, lượng khách đến các điểm du lịch vùng ven biển tăng nhanh với tốc độ tăng trưởng trung bình 22,08%/năm, trong đó khách du lịch quốc tế có xu thế tăng đều hàng năm. Tỷ trọng khách du lịch vùng ven biển hàng năm chiếm 75% tổng lượt khách du lịch đến Nghệ An. Năm 2002, các địa phương ven biển mới đón được 651.193 lượt khách du lịch đến tham quan, tắm biển, nghỉ dưỡng thì đến năm 2005 đạt: 1.368.796 lượt người và năm 2008 đạt: 2.150.000 lượt người.
Khách du lịch đến các điểm du lịch biển Nghệ An thời kỳ 2002- 2008 phần lớn là khách du lịch nội địa, trong đó khách từ Hà Nội và các tỉnh phía Bắc chiếm 70- 75%.
Về khách du lịch quốc tế: Tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế bình quân hàng năm từ 15 - 18% năm. Cơ cấu khách quốc tế đến các khu, điểm du lịch biển Nghệ An thay đổi không lớn và chủ yếu vẫn là khách từ các nước Đông Nam á và Đông Bắc á, khách từ các nước châu Âu, châu Mỹ tăng không đáng kể. Khách có nhu cầu du lịch thuần tuý, thăm thân chiếm tỷ trọng từ 25- 30%, trong đó phần lớn là khách từ Đông Bắc Thái Lan, Lào đến Nghệ An theo đường 8, đường 9 và quốc lộ 7.
Giai đoạn 2002-2008, doanh thu du lịch biển có tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 27%/ năm: năm 2002 đạt 131,807tỷ đồng, năm 2003 đạt 154,592tỷ đồng, năm 2004 đạt trên 229,072 tỷ đồng và năm 2008 đạt 690,3 tỷ đồng.
Có thể khẳng định, thời gian qua, du lịch vùng ven biển và hải đảo luôn chiếm tỷ trọng lớn đối với du lịch Nghệ An và đã đóng góp nguồn thu đáng kể cho ngân sách tỉnh, tạo công ăn việc làm, thu nhập cho hàng ngàn lao động trong ngành cũng như ngoài xã hội; góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường biển và thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác.
4. Tồn tại, hạn chế về phát triển du lịch Nghệ An
Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động du lịch biển Nghệ An trong những năm qua vẫn còn một số khó khăn, tồn tại, hạn chế cần tập trung khắc phục, cụ thể là:
- Mặc dù phát triển các khu du lịch biển Nghệ An thời gian qua đã có quy hoạch, nhưng khi quy hoạch chưa tính đến đặc thù của vùng biển, đảo Nghệ An, đặc thù của khách du lịch biển. Phần lớn quy hoạch nghiêng về quy hoạch đô thị hơn là quy hoạch khu du lịch ở một vùng biển, đảo mang tính chất khí hậu 4 mùa rõ rệt; dẫn đến cơ sở dịch vụ xây dựng mới đáp ứng phần nào khách du lịch nội địa, gần như chưa đáp ứng nhu cầu khách du lịch quốc tế. Chất lượng quy hoạch chưa cao, không ít vùng quy hoạch bị phá vỡ, xây dựng ồ ạt dẫn đến tình trạng bêtông hóa, phá vỡ cảnh quan, gây ô nhiễm môi trường.
- Quy mô và chất lượng hệ thống hạ tầng giao thông chưa đáp ứng yêu cầu.
- Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch hầu hết thuộc vào hạng vừa và nhỏ; Năng lực quản lý yếu kém. Các sản phẩm du lịch biển chưa đa dạng, chưa phong phú, sức cạnh tranh thấp. Nguồn nhân lực du lịch còn nhiều hạn chế, trình độ ngoại ngữ, chuyên môn nghiệp vụ chưa đáp ứng yêu cầu. Do tính thời vụ lớn nên các đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn thị xã Cửa Lò, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, đặc biệt là các hộ kinh doanh du lịch nhỏ lẻ vẫn còn sử dụng nhiều lao động phổ thông chưa qua đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ về du lịch, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng phục vụ khách trong thời điểm mùa du lịch biển.
Phát triển du lịch biển đang đứng trước những nguy cơ về ô nhiễm môi trường do quy hoạch và quản lý quy hoạch đô thị chưa được triển khai kịp thời; quy hoạch xây dựng các bãi rác, tổ chức thu gom xử lý rác thải, quy hoạch và xây dựng hệ thống cấp thoát nước, hệ thống điện, nước sạch chưa đồng bộ...
Công tác quản lý Nhà nước du lịch trên địa bàn còn nhiều bất cập. Việc chủ động phối kết hợp với các ngành các cấp liên quan trong tỉnh trong lĩnh vực du lịch chưa thật sự tốt...
Mặc dù doanh thu và khách du lịch tăng khá, nhưng lượng khách du lịch quốc tế đến các khu, điểm du lịch biển đạt rất thấp, hàng năm chiếm tỷ trọng 2,5 đến 3% trong tổng lượng khách du lịch đến các vùng biển.
Công tác tuyên truyền quảng bá và xúc tiến du lịch chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển du lịch trong giai đoạn mới. Một số chủ doanh nghiệp chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác tuyên truyền quảng bá, xây dựng thương hiệu; ý thức về quảng bá du lịch của các doanh nghiệp còn thiếu tính chiến lược lâu dài, mang nặng tính hình thức, tức thời.
II. Định hướng phát triển du lịch biển, đảo Nghệ An
1. Định hướng ưu tiên phát triển du lịch biển, đảo Nghệ An
Căn cứ vào tài nguyên du lịch biển đảo cũng như thực trạng phát triển du lịch trong những năm qua, du lịch biển đảo Nghệ An được hình thành và phát triển theo các trọng tâm ưu tiên sau đây:
1.1. Phát triển du lịch Cửa Lò, gắn vùng biển Nghi Lộc và Đảo Ngư.
Đây là vùng biển có nhiểu bãi tắm đẹp, cùng với dãy núi chạy dài nhô ra biển từ Đền Cuông đến Mũi Rồng tạo ra khu vực cảnh quan phù hợp với loại hình du lịch: du lịch vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, du lịch sinh thái và các hoạt động thể thao.
Với tiềm năng vùng biển có nhiều bãi tắm tốt, cảnh quan thiên nhiên đẹp, vùng du lịch này còn có lợi thế gần với trung tâm, khu, điểm du lịch phụ cận làm đa dạng thêm sản phẩm du lịch: Khu du lịch Đền Cuông, Cửa Hiền, Hồ Sơn Dương, Hồ Kẻ Gỗ, du lịch thành phố Vinh, Kim Liên - Nam Đàn, quần thể di tích thắng cảnh chùa Hương Tích, di tích lịch sử văn hóa Nguyễn Du (Hà Tĩnh), Đảo Ngư..v..v..
Gắn kết giữa du lịch Cửa Lò hiện tại với phát triển du lịch vùng biển Nghi Lộc, Đảo Ngư thành hệ thống kết nối đô thị du lịch với vùng du lịch sinh thái cảnh quan, nghỉ dưỡng. Nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch. Khu vực này sẽ có một ưu thế đặc biệt để phát triển nhiều loại hình du lịch, sớm trở thành một trung tâm du lịch vùng, có khả năng thu hút một lượng lớn khách nội địa và khách quốc tế.
1.2 Phát triển du lịch khu vực biển Quỳnh Lưu (Quỳnh Bảng, Quỳnh Phương).
Đây là khu vực có nhiều bãi biển đẹp, chất lượng bãi tắm rất tốt; gắn với các tài nguyên du lịch văn hóa lịch sử đặc sắc: Đền Cờn, làng văn hóa Quỳnh Đôi, khu di chỉ khảo cổ Quỳnh Văn; tài nguyên du lịch sinh thái: hồ Vực Mấu, du lịch biển Quỳnh là cửa ra biển của nhiều khu công nghiệp, thị xã Hoàng Mai, của cả một vùng rộng lớn Phủ Quỳ; Đặc biệt là vùng du lịch nằm gần con đường giao thông huyết mạch của đất nước, đó là con đường quốc lộ số 1 (chỉ cách khu du lịch 3km) và đường sắt xuyên Bắc Nam, với Ga Hoàng Mai cách khu du lịch 4km. Rất thuận lợi cho việc thu hút khách; Sản phẩm ưu tiên của khu vực này là loại hình du lịch nghỉ dưỡng, tắm biển, gắn với du lịch sinh thái; du lịch văn hóa, lịch sử..v..v...
1.3. Khu du lịch biển Diễn Thành, Diễn Hải, huyện Diễn Châu.
Đây là khu vực có bãi tắm đẹp, thuận lợi cho việc xây dựng sản phẩm với loại hình du lịch nghỉ dưỡng.
2. Định hướng phát triển thị trường và sản phẩm du lịch biển đảo Nghệ An.
2.1. Định hướng sản phẩm.
Với đặc thù vùng biển Nghệ An, du lịch biển chịu ảnh hưởng nặng nề về thời tiết, khí hậu (4 mùa) vì vậy trong chiến lược phát triển du lịch biển phải tính tới sản phẩm khai thác triệt để tiềm năng thế mạnh về tài nguyên du lịch biển. Nhưng ít phụ thuộc vào mùa vụ - kinh doanh được quanh năm mới mang lại hiệu quả cao trong đầu tư kinh doanh du lịch. Vì vậy định hướng chiến lược lâu dài của sản phẩm du lịch biển Nghệ An là du lịch nghỉ dưỡng gắn với vui chơi giải trí, mua sắm, hội nghị, hội thảo, chữa bệnh, hoạt động thể thao; tham quan nghiên cứu, khai thác giá trị văn hóa và tài nguyên nhân văn trong vùng; du lịch tắm biển chỉ chiếm một phần trong du lịch nghỉ dưỡng, thư giãn, giải trí của du khách. Vì vậy chiến lược xây dựng sản phẩm phải đồng bộ, đa dạng, đây cũng là nhu cầu của khách du lịch Quốc tế và Nội địa.
2.2. Định hướng phát triển thị trường.
Du lịch Nghệ An là ngành kinh tế mới phát triển, sản phẩm ít, chất lượng chưa cao, tính cạnh tranh thấp. Vì vậy chiến lược thị trường cần có bước đi thích hợp.
Với lợi thế là một vùng biển đẹp; chất lượng bãi tắm tốt; là một trong những điểm du lịch nghỉ dưỡng nổi tiếng của cả nước. Trước hết ưu tiên phát triển du lịch nội địa, với thị trường chủ yếu phía Bắc Việt Nam. Quan tâm nhất là những tỉnh không có biển để quảng bá, tiếp thị thu hút khách. Từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm. Tăng cường quảng bá thu hút khách Lào và vùng Đông bắc Thái Lan qua đường Quốc lộ số 7, số 8, tương lai là đường 46 qua Cửa khẩu Thanh Thủy. Gắn kết với các khu điểm du lịch vùng phụ cận; tạo ra chuỗi sản phẩm liên vùng, liên doanh, liên kết với các hãng du lịch lớn trong nước và quốc tế, từng bước vươn ra thị trường khu vực Đông Nam Á và thế giới.
III. Những vấn đề đặt ra cần quan tâm để phát triển du lịch biển, đảo Nghệ An bền vững có hiệu quả.
1. Rà soát lại quy hoạch và quản lý tốt quy hoạch phát triển du lịch, biển đảo.
Nghệ An đã xây dựng nhiều quy hoạch phát triển du lịch vùng biển đảo: Quy hoạch phát triển du lịch Cửa Lò, Quy hoạch phát triển du lịch Mũi Rồng (vùng biển Nghi Lộc); Quy hoạch phát triển du lịch Đền Cuông, Cửa Hiền; Quy hoạch phát triển du lịch Diễn Thành; Quy hoạch phát triển du lịch biển Quỳnh. Các quy hoạch trên đã được phê duyệt. Một vấn đề đặt ra là các quy hoạch đều đã được phê duyệt có quy hoạch tuổi ít nhất là 7 năm, có quy hoạch đã trên 10 năm; nhưng nguy cơ ô nhiễm môi trường, phá vỡ cảnh quan, bê tông hoá, chia cắt quy hoạch xây dựng manh mún vẫn đe doạ nghiêm trọng các khu du lịch. Các quy hoạch chưa có sức thu hút các hãng, các doanh nghiệp du lịch có tầm cỡ trong khu vực và thế giới đầu tư, đáp ứng được nhu cầu thu hút khách nghỉ dưỡng, khách quốc tế...
Nguyên nhân thu hút đầu tư có nhiều, nhưng trong đó có nguyên nhân quy hoạch chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển du lịch chất lượng cao, ngang tầm quốc tế và khu vực. Trong quy hoạch thiếu tính kết nối, liên kết giữa các khu, vùng du lịch để phát triển thế mạnh, ví dụ như: du lịch Mũi Rồng với du lịch Cửa Lò, Đảo Ngư. Do đó thiếu giải pháp kết nối hạ tầng, kết nối sản phẩm. Vì vậy cần có một quy hoạch chiến lược với tầm nhìn dài hạn, tổ chức không gian hợp lý, phù hợp với đặc thù của du lịch biển Nghệ An; một mặt thu hút đầu tư xây dựng nhanh những khu du lịch có chất lượng cao đạt tiêu chuẩn quốc tế, một mặt dành quỹ đất thích đáng cho sự phát triển các loại hình du lịch có nhu cầu cao cho những năm sau.
Bên cạnh rà soát lại quy hoạch, phải tăng cường quản lý quy hoạch, tránh tình trạng xây dựng ồ ạt “băm nát” khu du lịch, dẫn đến bê tông hoá, phá vỡ cảnh quan môi trường, gây ô nhiễm.
2. Phát triển sản phẩm và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Nói đến thị trường, đến cạnh tranh trước hết là nói đến sản phẩm - là yếu tố quan trọng nhất để thu hút khách; muốn thu hút khách, sản phầm phải mang tính đặc thù, khác biệt cộng với sự đa dạng của sản phẩm và chất lượng phải được nâng cao, luôn đổi mới, mới đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của du khách.
Từ nguyên lý đó, các Doanh nghiệp kinh doanh du lịch biển Nghệ An cần hướng tới xây dựng sản phẩm du lịch có chất lượng cao, trên cơ sở khai thác nét đặc thù văn hoá địa phương, và nét độc đáo của văn hoá, ẩm thực Nghệ An, hình thành chương trình du lịch nghỉ dưỡng dài ngày, chất lượng cao, với nhiều sản phẩm phong phú.
3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho phát triển du lịch.
Thực trạng chất lượng lao động trong các doanh nghiệp du lịch biển Nghệ An đang ở mức rất thấp trong tất cả các lĩnh vực dịch vụ, do kinh doanh du lịch biển Nghệ An mang nặng tính thời vụ (chỉ kinh doanh chủ yếu 90 ngày trong năm). Vì vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, nhân viên chưa thực sự được quan tâm; thu nhập bình quân trong năm của người lao động thấp; những người quản lý giỏi, công nhân kỹ thuật có tay nghề cao thường bỏ doanh nghiệp để ra đi tìm việc nơi khác có thu nhập cao hơn.
Vì vậy, các Doanh nghiệp kinh doanh du lịch biển Nghệ An phải tính đến việc đầu tư xây dựng các sản phẩm dịch vụ, du lịch kinh doanh được quanh năm, tạo được mức thu nhập cao mới có điều kiện nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, quản lý giỏi, công nhân kỹ thuật có tay nghề; kinh doanh mới thực sự có hiệu quả.

4. Đẩy mạnh liên kết, tăng cường hội nhập.
Nghệ An có lợi thế là tỉnh miền Trung, lại là trung tâm vùng Bắc Trung bộ, cửa ngõ ra biển của con đường xuyên Á qua Quốc lộ số 7, số 8 và đường 46; vì vậy cần liên kết với các tỉnh, thành phố nước bạn Lào, Thái Lan hình thành những chuỗi sản phẩm, đưa du lịch biển Nghệ An vừa là điểm đến vừa là điểm dừng của nhiểu tuor, tuyến du lịch xuyên Việt, xuyên Á.
Tăng cường hội nhập với các nước, trước hết ưu tiên khai thác các thị trường các tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam (Trung Quốc); Lào; Thái Lan. Từng bước vươn ra khu vực và các nước khác trên thế giới.
5. Tăng cường công tác tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch.
Huy động tối đa các nguồn lực cho tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch (vì du lịch Nghệ An là điểm đến mới, chưa được ghi nhận nhiều trong các tour du lịch lớn) với sự phân công rõ: Nhà nước hỗ trợ xúc tiến điểm đến; Doanh nghiệp tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến sản phẩm. Liên kết, hợp tác, có chính sách thu hút các hãng lữ hành mạnh trong nước và quốc tế để họ đưa điểm đến Du lịch biển đảo Nghệ An nói riêng, Du lịch Nghệ An nói chung vào chương trình du lịch của họ chào bán cho khách trên các thị trường. Đa dạng hoá hình thức tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch.
6. Tăng cường công tác quản lý tài nguyên, môi trường du lịch biển đảo.
Bờ biển Nghệ An không dài, bãi tắm tốt không nhiều, vì vậy phải quan tâm quản lý tốt tài nguyên du lịch biển, đồng thời tăng cường quản lý bảo vệ môi trường nhằm khai thác lâu dài, kéo dài tuổi thọ sản phẩm, phát huy hiệu quả kinh doanh du lịch biển.
Tiềm năng và triển vọng phát triển du lịch biển đảo Nghệ An là rất lớn, chỉ mới hơn 10 năm phát triển nó đã thể hiện vai trò và đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; Du lịch biển đảo Nghệ An là ngành mới hình thành và phát triển, để đưa ngành kinh tế này phát triển nhanh, có hiệu quả, đóng góp ngày càng nhiều cho kinh tế Tỉnh nhà, đang còn có rất nhiều vấn đề cần quan tâm, giải quyết.
Được Hội nghị cho phép, tôi chỉ xin trình bày một số vấn đề cơ bản cần quan tâm, để góp phần tham gia ý kiến vào công cuộc phát triển Du lịch biển đảo Nghệ An.
Một lần nữa kính chúc quý vị đại biểu sức khoẻ, chúc hội nghị thành công tốt đẹp !
Xin trân trọng cảm ơn!
-----------------------------
Author: Pham Viet Bach
E-mail: bachdulich@gmail.com
Mobile: 0904 023 223
http://my.opera.com/ngheantourisminfo
Yahoo ID: anh_da_tinh_26
Sex: Male
Age: 32
Hoppy: Badminton, Travel
Opccupation: Tourism Operation


* Số liệu do Trung tâm xúc tiến Nghệ An cung cấp.

Quy chế thu hút, quản lý và sử dụng các nguồn tài trợ phục vụ các hoạt động phát triển Du lịch Nghệ An

QUY CHẾ
THU HÚT, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG CÁC NGUỒN TÀI TRỢ
PHỤC VỤ CÁC HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH NGHỆ AN
(Ban hành kèm theo Quyết định số......./QĐ-TTXTDL
ngày..... tháng năm 2009 của Trung tâm Xúc tiến Du lịch Nghệ An).

Chương 1
NHỮNG QUI ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Đối tượng và Phạm vi áp dụng:
1. Đối tượng áp dụng :
Trung tâm Xúc tiến Du lịch Nghệ An và các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có công vận động, kêu gọi, thu hút nguồn kinh phí tài trợ, hỗ trợ cho các hoạt động phát triển sự nghiệp thuộc lĩnh vực về du lịch của Nghệ An và các tổ chức, địa phương tiếp nhận, thụ hưởng nguồn kinh phí tài trợ thông qua các chương trình, dự án, đề án, hoạt động, sự kiện về du lịch trên địa bàn tỉnh đều thuộc đối tượng áp dụng theo quy định của Quy chế này.
2. Phạm vi áp dụng :
Quy chế này qui định việc thực hiện các hoạt động thu hút, quản lý và sử dụng các nguồn tài trợ cho ngành du lịch để triển khai các hoạt động phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
Các nguồn tài trợ trong quy chế này được hiểu là nguồn tài trợ không hoàn lại và không vì mục đích thu lợi nhuận của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài, (sau đây gọi tắt là bên tài trợ), hỗ trợ thông qua Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Trung tâm Xúc tiến Du lịch hoặc trực tiếp các cơ quan, ban nghành, huyện, thị xã, các tổ chức nhân dân có liên quan (bao gồm các đoàn thể quẩn chúng, các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp và một số tổ chức khác) của tỉnh Nghệ An.
Nguồn tài trợ gồm các hình thức chủ yếu sau đây:
- Tài trợ thông qua các chương trình đề án, dự án về du lịch Nghệ An.
- Tài trợ các hoạt động, sự kiện về du lịch do các đơn vị trong ngành, các cơ quan, đơn vị trong tỉnh tổ chức tại trong và ngoài nước.
Điều 2. Giải thích từ ngữ.
Trong Quy chế này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. “Chương trình”: Là một tập hợp các dự án có liên quan đến nhau, cùng chung mục đích là phát triển du lịch Nghệ An, liên quan đến nhiều ban, ngành, lĩnh vực, nhiều địa phương trong tỉnh, nhiều chủ thể khác nhau, cần được thực hiện thông qua phương pháp tiếp cận liên ngành, thời hạn thực hiện tương đối dài và phương tiện để thực hiện cần được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, theo nhiều phương thức khác nhau.
2. “Đề án, Dự án”: Là một tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau nhằm đạt một hoặc một số mục tiêu cụ thể được thực hiện trong một thời hạn nhất định, dựa trên những nguồn lực xác định.
3. “Hoạt động, sự kiện”: Là tập hợp các chuỗi hoạt động có liên quan đến nhau được tổ chức trong tỉnh, trong nước hoặc nước ngoài như hội chợ, hội thảo, hội nghị, liên hoan,...nhằm mục đích chủ yếu là giới thiệu, quảng bá, xúc tiến hình ảnh, sản phẩm, điểm đến, dịch vụ du lịch Nghệ An để thu hút du khách trong và ngoài nước.
Điều 3. Nguồn tài trợ tại Quy chế này được sử dụng để thực hiện các mục tiêu phát triển du lịch và hỗ trợ thực hiện các mục tiêu ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội của Nghệ An trong từng thời kỳ, từng thời điểm cụ thể.

Chương 2
VẬN ĐỘNG, ĐÀM PHÁN, PHÊ DUYỆT
VÀ KÝ KẾT CÁC KHOẢN TÀI TRỢ

Điều 4. Công tác vận động tài trợ được tiến hành thường xuyên, theo định hướng, có tổ chức và phải phù hợp với nhu cầu và tình hình thực tế của ngành và tỉnh Nghệ An.
Tất cả các phòng, ban, cán bộ, nhân viên thuộc Trung tâm đều có thể tự kêu gọi và tổ chức đàm phán tài trợ nhưng phải tuân thủ theo nguyên tắc sau:
4.1. Báo cáo Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch về nhà tài trợ và chương trình, dự án định kêu gọi, đàm phán (chậm nhất là một tháng trước lúc kêu gọi, đàm phán với nhà tài trợ).
- Báo cáo kết quả đàm phán với cơ quan chủ quản chậm nhất một tuần sau khi đàm phán.
4.2. Trung tâm Xúc tiến Du lịch phối hợp với các phòng, ban Sở và các cơ quan liên quan trong công tác xây dựng kế hoạch vận động tài trợ hàng năm.
4.3. Trung tâm Xúc tiến Du lịch hướng dẫn các phòng, ban, huyện, thị xã và các tổ chức nhân dân xây dựng các chương trình, dự án để vận động tài trợ.
4.4. Trung tâm Xúc tiến Du lịch phối hợp với Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Sở Kế hoạch - Đầu tư trong việc tìm kiếm các đối tác và liên hệ với các nhà tài trợ.
4.5. Việc vận động tài trợ cho các chương trình, dự án được thực hiện trên cơ sở nhu cầu phát triển ngành văn hoá, thể thao và du lịch trong cơ cấu kinh tế - xã hội cụ thể của tỉnh và của ngành từng thời kỳ, kế hoạch hoạt động hàng năm của đơn vị. Vận động tài trợ phải căn cứ vào nhu cầu, quy mô, mục đích,...và phù hợp đối với từng nội dung, nhiệm vụ cụ thể.

Điều 5. Cơ sở để đàm phán và ký kết tài trợ.
5.1. Đối với các khoản tài trợ cho các chương trình, dự án, đề án, cần phải có văn kiện chương trình, dự án. Nếu thời gian thực hiện trên 1 năm thì phải xây dựng kế hoạch hoạt động và dự kiến nguồn kinh phí cần thiết cho từng năm, cũng như xác định rõ nguồn kinh phí mà Bên tài trợ đã có sẵn và phần kinh phí cần huy động trong những năm tiếp theo.
2. Đối với các khoản tài trợ dành cho các hoạt động, sự kiện phải nêu rõ nội dung tài trợ, đối tượng tài trợ và tiếp nhận tài trợ, danh mục cụ thể các hàng tài trợ và ước tính tổng trị giá nếu là tài trợ dưới dạng hiện vật, sản phẩm hoặc xác định rõ tổng giá trị tài trợ dưới dạng tiền mặt.
Đối với các khoản tài trợ phát sinh, ngoài những yêu cầu được nêu trên cần nêu rõ mức độ phát sinh, những nhu cầu thiết yếu trước mắt cần giải quyết ngay trong thời gian xảy ra trường hợp phát sinh.
3. Việc ký kết tài trợ chỉ thực hiện khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt nêu tại Điều 4 của Quy chế này.
Chương 3
QUẢN LÝ, SỬ DỤNG CÁC NGUỒN TÀI TRỢ

Trung tâm Xúc tiến Du lịch là cơ quan quản lý các nguồn tài trợ từ vận động đến đàm phán và ký kết tài trợ với các bên tài trợ, theo dõi, giám sát quá trình thực hiện và đánh giá kết quả, hiệu quả sử dụng các khoản tài trợ do Trung tâm trực tiếp kêu gọi, ký kết tài trợ hoặc các nguồn tài trợ gắn với các hoạt động, sự kiện, chương trình, dự án về du lịch do Trung tâm chủ trì thực hiện hoặc được cơ quan cấp trên giao nhiệm vụ.
Điều 6. Trách nhiệm của Trung tâm Xúc tiến Du lịch Nghệ An.
6.1. Điều phối và quản lý các chương trình, dự án sử dụng các nguồn tài trợ và tổng hợp chung tình hình thực hiện các nguồn tài trợ theo định kỳ 6 tháng, hàng năm để báo cáo Sở chủ quản và các ban, ngành liên quan.
6.2. Tham gia ý kiến với Sở Văn hoá, Thể thao và du lịch trong việc lực chọn, xem xét phê duyệt đối với các khoản tài trợ được qui định tại qui chế này.
6.3. Hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, giám sát các đơn vị thụ hưởng dự án trong việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng các nguồn tài trợ, hỗ trợ theo đúng các qui định hiện hành, thực hiện đúng cam kết với nhà tài trợ. Kịp thời phát hiện những sai phạm tỏng công tác tiếp nhận tài trợ và quá trình triển khai dự án để báo cáo với Sở chủ quản xử lý.
6.4. Tổng hợp báo cáo định kỳ, kết thúc và đột xuất (nếu có); Các báo cáo kết quả tiếp nhận, phân phối sử dụng .. để trình cơ quan chủ quản, UBND tỉnh và các ban, ngành liên quan.
6.5. Trung tâm có nhiệm vụ phối hợp với Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Sở Tài chính và các cơ quan liên quan khác trong việc quản lý, xây dựng kế hoạch vận động kêu gọi viện trợ.

Chương 4
CƠ CHẾ KHEN THƯỞNG CÔNG TÁC THU HÚT, KÊU GỌI
VÀ VẬN ĐỘNG CÁC NGUỒN TÀI TRỢ

Điều 7. Điều kiện áp dụng.

1. Công tác vận động Nhà tài trợ bao gồm :
- Giới thiệu các Nhà tài trợ (bằng văn bản, fax, email, qua đường bưu điện) hoặc trực tiếp đưa nhà tài trợ đến cho Trung tâm Xúc tiến Du lịch Nghệ An, dẫn đến việc ký kết các hợp đồng tài trợ về lĩnh vực du lịch của Nghệ An được thực hiện.
- Các tổ chức, cá nhân hoạt động tư vấn tài trợ đã tổ chức hoạt động tư vấn đưa đến kết quả thực hiện việc phối hợp triển khai các hoạt động du lịch.

2. Các tổ chức, cá nhân được xác định là có công vận động, kêu gọi, thu hút nguồn tài trợ được tổ chức thực hiện phải đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:
- Có hợp đồng với Nhà tài trợ với tư cách là đơn vị tư vấn tài trợ, trong đó có tư vấn về nội dung, phương thức phối hợp tổ chức các hoạt động du lịch.
- Có văn bản, thư trao đổi, giới thiệu Nhà tài trợ đến khảo sát tại tỉnh Nghệ An qua fax, email, đường bưu điện và được Trung tâm Xúc tiến Du lịch Nghệ An ký kết hợp đồng hoặc lập biên bản ghi nhớ về việc tư vấn, kêu gọi tài trợ cho các hoạt động du lịch Nghệ An.
- Cùng Nhà tài trợ đến khảo sát tại Nghệ An với tư cách là người giới thiệu, hướng dẫn tài trợ và không phải là nhân viên của Nhà tài trợ.

Chương 5
NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ

Điều 8. Mức thưởng và nguồn chi thưởng.

1. Các mức thưởng:
Các tổ chức, cá nhân có công vận động, kêu gọi, thu hút các nguồn tài trợ cho các hoạt động phát triển du lịch Nghệ An được thưởng theo các mức cụ thể như sau:
- Nguồn tài trợ (bao gồm cả tiền mặt và sản phẩm quy đổi) từ 100 triệu đồng đến 1 tỷ đồng: mức thưởng tối đa là 05 triệu đồng.
- Nguồn tài trợ (bao gồm cả tiền mặt và sản phẩm quy đổi) từ 1 tỷ đồng đến 2 tỷ đồng: mức thưởng tối đa là 10 triệu đồng.
- Nguồn tài trợ (bao gồm cả tiền mặt và sản phẩm quy đổi) từ 2 tỷ đồng đến 5 tỷ đồng: mức thưởng tối đa là 20 triệu đồng.
- Trường hợp đặc biệt: Nguồn kinh phí tài trợ lớn, có tầm ảnh hưởng, tác động lớn, thúc đẩy phát triển ngành du lịch và kinh tế - xã hội của tỉnh và khu vực, thì Trung tâm Xúc tiến Du lịch phải báo cáo Sở chủ quản để thống nhất mức thưởng phù hợp cho từng nội dung cụ thể.
2. Nguyên tắc chi thưởng :
- Đối với từng nguồn kinh phí tài trợ cho các nội dung, hoạt động cụ thể, Trung tâm Xúc tiến Du lịch quyết định mức thưởng và báo cáo bằng văn bản cho cơ quan chủ quản cấp trên đối với từng nội dung cụ thể theo nguyên tắc mức thưởng xác định theo tỷ lệ tương ứng với quy mô tài trợ của Nhà tài trợ và không vượt quá mức tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều này.
- Trường hợp các tổ chức, cá nhân cùng phối hợp tổ chức môi giới, xúc tiến tài trợ dẫn đến kết quả thực hiện các chương trình, hoạt động du lịch Nghệ An thì mức thưởng cho từng tổ chức, cá nhân do tổ chức, cá nhân đó tự thỏa thuận trên cơ sở mức thưởng chung được quy định tại Quy chế này.
3. Nguồn kinh phí thưởng:
Được trích từ nguồn kinh phí tài trợ trên cơ sở tiết kiệm từ công tác tổ chức, thực hiện các chương trình, hoạt động có sự tham gia của Nhà tài trợ và ngân sách Tỉnh cấp hàng năm dành cho công tác xúc tiến du lịch của Trung tâm.

Điều 9. Thủ tục chi thưởng.

1. Hồ sơ đề nghị thưởng :
- Văn bản đề nghị khen thưởng của các tổ chức, cá nhân thuộc diện xét thưởng.
- Bản sao hợp lệ các loại giấy tờ theo quy định của Quy chế này.
2. Thủ tục cấp thưởng: Thực hiện chi 50% giá trị thưởng khi ký kết hợp đồng tài trợ chính thức. Số tiền khen thưởng còn lại được thực hiện sau khi đã thực hiện hoàn chỉnh các chương trình, dự án, đề án, hoạt động du lịch.
3. Lập dự toán và quyết toán kinh phí thưởng:
a. Lập dự toán: Trung tâm Xúc tiến Du lịch lập kế hoạch dự toán thưởng, tổng hợp chung vào dự toán hàng năm của Trung tâm Xúc tiến Du lịch theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và các quy định của pháp luật có liên quan.
b. Quyết toán kinh phí thưởng: Việc quản lý, cấp phát, quyết toán các khoản thưởng quy định tại Quy chế này được thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và các quy định của pháp luật có liên quan .
c. Hồ sơ, thủ tục quyết toán gồm:
- Bản sao hợp lệ Hợp đồng tài trợ.
- Bản sao hợp lệ các loại giấy tờ được quy định tại Quy chế này.
- Chứng từ chi tiền thưởng

Điều 10. Hình thức chi thưởng.
Chi thưởng bằng tiền đồng Việt Nam cho các tổ chức, cá nhân là người Việt Nam và tổ chức, cá nhân là người nước ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc cư trú thường xuyên tại Việt Nam.

Chương 6
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 11. Trung tâm Xúc tiến Du lịch là cơ quan chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan. Đồng thời các cơ quan liên quan có trách nhiệm chủ động phối hợp với Trung tâm Xúc tiến Du lịch triển khai thực hiện tốt Quy chế này.
Điều 12. Những tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc thực hiện quy chế này được khen thưởng, nếu vi phạm thì tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 13. Các tổ chức và cá nhân tham gia tài trợ và các hoạt động khác liên quan đến du lịch được quyền kiến nghị, đề nghị, khiếu nại, tố cáo đến cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành để xem xét giải quyết quyền lợi chính đáng của mình theo quy định của pháp luật.
Điều 14. Quy chế này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Trong quá trình thực hiện nếu có khó khăn vướng mắc, phản ánh về Trung tâm Xúc tiến Du lịch Nghệ An để tổng hợp trình cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết kịp thời./.

Author: Pham Viet BachPhoto
E-mail: bachdulich@gmail.com
Mobile: 0904 023 223
http://my.opera.com/ngheantourisminfo
Yahoo ID: anh_da_tinh_26
Sex: Male
Age: 32
Hoppy: Badminton, Blog
Opccupation: Tourism Operation

Phát triển du lịch biển, đảo khu vực Bắc Trung Bộ tai Cua Lo - Nghe An

,

Những năm gần đây, bên cạnh sự chuyển biến, du lịch biển, đảo các tỉnh khu vực Bắc Trung Bộ tồn tại nhiều vấn đề bất cập, chưa phát triển tương xứng tiềm năng. Nhằm tăng cường trao đổi thông tin, đưa ra các giải pháp hoạch định chiến lược phát triển du lịch vùng và hưởng ứng Tuần lễ Biển và Hải đảo lần đầu tổ chức tại Việt Nam từ ngày 1 đến 8/6/2009, Tổng cục Du lịch Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phối hợp UBND tỉnh Nghệ An và các tỉnh trong khu vực tổ chức hội thảo "Phát triển du lịch biển, đảo khu vực Bắc Trung Bộ".
Tại hội thảo, các tham luận đã tập trung nêu bật những tiềm năng và thế mạnh đặc trưng của du lịch biển, đảo sáu tỉnh Bắc Trung Bộ: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên- Huế. Ðây là khu vực chuyển tiếp giữa vùng du lịch Bắc Bộ và vùng du lịch Nam Trung Bộ, có tiềm năng lớn về tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn. Bên cạnh ý nghĩa quan trọng trong công cuộc chiến đấu, phòng thủ, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh hải quốc gia, khu vực này còn là địa bàn tập trung nhiều tài nguyên du lịch phong phú, trong đó nổi trội là các bãi biển với nhiều bãi tắm đẹp, thắng cảnh kỳ thú như: Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò, Cửa Hội, Quỳnh Bảng, Quỳnh Phương (Nghệ An), Xuân Thành, Thiên Cầm, Thạch Hải, Ðèo Con (Hà Tĩnh), Nhật Lệ (Quảng Bình), Cửa Tùng (Quảng Trị) và Thuận An, Lăng Cô (Thừa Thiên- Huế). Nhiều đảo ven bờ vẫn giữ nguyên được dáng vẻ hoang sơ và đủ điều kiện để xây dựng thành các đảo du lịch và khu du lịch cao cấp. Ngoài địa hình độc đáo, hệ sinh thái biển đa dạng, tập trung nhiều vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên với ba di sản thế giới được tổ chức UNESCO công nhận cùng hơn 1.200 di tích văn hóa-lịch sử, gần 150 di tích được xếp hạng quốc gia, các tỉnh Bắc Trung Bộ còn có nhiều thuận lợi phát triển du lịch do nằm trên trục giao thông đường bộ, đường sắt bắc - nam, có một sân bay quốc tế, hai sân bay nội địa, nhiều cảng biển và tuyến hành lang du lịch Ðông - Tây nối với các nước Lào, Thái-lan và Myanmar.

Những yếu tố nêu trên đã tạo nên thế mạnh cho khu vực Bắc Trung Bộ trong khai thác và phát triển du lịch. Báo cáo của ngành du lịch sáu tỉnh cũng cho thấy thành tựu quan trọng đạt được thời gian qua với tốc độ tăng trưởng khách tương đối cao. Năm 2008, lượng khách trung bình tăng 15,8%/năm, doanh thu du lịch đạt bình quân 570 tỷ đồng, tăng 21%. Cơ sở vật chất kỹ thuật và chất lượng dịch vụ, môi trường du lịch biển, đảo đã có sự chuyển biến rõ rệt. Nhận thức về phát triển du lịch, trong đó có du lịch biển, đảo của các cấp chính quyền và nhân dân được nâng cao, tác động tích cực đến quá trình phát triển, góp phần tăng thu nhập, tạo nhiều việc làm; thúc đẩy giao lưu, hội nhập khu vực.
Tuy có thế mạnh tiềm năng và hội tụ nhiều yếu tố để phát triển, nhưng du lịch biển, đảo các tỉnh Bắc Trung Bộ cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Ðề cập vấn đề này tại hội thảo, Tiến sĩ Hoàng Thị Ðiệp, Phó Tổng cục trưởng Du lịch Việt Nam nhấn mạnh: Ðây là thực trạng chung và cũng là những thách thức cần vượt qua của du lịch khu vực có xuất phát điểm còn thấp, quy mô nhỏ và hiệu quả chưa cao. Du khách đến đây vẫn chủ yếu là khách nội địa và khách đi trong ngày, khách quốc tế còn quá ít. Ngoài Thừa Thiên-Huế, các tỉnh còn lại chỉ đón trung bình 46 nghìn lượt khách quốc tế/năm. Trong khi đó, theo tiêu chí, để có thể gọi là điểm đến của du lịch Việt Nam, mỗi tỉnh phải đón được hơn 100 nghìn lượt khách quốc tế/năm. Mặt khác, du lịch biển, đảo Bắc Trung Bộ hội nhập trong xu thế cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các trung tâm du lịch trong nước và du lịch các nước chung quanh. Một khó khăn khác là lực lượng làm du lịch các tỉnh trong khu vực nói chung còn yếu và thiếu, ít công ty lữ hành của địa phương có khả năng và thực lực. Cơ sở lưu trú và chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Hệ thống giao thông giúp du khách tiếp cận các điểm đến cũng còn nhiều bất cập. Ðường bộ xa, không thuận lợi cho khách quốc tế đến từ Thái-lan sử dụng ô-tô tay lái bên phải bởi vấn đề này mới được cho phép về nguyên tắc. Ðường hàng không đang ở giai đoạn đầu tư ban đầu, du lịch đường sắt chưa được khai thác đúng mức, cảng biển đón tàu du lịch gần như không có hoặc chưa được đầu tư nhiều về cơ sở hạ tầng, không bảo đảm đủ tiêu chuẩn đón khách quốc tế.
Tiến sĩ Hà Văn Siêu thuộc Viện Nghiên cứu phát triển du lịch cho rằng, điểm yếu của du lịch biển, đảo Bắc Trung Bộ là xây dựng sản phẩm còn thiếu tính liên kết giữa các địa phương, đơn điệu và trùng lặp, phổ biến vẫn chỉ là các loại hình tham quan, nghỉ dưỡng và tắm biển, thiếu những sản phẩm du lịch và dịch vụ cao cấp, độc đáo, có chất lượng và uy tín trên thị trường. Cả vùng hiện vẫn chưa có khu du lịch biển tổng hợp tầm cỡ, có thể so sánh với một số khu du lịch nổi tiếng ở các nước chung quanh như Ba-li, Ma Cao, Phu-két... Cho đến nay chưa có được một mô hình đầu tư khai thác hiệu quả và bền vững. Các giá trị văn hóa biển truyền thống cũng không được chú ý khai thác đúng mức. Thiếu sản phẩm đặc trưng, trình độ quản lý yếu là một trong những nguyên nhân cơ bản hạn chế khả năng chi tiêu và kéo dài ngày lưu trú của du khách khi đến đây.
Một thực trạng cũng được các doanh nghiệp lữ hành lưu ý là vấn đề yếu kém của cơ sở hạ tầng. Giám đốc Công ty cổ phần du lịch Việt Nam tại Hà Nội Lưu Nhân Vinh nhận xét: Chính việc thiếu vắng những khu du lịch chất lượng trong khu vực đã làm nản lòng các đơn vị lữ hành quốc tế đưa khách đến. Ngoài một số ít khu du lịch cao cấp, phần lớn các khu du lịch chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng dịch vụ phục vụ du khách nước ngoài và khách có thu nhập cao trong nước. Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa Doãn Văn Phú cũng cho rằng, một phần nguyên nhân yếu kém của du lịch khu vực xuất phát từ tư tưởng kinh doanh mùa vụ, thiếu tính chuyên nghiệp và không thống nhất trong công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch, gây nên sự giống nhau trong sản phẩm du lịch chào bán. Phần lớn quy hoạch chưa có tính khả thi cao và còn phải điều chỉnh, sửa đổi liên tục, thiếu định hướng và dự báo vĩ mô về loại hình du lịch. Sự phát triển không theo quy hoạch đã tạo ra bức tranh toàn cảnh kém hấp dẫn cùng môi trường du lịch chưa thật sự thân thiện, an toàn cho du khách. Trình độ dân trí thấp đã và đang làm xấu đi hình ảnh của du lịch khu vực. Công tác xúc tiến du lịch không chuyên nghiệp, thiếu bài bản và ổn định, trong khi sự tham gia của các doanh nghiệp du lịch ở các tỉnh vào hoạt động này rất mờ nhạt mặc dù họ là những người được hưởng lợi chính.
Từ thực trạng và những khó khăn nêu trên, các đại biểu đã thảo luận về một số định hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển du lịch biển, đảo của khu vực, trong đó tập trung xác định rõ thị trường ưu tiên của du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ vẫn là với thị trường khách trong nước. Tập trung khai thác luồng khách du lịch ca-ra-van từ đông bắc Thái-lan, Lào và nước thứ ba sang. Triển khai hiệu quả chủ trương cho phép phương tiện giao thông đường bộ có tay lái bên phải vào Việt Nam; kết hợp thu hút du khách Trung Quốc và ASEAN vào theo đường bộ. Ðể làm được điều này, các tỉnh trong khu vực cần liên kết đầu tư, tập trung xây dựng những sản phẩm du lịch biển, đảo vừa mang đặc thù vùng, vừa phù hợp tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương, tránh hiện tượng trùng lặp, rập khuôn, đơn điệu. Về du lịch nghỉ dưỡng, biển, đảo, nên có một quy hoạch chiến lược với tầm nhìn dài hạn cho cả khu vực, tổ chức không gian du lịch hợp lý, đáp ứng được nhu cầu đón hàng triệu lượt khách/năm. Nhanh chóng mời gọi đầu tư các khu du lịch đạt chuẩn quốc tế nhằm đón trước sự phát triển của tuyến du lịch hành lang Ðông - Tây với lưu lượng khách du lịch gia đình và theo chương trình du lịch bằng ô-tô khá lớn. Ðẩy mạnh phát triển loại hình du lịch văn hóa - lịch sử, sinh thái biển từ việc khai thác lợi thế tập trung nhiều di sản và các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên.
Tùy theo đặc điểm địa phương, mỗi tỉnh trong khu vực phải khẩn trương hoàn chỉnh quy hoạch phát triển du lịch biển, đảo phù hợp quy hoạch vùng với tầm nhìn dài hạn, quy mô hợp lý, tránh manh mún, tận dụng cao nhất tính tự nhiên của môi trường cảnh quan. Coi trọng quy hoạch du lịch cộng đồng và du lịch cao cấp. Nên hình thành các đô thị biển đan xen khu du lịch sinh thái độc lập, kết hợp điểm du lịch văn hóa, lịch sử với du lịch sinh thái, tạo sự hài hòa trong tổng thể các cụm du lịch tổng hợp. Trong quy hoạch, phải tính đến yếu tố mùa vụ để hạn chế thấp nhất tác động tiêu cực. Thực hiện các biện pháp quản lý sử dụng đất chặt chẽ ngay từ khi có ý định quy hoạch để triển khai thuận lợi các dự án. Trong quá trình làm quy hoạch, cần nghiêm túc đánh giá thị trường mục tiêu, thị trường ưu tiên và thị trường tiềm năng, chú trọng dòng khách qua hành lang Ðông - Tây có nhu cầu cao và thường xuyên về du lịch biển, đảo.
Một trong những giải pháp quan trọng được đề cập nhiều tại hội thảo là công tác xúc tiến, quảng bá, thu hút du khách thông qua việc huy động tối đa các nguồn lực; thực hiện hợp tác trong chương trình xúc tiến quảng bá điểm đến Bắc Trung Bộ, hợp tác quảng bá hình ảnh ba quốc gia một điểm đến giữa Việt Nam - Lào - Thái-lan; tổ chức gặp gỡ, mời chào các hãng lữ hành quốc tế, tham gia sự kiện du lịch lớn tại các thị trường trọng điểm. Có chính sách thu hút các hãng lữ hành lớn để họ đưa điểm đến Bắc Trung Bộ vào chương trình du lịch chào bán; quảng bá tại chỗ thông qua tổ chức các đoàn khảo sát du lịch khu vực dành cho giới đầu tư, doanh nghiệp du lịch và báo chí. Ðồng thời, tập trung đào tạo nhân lực du lịch theo hướng đồng bộ, chuyên nghiệp, xây dựng đội ngũ làm du lịch có khả năng, kiến thức, trình độ; chú trọng đáp ứng những thị trường có nguồn khách đến đông. Thực hiện xã hội hóa đào tạo nguồn nhân lực, ưu tiên sử dụng nguồn nhân lực tại chỗ và liên kết hỗ trợ đào tạo...
Ðể khai thác một cách hiệu quả, biến những tiềm năng trở thành hiện thực, du lịch biển, đảo khu vực Bắc Trung Bộ đang chờ đợi những bước đi và giải pháp mang tính đột phá và có tầm chiến lược lâu dài.


ND
Download Opera, the fastest and most secure browser
July 2009
M T W T F S S
June 2009August 2009
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31