Món ngon Xứ Nghệ - P1
Saturday, 28. July 2007, 06:14:35
http://www.vietnamtourism.com/ngheanNghệ An không chỉ có non xanh nước biếc, du khách đến đây còn được thưởng thức những đặc sản mang đậm hương vị xứ Nghệ. Những món ăn ngon sẽ giúp cho chuyến đi của du khách thêm hoàn hảo
Cháo lươn Vinh
Món cháo lươn
Đến Nghệ An đi trên đường phố đâu đâu cũng thấy tấm biển “Cháo lươn” như “mời mọc”…
Không chỉ người dân ở đây thích ăn cháo lươn, mà tất cả những du khách từ nhiều nơi đến Nghệ An đều thích món ăn này. Để ăn cháo lươn các bạn đến các phố: Trần Phú, Phan Đăng Lưu, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Phan Chu Trinh, Lê Mao, Quán Bàu… đây là những phố bán cháo lươn ngon nhất ở Vinh. Cháo lươn Vinh rất đặc biệt được nấu bằng gạo trắng thơm, lươn xào mềm. Khi múc cháo cho khách, bát cháo trắng bỏ lươn chan nước súp xào màu vàng trông thật ngon mắt và hấp dẫn. Ngoài món cháo lươn trong các nhà hàng còn có thêm món súp lươn ăn với bánh mỳ, miến lươn… để phù hợp với khẩu vị của từng du khách.
Món ăn từ lươn ngon, mát, bổ, ăn vào mùa hè rất thích hợp. Món cháo lươn Vinh sẽ làm du khách đến Nghệ An thêm nhớ nơi này.
Nhút Thanh Chương
Ở xứ Nghệ có nhiều nơi làm nhút, nhưng nơi làm nhút phổ biến và ngon hơn cả là ở huyện Thanh Chương.
Nghề làm nhút ở Thanh Chương có từ lâu đời, là thức ăn dân dã và phổ biến của mọi gia đình. Vật liệu để làm nhút gồm có mít xanh và muối trắng. Mít xanh, loại ương ương càng ngon. Mít đang ở trên cây, người ta hái xuống, gọt sạch vỏ ngoài, rửa cho hết nhựa rồi bỏ vào nong hoặc nia, dùng dao băm hoặc thái thành từng sợi. Sau đó cho muối trộn đều rồi bỏ vào cối giã sơ qua, dùng tay vò cho mềm ra. Cuối cùng bỏ vào vại sành khoả đều trên bề mặt, bỏ vỉ vào dằn đá cho nén xuống, đổ nước muối loãng vào cho ngập vỉ, đậy nắp che bụi, ủ khoảng 5-6 ngày. Hàng ngày trong bữa cơm, một bát nhút và nước mắm làm nước chấm là đủ. Ngoài ra nhút còn được chế biến thành món canh hoặc xào.
Đến Nghệ An, ăn một bữa cơm quê dân dã với nhút du khách sẽ hiểu hơn về con người và sự đậm đà xứ Nghệ.
Tương Nam Đàn
Chai Tương Nam Đàn
Cũng như nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn nổi tiếng không chỉ ở Nghệ An mà khắp cả nước. Là thực phẩm được dùng làm nước chấm, nước chan với cơm, rất phổ biến trong bữa ăn của các gia đình huyện Nam Đàn nói chung và Nghệ An nói riêng, được chế biến từ đậu tương, nếp và ngô do người nông dân chế biến.
Khác với tương Bần ở ngoài Bắc, tương Nam Đàn có màu vàng nâu. Mùi tương có vị thơm của đậu tương rang quyện với mùi mốc nếp, mốc ngô.
Làm tương không những đòi hỏi kỹ thuật mà còn phải có sự kiên trì. Ngay từ tháng Năm âm lịch, người ta đã bắt đầu chuẩn bị cho công việc làm tương. Muốn tương thơm ngon, trước tiên phải phơi mốc được nắng. Mốc tương được làm bằng nếp hay ngô. Nếu làm mốc bằng gạo nếp thì phải hong chín, rải ra nong, lấy lá nhãn đắp ủ cho đến khi lên mốc mới đưa ra phơi nắng. Còn ngô nếp thì phải ủ cho ngô nứt mầm, lúc đó bột chuyển hoá thành đường sẽ ngọt. Đem ngô giã nhỏ, hong lên rồi ủ với lá nhãn, đến khi lên mốc đem ra phơi nắng. Đậu tương đem rang, để nguội và đem xay cho vỡ đôi, vỡ ba, sau đó cho vào nồi nấu chín rồi đổ vào chum hoặc ché và đem phơi nắng.
Nước làm tương cũng được chọn lọc rất cầu kỳ. Nước mưa là được nhiều người ưa dùng nhất. Nếu không có nước mưa thì người ta lấy nước từ sông Lam vào lúc đêm thanh vắng, để ít ngày cho lắng cặn, sau đó gạn lọc kỹ càng.
Tiếp theo là đem trộn mốc tương vào tương và bỏ muối theo một công thức nhất định. Nếu bỏ nhiều muối thì tương mặn mất ngọt, mất vị ngon. Nhưng nếu bỏ ít muối thì tương sẽ bị nhạt và hỏng.
Sinh thời, Bác Hồ cũng rất thích ăn tương. Mỗi lần ra thăm Bác, đoàn đại biểu Nghệ An không quên biếu Bác chai tương quê nhà. Du khách đến Nghệ An khi ra về mua mấy chai tương làm quà biếu cho bạn bè, người thân, hoặc dùng trong bữa cơm gia đình để nhớ về xứ Nghệ.
Cá rô Bàu Nón
Bàu Nón là một cái hồ lớn do thung lũng chết của sông Lam cổ tạo thành, sau thời kỷ khởi chuyển của lục địa vào cuối đệ tứ kỷ. Bàu Nón rộng độ vài ngàn mẫu ta. Ngày xưa vào mùa xuân - hè, nước bàu cạn có thể cấy lúa được ở vùng ven bờ, còn mùa Thu - Đông thì nước to sóng lớn. Ngoài trồng lúa nhân dân ven bờ còn làm nghề đánh bắt cá thiên nhiên ở trong bàu.
Đời Dương Hòa vua Lê Thần Tông (1635 – 1642), một vị quan hưu trí người xã Hương Lãm là hương cống Hương Lãm hầu Nguyễn Văn Lãm, thấy bàu Nón dung cho nông nghiệp lợi hơn ngư nghiệp, hơn nữa thầy hằng năm đến mùa mưa, bàu Nón thường úng thủy, gây ra tai họa. Vì vậy, ông có đơn gửi triều đình xin cho khai thông bàu Nón để trồng lúa.
Được nhà vua đồng ý, ông vận động nhân dân đào một con kênh từ bàu Nón chảy đến kênh đước huyện Hưng Nguyên để chảy ra sông Lam. Khi con kênh đào xong, nạn úng thủy không còn nữa và diện tích trồng lúa dần được mở rộng ra. Và ngày nay bàu Nón đã trở thành một cánh đồng lúa phì nhiêu. Công lao của Hương Lãm hầu đối với nền kinh tế của huyện nhà thật là lớn.
Ở Bàu Nón có giống cá rô ngon nổi tiếng, đến nỗi tiếng thơm truyền đến kinh đô Thăng Long. Có một tên hầu cận trong cung tâu lên vua Lý Cao Tông (1178 – 1210), vua ra lệnh cho xã Nộn Giang đem cá rô bàu Nón ra Thăng Long tiến lên vua. Việc đưa cá rô từ xã Nộn Giang ra kinh đô vô cùng vất vả không kém mấy so với việc Mai Thúc Loan phải gánh vải đi cống thuở trước. Lúc đó, ở cung vua có một người hầu gái họ Lê, người xã Nộn Giang, chuyên phục vụ bữa ăn trưa của vua, gọi là ngọ thời môi (ghĩa là mụ hầu cơm trưa).
Thấy dân xã nhà khổ quá trong việc tiến cá cho vua, nhân một lần về thăm nhà, bà bàn với dân xã đào một cái ao thả phân trâu bò vào, rồi thả cá vào ao nuôi một thời gian trước khi chở cá ra kinh đô. Cá ăn phân bò không còn béo như khi ở ruộng lúa nữa, xương thì cứng, thịt thì xác. Lúc ăn cá thấy không còn ngon như trước, vua hỏi nguyên do, bà tâu là bây giờ trồng lúa nhiều, phải bón nhiều phân trâu bò xuống cho lúa tốt, cá ăn phân trâu bò nên gầy đi, và bà xin bỏ lễ tiến cho dân đỡ khổ, vua đồng ý. Khi bà mất, nhân dân xã Nộn Giang rước lĩnh cữu bà về quê an táng ở rú Cụp gần nơi ở cũ của bà và lập đền thờ bà để ghi nhớ công ơn của bà đối với dân xã, gọi là đền Mụ ngọ và đặt tên cho cánh đồng có ao nuôi cá trước khi đem tiến lên vua là xứ Mụ Ngọ.
Ngày nay, Bàu Nón là “vựa lúa” chung của 5 xã: Xuân Hòa , Nam Anh, Nam Xuân , Vân Diên và Nam Thanh, bởi đất ở đây màu mỡ lúa ngô xanh tốt quanh năm nhưng nhân dân ở đây vẫn không quên nghề đánh bắt cá. Vào tháng 9, tháng 10 âm lịch, khi cây lúa bắt đầu phơi mao, tiết trời xe lạnh, gió hây hây cuốn theo mao lúa trắng mặt đồng làm nguồn thức ăn dồi dào cho tôm cá. Giống rô đồng háu ăn nhờ thế mà được tẩm bổ, tích lượng mỡ dự trữ cho mùa đông.
thời điểm này cá béo vàng, xương vây đều rất mềm. Bắt được cá về, người ta dung xiên tre xâu thành từng xâu đem nướng trên bếp than hồng.
Con cá chin vàng ươm, bóng nhẫy bốc mùi thơm lừng khiến người lịch lãm nhất cũng không thể giấu nổi sự thèm thuồng đến cồn cào cả gan ruột. Sau một ngày lao động vất vả, tối về xúm xít quanh bếp lửa hồng ấm áp, thưởng thức hương vị món rô đồng nướng chấm nước mắm tỏi, nhắm với rượu trắng, vừa nướng vừa ăn thì đến vua cũng phải rời ngai vàng “nhập cuộc”.
Cá rô đồng nướng kho tương, lá nghệ cũng là món được nhiều người yêu thích bởi mùi vị rất riêng của nó. Hay cá rô nấu canh rau cải, rau cúc tần, vừa bổ dưỡng, vừa thơm ngon, hợp khẩu vị ngay cả người “khó tính” nhất.
Bánh Đúc Nam Đàn
Nam Ðàn có câu ca dao nổi tiếng: "Sa Nam trên bến dưới đò. Bánh đúc ba dãy, thịt bò mê thiên". Ðủ biết, dân Nam Ðàn "mê" bánh đúc tới mức nào!
Khác với nhiều nơi khác trong cả nước, Nam Đàn (Nghệ An) nấu bánh đúc bằng gạo nguyên cả hạt được vo đãi kỹ, chứ không phải nấu bằng bột gạo xay giã sẵn. Còn hến ăn kèm phải là loại sống ở sông Lam mới ngon. Hồi xưa, phần lớn người ta nấu bằng gạo gié đỏ, một loại gạo rất ngon; cho dù có giã đến mòn cả cối đá đi chăng nữa thì những hạt gạo gié đỏ vẫn mang màu hồng hồng, rất mặn mà và đằm thắm, chứ không trắng bông như các loại gạo khác được.
Muốn nấu được nồi bánh đúc cho thật ngon bằng gạo gié đỏ, phải có một đôi đũa cả bằng tre đực thật chắc, để quấy được thật mạnh, thật lâu - cho kỳ tới lúc các hạt gạo nguyên kia phải tan nhuyễn thành một thứ bột đặc quánh trong nồi.
Quấy được nồi bột ưng ý rồi, mới đổ ra một cái rổ tre có lót lá chuối sứ tươi. Chờ cho rổ bánh đúc nguội hoàn toàn, mới dùng dao cắt thái khối bánh ra những kích thước tùy ý. Người ta thường ăn bánh đúc với mắm tôm, hay nước mắm pha thêm dấm ớt hoặc ăn với riêu cua hay canh hến, hoặc ăn với xáo bò hay xáo gà. Nhưng nhiều người, nhất là giới bình dân, lại thích ăn bánh đúc với ca trích kho nước mắm hay ăn bánh đúc với bánh đỗ (đậu bỏ vỏ, luộc chin, giã nát, viên thành viên tròn như quả chanh). Những câu ca như :
“Bánh đúc, bánh đỗ
Ai chộ (thấy) cũng thèm
Chồng hay đánh em
Cũng vì đúc, đỗ”
Hay
“Bánh đúc cá kho, bán bò trả nợ”
Đủ để nói lên tính hấp dẫn của những món ăn này.
Nếu là ăn bánh đúc theo thể thức ăn "bánh đúc hến", thì bánh được thái đều thành từng khối chữ nhật, to tương đương hai đốt ngón tay.
Còn hến? - Ðó là sản vật được trời đất ưu đãi, bốn mùa có sẵn trong lòng sông Lam; nhưng hến đặc biệt béo, nhiều và thơm ngon kỳ lạ là vào mùa hè hằng năm. Nhưng hến sông Lam phải làm thế nào cho thật ngon? Trước hết, đó phải chính là hến sông Lam thứ thiệt. Vì rằng, chỉ có hến sông Lam nhỏ và đều tăm tắp đến thế. Tuy con hến nhỏ, nhưng ruột hến lại rất đặc và trắng xanh; luộc lên, tỏa ra một mùi thơm mát, quyến rũ.
Nước luộc của hến sông Lam trắng và đặc sánh như sữa, nếu để sánh ra tay sẽ cảm thấy dinh dính. Luộc xong hến, lấy nước để riêng, dùng làm nước chan với bánh đúc sau này. Còn ruột hến thì một nửa để lại trong nước luộc, nửa còn lại đem xào với mỡ phi hành. Chỉ xào vừa săn, không xào quá lửa. Ăn đến đâu thì múc đến đấy; nhưng bánh đúc hến phải ăn nguội mới cảm nhận hết được hương vị đặc trưng của món ăn bánh đúc hến Nam Ðàn. Gia vị là mùi tàu thái nhỏ, ớt tươi thật cay và thơm; nhưng tất cả đều để riêng, ai thích nồng độ bao nhiêu thì tùy thích cho vào.
Cho đến tận bây giờ giữa xô bồ thị trường bánh kẹo đủ sắc màu, nhãn mác thương hiệu cao cấp canh tranh, bánh đúc Sa Nam vẫn lặng lẽ tồn tại và người Nam Đàn vẫn trân trọng thứ sản phẩm chân quê mộc mạc ấy của cha ông với một niềm tự hào thầm kín.
















nguyenthibe # 8. September 2009, 13:29
ngheantourisminfo # 9. September 2009, 16:13
nguyenthibe # 9. September 2009, 16:20