Skip navigation.

exploreopera

| Help

Sign up | Help

Củ khoai info

Tìm kiếm, liên kết, thu thập, đọc, viết, tổng hợp lại... những vấn đề văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội.

STICKY POST

News Portal...

STICKY POST

Việt Nam - Ngươi đang ở đâu và sẽ đi đến đâu?.

,

Lời nói đầu.
Bức tranh kinh tế xã hội ở Việt Nam trong thời gian này và tới đây chưa có gì sáng sủa. Từ cuối năm 2006 tôi đã lập đề cương cho một chuyên khảo về "Chất lượng phát triển kinh tế của Việt Nam", tuy nhiên thời gian cứ trôi đi với nhiều công việc và dự định khác nhau làm cho đề cương đó cứ nằm mãi trên sổ ghi chép mà không triển khai được.
Từ cuối năm 2007 đến nay, bức tranh kinh tế xã hội ngày càng ảm đạm hơn, đọc báo và theo dõi diễn biến hàng ngày đặt tôi trước đòi hỏi tập hợp khối tư liệu này trong một chuyên đề "Việt Nam - Ngươi đang ở đâu và sẽ đi đến đâu". Ở đây, tôi chỉ có ý định gộp các bài viết mà tôi đã đọc được, qua đó một mặt giúp tôi tổng hợp tài liệu mặt khác có thể giúp cho bạn đọc hình dung được bức tranh kinh tế xã hội Việt Nam chúng ta hiện nay.
Thông thường tôi sẽ ghi chép những suy nghĩ của mình ở mỗi bài viết, tuy nhiên do điều kiện eo hẹp về thời gian, đồng thời chưa đến lúc để nói lên ý kiến của mình nên tôi cứ đưa nguyên bản các bài báo lên mà không có bình luận gì nhiều.
Mong các bạn, nếu thấy có tư liệu nào hay, phù hợp với chuyên đề này hãy gửi địa chỉ giúp tôi. Chân thành cảm ơn các bạn.

Mục Lục:

Read more...

Việt Nam - Ngươi đang ở đâu và sẽ đi tới đâu (kỳ 101)

,

Khi người nghèo mắc bệnh ung thư
http://vietnamnet.vn/psks/2008/06/789385/

Bước vào Trung tâm Ung bướu TP.HCM, ai cũng sẽ cảm nhận được nỗi bất hạnh của những người mắc phải căn bệnh hiểm nghèo. Với người nghèo, nỗi bất hạnh đó tăng lên gấp bội khi không có điều kiện chăm sóc, thậm chí nhiều người phải bỏ cuộc khi vẫn còn một tia hi vọng mong manh vì không còn tiền chạy chữa…

Khi bất hạnh ập đến

Đang sống yên lành ở Bình Định, ông Trần Quốc Hưng thấy trong người có những dấu hiệu bất thường liền đi bệnh viện khám. Cả gia đình rụng rời chân tay khi biết ông bị mắc bệnh ung thư vòm họng. Phải cho chồng nhập viện điều trị, bà Nguyễn Thị Út vợ ông nghĩ vậy. Nhưng nhà thì nghèo, chồng đạp xích lô, số tiền kiếm được chỉ ba cọc ba đồng, vợ thì bám lấy mảnh ruộng vốn chẳng rộng là bao, lấy tiền đâu ra để chữa bệnh?

Vạn bất đắc dĩ, bà Út quyết định bán đi mảnh đất của gia đình được hơn hai chục triệu, cộng với số tiền anh em, họ hàng cho, ăn Tết xong, bà khăn gói đưa chồng vào TP. Hồ Chí Minh chữa bệnh.

Không có BHYT nên gia đình phải chịu hoàn toàn chi phí điều trị. Mỗi tuần nằm viện, bà Út phải chi trả 1 triệu đồng tiền thuốc cho chồng. Mỗi một lần xạ trị phải trả 7,8 triệu đồng. Nhưng những cố gắng đó chỉ có thể giúp bệnh của ông Hưng thuyên giảm chứ không thể chữa khỏi. Phẫu thuật là giải pháp có thể mang lại một tia hi vọng mong manh cho căn bệnh của ông Hưng. Nhưng số tiền phẫu thuật đó quá lớn, nằm ngoài khả năng chi trả của gia đình. Bà đành cho chồng uống thuốc cầm chừng.

Để giảm chi phí, các bác sĩ khuyên bà nên cho bệnh nhân điều trị ngoại trú, hàng tuần vào lấy thuốc uống, khi nào bệnh nặng mới nhập viện lại. Muốn giữ lại chút tiền ít ỏi để lo thuốc thang cho chồng, bà Út quyết định đưa chồng ra tạm trú tại hành lang bệnh viện.

Hàng ngày, bà Út qua chùa gần đấy xin cơm hoặc nhận cứu trợ từ các đoàn từ thiện. Bà ngậm ngùi: Cơm chùa là cơm chay nên khó ăn. Nhưng mình nghèo, có miếng ăn là tốt rồi. Tôi thì chẳng sao, chỉ thương ông ấy, bệnh tật mà lại chẳng có gì bồi dưỡng. Nhìn những người bệnh giàu có được chăm sóc, lại có đông người đến thăm mà thèm. Bệnh tật ai cũng khổ, nhưng nghèo thì khổ gấp trăm gấp ngàn lần.

Những đồng tiền cuối cùng rồi cũng hết, mà bệnh của ông Hưng vẫn không hề thuyên giảm. Cộng với việc phải nằm ngoài hành lang và không được bồi dưỡng đầy đủ nên sức khỏe của ông ngày càng sa sút. Giờ đây, bệnh viện khuyên nên đưa ông về quê vì nếu không phẫu thuật thì bệnh không hi vọng gì cứu chữa. Thuốc men bây giờ chỉ giúp ông cầm cự thêm ít thời gian nữa mà thôi.

Nhưng không còn tiền thì làm sao mà về quê? Vợ ông Hưng cứ đau đáu bởi câu hỏi đó. Vậy là hai ông bà tiếp tục cuộc sống lay lắt ở Sài Gòn, ngủ hành lang và ăn cơm từ thiện để chờ đợi phép màu.

Chỉ mong sống được đến khi con đủ lớn để nhận biết mẹ

Bước vào phòng bệnh, đập vào mắt chúng tôi là hình ảnh chị Quỳnh Dao đang nằm dưới gầm giường với cái đầu đã rụng hết tóc do nhiều lần xạ trị. Bệnh viện quá tải nên 3 bệnh nhân phải chia nhau một cái giường gồm cả gầm giường. Chiếc áo bệnh viện rộng thùng thình không che nổi cái bụng sưng to của chị. Mới hơn 30 nhưng ai cũng nghĩ chị phải gần 50. Suy nghĩ nhiều và bị những cơn đau hành hạ khiến chị già đi nhiều so với tuổi.

Anh Lê Tiến Thọ, chồng chị Quỳnh Dao kể khi biết vợ mắc bệnh ung thư, anh đã phải bán nhà để có tiền lo cho vợ. Nhưng số tiền đó cứ vơi dần theo những lần nhập viện và những đơn thuốc mà mỗi cái có giá hơn chục triệu đồng. Chị Dao đã nhập viện mổ 1 lần nhưng sau một thời gian, bệnh tái phát nên chị phải trở lại bệnh viện.

Khi bị bệnh, chị Dao đang là công nhân Công ty Trong Nam (Nhơn Trạch - Đồng Nai). Mặc dù có bảo hiểm nhưng chị Dao cho biết vì mình mới làm việc ở công ty được 2 năm nên bảo hiểm chỉ trả 50% còn 50% gia đình phải chịu. Nhưng sắp tới, khi thời gian nghỉ việc của chị quá lâu, phía công ty sẽ chấm dứt hợp đồng lao động, đồng nghĩa với việc công ty sẽ không đóng bảo hiểm nữa và mọi nguồn chi từ phía bảo hiểm cho chị cũng sẽ bị cắt.

Nghĩ tới lúc đó, anh Thọ chồng chị Dao ngậm ngùi: Bảo hiểm cắt rồi chúng tôi biết trông cậy vào đâu. Tiền bán nhà đã vơi dần qua ca mổ trước và đợt nhập viện này. Mỗi cái đơn hóa trị tốn 14 triệu, mà 3 tuần lại phải chạy một lần thì tiền đâu chịu cho nổi. Nhưng chẳng lẽ không thuốc thang để vợ đau đớn và chết dần chết mòn. Chắc tôi phải đi vay tiền góp để chữa bệnh cho vợ thôi.

Từ vùng quê miền Trung nghèo khó, sau rất nhiều đắn đo, vợ chồng anh Thọ đã quyết định vào Đồng Nai với khát vọng đổi đời. Vợ làm công nhân, chồng làm phụ hồ, suốt hơn 10 năm dành dụm rồi vay mượn thêm anh chị mới mua được một căn nhà nhỏ ở Nhơn Trạch, Đồng Nai. Số nợ chưa trả hết thì chị mắc bệnh hiểm nghèo phải bán nhà đi lấy tiền chữa bệnh. 2 đứa con, 1 đứa 10 tuổi, 1 đứa 3 tuổi phải gửi về quê cho ông bà để anh Thọ có thời gian lo cho vợ.

Từ lúc chị lên Sài Gòn nhập viện, anh cũng bỏ luôn công việc để theo chăm sóc cho chị. Hàng ngày, khi những cơn đau hành hạ vợ, anh lại thấy xót xa lo lắng. Hi vọng chị sẽ khỏi bệnh ngày càng xa vời, mù mịt. Sự sống của chị sẽ được kéo dài thêm nếu có sự trợ giúp của thuốc men. Vì không có nhiều tiền để uống thuốc nên sau khi mổ lần 1, chị Dao đã bỏ thuốc Tây để uống thuốc Nam. Nhưng sau đó bụng chị ngày càng sưng to và phải nhập viện gấp.

Nghĩ về những ngày sắp tới, chị Dao rơi nước mắt: Tôi chỉ mong làm sao cầm cự thêm vài năm nữa khi đứa con nhỏ đủ lớn để nhận biết mẹ rồi chết là mãn nguyện rồi chứ không hi vọng sẽ sống được đến khi con cái trưởng thành.

Cần lắm chút ánh sáng cuối đường hầm

Đặt chân vào Trung tâm Ung bướu của TP.HCM ai ai cũng sẽ rùng mình bởi cái không khí u ám chết chóc ở nơi này. Bệnh tật không trừ một ai, từ già trẻ, lớn bé, người giàu cũng như người nghèo. Bất kỳ ai khi nghe tin mình hay người thân bị bệnh ung thư cũng đều có tâm trạng lo lắng, sợ hãi. Với những bệnh nhân nghèo thì sự sợ hãi đó còn kéo theo cả nỗi niềm tuyệt vọng khi giá của những đơn thuốc chữa bệnh là số tiền vượt ngoài khả năng chi trả của gia đình. Khi đó, sự động viên chia sẻ của những người xung quanh là một liều thuốc vô cùng cần thiết đối với họ

Chị Nguyễn Thị Thanh Hằng (quê Bến Tre) tâm sự: Khi nghe tin bị ung thư cổ tử cung, tôi thực sự bị sốc. Tôi nghĩ mình còn quá trẻ, con tôi còn quá nhỏ. Nếu tôi có bề gì thì nó sẽ sống thế nào? Trong cơn tuyệt vọng, chính mẹ là người động viên tôi rất nhiều. Các bác sĩ và y tá cũng rất tốt với tôi, họ động viên và giúp đỡ rất nhiều khiến tôi yên tâm chữa trị. Tôi nghĩ chẳng bao lâu mình sẽ được về nhà với con.
Mặc dù động viên con rất nhiều nhưng mẹ chị Hằng cũng rất lo lắng và sợ hãi. Bà tâm sự: Tôi phải che giấu đi nỗi sợ hãi ấy để động viên con yên tâm chữa bệnh. Nhiều đêm, khi nó đã ngủ, tôi lại khóc lặng lẽ vì sự bất lực của mình. Tiền mang theo đã sắp hết, không biết rồi lấy gì để chi trả. Không gì khổ bằng cái nghèo.

Hằng ngày, bà lặn lội qua chùa Bảo Dân xin cơm cho mình và xin cơm cho con từ nhà ăn từ thiện của bệnh viện. Khi có đoàn từ thiện nào vào thăm cho ít tiền bà lại ki cóp với hi vọng số tiền đó sẽ giúp con mình trở lại với cuộc sống bình thường.

Khi có người thân bị bệnh ung thư, mọi người trong gia đình đều rất lo lắng. Và họ càng đau lòng hơn khi không thể giúp gì được cho người thân yêu của mình chỉ bởi cái nghèo. Bà Út, vợ ông Quốc Hưng rơi nước mắt khi nhìn chồng đau đớn mỗi khi cơn bệnh bùng phát: Thuốc có thể giúp cơn đau của ông ấy nhẹ đi phần nào. Nhưng giờ tôi chẳng còn tiền nên chỉ biết bất lực mỗi khi cơn đau hành hạ ông ấy. Bệnh của ông ấy còn chút hi vọng có thể cứu chữa nhưng tôi lấy đâu ra tiền cho ông ấy phẫu thuật. Giờ tiền về quê còn chẳng có nữa là...

Ông Hưng, chị Dao, chị Hằng là một trong số rất nhiều những người bị mắc bệnh ung thư nằm tại Trung tâm Ung bướu đang ngày đêm chờ đợi ánh sáng cuối đường hầm. Và họ cần lắm những bàn tay chia sẻ của cộng đồng để họ có thể kiên cường chống đỡ với bệnh tật mà không phải hối tiếc bởi những hạn chế của cái nghèo.

Hà Dịu

Việt Nam - Ngươi đang ở đâu và sẽ đi đến đâu? (Kỳ 100)

,

Kính viếng bác - Nhà lãnh đạo lớn

Hai ngày quốc tang: 14-15/6

Một trái tim lớn đã ngừng đập
http://www.tuanvietnam.net//vn/nhanvattrongngay/3985/index.aspx

Không sao tin được trái tim lớn ấy lại có thể ngừng đập vào lúc mà dân tộc, đất nước, nhân dân, Đảng mong chờ và đòi hỏi ở Anh; và cả tuổi trẻ Việt Nam gửi gắm niềm tin vào con người tuy đã 86 tuổi mà vẫn rất trẻ trong tình cảm và tư tưởng, trong hành động và ước mơ. Vậy mà con người ấy đã đột ngột ra đi...


Thế kỷ XXI với những biến động dữ dội không sao lường hết trên hành tinh chúng ta đang sống. Đó cũng chính là lúc mà trí tuệ và cảm xúc của con người cũng theo tốc độ của khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ vượt bậc mà lịch sử chưa từng biết đến.

Nhưng cũng chính vào lúc ấy, một sự thật oái oăm và nghiệt ngã đã xảy ra... Tin đồng chí Sáu Dân qua đời gây chấn động mạnh trong tâm tư, tình cảm của biết bao người thầm mong mỏi, vững tin vào vận nước.

Có biết bao người đang thiết tha gửi gắm niềm tin và khát vọng vào con người ấy - một trái tim, một khối óc, một bản lĩnh nổi trội trong những trái tim và bộ óc của một thế hệ; con người đã được tôi luyện trong ngọn lửa cách mạng, kháng chiến và Đổi Mới để rồi thật sự tỉnh táo và bản lĩnh trong hội nhập và phát triển của đất nước.

Sau những phút giây lạnh người với tin dữ, sau những thương cảm trào dâng tưởng chừng khó mà viết được gì khi nước mắt nhòe mặt kính, hình ảnh lớn của con người ấy cứ như mỉm cười nhắc nhở: đừng ủy mị chỉ biết sụt sùi thương cảm, hãy làm một cái gì đó cho đất nước, cho nhân dân.

***

Khi chia tay chuẩn bị lên đường đi Hà Lan, để rồi đến phút cuối lại phải đi cấp cứu, ông vẫn nói rõ dự định, mà giờ phút này có thể nói, đó là dự định dang dở cuối cùng: “Thử học hỏi kinh nghiệm về chống nước biển dâng tại nơi mà bao thế kỷ nay người ta đã có biết bao tri thức, công nghệ và bản lĩnh sống dưới mực nước biển, đây là nơi số một cần phải tìm đến vào lúc này”.

Ông Sáu Dân vừa cười vừa nói đùa “không được nản, nghe chưa”. Ấy là ông muốn nhắc nhở điều mà ông thường nhắc nhở “thua keo này phải bày keo khác, cứ phải tin rằng, dân tộc sẽ thắng, Đảng của chúng ta sẽ thắng”.

Niềm tin mãnh liệt ấy của ông đã truyền một sức mạnh bất tận cho những ai có dịp được ông tiếp sức.

Có một chuyện ông nói đùa song nội dung thì thật nghiêm túc: “Tôi sẵn sàng ký gửi tấm thẻ Đảng của tôi cho các anh giữ, kể cả những huân chương, huy chương mà Đảng và Nhà nước đã trao cho tôi, các anh cũng có thể xem là vật ký cược cho điều mà tôi đang làm, đang đề nghị, đang giới thiệu mà tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm”.

Con người ấy từng được tôi luyện trong ngọn lửa của “Nam kỳ khởi nghĩa” năm 1940, qua thử thách khốc liệt của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đến từ mọi hướng, qua những suy tư dằn vặt để dám chịu trách nhiệm về những sáng tạo trong cách nghĩ và cách làm của một trong những người đi đầu của công cuộc Đổi mới.

Con người ấy, cho đến khi đột ngột ra đi, vẫn trước sau như một, là con người hết lòng vì sự nghiệp của dân tộc, của Đảng, tuyệt đối trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh nên đã học theo bản lĩnh và sự kiên trì thuyết phục của Hồ Chí Minh để không chút mệt mỏi, ngừng nghỉ phấn đấu cho mục tiêu chân chính trước mắt cũng như lâu dài của đất nước.

Mục tiêu trước mắt và lâu dài ấy được đúc kết qua trải nghiệm một người chiến sĩ cách mạng biết vượt lên chính mình, biết và dám học hỏi quần chúng, đặc biệt là biết lắng nghe và dám nghe những ý kiến trái tai của những người dám có chính kiến.

Võ Văn Kiệt đúng là người có "con mắt xanh" khi nhận ra thời điểm cần phải tập trung đưa sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc lên một tầm vóc mới, đáp ứng được đòi hỏi của dân tộc trong vận hội mới của đất nước, trong thời cơ mới của hội nhập quốc tế với bối cảnh thời đại thế kỷ XX bước sang thế kỷ XXI.

Ông không mệt mỏi, kiên trì thuyết phục và tự mình làm gương cho việc chăm chút vun đắp sự nghiệp cao cả ấy từ những ý tưởng táo bạo được nhiều tờ báo có uy tín quốc tế xem là những “ý tưởng cách tân mang tầm cỡ thời đại”, đến việc làm cụ thể sẵn sàng tiếp và đối thoại thẳng thắn với bất kỳ cá nhân nào bày tỏ tấm lòng yêu nước theo cách của họ.

Có lẽ vì thế chăng mà ngày 11/6/2008, khi trong nước chưa đưa tin, thì các các hãng truyền thông lớn của thế giới như BBC, AP đã nhanh chóng bình luận và trang trọng đưa những bức ảnh của nhân vật chính trị mà họ đánh giá rất cao.

BBC bình luận: Trong một phỏng vấn hiếm hoi với BBC, ông Kiệt nói:
"Tổ quốc là của mình, dân tộc là của mình, quốc gia là của mình, Việt Nam là của mình, chứ không phải là của riêng của người cộng sản hay của bất cứ tôn giáo hay phe phái nào cả". Ông cũng kêu gọi đối thoại với những người bất đồng chính kiến.

Có phải vì thế chăng mà trong điện thoại hỏi tin, một trí thức yêu nước ở Mỹ vừa được ông hai lần nói chuyện vào đầu tháng 5 vừa qua đã nghẹn ngào mãi mới thốt lên “rồi đây chúng tôi biết nói chuyện với ai đây?!”.

Có lẽ, nếu nghe được lời nói chân tình ấy, ông Sáu sẽ tủm tỉm cười như mọi bận: “Đất nước này là của những người cùng một tấm lòng yêu nước như chúng ta, sẽ còn biết bao người sẵn sàng nghe các anh” .

***

Ông gần gũi với giới trí thức, thật lòng lắng nghe họ, khuyến khích họ thẳng thắn nói hết những nhận xét của họ cho dù là gay gắt, thậm chí không dấu được sự phẫn nộ.

Trong một bữa cơm thân mật ở nhà con gái ông vào hồi tháng Tư vừa rồi, cách nói chuyện của ông cũng như lối ứng xử của ông không chút phân biệt giữa một giáo sư sử học vừa ở Mỹ về đến thăm ông, một giáo sư kinh tế - người ngoài đảng vừa hoàn thành một công trình nghiên cứu kinh tế mà ông nhận viết lời giới thiệu, một ông Viện trưởng một Viện Nghiên cứu tư nhân vừa mới thành lập mà ông hết lòng cổ vũ, một nhà thơ từng có những câu thơ nổi tiếng là “ngang ngạnh” dám nói “rất ngang” với ông, khiến cho bữa cơm mang đầy đủ không khí cởi mở, thoải mái của đúng “một bữa nhậu lai rai”.

“Bữa nhậu lai rai” là lời của ông Sáu Dân khi yêu cầu con gái ông tiếp thêm món nhậu mà bớt đi những đĩa cơm. Ấy thế mà lắng nghe kỹ thì dư âm của bữa nhậu ấy lại tràn đầy ý tưởng phải làm một cái gì cho đất nước, để vuột mất cơ hội là lỗi của tất cả chứ không của riêng ai. Ông đã truyền niềm tin và sức mạnh của ông cho mọi người “lai rai” cùng ông!

Với ông, tập hợp cho được trí tuệ và đóng góp của giới trí thức trong ngoài nước lúc này phải là một đột phá nhằm khởi động một sức mạnh mới của đất nước. Theo ông, đây phải là một ý tưởng cần chiếm lĩnh trong tư duy của những người đang gánh trên vai mình trọng trách của đất nước.

***

Với một năng khiếu trời phú, Võ Văn Kiệt có sự nhạy cảm với vai trò của người trí thức và hết lòng tôn trọng sự đóng góp của họ. Ngay khi còn là phó bí thư Tỉnh ủy một tỉnh năm 1947, ông thà chịu kỷ luật của tổ chức chứ không đồng ý gạt bỏ chức trách bí thư vốn xuất thân là một trí thức để ông thay thế vào vị trí ấy, vì ông chính là một người cố nông đúng với nghĩa đen của nó.

Và trong sâu thẳm tình cảm của con người xuất thân từ nông dân nghèo khổ ấy, ông viết với tất cả tấm lòng mình “không thể để thân phận người nông dân bị gạt ra ngoài rìa của của sự phát triển” vừa đăng trên báo ít lâu.

Chuyến đi dài của ông dọc các tỉnh Miền Trung vừa rồi là để tận mắt nhìn thấy những mất mát mà người dân, trước hết là nông dân phải gánh chịu cùng với cách xử lý của các cấp Đảng và chính quyền sau những thiên tai dữ dội giáng xuống khúc ruột của đất nước. Đi về, ông bắt tay vào viết ngay những bài báo nói trên.

Ông nhiều lần nhắc nhở các nhà xã hội học phải điều tra ngay cuộc sống của công nhân ở những xóm lao động, ở những khu nhà trọ với tất cả những vấn nạn mà họ đang gánh chịu.

Có lần ông không dấu được phẫn nộ khi nghe nói rằng: “Có khi những tình cảnh mà người lao động phải bán sức lao động rẻ mạt với đồng lương không đủ sống còn thê thảm hơn điều mà Ph.Ăngghen miêu tả trong tác phẩn từng được gọi là kinh điển “Tình cảnh giai cấp công nhân Anh ”.

Ông dằn giọng, “thế thì sao anh không viết đi. Chỉ phê phán, than vãn suông thì ích gì?

Chính vì thề, ông đặc biệt quan tâm đến cách làm việc của cấp ủy và chính quyền địa phương.

Có lần trong một chuyến đi khảo sát ở Lâm Đồng, sau suốt buổi sáng đi thăm nhiều cơ sở sản xuất, do đường vào xã quá gồ ghề khiến chiếc xe xóc dựng, người bảo vệ phải quài tay giữ chặt lấy ông, thế mà sau bữa trưa, ông kiên quyết không đồng ý với bố trí nhằm dành để ông nghỉ trưa chút đỉnh mà hủy cuộc gặp huyện ủy và ủy ban huyện.

“Làm sao đã đến được đây mà chỉ ăn cơm rồi về. Tôi đâu phải khách mời của các anh. Tôi đi để gặp anh em mình ở cơ sở”, ông chân tình nói với đồng chí Chủ tịch tỉnh.

Ông cũng không đồng ý chỉ gặp Bí thư và Chủ tịch huyện tại phòng làm việc của Bí thư huyện có ghế bành, để ông ngồi thoải mái. Ông dành trọn buổi chiều tại phòng họp nghe huyện ủy và ủy ban báo cáo tình hình, hỏi tỉ mỉ từng việc rồi thẳng thắn góp nhiều ý kiến cụ thể.

Ông ôm chặt cả Bí thư và Chủ tịch trong vòng tay thân thiết và thân mật dặn “tụi bây phải thật gần dân, lắng nghe dân, tiếp thu ý kiến đóng góp của bà con các dân tộc”.

Cũng vẫn ứng xử như vậy, trong một chuyến đi thăm Bình Định, giữa trưa đứng bóng, sau chuyến đi thẳng từ Dung Quất vào. Mặc cho bác sĩ đi kèm nhăn nhó cự nự với bí thư tỉnh, ông cười cười gạt đi. Vẫn cứ đầu trần, để người cầm ô “thất nghiệp”, ông ra thẳng công trường đang thi công chiếc cầu, mà theo Bình Định là dài nhất nước, để động viên công nhân và nhận lời trao giải thưởng cho đơn vị xuất sắc.

Ông dí dỏm hỏi Bí thư tỉnh - bây giờ là Bộ trưởng Giao thông Vận tải: “Liệu giữa cầu có chú ý thi công chỗ đứng hóng mát cho tụi trẻ ra đây ngắm cảnh và hò hẹn không. Cảnh trí tuyệt vời này mà quên mất điều đó thì phí quá ”!

***

Trong trái tim lớn mà nhịp đập dành cho vận mệnh của đất nước, vẫn đủ chỗ cho những cảm xúc rất nhân văn. Có lẽ vì thế mà Võ Văn Kiệt có rất nhiều người bạn là những Hai Lúa ở miệt vườn đồng bằng sông Cửu Long cũng như những bà con người Dao ở thung lũng Điện Biên tít tắp vùng Lai Châu - Tây Bắc phải chuyển cư ra khỏi vùng đất màu mỡ để dành cho việc xây dựng thành phố hiện đại.

Những bà con dân tộc ấy đã kết nghĩa anh em với ông Sáu Dân. Họ nhận ông làm xã viên danh dự của họ, điều mà ông vẫn thường tự hào nhắc đến, và tiếc cho trong dịp vừa rồi, ông chưa có dịp lên thăm lại những người bà con thân thiết mà ông luôn nhớ họ.

Ông cũng sẵn sàng nhận một lời mời về bữa nhậu ngẫu hứng của cánh nhà văn và nghệ sĩ quen biết, bỏ bữa cơm nhà để sau 30 phút đã có mặt “để anh em khỏi sốt ruột”, ông vừa ngồi xuống vừa nói.

Nhưng, ông cũng lại hết sức chu đáo và nghiêm túc chỉ thị chuẩn bị cho một bữa cơm thân mật để tiếp mấy trí thức Việt Kiều sao cho thân mật đơn giản, nhưng lịch sự và tế nhị.

Trong bữa cơm ông mời anh em trí thức Hà Nội trong dịp ông ra công tác, ông không quên nhắc phải chuẩn bị một suất ăn kiêng cho một người có mặt trong bữa cơm đạm bạc ấy.

Ông rất hào hứng và thú vị đến với thế hệ trẻ vì ông tin ở trí tuệ, bản lĩnh và sức mạnh của họ, đó là lý do ông hay về thăm và viết bài cho các tờ báo nhiều độc giả trẻ tìm đọc.

Trong trái tim lớn ấy có đủ chỗ cho những tấm lòng thiết tha vì vận mệnh của đất nước, từ những người cộng sản trung kiên và trong sáng mà ông hết mực tin cậy và chia sẻ, cho đến những trí thức ngoài nước mà ông chỉ gặp qua bức thư tâm huyết trình bày ý tưởng của họ, cùng với biết bao những người Việt Nam tin vào vận nước đã tìm đến ông, và ông hết lòng chia sẻ.

Cũng đã có những người đã giữ những trọng trách trong chế độ cũ nay thành tâm muốn đóng góp cho đất nước, ông đã tìm cách cảm thông, động viên, dám bỏ qua những nghi ngờ định kiến thiếu thiện chí, để có thể hướng những đóng góp của họ vào sự nghiệp chung không của riêng ai.

Dân Sài Gòn đã nói nhiều đến chuyện này với sự khâm phục và tin cậy, họ biết là ông đã phải vượt qua những thử thách như thế nào, và cuộc sống đã chứng minh rằng ông đúng.

Vì quả thật, thời đại mà chúng ta đang sống là thời đại của những chuyển động khó lường và những đột biến cũng không sao có thể hình dung trước được mà không phải ai cũng đủ khả năng nhìn ra được quy luật về sự vận động của nó.

Khi mà những con người cụ thể không phân biệt quốc tịch và màu da bước từ tàu vũ trụ ra ngoài không gian, chập chững những bước đi khám phá nhằm khắc phục sự hạn hẹp của quả đất - “ngôi làng toàn cầu”- đã quá chật chội. Rồi lúc con tàu vũ trụ đáp xuống Sao Hỏa, mở ra một chân trời mới, để cho những ai chần chừ, còn tin rằng tương lai chỉ sẽ là sự tiếp tục đơn giản của quá khứ, sẽ sớm thấy mình bị hụt hẫng trước sự thay đổi.

Họ buộc phải suy nghĩ lại, sẽ đi đến đâu và bằng cách nào đi đến đó, khi mà có lẽ đã quá muộn để tránh được điều không thể tránh khỏi.

Nhưng khi những điều ấy xảy ra, thì oái oăm thay, điều không thể tránh khỏi trước tiên vào lúc này, lại là nỗi đau nhân thế mà chúng ta phải nhận lĩnh: Trái tim lớn của con người đã từng cống hiến hết sức mình và để lại dấu ấn đậm nét vào lịch sử, đặc biệt là giai đoạn Đổi Mới với những quyết sách táo bạo và đầy trách nhiệm của một vị Thủ tướng dám ra quyết định và chịu trách nhiệm về những quyết định của mình, đã ngừng đập.

Nhưng chính vì trái tim lớn ấy đã biết dành trọn vẹn cho Đảng của Hồ Chí Minh, cho sự nghiệp bất tử của dân tộc, trái tim ấy dành cho vận mệnh của đất nước, luôn đập trong nhịp đập mạnh mẽ của khối đại đoàn kết dân tộc, vào lúc mà nhân dân không cho phép để vuột mất vận hội của đất nước; cho nên, trái tim ấy tuy ngừng đập trong cơ thể của một con người, song nhịp đập của nó lại mãnh liệt và không phút giây ngừng nghỉ trong trái tim của mọi người Việt Nam yêu nước và tin vào sức mạnh bất diệt của một dân tộc chưa bao giờ chịu đầu hàng số phận.

Trái tim lớn ấy biết đập theo nhịp đập của thời đại và truyền thống quật cường Việt Nam luôn biết vượt qua mọi thách thức mà lớn lên, để cả dân tộc biết mình từng có sức mạnh của Thánh Gióng. Trái tim mãnh liệt của Võ Văn Kiệt vẫn đập mạnh mẽ và sôi động hơn bao giờ hết trong mạch sống của dân tộc!

GS. Tương Lai

Võ Văn Kiệt - Người lo nỗi lo của dân tộc
http://www.viet-studies.info/NguyenTrung/NguyenTrung_VVKiet.htm

Giữa lúc đất nước ta bước vào hội nhập toàn diện với cộng đồng thế giới để xây dựng một Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ và giầu mạnh cho chính mình và góp phần xứng đáng của mình cho khát vọng chung của nhân dân các nước là hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, Võ Văn Kiệt – người con ưu tú của dân tộc Việt Nam, người bạn thân thiết của nhiều quốc gia và dân tộc trên thế giới không còn nữa.

Lời lẽ nào nói lên được niềm thương tiếc, lòng yêu mến, sự cảm phục và tâm tình gắn bó của đồng bào, đồng chí, của bạn bè xa gần trên thế gian này, của bất kỳ ai đã có lần tiếp xúc hay được làm việc với Võ Văn Kiệt!

Dù ở vị thế nào trên con đường đời của mình, từ người chiến sỹ cách mạng thời trai trẻ đến cương vị Thủ tướng, ở ông sự chân thành vì sự nghiệp chung và lòng vị tha đã luôn luôn tạo ra quanh mình sự hội tụ mọi tâm huyết và trí tuệ làm nên sức mạnh vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành những nhiệm vụ tưởng chừng không sao làm nổi. Song quan trọng hơn thế, ở Võ Văn Kiệt là niềm tin sâu sắc: Tất cả những ai nặng lòng với đất nước đều sẵn sàng xả thân cho sự nghiệp chung. Chính niềm tin chân thành này đã tạo ra sự hội tụ Võ Văn Kiệt – một tính cách riêng làm nên chính con người và sự nghiệp của ông.

Hỏi: Anh tìm ở đâu ra niềm tin ấy?

Đáp: Đơn giản lắm. Mình đi làm cách mạng vì hồi ấy chỉ biết là mất nước thì khổ thôi, không hiểu gì sâu xa lắm đâu, thắng thì chắc hết khổ, còn thua thì chỉ mất cái quần xà-lỏn. Còn anh em trí thức đi làm cách mạng với mình họ giảng giải cho mình nhiều điều lắm, thế nào là mất nước, vì sao mà mất nước, vì thế họ ý thức rõ ràng và sẵn sàng hy sinh tất cả… Yêu nước không là đặc quyền của riêng ai…

Ông đã có lần tâm sự với lính của mình như thế.

Thời chiến, cơ sở cách mạng trong vùng địch hậu ông phụ trách có lúc bị bóc trắng, song niềm tin ấy, sức hội tụ ấy đã thấm sâu vào từng cán bộ, từng người dân – từ bà buôn thúng bán bưng đến những nhà tư sản lớn, trí thức lớn, các nhà tu hành.., để rồi dần dần lại gây dựng lại được tất cả và làm nên tất cả.

Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm tháng đầu tiên đầy gian lao sẽ mãi mãi ghi nhớ công lao người đứng mũi chịu sào là anh Sáu Dân của mình. Khỏi phải kể lại muôn vàn khó khăn và cay đắng sau khi bước ra khỏi chiến tranh khốc liệt mà đường lối khôi phục và xây dựng đất nước còn mang dấu ấn chủ quan, nóng vội, đến mức không một chính sách, chỉ thị hay nghị quyết nào có thể kham nổi tình hình. Nhưng niềm tin vào dân và sự hội tụ Võ Văn Kiệt đã vượt ra ngoài mọi giáo điều, đã tập hợp được mọi trí tuệ và nghị lực của cả thành phố, nhờ đó có đủ sức cứu vãn tình thế. Và không bao lâu sau này, Thành phố Hồ Chí Minh đã xứng đáng là một ngọn cờ đầu của đổi mới.

Ở cương vị Thủ tướng Chính phủ, tên tuổi Võ Văn Kiệt gắn liền với những bước đi quyết định của đất nước thời đổi mới, nêu gương sáng cho mọi tâm huyết, lòng khát khao và ý chí chấn hưng đất nước thời nay và mai sau. Nói lên điều này chẳng có gì dính dáng đến tôn sùng cá nhân, mà là thừa nhận tính công bằng của sự thật mà đất nước ta đang rất cần để cổ vũ cho mọi tiến bộ và tuyên chiến không khoan nhượng với mọi tha hóa. Không phải ngẫu nhiên trên thế giới nhiều bạn bè, chính khách, học giả và báo chí tôn vinh ông là một kiến trúc sư của đổi mới ở Việt Nam, là người trong hàng ngũ đi tiên phong tìm đường đưa Việt Nam ra khỏi đói nghèo để phát triển.

Dân tộc Việt Nam sẽ mãi mãi ghi nhớ công lao người con ưu tú Võ Văn Kiệt của mình là một chiến sỹ tiên phong trên mặt trận chống phá mọi thế lực muốn bao vây cô lập Việt Nam. Trên cương vị Thủ tướng, ông đã góp phần xứng đáng của mình đưa đất nước hội nhập vào cộng đồng nhân dân thế giới. Ngoài niềm tin sắt son vào bản lĩnh dân tộc mình trong quá trình hội nhập, cần nhấn mạnh tầm nhìn Võ Văn Kiệt - được xác lập từ mọi trí tuệ và thiện chí trong nước và trên thế giới mà ông hội tụ được - đã góp phần quyết định vượt qua mọi định kiến và mở ra một đường lối đối ngoại mới mang lại vị thế quốc tế mới cho đất nước ta hôm nay. Nói về quan hệ cá nhân, thật hiếm có một thủ tướng nào sau khi mãn nhiệm lại có nhiều bạn quốc tế là các chính khách lớn, các nguyên thủ tướng từ Á sang Âu như ông.

Thấu hiểu nỗi đau của dân tộc mình là nạn nhân của các cuộc chiến tranh xâm lược khốc liệt kéo dài nhiều thế hệ, chịu đựng không biết bao nhiêu sự can thiệp chia cắt từ bên ngoài, Võ Văn Kiệt là người của đoàn kết, của hòa hợp và hòa giải dân tộc. Ở nước ta, có gia đình họ tộc nào không bị chiến tranh chia lìa, ly tán? Có gia đình nào không có người ngã xuống cho cả phía bên này và phía bên kia? Không phải chỉ ở Viêt Nam, tìm kiếm trong các quốc gia trên thế giới cũng khó mà thấy được một con người, một nhân cách, một chính khách có được tiếng nói mà người nghe hôm qua còn cầm súng đứng bên kia chiến tuyến hôm nay cũng phải mở lòng lắng nghe?.. Con người đó, chính khách đó không ai khác là Võ Văn Kiệt, với một suy tư mộc mạc: Tổ quốc là của mình, dân tộc là của mình, quốc gia là của mình, Việt Nam là của mình, chứ không phải là của riêng của người cộng sản hay của bất cứ tôn giáo hay phe phái nào cả… Đơn giản, ông hiểu nỗi đau của dân tộc bằng nỗi đau của gia đình mình, của chính bản thân mình.

Làm thế nào để Tổ quốc yêu dấu của chúng ta có được nhân tâm thu về một mối ? Tổ quốc Việt Nam ta sẽ phát triển ra sao, sẽ có vị thế nào và sẽ đi về đâu trong thế giới này nếu Tổ quốc là của nhân tâm thu về một mối như thế?

Những năm cuối đời, nhất là từ sau Đại hội X, điều day dứt tâm can Võ Văn Kiệt là nỗi lo và những suy tư của ông về Đảng. Đôi lần ông tâm tình: Nếu coi điều day dứt này là thách thức phải đối mặt, thì đây là thách thức lớn nhất của cả đời mình kể từ khi lớn lên biết làm người, mọi thách thức đã trải qua không ăn nhằm gì!.. Ôi, ở đây, đứng trước nhiệm vụ mới của đất nước, người đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam Võ Văn Kiệt xác định lại cho mình rõ ràng thế nào là tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng Đảng đã ghi trên lá cờ của mình: Phụng sự nhân dân, phụng sự tổ quốc!

Chia sẻ điều trăn trở day dứt nhất này, không biết bao nhiêu lần ông mời các lính cũ của mình, lúc trong Nam, lúc ngoài Bắc, chỉ để nêu một câu hỏi: Phải đổi mới Đảng như thế nào?

Trong tâm khảm Võ Văn Kiệt trước sau chỉ một ý nguyện: Đảng phải là đảng của dân tộc – là Đảng Việt Nam! Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói lên từ trái tim mình trước quốc dân đồng bào và thế giới. Nói lên như thế là nói lên tất cả!

Trong các phát biểu chính thức trong Đảng, các bài viết, nhiều lần ông khẳng định: Đi vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ đất nước trong hoà bình, Đảng phải đổi mới chính mình một cách triệt để: Làm tốt vai trò lãnh đạo, nhất là phải thực hiện tốt hơn nữa phương châm: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Với tư duy như vậy, ông đấu tranh không mệt mỏi chống lại bệnh “đảng hóa”, bệnh “cơ cấu” và tư tưởng “nhiệm kỳ”. Ông luôn luôn nhấn mạnh sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước cần người tài đức chứ không cần “cơ cấu” theo lối sắp đặt; đất nước là trường tồn và không có “nhiệm kỳ”, muốn cách mạng thực sự là sự nghiệp của quần chúng thì Đảng phải thực sự làm được nhiệm vụ lãnh đạo, chứ không phải là “nắm”, là “đảng hóa”… Ông coi thực hiện dân chủ trong Đảng là việc đầu tiên phải làm và cũng là điều bức xúc nhất, từ đó sẽ có thể thực hiện được dân chủ trong cả hệ thống chính trị và Việt Nam sẽ có một sức vươn lên mới…

Vài ngày trước khi qua đời, họp mặt với lính cũ, câu chuyện của ông vẫn chỉ xoay quanh câu hỏi: Đổi mới Đảng như thế nào? Ông giục giã: Nói đi, cần gặp ai tôi cũng sẵn sàng. Đi đâu tôi cũng đi! Không thể bỏ cuộc được!

Trong bản thảo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có chỗ Người dặn: Kháng chiến thành công xong việc phải làm trước tiên là phải lo chỉnh đốn lại Đảng. 39 năm rồi, đến nay Đảng ta chưa làm được việc này. Có lẽ Võ Văn Kiệt là người nặng lòng nhất với lời trối trăng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh?

Còn những người còn sống chúng ta?

Yêu nước đã làm nên nhân cách Võ Văn Kiệt thời dân tộc ta đấu tranh cứu nước.

Lo nỗi lo dân tộc đã làm nên nhân cách Võ văn Kiệt thời dân tộc ta tìm đường chấn hưng đất nước.

Los Angles, ngày 11 tháng sáu năm 2008
Nguyễn Trung


Tiểu sử cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt

Đồng chí Võ Văn Kiệt, tên khai sinh là Phan Văn Hòa, bí danh Sáu Dân, sinh ngày 23/11/1922 tại xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Năm 1938, đồng chí tham gia hoạt động trong phong trào Thanh niên phản đế. Tháng 11/1939, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, làm Bí thư Chi bộ, Huyện ủy viên và tham gia cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ở huyện Vũng Liêm, Vĩnh Long.

Từ năm 1941 - 1945: Hoạt động cách mạng ở Rạch Giá, tham gia Tỉnh ủy lâm thời và tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở Rạch Giá.

Sau Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, khi thực dân Pháp tái chiếm Nam Bộ, đồng chí làm Ủy viên Chính trị dân quân cách mạng liên tỉnh Tây Nam Bộ.

Năm 1950, đồng chí được điều về tỉnh Bạc Liêu làm Phó Bí thư rồi Bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu.

Năm 1955, đồng chí được bầu vào làm Ủy viên xứ ủy Nam Bộ, Phó Bí thư liên Tỉnh ủy Hậu Giang.

Năm 1959, đồng chí được điều về Khu Sài Gòn - Gia Định làm Bí thư khu ủy T.4 (Sài Gòn - Gia Định) cho đến cuối năm 1970.

Tại ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (năm 1960), đồng chí được bầu làm Ủy viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng. Là Ủy viên Trung ương Cục miền Nam, đồng chí tiếp tục làm Bí thư khu ủy T.4 (Sài Gòn - Gia Định), rồi Bí thư Khu 9 (Khu Tây Nam Bộ).

Năm 1972 đồng chí được bầu làm Ủy viên chính thức Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa III.

Từ năm 1973 đến 1975 đồng chí được điều về công tác ở Trung ương Cục và là Ủy viên Thường vụ Trung ương Cục miền Nam. Trong thời gian chuẩn bị giải phóng Sài Gòn, đồng chí được Trung ương Cục phân công làm Đảng ủy đặc biệt trong Ủy ban Quân quản hành phố Sài Gòn.

Năm 1976 đồng chí làm Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng chí được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa VI.

Tại ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (năm 1976), đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị và được phân công làm Bí thư Thành ủy TP.HCM.

Tại ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (tháng 3 - 1982), đồng chí tiếp tục được bầu lại vào Ban chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị.

Tại ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12 - 1986), đồng chí tiếp tục được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung uơng Đảng bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị. Tháng 02 - 1987, đồng chí được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa VIII và được Quốc hội phê chuẩn giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Phó Chủ tịch Thường trực rồi Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng.

Tại ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6 - 1991), đồng chí tiếp tục được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị. Tại kỳ họp thứ nhất QH khóa VIII, đồng chí được QH phê chuẩn giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

Tại kỳ họp thứ 9, QH khóa VIII (tháng 8/1991), đồng chí được QH bầu giữ chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước CHXHCN Việt Nam.

Tại ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (tháng 6/1996), đồng chí tiếp tục được bầu lại vào BCH Trung ương Đảng, được BCH Trung ương Đảng bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị và được cử làm Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị.

Tại kỳ họp thứ nhất QH khóa IX (1992 - 1997), đồng chí được QH bầu làm Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh.

Từ tháng 12/1997 đến tháng 4/2001, đồng chí được Hội nghị lần thứ tư BCH Trung ương Đảng khóa VIII cử làm cố vấn BCH Trung ương Đảng Cộng sản VN.

Đồng chí là ĐB Quốc hội các khóa VI, VIII, IX.

Do có công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, đồng chí đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng, nhiều huân chương, huy chương cao quý khác và Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.


Tham khảo: Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã ra đi

Tổ chức Quốc tang nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt
http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2008/06/3BA0338D/

Sáng 11/6, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã qua đời vì bệnh tuổi già, hưởng thọ 86 tuổi. Tang lễ của ông được quyết định tổ chức theo nghi thức Quốc tang trong 2 ngày.


Thông cáo đặc biệt của Ban chấp hành Trung ương Đảng chiều nay viết, sau một thời gian lâm bệnh nặng, mặc dù được Đảng, nhà nước, tập thể các giáo sư, bác sĩ tận tình cứu chữa, gia đình hết lòng chăm sóc, nhưng do tuổi cao, bệnh nặng, nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt đã từ trần hồi 7h40 ngày 11/6/2008, thọ 86 tuổi.

"Đồng chí mất đi là một tổn thất đối với Đảng, nhà nước và nhân dân ta, để tỏ lòng tưởng nhớ và biết ơn đồng chí Võ Văn Kiệt, Ban chấp hành trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban trung ương mặt trận tổ quốc Việt Nam quyết định tổ chức tang lễ đồng chí Võ Văn Kiệt với nghi thức quốc tang", thông cáo viết.

Linh cữu ông quàn tại Hội trường Thống Nhất, TP HCM. Lễ viếng được tổ chức tại Hội trường Thống Nhất, bắt đầu từ 8h ngày 14 đến 8h30 ngày 15/6. Lễ truy điệu bắt đầu lúc 9h ngày 15/6. Lễ an táng được tổ chức cùng ngày tại nghĩa trang TP HCM.

Cùng thời gian tổ chức lễ viếng và lễ truy điệu ông Võ Văn Kiệt ở TP HCM, Ban tang lễ sẽ tổ chức lễ viếng, lễ truy điệu tại trung tâm Hội nghị quốc tế số 11 Lê Hồng Phong, quận Ba Đình, Hà Nội và trụ sở UBND tỉnh Vĩnh Long.

Trong hai ngày quốc tang (14-15/6), các công sở, nơi công cộng treo cờ rủ và ngừng các hoạt động vui chơi giải trí.

Ban lễ tang nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt gồm 33 lãnh đạo cấp cao do Tổng bí thư Nông Đức Mạnh làm trưởng ban.

Ông Võ Văn Kiệt có tên khai sinh là Phan Văn Hòa, sinh ngày 23/11/1922 tại xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Cửu Long. Bí danh hoạt động cách mạng là Sáu Dân.

Tham gia cách mạng năm 1938, vào Đảng tháng 11 năm 1939, ông là Thủ tướng Chính phủ khóa 1991-1997. Từ tháng 12/1997, ông Kiệt được Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) chấp thuận rút khỏi Bộ Chính trị và cử làm Cố vấn Ban chấp hành Trung ương. Ông là đại biểu Quốc hội các khóa 6, 8, 9, huân chương Sao Vàng, huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Những năm cuối đời, ông Kiệt sống tại TP HCM. Với tư cách công dân, nguyên Thủ tướng vẫn hết sức quan tâm đến những vấn đề thời sự nóng bỏng của đất nước và thường xuyên đóng góp ý kiến, viết bài thể hiện quan điểm, chính kiến.

Ông Võ Văn Kiệt được xem là nhà chính trị, "tổng công trình sư" nhiều dự án táo bạo của thời kỳ đổi mới.

Từ năm 1988, với tư cách Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, ông Sáu Dân đã có những quyết đoán cho chủ trương thực hiện chương trình 10 năm đầu tư khai phá vùng Đồng Tháp Mười, khu tứ giác Long Xuyên và bán đảo Cà Mau vốn bị nhiễm phèn, mặn thành vùng đất trù phú, người dân có nước ngọt để dùng.

Năm 1992, ông Kiệt duyệt luận chứng kinh tế và trực tiếp chỉ đạo công trình đường dây tải điện Bắc - Nam. Đây là hệ thống tải điện với đường dây siêu cao áp 500 kV đầu tiên ở Việt Nam, chuyển tải năng lượng từ Nhà máy thủy điện Hòa Bình vào miền Trung, Tây Nguyên và miền Nam.

Năm 1993, ông ký quyết định xây dựng con đường Trường Sơn công nghiệp hóa, chia sẻ mật độ phương tiện lưu thông cho quốc lộ 1A vốn thường xuyên bị lũ lụt ngăn trở. 7 năm sau, từ quyết định của người tiền nhiệm, Thủ tướng Phan Văn Khải đã ra lệnh khởi công con đường huyền thoại mang tên Hồ Chí Minh.

Ông Kiệt cũng là người ký nghị định thành lập ĐHQG năm 1993, chủ trương xã hội hóa giáo dục. Sự ra đời của hai trường ĐH Quốc gia Hà Nội và TP HCM là mốc đổi mới sâu sắc trong cơ cấu hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Đây cũng là lần đầu tiên xuất hiện loại trường đại học đa lĩnh vực có quyền tự chủ cao trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.

Chủ trương mở ra con đường cao tốc Láng - Hòa Lạc của Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã giúp cả phía Tây của Hà Nội phát triển mạnh. Thời gian đi từ Hà Nội đến Hòa Lạc được rút ngắn chỉ còn 30 phút, nhanh hơn đi trong nội thành vào giờ cao điểm.

Khi về hưu, ông Kiệt vẫn tiếp tục cống hiến như góp ý về việc xây dựng tòa nhà Quốc hội và Hội trường Ba Đình; dự án xây dựng nhà máy dầu Dung Quốc; đề xuất nghiên cứu xử lý hai cửa sông để khai thác giao thông sông Tiền, sông Hậu; khởi công tuyến cao tốc TP HCM - Trung Lương thuộc tỉnh Tiền Giang; dự án mở rộng Hà Nội sáp nhập Hà Tây, xây dựng thành phố dọc sông Hồng.

Việt Nam - Ngươi đang ở đâu và sẽ đi đến đâu? (Kỳ 99)

,

Đổi mới ở Việt Nam: Nhớ lại và suy ngẫm
http://tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/sachhaynendoc//3967/index.aspx

Một nghị quyết lịch sử

Cùng đường và hầu như đã là quy luật, phải bị dồn đến chân tường mới chịu có thay đổi. Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IV) họp tháng 9 năm 1979.

Lúc đầu, Hội nghị dự kiến bàn về hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương, nhưng do tình hình kinh tế lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng, Hội nghị đã bàn và ra Nghị quyết số 20 – NQ/TW ngày 20 tháng 9 năm 1979 “Về tình hình và nhiệm vụ cấp bách” – một nghị quyết có ý nghĩa lịch sử mở đầu cho quá trình đổi mới.

Nghị quyết và bài phát biểu bế mạc của Tổng Bí thư Lê Duẩn đã nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá trong thời gian qua nhiều chủ trương đề ra còn mang tính chủ quan, nóng vội, thiếu căn cứ thực tiễn, không phù hợp với cuộc sống, và điều chỉnh lại một số chủ trương, giải pháp mà từ 1979 về trước là những điều cấm kỵ như: thừa nhận sự tồn tại khách quan của các thành phần kinh tế, cho phép các hộ xã viên nông nghiệp mượn đất sản xuất, ổn định nghĩa vụ lương thực, bãi bỏ việc phân phối định suất, thực hiện phân phối theo lao động, khuyến khích phát triển kinh tế gia đình, nới lỏng quyền tự do lưu thông và trao đổi nông sản, thực phẩm, v.v...

Nhiều hợp tác xã nông nghiệp thực hiện việc khoán đến hộ, cho phép xã viên bỏ vốn, sức lao động đầu tư thâm canh để vượt khoán trên ruộng đất hợp tác xã, được làm chủ hoàn toàn vượt khoán. Các hợp tác xã quy mô xã, liên xã điều hành không nổi được phép chia nhỏ hơn.

Nếu Nghị quyết 6 của Trung ương được thực hiện nghiêm chỉnh, thì khoán chui không còn bị cấm nữa. Thế nhưng, tình hình lại không được suôn sẻ như vậy. Tới lúc này mới thấy tư duy giáo điều, duy ý chí còn cố thủ trong không ít cơ quan bên trên.

Ủng hộ khoán hộ hay nghiêm cấm?

Các bộ, ban, ngành, các viện, trường, các cơ quan nghiên cứu, chỉ đạo có quan điểm đối lập nhau, thậm chí có sự đấu tranh quan điểm gay gắt xung quanh vấn đề nóng bỏng: ủng hộ khoán hộ hoặc nghiêm cấm.

Có cơ quan tham mưu của Đảng về nông nghiệp vẫn tự hào đã góp phần chặn đứng khoán hộ ở Vĩnh Phú không đồng tình với Nghị quyết 6 muốn nới lỏng với khoán sản phẩm, khoán tới hộ. Khoán việc càng được đề cao hết mức, với nhận thức rằng khoán việc gắn với chủ nghĩa xã hội, gắn với chủ nghĩa Mác-Lênin, đây là điều thiêng liêng đừng ai đụng chạm đến.

Một số cán bộ về các HTX nói với đảng viên cơ sở: “Đòi loại bỏ khoán việc, nếu thế thì đốt hết sách Mác-Lênin hay sao?” hoặc “Bỏ khoán việc thế thì bỏ Đảng à?”… Trên sách báo và bài giảng trong các lớp chính trị, cũng đưa ra cơ sở lý luận để chứng minh chủ nghĩa Mác-Lênin không chấp nhận khoán hộ trong nông nghiệp.

Đời cha đến đời con khổ vì khoán việc đành phải làm chui, thế mà lại bị truy chụp tội to quá, có đảng viên cơ sở ở Nghệ Tĩnh uất ức quá đã nói: “Hoặc là con cháu của Mác, hoặc là chú bác với bọn phản động, thế thôi, đói quá phải “chui”, còn đúng hay sai, hạ hồi phân giải”.

Khoán việc vẫn “chiếm thế thượng phong”

Báo chí vẫn đứng về phía khoán việc, đã có bài báo nói xa xôi rằng những điều cấm kỵ được nêu ra từ Đại hội IV vẫn có hiệu lực, nếu xoá bỏ thì làm gì còn chủ nghĩa xã hội. Báo chí được nhắc nhở đề cao hai huyện nổi tiếng đã khắc phục các khuyết tật trong các HTX làm cho khoán việc trở nên hấp dẫn hơn.

Huyện Tiền Hải (Thái Bình) có phong trào “5 công khai” trong các HTX để xã viên lúc nào cũng có thể kiểm tra các quỹ, các kho, kiểm tra mọi chi tiêu đề phòng tham ô, lãng phí. Huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng) đã chống lãng phí, rượu chè, tham ô trong các HTX ba năm liền đạt kết quả rất tốt.

Lúc đó, tôi là phóng viên báo Đại đoàn kết, được giao nhiệm vụ đi viết về Tiền Hải và Vĩnh Bảo, hai huyện giáp ranh, liền kề, cách nhau chỉ một con sông. Đến hai nơi có một cảnh giống nhau: nhà khách đều kín chỗ, lại đang mùa rét 1979.

Các đoàn cán bộ mãi Nghệ Tĩnh, Thanh Hoá cũng tìm về hai huyện này để học tập kinh nghiệm mô hình đấu tranh chống tham nhũng, chống các nhược điểm của khoán việc, nâng cao phẩm chất đội ngũ cán bộ trong các HTX. Chỗ yếu nổi bật nhất của Tiền Hải và Vĩnh Bảo rất giống nhiều huyện khác: các HTX tham nhũng, rượu chè tiếp khách thường xuyên, là gánh nặng rất lớn với các xã viên.

Tiếp tôi, ông Bình, Bí thư huyện uỷ Tiền Hải nói ngay: “Rất hoan nghênh anh về huyện tôi đi ô tô hàng. Mấy đoàn khác, kể cả một đoàn ở trung ương về sáng nay đều dùng ô tô riêng. Dân huyện tôi rất sợ khách về HTX lại có ô tô riêng, đây là cái cớ lại rượu chè, chiêu đãi, chợ thiếu thịt thì đã có lợn trại tập thể. Đôi khi không chịu đựng mãi được, thấy ô tô về xã, bà con có lời lẽ không được lịch sự làm cho chúng tôi rất ân hận.”

Ở Tiền Hải, tôi đã viết bài Miệng ăn núi lở, phản ánh hậu quả của những HTX bậc cao cấp xã, liên xã, với bộ máy điều hành quá đông, luôn luôn tìm mọi cách rượu chè, chiêu đãi. Phong trào “5 công khai” đang chống lại mối hoạ này, phần nào đã có kết quả nhưng vẫn như thùng nước có những lỗ thủng, bịt được chỗ này nước lại rò rỉ chỗ khác vì vẫn chỉ ra sức bảo vệ khoán việc.

Vĩnh Bảo là một huyện lúa, từ năm 1967 đã có phong trào 5 tấn, có xã đạt 7,8 tấn, toàn huyện có 28.000 hộ thì tới 23.000 hộ có con đi bộ đội, một đội du kích tập trung được tuyên dương anh hùng lực lượng vũ trang với thành tích bắn rơi máy bay Mỹ.

Cơ sở vật chất của huyện tương đối mạnh, khâu làm đất đã cơ giới hoá tới 75%, 27 trong 29 xã có điện để tưới và tiêu nước, đáng lẽ Vĩnh Bảo mỗi năm một no đủ mới phải, đâu ngờ lại nghèo đi, thiếu ăn đến nỗi, đất nước đã độc lập, thống nhất, có năm Chính phủ phải đưa về 2.000 tấn gạo cứu đói.

Suốt 3 năm chống tiêu cực, Đảng bộ huyện đã loại bỏ được một số cán bộ biến chất, tham nhũng nhưng khoán việc vẫn còn nguyên vẹn. Mấy hội nghị chống tiêu cực được tổ chức ở Trung ương và ở miền Nam ít có tiếng vang trong nông dân vì tiêu cực lớn nhất là khoán việc thì lại không thấy chống. Khoán việc vẫn có mọi điều kiện để khuếch trương thanh thế, báo cáo ở nhiều cuộc họp quan trọng đến phần nông nghiệp thường nhắc đến “hợp tác xã đã là nhà, xã viên đã là chủ”, thành tích của khoán việc vẫn còn được ca tụng lớn lắm.

Khoán chui vẫn cứ phải… chui

Còn khoán chui phần nào đã dễ thở hơn ở một số tỉnh do đã tranh thủ được sự ủng hộ của cán bộ lãnh đạo. Càng đi sâu tìm hiểu nguồn gốc của khoán chui càng thấy từ lúc còn là đốm lửa đầu tiên, chẳng có ai chỉ lối dẫn đường, đói khổ lâu quá phải tìm đường sống và rất may có hình mẫu đã được thực hiện, đã được nghe, được đọc, mong đợi mãi là khoán hộ ở Vĩnh Phú, nay có thời cơ thì làm thôi.

Nghệ Tĩnh tỏ ra trung lập giữa hai hình thức khoán, Bí thư Trương Kiện không ngăn bất cứ khoán nào tăng năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi. Vĩnh Phú, quê hương của khoán hộ, tỏ ra rất nhẹ tay với khoán chui, chỉ nơi nào quá lộ liễu thì Bí thư Hoàng Quy mới nhắc nhở nhẹ nhàng. Mấy tỉnh có diện tích lúa lớn như Thái Bình, Hải Hưng, Hà Nam Ninh, Hà Bắc chống khoán chui dữ dội, cùng quan điểm với những người chủ trương “hoặc chủ nghĩa xã hội, hoặc khoán hộ”.

Lúc đó, người lãnh đạo cao nhất của Đảng về nông nghiệp (nông, lâm, ngư, diêm nghiệp) là ông Võ Chí Công, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng phụ trách nông nghệp, trưởng Ban cải tạo nông nghiệp toàn quốc là người đã dứt khoát đứng về phía nông dân khoán chui và ủng hộ nông dân đòi loại bỏ ngay khoán việc.

Ông từng là Phó Bí thư trung ương Cục miền Nam, Bí thư khu uỷ khu V thời chống Mỹ. Chuyển sang lãnh đạo nông nghiệp, ông vẫn giữ tác phong sâu sát như ở chiến trường, rất ít khi về tỉnh, về huyện, ông thường về thẳng HTX, tìm hiểu thực tế nông thôn qua nông dân và đảng viên cơ sở.

Những chuyên viên hoạt động lâu năm trong lĩnh vực nông nghiệp là nguồn thông tin rất quý giá của ông. Gặp đảng viên cơ sở, ông nói rõ: “Khoán việc không phải là cái bàn thờ thì tại sao lại không dám đụng chạm đến khoán việc, nông dân không muốn làm theo khoán việc, Đảng phải thoả mãn đòi hỏi chính đáng của nông dân”.

Thời gian đó, ông vấp phải rất nhiều khó khăn từ trong nội bộ, báo chí không ủng hộ quan điểm của ông, các viện, các trường, các cơ quan nghiên cứu không lên tiếng bênh vực khoán chui, chỉ thấy những bài nghiên cứu, minh họa cho khoán việc là đúng, trích sách kinh điển để chứng minh về lý luận rằng tập thể hoá nông nghiệp càng cao thì càng gần với chủ nghĩa xã hội.

Lãnh đạo Ban Nông nghiệp Trung ương, cơ quan tham mưu của Đảng về nông nghiệp, lại chống “khoán chui” rất quyết liệt, còn cấp vụ và chuyên viên trong Ban thì nhiều người lại ủng hộ khoán sản phẩm. Lãnh đạo Ban đã thi hành kỷ luật một số cán bộ tích cực ủng hộ khoán sản phẩm. Có trường hợp một chuyên viên bị khai trừ khỏi Đảng nhưng ông Lê Thanh Nghị đã giao cho Ban Kiểm tra xem xét và đình chỉ việc thi hành các quyết định kỷ luật.

Chỗ dựa của ông Võ Chí Công ở bên trên cũng còn mong manh, rõ nhất là các chính sách, chế độ, thể lệ quản lý và hệ thống tổ chức bộ máy vẫn không đổi mới theo Nghị quyết Trung ương 6. Một số lãnh đạo cấp cao, nhiều cơ quan trung ương vẫn chậm thấy cái mới, sợ cái mới, vẫn dùng đủ mọi lý lẽ chống khoán chui.

Chỉ dựa vào bộ máy Đảng và Nhà nước, chỉ đấu tranh trong nội bộ rõ ràng càng không thấy lối ra, ông Võ Chí Công thấy phải có sức mạnh của quần chúng nông dân mới xoay chuyển tình hình, ông phải trực tiếp tham gia đấu tranh, “chia lửa” với nông dân.

(Trích sách Đổi mới ở Việt Nam: Nhớ lại và suy ngẫm, Chủ biên: Đào Xuân Sâm, Vũ Quốc Tuấn, NXB Tri Thức)

Khắc phục lạm phát: Những biện pháp táo bạo một thời!
http://www.tuanvietnam.net//vn/tulieusuyngam/3988/index.aspx

Những đường lối, biện pháp có tính đột phá đến mức dũng cảm, táo bạo từ sau Đại hội lần thứ VI năm 1986 đã mang lại bước ngoặt quan trọng cho tình hình kinh tế đất nước ta: Lạm phát phi mã được khắc phục, hệ thống ngân hàng bước đầu được đổi mới và đạt được những thành tựu đáng kể!


Xử lý lạm phát và đổi mới hệ thống ngân hàng

Khắc phục lạm phát phi mã

Đại hội lần thứ VI năm 1986 đã định ra đường lối đổi mới, tạo ra bước ngoặt cho kinh tế Việt Nam. Vài ba năm kế tiếp sau đó, tư duy kinh tế thị trường trong lãnh đạo hình thành ngày càng dứt khoát, mạch lạc, thể hiện trong nhiều chủ trương cụ thể như: xoá bỏ quan liêu bao cấp không chỉ với lĩnh vực đời sống mà còn với lĩnh vực sản xuất, phân phối nguồn lực, trao quyền tự chủ cho xí nghiệp quốc doanh hạch toán kinh doanh, khắc phục tình trạng “lãi giả - lỗ thật”. Xoá bỏ ngăn sông cấm chợ với thị trường trong nước và bước đầu với thị trường ngoài nước.

Những bước đi đầu tiên trong lĩnh vực này, Nhà nước cho phép cá nhân là cán bộ đi công tác nước ngoài và lưu học sinh được mang theo về nước hàng hoá tiêu dùng, vật liệu, linh kiện máy móc nhỏ, cho phép cá nhân và xí nghiệp địa phương trao đổi hàng hoá qua biên giới và uỷ thác các tổng công ty chuyên xuất nhập khẩu của Trung ương xuất nhập khẩu hàng hoá cho mình. Thị trường khu vực đồng đôla Mỹ nhanh chóng mở rộng. Vàng, ngoại tệ cũng được mở cửa cho phép nhập về nước nếu có nguồn gốc rõ ràng.

Trước đây, hàng hoá và ngoại tệ không phải của Nhà nước, không nằm trong quyết định của kế hoạch nhà nước đều bị coi là tác nhân gây rối, thậm chí lũng đoạn kinh tế. Nay, những biện pháp tưởng chừng cụ thể nhỏ nhặt ấy đã đem lại cho khu vực thị trường cơ hội pháp lý mở rộng không gian tự do xoay xở trong việc tự phân phối những nguồn lực mới, sản xuất đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu kinh tế. Hiện tượng lạm phát phi mã, theo đó, đã giảm dần.

Cho tới năm 1989, cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tuy đã suy yếu nhưng vẫn được bảo đảm bởi những nguyên tắc chính yếu: Hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh còn hiệu lực; ngân hàng đơn cấp chỉ phục vụ khu vực kế hoạch nhà nước, xuất nhập khẩu là hoạt động độc quyền của Nhà nước; tư liệu sản xuất nhập khẩu và sản xuất từ kế hoạch nhà nước do Nhà nước nắm quyền phân phối; giá cả hàng hoá sản xuất, lưu thông trong kế hoạch do Nhà nước ấn định; ngoại tệ nằm trong tay Nhà nước và Nhà nước ấn định tỷ giá.

Tuy nhiên, vào năm 1989, theo tinh thần của đường lối Đại hội VI và các nghị quyết Trung ương khoá VI, Nhà nước đã vượt qua những nguyên tắc tưởng như bất di bất dịch đó, đi đến những quyết định quan trọng.

Những quyết định mang tính cách mạng

Những quyết định ấy là: xoá bỏ hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh, trao toàn quyền tự chủ kinh doanh cho xí nghiệp quốc doanh; từ bỏ quyền phân phối và giao lại nguồn lực cho thị trường; dưới tên gọi “thương mại hóa” tư liệu sản xuất, cho phép hàng loạt doanh nghiệp địa phương và xí nghiệp quốc doanh lớn trực tiếp xuất nhập khẩu; tự do hoá giá cả, từ năm 1989 trong nền kinh tế chấm dứt tình trạng hai giá, chỉ còn duy nhất một hệ thống giá thị trường.

Nhà nước cũng liên tục điều chỉnh lại tỷ giá giữa đồng Việt Nam với đồng rúp và đôla sát với tỷ giá hình thành ngoài thị trường. Cũng trong năm 1989, Nhà nước đã có một quyết định dũng cảm, xoá bỏ bao cấp lương thực, thực phẩm cho hàng triệu công nhân, viên chức, lực lượng vũ trang và dân cư đô thị. Theo đó, bãi bỏ chế độ thu mua, trao đổi đối lưu hàng hoá với nông dân, giải phóng cho thị trường nông thôn rộng lớn.

Bộ máy chính phủ duy trì cơ chế kinh tế kế hoạch có những thay đổi lớn. Ủy ban Kế hoạch Nhà nước được xác định lại chức năng nhiệm vụ; Bộ Vật tư, Bộ Lương thực, Uỷ ban Kiến thiết cơ bản Nhà nước được giải thể; Uỷ ban Vật giá Nhà nước được thu hẹp. Hệ thống cửa hàng cung cấp lương thực của Nhà nước, không còn lý do tồn tại. Hệ thống thương nghiệp quốc doanh phải giải thể từng mảng lớn và 12.000 xí nghiệp quốc doanh được sắp xếp lại chỉ còn 6.000 xí nghiệp.

Từ đây chấm dứt thời kỳ nền kinh tế vật vã tồn tại dưới cơ cấu kép vừa kế hoạch vừa thị trường, đổi mới dứt khoát sang một cơ cấu đồng nhất – thị trường. Thành tựu được nhìn thấy đầu tiên là từ giữa năm 1989, tình trạng rối loạn giá cả, rối loạn trong quá trình phân phối, lưu thông hàng hoá chấm dứt; lạm phát phi mã được chặn đứng, nền kinh tế đi nhanh vào ổn định, không khí kinh doanh tràn ngập.

Riêng thành tựu khắc phục lạm phát phi mã ở Việt Nam thời kỳ 1980 – 1989, có thể nói, đã được khắc phục bằng cả tổng lực của công cuộc đổi mới, phá bỏ cơ chế khiến lạm phát tự duy trì, không riêng gì giải pháp lẻ loi, yếu ớt như việc nâng lãi suất tiền gửi lên 12%/tháng giữa năm 1989 trong khi lạm phát tới 740% năm.

Hơn nữa, Việt Nam lúc ấy chính thức vẫn là nền kinh tế kế hoạch, một nền kinh tế tiền tệ yếu, mức cung tiền chính thức của ngân hàng nhà nước chưa tới 20% GDP, tiền gửi tiết kiệm không quá 5% GDP.

Liệu một lượng tiền tiết kiệm ít ỏi thu hút vào ngân hàng có làm giảm mức cầu tiêu dùng, giảm áp lực lạm phát cao và, khi mọi doanh nghiệp đang căng thẳng tiền vốn, tiền gửi lập tức quay ra thị trường thì giải pháp nâng lãi suất có thực sự đủ mạnh chặn đứng lạm phát phi mã?

Đổi mới hệ thống ngân hàng

Như ngân hàng của những nền kinh tế theo phương thức kế hoạch hoá, trước năm 1989, ngân hàng của Việt Nam cũng là hệ thống một cấp, duy nhất một ngân hàng nhà nước từ Trung ương đến các chi nhánh địa phương. Nó có chức năng phát hành đồng tiền quốc gia, phân phối tín dụng theo chỉ tiêu pháp lệnh của kế hoạch nhà nước, làm nghiệp vụ kho bạc – thu chi ngân sách theo lệnh Bộ Tài chính, làm nghiệp vụ thanh toán giữa các xí nghiệp quốc doanh và thanh toán đối ngoại.

Chính sách tiền tệ và những công cụ chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô đều không được sử dụng vì không có ý nghĩa gì với kinh tế kế hoạch hoá. Ngân hàng vẫn đứng ngoài cuộc với khu vực kinh tế thị trường nóng bỏng cũng như Bộ Vật tư đóng cửa không cho tư liệu sản xuất của Nhà nước ra thị trường.

Năm 1989, sau những chủ trương đổi mới có tính bước ngoặt, xoá bỏ chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh, trao quyền tự chủ kinh doanh cho xí nghiệp quốc doanh, tự do hoá phân phối tư liệu sản xuất và tự do hoá giá cả, kinh tế thị trường được chính thức xác lập, việc đổi mới tất yếu tiếp theo là xây dựng khuôn khổ thể chế cho việc hình thành hệ thống ngân hàng mới hai cấp, tách biệt chức năng điều tiết chính sách tiền tệ của cấp ngân hàng Trung ương với chức năng kinh doanh phân phối nguồn lực tài chính cho thị trường của cấp các ngân hàng thương mại.

Giữa năm 1989, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) giao cho ông Cao Sỹ Kiêm, Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước, cùng phối hợp với một nhóm chuyên gia độc lập do Hội đồng Bộ trưởng chỉ định cùng soạn thảo hai pháp lệnh ngân hàng.

Một pháp lệnh về Ngân hàng Nhà nước (Ngân hàng Trung ương) và một pháp lệnh về ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính. Việc soạn thảo đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt.

Trong số những chuyên gia độc lập, có giáo sư Phan Văn Tiệm (lúc đó đang là Chủ nhiệm Uỷ ban Vật giá Nhà nước), các ông Lâm Võ Hoàng, Huỳnh Bửu Sơn cựu viên chức ngân hàng của chính quyền Sài Gòn cũ, ông Nguyễn Thiệu cán bộ giúp việc Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt.

Việc sử dụng một nhóm chuyên gia ngoài biên chế ngân hàng với chuyên gia Ngân hàng Nhà nước, và sau này giúp Ngân hàng Nhà nước triển khai thực hiện là cách làm mới mẻ của người chỉ đạo trực tiếp, nhằm lắng nghe ý kiến độc lập và tranh luận nhất trí giữa hai nhóm chuyên gia đồng soạn thảo pháp lệnh đổi mới ngân hàng.

Sau hơn bốn tháng làm việc khẩn trương, vượt qua nhiều cuộc tranh luận thẳng thắn, mấy lần trình xin ý kiến chỉ đạo của Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt, hai dự thảo pháp lệnh hoàn thành. Sau đó, hai dự thảo được mang sang Paris nhờ Ngân hàng Trung ương Pháp đánh giá; nhờ Quỹ tiền tệ quốc tế IMF thẩm định và cử chuyên gia sang Hà Nội tổ chức một lớp tập huấn cho cán bộ Ngân hàng Nhà nước.

Tháng 5 năm 1990, hai pháp lệnh bắt đầu có hiệu lực thi hành sau khi Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công phê chuẩn. Hai pháp lệnh Ngân hàng đem lại nhận thức mới và cơ hội pháp lý tổ chức lại Ngân hàng Nhà nước theo mô hình Ngân hàng Trung ương, cơ cấu lại các ngân hàng thương mại quốc doanh theo hướng kinh doanh đa năng.

Lần đầu tiên, hàng loạt ngân hàng cổ phần tư nhân được phép ra đời và cũng lần đầu tiên, Việt Nam mở cửa cho ngân hàng nước ngoài thành lập liên doanh hoặc mở chi nhánh.

Có thể nói, với Luật Đầu tư nước ngoài và hai pháp lệnh Ngân hàng, vào thời điểm năm 1989 – 1990, Việt Nam đã có hai cam kết pháp lý đầu tiên mở cửa ra bên ngoài và cũng là hai công cụ pháp lý có vai trò đột phá, thúc đẩy Việt Nam chuyển đổi nhanh, sâu rộng sang kinh tế thị trường. Tiếp sau đó, hình thái kinh tế thị trường ở Việt Nam càng được khẳng định bởi các Luật Công ty, Luật Thương mại, Luật Dân sự, Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi)…

Những thành tựu đầu tiên

Đến năm 1993, hệ thống ngân hàng đổi mới đi dần vào nề nếp, hoạt động theo hướng thị trường, bình thường hoá quan hệ với IMF, WB, ADB. Ở cấp hoạch định chính sách tiền tệ, điều tiết và giám sát có Ngân hàng Nhà nước làm chức năng Ngân hàng Trung ương; ở cấp kinh doanh tín dụng có bốn ngân hàng thương mại quốc doanh, hàng chục ngân hàng cổ phần tư nhân, ba ngân hàng liên doanh với ngân hàng nước ngoài và hàng chục chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Những thành tựu bước đầu có tính đột phá của hệ thống ngân hàng mới là vượt qua nỗi ám ảnh của tâm lý sợ “Tiền ra thì giá lên”, chỉ trong vài tháng đã hạ lãi suất tiền gửi từ 12%/tháng xuống 2%/tháng, tăng nhanh cung tiền với tốc độ 30 – 40%/năm, khắc phục nạn khan hiếm tiền mặt, tín dụng ngoài ngân hàng lùi nhanh nhường chỗ cho thị trường tiền tệ chính thức phân phối nguồn lực tài chính cho kinh tế thị trường nảy nở sôi động.

Ở giai đoạn khởi phát, hệ thống ngân hàng Việt Nam không tránh khỏi non nớt nhưng bù lại là sự thận trọng, sự quan tâm sát sao của Thường trực Chính phủ với mục tiêu là duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, quá trình tự do hoá được nới lỏng dần dần. Tiến trình ấy đã giúp ngân hàng có những thành công gây ấn tượng, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định, vượt qua những cú sốc kinh tế trong nước và khu vực.

Việc thực hiện tư duy và chủ trương đổi mới ngân hàng, được thể hiện trong hai Pháp lệnh Ngân hàng năm 1989 – 1990, vì nhiều nguyên nhân, chưa được thật nhất quán, liên tục, mạnh mẽ, với những bước phát triển mới cần thiết. Thành tựu lẽ ra đã có thể lớn hơn.

Hệ thống ngân hàng Việt Nam còn đang vận động đi lên trong tiến trình tiếp tục đổi mới, và nếu tiến trình ấy có những bước cải cách nhanh hơn, Ngân hàng Nhà nước sớm trở thành Ngân hàng Trung ương chủ động hơn, ngân hàng thương mại lành mạnh hơn… thì mức độ thành công sẽ tốt đẹp hơn.

(Trích sách Đổi mới ở Việt Nam: Nhớ lại và suy ngẫm, Chủ biên: Đào Xuân Sâm, Vũ Quốc Tuấn, NXB Tri thức, 2008)

Việt Nam - Ngươi đang ở đâu và sẽ đi đến đâu? (Kỳ 98)

,

Di sản phải vượt qua
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2008/06/080611_vovankiet_lequocquan.shtml

Ông Võ Văn Kiệt qua đời để lại một di sản nặng nề cho những người lãnh đạo ở lại.


Di sản lớn nhất chính là vấn đề phản biện xã hội và hòa giải dân tộc, điều ông chỉ dám nêu ra sau khi đã về hưu nhưng cũng đủ làm xúc động và hy vọng cho hàng triệu người. Chính những đồng chí đi sau ông hoặc sẽ phải vượt qua những cải cách ông có được hoặc sẽ thấy nợ với dân tộc về những điều ông vẫn thiết tha yêu cầu vào những ngày cuối đời.

Vào năm 1990, khi chưa đầy 20 tuổi, tôi đã nghĩ ông Võ Văn Kiệt là con người cơ hội. Khi đó, ông đã chọn theo cánh thiên tả của một thế trận 5-3-5(*) trong lúc vận mệnh của quốc gia đang cực kỳ mong manh vì có thể xoay theo Liên Xô hoặc theo Trung Quốc.

Cục diện đất nước đã có thể rất khác xa bây giờ nếu như ông Kiệt ủng hộ quan điểm của Uỷ Viên Bộ Chính Trị, Bí thư trung ương đảng lúc đó là Trần Xuân Bách.

Nhưng Không, ông đã thế chân vào vị trí Thủ tướng của người mà sau Đại hội đảng đã được bầu làm Tổng Bí Thư. Ông đã song hành cùng Tổng Bí Thư Đỗ Mười và Chủ tịch nước suốt hai nhiệm kỳ trước khi cùng nhau trở thành cố vấn cho ban lãnh đạo mới. Nhân dân, qua thông tấn xã vỉa hè, đồn đoán về một bộ ba: Mười - Anh - Kiệt với vô vàn điều thắc mắc cần cần hóa giải.

Tất nhiên, vào thời điểm đó tôi cho rằng Ông Kiệt đã có tác động làm giảm sự phát triển của dân tộc về dài hạn khi không dám cổ súy vấn đề đa nguyên đa đảng trong khi mà một người phụ trách chính về lý luận của Đảng đã mạnh dạn khởi xướng và quảng bá. Tất nhiên, nếu ông làm điều đó, biết đâu, ông cũng có thể có một kết cục khác khốc liệt hơn 100 ngày ngồi tù của tôi.

Làm Thủ tướng

Nhưng rồi ông lên làm Thủ tướng. Suốt 2 nhiệm kỳ, ông đã đưa ra những quan điểm đổi mới mạnh mẽ.

Ông đã thổi luồng gió mới, canh tân một phần bộ mặt đất nước với bè bạn Năm Châu. Nhiều nhà tư bản phương Tây coi ông Kiệt là một kiến trúc sư và là lãnh đạo của phong trào đổi mới ở Việt Nam. Ông khởi đầu cho ít nhất 4 nhiệm kỳ người miền Nam liên tiếp nắm giữ vị trí Thủ tướng và tiếp tục còn ảnh hưởng nhằm mở rộng quyền lực chính trị ngay trong lòng Hà Nội.

Để đạt được điều đó ông đã biết dựa vào sức dân. Không có con đường nào khác ngoài việc ông nâng cao tinh thần dân tộc, mở cửa ra thế giới bên ngoài, thúc đẩy lòng tự hào và tình đoàn kết anh em trong ngoài.

Thời kỳ ông làm Thủ tướng này cũng chính là giai đoạn đầy khó khăn, xen lẫn giữa mở và khép, giữa cải cách dân chủ và duy trì quyền lực của những nhóm bảo thủ trong Đảng Cộng sản. Trong khi ông là người mong muốn đối thoại sòng phẳng với những nhà bất đồng chính kiến thì chính ông cũng đã đặt bút ký Nghị định 31/CP cho phép giam giữ người bất đồng chính kiến đến 2 năm mà không cần xét xử.

Càng hiểu nhiều hơn về cơ chế tổ chức quyền lực Nhà nước Xã hội Chủ Nghĩa tôi càng dễ thông cảm và tôn trọng ông hơn. Vì ông có cái khó riêng của của những người trong cuộc.

Về hưu

Từ giã chính trường ông vẫn đau đáu với những vấn đề quốc kế dân sinh.

Mặc dù tuổi cao, những thao thức của ông cho đất nước đáng để cho những người đồng trang lứa phải thấy hổ thẹn. Ông muốn tăng tốc cải cách, ủng hộ báo chí, bảo vệ dân nghèo, xem xét lại các vấn đề lớn của quốc gia…. Ông thấy rõ dù đất nước đã nối liền một dải, nhưng lòng người còn ly tán, việc hòa hợp dân tộc vẫn còn đầy cam go.

Lòng kính trọng của tôi đối với ông chỉ có thực sự từ khi tôi nghe một phỏng vấn của ông trên BBC và hàng loạt bài ông viết về Hòa hợp và Hòa giải dân tộc đăng trên báo Tuổi trẻ.

Nhiều điều ông nói là cho chính gia đình ông nhưng tôi thấy dáng dấp của dòng tộc mình nơi mà đến 1/2 gia tộc đã đi vào Nam vào năm 1954. Ông nói về một người mẹ có 2 người con thuộc hai chiến tuyến hy sinh giờ cùng nằm trên một bàn thờ; tôi nhớ rằng bố mình cũng đã từng đi bộ đội để giết những “Ngụy quân” trong đó có con của ông bác là lính Việt Nam Cộng Hòa.

Tất nhiên đất nước ta có những khoảng cách không dễ xóa nhòa và tôi là một bằng chứng.

Sau khi nghe tôi thuyết trình ở Mỹ, có người gọi tôi là thân cộng để rồi, khi về Việt Nam những người cộng sản gọi tôi là chống cộng. Tôi chống ai, giữa một đất nước trải dài, khác biệt và chia cắt cả về địa lý lẫn tư duy? Một đất nước mà từ những năm 1940 ông nội tôi đã dạy bài “Hận Sông Gianh” cho bố tôi, và hôm nay con tôi vẫn nghe cô giáo lớp một gọi những người anh em bên kia chiến tuyến là “quân Ngụy”.

Hy vọng

Thế nhưng ông Võ Văn Kiệt vẫn cho ta nhiều hy vọng.

Ông đã từng nói: "Tổ quốc là dân tộc Việt Nam mình, chứ không phải là của riêng của người cộng sản hay bất cứ phe phái nào cả". Người mẹ kia vẫn thờ 2 con trên một bàn thờ. Bố tôi và người lính Việt Nam Cộng hòa kia vẫn là con chú con bác.

Tôi đã từng đi dọc bức tường Arlington ghi tên những người Mỹ chết và mất tích trong chiến tranh Việt Nam và cũng nghĩ về việc ông mong tìm được xác của vợ và hai con bị bắn chìm trên chiếc tàu Thuận Phong trên trên sông Sài gòn vào năm 1966.

Càng đến lúc ông gần chết, tôi - người bất đồng chính kiến - càng cảm thấy gần gũi với tư tưởng của ông hơn bao giờ hết.

Và đó cũng là di sản mà những người cầm quyền đương thời phải biết vượt qua.

(*): Bên cải cách, theo sự sắp xếp của tác giả, bao gồm: Bách – Thạch – Thọ - Khuê –Công. (Trần Xuân Bách, Nguyễn Cơ Thạch, Mai Chí Thọ, Đoàn Khuê, Võ Chí Công ). Phái trung dung ở giữa là: Linh – Hùng - Tâm (Nguyễn Văn Linh, Phạm Hùng và Nguyễn Đức Tâm ). Còn bảo thủ bao gồm: Mười – Anh –Kiệt – Bình –Nguyên (Đỗ Mười – Lê Đức Anh – Võ Văn Kiệt – Nguyễn Thanh Bình – Đồng Sỹ Nguyên ).

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả. Quý vị có đóng góp ý kiến xin gửi về vietnamese@bbc.co.uk hoặc sử dụng hộp tiện ích bên tay phải.


Nhìn vào sự nghiệp của ông Võ Văn Kiệt
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/06/080611_vovankietprofile.shtml

Là một trong các nhân vật lãnh đạo gắn bó với cuộc chiến Việt Nam nhưng cũng đóng vai trò quan trọng sau 1975 và giai đoạn Việt Nam mở cửa, ông Võ Văn Kiệt vẫn có ảnh hưởng lớn kể cả khi đã nghỉ hưu.


Kinh tế gia Lê Đăng Doanh, từ Hà Nội, đưa ra nhận định rằng ông Võ Văn Kiệt "có đóng góp rất xuất sắc cho công cuộc đổi mới ở Việt Nam."

"Ngay khi còn làm ở TP HCM, ông đã phát hiện ra những điều bất hợp lý của cơ chế quan liêu bao cấp về kinh tế và có những kiến nghị rất mạnh bạo để sử dụng kinh tế tư nhân, để điều chỉnh giá,"

Ông Võ Văn Kiệt lên làm thủ tướng từ 1991 đến 1997, trong giai đoạn quan trọng mang tính chuyển hướng của Việt Nam.

Đây là thời gian Việt Nam tìm cách thoát ra khỏi thế bị bao vây kinh tế của Phương Tây, đồng thời hòa hoãn, làm lành với Trung Quốc trong khi nước đỡ đầu lớn nhất là Liên Xô tan rã.

Mặt khác, Việt Nam cũng phải xoay sang làm bạn với khối Đông Nam Á và bình thường hóa quan hệ với Mỹ.

Ông Kiệt và những người ủng hộ đường lối Đổi Mới đã giúp chế độ đạt được tất cả các mục tiêu quan trọng đó.

Những ý tưởng về kinh tế của ông khi còn ở TPHCM được áp dụng cho cả nước giai đoạn này, nhất là thu hút đầu tư nước ngoài, ban đầu từ các nước châu Á như Hàn Quốc, Singapore.

Tiến sỹ Lê Đăng Doanh nói:

"Sau này khi làm phó thủ tướng, rồi Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ông đều có những đóng góp trong việc mời đầu tư nước ngoài."

Tiếng nói cải tổ

Từ 2001 tới nay, ông Võ Văn Kiệt đã góp tiếng nói có uy tín trong nhiều chính sách có liên quan tới xã hội - dân sinh.

Ông là cựu lãnh đạo Việt Nam đầu tiên công khai đặt vấn đề hòa hợp - hòa giải dân tộc sau cuộc chiến Việt Nam, đặc biệt là với những người miền Nam không cộng sản.

Trong một phỏng vấn hiếm hoi với BBC tháng 04/2007, ông Kiệt nói:

"Tổ quốc là của mình, dân tộc là của mình, quốc gia là của mình, Việt Nam là của mình, chứ không phải là của riêng của người cộng sản hay của bất cứ tôn giáo hay phe phái nào cả".

Dư luận trong nước thì chú ý đến vai trò "thủ lĩnh Đổi Mới" của ông trong nhiều lĩnh vực.

Giáo sư Lê Đăng Doanh nhận xét:"Cho đến những ngày gần đây, ông Kiệt vẫn còn ấp ủ nhiềù tư tưởng tiến bộ cho công cuộc cải cách và phát triển đất nước."

Đặc biệt là ông không chỉ được coi là nhà lãnh đạo tinh thần cho phong trào đòi tiếp tục đổi mới mà những người bất đồng chính kiến cũng "dựa vào ông".

Cựu chiến binh bất đồng chính kiến Vũ Cao Quận từ Hải Phòng nói:

"Có nhiều người trách ông Kiệt sao không nói khi tại chức mà bây giờ mới nói nhưng theo tôi, ông nói muộn cũng tốt,"

"Chúng tôi đang rất cần ông Kiệt nói, Vì người ta hay đổ cho những người đấu tranh dân chủ là bất mãn, nhận tiền của đế quốc nước ngoài. Nhưng khi ông Kiệt nói là xem lại chủ nghĩa Mác, xem lại quyền của nhân dân thì tôi không cho là muộn mằn, vì muộn mằn như thế là quy luật ở xã hội Việt Nam."

Jean-Claude Pomonti, bình luận viên thời sự chính trị Đông Nam Á của tờ Le Monde ở Pháp nói với BBC Tiếng Việt về ông Võ Văn Kiệt:

"Ông là một cá tính mạnh, luôn lôgíc về tư tưởng đổi mới, kể cả khi hồi hưu, ông cởi mở cả với những người bất đồng chính kiến, bênh vực dân, báo chí, chống báo thủ, tham nhũng,"

So sánh ông Kiệt với những lãnh đạo kế nhiệm, nhà báo Pomonti nói:

"Còn như ông Nguyễn Tấn Dũng hiện nay, ông mới lên làm Thủ tướng, cần nhiều thời gian để khẳng định tính cách."

Theo quan điểm riêng của cựu đại tá Bùi Tín, một nhân vật cao cấp trong nghề báo và truyền thông quân đội nhân dân Việt Nam nay tỵ nạn tại Paris thì ông Kiệt chỉ “đỡ bảo thủ hơn những nhà lãnh đạo khác”.

Nhà báo Bùi Tín cho rằng nếu nói ông Kiệt là một nhân vật đổi mới kiệt xuất thì chưa đúng vì đổi mới phải có cả đổi mới toàn diện, về chính trị, “bỏ chế độ độc đảng”.

Với một bộ phận lớn của người Việt hải ngoại, nhất là những người bị đàn áp sau 1975 và phải bỏ nước ra đi, những gì ông Kiệt phát biểu về họ là chưa đủ.

Theo nhà báo Đỗ Dũng ở California, có tâm lý khó nói trong báo chí hải ngoại về ông Kiệt nên gần đây chỉ có tờ Viet Weekly "dám" phỏng vấn ông.

Đó là vì người ta nghĩ khen ông cũng khó vì dù sao ông vẫn là cộng sản và đã lãnh đạo miền Nam sau 1975, chê ông thì lại ngại làm phong trào đổi mới, dân chủ hóa yếu đi.

Dư luận và tang lễ

Cho đến cuối ngày thứ Tư 11/06, vì không có tin gì trên báo chí chính thức và vì chính quyền VN chưa công bố về cái chết khá đột ngột của ông Võ Văn Kiệt, trong dân chúng xuất hiện nhiều câu hỏi cả về cái chết của ông và chuyện thủ tục tang lễ.

Nhà báo Bùi Tín giải thích với BBC rằng việc lập ban tang lễ nhà nước, ra thông cáo, cáo phó, quyết định chôn cất ở đâu đều rất quan trọng trong trường hợp các nhà lãnh đạo Việt Nam.

Theo ông, đặc biệt với ông Võ Văn Kiệt, vì các phát biểu của ông trong nhiều vụ việc như xây nhà quốc hội, vấn đề khốn cùng của giai cấp nông dân thời nay, câu chuyện kỷ niệm 30-4, đều khiến việc quyết định khó khơn.

Trong hệ thống cộng sản, các đám tang như thế đều có tính biểu tượng và việc xác định vị thế của người đã khuất có ý nghĩa thông điệp chính trị.

Cũng có các ý kiến thuộc phe ủng hộ cải cách mạnh hơn nữa e ngại rằng với sự ra đi không chuẩn bị của ông Võ Văn Kiệt, phe bảo thủ trong đảng sẽ lấn tới, nhất là trong giai đoạn chuẩn bị hội nghị trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, dự kiến vào cuối tháng 07/2008.

Việt Nam - Ngươi đang ở đâu và sẽ đi đến đâu? (Kỳ 97)

,

Võ Văn Kiệt, nhà lãnh đạo kiệt xuất thời kỳ Đổi mới
http://vietnamnet.vn/chinhtri/2008/06/787871/

VietNamNet xin trân trọng giới thiệu bài viết về nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã được đăng tải nhân dịp sinh nhật 85 tuổi (23/11/1922 – 23/11/2007) của nhà lãnh đạo kiệt xuất này.


Với tuổi đời 85 và 70 năm tham gia cách mạng (1938 – 2007), ông đã cống hiến gần như toàn bộ cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc và đổi mới đất nước. Tên tuổi của ông gắn liền với một giai đoạn lịch sử oai hùng và đầy thử thách của dân tộc qua những hoạt động phong phú và nổi bật mang dấu ấn đặc sắc, dấu ấn Võ Văn Kiệt. Dấu ấn về tư tưởng và quyết tâm đổi mới đất nước, đưa đất nước vượt qua tình trạng khó khăn, trì trệ, từng bước phát triển và hội nhập. Dấu ấn về bầu nhiệt huyết không hề vơi cạn theo thời gian và tuổi tác của con người.

Võ Văn Kiệt thuộc thế hệ lãnh đạo hàng đầu đi tiên phong trên con đường đổi mới đất nước. Ông quan niệm rõ ràng và nhất quán về đổi mới: “Đổi mới không phải là xóa bỏ hoàn toàn cái cũ hay từ bỏ chủ nghĩa xã hội mà là nhận thức lại một cách đúng đắn hơn về một chủ nghĩa xã hội nhân bản, hoàn thiện, với lý tưởng phục vụ con người, vì con người”.

Ông là nhà lãnh đạo có sự đóng góp xuất sắc bởi tầm nhìn sâu rộng và trí tuệ sắc sảo. Những phẩm chất tiêu biểu đó, một phần do bẩm sinh, do tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn lâu dài ở những nơi đầu sóng ngọn gió của cách mạng, và đặc biệt do phong cách gần gũi bình dị, khả năng tập hợp và khai thác có hiệu quả những tri thức tiên tiến của một tập thể chuyên gia giỏi về nhiều mặt; chính trị, kinh tế, khoa học công nghệ, văn hoá nghệ thuật v.v….

Nhờ thế, ông cùng với lãnh đạo Đảng và Nhà nước đưa ra được những quyết sách đúng đắn, những giải pháp hiệu quả cho sự phát triển của đất nước. Nhiều chủ trương của Chính phủ mang dấu ấn của cá nhân Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã được thực tiễn chứng minh là đúng đắn, nhưng không phải được mọi người đồng tình ngay từ đầu.

Để biến đường lối, chủ trương thành hiện thực, Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã từng thể hiện một phong cách lãnh đạo sâu sát, cụ thể và đặc biệt lòng dũng cảm đến mức quyết liệt. Và trên hết là bầu nhiệt huyết đối với vận mệnh của đất nước và số phận của nhân dân không hề vơi cạn.

Ông thể hiện phong cách, tinh thần đó không chỉ khi ở cương vị nhà lãnh đạo cao nhất của một thành phố (Bí thư Thành uỷ TP. HCM), của Chính phủ, mà cả khi ông không còn giữ trọng trách nào trong Đảng và Nhà nước.

Trong 10 năm nay (1997 – 2007), trước mỗi sự kiện nóng bỏng, quan trọng mang tầm quốc gia hoặc ảnh hưởng lớn đến quyền lợi nhân dân, lại thấy Công dân Võ Văn Kiệt lên tiếng. Có khi là một bài viết, có lúc là bài trả lời phỏng vấn, và đặc biệt có cả những bức thư ngỏ công khai gửi lên các cấp lãnh đạo đất nước.

Trong thời gian gần đây, ông phát biểu ý kiến, kiến nghị với các cơ quan đảng và nhà nước dồn dập hơn. Từ những vấn đề trọng đại như ý kiến “đóng góp với đại hội X”, hoà hợp dân tộc, đến những kiến nghị, góp ý, phát biểu về những sự việc cụ thể như: quy hoạch về “thành phố dọc sông Hồng”, việc “xây nhà Quốc hội” v.v....Những ý kiến của ông được trình bày thẳng thắn và chứa tâm huyết lớn với nước với dân. Dù được chấp nhận hay không, các ý kiến của ông đều rất quý, rất đáng trân trọng, phù hợp lòng dân và được người dân mong chờ, đón nhận.

Tư tưởng “đổi mới”, hành động “đổi mới”, công lao trong sự nghiệp “đổi mới” cùng với bầu nhiệt huyết với đất nước và nhân dân của Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đưa ông trở thành một trong những nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước xuất sắc, một hình ảnh tiêu biểu của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập.

Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt thực sự được nhân dân cả nước yêu quý với tên gọi thân thiết Sáu Dân và được bạn bè trên thế giới nể trọng. Đó là món quà quý giá nhất cuộc đời dành tặng ông.

* GS Trần Thanh Minh

Cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt qua đời
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/06/080611_vovankiet_dies.shtml

Tôi rất hy vọng thông tin này không đúng

Cựu thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt, một trong các nhà lãnh đạo hàng đầu thời kỳ đổi mới, vừa từ trần ở tuổi 85.


Được tin ông Võ Văn Kiệt (tên thật là Phan Văn Hòa) qua đời lúc 6:40 sáng thứ Tư 11/6 tại Singapore nơi ông đang chữa bệnh.

Chưa rõ nguyên nhân dù có các nguồn tin khác nhau nói trước đó ông Kiệt bị tai biến mạch máu não. Nhưng cũng có tin nói ông bị bệnh đường hô hấp.

Được biết thi hài ông Kiệt đã được đưa trở về Việt Nam.

Khi được hỏi về tang lễ bà Hiếu Dân, con gái ông Kiệt nói với BBC: "Các anh trong ban bí thư ngày mai họp và thông báo, chứ gia đình cũng chưa biết gì."

Phản biện xã hội

Ông Kiệt từng giữ các chức vụ quan trọng như chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Thủ tướng chính phủ (1991-1997). Ông cũng là ủy viên bộ Chính trị trong suốt sáu khóa liền.

Ông Võ Văn Kiệt là người đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình đổi mới kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Thậm chí ông từng được mệnh danh 'kiến trúc sư' của tiến trình đổi mới.

Là một trong các nhân vật lãnh đạo miền Nam, cả sau khi về hưu, ông Kiệt vẫn có ảnh hưởng lớn.

Trong những năm gần đây, ông được biết tới như một nhà phản biện với tiếng nói có sức nặng và uy tín không thể chối cãi.

Ông Võ Văn Kiệt là một trong các 'kiến trúc sư' của tiến trình Đổi mới
Cựu thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt, một trong các nhà lãnh đạo hàng đầu thời kỳ đổi mới, vừa từ trần ở tuổi 85.

Được tin ông Võ Văn Kiệt (tên thật là Phan Văn Hòa) qua đời lúc 6:40 sáng thứ Tư 11/6 tại Singapore nơi ông đang chữa bệnh.

Chưa rõ nguyên nhân dù có các nguồn tin khác nhau nói trước đó ông Kiệt bị tai biến mạch máu não. Nhưng cũng có tin nói ông bị bệnh đường hô hấp.

Được biết thi hài ông Kiệt đã được đưa trở về Việt Nam.

Khi được hỏi về tang lễ bà Hiếu Dân, con gái ông Kiệt nói với BBC: "Các anh trong ban bí thư ngày mai họp và thông báo, chứ gia đình cũng chưa biết gì."

Phản biện xã hội

Ông Kiệt từng giữ các chức vụ quan trọng như chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Thủ tướng chính phủ (1991-1997). Ông cũng là ủy viên bộ Chính trị trong suốt sáu khóa liền.

Ông Võ Văn Kiệt là người đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình đổi mới kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Thậm chí ông từng được mệnh danh 'kiến trúc sư' của tiến trình đổi mới.

Là một trong các nhân vật lãnh đạo miền Nam, cả sau khi về hưu, ông Kiệt vẫn có ảnh hưởng lớn.

Trong những năm gần đây, ông được biết tới như một nhà phản biện với tiếng nói có sức nặng và uy tín không thể chối cãi.


Sinh ngày 23/11/1922 trong một gia đình nông dân tại xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Cửu Long (nay là tỉnh Vĩnh Long), ông Võ Văn Kiệt bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1938.

Ông gia nhập đảng Cộng sản một năm sau đó.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và cuộc chiến Việt Nam, ông Kiệt hoạt động chủ yếu tại địa bàn Nam Bộ với bí danh Sáu Dân.

Sau 1975, ông giữ chức Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh.

Ông Võ Văn Kiệt làm ủy viên Bộ Chính trị từ 1982-1997. Ông rút khỏi Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương ĐCS tại đại hội IV năm 1997 nhưng giữ vai trò cố vấn cho Ban Chấp hành tới năm 2001.

Hòa giải dân tộc

Từ 2001 tới nay, ông Võ Văn Kiệt đã góp tiếng nói có uy tín trong nhiều chính sách có liên quan tới xã hội - dân sinh.

Ông là cựu lãnh đạo Việt Nam đầu tiên công khai đặt vấn đề hòa hợp - hòa giải dân tộc.

Trong một phỏng vấn hiếm hoi với BBC, ông Kiệt nói:

"Tổ quốc là của mình, dân tộc là của mình, quốc gia là của mình, Việt Nam là của mình, chứ không phải là của riêng của người cộng sản hay của bất cứ tôn giáo hay phe phái nào cả".

Ông cũng kêu gọi đối thoại với những người bất đồng chính kiến.

Lần cuối cùng ông Võ Văn Kiệt lên tiếng trên công luận là để nêu quan ngại về hai dự án: mở rộng Hà Nội và xây dựng tòa nhà Quốc hội.