Skip navigation

Lost password? | Help

Nghĩa Lâm

Đôi lúc, cái mà nguời ta có được từ công việc của mình không phải là tiền bạc mà là những bài học quý báu - C. Black

Friday, 21. September 2007

Trí thức Việt Nam xưa và nay!

Người Việt Nam vốn có truyền thống tôn trong người trí thức, với quan niệm: Sĩ, Nông, Công, Thương. Ngàn đời nay, trong tâm thức người Việt trí thức luôn được đặt lên hàng đầu.

Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là vì sao chúng ta lại lạc hậu như vậy, vì sao chúng ta chỉ thích làm theo khuôn mẫu có sẵn, vì sao chúng ta không có những nhà khoa học kiệt xuất, những nhà tư tưởng kiệt xuất mặc dù người Việt rất thông minh... thì không có câu trả lời nào thỏa đáng.

Trong thời kinh tế hội nhập hiện nay, phải chăng chúng ta coi nhẹ trí thức hơn trước, mặc dầu cần có quan điểm thay đổi, tuy nhiên tri thức chính là nguyên khí của một dân tộc, dân tộc đó muốn vững mạnh và phát triển thì tầng lớp trí thức phải dám khai phá, dám thách thức và dám hội nhập với thế giới.

Chuyên đề này trước mắt tôi chỉ có ý định xem xét các quan điểm khác nhau về tri thức Việt Nam, càng nhìn nhận dưới nhiều góc độ càng tốt, do vậy có thể có những đường link đến những bài báo được viết từ ngoại quốc. Tuy nhiên, tất cả chỉ phục vụ cho người đọc, cho tôi có cái nhìn sâu sắc hơn về Trí thức Việt Nam hiện nay, hoàn toàn không có mục đích xấu.
(Do có nhiều đường link hay bị die quá nên tôi chưa lấy được rất nhiều bài như mong muốn)

KỲ 1: NHỮNG QUAN ĐIỂM VỀ TRÍ THỨC VIỆT NAM

- Trí thức là ai?
http://vietnamnet.vn/nhandinh/2007/01/659364/
Tác giả: Tiến sĩ Nguyễn Quang A.

Trong tiểu luận “Trí thức và Chủ nghĩa xã hội” viết năm 1949 F. A. Hayek đã phân tích rất sâu sắc về vai trò to lớn của trí thức lên diễn tiến chính trị. Ông gọi trí thức là những người buôn bán đồ cũ chuyên nghiệp về tư tưởng, tức là những kẻ truyền đạt tư tưởng của những người khác (như tư tưởng của Plato, Khổng tử, Đức Phật, Chúa Jesus, Adam Smith, Karl Marx, Einstein, v.v). Họ có quyền lực to lớn. Ông cho rằng “họ nắm được quyền lực này bằng định hướng dư luận”. “Cái đối với người quan sát đương thời có vẻ như là cuộc đấu tranh của các lợi ích mâu thuẫn nhau, thực ra thường đã được quyết định trước từ lâu trong một cuộc đụng chạm của các tư tưởng được giới hạn ở các giới hẹp” của các trí thức.
Theo ông, các trí thức “không chỉ gồm các nhà báo, các nhà giáo, các mục sư, các giảng viên, những người làm quảng cáo, các nhà bình luận radio, các nhà văn hư cấu, những người vẽ tranh biếm họa, và các nghệ sĩ, tất cả những người có thể là các bậc thầy về kĩ thuật truyền đạt tư tưởng, nhưng thường là những kẻ nghiệp dư ở chừng mực liên quan đến thực chất cái mà họ truyền đạt”. Trí thức “cũng gồm nhiều nhà chuyên nghiệp và kĩ thuật, như các nhà khoa học và các bác sĩ, những người thông qua giao thiệp quen thuộc của họ với ấn phẩm mà trở thành những người mang các tư tưởng mới bên ngoài lĩnh vực riêng của họ và là những người, vì tri thức chuyên gia của họ về các chủ đề riêng của họ, được lắng nghe với sự kính trọng về hầu như mọi thứ khác.



Vậy trí thức Việt Nam thế nào? Trong chế độ chuyên chế với nền kinh tế tiểu nông, tự cung tự cấp, thì mục tiêu quan trọng nhất của người đi học vào thời kỳ đó là để làm quan. Làm quan tức là phục vụ chính quyền, nên cái ý mà có người cho rằng trí thức Việt Nam có tính cách “phò chính thống”, “thích được chính quyền sử dụng” (như nêu trong bài của GS. Chu Hảo) là điều dễ hiểu nhìn từ bối cảnh lịch sử hàng ngàn năm của nước nhà.


Muốn “hiền tài là nguyên khí quốc gia” trở thành sự thực, muốn trí thức đóng góp xứng đáng cho đất nước chắc chắn cần nhiều thay đổi. Mà là thay đổi từ cả hai phía, nhà chức trách và bản thân trí thức. Điều kiện cần cho sự phát triển lành mạnh của trí thức là tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, điều đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu trong Hội nghị Trung ương tháng 11/1940 và sau đó được thể hiện trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.


- Trí thức nước nhà mạnh hay yếu?
http://www3.vietnamnet.vn/nhandinh/2007/01/652978/
Bài viết của PGS. TS. Chu Hảo.

Ai là trí thức? Đã từ lâu ở nước ta đã tồn tại một khái niệm đơn giản: Những người lao động trí óc là trí thức, chỉ cốt để phân biệt với những người lao động chân tay như công nhân và nông dân. Một quan niệm bớt đơn giản hơn một chút thì cho rằng hễ có trình độ học vấn từ cấp cao đẳng, đại học trở lên là trí thức.
Thật ra ngay từ khi từ trí thức (intellectuel), lần đầu tiên xuất hiện dưới dạng danh từ chỉ một loại công dân của Pháp thời kỳ sau Công xã Paris, cuối thế kỷ 19, đã mang một ý nghĩa khá rõ ràng: đó là những người không chỉ có học vấn hay trình độ chuyên môn cao, mà hơn hết phải là những người quan tâm và có chính kiến trước những vấn đề chính trị – xã hội nóng bỏng của thời cuộc.(1) Cũng trong tinh thần cách mạng ấy Karl Marx đã coi trí thức là những người có đủ tri thức để quan tâm và có chính kiến riêng đối với các vấn đề của xã hội nên họ phải là những người “phê bình không nhân nhượng những gì đang hiện hữu, không nhân nhượng với nghĩa rằng họ không lùi bước trước kết luận của chính quyền hoặc trước xung đột với chính quyền, bất cứ chính quyền nào”.


...tầng lớp trí thức của xã hội có thiên chức sau: Tiếp thu và truyền bá tri thức hoặc/và văn hóa; Sáng tạo các giá trị mới của tri thức hoặc/và văn hóa; Đề xuất, phản biện một cách độc lập các chủ trương chính sách và biện pháp giải quyết các vấn đề của xã hội; Dự báo và định hướng dư luận xã hội.


Chúng ta thường nghe nói: trí thức Trung Hoa thâm thúy (thâm nho), trí thức Nhật khiêm tốn (đến khách khí), trí thức Nga sâu sắc đôn hậu, trí thức Mỹ thực dụng, trí thức Anh lạnh lùng tỉnh táo, trí thức Pháp hào hoa phong nhã v.v… Vậy trí thức Việt Nam có đặc điểm gì?


- "Trí thức Việt: Đóng góp chưa xứng tầm"
http://www.vietnamnet.vn/baylenvietnam/2007/01/658007/
(Đây là tập hợp những ý kiến tham gia diễn đàn trí thức Việt)

- Trí thức Việt: Những người thích làm… quan!
http://www3.vietnamnet.vn/baylenvietnam/diendan/2007/01/655020/
(Đây là tập hợp những ý kiến tham gia diễn đàn trí thức Việt)

- Nhân sĩ ở thời điểm chuyển mình của đất nước
http://vietnamnet.vn/kinhte/2006/11/637562/

Ở những thời điểm quyết định của đất nước, rất cần những nhân sĩ đứng ra gánh vác, và cần có những lãnh đạo biết sử dụng trí thức.


Cũng không thể không nhắc đến vai trò của một người đã đứng ra trân trọng trí tuệ của các nhân sĩ từ trước giải phóng, đó là nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt, mà trí thức phía Nam vẫn gọi thân mật là anh Sáu Dân.


Không chỉ lòng tin, mọi người còn thấy ở cá nhân ông Sáu Dân cái nhìn rộng mở, dễ chấp nhận cái mới. Và từ đó những ý tưởng táo bạo đã được đưa ra trong thời kỳ tưởng như bế tắc nhất. Ông Kiệt thường cử thư ký hay tự thân ông đến gặp anh em trí thức. Hoàn toàn không phải là những buổi làm việc, chỉ đến ngồi gặp gỡ trao đổi thân tình.


“Với anh Sáu thì anh em trí thức thường nói chuyện thẳng thắn, thoải mái. Sử dụng những con người, đặc biệt là con người trí thức cũ là một vấn đề rất nhạy cảm. Nhưng mà riêng anh Sáu Dân, vấn đề không chỉ là sử dụng người, nhưng mà là ông tin để sử dụng, điều đó rất quan trọng.”


“Được sử dụng mà không tin, thì đó là sự xúc phạm với người trí thức. Với ông Sáu, họ thấy ông cũng trải lòng với họ thì họ cũng trải lòng với ông Kiệt. Từ đó có một bài học, khi người trí thức được tin cậy trong việc họ làm thì họ sẽ làm hết sức mình.”


Ông Phan Chánh Dưỡng kể lại, lần ra Hà Nội gặp ông Kiệt để trình bày với Hội đồng Bộ trưởng dự án đổi mới ngân hàng, sau khi trình bày thì anh em được “chiêu đãi” năm chén chè. Vừa đói vừa mệt, nhưng đó là năm chén chè ngon nhất trong đời anh em. Vấn đề không phải là chè, mà là thấy mình đóng góp được cho đất nước. Từ lần gặp đó kéo theo việc đổi mới hệ thống ngân hàng, mở ra các khu chế xuất…


- Môi trường cho trí thức phát triển?
http://www3.vietnamnet.vn/baylenvietnam/suaminh/2007/01/654250/

Không cần phải bàn cãi, một trí thức chân chính cần phải có chính kiến, khả năng tư duy độc lập, óc phê bình mới có thể sáng tạo ra sản phẩm khoa học và văn hoá cho xã hội, cũng như có khả năng phát hiện những vấn đề, phê bình, phản biện nhằm góp phần làm cho xã hội phát triển một cách hài hoà. Muốn như thế, xã hội phải tạo ra môi trường tốt để những chính kiến riêng và óc phê bình có thể nảy sinh và phát triển


Cách đây hơn hai thế kỷ, M. d. Condorcet (1743 – 1794), nhà triết học người Pháp đã có những tư tưởng về giáo dục rất tiến bộ, đáng cho chúng ta học hỏi. Ông đã viết trong "Báo cáo về giáo dục công" trình trước Quốc hội Pháp họp ngày 20-21 tháng tư năm 1792: "Mục đích của giáo dục không phải làm cho con người quy phục nền hiến pháp đã có sẵn, nhưng làm cho họ có khả năng nhận xét và sửa đổi nền hiến pháp đó, không phải để bắt buộc thế hệ hiện tại tuân phục theo những tư tưởng ý chí của thế hệ trước nhưng để soi sáng những điều này nhằm mục đích làm cho mỗi người ngày càng xứng đáng với phẩm giá, và dùng lý trí của riêng mình để tự điều chỉnh lấy chính bản thân".


Tôi nhớ mãi tâm sự của một trí thức mà tôi đã phỏng vấn trong một cuộc điều tra khi trả lời câu hỏi liên quan đến thân phận người thầy trong xã hội: "Là người giảng viên, tôi có hai chức năng: nghiên cứu và giảng dạy. Khổ nỗi, tôi không thể chu toàn hai nhiệm vụ đó. Nói thật, bây giờ tôi không dám sử dụng động từ "dạy" nữa, vì trong thực tế tôi có dạy gì đâu. Tôi như một chiếc cassette xuất hiện trước sinh viên, lặp đi lặp lại những điều đã có trong đầu từ bao năm nay để kiếm sống. Anh thấy đó, ngôi nhà này tôi vừa xây là nhờ vào tiền kiếm được. Để như vậy, tôi phải dạy ngày, dạy đêm. Tôi không là trường hợp duy nhất nhé, hầu như tất các giảng viên bây giờ đều vậy. Tôi buồn lắm, không phải vì thiếu thốn vật chất mà là nỗi buồn, sự xấu hổ của một kẻ sĩ. Làm thế nào được, khi tôi phải nuôi vợ con tôi trong cái xã hội này? Tôi phải lựa chọn, một bên là bảo vệ hình ảnh của một trí thức chân chính trong tôi, bên kia là gia đình. Cũng như những người khác, tôi đã chọn gia đình...".


- Trí thức trẻ và bệnh thừa thời gian
http://www2.vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2006/10/620272/

Mất không ít tiền để thi vào làm công chức ở các cơ quan địa phương, song không ít bạn trẻ đang phải đối diện với căn bệnh thừa thời gian vô ích. Không ít người đã vùng vẫy đi đến các thành phố lớn không phải vì mê chốn phồn hoa mà đơn giản vì ra đi, là được làm việc.


- Trí thức trẻ: Thỏa hiệp hay ra đi?
http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/2006/10/620636/

Dứt gánh ra đi thì chưa thể. Chạy được vào Sở điện cũng đã mất không ít tiền, lại còn bạn gái đang giục cưới và quan trọng hơn cả là Thanh biết mình chỉ thất vọng với chính mình, có bi quan với môi trường hiện tại đấy nhưng bắt đầu lại từ con số không ở nơi khác thì anh biết, chưa đủ để mạo hiểm.


Đọc bài này buồn thấu ruột :frown:

- Về tư cách của trí thức việt nam
http://www.nhanvan.com/magazines/hopluu/61/vetucach_phamthihoai.htm
Tác giả: Phạm Thị Hoài

Vấn đề tôi muốn đặt ra ở đây rất đơn giản, xin những vị có ý chờ đợi ở một nhà văn những tư tưởng cao siêu, phức tạp thể tất cho. Tất nhiên là mọi vấn đề của hiện thực Việt Nam đều rất phức tạp. Nhưng tôi nghĩ rằng, cái cách dễ dàng nhất, láu lỉnh nhất để khỏi phải đối mặt với cái hiện thực này chính là làm cho nó phức tạp hơn bản thân nó. Mà văn nghệ sĩ và trí thức Việt Nam có một căn bệnh trầm kha là, khi sự vật dường như không thể giải quyết nổi theo các tiêu chí của nho sĩ, hiệp sĩ hay chiến sĩ thì nó lập tức được nhìn theo nhãn quang của phương sĩ, hay đạo sĩ. Đấy là một thứ nhãn quan tất nhiên rất thú vị và vô cùng phức tạp, thú vị và phức tạp tới mức cho phép người ta có thể mải mê trong chính nó, và bản thân hiện thực chỉ còn là cái cớ rất phụ mà thôi. Nhưng chúng ta sẽ trở lại cái hiện thực này ở một đoạn sau. Bây giờ tôi chỉ xin nói trước là, trong buổi hôm nay chúng ta sẽ cố gắng giản dị và sáng tỏ trong suy nghĩ của mình.

:D

Sau ít nhất là hai ngàn năm có một cộng đồng Việt, một dân tộc Việt, một văn hoá Việt, một quốc gia Việt, và sau ít nhất là hai trăm năm có một lãnh thổ Việt như ngày nay, chúng ta vẫn là một nước nghèo và lạc hậu vào hạng nhất thế giới. Nhưng vấn đề không phải chỉ ở chỗ nghèo và lạc hậu. Nếu chỉ như vậy thì tôi còn chưa thấy có gì đáng sợ lắm. Vấn đề một là ở chỗ: chưa bao giờ chúng ta không như thế. Từ khi tôi sinh ra đã như vậỵ Từ khi cha mẹ, ông bà tôi sinh ra đã như vậỵ Từ khi các cụ tôi sinh ra cũng như vậỵ Khi các kỵ tôi sinh ra thì thế giới lúc đó chỉ là Trung Hoa và Ần Độ, nhưng bảng xếp hạng thì vẫn thế, không có gì thay đổi. Nước Hy Lạp chẳng hạn là một nước hiện nay đang nghèo nhất cộng đồng Châu Ấu, nhưng không phải bao giờ cũng thế. Nước Nga cũng đang vô cùng bê bối, nhưng không phải lúc nào cũng thế. Chỉ có nước Việt là chưa bao giờ không như thế mà thôi. Tôi thậm chí không dám nghĩ tiếp rằng, khi cháu tôi, hoặc chắt tôi sinh ra, chúng ta vẫn không thoát được cái kiếp đội sổ như vậy. Sở dĩ tôi phải nói hơi dài về vấn đề này, vì nó là một yếu tố quan trọng trong việc hình thành tính cách và tư cách của người Việt nói chung và người trí thức Việt nói riêng. Ta hãy hình dung, nếu một anh học trò trong suốt cuộc đời đi học của mình không bao giờ không đứng cuối lớp, như một cái dớp không thay đổi, thì đến một lúc nào đó ý chí phấn đấu của anh ta, nếu anh ta có một ý chí, cũng phải tiêu tan.


Hai là, nếu câu chuyện chỉ dừng ở chỗ chúng ta là một nước nghèo và lạc hậu mà thôi thì tất nhiên vẫn là một câu chuyện buồn, nhưng chưa đến nỗi bi đát và vô vọng.
...Chỉ có điều, hiện thực Việt Nam thậm chí không phải là chỗ thích hợp để cái thế giới thứ nhất đó chữa chạy những cái căn bệnh quí phái của mình. Bởi vì ngoài cái nghèo và lạc hậu, thì đến đầu thế kỷ 21 này xã hội Việt Nam còn là chỗ hội tụ của những dịch bệnh dường như vô phương cứu chữa khác mà bao trùm lên tất cả là một khái niệm, tôi đặt tên khái niệm đó là sự bất an.

-> Tham nhũng, vô đạo, văn hóa xuống cấp trầm trọng, rối tung mọi việc... :D

Về xuất phát điểm là như vậy, vấn đề đặt ra là trong cái số phận dường như là vĩnh viễn hẩm hiu đó của dân tộc ta thì người trí thức tham dự như thế nào? Nói một cách khoa trương và có lẽ tương đối sáo thì người trí thức Việt Nam chịu trách nhiệm gì về cái số phận chung ấy của cả một dân tộc?


Thằng khách quan nó có vô số hoá thân và đều được gọi tên rất rành mạch: lúc thì đó là thằng lịch sử, lúc thì đó là thằng bối cảnh, thằng hoàn cảnh, thằng tình hình chung, lúc thì đó là thằng ngoại xâm, thằng thế lực thù địch, thằng thực dân đế quốc, thằng thiên tai địch hoạ. Nếu nghe như vậy thì người ta có cảm giác là: bao nhiêu thằng khách quan đểu cáng nhất đều hùa nhau vào ám dân tộc ta cả. Như vậy thì chẳng có lý do gì hy vọng và chẳng có một cuộc toạ đàm nào, một cuộc hội thảo nào cần thiết nữa.


Về chủ quan, người Việt Nam không có truyền thống đem cả một dân tộc ra mà tự phê bình. Một trong những lý do vì sao như vậy cũng là ở chỗ, khi người ta đã suốt cả một số phận luôn luôn đội sổ thì lòng tự tin thực sự chẳng còn gì lớn lắm. Đấy là tôi muốn nói đến một lòng tự tin thực sự, chứ không phải cái thứ tự tin theo kiểu vừa đánh võ mồm vừa run trong lòng, hoặc là thứ tự tin lưu manh, cứ kích nhau lên để hòng vụ lợi cho mình. Rõ ràng là tự phê bình đòi hỏi một lòng tự tin lớn. Tôi cứ nhìn cái cách tự tra vấn mình, tự hành hạ, tự truy tội, tự xỉ vả mình của một dân tộc như dân tộc Đức này mà phải nhận ra rằng: phải là một dân tộc đã đạt được nhiều thành tựu đến mức nào mới dám làm cái việc cũng rất ư quí phái là tự phê bình mình như vậỵ.


Rõ ràng có những vấn đề thuộc về văn hoá Việt Nam, những vấn đề nghiêm trọng, không thể qui vào một chính thể, tập đoàn hay đảng phái thống trị nào, nó là những hằng số xuyên suốt cả số phận dân tộc Việt Nam, bắt đầu thậm chí từ Lạc Long Quân, nếu như có ông ấy và bà Ấu Cơ. Và nếu đã mở hồ sơ văn hoá Việt Nam ra mà xét thì có thể nói là ở ngay trang đầu chúng ta đã gặp một thành phần không thể không gặp, đó là trí thức Việt Nam.


Bây giờ phải xin nói trước để chúng ta dễ đồng ý với nhau về khái niệm là: một định nghĩa hoàn hảo về trí thức rõ ràng không thể có được, ngay cả đối với hoàn cảnh còn tương đối dễ bao quát như hoàn cảnh Việt Nam. Chúng ta tạm quy ước với nhau là khi nói tới trí thức Việt Nam ở đây là nói tới những người mà do học thức, trình độ, môi trường sống, thói quen, hoặc thậm chí do ngẫu nhiên cũng được, mà hoạt động trí tuệ và tinh thần là thường trực, hoặc chủ yếu, hoặc đóng một vai trò đáng kể.


Bây giờ tôi xin nói về tư cách chính thống của trí thức Việt Nam. Tôi gọi tư cách chính thống của trí thức Việt Nam này là "tư cách quan văn".....Tri thức vừa là con đường dẫn đến quyền lực, vừa là cách thực hiện quyền lực. Không có gì để nghi ngờ nữa, giới sĩ phu Việt Nam trong lịch sử là giới cầm quyền, hay ít nhất cũng là giới thừa hành quyền lực. Nói theo từ hiện đại thì toàn bộ guồng máy nhà nước Việt Nam trong lịch sử nằm trong tay các trí thức nho giáo. Nhân đây cũng xin nói ngoài lề là cái tinh thần rất nổi tiếng và thường xuyên được ca ngợi rằng, người Việt hiếu học, cha mẹ muốn con hay chữ, yêu thầy, theo tôi một phần cũng rất đáng kể xuất phát từ tinh thần yêu địa vị và trọng quyền lực. Nếu chữ nghĩa không mở ra được một triển vọng thơm tho như vậy, một người đi học thi đỗ làm quan thì cả họ được nhờ, tôi tin rằng cái sự hiếu học kia chắc chắn là giảm đi đáng kể.
....Một ông trí thức nho giáo làm quan tất nhiên là không bao giờ nảy ra sáng kiến chống nạn mù chữ trong đám dân đen. Bởi lẽ ông ta chỉ hơn họ và được làm quan nhờ có mấy trăm chữ ở trong bụng. Một ông nhà thơ phụ trách Ban văn hoá văn nghệ tất nhiên không khuyến khích những thứ thơ văn mới lạ, bởi lẽ nếu thiên hạ đi say mê thứ văn thơ mới lạ đó thì thơ ông ta ai đọc?


Bây giờ tôi xin nói đến tư cách học trò của trí thức Việt... Thực ra dân tộc Việt không toàn phải tiếp xúc với những kẻ đến từ một nền văn minh cao và mạnh hơn hẳn. Láng giềng của nước Việt một thuở, như chúng ta đã biết, là Chiêm Thành, Ai Lao, Phù Nam, Khơme, Xiêm La, Chà Và, Nhật Bản... Đương nhiên người Việt cũng tiếp thu điều này, điều nọ trong quá trình giao lưu văn hoá với họ. Trong tiếng Việt ta có thể tìm thấy những dấu tích đó. Thế nhưng, chúng ta có thể lấy hẳn của người Chiêm Thành một giống lúa, lúa chiêm, mà chả buồn học hỏi gì nhiều ở văn hoá và ngôn ngữ của họ. Chúng ta lấy biết bao nhiêu điệu nhạc buồn của họ vào chính cái quan họ Bắc Ninh nổi tiếng của chúng ta, khiến cho cái làn điệu dân ca đó trở nên có thể nói là buồn nhất trong các làn điệu dân ca của miền Bắc nói chung, lúc đó miền Bắc là cái nôi văn hoá Việt và lúc đó Việt Nam chỉ dừng lại ở miền Bắc. Chúng ta lấy của họ như vậy mà chả buồn học hỏi điều gì ở họ, không buồn nghiên cứu gì về họ và thậm chí dường như chúng ta chôn phắt họ đi mà không tiếc nuối gì hết. Như vậy, ở cái thế của kẻ mạnh, hoặc ít nhất ở cái thế của kẻ bằng vai, thì người Việt chẳng buồn học ai cả, chẳng buồn ngưỡng mộ ai cả. Thế nhưng, khi ở cái thế của kẻ yếu, của kẻ bị chinh phục, bị khinh bỉ, bị nhục nhã, thì sự học của chúng ta mới vội vã bắt đầu.


Còn việc sáng tạo chữ viết của người Việt diễn ra như thế nào? Người Việt chẳng cần lặn lội sang Tầu đi học, mà chính là người Tầu mang một núi khí giới, một rừng người đến trước, rồi sau đó khuân một hòm sách sang sau. Dĩ nhiên là người Việt vừa học vừa chửi, giống hệt như vừa học vừa chửi Pháp, vừa học vừa chửi Liên Xô, và bây giờ vừa học vừa chửi Mỹ. Cái sự vừa học vừa chửi này biến thiên qua nhiều cấp độ và tuỳ vào diễn biến hay triển vọng trong mối quan hệ giữa thầy và trò.
... Việc người Việt luôn có những kẻ thù mạnh và giỏi hơn mình, và kết quả là người Việt luôn phải tiếp thu nền văn minh của kẻ thù, việc ấy vừa là một bất hạnh vừa là một diễm phúc. Rõ ràng là trên đời chẳng có cái gì không có ít nhất hai mặt của nó, chỉ có điều, sức mạnh và tầm vóc của một nền văn hoá biểu hiện ra ở chính cái chỗ nó vận động như thế nào trong sự phức tạp đa chiều đó. Nó có đủ khả năng khống chế sự bất hạnh và khuyếch trương cái diễm phúc kia lên không, hay là ngược lại. Hay là nó chẳng có một chủ trương chiến lược nào cả, cứ tiện lúc nào sướng cái hay của Tây của Tầu thì khen lấy được, học lấy được, lúc nào cáu lên thì vứt hết, dẹp hết, quay về trâu ta ăn cỏ đồng ta. Và tôi ngờ rằng sự tuỳ tiện này chính là cách ứng xử của chúng ta. Người ta có thể cho sự tuỳ tiện này một cái tên quan trọng hơn, "sự linh hoạt" chẳng hạn. Nhưng tên có hay như thế nào cũng không thể kéo cái hiện thực dở đi theo được.


Kẻ bị buộc phải đi học trong tình thế lưỡng phân mà lại tùy tiện như vậy thì đến hệ quả gì? Một trong những hệ quả là: hắn không bao giờ học cho hết chữ của thầy. Mới học được nửa trang, mới đọc được nửa trang, học đến nửa quyển sách thì cái phanh của lòng yêu nước, lòng căm thù ngoại xâm - tất nhiên đấy là một tình cảm rất chính đáng- đã chặn đứng tất cả lại và hắn nhất quyết quay ra với khẩu hiệu "tự lực cánh sinh", hoặc phương châm "sáng tạo, ứng dụng vào hoàn cảnh Việt Nam". Nghiên cứu đối phương chẳng hạn, khi người ta có một kẻ thù thì nghiên cứu kẻ thù để chiến thắng nó là một động cơ đáng kể để học hỏi nền văn minh của kẻ thù. Chỉ có điều tôi có cảm giác rằng sự nghiên cứu của chúng ta chỉ dừng lại ở cái mức tin tức tình báo, đại loại như cái thông tin rằng quân Nguyên Mông không thạo đường thuỷ, hay đại quân hậu cần của giặc hiện đang tắc ở đoạn nào. Chắc là cái sự học và sự nghiên cứu của chúng ta nó dừng lại ở chỗ ấy, nó khác hẳn sự nghiên cứu của cả người Tầu, người Pháp, và người Mỹ về chúng ta. Có một thực tế là các học giả Việt Nam ngày nay muốn thực sự nghiên cứu về Việt Nam thì không thể không sang Trung Quốc, Pháp và Mỹ để ngồi đọc tài liệu Việt Nam mà những nước đó đem về giữ trong các thư viện và văn khố của họ. Tôi có một người bạn, hiện nay đang lang thang ở các trường đại học Mỹ để nghiên cứu về Phan Khôi. Một hành trình hết sức vòng vo. Vì sao? Để nghiên cứu về Phan Khôi, anh phải đọc báo Việt Nam của những năm 30. Những báo đó, chúng ta không giữ lại đầy đủ, chúng ta không giữ lại, theo đúng tinh thần của người Việt là thời nào biết chuyện của thời đó, thời nào khoanh lại thời đó, thế hệ nào khoanh lại thế hệ đó, không dính líu gì đến thế hệ sau nữa. Nhưng người Pháp thì khuân những báo đó về Pháp, không phải chỉ khuân một bản mà khuân nhiều bản. Cái bản thừa, bản đúp, thì họ bán lại cho người Mỹ và bây giờ thì Bộ văn hoá Pháp cấp cho một nhà nghiên cứu Việt Nam một khoản tài trợ để nhà nghiên cứu Việt Nam sang Mỹ mua số báo Việt Nam đã được Pháp bán lại cho Mỹ, để nghiên cứu về một nhân vật Việt Nam đầu thế kỷ. Đối với giới sử học Việt Nam, các công trình của cơ quan nghiên cứu Pháp, Viễn Đông Bác Cổ, là một chỗ dựa không thể thay thế nổi. Rõ ràng là thực dân Pháp muốn chinh phục và bám trụ ở Đông Dương và điều đó không có gì để bàn cãi cả. Để làm điều ấy, họ cần hiểu biết về cái xứ sở mà họ muốn chiếm giữ, hiểu biết tường tận về văn hoá, một nền văn hoá xa lạ với họ, chứ không phải chỉ là thu thập những tin tức tình báo. Chắc chắn là hoạt động của Viễn Đông Bác Cổ được Bộ thuộc địa Pháp tài trợ. Các học giả và trí thức Pháp có thể đã là công cụ cho một mục đích không lấy gì làm đẹp đẽ lắm, song bản thân công việc nghiên cứu của họ diễn ra nghiêm túc và thấu đáo. Còn các học giả Việt Nam có thể là công cụ cho một mục đích chính đáng, song kết quả công việc của họ lại tạm bợ và nửa vời.
...Thí dụ rõ rệt cho cái lẫn lộn lung tung giữa chủ động nô lệ và chủ động sáng tạo ta có thể quan sát ở các trí thức Việt khi họ đi ra nước ngoài để học hỏi. Chẳng hạn, khi ra nước ngoài học về khoa học quản lí, là thứ mà chúng ta chưa bao giờ có. Rõ ràng trước khi một nước phương Tây quyết định đầu tư vào một chỗ nào đó ở Việt Nam thì họ đành phải làm cái việc không đừng được là đào tạo, cũng như muốn bán cho ta một cái máy bay thì họ phải làm cái việc là đào tạo hộ một anh phi công, đấy là chuyện họ không đừng được. Như vậy là trí thức Việt cắp cặp đi học khoa học quản lí hiện đại. Chữ thầy được mười thì học trò nghe được một, thôi thế thì cũng là may rồi. Nhưng cái mà tôi thường xuyên chứng kiến ở những người đó là họ sẵn sàng vứt tất cả một phần đó đi, mà bảo rằng: "Úi trời, cái kiểu quản lí này không thích hợp với hoàn cảnh Việt Nam!" Cũng là có lí chứ không phải không có lí, tất nhiên là không ai đi bệ nguyên xi nước ngoài về mà dùng được, nhưng chuyện đó tôi không bàn. Tinh thần sáng tạo thì bao giờ cũng muôn năm cả. Thế nhưng cũng chính những người đó, khi trở về nước, đối mặt với những lề lối quản lí rất Việt Nam, nghĩa là rất cẩu thả, rất tạm bợ, rất mông muội, rất trung cổ, thì lại giương cái sở học của mình trong các chuyến đào tạo ở nước ngoài như vậy ra mà bảo rằng: "Tây nó làm như thế, Tây nó khác, Tây nó phải như thế... Không được thế này, không được thế kia..." Nhưng Tây nó làm như thế nào thì không còn nhớ, thế là lại đi học nữa! Xã hội Việt Nam sinh ra một tầng lớp trí thức không làm điều gì khác hơn là suốt đời đi học như vay. Cứ đến lớp thì chê thầy, cứ về nhà thì lại nhớ thầy, xin cắp cặp theo học lại. Suốt đời đi học như vậy. Như thế thì hỏi làm sao được như người Nhật, tự làm ra chữ viết dùng được cho mình?

...Tôi thực sự chưa hề được chứng kiến một trí thức hoặc văn nghệ sĩ Việt Nam nào có một lòng tự hào và tự tin đáng thuyết phục khi họ đi ra nước ngoài. Tất nhiên trong chuyện này có nhiều bên tham gia. Không thể có kẻ đại diện cho một văn hoá nhược tiểu nếu như không có kẻ đại diện cho một cường quốc văn hoá. Tất nhiên như vậy, nhưng đấy không phải là đề tài của chúng ta hôm nay. Đã mặc cảm như vậy thì không thể không chán nản, mà ỳ ra và ăn sẵn. Dường như trí thức Việt Nam có thể rất yên tâm mà nghĩ rằng: "Không có chúng ta thì thế giới vẫn tiến bộ ầm ầm". Thế thì đợi người ta tiến bộ mà ăn nhờ có phải đỡ mất công hay không? Mà đằng nào, nếu mình làm thì có ra gì mà làm? Thế nhưng ăn sẵn cũng có rất nhiều cách ăn sẵn. Cái cách ăn sẵn của trí thức chúng ta cũng chẳng giống ai, còn chọn chán, còn chê chán, còn chặt miếng ra, miếng nào vừa mồm mình thì mới dùng, vừa khẩu vị mình, dễ cho cái bụng mình tiêu hoá. Tất nhiên điều đó cũng có cái hợp lí của nó, song vì sao không thử xem lại cái miệng mình có nhỏ quá hay không, khẩu vị của mình có cần thay đổi đi hay không, và bụng dạ mình có còn đủ tốt để tiêu hoá cái gì đó hay không?


Đọc bài này mà buồn ghê gớm, vì sự thực là nó như thế :frown:
Bài này rất hay, nếu có điều kiện thì nên theo đường link đọc toàn bài

- Trí thức Việt Nam mong đợi gì ở tân Bộ trưởng GD-ĐT?
http://www20.dantri.com.vn/diendandantri/2006/7/128591.vip

- Trí thức Việt Nam thời toàn cầu hóa: Tư duy, kỳ vọng và trách nhiệm
http://www.saigontimes.com.vn/tbktsg/detail.asp?muc=84&Sobao=837&SoTT=40&sotrang=2
Tác giả: Trần Hữu Dũng
Giáo sư - Đại học Wright State University, Mỹ

Được hiểu như sự dịch chuyển (con người, sản phẩm, thông tin) giữa các quốc gia, thậm chí liên lục địa, ngày càng nhanh chóng, thông thoáng, toàn cầu hóa vừa là một tiến trình kinh tế, vừa là một sự hòa nhập văn hóa. Nó đặt ra nhiều vấn đề mới cho những suy nghĩ về tương quan giữa cá nhân và quốc gia, dân tộc.


Khi luồng trí thức Việt Nam nhập vào đại dương trí thức thế giới thì kiến thức và khả năng của chúng ta cũng sẽ được đánh giá theo những tiêu chuẩn khắt khe hơn, nhất là trong những lĩnh vực mà chúng ta đương nhiên là “chủ nhà”. Có một cái gì “lấn cấn”, chẳng hạn, khi các nghiên cứu về kinh tế hay văn hóa Việt Nam của người nước ngoài lại chi tiết hơn, sâu sắc hơn, các nghiên cứu của học giả Việt Nam.


Nói theo Giáo sư Stefan Collini (2006), người trí thức không bao giờ mất vai trò của họ, chừng nào mà nhân loại còn muốn được hướng dẫn “sống như thế nào”.
Và dường như nhân loại ngày càng có nhiều vần đề cần sự hướng dẫn của trí thức. Thế giới không ngừng bị xâu xé bởi các bất hòa chủng tộc, xung đột tôn giáo, đang đối diện với nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, thay đổi khí hậu... cần những bộ óc lớn chung sức tìm giải pháp. Gần gũi hơn với đời sống hàng ngày là sự ô nhiễm và phàm tục hóa văn hóa do chính làn sóng toàn cầu hóa thương mại và truyền thông. Người trí thức phải mạnh dạn hướng dẫn và gạn lọc (qua thuyết phục) các trào lưu văn hóa đại chúng. Song, cần nhấn mạnh, sự “hướng dẫn” này phải được vạch ra từ góc nhìn toàn cầu của chính người trí thức. Nó phải xuất phát từ một trình độ lý luận cao, đượm tính nhân bản, tôn trọng dị biệt. Nó không thể là một “phản xạ” có tính giáo điều, hoặc mù quáng bảo lưu những tư duy lỗi thời, không còn thích hợp với thế giới mới.


Song, người trí thức phải thực tế, sáng suốt chấp nhận vai trò của mình trong một thế giới không ngừng thay đổi. Thực vậy, với toàn cầu hóa, sinh hoạt kinh tế, khoa học, công nghệ càng nhộn nhịp, tinh thần thực dụng càng được tôn sùng, thì người trí thức “chuyên nghiệp” sẽ phải chia sân với các nhà quản lý, các nhà khoa học, các doanh nhân, những nhà hoạt động xã hội... Như bất cứ trí thức nơi nào khác, trí thức Việt Nam cần ý thức vai trò của mình trong cộng đồng dân tộc (và nhân loại) với tinh thần trách nhiệm, nhưng khiêm cung, hòa nhã.


Bài này rất hay, nếu có điều kiện thì nên theo đường link đọc toàn bài

- TRÍ THỨC VIỆT NAM
http://blog.360.yahoo.com/blog-K6TLJ24zcqhffSFJs_Y.?p=4

- Trí thức Việt Nam quá nhẹ dạ?

Phàm đã là người trí thức, người ta buộc phải biết một quy tắc của người trí thức là "chớ vội tin những gì người khác nói", thậm chí, như lời Phật dạy "chớ vội tin những gì mắt ta nhìn thấy". Cho nên, một trí thức, trước khi tin vào bất kỳ điều gì, buộc phải tự mình tìm hiểu, từ nhiều nguồn thông tin khác nhau, dựa trên những cứ liệu cụ thể, đối chiếu, kiểm chứng, phối kiểm... trước khi đi đến kết luận của mình


- Trí thức việt nam "dương vật buồn thiu"
http://www.nhanvan.com/magazines/hopluu/61/trithucvietnam_dominhtuan.htm
Tác giả: Đỗ Minh Tuấn

Cái cảm hứng chán chường bất mãn với "dương vật buồn thiu" của trí thức Việt Nam là hoàn toàn có cơ sở trong hiện thực cuộc sống hôm nay. Những nước văn minh người ta còn tìm cách tổ chức các Hội nghị Khoa học quốc tế, cử các nữ chiến sĩ sexy-girl ăn nằm với những nhà bác học được giải Nobel để lấy tinh trùng đưa vào ngân hàng tinh trùng quốc gia, ngõ hầu phát triển trí tuệ giống nòi bằng các kỹ thuật cấy ghép công phu. Vậy mà những người trí thức Việt Nam luôn ở tình trạng "dương vật buồn thiu", báo động đỏ về sex. Thiếu chất, thiếu ngủ, thiếu chỗ làm tình cho tử tế, bất an, căng thẳng vì họp hành đấu đá, rồi đạo lý Khổng Mạnh lườm nguýt cấm đoán, biến con người thành đạo đức giả, dâm vặt, dâm bằng văn bằng thơ. Bao nhiêu đòn kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng giáng vào dương vật người trí thức, khiến cho nó "buồn thiu". Người ta có ảo tưởng đó là đạo đức, nhưng thực ra là những bộ óc quý giá nhất của người Việt cũng vì cái buồn thiu đó mà lụi tàn đi, không tiếp tục sản sinh duy trì nòi giống. Một cảnh báo về chất lượng sống của người trí thức, về sự tái sinh trí tuệ của giống nòi. Thật là những thông điệp đầy nhân văn và trách nhịêm!


:D, Nên đọc

- Trí thức Việt Nam - sao chưa mạnh?
http://www.x-cafevn.org/forum/archive/index.php/t-4665.html
Diễn đàn

- NỖI NIỀM TRÍ THỨC VIỆT NAM
http://saigontimesusa.com/bai/vanchuong/noiniemtrithuc.shtml
Tác giả: LÊ VIỆT HÒA

Ngày nay người ta hay nói đến “Nền kinh tế tri thức” mà theo quan niệm của mọi người thì đó là một nền kinh tế trong đó mọi sản phẩm sản xuất ra đều mang hàm lượng tri thức cao, một nền kinh tế mà trong đó được điều hành bởi quan chức các cấp được đào tạo bài bản (là những trí thức có thực tài), đáp ứng được đòi hỏi của công việc và biết hoạch định chính sách lâu dài cho đất nước.



- Trí thức kiều bào - một nguồn lực quan trọng cho phát triển
http://viet.vietnamembassy.us/tintuc/story.php?d=20030402172330

Hiện có khoảng 300 nghìn trí thức và người Việt Nam có tay nghề cao đang sống và làm việc ở nước ngoài. Những năm qua, nguồn lực này đã có những đóng góp quan trọng cho phát triển đất nước.



- Giáo sư Hoàng Minh Giám: “Tấm gương sáng cho trí thức Việt Nam”
http://www19.dantri.com.vn/Sukien/phongsu/2007/8/194401.vip

- Sử dụng trí thức Việt kiều để xây dựng giáo dục đại học chất lượng cao tại Việt Nam: Một đề án
http://vietsciences.free.fr/vongtaylon/giaoduc/dean-daihocchatluongcaotaiVN.htm

- Đại hội của các trí thức Việt Nam
http://www.baokhanhhoa.com.vn/Tintuc-Sukien/2004/12/50501/

- Hội "trí thức" phải được ngang hàng với Hội "công - nông"

"Nếu đã là hội, thì tất cả các đoàn thể hiện nay từ thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh... cũng là hội. Thế thì các hội phải bình đẳng nhau". GS. Viện sỹ Vũ Tuyên Hoàng, Chủ tịch Hội liên hiệp các hội khoa học - kỹ thuật Việt Nam nói.



- Chuyện về "cha đẻ" chiếc máy kéo đầu tiên ở Việt Nam
http://www.kinhtenongthon.com.vn/printContent.aspx?ID=6032

Ông và nhiều trí thức khác đã từ bỏ cuộc sống sung sướng ở các nước giàu có và cả những gì thân yêu nhất của mình để về nước tham gia kháng chiến. Những người không có tình yêu quê hương, tình yêu Tổ quốc nồng nàn sẽ không bao giờ hiểu được hành động của họ.



- THAM LUẬN CỦA TRÍ THỨC VIỆT KIỀU TẠI "HỘI NGHỊ THÀNH LẬP CLB KHKT NGƯỜI VN Ở NƯỚC NGOÀI"
http://www.vietducinfo.com/vietducinfo/show_article.php?id=10674

- NGƯỜI TRÍ THỨC VÀ ĐẠO PHẬT
http://www.thuvienhoasen.org/tnh-nguoitrithucvadaophat.htm

- Những trí thức nặng tình với quê hương
http://www2.thanhnien.com.vn/Kieubao/2007/2/10/181454.tno

- Tư tưởng Hồ Chí Minh
http://www.nvhtn.org.vn/banin.php?id=42&PHPSESSID=77265105af587caa15ec4dea6e47e37f

- Trí thức là vốn quý báu của dân tộc... - .
http://news.thegioiblog.com/print?id=1675

- Library: Trí thức, Tri thức (Viện Xã hội học)
http://www.ios.ac.vn/index.php?option=com_booklibrary&task=showCategory&catid=441&Itemid=84

- Vài Ý Kiến Về Vấn Đề: XÂY DỰNG ĐẠI HỌC VIỆT NAM
http://aihuuvanhanh.net/Baivo/Vandedaihoc.htm
Tác giả: Tôn Thất Thiện

Xây dựng Đại Học là một điều căn bản trong các kế hoạch phát triển nhằm hiện đại hóa nước Việt Nam và xã hội Việt Nam . Nó thuộc về loại xây đắp hạ tầng cơ sở (infrastructures) để tạo điều kiện cho công cuộc hiện đại hoá, vềà chiều sâu và chiều dài. Nó cần được chuẩn bị thật chu đáo để đạt hưu hiệu tối đa, tiếp tục áp dụng được lâu dài mà vẫn thích hợp với hiện đại. Như vậy, cần tránh sơ ý trong giai đoạn thiết kế.


- Vai trò của nhân sĩ trí thức trong quá trình xây dựng Hiến pháp năm 1946
http://www.acomm.com.vn:1082/vi-VN/Home/nghiencuu_traodoi_thaoluan/2007/04/3169.aspx

December 2009
M T W T F S S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31