Skip navigation

Lost password? | Help

Nghĩa Lâm

Đôi lúc, cái mà nguời ta có được từ công việc của mình không phải là tiền bạc mà là những bài học quý báu - C. Black

October 2007

( Monthly archive )

Chào buổi sáng báo thanh niên tuần qua

ADSL của VNPT và FPT không đạt tiêu chuẩn chất lượng!

Chiều 19.10, Cục Quản lý chất lượng bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin (BCVT và CNTT) thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông đã chính thức công bố kết quả kiểm tra đột xuất chất lượng dịch vụ truy cập internet ADSL từ 30.7-1.8.2007 trên địa bàn Hà Nội của 3 nhà cung cấp: Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam (VNPT), Tổng công ty Viễn thông Quân đội (Viettel), Công ty cổ phần viễn thông FPT.
Kết quả kiểm tra chỉ tiêu tốc độ tải dữ liệu trung bình hướng xuống của gói cước Easy (512/256kb/s) của VNPT cung cấp cho thấy: tốc độ tải dữ liệu trung bình nội mạng là 67,7% so với tốc độ tối đa cam kết, trong khi tiêu chuẩn ngành là ³ 80%. Tốc độ tải dữ liệu trung bình ngoại mạng thì đạt tiêu chuẩn ngành với kết quả đo kiểm đạt 61,7% tốc độ tối đa cam kết (tiêu chuẩn ngành là ³ 60%). Kết quả đo của FPT gói MegaStyle (1536/512kb/s) cho thấy: tốc độ tải dữ liệu trung bình ngoại mạng chỉ đạt 28,4% trong khi tiêu chuẩn ngành là ³ 60%; tốc độ tải dữ liệu trung bình nội mạng thì đạt yêu cầu 98,7%; tiêu chuẩn ngành là ³ 80%. Trong số 3 nhà cung cấp, Viettel là đơn vị duy nhất vượt chuẩn, thậm chí vượt cả tốc độ tối đa cam kết với khách hàng, với tốc độ tải dữ liệu trung bình nội mạng là 109,9% so với tốc độ tối đa cam kết; tốc độ tải dữ liệu trung bình ngoại mạng cũng đạt tới 100,5% so với tốc độ tối đa cam kết.

Trao đổi với báo chí ngày 19.10, ông Nguyễn Đức Trung - Phó cục trưởng Cục Quản lý chất lượng BCVT và CNTT cho biết, việc Viettel đạt tiêu chuẩn về chất lượng dịch vụ ADSL trong lần kiểm tra này không có nghĩa là chất lượng của Viettel nói chung tốt hơn so với VNPT và FPT. Kết quả kiểm tra chỉ có ý nghĩa là Viettel đạt tiêu chuẩn về chất lượng ở Hà Nội tại thời điểm diễn ra đo kiểm. Ông Trung nói, các nhà cung cấp như FPT và VNPT có nói là tiêu chuẩn đặt ra là cao và khó có thể thực hiện được nhưng rõ ràng là có đơn vị đã thực hiện được tại thời điểm kiểm tra. Ông Trung nói: "Đây là những tiêu chuẩn của ngành và tất cả các nhà cung cấp dịch vụ phải tuân thủ các tiêu chuẩn đó để phục vụ khách hàng. Những đơn vị không đáp ứng được các tiêu chuẩn sẽ bị phạt tiền".


Phạt, phạt, phạt phạt phạt mạnh vào, mạng chậm như con vịt, lỗi thường xuyên. PHẠT, để lần sau chậm hơn :D

Cảnh báo về cơn sốt bất động sản lần thứ ba

Giá bất động sản đã qua hai cơn sốt. Lần thứ nhất vào năm 1993-1994. Lần thứ hai vào năm 2001-2002. Sau một thời gian dài “đóng băng”, trong năm nay, thị trường bất động sản có vài dấu hiệu “lên cơn”.


Một, tác động của thị trường chứng khoán. Chỉ số giá chứng khoán sau khi từ mức đáy 883,9 điểm vào ngày 6.8 đã phi mã lên trên 1.100 điểm vào ngày 3.10, sau đó diễn biến theo hình “răng cưa” để xuống dưới 1.100 điểm từ ngày 18.10; các nhà đầu tư nước ngoài đã đẩy mạnh bán ra, giảm lượng mua vào, nhiều quỹ đầu tư đã đạt lợi nhuận cao trong hơn một tháng qua, trong khi đó đối với một số mã chứng khoán hoặc là đã hết “room”, hoặc là đã không còn khả năng tăng giá, nhiều quỹ nằm phục dành vốn để chờ các đợt IPO của các đại gia, đồng thời đang có ý định chuyển dòng vốn đầu tư sang thị trường bất động sản.

Hai, nhu cầu về bất động sản, nhất là nhu cầu về nhà ở của dân cư tăng cao. Một năm, dân số Việt Nam tăng khoảng 1,1 triệu người; tạm tính mỗi người bình quân khoảng 9-10 m2 thì nhu cầu diện tích đất ở cũng lên đến hàng chục triệu mét vuông, trong khi mỗi năm mới tạo ra được trên một nửa. Nhu cầu còn tăng “kép”, bởi thu nhập của một bộ phận dân cư cao lên nhanh chóng.

Ba, chính sách về mua nhà cho Việt kiều, cho người nước ngoài đang có triển vọng thông thoáng hơn, cũng tạo ra cho các nhà đầu tư, đầu cơ “ôm lõng” cơ hội này.


Phía sau những bản báo cáo "đẹp"

Trong kế toán, lời lỗ ngắn hạn trong nhiều trường hợp là thuộc về kỹ thuật (tức phương pháp tính). Dù đã cổ phần hóa, vẫn không loại trừ chuyện công ty thiết lập hai hệ thống sổ sách, một công khai, một bí mật. Có không ít báo cáo tài chính được lập ra chỉ chủ yếu để đối phó với thuế và làm hài lòng cổ đông. "Làm xiếc" với các con số không phải là không thể. Chỉ một nhóm lãnh đạo công ty và cổ đông lớn biết được thực chất. Đa số cổ đông nhỏ không có cơ hội tiếp cận với sự xác thực của các con số


Nghịch lý sẽ kéo dài đến khi nào tham nhũng vẫn còn hoành hành
Luật pháp không nghiêm minh
Con người vẫn còn ngốc nghếch :D :D

Nhà vệ sinh cho học sinh, chuyện cũng cần bàn ở Quốc hội

Chuyện nhà vệ sinh trong trường học, từ trường mầm non tới phổ thông, mới nghe có vẻ như là “chuyện nhỏ”, nhưng ngẫm nghĩ kỹ lại không hề là chuyện nhỏ. Do thiếu nhà vệ sinh tại trường, hoặc nhà vệ sinh quá mất vệ sinh, hàng năm học sẽ có bao nhiêu học sinh, nhất là học sinh nhỏ tuổi của chúng ta cứ phải nín nhịn suốt thời gian học, không biết tìm nơi đâu để “giải quyết đầu ra” cho mình.


Tăng học phí xây nhà vệ sinh
Ngài Nguyễn Thiện Nhân lại thêm một cớ nữa để tăng học phí :D :lol:
Ngày xưa mình đi học khó chịu là chạy ra đồng để ... giải quyết, mấy thằng rủ nhau vừa làm vừa nói chuyện, mát mẻ vô cùng, sảng khoái vô biên mà cây cối lại tốt tươi nữa chứ.
Bây giờ tội các em thật, không chịu nổi thì vào nhà nghỉ các em. Chắc Vàng anh không có nhà vệ sinh nên mới trở nên hư đốn như vậy :lol: :lol:

Chuyện từ trái bưởi

Bưởi là món tráng miệng tôi luôn chọn khi đi ăn nhà hàng. Hôm nọ đi siêu thị ở Singapore, lướt qua mấy dãy hàng trái cây, tự nhiên tôi dừng lại ở góc hàng bưởi. Bưởi Trung Quốc, 2 SGD (đô la Singapore), tương đương với gần 22.000 đồng một trái.
Không quá đắt. Nhìn trái bưởi là… mê ngay: to, hình nón căng mọng, ươm vàng, lại được bọc một lớp giấy kiếng màu cam không gợn một nếp nhăn, bên ngoài phủ một túi lưới vừa vặn có tay xách bằng dây ruy-băng tráng kẽm. Nằm bên cạnh là những trái bưởi từ Thái Lan, méo mó, vỏ xanh đậm, không bao bì, trái nhỏ, trông xấu xí, giá lại đến 2,44 SGD. Như thế, có nhắm mắt cũng biết bưởi Thái ngon, chất lượng hơn


Nếu chưa, bạn hãy đọc bài này, buồn không chịu được! :frown:

Cú đúp của một giải đấu

Cú đúp của tiền đạo Đình Hiệp trong trận U.21 VN gặp U.21 Myanmar có thể coi như một biểu tượng đẹp, một cú đúp của giải đấu quốc tế này. Bàn thứ nhất: lần đầu tiên, một tờ báo đã đứng ra tổ chức một giải bóng đá U.21 quốc tế, tổ chức một cách chu đáo, tạo được sức thu hút lớn. Bàn thứ 2: những cầu thủ xuất sắc nhất của giải đấu U.21 Báo Thanh Niên lại có dịp kề vai sát cánh nhau trong một đội hình, và đó sẽ là những cầu thủ mà đội tuyển quốc gia VN có thể nhìn vào và tuyển chọn


Sốt giá nhà đất, ai lợi?

Thực tế ngay tại hiện trường vụ mua bán căn hộ The Vista, chúng tôi thấy đằng sau sự giành giật, ẩu đả lẫn nhau giữa những người được thuê giữ chỗ cả ngày lẫn đêm để mua cho được suất căn hộ đều có bóng dáng của giới đầu cơ. Cơ hội để những người có tiền - mà phải là thật nhiều tiền - làm ăn từ những phi vụ buôn bán địa ốc như thế này là phải nhanh tay chớp lấy một vài căn hộ để chờ giá lên bán kiếm lời. Chỉ trong vòng hơn 4 tháng, kể từ khi chủ đầu tư The Vista bán đợt 1 (vào ngày 7.6.2007) cho đến ngày 19.10 vừa qua, giá căn hộ do chủ đầu tư bán ra đã được nâng từ 1.600 USD/m2 lên đến 2.500 -3.100 USD/m2 là sự minh chứng cho cách làm ăn mang tính "cơ hội" của cả chủ đầu tư lẫn giới đầu cơ.


Bao giờ tôi có nhà, Vô sản sống trong xã hội vô sản như tôi mà vẫn vô sản :D

Lang Băm đầu cơ
Nghe tin anh Băm chuẩn bị xây "chung cư quốc tế", Là vội chạy đến đặt cọc:
- Anh cho em ứng trước 200 USD cho một căn hộ cao cấp nhé, chỗ anh em mà! Nhưng anh tính xây chung cư quốc tế ở đâu ?

- Thì xây ngay tại… nhà anh đây này! Nhà anh diện tích 4x50m, xây tốt chán!
- Anh tính xây chung cư… siêu mỏng sao ?
- Ối giời! 4 mét chiều sâu mà mỏng sao chú em ? Chú đã tham quan "con phố 1 tỉ USD" ở Hà Nội chưa ? Mỏng thế mới là mỏng, nhưng "mỏng mày hay hạt" đấy chú em ạ!
- Anh định đặt tên cho chung cư này là gì ?
- À, người ta đã có chung cư "Vít-Ta", anh Băm đây hiện đại hơn, nên chung cư quốc tế của anh là "Vít-Tây". Vít Tây bao giờ chả tốt hơn vít ta hả em!
- Anh dự tính bán thế nào?
- Anh sẽ la toáng lên cho cò tới làm giá. Hay em làm cò cho anh đi! Bảo đảm em bỏ túi 50 nghìn con đô khỏe re!

U.21 Quốc tế Báo Thanh Niên: Việt Nam - Singapore (3-0)

Sân trơn bóng ướt là một nguyên nhân khá quan trọng khiến lối chơi của U21 VN trong hiệp 1 thiếu thuyết phục. Dĩ nhiên, U21 Singapore cũng chịu bất lợi này, nhưng cách khắc phục của họ lại rất chậm. Đó có lẽ vì U21 Singapore là đội bóng “nhà trường”-những cầu thủ rất trẻ của Học viện bóng đá Singapore.


Dịch vụ kém chất lượng lại đoạt Cúp vàng

Ngay sau khi Cục Quản lý chất lượng bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin (BCVT và CNTT) công bố kết quả đo kiểm chất lượng mạng viễn thông, dịch vụ E-Com của EVN Telecom, những người sử dụng dịch vụ này đều giật mình.

Theo thông tin mà Thanh Niên nhận được từ nhiều thành viên đã có nhiều năm tham gia Tuần lễ tin học Việt Nam, giải Cúp vàng CNTT-TT do Hội Tin học Việt Nam thực chất không phải là một giải thưởng có chất lượng tốt. Lãnh đạo của một mạng viễn thông lớn cũng từng tham gia Tuần lễ tin học Việt Nam những năm trước cho biết: "Mặc dù việc đánh giá các dịch vụ, sản phẩm được giải Cúp vàng CNTT - TT không được chuẩn tắc cho lắm nhưng cũng chưa từng xảy ra hiện tượng như đối với dịch vụ E-Com của EVN Telecom. Một dịch vụ vừa được Cục Quản lý chất lượng BCVT và CNTT công bố là không đạt chất lượng tiêu chuẩn ngành trên 2 tiêu chí, thậm chí còn rất kém so với tiêu chuẩn ngành thì vài hôm sau lại được Hội Tin học Việt Nam công bố là dịch vụ mạng xuất sắc nhất thì là điều không thể chấp nhận được. Kết quả chấm giải chắc chắn là có vấn đề".


:lol: :lol: với kiểu trao giải ở Vn thì giải nào chả có vấn đề
Chắc vài năm nữa công ty nào cũng sẽ có vài cái cúp :D

Chiến thắng trọn vẹn

Người hâm mộ bóng đá Việt Nam hẳn đã rất hài lòng, rất tự hào khi những cầu thủ U.21 của mình đã đi trọn con đường trong giải quốc tế U.21 Báo Thanh Niên khi thắng đủ 3 trận, giữ nguyên mành lưới nhà và ghi được 6 bàn thắng.


Vẫn không ra khỏi được khu vực Đồng Nam Á đâu, đừng mừng vội :frown:

PHỤ NỮ VIỆT NAM XƯA VÀ NAY - Chuyên đề nhân ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10

Trước tiên, Nhân ngày 20/10 Tôi chúc các chị, các mẹ, các em:
Luôn Xinh tươi - Hạnh phúc, Tràn trề sức khỏe để hoàn thành việc nước đảm đương việc nhà.



Nhân ngày mai 20/10 - ngày phụ nữ Việt Nam, Tôi tổng hợp chuyên đề này mong được đọc, được suy ngẫm nhiều hơn về các giá trị xã hội của người Phụ nữ trong suốt tiến trình lịch sử. Một mặt nhằm mục đích giúp các chị em phụ nữ ngẫm nghĩ về mình. Mặt khác giúp tôi, một con người chậm thay đổi so với sự thay đổi của đất nước và của chị em cần nhìn lại chính mình để có những thay đổi cần thiết cho kịp với chị em, kịp với sự thay đổi của thời đại (để còn lấy được vợ nữa chứ).

Ngoài ra một số điều xẩy ra gần đây đã đặt ra trong tôi nhiều câu hỏi mà chưa biết trả lời thế nào:

- Trong thời kỳ Phong kiến, người phụ nữ vừa bị kìm giữ trong lễ giáo phong kiến với những chuẩn mực đánh giá hết sức khắt khe: Công - Dung - Ngôn - Hạnh. Tuy nhiên đó cũng chính là phẩm giá của người phụ nữ mà không phải ai cũng đạt được, chỉ cần nghĩ đến nó thôi và hiểu nó thôi thì cũng đã là tuyệt vời lắm rồi. Nó cũng chính là thước đo của người Phụ nữ, là một thước đo tồn tại hàng nghìn năm nay và xem ra rất chuẩn. Ngày nay chị em nghĩ gì về những giá trị đó?, có lẽ nhiều người bĩu môi - Ông này cổ điển.

- Những cuộc thi hoa hậu gần đây cứ đặt ra trong tôi câu hỏi, không biết người phụ nữ Việt Nam hiện đại lấy chuẩn mực nào để thể hiện mình?, cũng như lấy chuẩn mực nào để đánh giá mình?. Một người bạn hỏi tôi, Mi thấy em này thế nào? Thú thật tôi không biết nên trả lời như thế nào cả. Có lẽ em này chân dài - Đẹp, hay trông em này được đấy - Rất sành điệu, hay...

- Trong thời kỳ thay đổi ngày nay, đọc báo cứ thấy những cái tít: @ sống thử, @ lắc, @ sành điệu... mà một chuyện gần đây làm tôi hết sức đau lòng về quan điểm sống cũng như lối sống sa đọa của người đóng nhân vật Vàng Anh (VA). Cho thấy sự xuống cấp trong lối sống và văn hóa của người Việt. Cũng như sự sa đọa của những người trẻ tuổi trong đó có tôi.

- Quản lý của nhà nước cũng cho thấy sự lạc hậu, chậm chạp thậm chí trong nhiều trường hợp bất lực mà điển hình là những tuyên bố về quản lý blog... Mặt khác sự bất lực này cũng thể hiện trong việc đưa một số tin và làm một số chương trình của các phương tiện thông tin đại chúng quốc gia trong vụ việc Vàng Anh xẩy ra trong những ngày gần đây gây rất nhiều phản ứng trong xã hội. Tôi đã nhận được không biết bao nhiêu tin nhắn, ví dụ như: "Cần phải đổi lại một chi tiết ở truyện Tấm cám, Tấm chết không biến thành Vàng Anh nữa mà biến thành Vành khuyên, như thế mới giải thích được cho các em nhỏ". Hay, "ĐTHVN không tập trung cho những việc quan trong của đất nước lại làm một chương trình chia tay một con người sa đọa để câu khách nhằm quảng cáo"... Câu hỏi đặt ra là, Ai thì được đài truyền hình Việt Nam làm cho một chương trình riêng?...

- Giá trị của người phụ nữ Việt Nam như bị giảm sút, điển hình là các cuộc lựa chọn cô dâu lấy chồng ngoại. Người phụ nữ Việt Nam trở nên như một món hàng, khi người ta mua rồi thì có thể đối xử một cách tàn nhẫn như một sinh vật - Nô lệ tình dục, bị đánh đập dã man, bị bỏ đói, phải trốn nhà, bị đưa lên ti vi rao bán ... :cry: . Tất cả những câu chuyện này làm cho tôi nhớ lại thời buôn bán nô lệ, thậm chí còn tồi tệ hơn thời nô lệ

Theo dõi sự thay đổi của nhiều nước, ví như các nước phương Tây, Mỹ, Nhật Bản... những thâp niên 60, 70 ở họ có những chuyển đổi về quan điểm, ví dụ: sống thử trước hôn nhân... Những bây giờ họ đã khác, họ đang cố gắng tìm về những giá trị cổ điển, bền vững hơn. Phải chăng Việt Nam chúng ta trong giai đoạn này và phải bước qua chặng đường đó, mà 8x, 9x, rồi 10x sẽ phải gánh chịu, Nếu thế thì tôi cũng phải nằm trong vòng xoay này rồi :frown: . Bài học lịch sử của các nước còn đó, chúng ta nên làm sao để không phải gánh chịu hậu quả nghiêm trọng.

Phải chăng tôi cổ điển quá chậm tiến so với thời đại. Thật lòng mà nói, tranh luận về vấn đề này mãi mãi cũng không xong. Thôi, đọc qua một số bài báo xem mọi người nghĩ gì nào.

1. PHỤ NỮ VIỆT NAM XƯA VÀ NAY

ở Việt Nam, cũng như trong toàn thế giới chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, người ta rất coi trọng “truyền thống lịch sử”, trong đó có”truyền thống phụ nữ” và “người phụ nữ truyền thống”. Từ khi mở cửa và bước đầu hội nhập thế giới hiện đại, người ta vẫn quan tâm, hay đúng ra lại càng quan tâm hơn đến truyền thống phụ nữ. Ngày Quốc tế Phụ nữ Tám tháng Ba được kỷ niệm cùng với Lễ Hai Bà Trưng ngày Sáu tháng Hai âm lịch. Nhân ngày này, Hội Liên hiệp Phụ nữ trung ương cũng như địa phương thường nhắc “truyền thống phụ nữ Việt Nam” để cổ động “Vì sự tiến bộ của phụ nữ” mà không cảm thấy mâu thuẫn chút nào. Thế nhưng, bất cứ ai quan tâm đến quyền lợi giới đều có thể nhắc chúng ta quả thật lạ lùng nếu, giữa “bảo tồn truyền thống” và “đấu tranh vì tiến bộ”, mục tiêu và vấn đề cần chú ý lại hoàn toàn thống nhất với nhau; huống nữa khi cuộc vận động tiến bộ cho phụ nữ diễn ra trong một xã hội thấm nhuần đạo lý Nho giáo tự lâu đời.


Truyền thống quý trọng và tôn vinh phụ nữ?

Có nhiều nguyên nhân lịch sử và văn hóa giải thích vai trò quan trọng của người phụ nữ trong xã hội Việt Nam truyền thống. Văn minh Đông Nam Á bản địa trước khi tiếp thu ảnh hưởng văn hóa Ấn-Hoa vốn có đặc trưng là văn minh nông nghiệp độc canh cây lúa, đặc biệt là lúa nước, giống cây đòi hỏi nhiều công sức lao động thủ công đến nỗi thành viên nữ khó bị gạt ra ngoài lề sản xuất. Đông Nam Á cũng có chế độ mẫu hệ phổ biến và dai dẳng; có nhiều nữ thần đến mức nữ hóa một số Phật và Bồ tát nam, mà trường hợp điển hình nhất là Phật bà Quan âm biến thái từ Quan (cũng đọc Quán) thế âm Bồ tát. Những yếu tố cổ đại này đến nay vẫn là thực tế xã hội, bảo đảm tính bền vững của truyền thống.


Anh hùng, bất khuất, không chỉ trong đấu tranh vũ trang; trung hậu, đảm đang, không chỉ trong cuộc sống gia đình; người phụ nữ Việt Nam đã khẳng định mình trong nhiều lãnh vực và hình như cũng được thừa nhận một cách đáng kể, khác biệt khá rõ so với láng giềng Á Đông như Trung quốc, Triều Tiên, Nhật Bản.


“Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng”, người cha nông dân nhìn nhận. Anh trai làng bức xúc: “Trăng lên đỉnh núi trăng tà, Em còn ở đó làm giàu cho cha?” Người vợ tự tin: “Một mai thiếp có xa chàng, Đôi bông thiếp trả đôi vàng thiếp xin” (đôi bông là sính lễ, đôi vàng là do “của chồng công vợ” mà sắm được). Người mẹ lo thầm thương trẻ cút côi, hay láng giềng so đo nhận xét: “Mồ côi cha ăn cơm với cá, mồ côi mẹ liếm lá đầu đường.” Chế độ phụ quyền Nho giáo thiết lập nam tôn nữ ti từ luật pháp, lệ làng đến luân thường đạo lý. Nhưng tôn ti chính thống không hoàn toàn triệt tiêu thực tế ăn sâu từ cội nguồn gia đình, làng xã. Người phụ nữ Việt Nam tham gia lao động sản xuất làm ra của cải vật chất và thường là nguồn yêu thương chăm sóc chồng con, đỡ đần cha già mẹ yếu, là chỗ dựa cho gia đình về nhiều phương diện. Đảm đang, tần tảo là từ Hán Việt, có thể ngược về từ nguyên từ cổ đại Trung Hoa; nhưng mẹ hiền vợ đảm thì ai cũng hiểu là những người phụ nữ Việt lặn lội thân cò, chịu thương chịu khó, thức khuya dậy sớm, cùng lúc làm nhiều việc mà việc nào cũng chu tất, vẹn toàn, là người giỏi giang, hiệu quả mà thầm lặng hy sinh. Vô số ca dao hát về tình yêu đôi lứa trong đó phụ nữ là đối tượng yêu thương, mong nhớ, khát khao, cả giận hờn, oán trách hay thương cảm, xót xa. Cũng rất nhiều bài nói lên sự quý trọng đối với công lao “gánh vác giang sơn nhà chồng”, lòng biết ơn và tình cảm sâu sắc, thiết tha của con gái, con trai đối với công cha nghĩa mẹ. Người yêu, người vợ, người mẹ, nói chung là người phụ nữ được yêu thương chiếm vị trí rất lớn trong ca dao và trong tâm hồn người Việt.


Như vậy phải chăng truyền thống là hoàn toàn tốt đẹp, chỉ cần vun đắp, bảo tồn?

Người ta được phép nghi ngờ khi rất nhiều ca dao nói về những mối tình dang dở vì “lòng bác mẹ như rương khóa rồi”, vì “cha mẹ tham giàu ép uổng duyên con”, vì “xấu người mai chước, lỡ chừng đôi ta”, hay vì đường xa cách trở, vì phụ bạc, lỡ làng; biết bao lời than thở, hờn duyên trách phận vì tảo hôn, vì đa thê, vì hôn nhân không cân xứng; biết bao cơ cực nhọc nhằn từ bé gái đến đời mẹ, đời bà, bao cay đắng của phận làm vợ, làm dâu, của nghèo khổ, thất học và và đói rách…


Phụ nữ Việt Nam thời hiện đại, chuyển biến trong nhận thức về giới?

Nhưng phụ nữ thời nay còn là tác nhân của hiện tại và tương lai, là người tham dự vào thực tiễn xã hội đang thay đổi nhanh chóng cùng thời đại. Một trong những thành tựu của cách mạng và kháng chiến là khẳng định năng lực và phẩm chất của phụ nữ trong mọi lãnh vực hoạt động, kể cả những lãnh vực “phi truyền thống” nhất. Không phải đã hết những định kiến, nghi ngại, thậm chí là kỳ thị; song nhìn toàn cục, người quan sát trong và ngoài nước dễ thống nhất nhận xét phụ nữ Việt Nam, cả về số lượng và chất lượng đóng góp, có vẻ gìn giữ và phát huy được vai trò của mình trong nhiều mặt sinh hoạt, cả trong gia đình và cộng đồng rộng lớn hơn, trong học tập, hoạt động nghề nghiệp hay hoạt động chính trị, xã hội. Truyền thống dân tộc và truyền thống cách mạng có phần đi cùng một hướng; việc kỷ niệm cùng lúc truyền thống Hai Bà Trưng và ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 vì thế, không phải là không có cơ sở.

Sức mạnh của truyền thống, kể cả truyền thống tích cực như phân tích ở trên có khi lại có mặt trái là không thôi thúc chúng ta đổi mới, thậm chí không cho phép chúng ta thoát khỏi lối mòn trong nhận thức, tư duy. Người phụ nữ Việt Nam từng trải hàng nghìn năm đảm đang và chịu đựng, hy sinh. “Đảm đang” là từ Hán Việt, mà nghĩa từ nguyên là đảm nhiệm, gánh vác trách nhiệm; khái niệm đó vốn dĩ không có gì quy định nó phải thuộc về “nữ tính”. Nhưng đối với phụ nữ Việt Nam, đó đã là truyền thống ăn sâu; từ cô bé còn ở tuổi ham ngủ ham chơi đến người chị, người vợ, người mẹ, người dì, cô, thím, mợ, cả đến tuổi bà, tuổi cụ, người phụ nữ Việt thấm nhuần giá trị “đảm đang” đến nỗi không ai không ngại ngùng, xấu hổ nếu phải thừa nhận hay bị đánh giá không phải là gái đảm. Vấn đề là hiểu nghĩa từ “đảm đang” như thế nào để tránh xơ cứng và thể hiện quan tâm chia sẻ nhọc nhằn, áp lực với người vợ, người mẹ đảm. Còn “chịu đựng, hy sinh” thì hình như giới nữ trong xã hội phụ quyền Đông Tây kim cổ đều đã được giáo dục đức tính ấy thuộc về “nữ tính”. Đó là chưa nói đến “tam tòng, tứ đức” của Tống Nho mà nhiều người vẫn chưa muốn gột bỏ khỏi “truyền thống dân tộc”; để rồi, tuy “tam tòng” là rất khó bảo vệ thời nay song “tứ đức” vẫn còn không ít người lưu luyến tìm cách đổ rượu mới vào bình cũ. Thật đáng tiếc khi cứ phải dùng bình cũ, trong lúc đã có những tổng kết tuyệt vời như tám chữ vàng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh ban tặng phụ nữ Việt Nam: “anh hùng, bất khuất – theo chúng tôi hiểu, không chỉ trong chiến đấu vũ trang hay đấu tranh cách mạng – trung hậu, đảm đang (thay vì “nhẫn nhục, hy sinh” hay “tòng, tùy” ai đó)!


Truyền thống có thể là quả núi có nguy cơ đè bẹp hiện tại và che khuất tương lai; cũng có thể là suối nguồn nuôi sức sống mãnh liệt của thực tiễn cuộc sống không ngừng đâm chồi nảy lộc. Bài viết này mong góp phần nhỏ làm tươi nguồn cội và khơi dòng hướng đến ngày mai


11/2004 Bùi Trân Phượng - Hiệu trưởng trường CD Bán Công Hoa Sen

2. Hình ảnh người phụ nữ trong ca khúc chống Mỹ cứu nước - TG: Khả Xuân

Chiến tranh đã đi qua nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại trong những ca khúc viết trong kháng chiến chống Mỹ đã đủ sức dựng lại giá trị chân thực của người phụ nữ Việt Nam trong lửa đạn.


Năm 1967, giặc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, Nguyễn Văn Tý đã viết bài Tiễn anh lên đường khắc họa hình ảnh người phụ nữ đồng bằng khi tiễn đưa chồng đi đánh giặc. Bằng chất Chèo, với giai điệu giản dị, lời ca mộc mạc đã khắc họa tâm tư người vợ hậu phương: "Yên tâm vững bước mà đi/ Hỡi người mà em yêu/ Việc nhà việc nước có bao nhiêu em sẽ làm tròn". Và họ đã thật sự làm thay cho chồng: "Anh thấy chưa/ Chúng em học cày rồi/ Này chớ có lo mùa tới/ Đây thiếu những người cuốc bẫm cày sâu".

Cũng như Nguyễn Văn Tý, nhạc sĩ An Chung đã nhìn thấy niềm vui của người phụ nữ với công việc đồng áng trong ca khúc Đường cày đảm đang. Giai điệu rộn ràng, phóng khoáng: "Ở làng quê ta/ Cày bừa giờ gái thay trai/ Từ luống cao đồng trũng ngoài/ Cày khéo tay nổi tiếng thôn Đoài".

Nguyễn Đức Toàn lấy chất liệu dân ca quan họ xây dựng nên một giai điệu rất thoáng nhưng sâu lắng trong bài Khâu áo gởi người chiến sĩ: "Người ơi! Người ơi/Đường kim mũi chỉ vá áo cho anh để mùa đông đỡ rét/Để mùa hạ che mưa…".

Cùng góc nhìn này ở người phụ nữ, Thái Cơ trong Thư ra tiền tuyến có phần cứng rắn hơn, tin tưởng hơn: "Nơi quê nhà yêu mến, sau giờ em trực chiến/ Viết lá thư này gởi tới anh/ Em rộn ràng vui như trên đồng, chim trời chấp chới".

Trong chiến tranh, cứ ngỡ chỉ có âm thanh gào xé của bom đạn, nào ngờ người nhạc sĩ cũng thấy được giây lát bình yên. Phó Đức Phương nhìn thấy một cánh cò, một đồng lúa mênh mông…và Những cô gái quan họ của anh hiện lên lung linh: "Quê hương ta biết bao nhiêu cô gái xinh đẹp đảm đang/ Việc nước, việc nhà vẹn toàn/ Nắng mưa nhọc nhằn vẫn tươi duyên…".

Nét tươi duyên đó, pha chút kiêu hãnh được tìm thấy ở ca khúc Bài ca Hà Nội. Chiến tranh dường như nhường bước cho tâm hồn bay bổng của cô gái Hà Nội: "Ơi cô gái/ Súng trên vai sao vuông đầu mũ/ Em đi về đâu, mà mắt em tươi sáng/Em đi về đâu, mà chân bước hiên ngang/ Những hôm miệt mài trên bãi tập/ Chiến công này hẳn có tay em…".

Giai điệu bài ca mềm dịu bởi được kết cấu từ nhiều luyến láy vang lên tự hào.

Với chất liệu Tây Bắc nhất là từ điệu hát then, Văn Ký đã làm hiện lên người phụ nữ dân tộc duyên dáng nhưng không kém phần vất vả trên mặt trận diệt giặc dốt qua bài Cô giáo Tày cầm đàn lên đỉnh núi: "Cô tìm ai?/ Tìm người yêu đang đứng đợi bên bờ suối chắc?/ Không! Không ! Không !/ Cô đi tìm dạy đàn em nhỏ chưa biết chữ trên đỉnh núi cao …".

Ở miền Nam, trên tuyến đầu chống Mỹ, hình ảnh người phụ nữ hiện lên qua các ca khúc thật sống động. Đó là Bài ca nữ anh hùng miền Nam của Lê Lôi, Tải đạn ra chiến trường của Thanh Anh, Rừng xanh vang tiếng ta lư của Phương Nam…Họ hiện lên thật hiên ngang, bất khuất trước kẻ thù.

Ca khúc viết về chiến tranh nhưng thật uyển chuyển. Nghe hát Cô gái Sài Gòn đi tải đạn của Lư Nhất Vũ, mà cứ muốn hát đi hát lại, bởi giai điệu đẹp, và lời ca duyên dáng quá: "Chim kêu ven rừng/ Suối gọi ta lên đường nặng hai vai/ Hoa mai vàng chen lá ngụy trang".

Phụ nữ đồng bằng rồi phụ nữ đô thị đánh giặc. Phụ nữ Tây Nguyên cũng đánh giặc, chẳng thua kém ai. Hẳn ai cũng nhớ tới bài hát Cô gái vót chông của Hoàng Hiệp vang lên rộn ràng, tươi nhộn. Rồi nhớ đến Bóng cây Kơ-nia của Phan Huỳnh Điểu. Người con gái Tây Nguyên lên rẫy nhớ chồng nơi xa vẫn một lòng chung thủy son sắt với Đảng và Cách mạng. Bài ca thật mộc mạc, chân thành: "Em và mẹ nhớ anh/Uống nước nguồn miền Bắc/ Như bóng cây kơ nia/ Như gió cây kơ nia...".

Có thể nói qua ca khúc viết về phụ nữ trong thời kỳ chống Mỹ, đã hiện lên hình ảnh bất khuất, trung hậu, đảm đang của phụ nữ Việt Nam xưa và nay.

Còn bao nhiêu hình ảnh khác được khắc họa ở Cô gái mở đường của Xuân Giao, ở Chào em cô gái Lam Hồng của Ánh Dương… thể hiện những người phụ nữ của một thời kỳ anh hùng đã qua. Họ đi mở đường vào chiến dịch như đi trẩy hội vậy: "Đi dưới trời khuya sao đêm lấp lánh/ Tiếng hát ai vang động cây rừng/ Phải chăng em cô gái mở đường/ Không nhìn thấy mặt người chỉ nghe tiếng hát…".

Và những lời ca như thế ấy hẳn không ai dễ nguôi quên…


Trong người đàn ông hình ảnh người phụ nữ Việt Nam truyền thống đẹp thế đấy! :smile:

3. Phụ nữ Việt Nam - Những con người xứng đáng được tôn vinh

Vai trò, vị thế của người phụ nữ trong xã hội ngày càng nâng cao và có đóng góp ngày một lớn cho sự phát triển chung trên mọi lĩnh vực. Song, không phải đến bây giờ, giá trị người phụ nữ mới được bộc lộ và tỏa sáng. Nếu nhìn xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc, ngay cả những thời kỳ đen tối của chế độ phong kiến trọng nam khinh nữ, người phụ nữ cả một đời bị buộc ràng bởi biết bao lễ giáo và định kiến khắc nghiệt, họ vẫn là những viên ngọc sáng lấp lánh trong con mắt dân gian.



4. Tứ Đức và Tam Tùng đối với người phụ nữ thời nay

Khi mở đề nói về Tứ Đức và Tam Tùng đối với người phụ nữ thời nay, có một số không ít chị em khoát tay lia lịa cho rằng cái đó là cổ hủ, lỗi thời rồi. Đời tự do dân chủ, Nam Nữ bình quyền, thời khoa học văn minh tiến bộ, Nữ còn giỏi hơn Nam mà đem chuyện Tứ Đức và Tam Tùng cách đây hơn 25 thế kỷ ra bàn luận áp dụng cho phụ nữ có phải là trật đường rầy chăng?



5. Người phụ nữ Việt Nam còn chịu nhiều bất công

Được đi đây đi đó nhiều, tôi nhận thấy rằng người Việt Nam chúng ta còn nhiều quan niệm cổ hủ và quá bất công với phụ nữ. Thứ nhất là quan niệm chuộng con trai “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” vẫn còn phổ biến rộng rãi.


Thứ nhất là quan niệm chuộng con trai “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (một con trai xem như có, còn 10 con gái cũng bằng không) vẫn còn phổ biến rộng rãi. Trong khi trên thực tế một nửa nhân loại và một nửa dân số Việt Nam là phụ nữ. Quan niệm này đã tước đi quyền con người tối thiểu của người phụ nữ. Bản thân tôi sắp lập gia đình và nơm nớp lo sợ là chỉ sinh toàn con gái.

Thứ hai là quan niệm về trinh tiết phụ nữ. Trong khi đàn ông tự cho mình cái quyền được tự do quan hệ luyến ái “trai năm thê bảy thiếp”, và quyền được phán xét phụ nữ, còn phụ nữ một khi đã mất trinh tiết vì bất kỳ lý do gì thì bị xem gần như là “ đồ bỏ đi” và bị toà án lương tâm và xã hội phán xử suốt đời.

Thứ ba là sự độc đoán gia trưởng của đàn ông trong gia đình mà tôi nghĩ là bắt nguồn từ quan niệm xa xưa “chồng chúa vợ tôi”. Rất tiếc là hầu hết chúng ta, cả nam lẫn nữ đều cho đây là điều bình thường. Người chồng có quyền quyết định tất cả và có quyền la mắng, thậm chí xúc phạm và đánh đập vợ mình, còn người vợ thì luôn được răn nhủ là phải nhường nhịn chồng, không được phản ứng lại trong những trường hợp như thế. Chính điều này đã dẫn đến bạo lực gia đình, đặc biệt là bạo lực tinh thần mà tôi nghĩ trong cuộc đời làm vợ, làm dâu, không một phụ nữ Việt Nam nào không từng ít nhất một lần trải qua



6. Phụ Nữ Việt Nam

Nếu ai nghĩ rằng người phụ nữ Âu Tây đã tiến một bước khá dài trong việc đòi hỏi nam nữ bình quyền thì họ phải ngạc nhiên tại sao người phụ nữ Đông Phương chưa thấy nói năng gì về sự đòi hỏi quyền hành của họ. Nhất là người phụ nữ Việt Nam, với cái nhìn trung thực nơi vai trò của họ, họ không cần phải đòi hỏi quyền bình đẳng vì vai trò của họ trong gia đình thực sự là trên hết. Theo tâm lý, dầu cần một người chồng để nương tựa, nhưng thực tế, người phụ nữ Việt Nam quán xuyến mội việc trong gia đình và ngay cả sự đối xử với anh em họ hàng, hàng xóm láng giềng. Chẳng thế mà ông bà ta có câu: "Dâu dữ mất họ, chó dữ mất láng giềng." Mới chỉ là con dâu mà ảnh hưởng đã như thế thì vai trò của người vợ và người mẹ trong gia đình giá trị như thế nào...? Bạn đã có câu trả lời.



7. VAI TRÒ PHỤ NỮ VIỆT NAM XƯA VÀ NAY

Đã sinh ra làm kiếp con người, ai mà không trải qua những hỉ, nộ, ái, ố. Ai mà không nếm qua những cay đắng trong cuộc sống để rồi mới đạt tới chân hạnh phúc. Hạnh phúc đối với người đàn ông bao la rộng lớn bao nhiêu thì với người đàn bà, với người vợ lại hạn hẹp và thu gọn bấy nhiêu.

Nơi người đàn bà, hạnh phúc chỉ gói tròn trong một mái ấm gia đình. Tình yêu chồng vợ, sự ngoan ngoãn của con cái và sự hiếu thảo của mình đối với cha mẹ. Hoặc có đi xa hơn một tí thì cũng chỉ này ngoài ngưỡng cửa, rụt rè theo bước chân chồng làm quen với xã hội, giao tiếp với một số bạn bè thân thuộc. Rồi thôi, nguyên thủy lại trở về nguyên thủy, để xoay quanh công việc bếp núc, ruộng vườn và chăm lo cho con cái.

Thoáng nghe thì dễ nhưng có làm mới thấy rằng khó. Thử đặt mình vào vai trò của họ mới thấy lời nói này không ngoa! Chẳng phải đàn bà được sinh ra để ví như những cành hoa đủ màu sắc tô điểm cho cuộc đời thêm đẹp, và cũng chẳng phải được sinh ra để ăn, rúc vào một xó và... đẻ như gà đâu!



Xây dựng thương hiệu văn hoá người Mẹ

Ngày của Mẹ (ngày chủ nhật thứ hai của tháng 5) ở các nước, người ta quảng bá, tôn vinh ngợi ca Mẹ. Một bộ phận giới trẻ Việt Nam đã bắt đầu chú ‎ý đến ngày này. Tuy nhiên, đó là số không nhiều.

Nhân ngày của Mẹ, nói chuyện xây dựng thương hiệu văn hoá người Mẹ - một vấn đề tuy không mới – nhưng còn nhiều trăn trở. Khi các nước có những cách nâng tầm văn hoá cuộc sống như thêm một ngày của mẹ trong năm, thì chúng ta vẫn loay hoay không có những hành động cụ thể để giới thiệu hình ảnh người Mẹ Việt Nam.



“Không có hoa hồng, không có tình yêu/ Không có Mẹ, không có anh hùng” , thi ca thế giới khắc hoạ hình ảnh Mẹ đẹp, ngọt ngào và cao qu‎‎ý như thế.


Dẫu rằng, tiếng gọi thân thương nhất, ngọt ngào nhất, thường xuyên nhất của trẻ thơ là “Mẹ ơi”. Ngọt ngào như những gì Mẹ yêu thương trao tặng, như thể dòng sữa ngọt ngào, lời ru êm đềm, vòng tay ấm áp. Khi gặp những bất trắc, khổ đau, không có một thống kê cụ thể nhưng phần lớn chúng ta vẫn gọi “Mẹ ơi”, với một số người gọi “Chúa ơi”, “Trời ơi”. Mẹ là một người cụ thể, gần gũi nhất và duy nhất được gọi như thể gọi những bậc siêu nhiên.

Ariko, một sinh viên gốc Pháp, sang Việt Nam học Tiếng Việt, khi trò chuyện với các bạn Việt Nam, cô vô tư: “Sao người Việt Nam hay chửi mẹ thế?”. Những người bạn, trong đó có người viết bài này lúc đó chỉ cười trừ rồi cãi cố: “Đâu, chỉ là rất ít thôi”.


Dù chúng ta có hô hào rằng mình tiến bộ, mình chạy đua, phát triển… nhưng chính những việc rất nhỏ như rất nhiều người Việt có thói quen chửi thề bằng tiếng Mẹ, cho thấy văn hoá và đạo đức đáng báo động. Đặc biệt, cũng không nên nghĩ mình… vô can khi không chửi thề. Nếu bạn nghe người khác chửi “Mẹ…”, hay”…mẹ” mà không thấy bối rối, không bức xúc, không nhắc nhở được lấy một tiếng thì cũng cần xem lại bản thân. Thay đổi một chút, chính là bạn nâng giá trị văn hoá lên. Ông Lê Đình Tuấn chia sẻ.

Có thể thấy, khác với Việt Nam, các nước Châu Á khác rất chú trọng việc tôn vinh giá trị người phụ nữ. Họ nỗ lực xây dựng thương hiệu phụ nữ, như Nhật, Hàn khuyến khích hàng triệu "OG" (office girl) ra khắp thế giới để tích lũy vốn sống và chứng minh với cộng đồng quốc tế sự năng động của mình. Thái Lan cũng đang ra sức thay đổi cách nhìn đã định hình về phụ nữ Thái, vốn toàn "màu sắc" sex , bằng cách đích thân công chúa và hoa hậu Thái liên tục qua lại các hội chợ, luôn sẵn sàng trả lời phỏng vấn.



MẸ TÔI
Mẹ tôi trong những ngày giỗ chạp
Thường ngồi chắp tay cầu khẩn giờ lâu
Chiếc áo hoa hiên cũ đã bạc màu
Tôi chỉ thấy mẹ dùng khi lễ bái

Đời của tôi nhiều khổ đau oan trái
Mẹ bao giờ cũng cầu nguyện cho tôi
Đứa con trai tù tội mấy phen rồi
Hàng nước mắt chảy giòng trên má mẹ

Ngồi bên mẹ, tôi thấy mình nhỏ bé
Tình thương yêu của mẹ lớn bao nhiêu
Mẹ ơi, con lòng chỉ nguyện một điều:
Được gần sống, đừng lìa xa khỏi mẹ!

Giờ hẳn mẹ mỗi khi ngồi cầu lễ
Cho đứa con tù bệnh chốn rừng sâu
Chiếc áo hoa hiên cũ đã bạc màu
Phải đầm ướt biết bao hàng nước lệ!


Nguyễn Chí Thiện (1963)
Hay đến với
http://www.nolaviet.com/me/thonct.html
http://giaitri.tuvanonline.com/showthread.php?p=115758


Đêm đã khuya, tôi không đọc thêm nữa, tuy nhiên là người con bạn nên đến với đường link phía dưới
Chúc các bạn những ngày nghỉ cuối tuần vui vẻ.
Một lần nữa chúc các me, các chị, các em sức khỏe - hạnh phúc và thành đạt trong cuộc sống!
Mẹ ơi: http://www.google.com.vn/search?hl=vi&q=%22m%E1%BA%B9+%C6%A1i%22&btnG=T%C3%ACm+ki%E1%BA%BFm&meta=

Nhìn giáo dục người để ngẫm giáo dục ta: Diễn văn nhậm chức của Hiệu trưởng ĐH Harvard

, , ,

Trong nửa thế kỷ qua, các trường đại học và cao đẳng ở Mỹ đã tham gia một cuộc cách mạng, đó là phục vụ với tư cách vừa là biểu tượng vừa là động lực của việc mở rộng quyền công dân, sự bình đẳng và cơ hội đến người da đen, nữ giới, người Do Thái, người nhập cư và những người khác.


... Dù vậy, những vấn đề về khả năng tiếp cận và chi phí học hành vẫn là điều trăn trở đối với các gia đình trung lưu, cử nhân đại học và sinh viên cao học. Họ có thể lâm vào cảnh nợ nần khai làm việc trong những ngành dịch vụ có mức lương khiêm tốn. Khi bằng đại học trở nên gần như không thể thiếu được tương tự như bằng tú tài, thì chi phí của những chương trình này càng trở nên quan trọng hơn.

Trách nhiệm định hình con người

Nhưng nỗi lo lắng về giáo dục bậc cao không chỉ có chuyện kinh phí. Vấn đề sâu hơn là sự thiếu hiểu biết và nhất trí về vai trò và chức năng của trường đại học. Trường đại học thực chất phải có trách nhiệm. Giáo dục bậc cao phải suy xét để định nghĩa chúng ta có trách nhiệm về cái gì. Chúng ta được yêu cầu báo cáo tỉ lệ tốt nghiệp, thống kê số sinh viên đầu vào, điểm số của các bài kiểm tra mẫu để đánh giá "giá trị gia tăng" của những năm tháng ngồi ghế giảng đường, chi phí cho các công trình nghiên cứu, số ấn phẩm do các khoa phát hành.

Nhưng những biện pháp đó không thể tự chúng bộc lộ thành quả gì, đừng nói đến việc thể hiện khát vọng của các trường đại học. Đa số những số liệu tính toán này rất cần được biết, và chúng giúp chúng ta thấy những phần cụ thể trong quá trình hoạt động của chúng ta. Nhưng mục đích của chúng ta tham vọng hơn như thế nhiều, tính chịu trách nhiệm của chúng ta vì thế càng khó giải thích hơn.

Cho tôi mạn phép đưa ra một định nghĩa. Bản chất của một trường đại học là trách nhiệm độc nhất vô nhị của nó với quá khứ và tương lai, chứ không chỉ đơn giản với hiện tại. Một trường đại học hoạt động không vì những kết quả của quí sắp tới, cũng không vì việc sinh viên tốt nghiệp sẽ trở thành người nào. Nó hoạt động vì những kiến thức sẽ định hình một đời người, những kiến thức truyền tải di sản của nhiều thiên niên kỷ, những kiến thức quyết định tương lai.

Một trường đại học vừa nhìn về phía trước, vừa nhìn lại quá khứ theo những cách bắt buộc phải mâu thuẫn với mối bận tâm hoặc đòi hỏi nhất thời của công chúng. Trường đại học cam kết với sự vô thời hạn, và những sự đầu tư này sẽ tạo ra mùa gặt mà chúng ta không thể dự đoán và thông thường không thể đo lường được. Trường đại học là kẻ tôi tớ của truyền thống đương đại...

Chúng ta không hài lòng với việc đánh giá những nỗ lực này bằng cách định nghĩa chúng như là phương tiện, là sự hữu ích mang tính đo lường để đáp ứng những nhu cầu cụ thể nhất thời. Thay vào đó, chúng ta theo đuổi những nỗ lực này một phần vì chính những nỗ lực ấy, vì chúng định nghĩa cái gì biến chúng ta thành người trong hàng thế kỷ qua, chứ không phải vì chúng giúp đẩy mạnh tính cạnh tranh toàn cầu của chúng ta.

Nuôi dưỡng tư duy chấp nhận đổi thay

Chúng ta theo đuổi những nỗ lực ấy vì chúng cho chúng ta, với tư cách là những cá nhân và xã hội, một tầm nhìn sâu rộng mà chúng ta không thể tìm thấy trong thì hiện tại. Chúng ta theo đuổi chúng còn vì lẽ đơn giản như chúng ta cần thức ăn và chỗ trú ẩn để tồn tại, cần công việc và giáo dục để cải thiện cuộc sống, từ đó chúng ta có thể tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống. Chúng ta cố gắng tìm hiểu mình là ai, từ đâu đến, đang đi đâu và tại sao.

Với nhiều người, bốn năm đại học là khoảng thời gian nghỉ giữa giờ duy nhất để khám phá những câu hỏi căn bản ấy. Nhưng việc tìm tòi ý nghĩa là một hành trình không có hồi kết, nó luôn luôn diễn giải, luôn luôn gián đoạn và xác định lại hiện trạng, luôn tìm kiếm, không bao giờ hài lòng với cái tìm được. Một câu trả lời chỉ đơn giản làm nảy sinh câu hỏi kế tiếp. Điều này trong thực tế là thật đối với tất cả mọi kiến thức, với khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội và khoa học nhân văn, và vì vậy nó là thật với bản chất cốt lõi của trường đại học.

Về tính chất, trường đại học nuôi dưỡng văn hóa của sự vận động không ngừng và thậm chí sự bất kham. Điều này nằm ở trọng tâm của trách nhiệm trường đại học với tương lai. Giáo dục, nghiên cứu, giảng dạy, tất cả đều vì sự thay đổi - nó chuyển hóa các cá nhân trong quá trình học, chuyển hóa thế giới khi những thắc mắc của chúng ta làm thay đổi sự hiểu biết của chúng ta về thế giới, chuyển hóa xã hội khi chúng ta thấy kiến thức của mình biến thành các chính sách...

Nhưng sự thay đổi thường không dễ chịu, vì nó luôn luôn hàm chứa cả thất bại lẫn thành công, sự chệch hướng lẫn những phát minh đúng đắn. Nói như Machiavelli (*), sự thay đổi không có một thể thống nhất. Dẫu vậy, khi đối mặt với tương lai, các trường đại học phải chấp nhận sự thay đổi tuy không dễ chịu nhưng là yếu tố cơ bản cho bất kỳ sự tiến bộ nào trong hiểu biết.

Bà Drew G. Faust là hiệu trưởng thứ 28 của đại học Harvard, nhậm chức từ ngày 1-7-2007.
Bà là một nhà sử học lỗi lạc và một lãnh đạo nổi bật trong ngành học thuật. Trước khi về Harvard, Drew Faust đã làm việc 25 năm tại Trường đại học Pennsylvania. Bà được chỉ định làm giáo sư trợ giảng khoa văn minh Hoa Kỳ vào năm 1976, trở thành đồng giáo sư năm 1980, và chính thức thành giáo sư năm 1984. Bà đã hai lần được tặng thưởng thành tích dạy học xuất sắc tại Pennsylvania vào các năm 1982 và 1996


Nguồn: Nguồn: http://vietnamnet.vn/giaoduc/2007/10/749573/

Nguyên bản: Diễn văn của bà Drew G. Faust khi nhậm chức hiệu trưởng đại học Harvard

I stand honored by your trust, inspired by your charge. I am grateful to the Governing Boards for their confidence, and I thank all of you for gathering in these festival rites. I am indebted to my three predecessors, sitting behind me, for joining me today. But I am grateful to them for much more – for all that they have given to Harvard and for what each of them has generously given to me – advice, wisdom, support.

I am touched by the greetings from staff, faculty, students, alumni, universities, from our honorable Governor, and from the remarkable John Hope Franklin, who has both lived and written history. I am grateful to the community leaders from Boston and Cambridge who have come to welcome their new neighbor. I am a little stunned to see almost every person I am related to on earth sitting in the front rows. And I would like to offer a special greeting of my own to my teachers who are here – teachers from grade school, high school, college and graduate school – who taught me to love learning and the institutions that nurture it.

We gather for a celebration a bit different from our June traditions. Commencement is an annual rite of passage for thousands of graduates; today marks a rite of passage for the University. As at Commencement, we don robes that mark our ties to the most ancient traditions of scholarship. On this occasion, however, our procession includes not just our Harvard community, but scholars – 220 of them – representing universities and colleges from across the country and around the world. I welcome and thank our visitors, for their presence reminds us that what we do here today, and what we do at Harvard every day, links us to universities and societies around the globe.

Today we mark new beginnings by gathering in solidarity; we celebrate our community and its creativity; we commit ourselves to Harvard and all it represents in a new chapter of its distinguished history. Like a congregation at a wedding, you signify by your presence a pledge of support for this marriage of a new president to a venerable institution.

As our colleagues in anthropology understand so well, rituals have meanings and purposes; they are intended to arouse emotions and channel intentions. In ritual, as the poet Thomas Lynch has written, “We act out things we cannot put into words.” But now my task is in fact to put some of this ceremony into words, to capture our meanings and purposes.

Inaugural speeches are a peculiar genre. They are by definition pronouncements by individuals who don’t yet know what they are talking about. Or, we might more charitably dub them expressions of hope unchastened by the rod of experience.

A number of inaugural veterans – both orators and auditors – have proffered advice, including unanimous agreement that my talk must be shorter than Charles William Eliot’s – which ran to about an hour and a half. Often inaugural addresses contain lists – of a new president’s specific goals or programs. But lists seem too constraining when I think of what today should mean; they seem a way of limiting rather than unleashing our most ambitious imaginings, our profoundest commitments.

If this is a day to transcend the ordinary, if it is a rare moment when we gather not just as Harvard, but with a wider world of scholarship, teaching and learning, it is a time to reflect on what Harvard and institutions like it mean in this first decade of the 21st century.

Yet as I considered how to talk about higher education and the future, I found myself – historian that I am – returning to the past and, in particular, to a document I encountered in my first year of graduate school. My cousin Jack Gilpin, Class of ’73, read a section of it at Memorial Church this morning. As John Winthrop sat on board the ship Arbella in 1630, sailing across the Atlantic to found the Massachusetts Bay Colony, he wrote a charge to his band of settlers, a charter for their new beginnings. He offered what he considered “a compass to steer by” – a “model,” but not a set of explicit orders. Winthrop instead sought to focus his followers on the broader significance of their project, on the spirit in which they should undertake their shared work. I aim to offer such a “compass” today, one for us at Harvard, and one that I hope will have meaning for all of us who care about higher education, for we are inevitably, as Winthrop urged his settlers to be, “knitt together in this work as one.”

American higher education in 2007 is in a state of paradox – at once celebrated and assailed. A host of popular writings from the 1980s on have charged universities with teaching too little, costing too much, coddling professors and neglecting students, embracing an “illiberalism” that has silenced open debate. A PBS special in 2005 described a “sea of mediocrity” that “places this nation at risk.” A report issued by the U.S. Department of Education last year warned of the “obsolescence” of higher education as we know it and called for federal intervention in service of the national interest.

Yet universities like Harvard and its peers, those represented by so many of you here today, are beloved by alumni who donate billions of dollars each year, are sought after by students who struggle to win admission, and, in fact, are deeply revered by the American public. In a recent survey, 93 percent of respondents considered our universities “one of [the country’s] most valuable resources.” Abroad, our universities are admired and emulated; they are arguably the American institution most respected by the rest of the world.

How do we explain these contradictions? Is American higher education in crisis, and if so, what kind? What should we as its leaders and representatives be doing about it? This ambivalence, this curious love-hate relationship, derives in no small part from our almost unbounded expectations of our colleges and universities, expectations that are at once intensely felt and poorly understood.

From the time of its founding, the United States has tied its national identity to the power of education. We have long turned to education to prepare our citizens for the political equality fundamental to our national self-definition. In 1779, for example, Thomas Jefferson called for a national aristocracy of talent, chosen “without regard to wealth, birth, or other accidental condition of circumstance” and “rendered by liberal education ... able to guard the sacred deposit of rights and liberties of their fellow-citizens.” As our economy has become more complex, more tied to specialized knowledge, education has become more crucial to social and economic mobility. W.E.B. DuBois observed in 1903 that “Education and work are the levers to lift up a people.” Education makes the promise of America possible.

In the past half century, American colleges and universities have shared in a revolution, serving as both the emblem and the engine of the expansion of citizenship, equality and opportunity – to blacks, women, Jews, immigrants, and others who would have been subjected to quotas or excluded altogether in an earlier era. My presence here today – and indeed that of many others on this platform – would have been unimaginable even a few short years ago. Those who charge that universities are unable to change should take note of this transformation, of how different we are from universities even of the mid 20th century. And those who long for a lost golden age of higher education should think about the very limited population that alleged utopia actually served. College used to be restricted to a tiny elite; now it serves the many, not just the few. The proportion of the college age population enrolled in higher education today is four times what it was in 1950; twelve times what it was before the 1920s. Ours is a different and a far better world.

At institutions like Harvard and its peers, this revolution has been built on the notion that access should be based, as Jefferson urged, on talent, not circumstance. In the late 1960s, Harvard began sustained efforts to identify and attract outstanding minority students; in the 1970s, it gradually removed quotas limiting women to a quarter of the entering college class. Recently, Harvard has worked hard to send the message that the college welcomes families from across the economic spectrum. As a result we have seen in the past 3 years a 33 percent increase in students from families with incomes under $60,000. Harvard’s dorms and Houses are the most diverse environments in which many of our students will ever live.

Yet issues of access and cost persist – for middle-class families who suffer terrifying sticker shock, and for graduate and professional students, who may incur enormous debt as they pursue service careers in fields where salaries are modest. As graduate training comes to seem almost as indispensable as the baccalaureate degree for mobility and success, the cost of these programs takes on even greater importance.

The desirability and the perceived necessity of higher education have intensified the fears of many. Will I get in? Will I be able to pay? This anxiety expresses itself in both deep-seated resentment and nearly unrealizable expectations. Higher education cannot alone guarantee the mobility and equality at the heart of the American Dream. But we must fully embrace our obligation to be available and affordable. We must make sure that talented students are able to come to Harvard, that they know they are able to come, and that they know we want them here. We need to make sure that cost does not divert students from pursuing their passions and their dreams.

But American anxiety about higher education is about more than just cost. The deeper problem is a widespread lack of understanding and agreement about what universities ought to do and be. Universities are curious institutions with varied purposes that they have neither clearly articulated nor adequately justified. Resulting public confusion, at a time when higher education has come to seem an indispensable social resource, has produced a torrent of demands for greater “accountability” from colleges and universities.

Universities are indeed accountable. But we in higher education need to seize the initiative in defining what we are accountable for. We are asked to report graduation rates, graduate school admission statistics, scores on standardized tests intended to assess the “value added” of years in college, research dollars, numbers of faculty publications. But such measures cannot themselves capture the achievements, let alone the aspirations of universities. Many of these metrics are important to know, and they shed light on particular parts of our undertaking. But our purposes are far more ambitious and our accountability thus far more difficult to explain.

Let me venture a definition. The essence of a university is that it is uniquely accountable to the past and to the future – not simply or even primarily to the present. A university is not about results in the next quarter; it is not even about who a student has become by graduation. It is about learning that molds a lifetime, learning that transmits the heritage of millennia; learning that shapes the future. A university looks both backwards and forwards in ways that must – that even ought to – conflict with a public’s immediate concerns or demands. Universities make commitments to the timeless, and these investments have yields we cannot predict and often cannot measure. Universities are stewards of living tradition – in Widener and Houghton and our 88 other libraries, in the Fogg and the Peabody, in our departments of classics, of history and of literature. We are uncomfortable with efforts to justify these endeavors by defining them as instrumental, as measurably useful to particular contemporary needs. Instead we pursue them in part “for their own sake,” because they define what has over centuries made us human, not because they can enhance our global competitiveness.

We pursue them because they offer us as individuals and as societies a depth and breadth of vision we cannot find in the inevitably myopic present. We pursue them too because just as we need food and shelter to survive, just as we need jobs and seek education to better our lot, so too we as human beings search for meaning. We strive to understand who we are, where we came from, where we are going and why. For many people, the four years of undergraduate life offer the only interlude permitted for unfettered exploration of such fundamental questions. But the search for meaning is a never-ending quest that is always interpreting, always interrupting and redefining the status quo, always looking, never content with what is found. An answer simply yields the next question. This is in fact true of all learning, of the natural and social sciences as well as the humanities, and thus of the very core of what universities are about.

By their nature, universities nurture a culture of restlessness and even unruliness. This lies at the heart of their accountability to the future. Education, research, teaching are always about change – transforming individuals as they learn, transforming the world as our inquiries alter our understanding of it, transforming societies as we see our knowledge translated into policies – policies like those being developed at Harvard to prevent unfair lending practices, or to increase affordable housing or avert nuclear proliferation – or translated into therapies, like those our researchers have designed to treat macular degeneration or to combat anthrax. The expansion of knowledge means change. But change is often uncomfortable, for it always encompasses loss as well as gain, disorientation as well as discovery. It has, as Machiavelli once wrote, no constituency. Yet in facing the future, universities must embrace the unsettling change that is fundamental to every advance in understanding.

We live in the midst of scientific developments as dramatic as those of any era since the 17th century. Our obligation to the future demands that we take our place at the forefront of these transformations. We must organize ourselves in ways that enable us fully to engage in such exploration, as we have begun to do by creating the Broad Institute, by founding cross school departments, by launching a School of Engineering and Applied Sciences. We must overcome barriers both within and beyond Harvard that could slow or constrain such work, and we must provide the resources and the facilities – like the new science buildings in both Cambridge and Allston – to support it. Our obligation to the future makes additional demands. Universities are, uniquely, a place of philosophers as well as scientists. It is urgent that we pose the questions of ethics and meaning that will enable us to confront the human, the social and the moral significance of our changing relationship with the natural world.

Accountability to the future requires that we leap geographic as well as intellectual boundaries. Just as we live in a time of narrowing distances between fields and disciplines, so we inhabit an increasingly transnational world in which knowledge itself is the most powerful connector. Our lives here in Cambridge and Boston cannot be separated from the future of the rest of the earth: we share the same changing climate; we contract and spread the same diseases; we participate in the same economy. We must recognize our accountability to the wider world, for, as John Winthrop warned in 1630, “we must consider that we shall be as a city upon a hill. The eyes of all people are upon us.”

Harvard is both a source and a symbol of the ever expanding knowledge upon which the future of the earth depends, and we must take an active and reflective role in this new geography of learning. Higher education is burgeoning around the globe in forms that are at once like and unlike our own. American universities are widely emulated, but our imitators often display limited appreciation for the principles of free inquiry and the culture of creative unruliness that defines us.

The “Veritas” in Harvard’s shield was originally intended to invoke the absolutes of divine revelation, the unassailable verities of Puritan religion. We understand it quite differently now. Truth is an aspiration, not a possession. Yet in this we – and all universities defined by the spirit of debate and free inquiry – challenge and even threaten those who would embrace unquestioned certainties. We must commit ourselves to the uncomfortable position of doubt, to the humility of always believing there is more to know, more to teach, more to understand.

The kinds of accountability I have described represent at once a privilege and a responsibility. We are able to live at Harvard in a world of intellectual freedom, of inspiring tradition, of extraordinary resources, because we are part of that curious and venerable organization known as a university. We need better to comprehend and advance its purposes – not simply to explain ourselves to an often critical public, but to hold ourselves to our own account. We must act not just as students and staff, historians and computer scientists, lawyers and physicians, linguists and sociologists, but as citizens of the university, with obligations to this commonwealth of the mind. We must regard ourselves as accountable to one another, for we constitute the institution that in turn defines our possibilities. Accountability to the future encompasses special accountability to our students, for they are our most important purpose and legacy. And we are responsible not just to and for this university, Harvard, in this moment, 2007, but to the very concept of the university as it has evolved over nearly a millennium.

It is not easy to convince a nation or a world to respect, much less support, institutions committed to challenging society’s fundamental assumptions. But it is our obligation to make that case: both to explain our purposes and achieve them so well that these precious institutions survive and prosper in this new century. Harvard cannot do this alone. But all of us know that Harvard has a special role. That is why we are here; that is why it means so much to us.

Last week I was given a brown manila envelope that had been entrusted to the University Archives in 1951 by James B. Conant, Harvard’s 23rd president. He left instructions that it should be opened by the Harvard president at the outset of the next century “and not before.” I broke the seal on the mysterious package to find a remarkable letter from my predecessor. It was addressed to “My dear Sir.” Conant wrote with a sense of imminent danger. He feared an impending World War III that would make “the destruction of our cities including Cambridge quite possible.”

“We all wonder,” he continued, “how the free world is going to get through the next fifty years.” But as he imagined Harvard’s future, Conant shifted from foreboding to faith. If the “prophets of doom” proved wrong, if there was a Harvard president alive to read his letter, Conant was confident about what the university would be. “You will receive this note and be in charge of a more prosperous and significant institution than the one over which I have the honor to preside ... That ... [Harvard] will maintain the traditions of academic freedom, of tolerance for heresy, I feel sure.” We must dedicate ourselves to making certain he continues to be right; we must share and sustain his faith.

Conant’s letter, like our gathering here, marks a dramatic intersection of the past with the future. This is a ceremony in which I pledge – with keys and seal and charter – my accountability to the traditions that his voice from the past invokes. And at the same time, I affirm, in compact with all of you, my accountability to and for Harvard’s future. As in Conant’s day, we face uncertainties in a world that gives us sound reason for disquiet. But we too maintain an unwavering belief in the purposes and potential of this university and in all it can do to shape how the world will look another half century from now. Let us embrace those responsibilities and possibilities; let us share them “knitt together . . . as one;” let us take up the work joyfully, for such an assignment is a privilege beyond measure.

Drew Gilpin Faust

Drew Gilpin Faust took office as Harvard’s 28th president on July 1, 2007. Faust, a historian of the Civil War and the American South, is also the Lincoln Professor of History in Harvard’s Faculty of Arts and Sciences. Previously she had served as founding dean of the Radcliffe Institute for Advanced Study, a post she took up on Jan. 1, 2001.

As the first dean of the Radcliffe Institute, Faust guided the transformation of Radcliffe from a college into a wide-ranging institute for advanced study. Under her leadership, Radcliffe emerged as one of the nation’s foremost centers of scholarly and creative enterprise, distinctive for its multidisciplinary focus and the exploration of new knowledge at the crossroads of traditional fields. In recognition of its roots in Radcliffe College, the Institute maintains a special commitment to the study of women, gender, and society. To support its mission, Faust directed a comprehensive administrative restructuring, secured the Institute’s finances, attracted major new gifts, and undertook an extensive renovation of Radcliffe’s historic campus. Radcliffe’s flagship fellowship program became a prized opportunity for established and emerging scholars throughout the academic world.

Before coming to Radcliffe, Faust was Annenberg Professor of History and director of the Women’s Studies Program at the University of Pennsylvania, where she served for 25 years on the faculty.

Faust was born Sept. 18, 1947, in New York City. Raised in Virginia’s Shenandoah Valley, Faust went on to attend Concord Academy in Massachusetts. She received her bachelor’s degree from Bryn Mawr in 1968, magna cum laude with honors in history, and her master’s degree (1971) and doctoral degree (1975) in American civilization from the University of Pennsylvania.

She is the author of five books, including Mothers of Invention: Women of the Slaveholding South in the American Civil War (University of North Carolina Press, 1996), for which she won the Francis Parkman Prize in 1997. Her most recent scholarship, studying the impact of the Civil War’s enormous death toll on the lives of 19th-century Americans, will be published in 2008 as This Republic of Suffering: Death and the American Civil War (Alfred A. Knopf).

Faust is a trustee of Bryn Mawr College, the Andrew Mellon Foundation, and the National Humanities Center, and she serves on the educational advisory board of the Guggenheim Foundation. She has served as president of the Southern Historical Association, vice president of the American Historical Association, and executive board member of the Organization of American Historians and the Society of American Historians. Faust has also served on numerous editorial boards and selection committees, including the Pulitzer Prize history jury in 1986, 1990, and 2004.

Faust’s honors include awards in 1982 and 1996 for distinguished teaching at the University of Pennsylvania. She was elected to the American Academy of Arts and Sciences in 1994, the Society of American Historians in 1993, and the American Philosophical Society in 2004.

Faust is married to Charles Rosenberg, one of the nation’s leading historians of medicine and science, who is Professor of the History of Science and Ernest E. Monrad Professor in the Social Sciences at Harvard. Faust and Rosenberg have two daughters, Jessica Rosenberg, a 2004 summa cum laude graduate of Harvard College, and Leah Rosenberg, Faust’s stepdaughter, a scholar of Caribbean literature.

Remarks by President-Elect Drew G. Faust

Seven years ago, when I was named as the first dean of the new Radcliffe Institute, I said I was deeply honored to have been chosen for what seemed to me the most exciting job in higher education.

Little did I realize then that I'd be standing here today - with all the more reason to say those same words.

I am deeply honored by the trust the governing boards have placed in me. I will work with all my heart, together with colleagues across the University and the broader community, to reward that trust.

I am a historian. I have spent a lot of time thinking about the past, and about how it shapes the future. No university in the country, perhaps the world, has as remarkable a past as this one. And now our shared enterprise is to make Harvard's future even more remarkable than its past.

This will mean recognizing and building on what we already do well. It will also mean recognizing what we don't do as well as we should - and not being content until we find ways to do better.

We face extraordinary opportunities. We are on the verge of a new College curriculum that has already deeply engaged the faculty and that promises more coherence, more choice, and more excitement in undergraduate education. We have just received a faculty report calling for renewed and enhanced dedication to teaching. A new advising system has been launched. We have just created a cross-university structure to assure Harvard's place at the forefront of scientific discovery. We are beginning an expansion into Allston that will provide the space in which to make new connections - among scientific disciplines, between teaching and scientific research, among professional schools, between the community and the University. At the same time, it offers us the ability to improve significantly the facilities for graduate and undergraduate students, for the arts and for athletics. We have dedicated ourselves as well to a dramatic expansion of access to Harvard's academic community - at every level: with the undergraduate low-income initiative, with the commitment to bring women and minorities into science and into the professoriate more broadly, and with our efforts to make the professional schools more affordable. I hope that my own appointment can be one symbol of an opening of opportunities that would have been inconceivable even a generation ago.

But if we at Harvard are to accomplish all we intend, we need to find new ways of working together, of engaging the creativity of one of the most talented communities in the world. We need to break down barriers that inhibit collaboration among schools or among disciplines, barriers that divide the sciences and the humanities into what C.P. Snow once famously called two cultures, barriers that separate the practice of the arts from the interpretation of the arts, barriers that lead us to identify ourselves as from one or the other "side of the river." Collaboration means more energy, more ideas, more wisdom; it also means investing beyond one's own particular interest or bailiwick. It means learning to live and to think within the context of the whole university.

But, for me, today is not about particular programs, or about a list of specific priorities or goals. I have many, many people to talk with, much more to learn, and much thinking to do, before that day comes.

For me, today is about affirming the idea, and the ideals, of a university, of its transformative purposes of teaching, learning, and research. American higher education is hailed as the best in the world, and attacked as falling short. Americans sacrifice and struggle to get their children into college or university, yet mock those same institutions as self indulgent, hidebound, badly managed. American universities were throughout the 20th century the sites of the nation's most significant scientific enterprise - as well as critical engines of innovation and economic growth. Yet we find ourselves wondering in 2007 whether we - at Harvard or at any other university - have the resources, the organizational capacity, the relentlessness, and the leadership to generate continuing excellence and innovation in the sciences and across the spectrum of knowledge.

What Harvard does in this next decade will serve as an important part of the answer to these contradictions and challenges. What we do will determine not only whether Harvard retains its preeminence. It will help to define the character and meaning of universities for the 21st century - whether they can be supple enough, enterprising enough, ambitious enough to accomplish all that is expected of them - and no less important, whether they can do so while preserving their unique culture of inquiry and debate in a world that seems increasingly polarized into unassailable certainties.

I am indebted to everyone whose efforts have made this University great, and especially to my predecessors - Neil Rudenstine, who brought me here as Dean of the Radcliffe Institute, Larry Summers, whose powerful thinking and impatience for results cleared the way for important new initiatives, and Derek Bok, whose steady hand has kept us on course during this past year.

I love universities and I love this one in particular. I can imagine no higher calling, no more exciting adventure than to serve as the President of Harvard.

Thank you very much.

www.news.harvard.edu

Nobel prize and Ig Nobel prize 2007


1. Ba người Mỹ chia nhau giải Nobel kinh tế 2007

Ba nhà kinh tế người Mỹ Leonid Hurwicz, Eric Maskin và Roger Myerson đã giành được giải Nobel kinh tế năm 2007


Uỷ ban Nobel nhận xét, công trình của ba nhà nghiên cứu trên đã đặt nền móng cho lý thuyết phác thảo cơ chế, một lý thuyết cho phép các nhà kinh tế học phân biệt các tình huống mà ở đó thị trường vận hành tốt với những tình huống thị trường vận hành không tốt.



2. Nobel Y học 2007 tôn vinh nghiên cứu tế bào gốc

Giải Nobel Y học thuộc về ba nhà nghiên cứu Anh, Mỹ và Italia. Đây là giải thưởng đầu tiên trong số sáu giải thưởng danh giá sẽ được tuyên bố bởi các uỷ ban Nobel từ nay cho tới ngày 15/10.


Ba nhà khoa học Mario R. Capecchi (Italia), Martin J. Evans (Anh) và Oliver Smithies (Mỹ) đã có một loạt khám phá mang tính đột phá về tế bào gốc phôi thai và ADN. Những nghiên cứu của họ đã mở đường cho một loại công nghệ mạnh nhằm điều khiển gien ở chuột - nhắm bắn gien ở chuột
Công nghệ cực mạnh này hiện đang được áp dụng cho hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu y sinh, từ nghiên cứu cơ bản tới việc phát triển các liệu pháp chữa trị mới.

Nhắm bắn gien thường được sử dụng để vô hiệu hoá các gien đơn nhất. Các thí nghiệm ’’khử gien’’ như vậy đã làm sáng tỏ vai trò của vô số gien trong giai đoạn phôi thai, lão hoá, bệnh tật và sinh lý học ở người trưởng thành. Cho tới nay, hơn 10.000 gien chuột (khoảng 50% số gien ở loài động vật này) đã bị vô hiệu hoá. Cộng đồng khoa học quốc tế sẽ tiếp tục vô hiệu hoá số gien còn lại trong tương lai gần.

Với công nghệ bắn gien, hiện các nhà khoa học có thể biến đổi ADN trong bộ gien chuột, giúp họ xác định được vai trò của các gien đơn nhất liên quan tới bệnh tật và sức khoẻ. Nhắm bắn gien đã tạo ra hơn 500 các chứng rối loạn khác nhau của người trên chuột, gồm bệnh tim mạch, suy thoái thần kinh, tiểu đường và ung thư.

Công nghệ nhắm bắn gien đã giúp con người hiểu được vai trò của hàng trăm gien trong giai đoạn phát triển của bào thai động vật có vú. Nghiên cứu của Capecchis đã phát hiện vai trò của các gien liên quan tới sự phát triển nội tạng và cấu trúc cơ thể. Ông đã làm sáng tỏ các nguyên nhân của nhiều dạng dị tật bẩm sinh ở người.

Evans đã áp dụng công nghệ này để phát triển các mô hình bệnh tật của người trên chuột, gồm bệnh xơ nạng tuỵ tạng di truyền. Ông đã sử dụng các mô hình này để nghiên cứu các cơ chế bệnh tật và thử nghiệm tác dụng của liệu pháp gien.

Smithies cũng sử dụng công nghệ nhắm bắn gien để phát triển các mô hình bệnh di truyền của người trên chuột, chẳng hạn như xơ nang tuỵ tạng và bệnh thiếu máu vùng biển. Ông còn phát triển vô số các mô hình bệnh phổ biến của người trên chuột chẳng hạn như chứng xơ vữa động mạnh và tăng huyết áp.

Tóm lại, công nghệ nhắm bắn gien ở chuột đã xâm nhập vào mọi lĩnh vực y sinh. Tác động của nó đối với việc hiểu chức năng của các gien và lợi ích của nó đối với nhân loại sẽ tiếp tục gia tăng trong nhiều năm tới.

Giải thưởng Y học năm nay trị giá 1,54 triệu USD.



T.S Mario R. Capecchi sinh năm 1937 tại Italia và là công dân Mỹ. Ông tốt nghiệp tiến sĩ về vật lý sinh học tại ĐH Havard năm 1967. Ông hiện là Giáo sư danh dự về gien người và sinh học tại ĐH Utah, Mỹ. (Ảnh trái)

TS. Martin J. Evans, sinh năm 1941 ở Anh, và hiện là công dân Anh. Ông có bằng tiến sĩ về giải phẫu và phôi thai học năm 1969 tại Anh. Hiện ông là Hiệu trưởng Trường sinh học và là GS về gien thú có vú, ĐH Cardiff, Anh. (Ảnh giữa)

TS Oliver Smithies, sinh năm 1921 tại Mỹ, tốt nghiệp tiến sĩ hoá sinh năm 1951 tại ĐH Oxford, Anh. Ông hiện là Giáo sư ưu tú về bệnh học, ĐH Bắc Carolina, Mỹ. (Ảnh phải)



3. Pháp, Đức chia nhau giải Nobel Vật lý 2007

Tiếp theo giải Nobel Y học, hôm nay (9/10), Uỷ ban Nobel đã công bố trao giải Nobel Vật lý cho nhà khoa học Albert Fert (Pháp) và Peter Grünberg (Đức) do đã góp phần sáng chế ra công nghệ đọc dữ liệu trên các đĩa cứng.


Chính nhờ có công nghệ này mà con người có thể thu nhỏ các đĩa cứng tới mức không ngờ trong những năm gần đây.
Các đầu đọc đĩa cực nhạy cần để đọc dữ liệu từ các đĩa cứng thu nhỏ được sử dụng trong các máy tính sách tay, một số loại máy nghe nhạc, v.v...

Năm 1988, nhà khoa học Pháp Albert Fert và nhà khoa học Đức Peter Grünberg đã độc lập phát hiện một hiệu ứng vật lý hoàn toàn mới - hiệu ứng từ điện trở rất lớn (GMR). Những thay đổi từ tính rất yếu dẫn tới những khác biệt lớn về giá trị điện trở suất trong một hệ thống GMR. Một hệ thống loại này là công cụ lý tưởng cho việc đọc dữ liệu từ các đĩa cứng khi thông tin được ghi bằng từ tính phải được biến thành dòng điện.

Chẳng bao lâu sau đó, các nhà nghiên cứu và kỹ sư đã bắt đầu nghiên cứu để sử dụng hiệu ứng này trong các đầu đọc. Năm 1997, đầu đọc đầu tiên dựa trên hiệu ứng GMR được tung ra thị trường và công nghệ này nhanh chóng trở thành công nghệ chuẩn. Thậm chí các đầu đọc hiện đại nhất hiện nay cũng là sự phát triển hơn nữa của GMR.

Một đĩa cứng chứa các thông tin, chẳng hạn như âm nhạc, dưới dạng các vùng cực nhỏ được từ hoá theo các hướng khác nhau. Thông tin này được một đầu đọc gọi ra bằng cách quét đĩa cứng đó. Đĩa cứng càng nhỏ, các vùng từ tính riêng lẻ càng yếu và càng nhỏ.

Hiệu ứng GMR được phát hiện nhờ vào những kỹ thuật mới được phát triển trong suốt những năm 1970 để tạo ra các lớp vật liệu cực mỏng của các vật liệu khác nhau. Để GMR có thể hoạt động, cần phải tạo ra các cấu trúc gồm những lớp mà chỉ dày vài nguyên tử. Vì lý do này, GMR cũng có thể được coi là một trong những ứng dụng thực đầu tiên của công nghệ nano đầy hứa hẹn.



Albert Fert là công dân Pháp, sinh năm 1938, lấy bằng tiến sĩ năm 1970 tại ĐH Paris-Sud. Ông là Giáo sư tại đại học này kể từ năm 1976 và là Giám đốc khoa học của Unité mixte de physique CNRS/Thales, Pháp, kể từ năm 1995. (Ảnh phải)

Peter Grünberg là công dân Đức, sinh năm 1939 tại Pilsen. Ông lấy bằng tiến sĩ năm 1969 tại ĐH Công nghệ Darmstadt, Đức. Ông là Giáo sư tại Viện Festkörperforschung, Forschungszentrum Jülich, Đức, kể từ năm 1972.(Ảnh trái)


4. Giải Nobel Văn chương 2007 về tay nhà văn Anh Doris Lessing

Doris Lessing là "nhà văn mang tính sử thi viết về trải nghiệm nhân sinh của người phụ nữ, người mà, bằng chủ nghĩa hoài nghi, chất lửa và sức mạnh thấu thị, đã tỉ mỉ khảo sát một nền văn minh bị chia cắt”.


Viện Hàn lâm Thụy Điển đã công bố người được trao giải thưởng Nobel Văn chương 2007. Đó là Doris Lessing, nhà văn nữ người Anh, sinh năm 1919.

Trong lời bình chính thức, Viện hàn lâm ca ngợi Lessing là “nhà văn mang tính sử thi viết về trải nghiệm nhân sinh của người phụ nữ, người mà, bằng chủ nghĩa hoài nghi, chất lửa và sức mạnh thấu thị, đã tỉ mỉ khảo sát một nền văn minh bị chia cắt” (… that epicist of the female experience, who with scepticism, fire and visionary power has subjected a divided civilisation to scrutiny).

Doris Lessing sinh tại Ba Tư (nay là Iran), cha là một nhân viên ngân hàng. Bà nghỉ học từ năm mười bốn tuổi, làm nhiều nghề để sống và từng gia nhập Đảng Cộng sản.

Sáng tác của bà có thể chia làm ba giai đoạn: ở giai đoạn đầu (1944-1956) bà tập trung viết về các vấn đề xã hội theo quan điểm cấp tiến do ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản; trong giai đoạn thứ hai (1956-1969) chủ đề chính của bà là tâm lý con người; và ở giai đoạn thứ ba, được gọi là giai đoạn sufi (một giáo phái huyền bí của đạo Hồi), bà viết một loạt tác phẩm khoa học viễn tưởng với chủ đề Canopus. Sau giai đoạn này, bà lại viết đều ở cả ba lĩnh vực.

Nhà phê bình Mary Ann Singleton trong cuốn The City and the Veld, The Fiction of Doris Lessing, 1977) đã viết: "Bà [Lessing] không chỉ là một nghệ sĩ, mà còn là một nhà phê bình và nhà tiên tri, kẻ khảo sát chi li những lỗi lầm của một xã hội "bị thôi miên bởi ý tưởng về sự đấu tranh giữa Thiện và Ác", đồng thời tiên báo những hậu quả tai hại của những lỗi lầm này. Đồng thời, bà muốn vạch ra những giải pháp khả dĩ giải quyết được các vấn nạn của thế giới".

Tuy Doris Lessing thường được coi là nhà văn theo chủ nghĩa nữ quyền, song bản thân bà không thích bị dán cho cái nhãn là tác giả nữ quyền. Tuy tác phẩm The Golden Notebook (tạm dịch: Cuốn sổ vàng) được một số nhà phê bình ca ngợi là tác phẩm tiêu biểu của chủ nghĩa nữ quyền, song bản thân bà lại cho rằng, tác phẩm quan trọng nhất của bà là loạt tác phẩm khoa học viễn tưởng Canopus in Argos (Canopus ở Argos), xuất bản lần lượt từ năm 1979 đến năm 1983). Một số nhà phê bình cũng nhận định, loạt tác phẩm này, cùng với loạt tiểu thuyết mang tính nửa tự thuật Children of Violence (tạm dịch: Con cái của bạo lực), là những tác phẩm chủ chốt của bà, phản ánh ảnh hưởng của tư tưởng sufi và mối quan tâm đến sự hợp nhất của linh hồn với một Bản thể Tối thượng (theo The Encyclopedia of Science Fiction, Từ điển Bách khoa Khoa học Viễn tưởng của John Clute và Peter Nichols, 1993).

Trước giải thưởng Nobel, Lessing từng được trao giải thưởng Somerset Maugham Award (1954), Giải Médicis dành cho tác phẩm nước ngoải (1976), giải thưởng Prince of Asturias của Tây Ban Nha (2001), cũng như nhiều giải thưởng khác.


5. Nobel Hoà bình 2007 tôn vinh nỗ lực bảo vệ khí hậu

Khép lại những dự đoán và mong chờ bấy lâu, chiều nay 12/10, Uỷ ban Nobel Hoà bình Na Uy đã quyết định trao Giải Nobel hoà bình cho Tiểu ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) và cựu Phó Tổng thống Mỹ Albert Arnold (Al) Gore Jr vì những nỗ lực của họ trong việc tập hợp và tuyên truyền những kiến thức về biến đổi khí hậu do con người gây ra, đặt những nền tảng cho các phương pháp cần để đối phó với những thay đổi như vậy.


hững dấu hiệu thay đổi khí hậu trái đất tương lai phải được ghi nhận bằng sự nghiêm túc nhất và bằng nguyên tắc phòng ngừa cao nhất. Sự biến đổi lớn về khí hậu có thể thay đổi và đe doạ tới điều kiện sống của nhân loại.

Biến đổi khí hậu có thể gây ra sự di cư quy mô lớn và dẫn tới sự cạnh tranh quyết liệt hơn về tài nguyên thiên nhiên trên trái đất. Những thay đổi đó sẽ đè nặng lên các quốc gia dễ bị tổn thương nhất trên thế giới. Nguy cơ các cuộc xung đột bạo lực, chiến tranh trong và giữa các quốc gia có thể gia tăng.

Thông qua các báo cáo khoa học mà IPCC đã công bố trong hai thập kỷ qua, IPCC đã tạo ra một sự nhất trí cao về mối liên hệ giữa các hoạt động của con người và hiện tượng ấm lên toàn cầu. Hàng nghìn nhà khoa học và quan chức từ hơn 100 quốc gia đã cộng tác để đi đến kết luận chắc chắn hơn về mức độ ấm lên của trái đất.

Vào những năm 1980, sự ấm lên toàn cầu dường như mới chỉ là một giả thuyết thú vị thì tới những năm 1990, giới khoa học đã đưa ra bằng chứng vững chắc hơn ủng hộ giả thuyết này. Trong vài năm qua, những mối liên hệ này thậm chí đã trở nên rõ ràng hơn và hậu quả cũng vậy.

Trong một thời gian dài, cựu Phó Thổng thống Mỹ Al Gore, 59 tuổi, là một trong những chính trị gia bảo vệ môi trường hàng đầu của thế giới. Ông ý thức sớm về những thách thức về khí hậu mà thế giới đang đối mặt. Cam kết mạnh mẽ của ông, được phản ánh bằng hành động chính trị, các bài giảng, các bộ phim và cuốn sách, đã cổ vũ hơn nữa cho cuộc chiến chống biến đổi khí hậu. Có lẽ ông là cá nhân duy nhất người đã nỗ lực hết sức để làm thế giới hiểu rõ hơn về các biện pháp cần được tiến hành để chống lại sự biến đổi khí hậu.


6. Giải Nobel Hóa học 2007 đã được trao

Viện hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển thông báo nhà khoa học người Đức Gerhard Ertl, 71 tuổi đã được trao giải Nobel về Hóa học năm 2007 với công trình nghiên cứu về quá trình các phân tử hóa học tác động trên bề mặt chất rắn. Giải thưởng trị giá 1,54 triệu USD.

Đại diện Viện hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển cho rằng những nghiên cứu của Gerhard Ertl là một bước tiến quan trọng, đặt nền tảng khoa học cho lĩnh vực nghiên cứu về bề mặt của chất rắn, qua đó cho ta hiểu biết thêm về thế giới xung quanh ví dụ như tại sao sắt bị gỉ, các pin nhiên liệu hoạt động như thế nào hay quá trình tương tác của các chất xúc tác trong xe ôtô ngày nay...



Tìm hiểu thêm thông tin về giải Nobel: http://nobelprize.org/
Lịch sử và những điều cần biết về giải Nobel: http://www.vietnamnet.vn/thegioi/hoso/2005/10/497515/

Vào tháng 10 hàng năm, giải thưởng Nobel dành cho những cá nhân, tổ chức có đóng góp nổi bật trong hàng loạt lĩnh vực lần lượt được công bố.



Ig Nobel prize 2007

Ig Nobel 2007: Những nghiên cứu tức cười nhất trong năm

Một thông báo do Ủy ban Giải thưởng Ig Nobel thuộc Đại học Harvard đã cố gắng xác định một nhà phát minh người Đài Loan có tên là Hsieh Kuo-cheng nhằm thông báo cho anh này rằng anh ta đã được chọn là một trong 10 người thắng cuộc của giải thưởng Ig Nobel năm nay (2007) về thiết bị có tên là “Hệ thống lưới bắt trộm ngân hàng.”
Phát minh sáng tạo của Hsieh đã được dẫn ra tại lễ trao giải ngày 04/10 về tính độc nhất và sự sáng tạo của sản phẩm; cách thức hoạt động cũng như hình dáng của thiết bị này. Theo phát minh của Hsieh, một tấm lưới được treo trên trần ngoài hành lang của ngân hàng có thể hạ thấp đột ngột, trong trường hợp ngân hàng xảy ra cướp, toàn bộ hệ thống hoạt động dựa trên một camera hồng ngoại có thể phát hiện được các tên trộm ngân hàng tức khắc. Bản tin trên tờ "Charlotte" viết một cách hài hước:"Mặc dù Ủy ban giải thưởng không thể xác định Hsieh để thông báo cho anh rằng anh đã đạt giải và để mời anh tới Harvard dự lễ trao giải tuần này, chiến thắng của anh vẫn thực sự xứng đáng với chút ít giấy mực trên các tít báo địa phương".



1. Lực lượng không quân Hoa Kỳ đã giành giải Ig Nobel Hòa bình 2007

Họ đã phát triển một loại vũ khí có tên là “bom gay”. Vũ khí này sẽ khiến quân lính hai phe đối lập thôi hận thù và... yêu nhau !



2. Chuột hết mệt mỏi sau khi uống... Viagra

Một trong những nghiên cứu đó - đã đoạt giải Ig Nobel năm nay là phục hồi sức lực cho chuột bị mệt mỏi bằng... thuốc Viagra!



3. Nuốt kiếm... sẽ bị làm sao?

Đó là nghiên cứu toàn diện nhất về các vết thương do nuốt kiếm gây ra. Đồng tác giả là Dan Meyer thuộc Antioch, Tennessy. Đây cũng là một trong 12 người có khả năng nuốt kiếm giỏi nhất trên thế giới cho biết. Chẳng có gì ngạc nhiên khi các vết thương thường gặp nhất là xước họng, thủng mạch máu.



4. Súp cứ được "bí mật" bơm đầy vào bát, ăn sẽ không hề biết no!

Giải Ig Nobel về dinh dưỡng đi đến một khái niệm nghe như nhiệm vụ tiếp thị nhà hàng: một bát súp không đáy.
Brian Wansink, giáo sư thuộc Đại học Cornell đã sử dụng những chiếc bát có gắn ống thông, từ từ bơm đầy bát với xúp cà chua ở dạng kem để xem liệu những đối tượng tham gia kiểm thử có thể ăn nhiều hơn bình thường hay không.

Nghiên cứu kỳ lạ này cho thấy, người ăn súp không hề có cảm giác bị no hơn cho dù bát súp của họ đã được bí mật bơm đầy thêm súp vào bát (tới 73% lượng súp ban đầu)!

“Người ăn súp chẳng bao giờ cho rằng họ no hơn cả...”, Wansink, một giáo sư chuyên nghiên cứu về cách thức xử sự của khách hàng và kinh tế học ứng dụng cho biết. Vị giáo sư này giải thích, “Những người ăn súp đã nghĩ rằng ‘Làm sao tôi có thể no được khi bát súp vẫn còn đấy thế cơ chứ?’.”

Ông kết luận rằng: “Chúng ta, những người Mỹ đánh giá sự no đủ bằng con mắt chứ không phải bằng dạ dày.”




5. Công thức tính... chăn bị nhăn!

L. Mahadevan, giáo sư toán học ứng dụng và Giáo sư Enrique Cerda Villablanca thuộc Đại học Santiago ở Chilê đã giành thắng lợi với những nghiên cứu của mình về một vấn đề mà bất kỳ ai cũng đã từng gặp phải: đó là hiện tượng chăn bị nhăn.

Các vết nhăn trên mặt chăn thường tạo nếp một cách tự nhiên lên da người hoặc động vật, cả trong khoa học cũng như trong công nghệ.

Mahadevan nói “Chúng ta có thể hiểu tất cả nhờ một công thức vô cùng đơn giản.”

Trong nghiên cứu của mình, ông cho hay “không có một lý do nào khiến khoa học cao cả lại không thể không hài hước được.”



Cười trước, rồi hãy suy nghĩ sau... 5 giải Ig Nobel 2007 cho các lĩnh vực hóa học, ngôn ngữ, hòa bình, sinh học, kinh tế học đã được công bố. Một tác giả người Nhật được giải nhờ công trình nghiên cứu chiết xuất hương vani từ... phân bò!

6. Hóa học

Thuộc về Mayu Yamamoto thuộc Trung tâm Y tế Quốc gia Nhật Bản cho công trình nghiên cứu phát triển một cách thức chiết xuất vanilin (hương vani) từ... phân bò.



7. Ngôn ngữ

Juan Manuel Toro, Josep B. Trobalon và Nủia Sebastian-Galles thuộc Đại học Barcelona- nghiên cứu cho thấy loài gặm nhấm cũng đôi lúc không thể phân biệt được một người nói tiếng Nhật và một người nói tiếng Hà Lan



8. Giải Hòa Bình

Phòng Thí nghiệm Hàng Không Wright, Dayton, Bang Ohio cho việc thúc đẩy nghiên cứu và phát triển một loại vũ khí hóa học có tên là “bom gay”, đây là một loại bom “sẽ làm cho quân lính hai bên bị... hấp dẫn về giới tính lẫn nhau”!!!



9. Sinh học

Giáo sư Johana EMH van Bronswijk thuộc Đại học Công nghệ Eindhoven, Hà Lan cho những thu thập về loài ve bọ, côn trùng, nhện, bọ cánh, các loài giáp xác, vi khuẩn, tảo, dương xỉ, nấm- những loài đã cùng ngủ trên giường với chúng ta vào ban đêm.



10. Kinh tế học

Kuo Cheng Hsieh, Taichung, Đài Loan, được cấp bằng sáng chế cho một thiết bị từ năm 2001 giúp bắt trộm ngân hàng bằng cách thả lưới từ trên đầu xuống lũ trộm bên dưới. Thiết bị này có tên gọi là “Hệ thống lưới bắt trộm ngay lập tức.”

Lướt qua mục chào buổi sáng của báo thanh niên mấy ngày qua

Thảm họa đến từ đâu?

8 giờ sáng ngày 26 tháng 9 năm 2007 đối với hàng trăm công nhân đang trần mình thi công cầu Cần Thơ là giờ phút kinh hoàng: hai nhịp cầu dẫn phía bờ Vĩnh Long vừa mới đổ bê tông được vài ba ngày bỗng đổ sập


Đọc lại bài này (viết ngày 27/9) :frown:
Hãy nhớ đốt những nén nhang...

Đêm trước là Trung thu. Tôi không biết các anh bắt đầu ngày làm việc trên công trường lúc nào. Trước khi các đoạn cầu sập xuống, đã bao nhiêu lần các anh gạt mồ hôi của một ngày làm việc mới?

Tôi không biết, ai trong các anh vui vì đã được nhìn con nhỏ đón Trung thu đêm trước. Có nhiều không những ai trong các anh nhìn trăng mà nhớ con nơi xa. Tôi không biết có bao người trong các anh đã kịp mua bánh trung thu biếu bố mẹ già.

Bánh trung thu năm nay nhiều, nhưng không rẻ. Có ai là công nhân mà có nhiều tiền?

Trên các màn hình internet và TV, chiếc băng ca chở anh trượt vội, nơi đầu anh khoảng đỏ máu loang. Những chiếc ghế nơi các đồng bào của anh nằm, giơ cao tay hiến máu. Máu kêu máu, chỉ các chị, các anh đến kịp. Chúng tôi ở quá xa. Đầu buổi sáng, chúng tôi rời nhà để vội làm những việc của mình. Nhiều việc là có ích, nhiều việc là theo quán tính, nhiều việc đột ngột nhận ra là quá đỗi vô tâm, khi nhìn thấy những dòng tin choáng váng.

Dẫu day dứt, dẫu bức xúc - cả với người và với mình, dẫu nhiều khi chán nản... thì trước nay tôi vẫn tin, rằng đất nước mai sau sẽ hồng hào da thịt. Rằng đất nước mai sau những con đường rộng phẳng ửng hồng trong nắng ban mai. Con cháu chúng ta vừa nghe nhạc vừa lái xe băng qua các cây cầu. Dưới là những dòng sông Việt, đẹp và thương đến nao lòng.

Khi khánh thành cây cầu, đừng cắt băng đỏ. Hãy đốt những nén nhang. Nhớ về những người không thể một lần nữa mua bánh trung thu cho con, cho bố mẹ già.

Mà Trung thu thì vẫn mãi năm nào cũng có.


“Mẹ ơi cứu con!”

Tôi vừa đi viếng cháu Lê Hiến Chương - kỹ sư cầu đường, nạn nhân vụ sập cầu Cần Thơ. Trong số 49 nạn nhân đã chết cho tới giờ này, thì cháu Chương là người đồng hương Quảng Ngãi duy nhất của tôi. Đau xót thay, đó lại là đứa cháu ruột người bạn tôi mà mãi tới chiều 27.9 tôi mới biết. Cha mẹ cháu đều là giáo viên, nhà nghèo, và cháu lại sinh đúng ngày 20.11.1982 nên được bố đặt tên là Hiến Chương. Chương là một con ngoan trò giỏi của trường chuyên Lê Khiết và của Đại học Bách khoa TP.HCM.


Với thảm họa cầu Cần Thơ, đã tới lúc phải rà soát lại, không chỉ là qui trình kỹ thuật xây dựng tất cả các cây cầu trong nước, mà cả phương thức tuyển dụng và sử dụng lao động. Dù chỉ là "lao động ngắn hạn" thì người lao động khi được tuyển dụng phải được chủ thầu ký hợp đồng và mua bảo hiểm 100%. Không có chuyện "ới" họ đi làm chỉ với một cái thẻ có số mà không có tên như đã xảy ra ở công trình cầu Cần Thơ. Những người nông dân ở quanh các công trình xây dựng lớn thường rất nghèo, và họ coi việc được "đi làm công nhân" là cơ hội để đổi đời. Nhưng không vì thế mà có thể tận dụng họ trong khi cố tình "quên" thực hiện với họ những điều cơ bản của luật lao động. Tiếng kêu xé lòng lúc lâm chung của người công nhân tử nạn: "Mẹ ơi cứu con!" còn phải được cảm nhận được hiểu như lời kêu cứu tới những cơ quan bảo vệ người lao động. Và tới những nhà thầu những đơn vị thuê người lao động.


Có lẽ mình phải bỏ nghề này chuyển sang nghề khác mất thôi :frown:

Cần một quốc tang

Trong suốt tuần qua, cả nước đã sống trong tình trạng "nhà có tang". Bây giờ, khi lễ truy điệu đã được tổ chức ngay nơi xảy ra thảm họa, thì dẫu không nói ra, nhưng ai cũng ngầm hiểu: đã không còn ai sống sót trong số 3 người cuối cùng nằm trong danh sách mất tích.


Tôi biết, lâu nay chúng ta chưa có thông lệ tuyên bố Quốc tang khi xảy ra một thảm họa, dù là thảm họa do thiên nhiên hay do con người gây ra, điều mà rất nhiều nước trên thế giới vẫn làm. Xin hãy bắt đầu từ thảm họa cầu Cần Thơ, Nhà nước tuyên bố Quốc tang để cả nước cùng có một phút mặc niệm tưởng nhớ những công nhân đã bỏ mình. Đó chính là lúc cả đất nước, cả dân tộc xích lại gần nhau nhất trong hồi còi vĩnh biệt, để cùng sẻ chia mất mát, cùng nguyện chung lưng gánh sứ mạng xây dựng đất nước phú cường, và cùng nhắc nhở nhau hãy sống và làm việc với tất cả lương tâm và tinh thần trách nhiệm trước cộng đồng, trước nhân dân, trước đất nước. Có tang nhà, thì cũng có tang nước.


Khi một số lớn công dân Việt Nam cùng một lúc bỏ mình, nhất là bỏ mình trong lao động, thì tuyên bố Quốc tang chính là hình thức tưởng niệm tôn kính nhất. Dân là lớn, bao giờ Dân cũng là lớn nhất, như Nguyễn Trãi khi xưa từng tâm niệm, và chúng ta bây giờ hằng tâm niệm. Cần khắc ghi bài học xương máu về thảm họa sập cầu Cần Thơ, để thế hệ chúng ta và cả những thế hệ sau này thấm thía với hai chữ "trách nhiệm". Có những thảm họa không thể nào tránh khỏi, nhưng cũng có những thảm họa hoàn toàn có thể tránh được, nếu người ta biết sống và làm việc có lương tâm và có trách nhiệm. Với Quốc tang, phần tâm linh, phần lương tâm sẽ được thức tỉnh ở tất cả mọi người, chống lại sự thờ ơ, sự vô cảm, chống lại những thái độ sống "cháy nhà hàng xóm bình chân như vại". Ý nghĩa lớn rộng và sâu sắc của Quốc tang là như vậy.



Lại tạm ngưng đăng ký xe máy ở Hà Nội ư?

Cuối tuần qua, tại cuộc họp của lãnh đạo UBND TP Hà Nội bàn về giải pháp giảm tai nạn và kiềm chế ùn tắc giao thông, đại diện Công an Hà Nội kiến nghị: thành phố sẽ tạm ngưng đăng ký xe máy trong ít nhất 2-3 năm trước mắt. Công luận không thể hiểu những phân tích khoa học, kinh tế, xã hội, và pháp lý nào đã đưa đến một đề xuất "bổn cũ soạn lại" như vậy.


Nếu ngày mai Hà Nội quyết định ngừng đăng ký xe máy, người cần mua xe nhất định sẽ vào Hà Đông, hay sang Vĩnh Yên, Bắc Ninh hoặc Hưng Yên là thủ phủ của 4 tỉnh lân cận để nhờ dân môi giới đi thuê người đứng tên đăng ký hộ, như dân Hà Nội vẫn làm trong đợt tạm ngưng đăng ký lần trước mà UBND Hà Nội mới quyết định "thôi thí điểm" chưa được một năm nay. Đấy chỉ là những ngày đầu, còn sau vài tuần thì mỗi cửa hàng xe máy ở Hà Nội sẽ tuyển thêm một vài nhân viên chuyên đi các tỉnh để đăng ký xe cho khách. Và mọi chuyện sẽ y như cũ, trừ việc mỗi xe sẽ mất thêm ít nhất cũng 500 ngàn đồng



Kinh tế VN tăng trưởng cao nhất trong 10 năm qua
GDP đầu người cả năm ước đạt 825 USD

Các số liệu ước tính của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy kinh tế đang trên đà cao lên: nếu quý I tăng 7,7%, quý II tăng 8%, thì quý III tăng 8,93%. Tính chung 9 tháng tăng trưởng kinh tế ước đạt 8,3%. Đây là tốc độ tăng cao nhất so với tốc độ tăng của cùng kỳ trong 10 năm qua tính từ năm 1997.


:frown: tin này mình cũng không vui lắm, vì mình không tin mấy con số này lắm

Dân mình tốt thật!

Sau vụ sập cầu Cần Thơ, tôi nghe có người nhận xét: "Dân mình tốt thật!". Tai họa cho đồng bào mình là có người gây ra chứ không phải do thiên tai hay do hoàn cảnh khách quan bất khả kháng, nhưng việc trước tiên dân cả nước mình làm là vừa khóc vừa hiến máu, là lao vào cấp cứu nạn nhân, là quyên góp từng đồng tiền bát gạo gửi tới các gia đình nạn nhân. Đúng thế!


Vụ sập cầu Cần Thơ rõ ràng là tai họa do con người gây ra, không phải do "trời". Nhưng nạn nhân của tai họa, thì bao giờ cũng là con người, là người dân, thậm chí là những người dân nghèo, rất nghèo, là đồng bào chịu thương chịu khó và quá nhiều cơ cực của mình. Chính vì vậy, toàn dân ta đã đồng lòng đồng tâm lao vào cứu nạn, cứu trợ, cứu giúp. Ở điểm này, tôi vô cùng tự hào vì mình là người Việt Nam. Không phải người ở các nước trên thế giới không làm những việc như dân ta đã làm trước tai họa. Nhưng làm với tất cả tình thương yêu, tất cả xúc cảm, thì đó chính là nhân dân tôi. Đừng nói "dân mình tốt thật !" một cách đơn giản.


9 tháng, đón 3,2 triệu lượt khách quốc tế

Khách quốc tế đến Việt Nam có tác động "kép". Đây là kênh thu hút một lượng ngoại tệ không nhỏ, cũng là một hình thức giới thiệu có hiệu quả, trực tiếp về đất nước con người Việt Nam.


Tuy nhiên, nếu tính về "mật độ" khách quốc tế (lượt khách quốc tế tính bình quân 100 dân) thì của Việt Nam thấp hơn so với thế giới, so với châu Á và Đông Nam Á.


Và trên 60% không bao giờ trở lại VN :frown:

Bao giờ các công ty Việt Nam đạt tầm cỡ khu vực và thế giới?

Một trong những sự kiện kinh tế gây nhiều chú ý trong tuần qua là việc Chương trình phát triển LHQ (UNDP) công bố danh sách "200 công ty hàng đầu Việt Nam". Đây là lần đầu tiên một danh sách những công ty hàng đầu của Việt Nam được một tổ chức có uy tín quốc tế công bố dựa trên các tiêu chí cơ bản là tài sản, doanh thu, lao động và nộp thuế. Có thể xem nó như một dạng khởi thủy của danh sách "Fortune Global 500" nổi tiếng của Tạp chí Fortune liệt kê một "bảng phong thần" 500 công ty hàng đầu thế giới.


Vì sao giá tiêu dùng tăng cao ?

Về nguyên nhân tăng cao của giá tiêu dùng, hiện có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng giá tăng chủ yếu là do giá thế giới tăng. Đúng là tháng 9 năm nay so với cùng kỳ năm trước, giá xuất khẩu tăng (như hạt tiêu tăng 103,8%, cà phê tăng 28,9%, gạo tăng 16,6%, hạt điều tăng 4,2%, chè tăng 1,9%,...); giá nhập khẩu tăng (như lúa mì tăng 45%, phôi thép tăng 27,7%, sắt thép tăng 16,1%, chất dẻo tăng 10,9%, phân bón tăng 9,7%, sợi dệt tăng 9,4%, giấy tăng 6,4%, bông tăng 3,6%, xăng dầu tăng 1,3%,...). Khi giá thế giới tăng thì chi phí đầu vào tăng, làm tăng giá bán đầu ra. Các chuyên gia coi lạm phát do nguyên nhân chi phí tăng là "lạm phát chi phí đẩy". Tuy nhiên, nếu coi yếu tố giá thế giới là chủ yếu là hoàn toàn không đúng, bởi nếu như vậy thì tại sao lạm phát ở các nước cũng phải cao, nhưng thực tế chỉ trên dưới 3%; Nhật Bản nghèo nguyên vật liệu, chủ yếu phải nhập khẩu, nhưng đã mấy năm nay lạm phát gần như bằng 0,...?

Có ý kiến cho rằng giá tăng chủ yếu do nguồn hàng, nhất là lương thực, thực phẩm gặp thiên tai, dịch bệnh nên cung không đáp ứng đủ cầu, do đó giá tăng. Các chuyên gia đã gọi lạm phát do cầu tăng hơn cung là lạm phát do "cầu kéo". Tuy nhiên, đó là nói về lương thực, thực phẩm, còn xét toàn bộ nền kinh tế, GDP 9 tháng năm nay tăng 8,2%, nhập siêu lên đến trên 7,6 tỉ USD, tăng trên 4,2 tỉ USD - những con số rất lớn và chưa từng có.

Như vậy các ý kiến trên đều chưa đủ hoặc chưa đúng. Nguyên nhân chủ yếu là do tiền tệ. Một lượng tiền lớn đã được đưa ra lưu thông trong 6 tháng đầu năm qua để mua USD nhằm tăng dự trữ quốc tế, nhằm tránh cho đồng nội tệ lên giá và khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập siêu. Một lượng tiền không nhỏ đưa ra đầu tư chứng khoán trước đây, tuy được thu hồi theo Chỉ thị 03 của Ngân hàng Nhà nước, nhưng chủ yếu đối với các ngân hàng thương mại cổ phần có tổng dư nợ tín dụng nhỏ và còn nhiều khoản chưa đến kỳ thu hồi, còn các ngân hàng thương mại có tổng dư nợ tín dụng lớn nhưng tỷ lệ cho vay chứng khoán còn thấp hơn tỷ lệ khống chế, nay thị trường chứng khoán nóng lên là cơ hội cho các ngân hàng này. Đã thế lượng tiền còn ở lưu thông đã quay về ngân hàng chậm hơn do lãi suất huy động giảm.


Càng phân tích càng rối bời, đừng bao giờ tin những con số nhà nước đưa ra :frown:

Rồi ai sẽ lo cho nông dân nghèo?

Trước tình hình đó, theo ông, nếu hệ thống Ngân hàng NN-PTNT được cổ phần hóa vào năm 2008 thì sẽ càng bất lợi cho nông dân. Tại sao? Ông giải thích: Có khoảng 85% hộ nông dân vay vốn từ Ngân hàng NN-PTNT, cho dù với lãi suất kinh doanh nhưng chấp nhận được. Khi Ngân hàng NN-PTNT chuyển sang cổ phần hóa thì mục tiêu kinh doanh phải thay đổi, chẳng hạn như lợi nhuận, hiệu quả kinh doanh phải đặt lên hàng đầu. Đến lúc đó, nông dân sẽ không còn chỗ để bám. Nhưng tới thời điểm này, ông cho biết chưa nghe chủ trương sẽ giao cho tổ chức nào thay thế Ngân hàng NN-PTNT để tiếp tục giúp nông dân?



Việt Nam - UAE (0-1): Chủ nhà sập bẫy!

Tôi có cảm tưởng, đội VN thiếu một động lực thi đấu trong trận này, cộng với sự uể oải tất yếu sau một mùa giải kéo dài cùng những giải đấu quốc tế, cầu thủ của chúng ta đã thi đấu dưới sức mình khá nhiều. UAE không có gì quá xuất sắc, ngoài quyết tâm phải "thắng bằng được" VN để trả món nợ đã lỡ vay lần trước. Họ chơi quyết tâm hơn, cẩn trọng hơn, và khi đội chủ nhà dâng đội hình, tấn công nhiều hơn và có những thay đổi nhân sự, UAE đã có những thoáng bối rối thấy rõ. Nhưng họ trụ lại được, không phải vì họ quá mạnh, mà vì chủ nhà không chứng tỏ là mình mạnh và có khát vọng chiến thắng. Bàn thắng ở phút 79 của UAE đến từ pha phá bẫy việt vị thành công của trung vệ Al Hammadi (14). Cú sút quyết đoán của anh là không thể cản phá. Nhưng phải thấy, pha ghi bàn của UAE đến đúng vào thời điểm đội chủ nhà VN dồn lên tấn công nhiều nhất và tỏ ra lấn lướt nhất: đó là một cú "hồi mã thương" của đội bóng chơi tấn công, và cú dính đòn phản công của đội bóng chơi phản công là chính. Tôi cho đó là bàn thắng của năng lực huấn luyện viên. Ông Metsu đã tỏ ra kiên nhẫn trong trận đấu này, và đội UAE đúng là đã chơi "nhát một" chứ không gây áp lực thường trực lên đội chủ nhà. Cũng có thể coi đó là một cái bẫy, và chính đội khách là người giăng bẫy, chứ không phải chủ nhà. Dù sao, với trận thua này, ban huấn luyện đội VN cũng có thể tự rút ra một số kinh nghiệm cho mình khi thi đấu với một đội không quá chênh lệch về trình độ. Nhiều khi, sự cẩn trọng quá mức đến rụt rè và sau đó "bừng lên" quá mức tới sơ hở cũng đều dẫn tới bất lợi: không ghi được bàn thắng, và phải nhận bàn thua khi cục diện trận đấu là khá cân bằng và tỷ số hòa là hoàn toàn có thể.


Khi nào thì mới có thể hiểu và thực hiện được một điều vi diệu rằng, thua một bàn chỉ làm cho tinh thần cao hơn và quyết tâm cao hơn
Chúng ta xưa nay chưa bao giờ có quyết tâm thắng mọi đối thủ nên trong tâm lý cứ hòa là tốt lắm rồi, còn thua là chuyện bình thường. :frown:
Càng ngày mình càng không còn muốn đọc báo nữa!

Hậu quả cơn bão số 5 (tính đến hết ngày 6/10)

Xuyên đêm vào rốn lũ Tây Nghệ An

Mất 2 ngày đêm, nhóm phóng viên VietNamNet mới vượt được quãng đường gần 200km của quốc lộ 48 đang ngập, sạt lở qua các huyện Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong để vào sâu vùng tâm lũ ở miền Tây Nghệ An. Đi, chỉ thấy tan hoang.



1h ngày 6/10, trời vẫn mưa tầm tã, quốc lộ 48 đi Quế Phong vẫn không có một vệt sáng, lại tiếp tục đứng đợi xe. Gần 2h sáng, qua điện thoại di động, nhận được tin có 14 người bị lũ cuốn trôi ở huyện Quế Phong, lòng nóng như lửa đốt, không biết cách nào để lên được nơi đau thương đó. Lại tiếp tục đứng chờ xe, nhưng lần này không phải đứng giữa quốc lộ 48 mà trên bậc thềm một quán cà phê.

5h sáng, đôi mắt mệt mỏi bỗng sáng lên khi bắt gặp một ánh đèn xe ô tô đang tiến về phía mình. Bác tài xế lái xe chở cá đồng ý cho chúng tôi lên xe. Không có niềm vui nào bằng. Trời bắt đầu sáng, con đường quốc lộ 48 hiện rõ dần.

Từ thị trấn Thái Hoà đi Quỳ Hợp có một đoạn đường bị ngập nước, thay vì đi thẳng 3km, chiếc xe chở cá phải đi đường vòng gần 10 km. "Nước lũ thế này nhanh đấy chú ạ, chiều hôm qua đường này xe vẫn không thể qua được" - bác tài xế cho biết.

Con đường 48 từ Nghĩa Đàn lên Quỳ Hợp nhiều đoạn nước tràn qua, mặt đường bị xé rách nát. Hai bên đường, nhiều nhà còn dính bùn đất, rác rưởi trên tường và cửa sổ, dấu hiệu của một trận lũ vừa tràn qua đây.


Đến 15h chiều ngày hôm nay (6/10), thi thể thứ 6 đã được vớt lên. Đó là một xác đàn ông chừng 35 tuổi, chưa xác định danh tính. Trước đó, là các khoảng thời gian liên tục, được ghi lại như những dòng nhật ký tang tóc.

Danh sách 14 người mất tích tại xã Nậm Giải, huyện Quế Phong (Nghệ An):

1. Ngân Văn Duyên (20 tuổi)
2. Ngân Văn Huyên, (39 tuổi)
3. Lê Văn Lân (37 tuổi)
4. Lô Thị Tâm (39 tuổi)
5. Ngân Văn Tường (37 tuổi)
6. Lô Văn Châu (39 tuổi)
7. Ngân Thị Lan (13 tuổi )
8. Quang Văn Nam (15 tuổi)
9. Ngân Văn Luân (39 tuổi)
10. Ngân Văn Máy (31 tuổi)
11. Lô Thị Quyết (41 tuổi)
12. Ngân Văn Cáng (13 tuổi)
13. Lô Thị Tâm (20 tuổi)
14. Một người chưa rõ danh tính

(Trong đó: Bản Pục có 4 người, bản Méo có 10 người).
Ngày 5/10: Lúc 12h, có 1 cháu bé khoảng 15 tuổi chết trôi về xã Châu Kim. 2 người mất tích ở các bản đầu nguồn sông của xã Hạnh Dịch, chưa xác định tên tuổi, địa chỉ. 12h30’: Vớt được một xác phụ nữ khoảng 35 tuổi trôi xuống xã Mường Nọc, chưa rõ địa chỉ, danh tính. 16h: Xã Tiền Phong tìm thấy xác anh Mong Văn Tuấn mất tích từ 4/10. Anh Mong Văn Thu (em trai anh Tuấn) vẫn thuộc diện mất tích.

17h: Bản báo cáo muộn của xã Nậm Giải cung cấp: Mất tích 14 người tập trung ở Bản Meo và Bản Pục. Hiện đang tìm kiếm.

Tại Nậm Giải, toàn bộ tài sản của trạm Biên phòng bị cuốn trôi hoàn toàn, 4 nhà dân trôi, trụ sở UBND xã sập 2 phòng, sập 3 phòng học khác.

Tại bản Trí Lễ, đường giao thông xuống các bản bị cắt hoàn toàn. Đường từ Sám Chó đến Kém Ải bị sạt lở 200m, trâu chết 5 con, bị thương 3 con.

Ngày 6/10: 13h30’ vớt được 1 xác đàn ông bị mất đầu tại xã Châu Tiến (huyện Quỳ Châu). Suy đoán là dân Quế Phong. Lúc 14h, vớt được 1 xác đàn ông khoảng 30 tuổi tại Mường Nọc. Lúc 15h, với được thêm 1 xác đàn ông khoảng 35 tuổi trên sông Châu Kim.

Tổng cộng, đã có 6 người chết, mất tích 14 người.



Lũ lịch sử: Hoảng loạn giữa biển nước

Sau hơn 2 giờ nỗ lực tiếp cận với đoạn đê sông Bưởi (huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá), được nhiều người dân cho là đã vỡ, 5h30 phút sáng nay 6/10, nhóm PV VietNamNet cũng đã đến được nơi cần đến. Thực tế tại hiện trường còn hơn tất cả những gì chúng tôi tưởng tượng.



Hình ảnh lũ hoành hành ở miền Trung

Hàng nghìn căn nhà ngập trong biển nước, đã có ít nhất 28 người chết và mất tích. Người dân miền Trung lần nữa phải khẩn trương gói ghém đồ đạc, hối hả dời nhà khi cơn lũ đang cuồn cuộn dâng lên.



Lũ lịch sử: Ngập, sập, vỡ đê và ách tắc giao thông

Phóng viên và CTV VietNamNet đang có mặt tại các rốn lũ miền Trung và Bắc liên tục gửi về toà soạn những thông tin, hình ảnh, file âm thanh mới nhất về trận lũ lịch sử, lớn nhất trong vòng 45 năm qua.



8h45’ sáng nay (6/10), từ miền Tây Nghệ An:

Thông tin mới nhất cho hay nước lũ ở các huyện miền núi Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu đang rút dần. Dọc theo đường 48A di chuyển ngược lên vùng núi cao, những vùng hôm qua còn ngập sâu trong nước, nay đã dần lộ diện. Trời miền Tây Nghệ An đã hết mưa.

Quốc lộ 48A, đoạn từ huyện Quỳ Hợp lên huyện Quỳ Châu sạt lở nhiều điểm, đặc biệt những nơi đường bám ven núi cao. Có 3 điểm bị sạt lở nặng tại cung đường này.

Mặc dù đã rất cố gắng liên lạc với các huyện, nhưng vẫn chưa thể có thống kê sơ bộ thiệt hại ban đầu. Hiện chỉ còn huyện Quế Phong đang bị cô lập, do đường lên huyện này vẫn đang bị nước ngập nặng. Quế Phong là huyện có nhiều người thiệt mạng nhất, tính đến thời điểm 9h15’ sáng nay.



6h sáng, tại Kim Tân (Thanh Hoá): Bàng hoàng vỡ đê

Lúc này, phóng viên VietNamNet có mặt tại điểm đê vỡ của sông Bưởi (Kim Tân, Thanh Hóa). Nước đã không còn chảy xiết vì đã bão hòa, xa xa lố nhố người dân tránh lũ trên đê.

Người dân cho biết lũ lên và đê vỡ quá nhanh nên không kịp phản ứng, chỉ biết chạy lên bất kỳ chỗ nào cao. Một số người dân lên đê tránh lũ nhưng lại phải chạy tiếp vì đoạn đê vỡ lan rộng.



Hà Tĩnh, thông tin lúc 19h ngày 5/10 cho hay: Hiện 2 huyện Hương Sơn, Hương Khê đang bị ngập lụt nặng do nước lũ tràn về từ sáng nay. 16 xã nằm ven sông Ngàn Phố, thuộc địa bàn huyện Hương Sơn hiện đang chìm sâu trong nước lũ.

Trong đó, 3 xã Sơn Phúc, Sơn Mai, Sơn Thuỷ đã hoàn toàn bị cô lập. Hiện, 1.300 ha ngô đã mất trắng.






Vỡ đập ở Thanh Hóa, hàng vạn ngôi nhà chìm trong nước

Suốt đêm 4.10, phía tây Thanh Hóa và Hòa Bình tiếp tục có mưa lớn kéo dài. Lượng mưa trung bình từ 470 - 670 mm, có nơi lên tới gần 800 mm. Tất cả các sông ở Thanh Hóa đều xảy ra lũ nghiêm trọng, đe dọa nhiều tuyến đê và hàng chục vạn người dân sinh sống dọc các triền sông.

Hàng chục người dân bám trên cây kêu cứu suốt đêm

Có mặt tại hiện trường vào sáng qua, chúng tôi không khỏi bàng hoàng trước sức tàn phá kinh khủng của dòng lũ dữ. Cả một đoạn đập chính với chiều dài khoảng 50m bị cuốn trôi trong chốc lát. Một chuyên gia có kinh nghiệm trong xây dựng các công trình hồ đập có mặt tại hiện trường cho biết: "Có khoảng 600.000m3 đất đá đã bị cuốn trôi trong sự cố này. Ước tính thiệt hại lên tới 200 tỉ đồng, chưa kể đến tiến độ công trình sẽ bị chậm trễ nhiều tháng".

Đêm 4.10 và ngày 5.10, tại các huyện Thiệu Hóa, Thọ Xuân đã sơ tán được gần 2 vạn dân khỏi vùng rốn lũ. Nhiều người dân không kịp sơ tán đã phải trèo lên nóc nhà và các cành cây cao để tránh lũ. Tại làng Hạ, xã Thọ Thanh, huyện Thường Xuân, gần 30 người dân đã phải đeo bám trên cây, kêu cứu suốt đêm. Các lực lượng cứu hộ đã phải tuyệt vọng đứng trong bờ nhìn ra biển nước mênh mông. Mãi đến sáng 5.10, bằng nhiều nỗ lực bất chấp cả hiểm nguy lực lượng công an mới cho xuồng ra cứu số người dân này vào bờ.

Tính đến 13 giờ hôm qua, toàn huyện này đã có 7 xã với hơn 3.000 nóc nhà, hơn 400 ha mía ngoài đê bị ngập chìm trong biển nước. Các lực lượng đã sơ tán khẩn cấp được hơn 8.000 dân, còn lại hơn 4.000 dân đang tiếp tục được khẩn trương sơ tán. Lũ lớn cũng đã làm thiệt mạng 3 người dân, trong đó có trường hợp một thanh niên là Lưu Đình Hà, 17 tuổi, học sinh lớp 11 trường THPT Lam Kinh, quê xã Thọ Lâm, huyện Thọ Xuân, chết trong khi cứu bạn học bị lũ cuốn trôi. Tại xã Thiệu Dương, huyện Thiệu Hóa (cuối nguồn sông Chu), nước lũ cũng đã dâng cao nhanh chóng khiến người dân chỉ dắt được trâu, bò, lợn gà, còn thóc gạo và những đồ dùng thiết yếu đều phải bỏ lại ngôi nhà đang ngập chìm trong nước. Toàn huyện Thiệu Hóa có hơn 2.000 nóc nhà bị ngập lụt, hơn 6.000 dân phải đi sơ tán gấp



Lũ rất lớn trên nhiều sông ở phía Bắc và Bắc Trung Bộ

Hôm qua 5.10, Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn T.Ư cho biết, lũ trên hệ thống sông Mã (Thanh Hóa), sông Cả (Nghệ An) đang lên, đạt mức từ dưới báo động II đến trên báo động III và tiếp tục lên nhanh. Dự báo, mực nước trên sông Mã tại Lý Nhân (Hà Nam) sẽ lên mức 12,8m, trên báo động III 0,8m, tương đương đỉnh lũ cao nhất năm 1973.

Sáng và trưa nay 6.10, mực nước sông Bưởi tại Thạch Thành (Thanh Hóa) có khả năng lên mức 13,5m, trên báo động III 2,0m, thấp hơn đỉnh lũ cao nhất năm 1985 (13,99m); sông Mã tại Giàng lên mức 7,7m, trên báo động III 1,2m, cao hơn đỉnh lũ cao nhất năm 1980... Các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An cần đề phòng lũ quét, sạt lở đất trên các sông suối nhỏ vùng núi, ngập lụt sâu ở vùng trũng và đồng bằng ven sông.

Trong khi đó, ông Nguyễn Viết Thi - Trưởng phòng Dự báo thủy văn I (Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn T.Ư) cho biết, do mưa lớn trong các ngày qua, sáng 5.10, tại hồ Hòa Bình đã có đợt lũ lớn, lưu lượng nước đến hồ đạt 14.000m3/s khiến lực lượng hữu trách phải mở 6 cửa xả đáy. Kết hợp với lũ lớn trên sông Đà, sông Thao và lũ nhỏ trên sông Lô, hạ lưu sông Hồng sẽ có một đợt lũ trung bình, có khả năng đạt 10,2m vào hôm nay. Trên sông Thái Bình và sông Hoàng Long, lũ tiếp tục lên nhanh. Do mực nước tăng nhanh, có khả năng gây nguy hiểm cho các hoạt động trong khu vực lòng sông và bãi sông hạ du sông Hồng và sông Thái Bình, đặc biệt trên đoạn sông từ hạ du đập Hòa Bình đến Sơn Tây.

Các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu... cần đề phòng lũ quét, sạt lở đất trên các sông suối miền núi.



Quê mình giờ này chắc đã thành cái đảo giữa mênh mông biển nước rồi
Khổ thật!

Chiều mai bão số 5 đổ vào Nghệ An

,


Nhìn đường đi của bão mà nóng cả ruột
Quê mình nằm ngay giữa đường đi của bão, lãnh đủ :frown:
Ở nhà chỉ có bố, mẹ và bà, hy vọng mọi việc ổn.

Chiều mai bão số 5 đổ vào Nghệ An

Sáng nay, bão số 5 đi vào quần đảo Hoàng Sa, sức gió lên tới 117 km/giờ và tiếp tục mạnh thêm. Trong khi đó, một cơn áp thấp nhiệt đới sức gió 80km/giờ vừa hình thành, tiếp tục hướng vào biển Đông.


Theo Giám đốc TT Dự báo khí tượng thủy văn Trung ương Bùi Minh Tăng, sáng 3/10, tâm bão nằm cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) 60 km về phía Tây Nam. "Nếu sớm, 17-18h chiều mai, bão vào Nghệ An, muộn thì đêm mai, địa phương này bị ảnh hưởng. Rạng sáng 4/10, bão nằm trên địa phận tỉnh Nghệ An".




TT-Huế, Quảng Trị: Lũ dâng, nhiều khu dân cư ngập nặng

Mưa lớn do ảnh hưởng của cơn bão số 5 đang dâng lũ trên các sông Thừa Thiên - Huế và Quảng Trị. Nhiều địa phương đã phải tính đến phương án di dân.




Bão số 5: Sáng mai, 4 tỉnh sơ tán gần 300.000 dân

Tại cuộc họp chiều nay, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Cao Đức Phát, Trưởng Ban chỉ đạo PCLB T.Ư yêu cầu các tỉnh nằm trong vùng ảnh hưởng của bão sơ tán dân trong buổi sáng 3/10. Học sinh các vùng tâm bão đi qua sẽ phải nghỉ học ngày 3 và 4/10.


Theo xác định của Ban chỉ đạo PCLB TƯ tại cuộc họp, đến thời điểm này vùng nguy hiểm của bão trong 24 giờ tới trên biển trọng tâm từ vĩ tuyến 16 trở ra phía Bắc, trên đất liền là các tỉnh ven biển từ Đà Nẵng đến Thái Bình và các tỉnh Tây Nguyên, vùng đặc biệt nguy hiểm cần sơ tán dân là Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An và Thanh Hoá với 293.660 người.


Khoảng chiều tối và đêm ngày 3/10, vùng tâm bão có khả năng đi vào địa phận các tỉnh từ Thanh Hóa đến Quảng Bình. Do ảnh hưởng của bão, khu vực phía tây bắc Biển Đông (bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa) có gió mạnh cấp 8, cấp 9, vùng gần tâm bão đi qua cấp 10, cấp 11, giật trên cấp 11. Biển động dữ dội. Vùng biển ngoài khơi các tỉnh từ Thanh Hóa đến Đà Nẵng gió sẽ mạnh dần lên cấp 8, cấp 9, vùng gần tâm bão cấp 10, cấp 11, giật trên cấp 11. Biển động dữ dội. Ở các tỉnh Bắc và Trung Trung Bộ có mưa vừa, mưa to, có nơi mưa rất to. Cần đề phòng lũ quét và sạt lở đất.



Chiều 2/10 Thủ tướng Chính phủ ra công điện về phòng, chống bão số 5.
Theo đó, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương khẩn trương rà soát cụ thể các phương án, xác định các trọng điểm, vùng nguy hiểm, phối hợp chặt chẽ các lực lượng nhằm chủ động đối phó khi bão đổ bộ vào, nhất là ban đêm nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do mưa lũ gây ra.

Chủ tịch UBND các tỉnh từ Quảng Bình đến Thanh Hoá, trọng tâm là các tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An có trách nhiệm trực tiếp kiểm tra và chỉ đạo thực hiện mọi biện pháp cần thiết để chống bão và khắc phục hậu quả do bão gây ra; kiểm tra việc neo đậu tàu thuyền đảm bảo không bị va đập, chìm tại khu neo đậu; đình chỉ các cuộc họp không thật sự cần thiết để tập trung cho công việc cấp bách này; xem xét, quyết định việc cho học sinh nghỉ học để bảo đảm an toàn khi bão vào; không để người dân ở lại nhà tạm, nhà yếu có thể tốc mái, sập đổ khi có gió lớn; tổ chức, hướng dẫn nhân dân chằng chéo nhà cửa, bảo vệ kho tàng, công sở...

Chỉ đạo, tổ chức sơ tán dân ra khỏi các vùng nguy hiểm phải hoàn tất trước 12h ngày 3/10.

Chủ tịch UBND các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình và các tỉnh Tây Nguyên: Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk và các địa phương khác căn cứ diễn biến của mưa lũ, phân công lãnh đạo xuống các khu vực xung yếu kiểm tra, chỉ đạo các biện pháp cần thiết để chủ động phòng chống lũ lụt, sạt lở đất; chủ động di dời dân khỏi vùng nguy hiểm.

Công điện nhấn mạnh: Nếu xảy ra thiệt hại do làm không tốt các biện pháp trên, Chủ tịch UBND các tỉnh phải chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ.
December 2009
M T W T F S S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31