Saturday, 31. May 2008, 00:29:15
Lạm phát: "Kẻ thù" cũ đã trở lại (Phần I)http://www.vietimes.vietnamnet.vn/vn/caulacbotyphu/5047/index.vietCác nền kinh tế đang phát triển hiện có khá nhiều điểm tương đồng với các nước giàu trong thời kỳ đại lạm phát những năm 1970. Sự phát triển bùng nổ đồng loạt của kinh tế thế giới khiến giá cả hàng hóa tăng cao. Và những con số thống kê cũng không phản ánh đúng những áp lực lạm phát. Những áp lực lạm phát cũng không thể chế ngự và thị trường lao động thiếu linh hoạt, làm gia tăng rủi ro về vòng xoáy lương – giá... Liệu các quốc gia đang phát triển có lặp lại những sai lầm mà các quốc gia phát triển đã mắc phải hồi thập niên 1970 hay không?
Lịch sử có lặp lại không?
Ngay cả khi nền kinh tế Mỹ "loạng choạng" trên bờ vực suy thoái và nhiều nền kinh tế thuộc châu Âu đang đình trệ, ngân hàng trung ương ở các quốc gia giàu có này vẫn lo ngại lạm phát tăng cao. Nhưng những mối nguy mà các quốc gia này phải đối mặt thì vẫn nhỏ hơn nhiều so với ở các nền kinh tế đang phát triển, nơi tỷ lệ lạm phát năm ngoái đã tăng tới mức kỷ lục trong vòng chín năm. Bên cạnh đó cũng có con số đáng báo động về những sự tương đồng giữa các nền kinh tế đang phát triển ngày hôm nay và các nền kinh tế phát triển đầu những năm 1970 trong thời kỳ đại lạm phát (the Great Inflation). Liệu có phải lịch sử sẽ lặp lại với "thế hệ đàn em" mới nổi hay không?
Thực trạng lạm phát và những con số sai lệchTỷ lệ lạm phát giá tiêu dùng chính thức được công bố của Trung Quốc là 8,5%, cao nhất trong 12 năm trở lại đây, và tăng 3% so với năm ngoái. Con số này ở Nga đã nhảy vọt từ 8% lên trên 14%. Hầu hết các nhà sản xuất dầu mỏ khu vực vùng Vịnh cũng đã có tỷ lệ lạm phát hai con số. Tỷ lệ lạm phát giá bán buôn của Ấn Độ là 7,8%, mức cao nhất trong bốn năm trở lại đây. Tỷ lệ lạm phát ở Indonesia đã là 9% và có thể lên tới mức 12% trong tháng tới, khi người dân mong đợi chính phủ nước này tăng giá xăng dầu từ 25% đến 30%.
Lạm phát ở châu Mỹ Latinh hiện tại vẫn còn khiêm tốn so với những đỉnh cao lịch sử trước đây. Ngay cả như vậy thì tỷ lệ lạm phát của Brazil cũng đã lên mức 5% kể từ mức dưới 3% vào năm ngoái. Chilê đã tăng từ 2,5% đến 8,3%. Đáng báo động nhất là Venezuela và Achentina với tỷ lệ lạm phát tương ứng là 29,3% và 8,9%. Tuy tỷ lệ lạm phát chính thức của Achentina là 8,9% nhưng không có mấy nhà kinh tế tin vào con số này. Morgan Stanley dự đoán con số thật phải là 23%, con số này năm ngoái là 14,3%.
Trên thực tế, những con số thống kê chính thức của các nền kinh tế đang nổi lên đã không phản ánh đúng những áp lực lạm phát tại ở đây. Các khoản trợ cấp và các biện pháp điều tiết giá cả của chính phủ là một trong những lý do chính. Mặt khác, việc thiếu dữ liệu để làm căn cứ cho những thống kê chính xác, hoặc do các chính phủ không muốn công bố những con số xác thực cũng là những nguyên nhân chủ yếu.
Lạm phát thực của Trung Quốc có thể cao hơn vì chỉ số giá tiêu dùng của nước này không bao toàn bộ các dịch vụ tư nhân. Còn ở Ấn Độ, việc thu thập dữ liệu để tính CPI thường ở tình trạng chậm chạp: tỷ lệ lạm phát thực tế cho đầu tháng ba là cao hơn 2% so với con số chính thức. Nếu tính toán chính xác, năm trong số mười nền kinh tế đang nổi lên lớn nhất sẽ có tỷ lệ lạm phát ít nhất 10% tính đến giữa mùa hè năm nay.
Như vậy, hai phần ba dân số thế giới có thể sẽ phải đối mặt với lạm phát hai con số.
Gốc rễ của lạm phátNguyên nhân khiến lạm phát tăng cao gần đây chủ yếu do giá lương thực và giá nhiên liệu tăng cao.
Chẳng hạn, tại Trung Quốc, giá lương thực và thực phẩm đã tăng 22% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi giá của các mặt hàng khác chỉ tăng có 1,8%. Chính phủ các nước đã phản ứng lại bằng cách kiểm soát giá cả chặt hơn và dừng xuất khẩu các mặt hàng này. Chính phủ Ấn Độ đã cho ngừng hoạt động giao dịch kỳ hạn nhiều loại hàng hóa mà họ cho là đã góp phần đẩy lạm phát lên cao.
Trong ngắn hạn, những biện pháp như vậy có thể chặn lạm phát và tránh tình trạng bất ổn xã hội. Tuy nhiên, trong dài hạn, những biện pháp như vậy có hại nhiều hơn là có lợi. Việc ngăn chặn giá cả tăng cao không khuyến khích người nông dân tăng nguồn cung và người tiêu dùng giảm nhu cầu, dần dần dẫn tới tình trạng mất cân đối cung cầu, đẩy giá tăng cao thêm.
Năm nay, một số ngân hàng trung ương, trong đó có các ngân hàng trung ương của Brazil, Indonesia và Nga, đã tăng lãi suất cho vay. Tuy nhiên, mức lãi suất cao hơn này không thể theo kịp bước tiến của lạm phát, khiến lãi suất thực giảm xuống và hiện đang ở mức thực âm tại phần lớn các quốc gia đang phát triển, trừ một số ít nước như Brazil, Mexico và Hàn Quốc. Lãi suất cơ bản của Nga hiện là 6,5%, thấp hơn khoảng 8% so với tỷ lệ lạm phát. Lãi suất cho vay của Trung Quốc cũng thực âm 1%.
Nhiều nhà hoạch định chính sách tại các nền kinh tế đang nổi lên cho rằng, thắt chặt tiền tệ không có nhiều tác dụng trong việc cản tốc độ lạm phát vì lạm phát cao chủ yếu là do giá lương thực và nhiên liệu tăng cao, mà giá cao lại chủ yếu là do những cú sốc tạm thời về nguồn cung và do tình trạng đầu cơ. Trong khi đó, tăng lãi suất thì không thể giúp tạo ra thêm dầu, ngũ cốc hay thịt lợn. Họ hy vọng lạm phát sẽ giảm vào cuối năm nay khi giá cả ở mức cao khuyến khích sự tăng nguồn cung. Trên thực tế, giá lương thực và thực phẩm đã có xu thế hạ nhiệt từ đầu tháng này.
Đúng là lạm phát LTTP có thể hạ nhiệt vào cuối năm nay, nhưng cũng không thể xem thường áp lực này trong thời gian tới. Sự tăng giá đồng loạt trên thị trường lương thực và thực phẩm toàn cầu cho thấy nguyên nhân không chỉ nằm ở chuyện gián đoạn nguồn cung. Giá cả tăng cao còn do chính sách tiền tệ lỏng lẻo tại những nền kinh tế đang nổi lên, khiến nhu cầu nội địa tăng mạnh. Từ năm 2002 tới nay, các nền kinh tế này chiếm 90% lượng gia tăng trong nhu cầu tiêu dùng của toàn thế giới đối với dầu và kim loại, 80% đối với lượng gia tăng của nhu cầu tiêu thụ toàn cầu đối với ngũ cốc. Điều này phản ánh sự thay đổi nhu cầu trong tương lai nhưng đồng thời cũng là sản phẩm của sự bùng nổ có tính chu kỳ do cung tiền tăng cao.
Nhà phân tích Peter Morgan của Ngân hàng HSBC cho rằng, ban đầu, cú sốc giá lương thực bắt nguồn từ vấn đề nguồn cung, nhưng về sau, chính thu nhập và lượng cung tiền tăng đã giúp mức giá cao được duy trì. Nếu các nước thắt chặt hơn nữa chính sách tiền tệ, giá lương thực có thể đã xuống thấp hơn, giúp duy trì lạm phát trong tầm kiểm soát.
Một lý do tại sao các ngân hàng trung ương không thể xem nhẹ sự bùng nổ giá thực phẩm là giá thực phẩm tăng cao có thể kéo theo giá cả của các mặt hàng khác. Lương thực và thực phẩm chiếm từ 30 - 40% trong rổ hàng hóa làm căn cứ để tính chỉ số giá tiêu dùng ở các nước đang phát triển, so với mức 15% ở các nền kinh tế trong khối G7. Do đó, giá lương thực và thực phẩm có tác động nhiều đến mức kỳ vọng lạm phát, và như vậy, tác động đến nhu cầu tăng lương ở các nước đang phát triển mạnh hơn ở các nước phát triển. Chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ giúp giữ mức kỳ vọng lạm phát lại và ngăn chặn việc tăng giá nhóm hàng lương thực và thực phẩm ra toàn bộ nền kinh tế.
Phân tích của Goldman Sachs cho thời kỳ 1990 - 2007 khẳng định rằng, tại các nền kinh tế đang nổi lên, giá lương thực thực phẩm cao có khả năng đẩy giá các mặt hàng khác tăng theo. Tại phần lớn các nền kinh tế phát triển, mối liên hệ giữa các mặt hàng lương thực - thực phẩm và phi lương thực trươc đây không được coi trọng trong lĩnh vực thống kê. Bên cạnh đó, ngoài việc lương thực và thực phẩm chiếm một tỷ trọng lớn trong rổ hàng hóa, điều này còn xuất phát từ hai nguyên nhân. Thứ nhất, mức độ tín nhiệm của các ngân hàng trung ương ở các nước đang phát triển thường thấp hơn, do đó, mức kỳ vọng lạm phát thường được kìm giữ ở mức độ lỏng lẻo hơn. Thứ hai, mức lương thực tế ở các nước này thường ít linh hoạt hơn. Cả hai điều này đều làm gia tăng rủi ro về “vòng xoáy giá cả - tiền lương” - trong đó, người lao động luôn đòi hỏi mức lương cao hơn, chủ lao động phải tăng giá sản phẩm để nâng lương, công nhân cũng là người tiêu thụ, lại đòi tăng lương vì giá cao. Kết quả của vòng luẩn quẩn này rốt cục là lạm phát.
Nhà phân tích Philip Poole thuộc HSBC cho rằng, nhiều nền kinh tế đang nổi lên đã sử dụng hết công suất dự trữ do đầu tư không theo kịp với tăng trưởng kinh tế. Do đó, các doanh nghiệp thiên về xu hướng tăng giá. Ở Brazil và Ấn Độ, hệ số sử dụng công suất đã đạt những mức kỷ lục. Tỷ lệ thất nghiệp ở Brazil hiện đang ở mức thấp nhất trong vòng gần 20 năm trở lại đây. Còn ở Trung Quốc, công suất đầu tư có thể vẫn còn dư thừa chút ít nhờ hoạt động đầu tư mạnh mẽ.
Những hiệu ứng “vòng hai” của giá cả lương thực thực phẩm tăng cao đã trở nên rõ nét ở hầu hết các nền kinh tế đang phát triển. Nhà phân tích Andrew Cates của UBS tính toán rằng, cả ở châu Á và Mỹ Latinh, tỷ lệ lạm phát cơ bản (không tính LTTP và năng lượng) đã tăng khoảng 1% so với cùng kỳ năm ngoái, lên mức lần lượt là 3,4% và 6,2%. Còn ở Đông Âu, tỷ lệ này đã tăng 3%, lên mức 7,4%, chủ yếu là do sự phát triển quá nóng của kinh tế Nga. Ngược lại, tốc độ lạm phát cơ bản tại các nước phát triển hầu như không thay đổi.
Do lạm phát tăng cao khiến công nhân ở nhiều nơi lên tiếng đòi tăng lương. Trong một cuộc khảo sát về kỳ vọng lạm phát ở Argentina, câu trả lời về kỳ vọng lạm phát cho 12 tháng tới bình quân là 36%. Lương của người lao động ở Nga hiện đang tăng với mức bình quân khoảng 30%/năm.
Lạm phát: "kẻ thù" cũ đã trở lại (Phần II)http://www.vietimes.vietnamnet.vn/vn/caulacbotyphu/5048/index.viet... Liệu các quốc gia đang phát triển có lặp lại những sai lầm mà các quốc gia phát triển đã mắc phải hồi thập niên 1970 hay không?
Ngân hàng trung ương cần thể hiện vai trò của mình như thế nào?Lạm phát ở quốc gia này có thể tăng cao hơn ở một số quốc gia khác. Trong một phân tích về tiền lương, kỳ vọng lạm phát, áp lực về nhu cầu và công suất, cùng với sự tăng trưởng cung tiền, chuyên gia Cates cho rằng, Argentina, Brazil, Ấn Độ và các nước xuất khẩu dầu ở Trung Đông sẽ là những nước đối mặt với những rủi ro lớn nhất trong những tháng sắp tới. Trong khi đó, áp lực lạm phát sẽ phần nào dịu hơn ở những nước như Trung Quốc, Mexico, Hàn Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ.
Rõ ràng, chính sách tiền tệ cần phải được thắt chặt. Nhưng trên thực tế, mức lãi suất ở nhiều nước đang thấp hơn so với thời điểm cách đây một năm. Lãi suất ngắn hạn cũng thấp hơn bất thường so với tăng trưởng GDP danh nghĩa - một thước đo xem mức lãi suất hợp lý nên nằm ở đâu. Điều này cho thấy, chính sách tiền tệ của các nước hiện rất lỏng lẻo. Lượng cung tiền tại các nền kinh tế đang nổi lên đã tăng bình quân 20% so với cùng kỳ năm ngoái, gấp gần ba lần so với tốc độ tăng ở các nước phát triển. Riêng ở Nga, tỷ lệ này là 42%.
Như vậy, có thể thấy, các nền kinh tế đang phát triển hiện đang có rất nhiều điểm tương đồng với các nước giàu vào thập niên 1970, khi lạm phát bắt đầu tăng tốc tới mức phi mã. Sự phát triển bùng nổ đồng loạt của kinh tế thế giới khiến giá cả hàng hóa tăng cao. Thêm vào đó, các chính phủ phản ứng bằng các khoản trợ cấp và kiểm soát giá cả. Và những con số thống kê cũng không phản ánh đúng những áp lực lạm phát. Các nền kinh tế cũng hoạt động hết công suất. Lượng cung cũng tiền gia tăng. Những áp lực lạm phát cũng không thể chế ngự và thị trường lao động thiếu linh hoạt, làm gia tăng rủi ro về vòng xoáy lương – giá.
Theo suy nghĩ thông thường, những sai lầm trong chính sách tiền tệ gây ra thời kỳ lạm phát tăng vọt vào những năm 1970 không giống như những sai lầm ngày nay vì các ngân hàng trung ương ngày nay độc lập trước các chính trị gia. Tuy nhiên, thực tế không phải vậy. Không giống như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) và Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), nhiều ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế đang phát triển, tiêu biểu là ở Trung Quốc, Ấn Độ và Nga, không hoàn toàn độc lập. Cũng giống như ở thời điểm những năm 1970, họ thường phải đối mặt với những áp lực chính trị buộc duy trì lãi suất thấp để duy trì tăng trưởng kinh tế và việc làm.
Các nền kinh tế đang nổi cũng đang nằm trong mối nguy của việc lặp lại sai lầm của các ngân hàng trung ương ở các quốc gia giàu có trong những năm 1970: tập trung vào lạm phát cơ bản, coi đó là một nguyên nhân để giữ mức lãi suất thấp hơn tỷ lệ lạm phát. Nhưng lãi suất thực âm sẽ thúc đẩy nhu cầu, trong khi kỳ vọng lạm phát tăng cao gây ra việc rút tiền về nhiều hơn. Nếu các ngân hàng trung ương không thắt chặt chính sách tiền tệ sớm, kỳ vọng lạm phát có thể sẽ dâng cao.
Sự độc lập về tiền tệ của các ngân hàng trung ương cũng bị giới hạn bởi ước muốn của chính phủ là giảm lượng tiền tệ vào thời điểm vốn quốc tế khá linh hoạt. Đây là vấn đề mà các quốc gia đang phát triển không gặp phải vào ba thập niên trước. Khi các ngân hàng trung ương can thiệp vào thị trường ngoại hối nhằm tránh sự tăng giá trị tiền tệ, họ phải in thêm tiền để mua đôla, điều này thúc đẩy tính thanh khoản trong nước. Những lần cắt giảm lãi suất mới đây của FED đã làm việc thắt chặt chính sách của các quốc gia đang nổi trở nên khó khăn hơn. Nếu tăng lãi suất họ sẽ thu hút được nhiều dòng vốn đầu tư lớn hơn và sự can thiệp thêm nhằm giảm lượng tiền của họ sẽ tạo đà cho lạm phát, "đánh bại" việc tăng lãi suất.
Các ngân hàng trung ương của Trung Quốc và Ấn Độ đều đã tăng các điều kiện dự trữ vài lần trong năm này nhằm hạn chế tính thanh khoản dư thừa nhưng tỷ lệ lãi suất thì không thay đổi gì. Sự trượt giá mới đây của đồng rupi đã tạo cho Ngân hàng Trung ương Ấn Độ nhiều cơ hội để tăng lãi suất nhưng ngân hàng này đã hành động chậm trễ. Hồng Kông và các quốc gia vùng Vịnh - vốn vẫn kiểm soát chặt chẽ đồng tiền của mình so với đồng đôla đã buộc phải cắt giảm tỷ lệ lãi suất, mặc dù nền kinh tế sôi động của họ cần những chính sách nghiêm ngặt hơn.
Mặc dù các nền kinh tế đang nổi có thể tách riêng ra khỏi nước Mỹ và suy thoái của nó nhưng chính sách tiền tệ của các nền kinh tế này thì không thể làm điều đó. Cục dự trữ Liên bang Mỹ (FED) càng cắt giảm lãi suất thì sự tăng trưởng tính thanh khoản và nhu cầu nội địa ở các quốc gia đang phát triển càng mạnh mẽ hơn. Đổi lại, điều này nghĩa là giá cả hàng hóa tăng cao hơn, ảnh hưởng tiêu cực tới thu nhập và tiêu dùng của người Mỹ, dẫn tới việc FED sẽ cắt giảm lãi suất thêm nữa. Một cách để lấy lại quyền kiểm soát lãi suất là áp đặt các biện pháp tạm thời chặt chẽ hơn nữa đối với dòng vốn. Ví dụ, vào tháng ba vừa qua, Brazil đã áp dụng mức thuế 1,5% đối với đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực trái phiếu chính phủ. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng các biện pháp quản lý vốn sẽ không hiệu quả trong dài hạn.
Đối với nhiều nhà kinh tế học và những nhà hoạch định chính sách ở phương Tây, giải pháp là khá đơn giản: các nền kinh tế đang phát triển phải cho phép tỷ lệ trao đổi ngoại tệ có mức linh hoạt hơn nữa. Điều này sẽ cho phép họ tăng lãi suất và đồng tiền mạnh sẽ giúp giảm giá nhập khẩu. Nhưng mối liên hệ giữa tỷ giá trao đổi ngoại tệ và lạm phát là rất phức tạp. Stephen Jen thuộc Morgan Stanley nhận định rằng sự định giá lại có thể khuyến khích các nhà đầu tư mong đợi trị giá tiền tệ cao hơn - điều này sẽ thu hút nhiều luồng tiền nóng hơn và do vậy sẽ làm tăng lạm phát. Đó là vấn đề Trung Quốc đang gặp phải.
Mohsin Khan, Chủ tịch IMF tại khu vực Trung Đông và châu Á cũng đưa ra nhận định tương tự đối với các quốc gia vùng Vịnh. Ông cho rằng các quốc gia thuộc khu vực này không nên định giá lại đồng nội tệ hoặc điều chỉnh cơ chế chuyển đổi ngoại tệ hiện tại mặc dù lạm phát đang ở mức cao và đang tăng lên. Bất cứ động thái dù nhỏ nào ảnh hưởng tới kỳ vọng của nhà đầu tư có thể dẫn tới nguồn vốn đầu tư ngắn hạn và gia tăng áp lực lạm phát.
Lạm phát cao ở các nền kinh tế đang phát triển có ý nghĩa gì đối với những quốc gia giàu có? Tốc độ tăng trưởng nhanh chóng ở các quốc gia đang phát triển đồng nghĩa với giá LTTP, năng lượng và nguyên liệu thô vẫn ở mức cao. Nói cách khác, đây là một cú sốc lâu dài liên quan tới giá cả chứ không phải là chuyện ngày một ngày hai. Nhưng điều đó không có nghĩa là giá cả hàng hóa vẫn tăng cao với tốc độ hiện nay. Giá cả tăng cao sẽ thúc đẩy tăng nguồn cung. Và thậm chí giá cả vẫn giữ ở mức hiện nay, thì tốc độ tăng trưởng 12 tháng sẽ giảm, giúp hạ nhiệt tình trạng lạm phát toàn cầu.
Tuy nhiên vẫn có những lo ngại cho rằng sau nhiều năm xuất khẩu giúp giảm giá cả toàn cầu, Trung Quốc hiện đang xuất khẩu lạm phát trong nhiều mặt hàng sản xuất của mình. Số liệu từ Cục Thống kê Lao động của Mỹ chỉ ra rằng sau một vài năm giảm xuống, giá hàng nhập khẩu từ Trung Quốc đã tăng thêm 4,1% trong bốn tháng đầu năm, tỷ lệ tăng cao nhất trong vòng 12 tháng kể từ lần tăng đầu tiên vào tháng 12/2004.
Ảnh hưởng của Trung QuốcTuy nhiên, ông Jonathan Anderson thuộc UBS cho rằng sự tăng giá đột ngột các hàng hóa Trung Quốc là sai lầm. Nếu nhìn vào giá đồng đôla của những hàng hóa tái xuất khẩu của Trung Quốc từ Hồng Kông, giá xuất khẩu của đại lục đã tăng thêm khoảng 3%/năm kể từ năm 2004. Và nếu giá xuất khẩu đã tăng cao trong thời gian gần đây thì điều đó hoàn toàn là do sự tăng giá của đồng nhân dân tệ so với đồng đôla, chứ không phải lạm phát tăng nhanh của Trung Quốc.
Trong bất cứ tình huống nào, ảnh hưởng của Trung Quốc lên lạm phát toàn cầu phụ thuộc vào sự khác biệt về mức giá giữa các quốc gia. Trung Quốc đã giúp giảm lạm phát ở các quốc gia phát triển bởi hàng hóa Trung Quốc rẻ hơn rất nhiều và chiếm thị phần ngày càng lớn, thay thế những hàng hóa đắt đỏ hơn. Điều này sẽ còn đúng trong nhiều năm nữa. Sự cạnh tranh đến từ Trung Quốc cũng khiến các nhà sản xuất địa phương giảm giá và kiềm chế sự đòi tăng lương ở các quốc gia phát triển. Khi Trung Quốc di chuyển lên trên chuỗi giá trị, nó sẽ giảm giá thành hàng loạt các loại hàng hóa. Nói cách khác, Trung Quốc sẽ vẫn tiếp tục giúp giảm giá cả toàn cầu - mặc dù có thể ít hơn so với trước.
Nguy hiểm lớn nhất từ việc lạm phát tăng cao nằm ở các quốc gia đang phát triển chứ không phải ở các quốc gia phát triển. Do LTTP chiếm một tỷ lệ lớn hơn trong chi tiêu gia đình, không phải chỉ là những nền kinh tế thiên về lạm phát hiện nay mà những hậu quả xã hội và chính trị cũng rất nghiêm trọng. Tuần trước, Jean-Claude Trichet, Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã cảnh báo các ngân hàng trung ương trên toàn thế giới về việc lặp lại sai lầm của những năm 1970. Thời kỳ đó, các nền kinh tế đang phát triển không chiếm vị trí quan trọng trên thế giới như hiện nay. Để duy trì sức mạnh mới tìm thấy này, các nhà hoạch định chính sách cần giữ "dây cương" lạm phát cho chặt. Càng cho phép lạm phát leo thang thì mối nguy đối với tăng trưởng kinh tế trong tương lai càng diễn biến theo chiều hướng xấu đi.
Mai Phương (theo economist)