Skip navigation

Lost password? | Help

Nghĩa Lâm

Đôi lúc, cái mà nguời ta có được từ công việc của mình không phải là tiền bạc mà là những bài học quý báu - C. Black

May 2008

( Monthly archive )

Việt Nam - Ngươi đang ở đâu và sẽ đi đến đâu? (Kỳ 58)

,

Kinh tế Việt Nam: Còn vô vàn khó khăn phía trước
http://www.tuanvietnam.net//vn/tulieusuyngam/3887/index.aspx

Ky truoc: http://tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/3864/index.aspx
http://my.opera.com/nghialam/blog/2008/05/29/viet-nam-nguoi-dang-o-dau-va-se-di-den-dau-ky-53

Cho dù những điều kiện kinh tế, chính trị và an ninh tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam vươn mình thành con hổ châu Á tiếp theo, thì với chỉ số lạm phát không ngừng leo thang trong vòng 6 tháng trở lại đây, các nhà đầu tư đang dần tỏ ra lo ngại đối với sự ổn định vĩ mô của Việt Nam.



Rõ ràng chúng ta đang ở trong một giai đoạn quan trọng của chu kì quản lý lạm phát trước khi chúng ta mất đi vị thế đã dày công gây dựng được. Đồng thời, rất nhiều biện pháp cần được dự trù để đảm bảo nền kinh tế đất nước hạ cánh an toàn và vượt qua đợt khó khăn này.

Ngoài những dấu hiệu nóng nổi bật ở nhiều lĩnh vực, Việt Nam đã phải chứng kiến mức lạm phát nhảy vọt từ 8.6% vào tháng 8 - 2007 tới 21.4% vào tháng 4 vừa rồi. Lương thực thực phẩm cũng tăng lên tới 34%. Nếu tình trạng trượt dốc này còn kéo dài, chẳng mấy chốc chúng ta sẽ phải đối mặt với nguy cơ thất thoát vốn. Dòng vốn ra kết hợp với những gián đoạn của việc đầu tư trực tiếp từ nước ngoài hay tiềm lực xuất khẩu, có thể cùng một lúc dội lên nền kinh tế cơn khủng hoảng thanh toán.

Những dấu hiệu của sức ép ngày một nóng dần

Trong ba năm trở lại đây, Việt Nam đã hưởng thụ một thời kỳ hưng thịnh với mức tăng trưởng GDP vừa cao lại ổn định, thậm chí vượt trên cả tiềm lực tăng trưởng của nền kinh tế. Bởi thế, từ năm 2005, tổng sản lượng giữ vững ở mức dương.


Từ năm 2005, tổng sản lượng giữ vững ở mức dương
(Nguồn: CEIC, TT Nghiên cứu Kinh tế Goldman Sachs)


Có được bước nhảy vọt này là nhờ vào sự mở rộng của công nghiệp, và đặc biệt là ngành dịch vụ


Công lớn thuộc về sức phát triển vượt trội của ngành dịch vụ
Chú thích: So sánh lượng GDP theo các khu vực của nền kinh tế
_____ Khu vực thứ nhất
_____ Khu vực thứ hai
_ _ _ _Khu vực dịch vụ
(Nguồn: CEIC, TT Nghiên cứu Kinh tế Goldman Sachs)


Điều này có nghĩa là sản lượng hàng hóa sản xuất dần dần không đáp ứng được nhu cầu ngày càng nhiều của người tiêu dùng. Cầu càng lớn hơn cung thì khoảng cách càng nới rộng. Về lâu dài, khi nền kinh tế không còn khả năng "chịu nhiệt" nữa, sức ép sẽ dồn lên nền kinh tế.

Giới tiêu dùng trẻ tại Việt Nam đã nhiệt tình quảng bá phương châm sống "tiêu trước, trả sau", chạy theo những sản phẩm mới nhất của xe máy Piaggio, điện thoại di động Nokia hay quần áo hàng hiệu. Tư tưởng sống "không cần đến ngày mai" này phần nào đóng góp vào tình trạng bất ổn định của nền kinh tế ngày hôm nay.

Hơn nữa, những báo cáo về hiện trạng nút cổ chai cơ sở hạ tầng và một thị trường lao động gắt gao cũng là cảnh báo về những sức ép đang ngày càng tích lũy. Đường xá, cầu cảng thường xuyên tắc nghẽn đã kìm hãm năng suất của ngành vận tải.

Cùng lúc đó, việc thiếu điện đã trở thành “cơm bữa” không chỉ tại các thành phố lớn mà còn trong những khu công nghiệp – xương sống của nền kinh tế. Trong thị trường lao động, dù lợi thế dân số đem lại nguồn nhân lực dồi dào, lượng lao động lành nghề vẫn là quá ít để đáp ứng nhu cầu đang gia tăng nhanh của các hãng đầu tư.

Một dấu hiệu nữa của nền kinh tế đang nóng là thâm hụt thương mại đang mở rộng ngày càng lớn. Trong hai năm qua, thâm hụt trong thương mại hàng hóa mỗi quý tăng từ trung bình 1.2 tỉ đô vào 2006 tới 3.1 tỉ vào 2007, và cuối cùng phồng lên tới 8.3 tỉ trong quý 1 năm 2008, tương đương tới 11.2% của GDP vào 2007 .


Thâm hụt thương mại ngày càng lớn khi cung nội địa dâng cao
(Nguồn: CEIC, TT Nghiên cứu Kinh tế Goldman Sachs)


Ông Johnathan Pincus, nhà kinh tế học thuộc Chương trình Phát triển LHQ, nói: "Những vấn đề Việt Nam đang vấp phải nghiêm trọng hơn các nước trong khu vực bởi những quy tắc tài chính và tiền tệ từ khủng hoảng 1997 vẫn chưa hoàn toàn hồi phục". Ông cũng bày tỏ lo ngại về khả năng tài chính của Việt Nam để đối đầu với thâm hụt lớn đến vậy, làm yếu đi giá trị đồng Việt Nam.

Lạm phát leo thang đang là bóng đen phủ lên nền kinh tế

Tháng tới, khi những trợ cấp về nhiên liệu và các hàng hóa tối ưu khác bị cắt giảm, người ta ước tính lạm phát sẽ còn tăng tới hơn 30%.

Liệu có phải là nghịch lí khi một đất nước có mức tăng trưởng cao đến ấn tượng lại chính là đất nước có tỉ lệ lạm phát cao nhất Đông Á. Điều này có thể lí giải được.

Đó là hậu quả sự chú trọng bất cân đối tới sự gia tăng của lượng (tỉ lệ tăng trưởng cao) và sự phát triển đồng đều của chất (chất lượng của sự tăng trưởng). Vì thế, công nhân ở vùng nông thôn cũng như ở các nhà máy có mức thu nhập cao hơn, nhưng chất lượng cuộc sống lại kém trước. Lương tăng không đủ để giúp họ chống chọi với lạm phát.

Trung bình, một công nhân nhà máy thu nhập hơn 800.000đ/tháng. Với mức lương như thế, họ không thể tồn tại được khi mà giá nhiên liệu đang tăng lên tới 30% và cao hơn thế nữa. Tháng tới, khi những trợ cấp về nhiên liệu và các hàng hóa tối ưu khác bị cắt giảm, người ta ước tính lạm phát sẽ còn tăng tới hơn 30%.

Không lâu sau những áp lực lạm phát đổ lên giá cả lương thực trong quý 2 năm 2007, chúng nhanh lan sang các lĩnh vực khác nữa. Đến cuối năm 2007, một đột biến giá mạnh của lương thực đã đẩy lạm phát CPI ở Việt Nam lên tới đỉnh điểm trong vòng 12 năm. Sau đó, giá cả tiếp tục leo từ 19% trong 12/2007 đến 35% trong 4/2008, nâng lạm phát CPI tới 21.4% trong tháng tư.

Ngược với một số nhận định rằng lạm phát tại Việt Nam là hậu quả của sốc cung và giá hàng hóa nhập khẩu tăng cao, TT Nghiên cứu Kinh tế Goldman Sachs tin rằng nguyên nhân chính là việc mở rộng tiền tệ quá mức từ năm 2007.


Nguyên nhân của lạm phát là sự mở rộng tiền tệ
(Nguồn: CEIC, TT Nghiên cứu Kinh tế Goldman Sachs)


Lập luận này dựa trên hai yếu tố chính. Một là, sự gia tăng đột biến của nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, khiến ngân hàng phải phát hành tín phiếu ngân hàng trung ương nhằm phần nào vô hiệu hóa tác động của dòng vốn chảy vào, nhưng vẫn còn một lượng lớn thanh khoản chưa được giải quyết. Hai là sự mở rộng khu vực ngân hàng, cùng với nó là chính sách cho vay tiền ồ ạt với mục đích gia tăng thị phần, dẫn đến hậu quả là lượng nợ chưa trả ngày càng cao.

* Catherine Trần (Tổng hợp từ các báo cáo của Goldman Sachs và The Straits Times)

Kỳ 3: Định hướng cho con tàu kinh tế Việt Nam

Việt Nam - Ngươi đang ở đâu và sẽ đi đến đâu? (Kỳ 57)

,

Năm điều ước cho tương lai của Hà Nội mở rộng
http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam//3876/index.aspx

Chính phủ đã giải trình, ĐBQH đã thông và bấm nút thông qua Nghị quyết về mở rộng thủ đô. Trước giai đoạn mang tính bước ngoặt này, có không ít những băn khoăn và ước vọng.


Trước những biến cố quan trọng trong cuộc đời và bên thềm những sự kiện lịch sử con người ta thường hay suy ngẫm và luôn hướng ước nguyện của mình vào những điều tốt đẹp hơn cho tương lai. Âu đó cũng là một tố chất vốn sẵn có trong tính cách của người Việt Nam mà ta vẫn hay gọi là tinh thần lạc quan. Không có tố chất đó chắc gì dân tộc ta đã tồn tại và phát triển sau bao nhiêu thăng trầm và thử thách quá khắc nghiệt của lịch sử?

Việc mở rộng Thủ đô trong thời gian qua đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của người Việt trên toàn thế giới và các phương tiện truyền thông. Nhiều ý kiến khác nhau và có những ý kiến đối nghịch nhau trong quá trình thảo luận.

Mọi ý kiến đều đáng được tôn trọng và bảo lưu vì một lý do khách quan là đối với những hệ thống kinh tế - văn hóa - xã hội với các mối tương tác đều mang tính chất phi tuyến tính (đôi khi còn mang ý nghĩa Tâm linh) và đa vòng (các yếu tố nhân - quả luôn có xu hướng chuyển đổi vai trò theo thời gian) nên khó có thể kết luận chắc như đinh đóng cột một nhận định nào là hoàn toàn đúng hay sai khi chưa có đủ thời gian để minh chứng.

Tuy vậy không có lý do gì để do dự và băn khoăn quá đáng vào một tương lai tốt đẹp hơn của Thủ đô mở rộng.

Điều ước thứ nhất:

Lãnh đạo Thủ đô nhận thức sâu sắc tình trạng yếu kém trong quản lý đô thị hiện nay bắt nguồn từ những lỗi hệ thống về tuyển chọn và sử dụng nhân tài, sự suy thoái về phẩm chất và trình độ của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức trong bộ máy để có đủ quyết tâm và dũng cảm chính trị thực hiện việc cải cách hành chính một cách thực sự nhân việc mở rộng địa giới nhằm xây dựng một bộ máy quản lý có hiệu năng cao và trong sạch hơn.

Điều ước thứ hai:

Trong việc quy hoạch Thủ đô mở rộng và quản lý, điều hành đô thị sau này, vì là người đi sau nên ta có thể tránh được vết xe đổ của những nước đi trước, do vậy có thể sử dụng rộng rãi hơn và lắng nghe ý kiến của chuyên gia tư vấn nước ngoài. Không vì những "hoang tưởng" và căn bệnh "kỳ vĩ" mà đề ra những kế hoạch xa rời thực tế gây tổn thất cho nền kinh tế đất nước.

Do kinh tế Việt Nam còn chưa tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng và tiêu thụ toàn cầu nên trong một giai đoạn lịch sử nhất định Thủ đô vẫn phải tự bảo đảm nhu cầu nhiều mặt của mình bằng việc phát triển đa chức năng, đa lĩnh vực.Tuy nhiên phải nhắm tới mục đích cơ bản và lâu dài: Thủ đô phải là một trung tâm chính trị, sáng tạo khoa học, công nghệ và văn minh tinh thần của cả nước.

Điều ước thứ ba:

Người ta đã ví văn hóa như gien ADN của một dân tộc, anh có còn là anh hay không trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập đang diễn ra như vũ bão hiện nay chính là nhờ vào văn hóa của dân tộc anh có sức sống hay không.

Thủ đô mở rộng sẽ tạo điều kiện để văn hóa người Tràng An thanh lịch có dịp giao lưu với văn hóa thấm đẫm chất dân gian của Xứ Đoài và một số vùng lân cận để tích hợp nên những nét văn hóa phong phú hơn, sinh động hơn.

Đây cũng là bước tập dượt để chúng ta hình thành bản lĩnh khi hội nhập quốc tế trong lĩnh vực rất phong phú và đa dạng dễ gây "choáng" và "sốc" này.

Để xây dựng một tâm thức mới cho người dân Thủ đô mở rộng thiết nghĩ nên lấy lại tên Thăng long nhân dịp đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Cái tên đầy khí thế đi lên đó sẽ có tác dụng mạnh mẽ và dài lâu mãi mãi trong việc động viên, khích lệ và đoàn kết mọi con tim, khối óc của người Việt nam trước những thử thách cam go của lịch sử.

Đúng với tính cách của Rồng là uyển chuyển, mạnh mẽ, trung thực và cao quý, chúng ta sẽ hình thành nên những nét văn hóa mới của người dân Thủ đô, đó là: phong cách thì dung dị, nhẹ nhàng, linh hoạt nhưng cốt cách thì luôn toát lên sự cao sang, tâm thì luôn sáng, trí thì luôn đầy và quyết tâm, nghị lực như Trời, Bể.

Điều ước thứ tư:

Công bằng xã hội phải là nét đặc trưng của hệ thống kinh tế - xã hội của Thủ đô mở rộng.

Với dân số trên 6 triệu người, hơn phân nửa trong số đó là từ các tỉnh lân cận sáp nhập vào với mức thu nhập chênh lệch nhiều so với dân Hà Nội gốc thì những khác biệt, phân hóa giàu nghèo chắc chắn sẽ là vấn đề nổi cộm. Hãy có chính sách phù hợp để các chủ đầu tư bất động sản trên vùng đất giải tỏa của dân có những đóng góp thỏa đáng vào ngân sách nhằm tạo nguồn thu nhập ổn định và tạo công ăn việc làm.

Thông tin trong lĩnh vực đất đai phải được minh bạch và công khai, cuộc chiến chống tham nhũng cần được tiếp thêm năng lượng và dũng khí mới qua việc hình thành những cơ chế cụ thể, hữu hiệu có tác dụng để người dân đóng góp ý kiến phản biện với các cá nhân và cơ quan hữu quan mà không bị "sự im lặng đáng sợ" làm cho ai cũng nản lòng và mất tin tưởng.

Điều ước thứ năm:

Hàng năm hoặc định kỳ hàng quý lãnh đạo Chính phủ và Thủ đô sẽ có những báo cáo đầy đủ và chính xác về tình hình thực hiện việc mở rộng Thủ đô. Các tiêu chí của bản báo cáo thường kỳ phải được Quốc hội thông qua và mang tính pháp lý cao do vậy nó sẽ gắn trách nhiệm của những người lãnh đạo cụ thể vào kết quả công việc rất hệ trọng này.

Không thể để tái diễn tình trạng "tư duy nhiệm kỳ" như đã xảy ra ở nhiều dự án "đầu voi đuôi chuột" trong quá khứ gần đây ở nhiều địa phương.

Và cũng không thể buông trôi để việc mở rộng Thủ đô trở thành đơn thuần chỉ là một chiến dịch kinh doanh bất động sản siêu lợi nhuận trên quy mô lớn chưa từng có trong lịch sử nước ta, gây nên những căng thẳng xã hội và nhiều hệ lụy khôn lường!

Trên cơ sở đánh giá trung thực, khách quan và chính xác tình hình mở rộng Thủ đô chúng ta sẽ luôn chủ động ứng phó với mọi tình huống xảy ra và do vậy luôn nhìn thấy những mặt thật của vấn đề.

Nếu sau một thời gian với những nỗ lực cao mà mục tiêu không đạt được, thì những người có trách nhiệm hãy dũng cảm nhận ra sai lầm để có những điều chỉnh kịp thời, tránh những hỗn độn và tan rã hệ thống xảy ra, mặc dù không ai trong chúng ta mong muốn điều này.

Chúng ta tràn đầy hy vọng rằng Thủ đô mở rộng sẽ đem lại một sự phát triển mới hay một sự biến chuyển tích cực về chất trong mọi lĩnh vực. Nói theo ngôn ngữ của khoa học hệ thống, là đã tạo được sự cộng hưởng cao hơn (hay sự hợp trồi) giữa các thành phần của hệ thống mới và vì thế mà sản sinh ra những giá trị gia tăng cao hơn trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học, nghệ thuật và nhân văn…

*
Ts. Kinh tế Phạm Gia Minh (Thăng Long - Hà Nội 30/5/2008)


Ts. Diệp Văn Sơn: Mở rộng Hà Nội: Lượng đã đổi, mong chất sẽ đổi

Sau những giải trình của Chính phủ, và Thủ tướng, các đại biểu đã thông và bấm nút thông qua. Cử tri không ai phản đối chủ trương mở rộng HN cho tương xứng với tầm vóc một thủ đô, nhưng có rất nhiều băn khoăn chính đáng.

Nói như ĐBQH Dương Trung Quốc, việc này trọng đại như Lý Công Uẩn dời đô, không thể đơn giản như việc sát nhập vẽ ra trên giấy. Từ mong muốn, ý tưởng đến thực hiện và lộ trình thực hiện có rất nhiều khó khăn có thể nảy sinh, cần phải lường cho hết.

Việc mở rộng không phải là trải thảm hoa, sẽ phải qua nhiều giai đoạn phức tạp, khó khăn, qua thời kì quá độ. Tách tỉnh đã nhiều chuyện nhưng vẫn dễ hơn nhiều so với nhập tỉnh.

Băn khoăn lớn nhất của tôi chính là lộ trình thực hiện gắn với tổ chức, và quá trình chuẩn bị triển khai như thế nào. Chưa có quy hoạch chi tiết để tổ chức cuộc sống của người dân trên địa bàn, mở rộng đồng nghĩa với trăm thứ khó khi giải quyết.

Lộ trình chuẩn bị cả về vật chất, tâm lý, và bộ máy chính quyền như thế nào là những câu hỏi không dễ trả lời. Hiện chúng ta hô hào tinh thần yêu nước, tinh thần công chức, nhưng khi mở rộng rồi, xử lý ra sao.

Sáp nhập theo đúng phản ánh 1 đưa ra, quy mô Hà Nội phát triển gấp 3 về diện tích, dân số đông gần 2 lần, tạo phát triển đột biến về lượng. Về nguyên tắc, khi lượng đổi thì chất đổi. Do đó, mở rộng HN không phải phép cộng cơ học mà phải biến thành chất mới của bộ máy quản lý mới.

Lộ trình cho giai đoạn quá độ?

Chúng ta thường nói, đô thị quản lý khó vì mặc chiếc áo nông thôn. Mở rộng, vấn đề này càng thách thức gay gắt. Những quy định về đô thị có phù hợp với đất Hà Tây mới nhập hay cần thời kỳ quá độ? Nếu quá độ thì sẽ như thế nào?

Khi mở rộng, HN sẽ gồm hai địa bàn khác nhau: nông thôn - đô thị. Xét về tiêu chí đô thị, còn lâu địa bàn mới sát nhập đạt được tiêu chí của một đô thị. Do đó, mục tiêu đô thị văn minh, hiện đại càng xa vời, khó khăn hơn. Đơn cử, theo khảo sát bệnh tiêu chảy cấp ở Hà Tây, 40% không có hố xí, thải trực tiếp ra môi trường. Khi thành thủ đô, giải quyết chuyện thiếu toilet của 40% hộ gia đình ở Hà Tây với hàng trăm hộ là vấn đề lớn không đơn giản.

Về bộ máy quản lý, nếu cộng vào cơ học cũng không ổn, phải có sự hòa hợp. Bộ máy gấp đôi, ai về ai nghỉ? Hà Nội 6 triệu dân sẽ cần bộ máy lớn nhưng không lẽ gấp đôi các thành phố khác? Có thể chấp nhận quá độ nhưng thời gian quá độ sẽ là bao lâu?

Hai nhiệm vụ quản lý đô thị và phát triển khu vực nông thôn phải thấm nhuần, tiến hành song song. Triển khai nặng về vấn đề gì sẽ tạo độ vênh. Ví dụ, nếu tập trung cho nông nghiệp nhiều quá, quản lý đô thị sẽ bị xao nhãng.

Đại diện Chính phủ giải trình rằng giao thông đã có quy hoạch phù hợp nhưng dù sao đó cũng chỉ là trên giấy. Từ tuyến đường nối liền HN với Hà Tây phát triển thành mạng lưới giao thông hiện đại rất khó, cần tính kỹ lưỡng.

Hơn nữa, tâm lý công dân, cán bộ công chức loại 2 đã nghe râm ran trong bộ phận những người dân ở địa bàn mới. Xử lý vấn đề như thế nào?

Giải quyết tốt thì đáng mừng nhưng nếu không tốt thì rất khó chữa. Một tính toán sai có thể tạo ra hệ lụy rất lớn. Làm không tốt, không may xảy ra sai lầm, ai sẽ là người phải sửa, ai sẽ chịu trách nhiệm, là một việc rất khó. Phải sửa chữa đã là một sự lãng phí lớn cho xã hội. Một lần sát nhập, chi phí tốn kém hàng trăm tỷ đồng...

ĐBQH, những người bấm nút cho nghị quyết mở rộng thủ đô sẽ chịu trách nhiệm trước lịch sử, nhưng lịch sử thì vô hình, có ai đưa ra xét xử ở tòa án lịch sử. Ai sẽ chịu trách nhiệm cho tương lai nếu vẫn giữ tư duy nhiệm kỳ hiện nay?

* Phương Loan (ghi)

Việt Nam - Ngươi đang ở đâu và sẽ đi đến đâu? (Kỳ 56)

,

Nhập siêu: "Tội nhân" và "nạn nhân"?
http://www.tuanvietnam.net/vn/sukiennonghomnay/3875/index.aspx

Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh và Phạm Chi Lan phân tích về thực tế báo động của nhập siêu VN năm 2008 khi chỉ 5 tháng đầu năm, mức nhập siêu đã vượt qua con số của năm 2007 và tăng gấp 3 lần cùng kì năm trước.


Nhập siêu đã lên đến con số báo động 14,4 tỷ USD chỉ trong 5 tháng đầu năm nay, cao gấp ba số nhập siêu của cùng kỳ năm trước và bằng tổng nhập siêu trong năm 2007. Con số này đã phá vỡ mọi kỷ lục nhập siêu VN từng có, với mức trung bình gần 2,88 tỷ USD/tháng.

Các chuyên gia đưa ra kịch bản, nhập siêu những tháng tiếp theo chỉ là 1 tỷ USD/tháng, trong cả năm 2008, con số nhập siêu cũng sẽ vượt qua mức 21-23 tỷ USD. Trong khi đó, nguồn tiền có thể bù đắp cho nhập siêu trong cán cân thanh toán gồm kiều hối, FDI giải ngân, ODA, theo dự báo của một cán bộ ngân hàng nhà nước, chỉ ở mức 17 tỷ USD. Việc này đồng nghĩa với việc ngân sách sẽ thiếu hụt khoảng 6 tỷ USD trong năm nay.

Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh:
Nguy hiểm nhập siêu


Nhập siêu đang là một trong những nguy cơ lớn nhất với nền kinh tế hiện nay. Bình thường nhập siêu hơn 5% so với xuất khẩu là nguy hiểm, nhưng chỉ trong 5 tháng đầu năm 2008, chúng ta đã nhập siêu lên đến 40% GDP và 60% giá trị xuất khẩu. Yêu cầu xử lý vấn đề nhập siêu trở nên cấp bách.

Năm 2007, VN cũng nhập siêu, nhưng có thể trang trải khoản thâm hụt trong cán cân thanh toán một cách rất mong manh, nhờ vào kiều hối, FDI giải ngân, ODA, và vốn gián tiếp. Năm nay, với mức nhập siêu cao như thế, khả năng trang trải bằng những nguồn đó chắc chắn không đủ.

Đối mặt với một vấn đề lớn như vậy, chúng ta chưa có các biện pháp ứng phó kịp thời. Theo tôi, cần trình lên Quốc hội xem xét và giám sát nghiêm chỉnh.

Có lý do gì để VN nhập khẩu vàng nhiều như thế? Hiện VN là nước nhập khẩu vàng lớn nhất thế giới, là nước nhập khẩu ô tô lớn và mới đây nhất, có người đã nhập khẩu máy bay...

Chúng ta nhập khẩu đủ thứ, từ ô mai, hộp tăm, đến ô tô, máy bay. Có người đầu tiên, rất có thể VN sẽ có đến người thứ 100 nhập khẩu máy bay. Có lẽ cần phải xem lại chính sách.

5 tháng đầu năm 2008, vốn FDI đăng ký vẫn lớn, nhưng tỷ trọng đăng ký vào bất động sản, các khu vui chơi giải trí rất lớn. BĐS tạo ra ít tạo công ăn việc làm, nhưng quan trọng hơn nó không giúp thay đổi cơ cấu kinh tế, tức là không nâng cao khoa học công nghệ, năng lực xuất khẩu của VN.

Sáu tháng cuối năm là thách thức rất lớn. Trong điều kiện này, cần có sự thích nghi. Nếu chúng ta áp dụng những biện pháp đã được định trước cho một thời kỳ kinh tế bình thường, thì ngày nay trước tình hình kinh tế khẩn trương như thế này, chúng ta phải điều chỉnh, áp dụng những biện pháp phù hợp.

Liệu chúng ta có vượt qua được tình hình khó khăn này hay không là dựa vào sự cương quyết của Chính phủ, sự nỗ lực và đồng thuận xã hội. Tôi mong Quốc hội nâng cao vai trò giám sát để chặn đứng được lạm phát hiệu quả, giảm nhập siêu và sớm ổ định tình hình kinh tế vĩ mô.

Phá sản không tàn phá, chỉ cơ cấu lại nền kinh tế

Phải đối mặt với các thách thức lớn: lãi suất cao, đồng USD mất giá, xuất khẩu chậm lại do kinh tế thế giới suy giảm, DN sẽ không tránh khỏi khả năng "làn sóng phá sản". Các công ty kém hiệu quả sẽ dừng hoạt động.

Tuy nhiên, phá sản trong kinh tế học là sự tàn phá sáng tạo. Khác với thiên tai, hay cháy nhà khiến mất hết, DN phá sản thì nhà xưởng, máy móc, nhân công vẫn còn, chỉ có ông chủ kém về vốn, công nghệ, quản lý phải bán doanh nghiệp đi. Chúng ta hãy ủng hộ cơ cấu lại nền kinh tế. Những ông kém sẽ phải bán cho những người có năng lực hơn. Lúc đó nến kinh tế sẽ có hiệu quả hơn. Không nên quá lo lắng phá sản sẽ dẫn đến sự tàn phá nào. Đó là sắp xếp lại, cơ cấu lại nền kinh tế.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan:
Nhập siêu - xem lại năng lực cạnh tranh thực của nền kinh tế


Đương nhiên nhập siêu làm tăng lạm phát nhưng đó không phải là tội nhân duy nhất. Ba nhân tố dẫn đến nhập siêu tăng nhanh: hội nhập kinh tế sâu hơn; trong quá trình phát triển, đầu tư nhiều, nhu cầu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu nhiều nên đương nhiên nhập khẩu tăng; và việc tăng tiêu dùng bất hợp lý của một bộ phận trong xã hội có xu hướng xài sang.

Khi hội nhập, mở cửa, đương nhiên, cũng như VN tìm thị trường bên ngoài, các nước cũng tìm kiếm cơ hội tại thị trường VN. Với lợi thế của một nước đông dân, kinh tế tăng trưởng nhanh liên tục trong nhiều năm, nhu cầu tiêu dùng tăng lại chưa phải là thị trường của riêng ai, còn tương đối mở nên VN thu hút được mối quan tâm lớn của bên ngoài.

Nhập khẩu tăng là kết quả tất yếu của việc hội nhập, gắn kết kinh tế. Nhìn từ giác độ tích cực, nhập khẩu tăng minh chứng VN đã hội nhập hơn vào kinh tế thế giới, thành "cứ điểm" để luồng hàng hóa, luồng tiền... ra vào, và trong tương lai, cả luồng khoa học - công nghệ và dòng nhân lực.

Khi hội nhập, cả nhập khẩu và xuất khẩu đều có xu hướng tăng lên. Vấn đề chính là VN chưa tận dụng tốt xu hướng tăng xuất khẩu, mà chịu sức ép quá lớn của xu hướng tăng nhập khẩu khi chưa có sự chuẩn bị tốt.

Trung Quốc đã dành 5 năm trước khi gia nhập WTO để có những bước chuẩn bị tích cực nhằm xoay chuyển tình hình kinh tế trong nước, chuẩn bị cho từng người dân trước hai xu hướng hệ quả của hội nhập.

Nhờ đó, ngay trong năm đầu gia nhập WTO, xuất khẩu của nước này tăng 35% trong khi nhập khẩu tăng không đáng kể (dù trong quá trình đàm phán, Trung Quốc chịu sức ép từ phái các đối tác lớn hơn rất nhiều).

Cách thiết thực nhất để chống chọi với sức ép nhập khẩu là có nền sản xuất trong nước mạnh, các ngành sản xuất trong nước có khả năng cạnh tranh. Nếu bản thân mình đủ mạnh, không lí gì nhập khẩu lại tăng quá cao như hiện nay.

Với VN, dường như ta tập trung cao cho đàm phán, thay đổi thể chế luật pháp nhưng việc thay đổi cơ cấu kinh tế, tăng khả năng cạnh tranh cho nền kinh tế ít được quan tâm.

Xem lại chính sách đầu tư, ưu đãi ngành

Nhập khẩu nhiều như vậy phản ánh thực tế VN không đủ cung hoặc cung không đáp ứng được yêu cầu, do đó không cạnh tranh được với sản phẩm bên ngoài. Chúng ta cần xem lại chính sách đầu tư đã tốt hay chưa.

Vừa qua, Nhà nước đã ưu ái nhiều ngành, bảo hộ nhiều, nhưng không ép được các ngành này tăng khả năng cạnh tranh, do đó, khi hội nhập, các DN, ngành này vẫn không trụ được trước sức ép, dù được ưu ái.

Ô tô là một ví dụ rõ nhất. Ngành sản xuất ô tô trong nước đã có cả 10 năm nay, được hưởng nhiều ưu đãi nhưng khi thuế nhập khẩu ô tô chỉ giảm một chút, ô tô nguyên chiếc ào ạt vào VN. Nhập khẩu ô tô chính là phản ứng của người tiêu dùng VN với sản xuất trong nước, là biểu hiện của chính sách không hợp lý, không thúc đẩy được năng lực cạnh tranh.

Ngành điện tử VN không còn chỗ đứng ngay trên thị trường VN. Cơ khí cũng được khuyến khích, hưởng nhiều ưu ái nhưng đến thời điểm này, ngành cơ khí VN đã có gì để cung cấp cho người ta. Các nhà đầu tư vào VN phải nhập từ nguyên liệu, linh kiện... đến công nghệ.

VN có khoáng sản nhưng cũng không có khả năng chế biến thành nguyên liệu trung gian. Dệt may bao năm vẫn là gia công... Các nhà đầu tư vào VN kêu thiếu công nghiệp phụ trợ. Trong nước không đáp ứng được, đương nhiên, nhà đầu tư phải nhập khẩu từ bên ngoài.

Có thể thấy, chính sách và quy hoạch cụ thể cho phát triển công nghiệp có những điểm bất ổn. Trong chiến lược phát triển mới, cần có điều chỉnh, rút kinh nghiệm từ câu chuyện nhập siêu này.

Ngay cả với việc nhập khẩu cho đầu tư cũng phải xem xét đầu tư đó hợp lý hay sử dụng lãng phí. Nếu không hiệu quả, nhập siêu cao gây lạm phát lớn.

Lãng phí trong nhập khẩu nằm ở những công trình trăm triệu đô-la

Trong nhập siêu cho tiêu dùng, sản phẩm góp phần nặng nhất là các hàng tiêu dùng cao cấp: mỹ phẩm, ô tô, thậm chí cả máy bay nhập khẩu. Chúng ta nên có cách điều chỉnh phù hợp với nền kinh tế VN hiện nay, khi người có thu nhập trung bình và thấp vẫn chiếm đa số.

Tuy nhiên, không bao giờ nên phê phán về việc tiêu dùng hàng hóa như thế nào. Vấn đề nằm ở chỗ sản xuất trong nước không đáp ứng được yêu cầu.

Lẽ ra sản xuất trong nước phải nhắm được nhu cầu tiêu dùng và có sự đầu tư, phát triển để đáp ứng chứ không phải cạnh tranh không được lại quay sang trách người ta nhập khẩu. Có trách là trách nền sản xuất trong nước không sản xuất nổi chiếc tăm, đôi đũa vừa ý người tiêu dùng, để họ phải dùng hàng nhập khẩu.

Dù nhập khẩu từ cái tăm, đôi đũa, những thứ đập ngay vào mắt, nhưng giá trị nhỏ tương đối so với tổng giá trị nhập khẩu cho sản xuất, do đó, con số dưới 10% nhập khẩu cho tiêu dùng không có gì khó hiểu.

Các công trình lớn của VN hầu hết ở mức hàng trăm triệu đô la, tương đương với tổng giá trị của một loạt các sản phẩm tiêu dùng nhập về trong năm phục vụ cho hàng triệu người tiêu dùng. Nhập khẩu lớn và lãng phí trong nhập khẩu chủ yếu là từ những công trình hàng trăm triệu đôla đó.

Về lâu dài, Chính phủ cần xem xét những ai, đối tượng nào nhập khẩu chính, đặc biệt là nhập khẩu phục vụ sản xuất kinh doanh, không phải do tiêu dùng. Nhập khẩu cho tiêu dùng bóc tách rất dễ hai bộ phận: hàng xa xỉ và hàng tiêu dùng thông thường. Khối lớn và khó tính nhất chính là nhập khẩu cho sản xuất, cần được phân tích kĩ lưỡng, thấu đáo. Cần chỉ ra DN loại nào, thuộc ngành nào nhập khẩu nhiều, nhập khẩu từ đâu.

Ví dụ, nhập khẩu của các DN có vốn đầu tư nước ngoài không phải lúc nào cũng hiệu quả, thậm chí có nhiều vô lí. Tại sao 70% DN có vốn đầu tư nước ngoài kêu lỗ do nhập khẩu hàng năm? Phải chăng phần lãi do các công ty mẹ hưởng, còn phần lỗ thì VN gánh chịu? Ai kiểm soát được giá nhập khẩu những sản phẩm VN không tự sản xuất được của các DN này.

Đặc biệt, cần giám sát nhập khẩu của các đơn vị nhà nước, các công trình đầu tư công. Người ta tiêu dùng tiền chùa nên bất chấp giá cả, dễ lãng phí.

Bạn hàng nhập khẩu chính của VN là ASEAN và Trung Quốc, kết quả là phải sử dụng máy móc, thiết bị, công nghệ cũ, giá thành cao, chất lượng sản phẩm làm ra thấp. Với những hàng hóa nhập cho sản xuất đó, liệu có mang lại hiệu quả cho nền kinh tế, hay lại đẩy tiếp nhập siêu tăng lên do sản phẩm sản xuất ra không đáp ứng được yêu cầu.

* Phương Loan (ghi)

Việt Nam - Ngươi đang ở đâu và sẽ đi đến đâu? (Kỳ 55)

,

Lạm phát: "Kẻ thù" cũ đã trở lại (Phần I)
http://www.vietimes.vietnamnet.vn/vn/caulacbotyphu/5047/index.viet

Các nền kinh tế đang phát triển hiện có khá nhiều điểm tương đồng với các nước giàu trong thời kỳ đại lạm phát những năm 1970. Sự phát triển bùng nổ đồng loạt của kinh tế thế giới khiến giá cả hàng hóa tăng cao. Và những con số thống kê cũng không phản ánh đúng những áp lực lạm phát. Những áp lực lạm phát cũng không thể chế ngự và thị trường lao động thiếu linh hoạt, làm gia tăng rủi ro về vòng xoáy lương – giá... Liệu các quốc gia đang phát triển có lặp lại những sai lầm mà các quốc gia phát triển đã mắc phải hồi thập niên 1970 hay không?


Lịch sử có lặp lại không?

Ngay cả khi nền kinh tế Mỹ "loạng choạng" trên bờ vực suy thoái và nhiều nền kinh tế thuộc châu Âu đang đình trệ, ngân hàng trung ương ở các quốc gia giàu có này vẫn lo ngại lạm phát tăng cao. Nhưng những mối nguy mà các quốc gia này phải đối mặt thì vẫn nhỏ hơn nhiều so với ở các nền kinh tế đang phát triển, nơi tỷ lệ lạm phát năm ngoái đã tăng tới mức kỷ lục trong vòng chín năm. Bên cạnh đó cũng có con số đáng báo động về những sự tương đồng giữa các nền kinh tế đang phát triển ngày hôm nay và các nền kinh tế phát triển đầu những năm 1970 trong thời kỳ đại lạm phát (the Great Inflation). Liệu có phải lịch sử sẽ lặp lại với "thế hệ đàn em" mới nổi hay không?

Thực trạng lạm phát và những con số sai lệch

Tỷ lệ lạm phát giá tiêu dùng chính thức được công bố của Trung Quốc là 8,5%, cao nhất trong 12 năm trở lại đây, và tăng 3% so với năm ngoái. Con số này ở Nga đã nhảy vọt từ 8% lên trên 14%. Hầu hết các nhà sản xuất dầu mỏ khu vực vùng Vịnh cũng đã có tỷ lệ lạm phát hai con số. Tỷ lệ lạm phát giá bán buôn của Ấn Độ là 7,8%, mức cao nhất trong bốn năm trở lại đây. Tỷ lệ lạm phát ở Indonesia đã là 9% và có thể lên tới mức 12% trong tháng tới, khi người dân mong đợi chính phủ nước này tăng giá xăng dầu từ 25% đến 30%.


Lạm phát ở châu Mỹ Latinh hiện tại vẫn còn khiêm tốn so với những đỉnh cao lịch sử trước đây. Ngay cả như vậy thì tỷ lệ lạm phát của Brazil cũng đã lên mức 5% kể từ mức dưới 3% vào năm ngoái. Chilê đã tăng từ 2,5% đến 8,3%. Đáng báo động nhất là Venezuela và Achentina với tỷ lệ lạm phát tương ứng là 29,3% và 8,9%. Tuy tỷ lệ lạm phát chính thức của Achentina là 8,9% nhưng không có mấy nhà kinh tế tin vào con số này. Morgan Stanley dự đoán con số thật phải là 23%, con số này năm ngoái là 14,3%.

Trên thực tế, những con số thống kê chính thức của các nền kinh tế đang nổi lên đã không phản ánh đúng những áp lực lạm phát tại ở đây. Các khoản trợ cấp và các biện pháp điều tiết giá cả của chính phủ là một trong những lý do chính. Mặt khác, việc thiếu dữ liệu để làm căn cứ cho những thống kê chính xác, hoặc do các chính phủ không muốn công bố những con số xác thực cũng là những nguyên nhân chủ yếu.

Lạm phát thực của Trung Quốc có thể cao hơn vì chỉ số giá tiêu dùng của nước này không bao toàn bộ các dịch vụ tư nhân. Còn ở Ấn Độ, việc thu thập dữ liệu để tính CPI thường ở tình trạng chậm chạp: tỷ lệ lạm phát thực tế cho đầu tháng ba là cao hơn 2% so với con số chính thức. Nếu tính toán chính xác, năm trong số mười nền kinh tế đang nổi lên lớn nhất sẽ có tỷ lệ lạm phát ít nhất 10% tính đến giữa mùa hè năm nay.

Như vậy, hai phần ba dân số thế giới có thể sẽ phải đối mặt với lạm phát hai con số.

Gốc rễ của lạm phát

Nguyên nhân khiến lạm phát tăng cao gần đây chủ yếu do giá lương thực và giá nhiên liệu tăng cao.

Chẳng hạn, tại Trung Quốc, giá lương thực và thực phẩm đã tăng 22% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi giá của các mặt hàng khác chỉ tăng có 1,8%. Chính phủ các nước đã phản ứng lại bằng cách kiểm soát giá cả chặt hơn và dừng xuất khẩu các mặt hàng này. Chính phủ Ấn Độ đã cho ngừng hoạt động giao dịch kỳ hạn nhiều loại hàng hóa mà họ cho là đã góp phần đẩy lạm phát lên cao.

Trong ngắn hạn, những biện pháp như vậy có thể chặn lạm phát và tránh tình trạng bất ổn xã hội. Tuy nhiên, trong dài hạn, những biện pháp như vậy có hại nhiều hơn là có lợi. Việc ngăn chặn giá cả tăng cao không khuyến khích người nông dân tăng nguồn cung và người tiêu dùng giảm nhu cầu, dần dần dẫn tới tình trạng mất cân đối cung cầu, đẩy giá tăng cao thêm.

Năm nay, một số ngân hàng trung ương, trong đó có các ngân hàng trung ương của Brazil, Indonesia và Nga, đã tăng lãi suất cho vay. Tuy nhiên, mức lãi suất cao hơn này không thể theo kịp bước tiến của lạm phát, khiến lãi suất thực giảm xuống và hiện đang ở mức thực âm tại phần lớn các quốc gia đang phát triển, trừ một số ít nước như Brazil, Mexico và Hàn Quốc. Lãi suất cơ bản của Nga hiện là 6,5%, thấp hơn khoảng 8% so với tỷ lệ lạm phát. Lãi suất cho vay của Trung Quốc cũng thực âm 1%.

Nhiều nhà hoạch định chính sách tại các nền kinh tế đang nổi lên cho rằng, thắt chặt tiền tệ không có nhiều tác dụng trong việc cản tốc độ lạm phát vì lạm phát cao chủ yếu là do giá lương thực và nhiên liệu tăng cao, mà giá cao lại chủ yếu là do những cú sốc tạm thời về nguồn cung và do tình trạng đầu cơ. Trong khi đó, tăng lãi suất thì không thể giúp tạo ra thêm dầu, ngũ cốc hay thịt lợn. Họ hy vọng lạm phát sẽ giảm vào cuối năm nay khi giá cả ở mức cao khuyến khích sự tăng nguồn cung. Trên thực tế, giá lương thực và thực phẩm đã có xu thế hạ nhiệt từ đầu tháng này.

Đúng là lạm phát LTTP có thể hạ nhiệt vào cuối năm nay, nhưng cũng không thể xem thường áp lực này trong thời gian tới. Sự tăng giá đồng loạt trên thị trường lương thực và thực phẩm toàn cầu cho thấy nguyên nhân không chỉ nằm ở chuyện gián đoạn nguồn cung. Giá cả tăng cao còn do chính sách tiền tệ lỏng lẻo tại những nền kinh tế đang nổi lên, khiến nhu cầu nội địa tăng mạnh. Từ năm 2002 tới nay, các nền kinh tế này chiếm 90% lượng gia tăng trong nhu cầu tiêu dùng của toàn thế giới đối với dầu và kim loại, 80% đối với lượng gia tăng của nhu cầu tiêu thụ toàn cầu đối với ngũ cốc. Điều này phản ánh sự thay đổi nhu cầu trong tương lai nhưng đồng thời cũng là sản phẩm của sự bùng nổ có tính chu kỳ do cung tiền tăng cao.

Nhà phân tích Peter Morgan của Ngân hàng HSBC cho rằng, ban đầu, cú sốc giá lương thực bắt nguồn từ vấn đề nguồn cung, nhưng về sau, chính thu nhập và lượng cung tiền tăng đã giúp mức giá cao được duy trì. Nếu các nước thắt chặt hơn nữa chính sách tiền tệ, giá lương thực có thể đã xuống thấp hơn, giúp duy trì lạm phát trong tầm kiểm soát.

Một lý do tại sao các ngân hàng trung ương không thể xem nhẹ sự bùng nổ giá thực phẩm là giá thực phẩm tăng cao có thể kéo theo giá cả của các mặt hàng khác. Lương thực và thực phẩm chiếm từ 30 - 40% trong rổ hàng hóa làm căn cứ để tính chỉ số giá tiêu dùng ở các nước đang phát triển, so với mức 15% ở các nền kinh tế trong khối G7. Do đó, giá lương thực và thực phẩm có tác động nhiều đến mức kỳ vọng lạm phát, và như vậy, tác động đến nhu cầu tăng lương ở các nước đang phát triển mạnh hơn ở các nước phát triển. Chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ giúp giữ mức kỳ vọng lạm phát lại và ngăn chặn việc tăng giá nhóm hàng lương thực và thực phẩm ra toàn bộ nền kinh tế.

Phân tích của Goldman Sachs cho thời kỳ 1990 - 2007 khẳng định rằng, tại các nền kinh tế đang nổi lên, giá lương thực thực phẩm cao có khả năng đẩy giá các mặt hàng khác tăng theo. Tại phần lớn các nền kinh tế phát triển, mối liên hệ giữa các mặt hàng lương thực - thực phẩm và phi lương thực trươc đây không được coi trọng trong lĩnh vực thống kê. Bên cạnh đó, ngoài việc lương thực và thực phẩm chiếm một tỷ trọng lớn trong rổ hàng hóa, điều này còn xuất phát từ hai nguyên nhân. Thứ nhất, mức độ tín nhiệm của các ngân hàng trung ương ở các nước đang phát triển thường thấp hơn, do đó, mức kỳ vọng lạm phát thường được kìm giữ ở mức độ lỏng lẻo hơn. Thứ hai, mức lương thực tế ở các nước này thường ít linh hoạt hơn. Cả hai điều này đều làm gia tăng rủi ro về “vòng xoáy giá cả - tiền lương” - trong đó, người lao động luôn đòi hỏi mức lương cao hơn, chủ lao động phải tăng giá sản phẩm để nâng lương, công nhân cũng là người tiêu thụ, lại đòi tăng lương vì giá cao. Kết quả của vòng luẩn quẩn này rốt cục là lạm phát.

Nhà phân tích Philip Poole thuộc HSBC cho rằng, nhiều nền kinh tế đang nổi lên đã sử dụng hết công suất dự trữ do đầu tư không theo kịp với tăng trưởng kinh tế. Do đó, các doanh nghiệp thiên về xu hướng tăng giá. Ở Brazil và Ấn Độ, hệ số sử dụng công suất đã đạt những mức kỷ lục. Tỷ lệ thất nghiệp ở Brazil hiện đang ở mức thấp nhất trong vòng gần 20 năm trở lại đây. Còn ở Trung Quốc, công suất đầu tư có thể vẫn còn dư thừa chút ít nhờ hoạt động đầu tư mạnh mẽ.

Những hiệu ứng “vòng hai” của giá cả lương thực thực phẩm tăng cao đã trở nên rõ nét ở hầu hết các nền kinh tế đang phát triển. Nhà phân tích Andrew Cates của UBS tính toán rằng, cả ở châu Á và Mỹ Latinh, tỷ lệ lạm phát cơ bản (không tính LTTP và năng lượng) đã tăng khoảng 1% so với cùng kỳ năm ngoái, lên mức lần lượt là 3,4% và 6,2%. Còn ở Đông Âu, tỷ lệ này đã tăng 3%, lên mức 7,4%, chủ yếu là do sự phát triển quá nóng của kinh tế Nga. Ngược lại, tốc độ lạm phát cơ bản tại các nước phát triển hầu như không thay đổi.

Do lạm phát tăng cao khiến công nhân ở nhiều nơi lên tiếng đòi tăng lương. Trong một cuộc khảo sát về kỳ vọng lạm phát ở Argentina, câu trả lời về kỳ vọng lạm phát cho 12 tháng tới bình quân là 36%. Lương của người lao động ở Nga hiện đang tăng với mức bình quân khoảng 30%/năm.

Lạm phát: "kẻ thù" cũ đã trở lại (Phần II)
http://www.vietimes.vietnamnet.vn/vn/caulacbotyphu/5048/index.viet

... Liệu các quốc gia đang phát triển có lặp lại những sai lầm mà các quốc gia phát triển đã mắc phải hồi thập niên 1970 hay không?



Ngân hàng trung ương cần thể hiện vai trò của mình như thế nào?

Lạm phát ở quốc gia này có thể tăng cao hơn ở một số quốc gia khác. Trong một phân tích về tiền lương, kỳ vọng lạm phát, áp lực về nhu cầu và công suất, cùng với sự tăng trưởng cung tiền, chuyên gia Cates cho rằng, Argentina, Brazil, Ấn Độ và các nước xuất khẩu dầu ở Trung Đông sẽ là những nước đối mặt với những rủi ro lớn nhất trong những tháng sắp tới. Trong khi đó, áp lực lạm phát sẽ phần nào dịu hơn ở những nước như Trung Quốc, Mexico, Hàn Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ.

Rõ ràng, chính sách tiền tệ cần phải được thắt chặt. Nhưng trên thực tế, mức lãi suất ở nhiều nước đang thấp hơn so với thời điểm cách đây một năm. Lãi suất ngắn hạn cũng thấp hơn bất thường so với tăng trưởng GDP danh nghĩa - một thước đo xem mức lãi suất hợp lý nên nằm ở đâu. Điều này cho thấy, chính sách tiền tệ của các nước hiện rất lỏng lẻo. Lượng cung tiền tại các nền kinh tế đang nổi lên đã tăng bình quân 20% so với cùng kỳ năm ngoái, gấp gần ba lần so với tốc độ tăng ở các nước phát triển. Riêng ở Nga, tỷ lệ này là 42%.

Như vậy, có thể thấy, các nền kinh tế đang phát triển hiện đang có rất nhiều điểm tương đồng với các nước giàu vào thập niên 1970, khi lạm phát bắt đầu tăng tốc tới mức phi mã. Sự phát triển bùng nổ đồng loạt của kinh tế thế giới khiến giá cả hàng hóa tăng cao. Thêm vào đó, các chính phủ phản ứng bằng các khoản trợ cấp và kiểm soát giá cả. Và những con số thống kê cũng không phản ánh đúng những áp lực lạm phát. Các nền kinh tế cũng hoạt động hết công suất. Lượng cung cũng tiền gia tăng. Những áp lực lạm phát cũng không thể chế ngự và thị trường lao động thiếu linh hoạt, làm gia tăng rủi ro về vòng xoáy lương – giá.

Theo suy nghĩ thông thường, những sai lầm trong chính sách tiền tệ gây ra thời kỳ lạm phát tăng vọt vào những năm 1970 không giống như những sai lầm ngày nay vì các ngân hàng trung ương ngày nay độc lập trước các chính trị gia. Tuy nhiên, thực tế không phải vậy. Không giống như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) và Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), nhiều ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế đang phát triển, tiêu biểu là ở Trung Quốc, Ấn Độ và Nga, không hoàn toàn độc lập. Cũng giống như ở thời điểm những năm 1970, họ thường phải đối mặt với những áp lực chính trị buộc duy trì lãi suất thấp để duy trì tăng trưởng kinh tế và việc làm.

Các nền kinh tế đang nổi cũng đang nằm trong mối nguy của việc lặp lại sai lầm của các ngân hàng trung ương ở các quốc gia giàu có trong những năm 1970: tập trung vào lạm phát cơ bản, coi đó là một nguyên nhân để giữ mức lãi suất thấp hơn tỷ lệ lạm phát. Nhưng lãi suất thực âm sẽ thúc đẩy nhu cầu, trong khi kỳ vọng lạm phát tăng cao gây ra việc rút tiền về nhiều hơn. Nếu các ngân hàng trung ương không thắt chặt chính sách tiền tệ sớm, kỳ vọng lạm phát có thể sẽ dâng cao.

Sự độc lập về tiền tệ của các ngân hàng trung ương cũng bị giới hạn bởi ước muốn của chính phủ là giảm lượng tiền tệ vào thời điểm vốn quốc tế khá linh hoạt. Đây là vấn đề mà các quốc gia đang phát triển không gặp phải vào ba thập niên trước. Khi các ngân hàng trung ương can thiệp vào thị trường ngoại hối nhằm tránh sự tăng giá trị tiền tệ, họ phải in thêm tiền để mua đôla, điều này thúc đẩy tính thanh khoản trong nước. Những lần cắt giảm lãi suất mới đây của FED đã làm việc thắt chặt chính sách của các quốc gia đang nổi trở nên khó khăn hơn. Nếu tăng lãi suất họ sẽ thu hút được nhiều dòng vốn đầu tư lớn hơn và sự can thiệp thêm nhằm giảm lượng tiền của họ sẽ tạo đà cho lạm phát, "đánh bại" việc tăng lãi suất.

Các ngân hàng trung ương của Trung Quốc và Ấn Độ đều đã tăng các điều kiện dự trữ vài lần trong năm này nhằm hạn chế tính thanh khoản dư thừa nhưng tỷ lệ lãi suất thì không thay đổi gì. Sự trượt giá mới đây của đồng rupi đã tạo cho Ngân hàng Trung ương Ấn Độ nhiều cơ hội để tăng lãi suất nhưng ngân hàng này đã hành động chậm trễ. Hồng Kông và các quốc gia vùng Vịnh - vốn vẫn kiểm soát chặt chẽ đồng tiền của mình so với đồng đôla đã buộc phải cắt giảm tỷ lệ lãi suất, mặc dù nền kinh tế sôi động của họ cần những chính sách nghiêm ngặt hơn.

Mặc dù các nền kinh tế đang nổi có thể tách riêng ra khỏi nước Mỹ và suy thoái của nó nhưng chính sách tiền tệ của các nền kinh tế này thì không thể làm điều đó. Cục dự trữ Liên bang Mỹ (FED) càng cắt giảm lãi suất thì sự tăng trưởng tính thanh khoản và nhu cầu nội địa ở các quốc gia đang phát triển càng mạnh mẽ hơn. Đổi lại, điều này nghĩa là giá cả hàng hóa tăng cao hơn, ảnh hưởng tiêu cực tới thu nhập và tiêu dùng của người Mỹ, dẫn tới việc FED sẽ cắt giảm lãi suất thêm nữa. Một cách để lấy lại quyền kiểm soát lãi suất là áp đặt các biện pháp tạm thời chặt chẽ hơn nữa đối với dòng vốn. Ví dụ, vào tháng ba vừa qua, Brazil đã áp dụng mức thuế 1,5% đối với đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực trái phiếu chính phủ. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng các biện pháp quản lý vốn sẽ không hiệu quả trong dài hạn.

Đối với nhiều nhà kinh tế học và những nhà hoạch định chính sách ở phương Tây, giải pháp là khá đơn giản: các nền kinh tế đang phát triển phải cho phép tỷ lệ trao đổi ngoại tệ có mức linh hoạt hơn nữa. Điều này sẽ cho phép họ tăng lãi suất và đồng tiền mạnh sẽ giúp giảm giá nhập khẩu. Nhưng mối liên hệ giữa tỷ giá trao đổi ngoại tệ và lạm phát là rất phức tạp. Stephen Jen thuộc Morgan Stanley nhận định rằng sự định giá lại có thể khuyến khích các nhà đầu tư mong đợi trị giá tiền tệ cao hơn - điều này sẽ thu hút nhiều luồng tiền nóng hơn và do vậy sẽ làm tăng lạm phát. Đó là vấn đề Trung Quốc đang gặp phải.

Mohsin Khan, Chủ tịch IMF tại khu vực Trung Đông và châu Á cũng đưa ra nhận định tương tự đối với các quốc gia vùng Vịnh. Ông cho rằng các quốc gia thuộc khu vực này không nên định giá lại đồng nội tệ hoặc điều chỉnh cơ chế chuyển đổi ngoại tệ hiện tại mặc dù lạm phát đang ở mức cao và đang tăng lên. Bất cứ động thái dù nhỏ nào ảnh hưởng tới kỳ vọng của nhà đầu tư có thể dẫn tới nguồn vốn đầu tư ngắn hạn và gia tăng áp lực lạm phát.

Lạm phát cao ở các nền kinh tế đang phát triển có ý nghĩa gì đối với những quốc gia giàu có? Tốc độ tăng trưởng nhanh chóng ở các quốc gia đang phát triển đồng nghĩa với giá LTTP, năng lượng và nguyên liệu thô vẫn ở mức cao. Nói cách khác, đây là một cú sốc lâu dài liên quan tới giá cả chứ không phải là chuyện ngày một ngày hai. Nhưng điều đó không có nghĩa là giá cả hàng hóa vẫn tăng cao với tốc độ hiện nay. Giá cả tăng cao sẽ thúc đẩy tăng nguồn cung. Và thậm chí giá cả vẫn giữ ở mức hiện nay, thì tốc độ tăng trưởng 12 tháng sẽ giảm, giúp hạ nhiệt tình trạng lạm phát toàn cầu.

Tuy nhiên vẫn có những lo ngại cho rằng sau nhiều năm xuất khẩu giúp giảm giá cả toàn cầu, Trung Quốc hiện đang xuất khẩu lạm phát trong nhiều mặt hàng sản xuất của mình. Số liệu từ Cục Thống kê Lao động của Mỹ chỉ ra rằng sau một vài năm giảm xuống, giá hàng nhập khẩu từ Trung Quốc đã tăng thêm 4,1% trong bốn tháng đầu năm, tỷ lệ tăng cao nhất trong vòng 12 tháng kể từ lần tăng đầu tiên vào tháng 12/2004.

Ảnh hưởng của Trung Quốc

Tuy nhiên, ông Jonathan Anderson thuộc UBS cho rằng sự tăng giá đột ngột các hàng hóa Trung Quốc là sai lầm. Nếu nhìn vào giá đồng đôla của những hàng hóa tái xuất khẩu của Trung Quốc từ Hồng Kông, giá xuất khẩu của đại lục đã tăng thêm khoảng 3%/năm kể từ năm 2004. Và nếu giá xuất khẩu đã tăng cao trong thời gian gần đây thì điều đó hoàn toàn là do sự tăng giá của đồng nhân dân tệ so với đồng đôla, chứ không phải lạm phát tăng nhanh của Trung Quốc.

Trong bất cứ tình huống nào, ảnh hưởng của Trung Quốc lên lạm phát toàn cầu phụ thuộc vào sự khác biệt về mức giá giữa các quốc gia. Trung Quốc đã giúp giảm lạm phát ở các quốc gia phát triển bởi hàng hóa Trung Quốc rẻ hơn rất nhiều và chiếm thị phần ngày càng lớn, thay thế những hàng hóa đắt đỏ hơn. Điều này sẽ còn đúng trong nhiều năm nữa. Sự cạnh tranh đến từ Trung Quốc cũng khiến các nhà sản xuất địa phương giảm giá và kiềm chế sự đòi tăng lương ở các quốc gia phát triển. Khi Trung Quốc di chuyển lên trên chuỗi giá trị, nó sẽ giảm giá thành hàng loạt các loại hàng hóa. Nói cách khác, Trung Quốc sẽ vẫn tiếp tục giúp giảm giá cả toàn cầu - mặc dù có thể ít hơn so với trước.

Nguy hiểm lớn nhất từ việc lạm phát tăng cao nằm ở các quốc gia đang phát triển chứ không phải ở các quốc gia phát triển. Do LTTP chiếm một tỷ lệ lớn hơn trong chi tiêu gia đình, không phải chỉ là những nền kinh tế thiên về lạm phát hiện nay mà những hậu quả xã hội và chính trị cũng rất nghiêm trọng. Tuần trước, Jean-Claude Trichet, Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã cảnh báo các ngân hàng trung ương trên toàn thế giới về việc lặp lại sai lầm của những năm 1970. Thời kỳ đó, các nền kinh tế đang phát triển không chiếm vị trí quan trọng trên thế giới như hiện nay. Để duy trì sức mạnh mới tìm thấy này, các nhà hoạch định chính sách cần giữ "dây cương" lạm phát cho chặt. Càng cho phép lạm phát leo thang thì mối nguy đối với tăng trưởng kinh tế trong tương lai càng diễn biến theo chiều hướng xấu đi.

Mai Phương (theo economist)

Việt Nam - Ngươi đang ở đâu và sẽ đi đến đâu? (Kỳ 54)

,

ANALYSIS-Vietnam may be first domino among Asian economies
http://in.reuters.com/article/domesticNews/idINSP14158120080529

By Jason Subler

SINGAPORE, May 29 (Reuters) - Fitch's lowering of its outlook on Vietnam's sovereign rating on Thursday could be a sign of more weakness to come for many of Asia's economies and currencies, as record oil prices complicate their efforts to control inflation.

Fitch Ratings lowered the outlook on Vietnam's BB-minus rating to negative from stable, saying that authorities had not dealt quickly or strongly enough with inflation, potentially posing risks to banking system's stability. [ID:nHKG197848]

The agency cited the delicate position the government is now in, riding a fine line between containing price rises and setting off a sharp economic slowdown.

Some observers are even pointing to a potential currency crisis, given Vietnam's growing current account deficit, weakening fiscal position and limited foreign exchange reserves, on top of 25 percent annual inflation, the second-worst in Asia.

Some of Asia's largest economies are also grappling with the same risks. Although none look as vulnerable as Vietnam, some are set for their sternest test since the Asian financial crisis of 1997.

"I think (we could see) a much deeper and more prolonged slowdown than people are currently anticipating that lasts until the end of 2009, rather than being done shortly," said Bill Belchere, regional economist with Macquarie in Hong Kong.

The Philippines, South Korea and India share some of the problems that pushed Vietnam into its downward spiral.

In all three expensive oil imports are eroding their current accounts and dragging down currencies. Weak currencies are fuelling inflation, piling pressure on central banks to raise interest rates. Higher rates would hurt economic growth and stock markets, triggering a flight of capital needed to finance the trade gap.

"Then you can see a fairly sharp reversal in expectations around the behaviour of the currency," said Peter Redward, head of rates strategy at Barclays Capital.

"The currencies' weakness then starts feeding on itself in terms of pushing inflation up. That's a significant risk."

GROWING DIVERGENCE

The Korean won <KRW=> has fallen 9.4 percent this year as the country prepares to run up its first current account deficit since the Asian crisis. The Philippine peso <PHP=> is down nearly 5.7 percent and the Indian rupee <INR=IN> 7.9 percent.

By contrast currencies of economies with solid trade surpluses have fared better. The Singapore dollar <SGD=> has risen 5.2 percent, the Malaysian ringgit <MYR=> 1.7 percent and the Taiwan dollar <TWD=> about 6.6 percent.

"I think divergence will be a theme moving forward," Belchere said. "Southeast Asia is losing its policy flexibility."

Nowhere is that threat more pronounced than in the Philippines, said Peter Redward, head of rates strategy at Barclays Capital.

With countries such as the Philippines coming under increasing fiscal stress from their oil and food subsidies, they will likely have to issue more debt, which could lead to a higher likelihood of default, Redward said.

Redward said he observed a "domino effect" working through Asia, as currency weakness spread from countries with the most exposure in their balance of payments to oil prices, such as Korea, India and the Philippines, to those with trade surpluses such as Singapore, Malaysia and China.

OIL PRICES KEY

Key to the extent of the spread will be the price of oil.

"If oil prices were to come back down to $100 a barrel, then I think a lot of the pressure that these countries are under would dissipate very quickly," Redward said.

"If it was to go up to $150 a barrel, then we would find that more dominoes would fall," raising the risk of a harder landing for the region, he said.

Mirza Baig and Dennis Tan, strategists with Deutsche Bank in Singapore, expect most Asian currencies, apart from the Chinese yuan <CNY=CFXS>, the Malaysian ringgit and Singapore dollar, to weaken this summer, particularly if oil prices extend their rise.

"We think the broader macro backdrop has reached a tipping point, where the cushion on balance of payments and scope for policy makers to retain a 'watch and wait' stance on monetary policy has worn out," they said in a note to clients.

While stronger economies in the region would probably see their currencies, and exports, hit to some extent by the weakness in other countries, Belchere said he thought the region would avoid anything like the 1997 financial crisis.

"It comes down to the old Mark Twain saying: 'Virtue untested is not a virtue.' It's going to be tested now. The policy guys are going to have to respond," he said. "I think Asia will get to the right place. Will it be a straight line? I'm not so certain." (Reporting by Jason Subler; Editing by Dayan Candappa)


Vietnam Debt-Rating Outlook Cut to Negative by Fitch (Update4)
http://www.bloomberg.com/apps/news?pid=20601080&sid=axrYlBbhF.Ug&refer=asia

By Jason Folkmanis

May 29 (Bloomberg) -- Vietnam's debt-rating outlook was cut by Fitch Ratings, which said today that the stability of the country's banking system may be at risk because of a slow government response to fighting inflation running at 25 percent.

Fitch lowered its outlook to negative from stable and affirmed Vietnam's BB- long-term foreign currency rating, which is three levels below investment grade. The government said that Fitch's assessment was too negative.

Vietnam's inflation accelerated to the highest since at least 1992, the trade deficit tripled, and the main stock market index has tumbled 55 percent this year. The situation contrasts with 2007, when Vietnam joined the World Trade Organization and posted its highest growth rate since 1996.

``Vietnam has become more open to the global economy and more dependent on trade, so a global economy that is facing serious problems can have a negative impact,'' said Ly Xuan Hai, chief executive officer of Asia Commercial Bank in Ho Chi Minh City, the country's biggest non-state-owned bank. ``We face some serious problems but we don't think they will last long-term.''

Morgan Stanley said yesterday that Vietnam is heading for a ``currency crisis,'' similar to that of Thailand's baht in 1997 because the current-account deficit, projected to widen to 7.5 percent this year, is ``unsustainably large.'' The banking system and inflation rate are ``additional complicating factors''.

Twelve-month non-deliverable forwards yesterday showed traders are betting the currency will drop to an implied rate of 22,550 against the dollar in the next year from a spot rate of 16,235.5 at the close in Ho Chi Minh City.

`Too Slow'

Vietnam's policy response to accelerating inflation ``has been both too slow -- as official pronouncements have not been followed up by immediate action -- and too small,'' Fitch said. Any sharp slowdown in economic growth would have ``negative effects on the quality of banks' assets,'' the agency said.

Such assessments are ``too pessimistic,'' according to Nguyen Thanh Do, director of external financing at Vietnam's Ministry of Finance, who added that a 1997-baht-style devaluation ``won't happen here.'' The government is unhappy with Fitch's outlook change, Do said in a phone interview today from Hanoi.

`Slower Growth'

``It's true that our economy has some issues that need to be addressed quickly and the government is focusing on measures to solve them,'' Do said. ``We will accept a slower economic growth rate to concentrate on fighting inflation, which is our top priority now. They should give the government credit for its inflation-fighting efforts.''

On May 19, the State Bank of Vietnam raised its benchmark interest rate to 12 percent from 8.75 percent, allowing banks to offer lending rates of up to 18 percent. While higher interest rates may help fight inflation, they also may lead to a slowdown in economic growth, Fitch said.

Vietnam's banks face a ``particularly challenging environment'' because of higher interest rates and tighter liquidity, Fitch Ratings said today in a separate report.

Loans denominated in dollars account for about a quarter of the Southeast Asian nation's ``system-wide loans,'' according to Fitch. A fall in the dong against the U.S. currency ``would make repayment more expensive for these borrowers,'' the agency said.

Deputy Prime Minister Nguyen Sinh Hung said April 4 the economic growth target for this year may be cut to 7 percent from a previous forecast of as much as 9 percent because of the global slowdown and accelerating inflation. Growth slowed to 7.4 percent year-on-year in the first quarter after expanding 8.5 percent in the whole of last year, the quickest pace since 1996.

`Fine Line'

Some of Vietnam's more ``aggressively expanding'' banks may need recapitalization, with the State Bank of Vietnam ``trying to tread the fine line between continuing to ensure funding for the banks to prevent a crisis while trying to slow down their growth,'' Deutsche Bank AG said in a May 19 note.

Non-performing loans have probably increased this year, given credit growth that exceeded 50 percent last year was led by loans for securities and real estate, said Deutsche Bank.

``The banking system is facing greater risk now than before, caused first by inflation and second by the trade deficit, which impacts on the country's foreign-exchange situation,'' said Hai of Asia Commercial Bank.

Vietnam's main stock market, the Ho Chi Minh City Stock Exchange, has been closed since May 27 because of what the exchange says is a technical problem, and is due to reopen tomorrow. The bourse's VN Index had declined for 16 straight trading days before its closure.

``Now it's sort of a crisis situation,'' said Wee-Ming Ting, the head of Asian fixed income in Singapore for Pictet Asset Management. ``There's a lot the government needs to do. They need to get ahead in terms of hiking of rates. They need to show more resolve in solving the inflation problem.''

Standard & Poor's cut its outlook on Vietnam's foreign- currency debt to negative earlier this month.

To contact the reporter on this story: Jason Folkmanis in Ho Chi Minh City at folkmanis@bloomberg.net or
Last Updated: May 29, 2008 05:57 EDT

Việt Nam - Ngươi đang ở đâu và sẽ đi đến đâu? (Kỳ 53)

,

Việt Nam vươn mình thành con hổ châu Á
http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/3864/index.aspx

"Với mức tăng trưởng kinh tế cao trong khu vực, Việt Nam nổi bật trong nhóm kinh tế N -11 như một con hổ châu Á kế tiếp đang dần lớn mạnh"


Kì 1: Bước nhảy vọt của nền kinh tế Việt:
Theo Goldman Sachs, trong vòng 5 năm trở lại đây, Việt Nam là nước duy nhất trong nhóm N-11[1] có khả năng duy trì mức tăng trưởng sánh ngang tầm với hai người khổng lồ Trung Quốc và Ấn Độ.

Ba yếu tố chính làm thay đổi bộ mặt của nền kinh tế Việt Nam là (1) Sự chuyển mình từ kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường, (2) Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng và (3) Chính sách mở cửa nền kinh tế với khu vực cũng như toàn cầu.

Sự ra đời của nền kinh tế thị trường: Những thay đổi lớn về cấu trúc

Sự chuyển mình từ nền kinh tế tập trung sang định hướng mới - nền kinh tế thị trường là bước đi đầu tiên làm nên thành công của Việt Nam ngày nay.

Việt Nam bắt đầu với việc chuyển dịch trọng tâm sang các lĩnh vực ngoài quốc doanh. Ít nhất là trong sản xuất và đầu tư của ngành công nghiệp và dịch vụ, Nhà nước đã sáng suốt để cho các doanh nghiệp tư nhân và nước ngoài chung sức.

Đây là cơ hội tốt để thu hút và tận dụng nguồn năng lực và trí lực dồi dào của đất nước, khuyến khích mọi loại hình kinh doanh phát triển với động lực lớn hơn trước rất nhiều.

Tính đến năm 2006, các đơn vị ngoài quốc doanh và các công ty nước ngoài đã chiếm tới hơn một nửa lượng đầu tư tại Việt Nam.



Khu vực ngoài quốc doanh và các công ty nước ngoài ngày nay chiếm hơn một nửa lượng đầu tư. Theo thứ tự: Đầu tư nước ngoài - Nội địa ngoài quốc doanh - Quốc doanh (Nguồn: CEIC, TT Nghiên cứu Kinh tế Goldman Sachs)

Công nghiệp hóa và đô thị hóa: Trọng tâm mới

Nền kinh tế thị trường thúc đẩy Việt Nam phát triển các ngành công nghiệp một cách nhanh chóng. Nguồn tài nguyên dồi dào cùng lực lượng lao động vốn dư thừa trong nông nghiệp được tận dụng để tăng tốc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, với sự trợ giúp của nguồn vốn nước ngoài và chuyển giao công nghệ.

Việc phân bố lại lực lượng lao động từ khu vực nông nghiệp với năng suất sang khu vực sản xuất dịch vụ đã có tác động đáng kể tới tổng năng suất tăng trưởng.

Mô hình kinh tế dựa theo học thuyết Lewis này[2] đã được áp dụng thành công tại các nước khác, và cũng một lần nữa đóng góp cho sự tăng trưởng của sản lượng công nghiệp, và nhanh chóng vượt cả lĩnh vực nông nghiệp. Nhờ vậy mà Việt Nam đã không những bắt kịp mà còn vượt trội một số nước bạn trong khối ASEAN.



Biểu đồ tăng trưởng GDP theo đầu người của một số nước châu Á trong giai đoạn phát triển nhanh nhất. Theo đó, mức tăng trưởng của Việt Nam vượt trội một số nước bạn trong khu vực ASEAN mức tăng trưởng (Nguồn: WDI, Ngân hàng Thế giới, TT nghiên cứu Kinh tế Goldman Sachs.)

Chính sách mở cửa: Dòng chảy của Vốn đầu tư trực tiếp và Công nghệ


Bước nhảy vọt trong độ mở thương mại của Việt Nam trong vòng 20 năm gần đây. Độ mở trong thương mại được tính bằng Tổng sản lượng xuất nhập khẩu chia cho GDP trong một năm nhất định (Nguồn: IFS, IMF)

Trong cuộc hành trình 20 năm trở lại đây, Việt Nam đã có bước tiến nhảy vọt trong việc mở cửa giao lưu với các nền kinh tế nước bạn. Sự ra đời của những chính sách thân thiện trong thương mại cũng như chính sách đầu tư trực tiếp từ nước ngoài chính là yếu tố quan trọng nhất đem lại thành công trong ngành xuất nhập khẩu.

Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu lớn về quần áo, giày dép, đồ gỗ và sắp tới là chip điện tử. Tổng xuất khẩu và nhập khẩu bằng 160% GDP đã biến nền kinh tế Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế có độ mở lớn nhất thế giới[3].

Đối với các nước trong khu vực, điều kiện thuận lợi về địa lí và vận tải cũng như những tương đồng về cấu trúc kinh tế đã tạo ra sân chơi lí tưởng để Việt Nam trở thành đối tác với nhiều nước bạn trong khu vực châu Á.

Từ việc mở rộng thị trường cho hàng hóa và dịch vụ đến cơ hội giao lưu và học hỏi công nghệ, tri thức, Việt Nam đã và đang tăng dần vị thế của mình nhờ vào quá trình khu vực hóa. Sự ổn định và phát triển về kinh tế nhờ vào liên kết khu vực, chẳng hạn như khối ASEAN, là tiền đề để Việt Nam tiếp tục tận dụng thế mạnh của mình.

Vì thế, sự phát triển chuyên sâu và phức tạp hơn nữa của cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, cùngsự ra đời của đội ngũ lao động với chuyên môn cao sẽ là lợi thế thúc đẩy Việt Nam tiến xa hơn nữa trong mạng lưới sản xuất của khu vực châu Á.

Quan trọng hơn, chính sách mở cửa với nền kinh tế thế giới đã khiến Việt Nam trở thành điểm đến lí tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài.

Điểm sáng của quá trình hội nhập hóa là việc gia nhập WTO năm 2007. Đây là một bước tiến quan trọng hứa hẹn nhiều thành tựu nhờ vào sự tiếp cận dễ dàng với thị trường quốc tế cũng như cơ hội học hỏi những tinh hoa của nước bạn để cải tiến hơn nữa hệ thống ban ngành của nước ta.

Cho dù việc tự do hóa thương mại với các thị trường quốc tế có thể gây lo ngại đối với các tổ chức kinh doanh nội địa, đây chỉ là khó khăn nhất thời.

Thực ra, về mặt lâu dài, nền kinh tế mở cửa và môi trường cạnh tranh gắt gao hơn sẽ là động lực khách quan để các công ty nội địa tự hoàn thiện mình và vươn tới những đỉnh cao mới. Một khi đã đạt được những tiêu chuẩn quốc tế, khả năng cạnh tranh với các tổ chức kinh doanh thế giới là hoàn toàn trong tầm với

Việc mở cửa nền kinh tế còn đem lại một nguồn lợi mới cho Việt Nam: du lịch. Phong cảnh tự nhiên quyến rũ, sinh thái đa dạng cùng với nền văn hóa giàu bản sắc đã cuốn hút rất nhiều khách du lịch đến Việt Nam. Năm 2007, Việt Nam đã đón nhận 2,6 triệu khách du lịch quốc tế, tăng 26% so với số liệu năm trước.

Bùng nổ du lịch cũng mở ra thị trường đầu tư và kinh doanh mới cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Xu hướng này sẽ còn tạo ra nhiều công ăn việc làm hơn nữa cho thị trường nhân lực dồi dào của nước ta, đồng thời thu hút các đề án đầu tư trực tiếp, và khuyến khích tiêu dùng trong nước.

* Catherine Trần (Tổng hợp từ các báo cáo của Goldman Sachs)

Kỳ tiếp theo: Còn vô vàn khó khăn phía trước


Merrill Lynch “mổ xẻ” lạm phát ở Việt Nam
http://www.vneconomy.vn/?home=detail&page=category&cat_name=01&id=57d4c7d1793980

Ngân hàng đầu tư Merrill Lynch của Mỹ vừa công bố một báo cáo về tình hình kinh tế châu Á, trong đó lấy Việt Nam làm tâm điểm để phân tích tình trạng lạm phát leo thang trong khu vực.



Trong bản báo cáo tựa đề “Vietnam: Anatomy of an inflation shock” (Việt Nam: Giải phẫu cú sốc lạm phát) này, các chuyên gia Merrill Lynch cho rằng, cuộc chiến chống lạm phát của Việt Nam có hàm chứa nhiều bài học quan trọng cho khu vực.

Thấy gì từ các động thái của Ngân hàng Nhà nước?

Báo cáo nhận định, Việt Nam chỉ là một nền kinh tế nhỏ trong khu vực châu Á vì GDP 70 tỷ USD của Việt Nam chỉ tương đương với 1% GDP của toàn khu vực này, trừ Nhật Bản. Trong những năm gần đây, Việt Nam gây ấn tượng bởi tốc độ tăng trưởng kinh tế cao liên tục. Mặc dù vậy, Việt Nam đang chịu tác động từ chính thành công quá lớn và quá nhanh chóng của chính mình.

Theo các số liệu đưa ra trong báo cáo, các dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam trong năm 2007 có thể đạt 5,7 tỷ USD (8,1% GDP), còn các dòng vốn khác có thể đạt khoảng 8,9 tỷ USD (12,7% GDP). Cùng với đó, tăng trưởng tín dụng trong năm 2007 đạt mức 54%, thị trường chứng khoán cũng phát triển bùng nổ.

Việc có phải chính sách vĩ mô đã “gây ra” tình trạng lạm phát cao ở Việt Nam hiện nay là một câu hỏi gây tranh cãi. Ở các nước châu Á khác, giá lương thực - thực phẩm tăng cao là nguyên nhân chính gây lạm phát, nhưng ở Việt Nam, giá cả các mặt hàng phi lương thực cũng tăng tới trên 10% so với cùng kỳ năm ngoái do tăng trưởng kinh tế cao, nhu cầu cao và thanh khoản dồi dào.

Để chống lạm phát, Ngân hàng Nhà nước đã áp dụng nhiều biện pháp mạnh trong đó có tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc và tăng lãi suất cho vay cơ bản lên mức 12%. Các chuyên gia của Merrill Lynch bình luận, mức độ phản ứng của Ngân hàng Nhà nước chứng tỏ, để chống lạm phát, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ phải trả một cái giá nhất định.

Đồng thời, những lo ngại ban đầu về lạm phát đã trở thành những lo ngại trên phạm vi lớn hơn về bất ổn kinh tế vĩ mô.

“Cú sốc” lạm phát

Theo báo cáo này, những biểu hiện của một “cú sốc” lạm phát bao gồm:

Thứ nhất, lạm phát tăng mạnh, khiến ngân hàng trung ương phải phản ứng mạnh bằng chính sách tiền tệ.

Thứ hai, thanh khoản thắt chặt, lãi suất cao, triển vọng tăng trưởng xấu đi.

Thứ ba, giá cả của những mặt hàng chịu ảnh hưởng lớn của yếu tố tâm lý, như chứng khoán và bất động sản giảm nhanh; đồng nội tệ có thể lên giá hoặc xuống giá.

Và thứ tư, đồng nội tệ có thể lên giá hoặc xuông giá. Nếu chính sách tiền tệ được thắt chặt từ từ và thị trường vẫn tin tưởng vào chính sách vĩ mô, đồng nội tệ có thể lên giá. Nhưng nếu bất ổn xảy ra, triển vọng tăng trưởng xấu đi và dòng vốn ngoại chảy ra, đồng nội tệ sẽ mất giá mạnh.

Tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay được coi là một ví dụ về “cú sốc” lạm phát. Một số ví dụ khác bao gồm Trung Quốc hồi mùa xuân năm 2004 và mùa thu năm 2007, Ấn Độ đầu 2008, Indonesia mùa hè 2005…

Báo cáo cho rằng, kinh tế Việt Nam có nhiều điểm giống như kinh tế Trung Quốc, chẳng hạn cả hai nước đều mới gia nhập WTO, tốc độ tăng trưởng cao nhờ xuất khẩu và đầu tư… Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn nhất là cuộc chiến chống lạm phát ở Việt Nam căng thẳng hơn nhiều. Vấn đề cốt lõi - theo báo cáo nhận định - là Việt Nam đã tiếp nhận một lượng vốn lớn hơn rất nhiều so với khả năng hấp thụ của nền kinh tế.

Merrill Lynch cho rằng, trong cuộc chiến chống lạm phát, nhìn chung Việt Nam có những điểm khác biệt cơ bản sau so với các nước châu Á khác.

Thứ nhất, Việt Nam đang ở tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai, trong khi phần lớn các nền kinh tế đang nổi lên ở châu Á có cán cân vãng lai thặng dư. Thặng dư này có thể tạo ra một tấm nệm cho sự rút lui của các dòng vốn ngoại, đồng thời giúp cho việc tăng giá đồng nội tệ để chống lạm phát trở nên dễ dàng hơn, giảm bớt sự cần thiết phải tăng lãi suất.

Thứ hai, các dòng vốn đổ vào Việt Nam năm ngoái chiếm tỷ trọng khá lớn so với GDP. Trong khi đó, các dòng vốn đổ vào các nước châu Á khác chỉ ở mức khiêm tốn. Do đó, ở các nước này, việc điều hành chính sách tiền tệ ít gặp khó khăn hơn, đồng thời, cũng không có những rủi ro lớn trong trường hợp có sự rút lui đột ngột của các dòng vốn.

Và thứ ba, các nước trong khu vực còn có những yếu tố khác giúp ổn định tốt tình hình kinh tế vĩ mô mà Việt Nam không có, như dự trữ ngoại hối cao, nợ nước ngoài thấp và tình hình ngân sách lành mạnh mạnh hơn.

Việt Nam - Ngươi đang ở đâu và sẽ đi đến đâu? (Kỳ 52)

,

Quốc hội đã thông qua Nghị quyết mở rộng Hà Nội
http://vietnamnet.vn/chinhtri/2008/05/785623/

Với 458/478 đại biểu tán thành, chiếm 92,9% số ĐBQH, 4 người không tán thành và 13 người không biểu quyết, cách đây ít phút, Quốc hội khóa XII đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về mở rộng địa giới hành chính Thủ đô Hà nội


Trước đó, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã trình bày Báo cáo giải trình về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh liên quan để làm rõ một số băn khoăn của ĐBQH tại các phiên thảo luận tổ và hội trường trước đó.

Lùi thời điểm bộ máy đi vào hoạt động 1 tháng

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhắc lại: "Xây dựng và phát triển Thủ đô luôn là mối quan tâm hàng đầu. Bác Hồ, các lãnh đạo qua nhiều thời kỳ đều dành quan tâm đặc biệt cho việc này".

Về quá trình chuẩn bị phương án mở rộng, người đứng đầu Chính phủ cho biết, ngay từ tháng 12/2000, Nghị quyết 15 của Bộ Chính trị khóa 8 đã khẳng định vai trò hàng đầu của Thủ đô HN, là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế quốc gia.

Nghị quyết nêu: "Trong 10 năm tới, thành phố phải phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội bền vững... phấn đấu trở thành Thủ đô trung tâm của khu vực". Pháp lệnh Thủ đô năm 2000 cũng nói rõ, Thủ đô HN là Thủ đô đa chức năng, mô hình tiếp nối của Thăng Long, Hà Nội, xứng đáng là Thủ đô của 120 triệu dân.

Thủ tướng cho biết, nhiều năm nay, HN đã nhiều lần xin điều chỉnh các khu chức năng, do tình trạng quá tải, mất cân đối. Điều này đặt ra yêu cầu nghiên cứu quy hoạch vùng Thủ đô rộng hơn.

"Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải lúc đó đã phân công tôi làm trưởng ban chỉ đạo, lên quy hoạch vừa xây dựng Thủ đô Hà Nội vừa quy hoạch Vùng Thủ đô Hà Nội, bao gồm Thủ đô Hà Nội và 7 tỉnh lân cận. Hai vấn đề này không thể tách rời nhau, Vùng Thủ đô gắn với Thủ đô, Thủ đô gắn với Vùng Thủ đô, có mối quan hệ rất mật thiết. Đầu năm 2005, Bộ Chính trị sau khi nghe đã thấy sự cần thiết phải mở rộng không gian Hà Nội, giao Chính phủ nghiên cứu phương án cụ thể", Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định.

Thủ tướng nói thêm: "Từ năm 1961 đến nay, Hà Nội đã có 3 lần điều chỉnh. Năm 1978, đến năm 1981 lại điều chỉnh thu hẹp. Nhưng đây là lần đầu tiên được quy hoạch trên đề án quy hoạch vùng thủ đô và đề án mở rộng".

Người đứng đầu Chính phủ cũng nhận thiếu sót về việc tờ trình còn sơ sài, đồng thời giải trình những băn khoăn của ĐB.

Về lý do chọn phương án 1, Thủ tướng nói, tuy đa số ĐB đồng ý với phương án này nhưng cũng có băn khoăn là diện tích và dân số quá lớn, nên có ĐB đề xuất phương án 2 hoặc 4. Thủ tướng khẳng định, sau khi đã chấm điểm trên nhiều tiêu chí, phương án 1 vẫn được chọn vì những ưu điểm như sau:

Thứ nhất, có quỹ đất lớn để xây 1 đô thị hiện đại bên cạnh 1 đô thị cổ kính trong tương lai. Quỹ đất có nền địa chất thuận lợi, không ảnh hưởng đến quỹ đất nông nghiệp vì chủ yếu là diện tích đất gò đồi chưa có nhiều dự án.

Hà Tây và các địa phương tiếp giáp của Vĩnh Phúc, Hòa Bình có mối quan hệ lâu đời, đã từng có thời gian về HN.

Lúc đó đạt mật độ 3.000 - 4.000 người/km2, tương đương với mật độ dân số các thành phố như Tokyo 4.400 người/km2, Paris 3.500 người/m2... Như vậy, cũng không phải là quá lớn vì trên thế giới có 17 thành phố có diện tích trên 3.000km2.

Nếu chọn phương án 2, tuy cũng mở về phía Tây nhưng không gian chưa đủ đáp ứng. Phần còn lại của Hà Tây toàn thuần nông, sẽ khó cho Hà Tây phát triển. Ba phương án còn lại có diện tích nhỏ hơn nên càng không thể đáp ứng nhu cầu, chưa kể, nhiều diện tích đất trồng lúa và nhiều dân thuần nông, sẽ bị xáo động.

Tất nhiên, CP cũng nhận thấy nhiều khó khăn, hạn chế khi chọn phương án 1. Nhưng Thủ tướng nói Chính phủ sẽ tập trung để xử lý.

Về lộ trình thực hiện, nhiều ĐB cân nhắc thời điểm có hiệu lực. Thủ tướng cho hay: "Nếu Nghị quyết được thông qua, chúng tôi đề nghị từ 1/8/2008 sẽ thực thi để chỉ đạo chuẩn bị tốt nhất việc chuẩn bị bộ máy và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, phương án ngân sách của Hà Nội mới để trình vào kỳ họp QH cuối năm".

Người đứng đầu Chính phủ cũng cho biết hiện có hàng trăm dự án đang chờ đợi triển khai, nếu chờ, sẽ tiếp tục treo.

"Việc QH thông qua Nghị quyết có ý nghĩa lịch sử"

Về căn cứ quyết định, nhiều ĐB nói chưa có căn cứ khoa học. Theo Luật xây dựng, khi có địa giới cụ thể, mới lập quy hoạch xây dựng. Chính phủ đã gửi ĐB đề án định hướng. Sau khi QH thông qua, sẽ lập quy hoạch chi tiết.

"Nhiều ĐB nói, chưa lấy ý kiến nhân dân. Nhưng theo quy định pháp luật, chúng tôi chỉ tổ chức lấy ý kiến HĐND các cấp. Sau khi được QH thông qua Nghị quyết, Chính phủ sẽ mời chuyên gia quốc tế lập đồ án và sẽ chỉ đạo lấy ý kiến nhân dân để đồ án quy hoạch có chất lượng cao", ông Dũng giải thích.

Thủ tướng cũng tìm cách giải tỏa băn khoăn của ĐBQH về kinh phí, nguồn vốn: "Kinh phí sẽ không phát sinh nhiều như các trường hợp chia tách vì không mua sắm xây dựng thêm gì mới. Bộ máy cơ sở sẽ giữ nguyên. Chi thường xuyên cũng không bổ sung vì đã phê duyệt từ 2008. Sau khi có Nghị quyết, sẽ có điều chỉnh cho phù hợp. Ngân sách 2009 sẽ phê duyệt cuối năm".

Về đầu tư hạ tầng xã hội, Thủ tướng cho biết sẽ huy động nhiều nguồn vốn. Trên cơ sở đồ án quy hoạch, sẽ có dự kiến theo từng dự án, trình lên hàng năm và theo 5 năm.

Một băn khoăn nữa của ĐBQH cũng đã được ông Nguyễn Tấn Dũng đề cập, đó là việc Sơn Tây và Hà Đông là thành phố thuộc Hà Nội. Theo quy định Hiến pháp, tên gọi thành phố hay thị xã là tên để phân biệt mức độ đô thị hóa. Hai thành phố này sẽ tương đương là đơn vị hành chính cấp huyện. Chính phủ sẽ nghiên cứu để tổ chức lại thích hợp.

Về công tác tổ chức cán bộ, Thủ tướng khẳng định: "Sau khi có nghị quyết, Chính phủ sẽ chỉ đạo sắp xếp bộ máy đảm bảo sự hợp lý, nhanh chóng ổn định. Về giữ gìn nét văn hóa truyền thống, Chính phủ sẽ lưu ý giữ gìn các nét văn hóa".

Về kế hoạch sử dụng đất, người đứng đầu Chính phủ nói kế hoạch sử dụng theo đúng quy hoạch luật đất đai. Chính phủ cũng sẽ quan tâm và chăm lo đời sống bà con nông dân, người vùng sâu, vùng xa.

QH sẽ giám sát và lấy ý kiến nhân dân việc thực hiện

"864 ngày nữa là kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Việc ĐBQH thông qua Nghị quyết sẽ có ý nghĩa lịch sử. Hàng năm sẽ báo cáo kết quả cho QH được biết".

Sau Thủ tướng, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của QH Nguyễn Văn Thuận đã trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến của đại biểu về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh có liên quan, giữa tỉnh Hà Tây và Phú Thọ.

Phát biểu trước khi đại biểu bấm nút, Chủ tịch QH Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: "Xem xét địa giới hành chính địa phương là vấn đề quan trọng và nhạy cảm. Mở rộng HN lại càng thiêng liêng và nhạy cảm, hệ trọng".

"Mấy tuần gần đây, việc mở rộng địa giới HN đã được bàn thảo khá sôi nổi trong và ngoài hội trường, trên các diễn đàn, trao đổi cả trong bữa ăn của từng gia đình. Nhiều ý kiến trao đổi thẳng thắn, rất cần để khuyến khích. Nhưng trao đổi thẳng thắn với động cơ trong sáng và tình cảm chân thành", ông Trọng nói.

Chủ tịch QH khẳng định: "Trao đổi sẽ giúp tiếp cận chân lý đầy đủ, từ đó quyết định chủ trương lớn trên cơ sở đồng thuận cao. Qua cọ xát, nhiều vấn đề đã được sáng tỏ. Thủ tướng đã giải trình nghiêm túc, hai dự thảo Nghị quyết đưa ra hôm nay gần như viết lại. Thời điểm thông qua cũng rất thận trọng".

Vẫn theo Chủ tịch Trọng, đây là Nghị quyết về chủ trương mở rộng địa giới hành chính HN, chứ không phải chủ trương về quy hoạch, sắp xếp bộ máy, quy hoạch kinh tế - xã hội, điều này QH sẽ còn cho ý kiến và còn đưa ra lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân.

"QH sẽ giám sát và đưa ra lấy ý kiến đại biểu lẫn nhân dân", ông Trọng nói.

Nghị quyết sẽ có hiệu lực từ ngày 1/8

Sau khi hợp nhất toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số Hà Tây về Hà Nội, của 4 xã huyện Lương Sơn (Hòa Bình), huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc), Thủ đô Hà Nội mở rộng sẽ có diện tích 3.324,92 km2, dân số gần 6 triệu người, có 29 đơn vị hành chính quận, huyện, 575 đơn vị xã, phường, thị trấn.

Phía Đông Hà Nội "mới" sẽ giáp tỉnh Bắc Ninh và Hưng Yên. Phía Tây giáp Hòa Bình và Phú Thọ, phía Nam giáp Hà Nam, phía Bắc giáp Thái Nguyên, Vĩnh Phúc.

Chính phủ có trách nhiệm tổ chức thực hiện Nghị quyết hiệu quả và trách nhiệm, tổ chức các đơn vị hành chính theo đúng quy định pháp luật, sắp xếp tinh gọn bộ máy, tổ chức chỉ đạo quy hoạch đề án và lấy ý kiến dân rộng rãi.

Hàng năm, Chính phủ báo cáo QH thực hiện tiến độ thực hiện Nghị quyết này.

December 2009
M T W T F S S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31