Skip navigation

Lost password? | Help

Nghĩa Lâm

Đôi lúc, cái mà nguời ta có được từ công việc của mình không phải là tiền bạc mà là những bài học quý báu - C. Black

July 2008

( Monthly archive )

Tiền đồng đang ở đâu?

,

Bài viết của GS.TS Trần Ngọc Thơ, Đại học Kinh tế Tp.HCM.

Để trả lời câu hỏi này, một số tác giả đã tiến hành so sánh tốc độ tăng GDP và cung tiền. Theo đó tốc độ tăng GDP trong giai đoạn 2005-2007 là 27,6% nhưng cung tiền lại tăng tới 135%.

Hai dữ kiện này sau đó đã được liên kết lại để đưa đến nhận định rằng với lượng cung tiền này thì lạm phát đáng lý phải cao hơn nhiều chứ không phải như trong thời gian qua (?!). Sở dĩ lạm phát chưa bùng phát lên cao là do phần lớn lượng tiền cung ứng trong ba năm qua đã nằm ở các hedge fund (quỹ đầu cơ) và một số nhà đầu cơ lớn nhỏ khác. Họ chỉ chờ thời cơ thuận lợi để thao túng (lũng đoạn tiền tệ hoặc tiến hành các hoạt động thâu tóm).

Nếu ví tiền đồng như “nước”, phần lớn nước hiện nay nằm ở các con sông (ngân hàng thương mại). Có điều lượng nước từ các con sông cũng không còn nhiều do đã được hồ chứa là Ngân hàng Nhà nước hút về phần lớn (bằng việc siết van khóa chặt tiền tệ). Nước không nhiều nên các con sông đã hạn chế đến mức tối đa cho các cánh đồng (doanh nghiệp) vay mượn.

Cánh đồng nào may mắn vay được nước từ sông cũng không chủ yếu dùng để canh tác mà để bù đắp thanh khoản. Sông nào vay được nước từ hồ cũng rất hạn chế cho các cánh đồng vay lại vì bị hồ chứa đặt ra quá nhiều điều kiện (như tốc độ tăng trưởng tín dụng không được vượt quá 30%).

Phần nước mà hồ cung ứng trước đây cho các cánh đồng “chứng khoán và bất động sản” đã bốc hơi phần lớn, số còn lại cũng bị đóng băng vì thị trường đang rơi vào cảnh chợ chiều. Sau khi tính hết các yếu tố này, lượng nước chắc rất ít ỏi còn lại nằm ở các cây giữ nước là người có tiền nhàn rỗi, các doanh nghiệp và một số quỹ đầu tư.

Đây mới là cách phân tích khả dĩ để trả lời cho câu hỏi “tiền đồng đang ở đâu”, thay vì chỉ suy đoán. Trước hết, ta thấy rằng tiền không phải đến từ những cỗ máy in mà từ nguồn vốn vay hoặc huy động từ cổ đông. Tiền trả lãi vay và cổ tức lấy từ đâu khi mà lượng tiền đồng này nằm yên không sinh lợi trong thời gian quá dài chỉ để chờ thời cơ thao túng?

Tuy nhiên tiền đồng mà các quỹ có được là do trước đó họ phải bán đi Đô la để đầu tư vào chứng khoán hoặc bất động sản, nhưng với việc thị trường chứng khoán và bất động sản giảm giá khoảng 60% trong gần một năm qua, kết hợp với tỷ giá ngày càng có xu hướng tăng lên (nghĩa là cũng số lượng tiền đồng như cũ nhưng chuyển sang Đô la ngày càng ít đi theo thời gian), liệu các quỹ có đủ kiên nhẫn chấp nhận lỗ thêm nữa và chờ đến bao giờ để tiến hành các hoạt động thao túng?

Thống kê từ một số quỹ đầu tư cho thấy lượng tiền mặt hiện cũng chỉ còn vài phần trăm so với tài sản ròng, trừ các quỹ mới huy động (xem bảng dưới). Các quỹ khác không nằm trong thống kê này chắc hẳn cũng đang trong tình trạng tương tự. Và ngay cả trong trường hợp toàn bộ lượng tiền đồng này được chuyển đổi sang Đô la, các quỹ cũng gặp phải những khó khăn từ các rào cản ngoại hối.

Việt Nam chưa phải là quốc gia tự do hóa tài khoản vốn hoàn toàn và với chính sách quản lý ngoại hối vẫn còn khá chặt chẽ như hiện nay, khó nhà đầu tư nào có thể bán ngay một lúc toàn bộ lượng tiền đồng lấy Đô la để chuyển ra nước ngoài. Còn nếu sử dụng các công cụ phái sinh để chuyển tiền đồng thành Đô la thì càng không thể.

Các hợp đồng phái sinh ở các ngân hàng chủ yếu là hợp đồng kỳ hạn, và cũng chỉ được các ngân hàng cung ứng cho các doanh nghiệp trong giao dịch xuất nhập khẩu. Còn với công cụ phái sinh quyền chọn (option) Đô la Mỹ/Đồng Việt Nam thì do đang trong quá trình thí điểm nên thiếu khung pháp lý để các quỹ chuyển đổi hàng loạt sang đô la với số lượng lớn.

Như vậy nếu có thể chuyển từ tiền đồng sang Đô la và sau đó chuyển ra nước ngoài, các quỹ chỉ có thể tiến hành nhỏ giọt, thị trường ngoại hối khó có thể có đột biến đáng kể, thậm chí nếu khả năng này xảy ra. Tuy nhiên với những thông tin tích cực gần đây và việc các nhà đầu tư nước ngoài đang có kế hoạch đổ vốn vào Việt Nam, xem ra việc tính toán thế trận giờ đây đã không còn hoàn toàn phụ thuộc vào chỉ mỗi một phía các quỹ đầu cơ.

Tóm lại, nếu chỉ nhìn vào lượng nước (tiền) mà hồ chứa là Ngân hàng Nhà nước cung ứng trong nhiều năm qua để cho rằng chúng hiện đang nằm ở các quỹ đầu cơ lớn là chỉ chụp ảnh có mỗi lượng nước tích tụ tại các cây giữ nước ngay tại một thời điểm nào đó (khi thị trường chứng khoán và bất động sản còn đang nóng).

Cách chụp ảnh ở trạng thái tĩnh tại một thời điểm hoàn toàn bỏ qua việc hồ chứa nước đã thu hồi nước từ các con sông (ngân hàng tăng lãi suất, tăng dự trữ bắt buộc, mua tín phiếu bắt buộc và chuyển toàn bộ khoảng 50.000 tỉ đồng tiền gửi của hệ thống kho bạc đang gửi về Ngân hàng Nhà nước).

Để trả lời cho câu hỏi nước (tiền) đang ở đâu, cần xem lại từ đầu đến cuối cuốn phim “bơm hút nước” từ toàn bộ hệ thống của hồ chứa nước, các con sông, các cánh đồng và các cây giữ nước, thay vì chỉ xem duy nhất một tấm ảnh của chỉ có mỗi cây giữ nước. Sau đó còn phải nhận diện các điều kiện và cơ chế mà lượng nước từ các cây có thể gom lại được để tạo nên một trận lụt.

Ta còn phải tiến hành chọn mẫu tiêu biểu một số cây giữ nước để ước đoán lượng nước từ các cây khác còn lại nhiều hay ít. Điều quan trọng mà nhà làm chính sách cần quan tâm chính là các cây giữ nước này đang tích trữ bao nhiêu lượng ngoại tệ Đô la và vàng trong thời gian qua để chờ thời?

Mọi suy diễn chủ quan khác đều tạo ra tâm lý hoang mang không đáng có về một trận lụt ảo.



http://vneconomy.vn/?home=detail&page=category&cat_name=01&id=05b51607ee558e
Viết tiếp chuyện tiền đồng đang ở đâu?
Bài viết của chuyên gia kinh tế Huỳnh Thế Du, giảng viên Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright Việt Nam.

Thực ra, người có đủ khả năng và thẩm quyền để có thể đưa ra câu trả lời một cách tin cậy nhất nhằm trấn an công chúng chính là Ngân hàng Nhà nước.



Việc thông tin kịp thời rõ ràng và chính xác là việc làm hết sức cần thiết và cấp bách trong giai đoạn lòng tin của công chúng dễ bị tác động bởi những thông tin thổi phồng thiếu cơ sở.

Hiện nay có một số ý kiến cho rằng các quỹ đầu cơ đang nắm giữ một lượng lớn tiền đồng nhằm thực hiện những mưu đồ riêng, gây tổn hại đến nền kinh tế Việt Nam. Điều này đã gây tâm lý hoang mang cho không ít người và tác động không tốt đến sự ổn định vĩ mô.

Tuy nhiên, trên thực tế, tiền đồng chẳng mất đi đâu cả và cảm giác “thiếu tiền” đơn giản chỉ là do cung không đáp ứng đủ cầu theo kỳ vọng được hình thành ở thời điểm mở rộng tiền tệ trước đây.

Quy trình tạo tiền

Ở mỗi quốc gia, ngân hàng trung ương (Ngân hàng Nhà nước, ở Việt Nam) là cơ quan duy nhất có thẩm quyền in và phát hành tiền. Khi muốn đưa tiền ra nền kinh tế thì Ngân hàng Nhà nước sẽ “chuyển” qua kênh các ngân hàng thương mại, hay kênh kho bạc (chính phủ).

Giả sử Ngân hàng Nhà nước cho Chính phủ vay 100 đồng để mua hàng hóa dịch vụ. Khi những thành viên trong nền kinh tế nhận được số tiền này sẽ giữ lại 70 đồng để đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu và cất giữ, 30 đồng còn lại đem gửi ngân hàng.

Khi đó, ngân hàng sẽ giữ lại 3 đồng (10%) làm dự trữ bắt buộc và đảm bảo khả năng thanh toán, 27 đồng đem cho những người có nhu cầu vay để mua hàng hóa và dịch vụ. Người bán hàng sẽ đem gửi toàn bộ số tiền vào ngân hàng và các ngân hàng lại trích 10% làm dự trữ, còn lại tiếp tục cho vay.

Cứ như vậy, các vòng quay tiền tệ sẽ diễn ra mãi mãi và trong két của các ngân hàng (kể cả Ngân hàng Nhà nước) vẫn luôn có 30 đồng, nhưng 300 đồng tiền gửi đã được tạo ra (30/10%) (ký hiệu là D).

Như vậy, 100 đồng tiền cơ sở ban đầu (ký hiệu là MB) đã tạo ra 370 đồng. Đây chính là cung tiền (ký hiệu là M) với 70 đồng tiền mặt đang lưu thông (ký hiệu là C), 30 đồng dự trữ ở các ngân hàng (ký hiệu là R) và 270 đồng cho vay (ký hiệu là CR) (xem bảng).



Tỷ số giữa M/MB được gọi là số nhân tiền tệ, ký hiệu là m và có thể tính toán bằng công thức m = (1+c)/(r+c) với r = R/D và c = C/D.

Cung tiền (M=m*MB) tỷ lệ thuận với cơ sở tiền (MB), tỷ lệ nghịch với tỷ lệ tiền trong lưu thông (c) và tiền dự trữ (r) tại các ngân hàng so với số dư tiền gửi. Những yếu tố này lại phụ thuộc vào công nghệ ngân hàng cũng như thói quen thanh toán do chúng làm cho dòng tiền được luân chuyển nhanh hay chậm hơn (1).

Diễn biến tiền tệ ở Việt Nam (2)

Bình quân trong giai đoạn 2000-2007, tốc độ tăng cơ sở tiền, cung tiền và tín dụng lần lượt là 23,7%, 29,3% và 31,5%, một mức khá cao so với tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhất là trong một vài năm gần đây. Đến cuối năm 2007, tổng tín dụng cho nền kinh tế đã xấp xỉ 1 lần và cung tiền tương đương 1,2 lần GDP. Đây là một mức khá cao so với nền kinh tế Việt Nam và dần tiệm cận với một số nước trong khu vực.

Số nhân tiền tệ đã tăng từ khoảng 3 lên hơn 4. Một sự tiến triển tích cực có được phần lớn là do (1) hệ thống ngân hàng đã được cải thiện nên người ta sử dụng nhiều hơn; (2) sự ổn định kinh tế vĩ mô trong thời gian dài đã làm gia tăng lòng tin của công chúng nên việc tích trữ tiền mặt ít được coi trọng hơn, dẫn đến tỷ trọng tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán giảm xuống; và (3) tỷ lệ tiền dự trữ trong hệ thống ngân hàng so với lượng tiền gửi cũng giảm, có thể là do các ngân hàng đã dần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nhất là kể từ khi áp dụng mô hình quản trị nguồn vốn tập trung (3).

Những biến động bất lợi về lạm phát và tiền tệ bắt đầu bùng phát từ năm 2007 do sự tích tụ từ thời gian trước đó cộng với tiền tệ được mở rộng quá mức. Đến năm 2008 này, khi những bất ổn vĩ mô xảy ra, chính sách tiền tệ được thắt chặt thì dường như ai cũng có cảm giác thiếu tiền. Nếu những yếu tố bất ổn không được xử lý tốt có thể sẽ làm cho số nhân tiền tệ giảm đi và cung tiền cũng sẽ giảm với một cơ sở tiền không đổi.

Tại sao nhiều người cảm thấy thiếu tiền?

Một số người cho rằng tiền đồng hiện đang do các quỹ đầu cơ nắm giữ và đến một lúc nào đó họ sẽ tấn công vào đồng tiền trong nước để trục lợi và gây tổn hại cho nền kinh tế Việt Nam như từng đã xảy ra ở một số nước. Lập luận này là thiếu cơ sở vì đồng Việt Nam không phải là đồng tiền có thể chuyển đổi và nếu các quỹ đầu cơ nắm giữ nhiều thì họ vẫn phải gửi trong các ngân hàng Việt Nam hoặc chuyển ra bên ngoài.

Nếu tình huống thứ nhất xảy ra thì tiền vẫn ở trong nền kinh tế, ngược lại, thì ở đâu đó ngoài lãnh thổ Việt Nam phải tồn tại một thị trường mua bán sôi động vì không ai đem hàng ngàn tỉ đồng cất trong két cả. Thực tế điều này khó xảy ra cho dù tiền đồng vẫn được trao đổi ở một vài nơi nhưng khối lượng không nhiều đến mức làm cho nền kinh tế hết tiền.

Thực ra, nguyên nhân làm cho ai cũng cảm thấy thiếu tiền là do cung tiền được siết chặt trong khi cầu tiền gia tăng do chịu tác động bởi những yếu tố sau:

Thứ nhất, với tốc độ tăng trưởng tín dụng và tăng cung tiền trong một năm trước đây ở mức rất cao, nhiều kế hoạch hoành tráng đã được xây dựng với kỳ vọng việc huy động vốn sẽ rất dễ dàng. Tuy nhiên, điều ngược lại đang xảy ra nên nhiều người đã không có tiền để triển khai kế hoạch của mình.

Thực ra, việc thiếu tiền chỉ là do không thể thực hiện các khoản đầu tư mới, hoặc chỉ một số ít người không thể quay vòng vốn vay, hoặc một vài ngành (cá ba sa chẳng hạn) đến vụ thu hoạch cần một lượng vốn lớn nhưng không được đáp ứng đầy đủ, trong khi hầu hết số dư nợ hiện tại vẫn được quay vòng và duy trì ổn định.

Hay nói cách khác, tiền vẫn nằm ở những chỗ chúng đang nằm chứ không biến đi đâu cả. Thậm chí, trong nền kinh tế còn có nhiều tiền hơn vì trong sáu tháng đầu năm, lượng tín dụng do hệ thống ngân hàng cung ứng đã lên trên 200.000 tỉ đồng, tương đương 50% số vốn cho vay năm 2007.

Thứ hai, khi mức giá tăng vài ba chục phần trăm thì nhu cầu nắm giữ tiền mặt cũng gia tăng tương ứng để đảm bảo cho việc thanh toán diễn ra một cách bình thường. Hơn thế, những biến động không tốt trong thời gian qua đã tác động đến lòng tin làm cho nhiều người có xu hướng gia tăng dự trữ tiền mặt. Chính những yếu tố này đã làm cho lượng tiền mặt được giữ lại trong nền kinh tế nhiều hơn thay vì nằm trong hệ thống ngân hàng.

Dựa trên những số liệu quá khứ cho thấy, nếu giả định các yếu tố khác không đổi, để đảm bảo lượng tiền trong nền kinh tế tương ứng với dư nợ tín dụng (1,250 triệu tỉ đồng vào cuối tháng 4-2008 và 1,380 triệu tỉ đồng theo kế hoạch tăng trưởng tín dụng 30% vào cuối năm nay) thì Ngân hàng Nhà nước phải cung ứng thêm khoảng 60.000 tỉ đồng trong sáu tháng đầu năm và gần 100.000 tỉ đồng trong năm 2008 (xem đồ thị 2).

Hơn thế, nếu lượng tiền mặt công chúng nắm giữ gia tăng thì lượng tiền cung ứng phải nhiều hơn nữa vì lúc này số nhân tiền tệ sẽ giảm, đó là chưa kể tác động của việc tăng dự trữ bắt buộc và 20.300 tỉ đồng tín phiếu bắt buộc.

Trên thực tế, với chính sách thắt chặt tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước chỉ đưa vào nền kinh tế một lượng tiền hạn chế, thậm chí có thể còn rút bớt tiền về. Đây chính là yếu tố làm giảm cơ sở tiền hay chí ít nó cũng không tăng như kỳ vọng của nhiều người. (Cũng có thể, một lượng tiền lớn hơn đã được tung ra, nhưng nếu lượng tiền mặt được nắm giữ nhiều hơn như đã phân tích thì cung vẫn không gặp cầu).

Với những lý do nêu trên, cảm giác thiếu tiền trong nền kinh tế là điều hiển nhiên. Đây chính là dấu hiệu của việc thực thi chính sách tiền tệ đúng hướng. Nguyên nhân của lạm phát là do nền kinh tế có quá nhiều tiền nên cần phải giảm bớt. Câu hỏi đặt ra là tại sao tiền đã giảm mà giá vẫn tăng?

Thực ra, nguyên nhân của áp lực tăng giá vẫn còn là do yếu tố kỳ vọng. Giá đang tăng thì mọi người nghĩ nó sẽ tăng tiếp và kết quả tăng thật. Tuy nhiên, sau khi tiền được rút bớt hay không tăng thêm thì nền kinh tế chỉ còn 100 đồng tiền ứng với 100 đơn vị hàng hóa nên mức giá hợp lý chỉ là 1 đồng cho một đơn vị hàng hóa, nhưng do yếu tố kỳ vọng mức giá được đẩy lên 1,2 đồng.

Điều này đã gây ra tình trạng thiếu tiền và thiếu thanh khoản, nhưng theo thời gian, nếu không có tiền tăng thêm và lượng hàng hóa không giảm đi, thì mức giá sẽ giảm xuống. Đây chính là tác động của việc thắt chặt tiền tệ đối với lạm phát.

Điều cần lưu ý là nếu những đồng tiền còn lại được sử dụng không hiệu quả sẽ làm cho tình trạng lạm phát trầm trọng hơn. Có nghĩa khi nền kinh tế có ít hơn 100 đơn vị hàng hóa và với số tiền hiện tại thì lạm phát vẫn có thể xảy ra. Đây chính là lý do tại sao thắt chặt tiền tệ phải đi kèm với thắt chặt chi tiêu ngân sách. Hơn thế, thắt chặt tiền tệ sẽ gây khó khăn thanh khoản, nên cần phải có những giải pháp phù hợp nhằm đảm bảo ổn định cho hệ thống ngân hàng, nhất là trong bối cảnh có nhiều yếu tố bất ổn như hiện nay.

Tóm lại, cảm giác thiếu tiền trong thời kỳ chính sách tiền tệ được thắt chặt là điều hiển nhiên. Chính điều này làm cho người ta phải chi tiêu tằn tiện và tính toán thiệt hơn kỹ càng với mỗi đồng tiền được bỏ ra. Kết quả là hàng hóa sẽ được tạo ra nhiều hơn và tiền ít bị phung phí hơn làm áp lực tăng giá sẽ giảm và chúng sẽ trở lại trạng thái bình thường trong điều kiện các chính sách vĩ mô đã được triển khai đúng hướng.

(1) Trên thực tế việc tính toán, đo lường cung tiền phức tạp hơn. Tiền được chia ra làm các loại M0, M1, M2, M3 và L.

(2) Các số liệu bài viết này được thu thập và tính toán dựa trên dữ liệu của Ngân hàng Nhà nước, IMF và số liệu công bố trên các báo.

(3) Thực ra, việc tính toán cung tiền nêu trên còn thiếu hai yếu tố có tác động không nhỏ đến khối lượng tiền trong nền kinh tế, đó chính là số ngoại tệ và vàng lưu thông có chức năng như tiền mặt.

(Theo TBKTSG)

Kế hoạch 10 điểm để khôi phục nền kinh tế

,

"Bảo vệ người nghèo và những đối tượng dễ bị tổn thương trong điều kiện lạm phát và kinh tế khó khăn như hiện nay phải luôn luôn là một mục tiêu hàng đầu của chính phủ." - Trích Báo cáo của Chương trình Kinh tế Fulbright phối hợp với Trung tâm Châu Á của ĐH Harvard ra ngày 19/5/2008.



Dưới đây là một danh mục những hành động chính sách có thể trở thành cơ sở cho một chương trình bình ổn kinh tế của chính phủ.

Cần phải nhấn mạnh ngay từ đầu là các cơ quan làm chính sách không thể tuỳ ý nhặt ra từ danh mục này 1 số chính sách để thực hiện và bỏ qua các chính sách còn lại.

Nếu không thực hiện toàn bộ gói giải pháp này một cách trọn vẹn thì mục tiêu bình ổn nền kinh tế có thể sẽ không đạt được, và những biến số vĩ mô trọng yếu như lạm phát, tỷ giá, thâm hụt ngân sách và thương mại, thanh khoản, nguy cơ phá sản của các ngân hàng, và cuối cùng suy thoái và/hoặc khủng hoảng có thể sẽ không được cải thiện.

Chẳng hạn như, nếu chính sách thắt chặt tiền tệ không được kết hợp một cách hiệu quả với những chính sách khác (như cắt giảm chi tiêu của khu vực nhà nước và đảm bảo thanh khoản cho hệ thống ngân hàng) thì có thể làm cho khu vực dân doanh bị bóp nghẹt khiến nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa, dẫn tới sự sụt giảm của nguồn cung hàng hoá và dịch vụ trong nước, đồng thời làm tăng mức thất nghiệp, suy giảm kim ngạch xuất khẩu, tăng nhập siêu.

Đồng thời, một nhiệm vụ hết sức quan trọng là chính phủ theo dõi một cách sát sao những chỉ báo kinh tế quan trọng như chỉ số giá tiêu dùng, thâm hụt thương mại, tình trạng nhập siêu...

Những việc cần làm ngay

1. Xiết chặt chính sách tài khoá. Cắt giảm hay tạm dừng một số dự án đầu tư công song song với kế hoạch tiết kiệm chi thường xuyên của chính phủ.

Chính sách: Xây dựng danh sách các dự án đầu tư công phải cắt giảm căn cứ vào suất sinh lợi kinh tế của chúng. Cắt giảm hay dừng những dự án có suất sinh lời thấp nhất cho đến khi tổng lượng đầu tư cắt giảm đạt mức 1,65 tỷ đô la (bằng 2% tổng chi ngân sách dự kiến năm 2008) và nhờ đó giảm thâm hụt ngân sách được 2%. Chuẩn bị cắt giảm và dừng những dự án khác khi cần thiết.

Mục tiêu: 1) Giảm dần thâm hụt ngân sách của chính phủ tới một mức cẩn trọng theo chuẩn mực quốc tế;
2) Đồng bộ hoá chính sách tài chính và tiền tệ để hạ nhiệt nền kinh tế và qua đó giảm lạm phát;
3) Giúp giảm thâm hụt thương mại vì tình trạng nhập siêu tăng đột biến vừa qua một phần là do nhu cầu nhập khẩu của các dự án đầu tư công ; đồng thời giảm mức độ phụ thuộc vào các dòng vốn nước ngoài để tài trợ thâm hụt thương mại;
4) Giảm bớt sức ép cho yêu cầu giảm chi thường xuyên trong ngân sách;
5) Phát tín hiệu rõ ràng đối với cộng đồng kinh doanh và công chúng về quyết tâm của chính phủ trong việc chống lạm phát.

2. Tăng dần lãi suất: Quyết định của Ngân hàng Nhà nước huỷ bỏ trần lãi suất huy động và nâng lãi suất cơ bản gần hơn với thực tế của thị trường là một bước đi tích cực, phù hợp với cơ chế điều hành chính sách tiền tệ trong một nền kinh tế thị trường.

Chính sách này sẽ giúp giảm tình trạng lãi suất thực âm, khuyến khích người tiết kiệm gửi tiền và giúp cải thiện tình trạng căng thẳng thanh khoản hiện nay.

Tuy nhiên, khi chính sách này có hiệu lực thì các NHTM sẽ đồng loạt tăng lãi suất để huy động thêm vốn, và điều này có thể kích hoạt một cuộc đua lãi suất mới.

Bên cạnh đó, vì lãi suất của các ngân hàng nhỏ thường rất mỏng nên chúng vẫn phải tăng cường nới tín dụng để có thể có lãi, qua đó gây thêm sức ép gia tăng lạm phát. Ngân hàng Nhà nước cần chuẩn bị để ứng phó với những tình huống này.

Chính sách: Nâng dần lãi suất cơ bản, làm cơ sở cho các NHTM nâng dần lãi suất huy động, tiến tới lãi suất thực dương. Đảm bảo lượng thanh khoản cần thiết cho thị trường liên ngân hàng. Có phương án đối phó với khả năng chạy đua tăng lãi suất của các NHTM, đặc biệt là giữa những NHTMCP nhỏ.

Mục tiêu: 1) Giảm nhẹ khó khăn thanh khoản cho các NHTM bằng cách hút tiền trở lại hệ thống ngân hàng;
2) Giảm áp lực cho chính sách tỷ giá bằng cách khuyến khích doanh nghiệp và người dân giữ tiền đồng;
3) Kiềm chế lạm phát nhờ khuyến khích tiết kiệm và hạn chế tiêu dùng.

3. Không cấp giấy phép thành lập mới NHTM nội địa trong thời hạn 12 tháng

Chính sách: SBV tuyên bố không thành lập ngân hàng nội địa trong vòng 12 tháng.

Mục tiêu: 1) Giảm tăng trưởng tín dụng để làm cơ sở cho giảm lạm phát;
2) Giúp ổn định hệ thống ngân hàng;
3) Chuẩn bị cho việc sáp nhập và mua lại các ngân hàng yếu kém;
4) Giảm gánh nặng (đang quá tải) cho hệ thống giám sát ngân hàng.

Hành động chính sách trong ngắn và trung hạn (Kỳ vọng có tác động ngay)

4. Hợp nhất ngân sách của chính phủ bao gồm tất cả các khoản ngoài ngân sách (thu, chi, vay, các trách nhiệm nợ khác) của cả chính quyền trung ương, địa phương, và doanh nghiệp nhà nước.

Xây dựng dự toán ngân sách cho 5 năm tới, tức là cần có một lộ trình và tầm nhìn dài hạn cho việc cắt giảm bội chi ngân sách. Liên tục cập nhật và công bố dự toán thu, chi, thâm hụt ngân sách của chính phủ và các nguồn tài trợ cho thâm hụt ngân sách.

5. Tăng cường hệ thống giám sát và báo cáo của hệ thống ngân hàng để chấn dứt những tin đồn thổi về tình trạng phá sản của một số ngân hàng, đồng thời để chuẩn bị cho SBV trong trường hợp phải can thiệp và cứu trợ các ngân hàng thất bại.

Xây dựng kế hoạch và cơ sở pháp lý cho hoạt động mua lại và sáp nhập giữa các ngân hàng (bao gồm cả ngân hàng nước ngoài). Yêu cầu các tập đoàn từ bỏ các hoạt động đầu tư vào ngân hàng và công ty tài chính. Hoàn thiện thủ tục phá sản để cho phép các doanh nghiệp phá sản thanh lý tài sản một cách nhanh nhất.

6. Chấm dứt việc nhà nước bảo lãnh cho các khoản vay (trong nước và quốc tế) của DNNN. Các DNNN muốn phát hành nợ phải có sự tham gia ít nhất 10% của các ngân hàng nước ngoài trên cơ sở thương mại, không có sự bảo lãnh của nhà nước. Những khoản vay ngoại tệ của DNNN trước đây cần được sử dụng để tăng cường dự trữ ngoại hối cho quốc gia.

7. Tăng cường vai trò của Uỷ ban Giám sát Tài chính Quốc gia để Uỷ ban này có thể đảm đương trách nhiệm giám sát hoạt động của các ngân hàng và tổ chức tài chính phi ngân hàng. Trong khi yêu cầu tăng cường năng lực của Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước tuy rất cần thiết nhưng lại không thể thực hiện trong một sớm một chiều thì việc tập hợp một nhóm nhỏ các nhà kỹ trị tài năng và có kinh nghiệm trong Uỷ ban Giám sát Tài chính Quốc gia có thể là một giải pháp thích hợp trong tình huống khẩn cấp.

C. Những hành động trong ngắn và trung hạn (cần thời gian để thực hiện và phát huy tác dụng)

8. Tái cấu trúc Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và Uỷ Ban Giám sát Tài chính Quốc gia. Mời các chuyên gia bên ngoài tham gia nhiệm vụ tái cấu trúc này, bao gồm cả những quan chức đã về hưu của một số nước trong khu vực nhưng giàu kinh nghiệm trong hoạt động cải cách Ngân hàng Trung ương và Bộ Tài chính.

9. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện cam kết WTO để tạo áp lực khuyến khích DNNN trở nên có tính cạnh tranh hơn.

10. Thực hiện kiểm toán độc lập đối với tất cả các Tập đoàn nhà nước. Hoạt động kiểm toán này phải do các công ty kiểm toán quốc tế có uy tín thực hiện. Các cơ quan chức năng của nhà nước cũng phải được trao quyền để đảm bảo sự hợp tác trọn vẹn của các tập đoàn. Kết quả kiểm toán sau đó phải được công bố rộng rãi.

* Trích Báo cáo của Chương trình Kinh tế Fulbright phối hợp với Trung tâm Châu Á của ĐH Harvard ra ngày 19/5/2008.
http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/4174/index.aspx

Việt Nam phải sống với hệ quả quyết định của mình

,

Giải pháp nâng lãi suất chỉ phát huy tác dụng trong những nền kinh tế thị trường đầy đủ. VN chưa phải là nền kinh tế ấy. Trong một số trường hợp, Chính phủ cần lắng nghe các ý kiến đa chiều, cần chỉ đạo trực tiếp, cần biết nói không với những dự án đầu tư không hiệu quả... Đó là nhận định của Giáo sư Dwight Perkins, Chủ nhiệm chương trình Việt Nam, ĐH Harvard.



Giáo sư Dwight Perkins là chuyên gia hàng đầu của Mỹ về Đông Á, là đồng tác giả của 19 cuốn sách và nhiều bài viết về lịch sử kinh tế, phát triển kinh tế, đặc biệt về Đông Á và Đông Nam Á, trong đó có nhiều phân tích sâu sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường.

Ông cũng từng tham vấn chính sách cho nhiều nước như Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, Papua New Guinea và là nhà tư vấn cho Ngân hàng Thế giới, quỹ Ford, cùng nhiều tổ chức của Mỹ.

Cơ chế lắng nghe đa chiều để có chính sách tốt

- Trong bối cảnh kinh tế VN gặp khó khăn, Chính phủ đã chủ động gặp gỡ và lắng nghe các ý kiến từ bên ngoài, trong đó có nhóm Harvard. Ông nhìn nhận ra sao?

Luôn là đúng đắn khi các chính phủ hướng ra bên ngoài và đón lấy các ý tưởng. Điều này đúng đối với chính quyền Mỹ cũng như với chính phủ VN.

Điều này tốt hơn việc bạn chỉ nghe ý kiến của người bên trong, mà đa phần những người này thường lạc trong một số quan điểm nhất định. Đôi khi quan điểm đó đúng, nhưng cũng có khi quan điểm đó là sai. Trong trường hợp thứ hai, lắng nghe bên ngoài là cách để bứt phá ra khỏi con đường đó.

Tất nhiên, những người bên trong thường biết nhiều tình hình cụ thể hơn, nhưng họ cũng có lợi ích riêng của mình. Lợi ích đó đóng đinh họ với những gì họ nói và làm.

Lắng nghe bên ngoài là cách bạn lùi lại đằng sau để nhìn về chính sách và các bước đi.

Ví dụ với nước Mỹ, Ngân hàng Trung ương Mỹ, tức FED, có quyền đưa ra các chính sách tiền tệ và tăng trưởng tín dụng, nhưng những người đứng đầu ngân hàng không bao giờ chỉ nhìn vào các con số báo cáo. Họ thường ra ngoài, lắng nghe các kinh tế gia nói.

Về mặt cá nhân, người đứng đầu các ngân hàng Mỹ rất thông minh, nhưng cũng có thể có điểm họ chưa nghĩ tới. Đó là lý do họ đi ra ngoài và tìm kiếm các ý tưởng, góc nhìn từ người khác để có bức tranh rõ ràng.

Những ý kiến bên ngoài không phải lúc nào cũng đúng, thậm chí là sai; và quan trọng hơn, những nhóm khác nhau thường có quan điểm trái ngược nhau. Nhưng càng nhiều ý kiến bên ngoài, tình hình càng có cơ tốt đẹp hơn bởi bạn được tiếp cận gần hơn với bức tranh thực.

Ngay cả khi là chuyên gia về các thông số, bạn cũng cần có những chuyên gia bên ngoài phân tích các thông số ấy và kiểm chứng nó. Ở Mỹ, chính phủ thường đưa ra các dự đoán về tương lai kinh tế. Nhưng chính phủ lại được lãnh đạo bởi các chính trị gia, những người muốn được bỏ phiếu bầu. Do đó, điều đương nhiên là họ muốn có những con số đẹp, những thông số tốt về bức tranh kinh tế - xã hội dù có thể thực tế dự báo không tốt như vậy.

Vì thế, cũng là dễ hiểu khi người ta không chú ý vào các dự báo của chính phủ mà quan tâm hơn tới các dự báo của bên ngoài.

Với VN, các bạn cần có một cơ chế lắng nghe đa chiều như vậy để đảm bảo có được những chính sách kinh tế tốt.

VN phải sống với hệ quả quyết định của mình

- Vừa qua, Harvard cũng đã gửi tới Chính phủ VN hai bản báo cáo về kinh tế VN. Cho tới thời điểm này, phản hồi từ phía Chính phủ như thế nào?

Công việc của Chính phủ VN không phải là phản hồi lại với chúng tôi, rằng họ đồng ý hay không. Chúng tôi quan sát tình hình và đưa ra phân tích, nhận định, quan điểm của mình và gửi tới Chính phủ.

Chúng tôi là một trong những nhóm đưa ra các quan điểm, góc nhìn; ý kiến đó hoặc đúng hoặc sai, và trách nhiệm thuộc về Chính phủ, không phải chúng tôi.

Công việc của các bạn là lắng nghe các ý kiến, và đưa ra quyết định. VN phải sống với hệ quả của quyết định đó, chúng tôi thì không.

Giải pháp thị trường cho nền kinh tế thị trường cạnh tranh

- Là người ở bên ngoài nhưng hiểu VN khá rõ, ông có thể nói cụ thể hơn các vấn đề mà nền kinh tế VN đang gặp phải?

Tình hình kinh tế VN khác xa so với thời điểm năm 1989-1991 khi tôi bắt đầu nghiên cứu về VN. Thời điểm đó, VN bắt đầu thay đổi hoàn toàn cách thức hoạt động của cả nền kinh tế, từ kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường. Đến thời điểm này, vấn đề của VN cần tập trung là làm thế nào quản lý được nền kinh tế thị trường hiệu quả.

Bản chất của khủng hoảng những năm đầu thập niên 1990 hoàn toàn khác với thời điểm này, do khủng hoảng thời đó chịu tác động từ sự sụp đổ của hệ thống XHCN ở Đông Âu và lạm phát cao hơn rất nhiều. Tuy nhiên, hiện nay, VN cũng gặp một số vấn đề nghiêm trọng đã từng xuất hiện ở thời điểm đó: lạm phát cao và thâm hụt thương mại lớn.

Các bạn phải đưa thâm hụt thương mại và lạm phát xuống. Hai mục tiêu đó riêng rẽ và cần hai biện pháp khác nhau để giải quyết.

Vào thời điểm này, VN là một nền kinh tế thị trường cạnh tranh, do đó các giải pháp đưa ra phải là các giải pháp thị trường.

- Giải pháp nào cho VN, thưa ông?

Với thâm hụt thương mại, các bạn cần cắt giảm chi tiêu. Theo tôi biết, VN quyết tâm cắt giảm chi tiêu công, đặc biệt là với các tập đoàn lớn.

Các bạn cũng có thể hạ giá tiền đồng để tăng xuất khẩu, giảm nhập khẩu. Một vấn đề với giải pháp này là nó có xu hướng làm tăng lạm phát.

Bạn không thể chỉ giảm giá tiền đồng mà cách thức tốt hơn là cắt giảm chi tiêu, với số lượng lớn. Giải pháp cắt chi tiêu cũng giúp giảm lạm phát.

Vấn đề đặt ra là bạn sẽ cắt giảm chi tiêu như thế nào? Trong một nền kinh tế thị trường đầy đủ, bạn chỉ cần đẩy lãi suất lên. Tôi không nghĩ VN đã là một nền kinh tế thị trường đầy đủ, cũng giống như Trung Quốc vậy. Trung Quốc đã phải hạn chế việc các ngân hàng cho vay tiền bằng cách yêu cầu tăng dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng, và hệ quả là các ngân hàng không thể cho vay thêm.

Tôi không biết đầy đủ chi tiết về tình hình các ngân hàng VN vào thời điểm này để nói câu trả lời chính xác cho vấn đề của VN là gì. Nhưng những quyết định mạnh mẽ về cắt giảm chi tiêu cần phải được đưa ra và thực hiện sớm.

Mối hiểm nguy trước mặt

- Trong giải pháp 8 điểm của Chính phủ đưa ra, việc cắt giảm chi tiêu công cũng được xem là một vấn đề ưu tiên, tuy nhiên, đến thời điểm này cũng chưa được thực hiện đầy đủ...

Về nguyên tắc, con số cắt giảm phải rất lớn, vần đề là làm thế nào để cắt mà không làm tổn hại tới những khu vực, vấn đề cần được triển khai? Cần nhiều đầu tư tốt. Tuy nhiên, hiện nay có nhiều DN đầu tư không hiệu quả. Làm thế nào các bạn có thể kiểm soát được tình hình này?

Đối với các tập đoàn lớn của nhà nước, Chính phủ có sự chỉ đạo trực tiếp. Vấn đề chỉ còn là Chính phủ có trực tiếp yêu cầu hay không.

Với tôi thì rất dễ trả lời, vì tôi không có những ràng buộc và trách nhiệm, không phải chính trị gia hay người dân VN. Chính các bạn phải chỉ ra điều gì cần làm để đạt kết quả tốt nhất.

- VN có thể học hỏi kinh nghiệm gì từ các nước?

Có rất nhiều bài học tồi tệ mà VN có thể nhìn vào để thấy điều gì sẽ xảy ra nếu không làm gì cả. Nếu các bạn không làm gì khác, sẽ tiếp tục có những dự án đầu tư tồi. Đó sẽ là một vấn đề nghiêm trọng ngay cả khi thâm hụt thương mại không lớn. Hãy nhìn vào những gì Indonesia, Hàn Quốc đã làm.

Hàn Quốc là một ví dụ điển hình. Trong những năm 1996 - 1997, nước này có nhiều DN tư nhân, đồng thời có những tập đoàn rất lớn. Các tập đoàn có mối liên hệ rất gần gũi, chặt chẽ với chính phủ, thường xuyên đề nghị chính phủ bảo vệ. Họ đầu tư vào mọi lĩnh vực ngay cả khi không biết gì về lĩnh vực đó. Việc này góp phần làm thâm hụt thương mại lớn và đầu tư xấu. Họ chi rất nhiều để trả các khoản vay nợ nước ngoài, và tất nhiên quản lý kinh tế vĩ mô yếu, dự trữ ngoại hối về gần với mức 0.

Kết quả là khi chính phủ phát hiện ra mình không còn dự trữ ngoại hối, còn các tập đoàn bị các ngân hàng của Nhật Bản, Mỹ, châu Âu từ chối không cho vay và yêu cầu trả nợ, trả những khoản vay ngắn hạn, thì các tập đoàn phải tự mình trả nợ. Theo cách thông thường, họ tìm đến ngân hàng Hàn Quốc và đề nghị cho vay nợ để trả nợ. Chính phủ và các ngân hàng Hàn Quốc đều từ chối cấp tiền. Vậy là các tập đoàn không thể trả nợ. Tất cả đều bị phá sản.

Những kịch bản như vậy có thể xảy ra nếu bạn không kiểm soát chặt tình hình.

Tôi không nói rằng VN sẽ lâm vào tình thế này nhưng tôi muốn lưu ý mối nguy hiểm của việc đảm bảo rằng tình hình được kiểm soát, để các tập đoàn kinh tế không rơi vào tình thế tương tự.

Chính phủ cần biết nói "không"

- Mô hình hay cách thức VN có thể áp dụng trong cắt giảm chi tiêu là gì?

Cách thức duy nhất VN có thể áp dụng để cắt giảm chi tiêu là kiểm soát trực tiếp với những dự án mà VN đang tiến hành, nói rằng "Các anh phải dừng dự án lại!".

Đây có vẻ không phải là cách hành xử kiểu thị trường, nhưng rất nhiều dự án lớn kém hiệu quả là của các DNNN với chi tiêu lớn. Và giải pháp thực tế duy nhất là chấm dứt nó.

Chính phủ có quyền nói không đối với các dự án kiểu này, cũng như với các DNNN, tập đoàn nếu Chính phủ thực sự muốn làm.

Nguon: http://www.tuanvietnam.net//vn/sukiennonghomnay/4217/index.aspx

Góp đôi lời bàn về tam nông hiện nay

,

Vấn đề tam nông đến thời điểm này, khi mà công cuộc đổi mới đã đi được chặng đường 22 năm ta mới đặt ra cấp thiết, theo tôi là quá muộn. Song dù muộn vẫn còn hơn không và tôi với cương vị một công dân lâu nay trăn trở với nó, xin góp một đôi lời.



Thực tế cho thấy, nếu lấy mốc Đại hội Đảng VI mà xét thì trong 5 năm đầu đổi mới kinh tế đất nước (1986- 1991) ta chỉ thắng lợi ở lĩnh vực nông nghiệp từ chỗ thiếu ăn Việt Nam đã vươn lên là nước xuất khẩu gạo hàng đầu của thế giới; còn ở các lĩnh vực kinh tế khác dường như chúng ta đã gặp nhiều thất bại:

Thứ nhất, ta đổi mới vấn đề phân phối lưu thông dẫn đến lạm phát phi mã, đổ vỡ tín dụng và đặc biệt hỗn loạn là phong trào đục tường, phá rào để mở cửa hàng buôn bán vòng vo trốn lậu thuế (nhà nhà đục tường chiếm lấy mặt tiền, các cơ quan công sở, trường học cũng phá tường rào xây ki-ốt cho thuê khiến bộ mặt đô thị trở nên nhếch nhác, vô chính phủ).

Thứ hai, ở lĩnh vực công nghiệp, đặc biệt là các ngành cơ khí, khai thác mỏ ta càng đổi mới càng bung bét, dẫn tới kiệt quệ bằng công thức “BAD” nghĩa là các công ty, xí nghiệp đua nhau bán ăn dần vật tư, thiết bị, nguyên nhiên liệu còn sót lại của thời bao cấp để mà tồn tại qua ngày. Trong 5 năm ấy, xã hội xuất hiện một phong trào “Chi chô mếch” khiến công nhân viên chức đua nhau bỏ việc cơ quan đi làm nghề chỉ chỏ mối hàng cho đám “con phe”mua bán vòng vo kiếm hoa hồng… Nhắc lại những sự thật không thể quên thời kỳ đó để ta càng thấm thía một điều đau lòng: Nông dân là người có công đầu đổi mới, nhưng ít được thụ hưởng kết quả đổi mới, thậm chí phải gánh chịu nhiều sự thua thiệt. Có thể nói, từ năm 1992, nhất là từ sau Đại hội Đảng VIII (1996), sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đạt nhiều thành công có phần đóng góp đáng kể của chính sách mở cửa và nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nhưng không thể phủ nhận nguồn vốn tích lũy ban đầu cho sự nghiệp ấy (cả về tiền ngoại tệ mạnh và uy tín quốc tế) lại nhờ vào thắng lợi của 5 năm đầu đổi mới trong nông nghiệp mang lại. Lẽ ra trên đà thắng lợi của nông nghiệp, ngay từ năm 1992, chúng ta phải nghĩ ngay đến vấn đề tam nông, hoàn thiện hàng loạt chính sách đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dân.

Nhìn lại vai trò nông dân trong lịch sử

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lê đều đã từng nói, khâu yếu nhất của chính quyền cai trị ở mọi thời đại, mọi thể chế chính trị đều là nông thôn. Điều này càng đúng với lịch sử Việt Nam ta suốt 2000 năm qua. Thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc, mọi biến động chính trị dẫn đến khởi nghĩa nông dân giành độc lập đều xảy ra ở thời điểm và địa bàn nông thôn mà thế lực cai trị phương Bắc áp dụng những chính sách sai lầm hà khắc nhất, điển hình là cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế) được châm ngòi nổ bởi sự đối xử dã man của lũ quan áp tải đồ cống nạp về nước đối với những người vận chuyển hàng, trong đó có chàng trai nông dân lực điền họ Mai. Thời kỳ độc lập tự chủ dưới các triều đại phong kiến khoảng 900 năm thuộc thiên niên kỷ thứ hai, Việt Nam rất hiếm thấy sự biến động chính trị lớn khởi nguồn từ mâu thuẫn giữa các thế lực chính trị cung đình hay ở kinh đô, ngoại trừ 2 cuộc thoán ngôi của Hồ Quý Ly thời Trần và Mạc Đăng Dung thời Lê. Giai đoạn lịch sử hỗn tạp, chứa nhiều bất ổn định về an ninh chính trị nhất là khoảng gần 100 năm cuối thời vua Lê- chúa Trịnh thì cũng chỉ có vài cuộc bạo loạn nhỏ và tức thì ở Đông Đô, do đám kiêu binh gốc quê xứ Thanh gây rối kiểu lưu manh chính trị, còn chủ yếu và cực kỳ gay cấn, đe dọa triền miên sự tồn vong của chính thể là 6 cuộc khởi nghĩa và hơn 20 vụ bạo động lớn nhỏ của nông dân, trong đó có tới 9 vụ liên quan đến đất đai bị quan lại, cường hào cưỡng chiếm. Nếu chỉ xét trong giai đoạn lịch sử cận hiện đại ở Việt Nam, Trung Quốc và nhiều quốc gia nông nghiệp khác, tôi lại nhớ nhà cách mạng Đặng Diễn Đạt (TQ) năm 1924 đã bị phê phán, khai trừ ra khỏi quốc tế cộng sản vì bất đồng quan điểm, khi ông cho rằng ở phương Đông không hề có khái niệm cách mạng vô sản mà chỉ có khái niệm về cuộc đại cách mạng nhân dân, lấy nòng cốt là những nông dân nghèo không có ruộng hoặc mất ruộng mà thôi. (Tuyển tập Đặng Diễn Đạt- Nxb Bắc Kinh 1991). Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng ta trong gần 80 năm qua cũng đã chứng minh các bậc tiền bối cộng sản luôn khôn khéo nắm lấy phong trào nông dân, tuyên truyền tổ chức họ thành đội quân chủ lực của cách mạng nên đã đạt được những thành công rực rỡ, xứng đáng được cả dân tộc thời đó ghi nhận là chính đảng duy nhất nắm quyền lãnh đạo đất nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc vào nửa cuối thế kỷ XX, tư tưởng chiến lược lấy nông thôn bao vây thành thị là một sáng tạo tuyệt vời của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh cách mạng do Đảng cộng sản phát động và lãnh đạo. Thế nhưng thực tế chiến tranh ở Việt Nam là lấy yếu đánh mạnh nên chiến tranh kéo dài, sự hy sinh của nông dân là vô cùng to lớn, bất cứ người lãnh đạo nào khi điều hành đất nước mà quên đi sự hy sinh ấy là có tội với lịch sử. Theo tìm hiểu của tôi, 30 năm sau cuộc chống Mỹ, hiện chúng ta có 1,1 triệu liệt sĩ, trong đó 500 ngàn có mộ chí quy tập rõ danh tính, 300 ngàn được quy tập nhưng khuyết danh và 300 ngàn chưa tìm thấy hài cốt để quy tập. Đây là một thực tế đau lòng làm âm ỉ nỗi đau, chua xót trong các gia đình nông dân bấy lâu lang thang khắp nơi tìm mộ người thân. Việc chăm sóc phần mộ người đã khuất là tập quán lâu đời và thiêng liêng của dân tộc ta. Vậy mà khi tham gia cộng tác với nhóm trí thức trẻ chủ trương lập trang Web “Nhắn tìm đồng đội”, tôi đã từng chứng kiến nhiều gia đình nông dân tuy người thân có mộ đã quy tập về nghĩa trang liệt sĩ nào đó, ghi rõ danh tính, quê quán mà bản thân gia đình không hề biết, vẫn lang thang tìm kiếm?!


Từ thực tế lịch sử về vai trò người nông dân trong xã hội Việt Nam như vừa điểm trích theo thư tịch cổ và các tộc phả vùng đồng bằng Bắc Bộ, kết hợp tham khảo một số công trình nghiên cứu về văn hóa, xã hội học, lịch sử của Nguyễn Đổng Chi, Đoàn Văn Chúc, Tô Duy Hợp, Trần Ngọc Vương, Nguyễn Quang Ngoc…, tôi thiết nghĩ, ta có thể tóm lược thân phận người nông dân Việt Nam trong tiến trình lịch sử ở 3 cấp độ dân quyền: Thời phong kiến tập quyền (Lý- Trần- Lê- Nguyễn), họ cam chịu thân phận con người Thần dân, chỉ biết ngoan ngoãn chấp nhận quyền lực của vua chúa, còn bản thân không hề được vua ban phát một thứ quyền gì. Thời nô lệ mất nước, họ tình nguyện tự chuyển hóa thành thân phận con người Quốc dân, dám chấp nhận mọi sự hy sinh để giành độc lập cho đất nước, bản thân không hề đòi hỏi một thứ gì về quyền và lợi. Sau Cách mạng mùa thu năm Ất Dậu, lẽ ra người nông dân đã có thể được hưởng thân phận con người Công dân một cách đầy đủ như mọi dân tộc ở các nước văn minh trên thế giới, nhưng vì hoàn cảnh chiến tranh hết chống Pháp rồi chống Mỹ nên người nông dân một lần nữa vẫn sẵn lòng hy sinh, chấp nhận thêm 30 năm trong thân phận con người Quốc dân. Đáng tiếc, đã 30 năm kể từ ngày thống nhất đất nước, trong tư tưởng một số người vì nhiều lý do kém thuyết phục cứ muốn níu kéo người nông dân ở mãi thân phận con người Quốc dân, chỉ biết yêu cầu họ hy sinh và đóng góp cho công cuộc phát triển mà đôi khi phớt lờ những đòi hỏi chính đáng về quyền tư hữu, một thứ quyền rất cơ bản của con người Công dân trong xã hội hiện đại. Và đó chính là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến sai lầm trong chính sách tam nông suốt một thời gian dài.

Sơ lược về hiện trạng nông nghiệp- nông thôn và nông dân 20 năm gần đây

Trước hết nói về nông nghiệp, từ năm 1992, sau thắng lợi của 5 năm đầu đổi mới, nông nghiệp Việt Nam hầu như không có sự phát triển mang tính bứt phá nào đáng kể, thậm chí ở nhiều nơi, nhiều lúc đã có sự sa sút. Đó là thực tế không thể không lo ngại ở một nước vẫn đang còn chiếm 70% dân số làm nông nghiệp. Cần phải nói rõ hơn về cái gọi là thắng lợi trong nông nghiệp giai đoạn 5 năm đầu đổi mới tuy rất to lớn, nhưng thực chất chỉ nhờ vào thay đổi cơ chế quản lý, giải phóng sức lao động ở nông thôn chứ chưa hề có sự tham gia đầu tư bài bản của Nhà nước và cũng rất ít hàm lượng khoa học kỹ thuật đóng góp vào quá trình sản xuất. Vì không nhìn thấy rõ bản chất của vấn đề như vậy nên ta đã sớm ngủ quên trong thắng lợi, lơ là quản lý, thiếu đầu tư cho thủy lợi và nghiên cứu khoa học để cải tạo giống cây trồng, vật nuôi, công nghệ chế biến. Năm 2005, tôi cùng nhà văn Minh Chuyên về Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long làm phim tài liệu, rất xúc động trước tài năng và nhiệt huyết của đội ngũ cán bộ khoa học nơi đây. Họ đã làm hết sức mình cho nền nông nghiệp nước nhà, song lẽ ra họ còn làm được nhiều hơn thế nếu Nhà nước quan tâm đầu tư thỏa đáng. Làm sao ta có thể yên lòng khi miền Tây Nam Bộ so với Thái Lan có cùng điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu nhưng họ chỉ trồng 1- 2 vụ/năm, còn ta trồng 3 thậm chí 4 vụ trong năm; giá thành 1 tấn thóc của ta cao hơn họ song chất lượng gạo họ cao hơn, giá trị xuất khẩu 1 tấn gạo của họ cũng cao hơn ta rất nhiều! (giá gạo Thái Lan trước năm 2006 có loại đạt tới 750 USD/tấn so với 260- 280 USD/tấn của Việt Nam) Làm sao ta có thể chấp nhận một thực tế là đội ngũ khoa học về cơ khí nông nghiệp rất đông đảo, nhiều người có học hàm học vị cao lại thua một anh Hai Lúa trong thiết kế máy gặt, máy hút bùn… cho nông dân! Lỗi này ở nhà khoa học 1 phần thì ở Nhà nước 10 phần nặng hơn…

Nông nghiệp bấp bênh thể hiện rõ nhất ở khả năng chống chịu với thiên tai, dịch bệnh còn yếu kém. Cơ sở hạ tầng cho nông nghiệp phát triển bền vững chưa bảo đảm, từ hệ thống đê sông, đê biển, hệ thống thủy lợi từ công trình đầu mối đến kênh mương, hệ thống giống, bảo vệ động thực vật, thu hoạch bảo quản, cơ sở chế biến. Thiệt hại vật chất do thiên tai, dịch bệnh hằng năm rất lớn, lên đến trên dưới 1% GDP, tác động chủ yếu đối với nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thủy sản, trong khi nhóm ngành này hiện chỉ còn chiếm 20% GDP. Tốc độ tăng giá trị sản xuất nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thủy sản mấy năm nay có xu hướng giảm dần (năm 2000 tăng 7,3%, năm 2005 tăng 4,9%, năm 2007 tăng 4,6%), trong đó nông nghiệp còn giảm mạnh hơn (tương ứng là 5,4%, 3,2% và 2,9%); còn tốc độ tăng giá trị sản xuất chăn nuôi giảm mạnh liên tục trong ba năm nay (năm 2005 tăng 11,4%, năm 2006 tăng 7,3%, năm 2007 tăng 4,6%) và liên tục bị dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng, dịch lợn tai xanh đe dọa. Sản lượng lương thực bình quân đầu người đang giảm dần. Diện tích đất trồng lúa đang giảm mạnh trong khi dân số cả nước vẫn còn tăng lớn. Theo kết quả điều tra tại 16 tỉnh, thành phố về tình trạng đất nông nghiệp bị thu hồi để xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị (KCN, KĐT) vừa được Bộ NN&PTNT công bố, trong vòng 5 năm qua, cả nước đã có hơn 366.000 ha đất nông nghiệp bị thu hồi. Trong khi dân số và nhu cầu lương thực đang ngày một gia tăng, đất nông nghiệp lại đang bị nhiều địa phương thu hồi một cách vô tội vạ. Tình trạng này đã diễn ra trong một thời gian dài đã khiến cho người nông dân nhiều địa phương trong cả nước rơi vào tình trạng không có đất canh tác. Phần lớn số tiền đền bù đất mà người nông dân nhận được, chủ yếu được dùng vào việc mua sắm, xây dựng nhà ở; rất ít người dùng tiền đền bù để đầu tư chuyển sang ngành nghề khác. Điều này đã dẫn đến tình trạng, số lao động dôi dư (nhất là lứa tuổi từ 35-60) tại các địa phương trong cả nước chiếm số lượng rất lớn. Tài liệu nghiên cứu ở Vụ Lao động - việc làm (Bộ LĐ-TB&XH) năm 2007 cho biết, trung bình mỗi hộ nơi bị thu hồi đất có 1,5 lao động mất việc làm; trong đó, đứng đầu là Hà Tây (35.703 người), Vĩnh Phúc (22.800 người), Đồng Nai (12.295 người)... Theo giải thích của những người có trách nhiệm ở địa phương thì sở dĩ xảy ra tình trạng này là vì số nông dân tại các nơi đó được tuyển dụng vào làm việc tại các KCN chiếm tỷ lệ rất ít do trình độ lao động, tay nghề không đáp ứng được nhu cầu. Tuy nhiên gần đây, khi về Phù Chẩn- Bắc Ninh viết bài về những tiêu cực trong thu hồi đất, tôi đã có cơ hội tìm hiểu rõ hơn thực trạng này ở một tỉnh sát kề thủ đô Hà Nội. Từ năm 2001 đến nay, tỉnh Bắc Ninh đã thu hồi hơn 3.000ha đất nông nghiệp. Theo kế hoạch, đến năm 2010, Bắc Ninh sẽ có tổng số 8 KCN tập trung và việc thu hồi đất chắc chắn sẽ không dừng ở con số trên. Cũng theo dự kiến, đến năm 2015, Bắc Ninh sẽ có 14-15 KCN tập trung và phải thu hồi diện tích gần 8.700ha. Số đất này đã chiếm tới hơn 10% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh. Thế nhưng chỉ tiếp cận một dự án liên quan đến điểm nóng Phù Chẩn đã thấy ở Bắc Ninh tồn tại nhiều vấn đề sai lầm nghiêm trọng về chính sách tam nông. (Xem bài trên Văn Nghệ Trẻ số 14 và 17+ 18, bộ số năm 2008). Chúng ta không thể công nghiệp hóa bằng mọi giá, thu hồi đất vô tội vạ, bất chấp mọi phản ứng của nông dân như ở Phù Chẩn bởi vì rõ ràng chính quyền cơ sở ở đây đã coi trọng lợi ích nhà đầu tư hơn cả sự sống còn của hơn 8000 nông dân! Mở rộng việc khảo sát ra vài tỉnh khác tôi cũng thấy tình trạng tương tự. Tỉnh Hưng Yên có 53.000 ha đất nông nghiệp. So với năm 2003, giảm khoảng 5.000 ha. Đất nông nghiệp giảm mạnh là do bị thu hồi để làm các KCN, đường giao thông, nhưng nông dân bị thu hồi đất không được đền bù thỏa đáng dẫn đến khiếu kiện vượt cấp triền miên... Thanh Hóa, dù quá trình đô thị hóa công nghiệp hóa tại đây chưa thực sự mạnh mẽ, nhưng hiện tượng thu hồi đất nông nghiệp chuyển sang mục đích sử dụng khác là vấn đề rất đáng quan tâm. Ở các vùng ven đô TP Thanh Hóa, các thị xã như Bỉm Sơn, Sầm Sơn, có rất nhiều hộ dân bị thu hồi hết đất nông nghiệp. Ngay tại làng Tạnh, phường Đông Vệ, TP Thanh Hoá, Nhà nước cũng thu hồi mất 1/2 diện tích đất nông nghiệp. Khi thu hồi, Nhà nước và doanh nghiệp có hỗ trợ cho các hộ dân mấy chục triệu đồng/ sào Trung Bộ để tìm việc làm, nhưng gần như chẳng có ai tìm được việc làm bằng số tiền hỗ trợ đó. Cũng vì thế, các tệ nạn xã hội phát triển mạnh hơn, ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh trật tự địa phương. Đảng bộ và chính quyền tỉnh Thanh đã phê duyệt quy hoạch chi tiết 8 khu công nghiệp phục vụ chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa xứ Thanh bao gồm: Lễ Môn, Lam Sơn, Hà Trung, Bỉm Sơn, Vân Du- Thạch Thành, Như Thanh, Hậu Lộc và đặc biệt là khu kinh tế trọng điểm Nghi Sơn. Riêng khu công nghiệp hóa dầu Nghi Sơn đã chiếm hết 1,8 ngàn ha ruộng đất của 12 xã thuần nông, song khi tôi cộng tác với VTV làm phim tài liệu về dự án này chỉ thấy lãnh đạo tỉnh hồ hởi phát biểu về tầm quan trọng của dự án được đầu tư nhiều tỷ USD mà không thấy nói gì về an ninh lương thực và ổn định đời sống cho nông dân 12 xã này sau khi bị thu hồi hết đất nông nghiệp.

Khoảng 3-4 năm lại đây, trong việc thu hồi đất giao cho chủ đầu tư nước ngoài, đáng quan ngại nhất là nhiều vị lãnh đạo địa phương bị mê hoặc bởi mối lợi trước mắt đã dấy lên phong trào ký duyệt vô tội vạ dự án làm sân golf nằm gần thành phố, thị xã làm mất đi diện tích lớn trồng lúa nước tốt nhất. Ai cũng biết sân golf có đặc điểm chiếm đất nhiều, thu hút lao động rất ít và là lao động không có tay nghề. Đối tượng phục vụ của sân golf là những ông chủ nước ngoài đang sinh sống ở Việt Nam và những cư dân đô thị giàu có. Nhìn ra các nước ta thấy họ đầu tư sân golf ở những nơi đất trống đồi trọc, vừa để cải tạo môi trường, vừa thu lợi từ lớp người giàu. Còn ở ta, số ông chủ nước ngoài không nhiều, khách đến sân golf là lớp người mới giàu phất lên, học làm “dân quý tộc” nên mới chỉ tập chơi golf là nhiều. Họ muốn có chỗ chơi ở gần đô thị lớn nên chỉ một tỉnh Long An đã có đến 34 dự án sân golf, đa phần là ruộng tốt trồng lúa. Mới đây dư luận lại xôn xao phản ứng ông Phó chủ tịch Long An vừa ký thêm một dự án cho người Hàn Quốc xây dựng nghĩa trang sinh thái Vĩnh Hằng trên diện tích 25 ha đất trồng lúa cao sản nổi tiếng một thời.

Một hiện tượng mất ruộng canh tác tốt ở các tỉnh, huyện miền núi ít được các nhà quản lý quan tâm và dư luận báo chí đề cập, nhưng với cách nhìn của tôi cũng rất đáng lo ngại. Đó là tình trạng xây dựng các công trình thủy điện vừa và nhỏ tràn lan như hiện nay. Mỗi công trình hồ chứa thủy điện dù nhỏ cũng đều lấy đi hàng chục đến hàng trăm ha ruộng trồng lúa nước ở thung lũng giữa núi và trước núi. Ở các nơi đó, diện tích trồng lúa vốn đã rất khan hiếm, nếu mất đi ngần ấy diện tích là tỷ lệ không nhỏ, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh lương thực của đồng bào các dân tộc trong vùng. Mặt khác, nếu không có sự nghiên cứu, tính toán kỹ lưỡng thì việc có quá nhiều công trình thủy điện vừa và nhỏ sẽ tác động tiêu cực trở lại đối với động thái dòng chảy của các lưu vực sông lớn, đe dọa cả các hồ chứa nước ở các công trình thủy điện lớn quốc gia…

Tôi luôn cảm thấy ray rứt trước lời của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, khi còn sống có lần ông phải thốt lên: “Nông dân của ta đang bị gạt ra rìa khỏi sự phát triển đất nước!” Nói như vậy vẫn còn nhẹ bởi thực tế nhiều địa phương qua tham vọng phát triển công nghiệp và đô thị hóa đã vô tình đẩy nông dân vào chỗ bị bần cùng hóa. Thử hỏi nếu một địa phương chưa hội đủ các yếu tố về nhân lực, vật lực và các yếu tố cần thiết để có thể phát triển công nghiệp, chưa có bài toán cho lối ra của nông dân khi bị thu hồi đất thì liệu có phát triển công nghiệp được không? Và qui hoạch để xây dựng các khu công nghiệp làm gì khi mà vẫn chưa có thể giải quyết được hậu quả từ việc thu đất của nông dân? Với nông dân, có đất coi như là đã sống vì ít nhất họ cũng đủ cơm ăn từ những thửa ruộng của mình. Giờ đây, khi đất canh tác của nông dân bị qui hoạch để làm công nghiệp, trong khi chính quyền địa phương lúng túng và không có hướng đi rõ ràng nào cho người nông dân mất ruộng, những người này ngoài việc chỉ biết cày cấy ra không biết làm gì cả! Không nghề nghiệp, không trình độ! Trong một cuộc hội thảo gần đây ở Tp Hồ Chí Minh, GS Tương Lai dẫn kết quả điều tra vào năm 2006 cho biết, trong 8 xã được khảo sát ở đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và ĐBSCL thì lao động dưới 40 tuổi không còn, hầu hết lao động đều bỏ lên các đô thị để kiếm việc làm. Riêng tại Thái Bình, 45% lao động đã chuyển khỏi nông nghiệp, 200.000 người phải đi làm ăn xa. Lao động trẻ bỏ đi cầu thực nơi xa, chỉ có những người thất thế và phụ nữ phải ở lại. Đó là những lao động không còn cách nào khác nên phải bám lấy nông nghiệp... Nông dân phải rời xa nông nghiệp, nông thôn không chỉ vì nghèo đói mà còn do vấn nạn mất đất nông nghiệp. VN hiện có 4,1 triệu ha trồng lúa, trong đó có 3,4 triệu ha được đầu tư thủy lợi hoàn chỉnh, nhưng mỗi năm có hơn 70.000ha đất trồng lúa đã đầu tư thủy lợi bị mất đi với lý do chuyển mục đích sử dụng. Với việc chuyển đổi mục đích sử dụng này, chưa kể số tiền đã đầu tư thủy lợi bị mất xấp xỉ 7.000 tỉ đồng cho diện tích bị thu hồi đó, hàng loạt nông dân vốn sống nhờ vào nông nghiệp cũng bị mất việc làm. Chẳng hạn tại Bắc Ninh, sau khi ruộng đất bị thu hồi để làm khu công nghiệp, chỉ có 5-6% nông dân dôi dư tìm được việc làm, 94% còn lại chẳng biết xoay xở như thế nào. Trong một đợt kiểm tra mới đây ở Đồng Tháp, các cơ quan chức năng phát hiện có đến 70% sản lượng phân bón bán ra của các đại lý là phân bón giả, được sản xuất bằng cách lấy... đất sét rồi nhuộm màu. Thế nhưng, các địa chỉ bị phát hiện bán phân giả chỉ bị phạt 2 triệu đồng, vô cùng nhỏ so với thiệt hại của nông dân! Vấn đề cá ba sa, cá tra hiện nay như một điển hình về sự bất cập trong qui hoạch, làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp. Ngay cả những nông dân bậc trung hoặc giàu chỉ vì năng động, táo bạo trong sản xuất cũng phải gánh chịu nhiều rủi ro bởi khi được mùa, xuất khẩu thuận lợi thì họ bị các doanh nghiệp và tư thương làm cho rớt giá để tước đoạt lợi nhuận; còn khi mất mùa hoặc hợp đồng xuất khẩu gặp trục trặc thì họ bị người ta bội tín, bỏ rơi cho đến lúc phá sản, nhưng Nhà nước không hề có chế tài hay động thái gì bảo hộ cho nông dân. Thế nên mới xảy ra hiện tượng nông dân ở Ban Mê Thuật phá café trồng hồ tiêu rồi lại phá hồ tiêu trồng café, xoay như đèn cù mà dở khóc dở cười!…

Lại bàn tiếp về thực trạng xã hội nông thôn hiện nay.

Vấn nạn nhìn thấy rõ nhất là tình trạng thất học, cờ bạc, lô đề, nghiện hút đang phát triển tràn lan ở các làng quê từ miền xuôi lên cả miền ngược. Điều này xét cho cùng là hệ quả của nền giáo dục ở nông thôn đang bị xuống cấp nghiêm trọng. Những thành quả rực rỡ về giáo dục trước năm 1975 của đất nước đang bị xói mòn bởi cơ chế kinh tế thị trường và sai lầm trong cải cách giáo dục diễn ra ở thành thị tác hại 1 phần thì ở nông thôn nặng gấp10 lần.

Một vấn nạn thứ hai cũng khá nghiêm trọng và rõ nét là môi trường ở nông thôn đang bị ô nhiễm nặng nề. Tôi không thể hiểu được vì sao với các ông chủ đầu tư nước ngoài thì ta quá dễ dàng cho họ chuyển đổi mục đích sử dụng một diện tích lớn đất canh tác, nhưng với nông dân ở các làng xã ta lại quá chặt chẽ, hà khắc trong việc xét duyệt nới rộng diện tích thổ cư từ đất thổ canh theo từng chu kỳ thời gian hợp lý để giãn dân cho từng hộ có đủ quỹ đất thực hiện mô hình VAC truyền thống. Hơn 30 năm sau chiến tranh, mỗi hộ gia đình cũ nay đã sinh thêm ít nhất 2 thế hệ, có nhu cầu tách hộ, nhưng qũy đất có hạn nên sân, vườn bị thu hẹp, thậm chí mất hẳn, phá vỡ cân bằng sinh thái. Tôi có dịp về làm phim tài liệu ở làng Thổ Hà- Bắc Ninh cảm thấy sững sờ vì nông dân ở đây sống chen chúc đến nghẹt thở trong không gian tù túng, chật hẹp không khác gì phố cổ giữa lòng Hà Nội. Đi khắp các làng quê đồng bằng Bắc Bộ giờ đây tôi khó tìm thấy nhà có sân rộng, vườn cây đủ lớn, ao hồ bị san lấp gần hết và đặc biệt là hình ảnh lũy tre Việt Nam cứ thưa vắng dần. Rác thải và nước thải sinh hoạt không có chỗ tiêu thoát. Ở các làng nghề còn thêm nguy cơ ô nhiễm nguồn nước sạch và khói bụi thải ra từ các lò than…

Vấn nạn thứ ba, chưa bao giờ trong lịch sử nước ta kể từ Cách mạng mùa thu năm Ất Dậu các tệ nạn mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh, lừa bịp tâm linh và các sinh hoạt phản văn hóa khác lại lan tràn phổ biến, hoạt động công khai ở nông thôn như hiện nay. Đi viết bài hoặc làm phim tài liệu ở nhiều nơi, tôi đã tận mắt chứng kiến vài hiện tượng mất dân chủ trong bầu cử HĐND xã, bầu các chức vụ lãnh đạo cấp thôn, cấp xã diễn ra trắng trợn bằng gian lận phiếu, thủ đoạn đe dọa hoặc mua chuộc cả bằng tiền làm nhức nhối tâm thế cộng đồng làng xã…

Vũ Ngọc Tiến
http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Hanh-Dong/Gop_doi_loi_ban_ve_tam_nong/

Mấu chốt “tam nông”

,

Mưu sinh là chuyện của muôn đời. Chính quyền muốn bền vững thì phải an dân, tạo điều kiện cho họ làm ăn sinh sống. Mọi sự chuyển hóa, đổi thay không thể “dục tốc bất đạt”, mà luôn phải lấy người dân làm gốc, suy ngẫm kỹ càng xem ai được ai mất nhiều hơn trong những cuộc “con tạo xoay vần”, rồi từ đó mà định hướng chủ trương, chính sách cho thấu đáo.



Xem thế thì câu chuyện “tam nông” đang được bàn thảo đúng là việc nóng bỏng, có tính chiến lược bây giờ. Đất nước hơn 80% là nông dân, phần lớn người thành phố cũng từ nông thôn, nông dân mà ra. Nếu đời sống của hơn 80% dân số không được cải thiện, công cuộc mưu sinh còn trắc trở thì đất nước chưa thể nào “cất cánh“.

Tại sao chính quyền thu đất của dân để làm khu công nghiệp, xây sân golf nhằm tăng nguồn thu, tăng hiệu năng sử dụng đất đai mà nhiều nơi người dân lại bất bình? Tại sao ngày càng nhiều người dân vẫn phải đổ ra thành phố kiếm việc làm, lang thang với hai bàn tay trắng, không nghề cho những công việc không cố định, trong khi chính mảnh đất quê hương họ đang diễn ra những cuộc đổi thay: công nghiệp hóa, khu công nghiệp, nhà máy mới mọc lên? Suy cho cùng nông dân đang đứng ở đâu trong công cuộc “phố hóa” xóm làng?

Chầm chậm nhìn kỹ vào đời sống người nông dân thời hiện đại mới thấu hiểu và cảm thông với bao nỗi lo toan đau đáu. Giá cả tăng, dịch bệnh, thiên tai, người nông dân phải “chịu trận” đầu tiên. Gia sản phơi ra giữa đồng trắng mênh mông, cây lúa, củ khoai bén rễ xuống đất cũng gian nan. Con cái học hành, lo đến tương lai, chi phí lắm khi vượt qua tầm tay. Thế nhưng, có thửa ruộng trong tay, cũng còn cái mà bấu víu. Nay đất lấy làm khu công nghiệp, ôm vài chục triệu đền bù để bó mình vào ở những gian nhà bốn phía bê tông, không vườn, không ruộng, không nghề nghiệp, nỗi lo đắng lòng: làm gì để sống? Có ít tiền đền bù cả đời mơ không thấy, nhưng tiền vào nhà khó, không mở mang cơ nghiệp dài lâu thì họa hay là phúc? Doanh nghiệp đầu tư chỉ nhăm nhăm nhìn vào mảnh đất sinh lời mà không quan tâm đến đời sống người chủ đất. Chính quyền địa phương nhiều khi chỉ say sưa với con số tăng trưởng GDP và nguồn thu ngân sách mà chưa “với” tới chuyện mưu sinh của những nông dân thuần chất giờ không ruộng. Nghịch lý là khu công nghiệp mở ra sáng láng, doanh nghiệp rộn rã mà nông dân lại khốn khó, bị đẩy ra bên lề cuộc canh tân. Không hiếm nơi, nông dân di rời để làm nhà máy điện, nhà máy đã vận hành, điện lên lưới mà những “chủ nhân ông” vẫn phải chịu cảnh đèn dầu, đơn giản vì ngành điện tính thiệt hơn đầu tư đường dây cho những khách hàng ít dùng thì không có lãi.

Con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của mọi sự phát triển, người nông dân phải là trung tâm của chính sách “tam nông”. Nông nghiệp hiện đại, nông thôn khởi sắc mà nông dân lại khốn khó thì sự phát triển chỉ là bề nổi. Chỉ riêng việc thủ đô phải vất vả như thế nào trong việc giải quyết lao động nhập cư, người làm thuê, bán hàng rong tràn ra hè phố, đủ thấy vấn đề mang tầm quốc gia chứ không chỉ “gói” lại là chuyện của “nông nghiệp, nông thôn”…
Đặt vấn đề “tam nông” lên bàn nghị sự là quyết tâm khai phá nguồn lực tiềm tàng của dân tộc để đi lên hiện đại. “Dĩ dân vi bản”, nông dân là mấu chốt, là trọng tâm của “tam nông”. Mọi chính sách phải hướng đến cuộc sống nông dân khấm khá, để người nông dân phát huy được trí lực của mình, không tụt hậu trong dòng chảy vận hành đi lên của cuộc sống thời hội nhập.

Đỗ Chí Nghĩa
http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Hanh-Dong/Mau_chot_tam_nong/

Nông thôn, nông dân từ góc nhìn sở hữu

,

Dù nhìn gần hay xa, bao giờ nông thôn cũng là tương lai của một xứ nông nghiệp. Ai giữ được nông dân, người ấy thường kiểm soát được nhiệt độ của chảo lửa chính trị quốc gia. Sự ổn định của nước ta phụ thuộc vào cách mà các nhà chính trị đối xử với nông dân. Hiện nay có ba nguy cơ rất rõ ràng đối mặt với những người dân quê, đó là: (i) nông dân mất ruộng, (ii) nông dân chán ruộng, (iii) nông dân chán chốn thôn quê. Ly nông, ly hương, ly tán bất đắc dĩ, những vấn đề xã hội của nông dân có thể trở thành những quả bom nổ chậm. Bài viết dưới đây góp vài thiển ý nhằm giúp nông dân có thêm tiếng nói trong các chính sách công.



Muốn dân không mất ruộng, phải xem lại chế độ sở hữu áp dụng đối với ruộng đất của nông dân. Muốn dân không chán ruộng, phải xem lại các chính sách tác động tới nông sản nhằm giúp nông dân được lợi. Có vẻ như một hạt thóc mang lại nhiều lời hơn cho người giữ độc quyền buôn bán giống, phân bón hay kênh xuất nhập khẩu gạo hơn là chút lợi rơi sót lại cho người nông dân. Muốn dân không chán quê, phải xem lại ai được lợi từ chi dùng tài chính công. Một khi điện, đường, trường, trạm, y tế, cây xanh, điện thoại cho tới truyền hình cáp ở đô thị đều sẵn, tốt và rẻ hơn ở nông thôn, thật chẳng ngạc nhiên khi phố chật chội với lao động nhập cư, trong khi thôn quê dần trở nên heo hút với người già và con trẻ.

Nông dân mất ruộng

Tại sao việc giao đất cho các ông chủ tư bản (trong và nước ngoài) đều có thể dài tới 50 năm, trong khi đó ruộng đất giao cho nông dân canh tác bị giới hạn 20 năm.



Có vẻ như khẩu hiệu “dân cày có ruộng” nhiều thời đã lôi cuốn được nông dân đi theo vô số cuộc cách mạng. Thì vẫn thế, quyền tài sản tư nhân của nông dân vẫn bỏng giãy thời nay. Chỉ có điều trước những ánh mắt thèm khát tài nguyên của các ông chủ tư bản và sự im lặng của người có quyền, đôi khi người ta lảng tránh bàn về đề tài này. Song càng lảng tránh, đơn thư khiếu nại nhà đất càng chồng chất. Hơn 80% trong số gần 2 vạn đơn thư khiếu nại của cử tri gửi tới các cơ quan và đại biểu dân cử có nội dung liên quan đến quyền tài sản nhà đất của người dân. Tranh kiện liên quan đến nhà đất, đền bù, giải tỏa khi chuyển đổi đất ruộng thành đất kinh doanh là mầm mống cho vô số vụ “khiếu kiện tập thể” lan dần từ thôn quê lên thành thị. Chẳng cần tốn kém điều tra, chỉ tắt máy điều hòa, mở cửa sổ và nhìn ra cái oi bức của xứ nhiệt đới, quan chức nước ta sẽ cảm nhận được cái nóng từ quyền sở hữu ruộng đất đôi khi áp sát cổng chính quyền.
Để diễn biến hòa bình thành một xứ công nghiệp vào năm 2020, không thể im lặng mãi trước vấn đề quyền tài sản của nông dân đối với ruộng đất. Ngược lại muốn bảo vệ nông dân, Nhà nước phải bảo vệ quyền tài sản tư của họ, giúp họ tự do hưởng dụng quyền ấy phù hợp với quy hoạch quốc gia và địa phương. Tại sao việc giao đất cho các ông chủ tư bản (trong và nước ngoài) đều có thể dài tới 50 năm, trong khi đó ruộng đất giao cho nông dân canh tác bị giới hạn 20 năm. Tại sao ông chủ tư nhân có hầu hết các quyền sở hữu trên đất đã được giao (tùy nghi khai thác, hưởng dụng, chuyển bán, thế chấp); trong khi nông dân chỉ có quyền trồng cấy và thu lượm hoa lợi, thậm chí bị hạn định rõ là cây trồng hằng năm hay lưu niên.

Muốn thành thực với nông dân không thể né tránh một cuộc cách tân đến tận gốc rễ, đó là minh định quyền tài sản của người nông dân Việt Nam đối với ruộng đất.



Đất trở thành vàng, khi ruộng muống biến thành đất ở, đất kinh doanh. Chỉ tiếc rằng, khi ấy ruộng đất bị “thu hồi”, người nông dân canh tác bị “giải tỏa” và được đền bù “theo quy định của pháp luật”. Chỉ riêng cách dùng từ ngữ và thái độ của người làm luật đã cho thấy nông dân không được xem là ông chủ số tài sản có được từ nhiều đời cha ông của họ; ruộng đất của họ có thể bị dễ dàng tước đi vì các dự án sân golf, khu công nghiệp. Các ông chủ đích thực chính là những người có quyền lực lập dự án và hô biến ruộng lúa thành sân golf.
Vì lẽ ấy, muốn thành thực với nông dân không thể né tránh một cuộc cách tân đến tận gốc rễ, đó là minh định quyền tài sản của người nông dân Việt Nam đối với ruộng đất. Đối với đất canh tác đã được chia, được giao, được người dân tự khẩn hoang, Nhà nước phải cho một thời hạn để họ tự đăng ký và long trọng tuyên bố quyền sở hữu bất khả xâm phạm của họ. Quyền tài sản ấy không bị giới hạn về thời gian, người dân tùy nghi canh tác, nhượng đổi phù hợp với quy hoạch của chính quyền, tùy nghi bán lại cho các ông chủ tư bản theo giá thỏa thuận hoặc góp vốn kinh doanh như cổ phần trong các công ty. Các ông chủ tịch tỉnh chỉ có quyền xây dựng quy hoạch, không thể có quyền thu hồi đất của nông dân giao cho các dự án, trừ khi Nhà nước bỏ tiền mua lại đất của nông dân vì các mục đích công cộng theo nguyên tắc thỏa thuận dựa trên giá đất của thị trường. Đất đai của toàn dân thì Nhà nước trả lại cho người dân cũng là một lẽ đương nhiên. Nói cách khác, phải thay đổi cách nhìn về sở hữu toàn dân, tăng quyền tài sản tư đối với ruộng đất cho các gia đình nông dân, tôn trọng và nêu rõ thái độ của Nhà nước sẽ bảo vệ sở hữu của họ khi cần thiết. Hiến pháp 1992 và Luật Đất đai 2003 cần được viết lại vì quyền lợi của nông dân.


Khác với động sản, đất không thể di dời, ngày càng có giá nếu được đầu tư cơ sở hạ tầng tiện cho dân sinh, ngày càng mất giá nếu môi trường sống suy thoái. Bởi lẽ đó, kể cả khi ruộng đất đã là của tư, bằng chính sách quy hoạch và đầu tư công, chính quyền dư sức làm tăng hay giảm một cách đáng kể giá trị của đất. Không chỉ đòi quyền tài sản, muốn bảo vệ sản hữu của mình, nông dân phải được tổ chức để can dự vào các chính sách công, ví dụ như tham gia vào quá trình quy hoạch địa phương, quy hoạch vùng và các dự án hạ tầng. Công khai quy hoạch, tạo cơ hội cho các nhóm lợi ích phản biện chính sách, tạo cơ hội cho cơ quan dân cử đại diện khách quan cho lợi ích các nhóm cử tri, xây dựng các thiết chế giải quyết bất đồng về lợi ích, có lẽ với nhiều cách ấy hy vọng sự tham gia của nông dân trong quy hoạch địa phương mới có thể xuất hiện.

Nông dân chán ruộng

Nông dân chỉ bám ruộng khi nông sản được giá, nông sản chỉ có giá khi được người mua tin dùng, cái vốn xã hội lớn lao dành cho nông sản Việt Nam chỉ có thể tạo ra với một thái độ rõ rệt của Nhà nước.



Vừa mất ruộng, vừa chán ruộng có thể sẽ là một xu thế khó tránh khỏi mà người nông dân nước ta chắc chắn còn phải trải nghiệm ít nhất trong vài thập kỷ nữa. Làm ruộng thời thị trường cũng tựa kinh doanh, khôn sống mống chết, cuộc ganh đua tự nhiên sẽ dồn đẩy người nông dân theo nhiều thái cực, trong đó chắc sẽ có những người có năng lực quy tụ tài nguyên đất đai và nguồn lực con người, tổ chức kinh doanh nông nghiệp một cách hiệu quả trên quy mô rộng hơn. Những người còn lại có thể bị bần cùng hóa, trở thành vô sản, tìm kiếm cơ hội bằng cách bán sức lao động của mình. Tôi e rằng Nhà nước khó có thể làm thay hay ngăn cản thị trường; chính sách hạn điền chỉ có thể làm chậm lại hoặc biến dạng sự xuất hiện của các địa chủ mới.
Theo một tư duy thị trường, người có năng lực phải được ban thưởng cho những nỗ lực của mình, tích tụ ruộng đất chắc phải là một nền tảng cho một nền nông nghiệp mang tính cạnh tranh. Khuyến khích và bảo hộ những sự tích lũy tự nhiên đó, đồng thời với những chính sách khuyến khích doanh nghiệp kinh doanh chế biến nông sản, liên kết chuyển giao công nghệ cho nhà nông, hạn chế độc quyền cung cấp nguyên liệu cho nông nghiệp và tiêu thụ sản phẩm, nhà nước cần có một thái độ rõ rệt trong khuyến khích cạnh tranh. Có vẻ như việc tổ chức thu mua, xuất khẩu gạo còn hàm chứa vô số độc quyền; những độc quyền ấy thường ít mang lại lợi ích cho nông dân.
Đã chấp nhận gia nhập WTO với những cam kết không bảo hộ đáng kể gì cho nông sản Việt Nam, điều còn lại mà Nhà nước phải làm là vận dụng được tất cả những cơ hội mà luật lệ khắt khe của WTO cho phép để hỗ trợ cho người sản xuất nông nghiệp. Phần từ hạt gạo xuất khẩu dành cho nông dân có đủ lớn mới giữ được họ ở lại với ruộng đồng. Phần ấy có từ việc hạn chế độc quyền xuất nhập khẩu, hạn chế trung gian, song phần ấy cũng có thể khéo léo được tạo ra dưới đủ loại hình thức hỗ trợ mà quốc gia nào cũng hỗ trợ cho nông dân của mình, ví dụ dưới dạng các tài trợ hợp pháp cho thủy lợi, giống, phòng trừ sâu bệnh, hỗ trợ kỹ thuật.

Thêm một điều mà nhà nước đáng ra phải làm đó là khéo léo nâng cao thái độ trân trọng nông sản Việt Nam trong nhận thức và thói quen của dân chúng. Gọi là khéo léo bởi dưới ánh mắt soi mói của các nhà tư bản nước ngoài bất kỳ hành vi phân biệt đối xử nào cũng có thể dẫn đến nhiều hệ lụy. Nhìn người Hàn rầm rộ biểu tình chống thịt bò Mỹ chợt thấy lo khi dân tộc không biết cách phản ứng trước gạo mốc hay nội tạng bảo quản bằng chất hại người được luồn về từ Phương Bắc. Nông dân chỉ bám ruộng khi nông sản được giá, nông sản chỉ có giá khi được người mua tin dùng, cái vốn xã hội lớn lao dành cho nông sản Việt Nam chỉ có thể tạo ra với một thái độ rõ rệt của Nhà nước.

Nông dân chán chốn thôn quê

Không ai muốn và có lẽ cũng chẳng ai có thể chối bỏ quê hương, song nếu mức sống đô thị và nông thôn quá xa khác thì nước ta còn chứng kiến những cuộc di dân to lớn hơn nữa hướng ra phố. Điều này phá nát đô thị và cũng xô đổ văn hóa nông thôn. Việc điều tiết lớn lao này không thể do thị trường, đó phải là trách nhiệm của Nhà nước, càng bắt đầu muộn càng thêm tốn kém và bất lực.

Muốn làm cho cuộc sống nơi thôn quê tiện ích chẳng kém nơi đô thị, cần có một cuộc kiểm định lại tác động của chi dùng tài chính công đối với khu vực nông thôn và xây dựng các chính sách điều tiết phù hợp.



Chính sách công có một tác động rất lớn có thể lèo lái tâm lý dân chúng, giúp họ vì những lợi ích cá nhân mà ở lại với nông thôn. Có người ta bảo nếu Nhà nước chi 10 đồng cho y tế, thì đến 8 đồng chỉ có lợi cho khu vực đô thị, chỉ còn hai đồng rơi xuống y tế xã, y tế cộng đồng, các trung tâm cấp huyện và địa phương. Thì cũng thế đối với chi tiêu giao thông công cộng, giáo dục, điện nước và các hạng mục ngân sách khác, có vẻ như Nhà nước càng tăng chi thì đôi khi người ở phố và người giàu càng được lợi.
Vì lẽ ấy, muốn làm cho cuộc sống nơi thôn quê tiện ích chẳng kém nơi đô thị, cần có một cuộc kiểm định lại tác động của chi dùng tài chính công đối với khu vực nông thôn và xây dựng các chính sách điều tiết phù hợp. Chẳng hạn, nếu thu nhập cho công chức, viên chức nhận nhiệm sở ở đô thị hay thôn quê, ở trung ương hay địa phương cùng một ngạch là cùng một chế độ thù lao thì các địa phương cũng đỡ than phiền về nguồn nhân lực. Tương tự như vậy, nếu khuyến khích trúng và thỏa đáng, các nhà kinh doanh hạ tầng (như điện, nước, truyền thông) mới có động lực để vươn tới nông thôn. Nếu mở rộng tranh luận, người dân sẽ có đủ muôn ngàn kế giúp phát triển nông thôn. Chỉ riêng chi tiêu ngân sách cho các bộ ngành, chẳng hạn nếu Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn được đặt tại vựa lúa Cửu Long, Tổng cục du lịch điều hành toàn ngành từ Quảng Ninh hay Bộ LĐ-TB-XH được đặt tại những miền quê Nam Định dư thừa lao động, tôi tin rằng nguồn kinh phí quốc gia sẽ không quá dồn vào những đô thị trọng tâm mà lan tỏa ra rất nhiều vùng. Điều quan trọng đối với chính quyền, vì lẽ ấy, là năng lực lắng nghe và lựa chọn các giải pháp để từng đồng thuế của dân được phân bổ hợp lý nhất, cho hôm nay và cho những ngày sau./.

Phạm Duy Nghĩa
Nguon: http://www.tiasang.com.vn/news?id=2848
January 2010
M T W T F S S
December 2009February 2010
1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30 31