Skip navigation

Lost password? | Help

Nghĩa Lâm

Đôi lúc, cái mà nguời ta có được từ công việc của mình không phải là tiền bạc mà là những bài học quý báu - C. Black

August 2008

( Monthly archive )

Kỳ 3: Ba tiền đề, hai nội dung để VN cất cánh

,

Nhiều trí thức Việt Nam sang thăm Nhật Bản, Hàn Quốc…về nước thường bức xúc đặt câu hỏi: Tại sao họ phát triển như vậy, họ hơn ta những gì? Có thể trả lời như sau: Vì họ đã xây dựng được cơ chế chất lượng cao bảo đảm cho các nguồn lực tích cực tham gia vào quá trình phát triển.


Cải cách tiệm tiến ở Việt Nam quá chậm chạp và thận trọng

Đối với Việt Nam trước đổi mới là thời kỳ kinh tế chủ yếu là nông nghiệp (chiếm hơn 70% lao động) nhưng năng suất rất thấp, lương thực sản xuất không đủ ăn, phải nhập khẩu. Tỉ lệ tiết kiệm (trong GDP) hầu như bằng không và tỉ lệ đầu tư rất thấp, vốn đầu tư chủ yếu nhờ viện trợ của Liên Xô cũ và các nước Đông Âu. Hơn nữa, ít nhất 60% dân số sống dưới tuyến nghèo (poverty line).

Do đó, vào cuối thập niên 80, Việt Nam vừa là nước kém phát triển, đứng trước nguy cơ của cái bẫy nghèo, vừa là nước có nền kinh tế theo thể chế xã hội chủ nghĩa. Nhìn một cách khát quát, giai đoạn từ cuối thập niên 80 đến nay là giai đoạn vừa phải giải quyết các vấn đề phát triển vừa nỗ lực chuyển đổi sang kinh tế thị truờng.

Hơn 20 năm đổi mới, trên cơ bản Việt Nam đã vượt khỏi cái bẫy nghèo và quá trình cải cách chuyển sang kinh tế thị truờng đã đạt được một số thành quả. Từ thuật ngữ đã được đề cập ở Kỳ 1, có thể nói, Việt Nam sắp kết thúc giai đoạn tăng trưởng ban đầu (đường ở gần điểm C trong Hình 1 trong Kỳ 1, được vẽ lại dưới đây).


Hình 1: Các giai đoạn phát triển của một nền kinh tế.
AB: Xã hội truyền thống, đối diện cái bẫy nghèo, vòng luẩn quẩn nghèo khó;
BC: Giai đoạn phát triển ban đầu, kinh tế thị trường sơ khai, cơ bản thoát nghèo;
CD: Giai đoạn cất cánh và phát triển bền vững;
CE: Trường hợp thất bại, không cất cánh để phát triển bền vững.


Trong giai đoạn qua, cơ chế, chính sách của Việt Nam có những đặc tính gì? Như đã nói ở Kỳ I và Kỳ II, Việt Nam và Trung Quốc theo chiến lược cải cách tiệm tiến.

Tuy nhiên, trong khi Trung Quốc thực hiện chiến lược này một cách tích cực và do đó có hiệu quả hơn, Việt Nam đã quá chậm chạp và thận trọng. Trung Quốc đến năm 1993 mới thực sự cải cách doanh nghiệp quốc doanh (SOEs) nhưng doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư ở nước ngoài (FDI) được đẩy mạnh, ngày càng chiếm ưu thế trong sản xuất và xuất khẩu.

Việt Nam thì vừa bảo hộ SOEs nhưng đồng thời, ít nhất cho đến khoảng năm 2000, cũng cảnh giác doanh nghiệp tư nhân và FDI. Do đó, kinh tế Việt Nam không phát triển mạnh mẽ bằng Trung Quốc (Hình 2a trong Kỳ II). Dù vậy, thành quả 20 năm đổi mới của Việt Nam cũng nên được ghi nhận. Nông nghiệp phát triển một bước, xuất khẩu nông thủy sản và hàng công nghiệp nhẹ tăng mạnh, tỉ lệ hộ nghèo giảm liên tục.

Về mặt cơ chế, chính sách, giai đoạn vừa qua có tính chất là cởi trói những ràng buộc để các tác nhân, các chủ thể kinh tế có điều kiện phát huy năng lực sản xuất. Khoán 10 trong nông nghiệp, Luật Đầu tư Nước ngoài (sửa đổi nhiều lần) và Luật Doanh nghiệp (sửa đổi nhiều lần) đều nhằm cởi trói dần các ràng buộc đối với hoạt động của doanh nghiệp.

Do đó, các cơ chế được xây dựng không khó khăn, phần lớn chỉ là quyết tâm chính trị của lãnh đạo. Nhưng nếu các chính sách, cơ chế này được xây dựng và thực thi nhanh hơn, dứt khoát hơn thì tốc độ tăng trưởng cao hơn nhiều.

Mặt khác, nếu chiến lược cải cách tiệm tiến được thực hiện trong thời gian ngắn hơn và chuẩn bị một cơ chế chất lượng cao hơn thì có lẽ kinh tế Việt Nam đã tránh được các khó khăn như hiện nay và đã bắt đầu chuyển sang giai đoạn phát triển bền vững.

Tổng hợp những điểm về lý luận ở Kỳ I, về kinh nghiệm các nước ở Kỳ II và xét đến giai đoạn phát triển của Việt Nam hiện nay, chúng ta thấy cần phải xây dựng ngay một hệ thống cơ chế chất lượng cao mới phát triển bền vững trong giai đoạn tới.

Trước hết phải hiểu và thực hiện cho được những tiền đề của cơ chế chất lượng cao, sau đó tùy theo nhu cầu phát triển của từng giai đoạn mà có những cơ chế cụ thể, những chính sách, chiến lược cần thiết.

Ba tiền đề để xây dựng hệ thống cơ chế chất lượng cao

Một là, bảo đảm tính dân chủ trong việc hoạch định các chiến lược, chính sách. Lãnh đạo chính trị quyết định cuối cùng và chịu trách nhiệm về quyết định nhưng phải trên cơ sở bàn bạc rộng rãi giữa các chuyên gia, giới ngôn luận và các thành phần khác của xã hội.

"Tham gia" là một thuật ngữ được các nghiên cứu về cơ chế nhấn mạnh và nghiên cứu thực chứng cho thấy chiến lược, chính sách về các vấn đề phát triển nếu có sự tham gia của các thành phần xã hội liên hệ đều mang lại hiệu quả cao.

Ngay cả những dự án nhỏ trong viện trợ (như xây đường, xây cầu), hiệu quả và tính bền vững cũng được bảo đảm nếu có sự tham gia của cư dân liên hệ trong quá trình thiết kế, thực thi dự án. Cơ chế bảo đảm tham gia (participatory institutions) có chức năng ngăn ngừa những quyết định, những chính sách phục vụ các nhóm lợi ích, đi ngược lại lợi ích chung của đất nước, của đông đảo dân chúng.

Hai là, ý kiến của chuyên gia, giới kỹ trị không bị chính trị chi phối. Chính trị gia không đưa ra kết luận trước để giới chuyên gia phải tìm cách chứng minh kết luận đó mà quy trình phải ngược lại, chuyên gia, giới kỹ trị phải được tự do nghiên cứu, phân tích và đề xuất chính sách, chiến lược; lãnh đạo chính trị sẽ cân nhắc, chọn lựa chính sách, chiến lược và chịu trách nhiệm về sự chọn lựa đó.

Thứ ba, phải có đội ngũ quan chức giỏi thật sự để quá trình đặt ra các chính sách và thực hiện chính sách có hiệu quả. Chế độ thi tuyển công khai, nghiêm minh và chế độ đãi ngộ thỏa đáng là điều kiện để có đội ngũ quan chức vừa có năng lực vừa cảm nhận được sứ mạng cao cả của mình và tránh được tệ nạn tham nhũng.

Gần 15 năm trước đây, tôi đã đưa kiến nghị là nhà nước nên chọn một ngày trong năm làm ngày thi tuyển nhân tài ra làm việc nước. Những môn thi cơ bản liên quan đến văn hóa, triết học, lịch sử, luật pháp và hành chánh vì những quan chức sẽ giữ vai trò lãnh đạo trong tương lai phải am hiểu về các lãnh vực đó. Một khi đã có một trình độ nhất định về các mặt cơ bản đó, họ có thể học thêm về các chuyên ngành cần thiết khi được phân bổ vào công việc cụ thể.

Ở những nước như Nhật và Hàn Quốc, những người tốt nghiệp loại xuất sắc tại các đại học danh tiếng, phải học thêm về các môn nói trên, mới có thể thi đỗ được vào các kỳ thi tuyển quan chức nhà nước.

Hai nội dung cần được quan tâm cải cách và xây dựng chiến lược

Về cơ chế, chính sách cụ thể trước mắt có lẽ hai vấn đề sau đây cần được quan tâm cải cách và xây dựng chiến lược:

Thứ nhất, cần sớm chấm dứt tàn dư của chiến lược cải cách tiệm tiến, cụ thể là phải triệt để cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước. Như mọi người đã thấy khu vực này ngày càng phình ra, đầu tư lung tung vào mọi ngành, nhất là trong đó không ít những dự án có tính cách đầu cơ. Hành động của khu vực này trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến lạm phát và bất ổn vĩ mô như hiện nay.

Cần minh bạch hóa tài chính, có cơ chế kiểm soát tài chính, thẩm tra các dự án đầu tư của khu vực này. Thiết lập cơ chế thống quản doanh nghiệp (corporate governance) trong đó xác lập mục tiêu hoạt động của công ty, có cơ chế kiểm soát, đánh giá thành quả của công ty và ban giám đốc phải chịu sự thưởng phạt (kể cả bị cách chức) về thành quả này.

Ngoài ra, trừ những ngành cung cấp dịch vụ công cộng, doanh nghiệp nhà nước phải từng bước tư nhân hóa, cổ phần hóa; trong lúc chưa cổ phần hóa cũng phải hoạt động theo cơ chế thị trường, chịu sự hạn chế khắt khe của ngân sách (hard budget constraint), nghĩa là không được ưu đãi đặc biệt về đất đai và vốn, và không được bù lỗ khi làm ăn thua lỗ.

Thứ hai, như trên đã nói, cơ chế trong giai đoạn tăng trưởng ban đầu, giai đoạn cải cách tiệm tiến rất đơn giản vì chủ yếu chỉ cởi trói các ràng buộc, hành lang pháp lý cũng không phức tạp, nhưng để phát triển bền vững trong giai đoạn tới, nhất là thời kỳ cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, phải có cơ chế xây dựng, nuôi dưỡng các ngành có lợi thế so sánh động (như đã đề cập ở Kỳ I) để ngày càng chuyển dịch cơ cấu lên cao hơn.

Ở đây, chính sách công nghiệp phải được chú trọng và nghệ thuật tạo một quan hệ hiệu quả giữa nhà nước và doanh nghiệp là tiền đề của sự thành công. Kinh nghiệm của Hàn Quốc (nói ở Kỳ II) về điểm này rất đáng tham khảo.

Ba tiền đề và hai chính sách cụ thể trên đây là nội dung của cơ chế chất lượng cao cần thiết để VN bước vào giai đoạn phát triển ổn định, bền vững, đưa kinh tế cất cánh vào quỹ đạo phát triển nhanh.

Kết luận

Trên thế giới hiện nay có 50 nước có dân số trên 20 triệu. Trong đó, có 11 nước thuộc nhóm các nước có thu nhập cao (thu nhập đầu người trên 10.000 USD), 13 nước còn ở trong vòng luẩn quẩn nghèo khó, chưa thoát ra được cái bẫy nghèo (vẫn còn ở gần điểm B trong Hình 1), và 26 nước trên cơ bản đã thoát nghèo nhưng chưa thực sự cất cánh (có nước ở chung quanh điểm C, có nước vươn cao hơn điểm C nhưng không ổn định nên có thể bị yếu tố cơ chế kéo trở lại điểm C, có nước trì trệ và tiến về điểm E trong Hình 1).

Việt Nam trên cơ bản đã thoát ra khỏi cái bẫy nghèo, thoát khỏi vị trí của nhóm thứ hai và chen vào nhóm thứ ba (tiến gần đến điểm C trong Hình 1). Trên ý nghĩa đó, thành quả đổi mới trong 20 năm qua là đáng ghi nhận.

Nhưng nhìn chung, ta chỉ mới kết thúc hoặc sắp kết thúc giai đoạn phát triển ban đầu, còn ở vị trí gần áp chót trong nhóm 26 nước kể trên. Hơn nữa, chất lượng phát triển của ta chưa tốt. Môi trường bị ô nhiễm, chất lượng cuộc sống ở các thành phố lớn bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn, bụi và bất an về tai nạn giao thông, chênh lệch ngày càng tăng trong phân phối thu nhập và tài sản, v.v...

Như vậy Việt Nam hiện nay vừa phải cải thiện chất lượng tăng trưởng vừa phải nỗ lực đưa kinh tế cất cánh vào quỹ đạo phát triển bền vững. Nhưng Việt Nam có tiềm năng (quy mô và cơ cấu dân số, vị trí địa lý, sự thống nhất về văn hóa, ngôn ngữ, v.v..) nên nếu có cơ chế chất lượng cao các nguồn lực sẽ được động viên và phát huy có hiệu quả. (Khuôn khổ của bài viết không cho phép đi xa hơn nhưng nói đến tiềm năng phải nhấn mạnh một điểm là việc chấn hưng giáo dục và nghiên cứu khoa học, công nghệ là tiền đề để phát triển tiềm năng).

Từ đầu thập niên 90, Việt Nam hay nhắc đến cụm từ “đi tắt đón đầu” trong văn cảnh phải nỗ lực để thoát khỏi nguy cơ tụt hậu. Nhưng các nhà lãnh đạo, các quan chức thường xem việc phát triển những ngành mũi nhọn, tiên tiến là con đường đi tắt đón đầu.

Suy nghĩ này không hẳn đúng vì khó thống nhất ý kiến về ngành mũi nhọn cụ thể, chưa nói đến chuyện yếu tố chính trị thường chi phối sự chọn lựa đó và việc thực thi cũng dễ rơi vào tình trạng kém hiệu suất.

Chí ít là phải có cơ chế chất lượng cao mới đưa ra được quyết định đúng đắn về ngành mũi nhọn, về việc thực thi chiến lược phát triển các ngành đó. Rốt cuộc theo tôi, cải cách cơ chế là bí quyết đi tắt đón đầu hiệu quả nhất. Trở lại kinh nghiệm Hàn Quốc ta thấy rất rõ điều này.

Nhiều trí thức Việt Nam sang thăm Nhật Bản, Hàn Quốc,…về nước thường bức xúc đặt câu hỏi: Tại sao họ phát triển như vậy, họ hơn ta những gì? Có thể trả lời như sau: Tại vì họ đã xây dựng được cơ chế chất lượng cao bảo đảm cho các nguồn lực tích cực tham gia vào quá trình phát triển.

Như đã nói ở Kỳ II, hiện nay Trung Quốc đang vượt khá xa Việt Nam về tốc độ và trình độ phát triển (Hình 2a), nhưng Trung Quốc cũng chưa xây dựng được một hệ thống cơ chế chất lượng cao. Đây là thời cơ để Việt Nam rút ngắn khoảng cách với Trung Quốc nếu có quyết tâm cải cách cơ chế theo 3 tiền đề và 2 nội dung nói ở trên.

* Trần Văn Thọ
(Giáo sư Đại học Waseda, Nhật Bản)
Nguồn: http://www.tuanvietnam.net//vn/tulieusuyngam/4566/index.aspx

Kỳ 2: Phát triển - Kinh nghiệm một số nước Á châu

,

Các cơ chế, chính sách ở các nước châu Á có quan hệ như thế nào đến thành quả và sự phát triển của mỗi nước? Từ góc độ chuyển dịch từ giai đoạn tăng trưởng ban đầu sang giai đoạn phát triển bền vững và các điều kiện để có chuyển dịch đó, kinh nghiệm các nước rất đáng cho Việt Nam tham khảo.


GDP đầu người tính theo giá cố định năm 2000 của 5 nước Á châu gần nửa thế kỷ qua được ghi lại trên Hình 2a.
Các con số của Hàn Quốc lớn hẳn, cách biệt với 5 năm nước kia nên vẽ thành biểu đồ riêng (Biểu đồ 2b) cho dễ nhìn.

Ta thấy gì từ các hình này? Nhìn kỹ ta thấy có nước đã qua giai đoạn tăng trưởng ban đầu nhưng không thể chuyển sang giai đoạn phát triển bền vững (như Philippines, Indonesia), có nước đã thành công về mặt đó (như Hàn Quốc), có nước đang đứng truớc khúc ngoặt giữa hai giai đoạn (như Việt Nam).

Các cơ chế, chính sách ở mỗi nước có quan hệ như thế nào đến thành quả và sự thay đổi trong thời gian dài này?

Từ góc độ chuyển dịch từ giai đoạn tăng trưởng ban đầu sang giai đoạn phát triển bền vững và các điều kiện để có chuyển dịch đó, kinh nghiệm các nước rất đáng cho Việt Nam tham khảo.

Trường hợp Philippines

Trong 5 nước này, vào thập niên 1950, Philippines là nước phát triển nhất, cao hơn cả Hàn Quốc. Trong giai đoạn 1960-84, Philippines là nước có mức sống cao hơn nhiều nước Á châu nhưng phát triển chậm.

Sang giai đoạn sau, mặc dù đất nước bước vào thể chế dân chủ, tốc độ phát triển càng kém hơn. Năm 1960, GDP đầu người của Philippines gấp đôi Thái Lan nhưng đến năm 1984 Thái Lan đã theo kịp Philippines và khoảng năm 2000 hai nước đảo ngược vị trí của năm 1960. Vào năm 1984, Philippines còn gấp năm lần Trung Quốc nhưng sau năm 2000, Trung Quốc đã vượt Philippines. Tại sao Philippines tụt hậu?

Nhiều nghiên cứu của chính các học giả Philippines đã đưa ra các nhận định sau: Các điều kiện về cơ chế của Philippines đã làm các doanh nghiệp không có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Không có môi trường, cơ chế tạo ra các khuyến khích cần thiết (incentives) để doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, cải thiện năng suất. Các nhà doanh nghiệp luôn than vãn về chi phí kinh doanh quá cao.

Tham nhũng hoành hành, lan rộng và thấm sâu trong xã hội, hoạt động kinh tế phụ thuộc nhiều vào sự bảo hộ chính trị (political patronage) của giai tầng thống trị. Các vấn đề phát triển của Philippines không thể giải quyết nếu không cải cách cơ chế nhất là các cơ chế đang bị chi phối bởi những người có đặc quyền đặc lợi.

Vấn đề tụt hậu của Philippines có lẽ còn nhiều nguyên nhân nữa. Nhưng như đã được đề cập, khuynh hướng nghiên cứu về kinh tế phát triển gần đây cho thấy yếu tố cơ chế đóng vai trò tối quan trọng tác động đến thành quả phát triển, ta có thể nói nhận định trên giải thích phần lớn các vấn đề của Philippines.

Tình hình có vẻ cũng không được cải thiện sau khi nước này chuyển sang thể chế dân chủ từ giữa thập niên 1980.

Ngược lại, như Hình 2a cho thấy, kinh tế Philippines càng trì trệ, tụt hậu hơn. Sau thời đại Marcos, Philippines dân chủ hơn, cơ hội bình đẳng hơn, nhưng ngược lại có sự bất ổn định về mặt cơ chế do chính sách hay thay đổi, việc thi hành luật lệ tùy tiện, không nhất quán.

Cũng vì lý do này, Phillippines đã không thể đón nhận cơ hội mới đến từ Nhật Bản khi đồng yen lên giá đột ngột (từ giữa thập niên 1980), các công ty Nhật di chuyển ồ ạt các nhà máy sản xuất sang ASEAN.

Dòng chảy FDI từ Nhật chủ yếu đến Thái Lan và Malaysia, nhưng không dừng lại ở Philippines. Kinh nghiệm nước này cho thấy sự kém phát triển và bất ổn định về cơ chế làm mất cơ hội tận dụng nguồn lực quốc tế, mất khả năng chuyển dịch cơ cấu lên cao hơn để tiến sang giai đoạn phát triển bền vững.

Trường hợp Indonesia

Indonesia từ giữa thập niên 1960 đến giữa năm 1997 phát triển khá mạnh mẽ, nhất là trong nửa sau của giai đoạn đó. Nhưng Indonesia lại là nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất trong cuộc khủng hoảng tài chánh châu Á bắt đầu vào cuối năm 1997. Nước này phải mất tới 8 năm mới hồi phục mức GDP đầu người của năm 1997 và sau đó cũng phát triển chậm (Hình 2a).

Các yếu tố đưa đến thành quả phát triển đáng ghi nhận trong giai đoạn trước 1997 là sự chuyển hướng chính sách, thay đổi cơ chế quản lý vi mô từ đầu thập niên 1980. Đó là bỏ sự can thiệp trực tiếp của nhà nước vào hoạt động của doanh nghiệp, tạo môi trường đầu tư thân thiện với thị trường, chuyển chính sách từ bảo hộ thị trường trong nước sang chính sách khuyến khích xuất khẩu.

Nhưng cuộc khủng hoảng tài chánh ở Á châu đã châm ngòi cho sự sụp đổ của kinh tế Indonesia làm không ít người ngạc nhiên. Tổng hợp các nghiên cứu về Indonesia, có thể nói trước 1997 nước này tăng trưởng nhanh nhưng đi liền với sự yếu kém về cơ chế. Cơ chế yếu chỗ nào?

Indonesia là điển hình cho trường hợp được gọi là chủ nghĩa tư bản gắn kết người thân trong giới quyền lực (crony capitalism). Nhằm củng cố độc quyền chính trị của Suharto và phe nhóm, các quyết sách lớn, các quy chế tạo ra đều nhằm tạo đặc quyền đặc lợi cho gia đình và phe nhóm của ông.

Do đó không có các cơ chế kiểm soátnhững quyết định, những chính sách không phù hợp với lợi ích chung. Từ thập niên 1980, nhà nước ít can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh tế nhưng nguợc lại các tổ hợp kinh tế tư nhân ra đời thường kết cấu với các chính trị gia thân Suharto. Do cơ chế này, Indonesia là một trong những nước có nạn tham nhũng trầm trọng nhất.

Quyền lực không có cơ chế kiểm soátcòn là nguyên nhân khủng hoảng trầm trọng trong khu vực tài chính. Indonesia không thiếu chuyên gia và không phải không có các quy chế dự phòng khủng hoảng nhưng giới kỹ trị không được đưa ra chính sách độc lập, các chính sách thường bị chính trị chi phối. Chẳng hạn, các doanh nghiệp có quan hệ với gia đình Suharto có thể dùng quan hệ đó làm thế chấp để vay vốn ngân hàng.

Cơ chế này không được sự đồng thuận xã hội nên khi có cơ hội là các bất mãn bật tung, gây ra bất ổn xã hội, chính trị. Thêm vào đó, những đặc thù về cơ cấu kinh tế (người Hoa chi phối các ngành hiện đại), dân tộc, tôn giáo, lãnh thổ lại nhân cơ hội khủng hoảng kinh tế bùng phát lên.

Với cơ chế như vậy, những thành quả phát triển ở giai đoạn truớc 1997 đã tiềm ẩn những nguy cơ sẽ bột phá khi có shock từ bên ngoài.

Do nội tình bất ổn, Indonesia cũng mất khả năng đề ra chiến lược cạnh tranh đối phó hữu hiệu trước sự lớn mạnh của Trung Quốc và không theo kịp dòng chảy mới trong sự phân công quốc tế ở Đông Á.

Kinh nghiệm Indonesia cho thấy phát triển phải được thực hiện trong sự đồng thuận xã hội, có cơ chế kiểm soáthành động của lãnh đạo chính trị.

Trường hợp Trung Quốc

Vào đầu thập niên 1980, mức phát triển của Trung Quốc không hơn Việt Nam nhiều. Vào năm 1984 GDP đầu người theo giá năm 2000 của Việt Nam là gần 200 USD trong khi Trung Quốc cũng chỉ gần 260 USD (năm 1981 dưới 200 USD).

Nhưng Trung Quốc vừa hơn Việt Nam ở điều kiện ban đầu vừa có cơ chế sáng tạo, hiệu quả hơn Việt Nam nên đạt được thành quả phát triển mạnh mẽ hơn. Đến giữa thập niên 1990, GDP đầu người của Trung Quốc đã gấp đôi Việt Nam và sau đó khoảng cách càng lớn hơn nữa.

Về điều kiện ban đầu, Trung Quốc cải cách trước Việt Nam gần 10 năm và có cơ sở về hạ tầng ban đầu tốt hơn nước ta. Thêm vào đó, vai trò của tư bản Hoa Kiều trong thời kỳ đầu của cải cách, mở cửa rất quan trọng.

Trong lúc hành lang pháp lý chưa xây dựng đầy đủ và còn bất ổn định, Nhật, Mỹ, Tây Âu chưa đầu tư thì tư bản người Hoa đã tích cực trở về xây dựng nhà máy và hoạt động thương mại ở quê cũ.

Sự hiện diện của Hong Kong và sự bổ sung giữa thành phố lớn này với tỉnh Quảng Đông đã vừa thúc đẩy quá trình dịch vụ hóa kinh tế Hồng Kông vừa đẩy mạnh công nghiệp hóa của tỉnh có nhiều đặc khu kinh tế này.

Nhưng về mặt cơ chế, chiến lược cải cách của Trung Quốc cũng hơn hẵn Việt Nam. Cùng theo chiến lược cải cách tiệm tiến, cả hai nước đều bảo hộ doanh nghiệp quốc doanh nhưng Trung Quốc có cơ chế để doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển mạnh mẽ ngay từ đầu.

Đặc biệt hình thái phát triển của doanh nghiệp hương trấn (TVEs) là độc đáo. Trên danh nghĩa, TVEs là doanh nghiệp sở hữu tập thể do chính quyền địa phương quản lý, nhưng trên thực tế hoạt động như doanh nghiệp tư nhân, tinh thần doanh nghiệp phát huy, công nhân hăng hái làm việc, chính quyền địa phương cũng tạo điều kiện về cơ chế, hành chánh để phát triển thuận lợi.

Trung Quốc cũng thành công trong việc đón nhận dòng chảy đầu tư nước ngoài (FDI) trong thập niên 1990, thời đại mà các công ty đa quốc gia của Nhật, Mỹ, Tây Âu triển khai hoạt động trên qui mô toàn cầu.

Tuy FDI đóng vai trò lớn, doanh nghiệp bản xứ của Trung Quốc cũng lớn mạnh, trong đó nhiều công ty ngày càng hoạt động trên qui mô toàn cầu.

Nhìn chung thành quả phát triển của Trung Quốc rất đáng ghi nhận. Nhưng từ góc độ phát triển bền vững Trung Quốc cần được đánh giá như thế nào? Trung Quốc đã bước sang giai đoạn phát triển bền vững chưa? Ở đây ta không thể đi sâu vào vấn đề này. Với mục đích tìm bài học cho Việt Nam, ta thử đưa ra vài nhận xét sơ bộ.

Đến giữa thập niên 1990, Trung Quốc theo chiến lược cải cách tiệm tiến với nội dung như ta phân tích ở Tiết I. Từ nửa sau thập niên 1990, Trung Quốc chuyển sang giai đoạn mới nhưng cải cách còn nửa vời chưa tạo ra một hệ thống cơ chế đầy đủ, chất lượng cao.

Đến thời Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo (2003 trở đi), việc lập chính sách được cải tiến một bước, có thảo luận rộng rãi và có nghe ý kiến chuyên gia nhưng nhìn chung chưa có cải cách cơ chế triệt để.

Yếu tố chính trị vẫn chi phối kinh tế nên các cơ chế thiếu minh bạch, thiếu giải trình trách nhiệm, đặc biệt trong lãnh vực tài chánh, tiền tệ, thu chi ngân sách. Cũng vì lý do này, nạn tham nhũng chưa được giải quyết.

Mặt khác, từ khi chuyển từ cải cách tiệm tiến sang cải cách toàn diện, dù chỉ mới nửa vời, xã hội và kinh tế Trung Quốc phát sinh nhiều vấn đề mới.

Chênh lệch thu nhập và tài sản giữa các giai tầng, giữa các vùng ngày càng mở rộng, việc tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước đưa tới tình trạng cán bộ, quan chức liên hệ thu tóm tài sản nhà nước qua giao dịch nội gián (insider transaction). Nạn làm hàng giả, đạo đức xã hội, vấn đề môi trường, v.v.. cũng trầm trọng.

Đặc biệt, 3 lãnh vực nhạy cảm là giáo dục, y tế và nhà ở ngày càng phát triển theo hướng bất lợi cho người nghèo, cho giai tầng có thu nhập thấp.

Từ quan điểm và mục đích phân tích của chúng ta, có thể nói Trung Quốc đã thành công trong giai đoạn cải cách cơ chế để thóat khỏi nghèo nàn và bước được một đoạn trong thời đại phát triển mới. Tuy nhiên giai đoạn phát triển mới này có bền vững hay không còn tùy thuộc vào việc Trung Quốc có sớm hoàn thành một cơ chế chất lượng cao hay không.

Trường hợp Hàn Quốc

Hàn Quốc vào đầu thập niên 1960 là nước kém phát triển nhưng sau đó vượt qua giai đoạn phát triển ban đầu và thành công trong giai đoạn phát triển bền vững, trở thành nước tiên tiến trong thời gian rất ngắn.

Thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước này bắt đầu từ khi Park Chung-hee nắm chính quyền (năm 1961), thiết lập thể chế độc tài nhưng với quyết tâm phát triển đất nước.

Chế độ độc tài kéo dài đến hết thời Chun Doo-hwan, trải qua mấy biến cố chính trị sôi động, đến năm 1987 họ đã thành công trong việc chuyển sang thể chế dân chủ bằng cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên. Năm 1988 Hàn Quốc tổ chức thành công Thế vận hội Seoul và năm 1996 được kết nạp vào khối OECD.

Từ lúc bắt đầu kế họach phát triển đến khi trở thành thành viên của tổ chức các nước tiên tiến, Hàn Quốc chỉ mất có 35 năm! Nếu kể từ khi chiến tranh Triều Tiên chấm dứt thì cũng chỉ có 43 năm.

Hàn Quốc cũng bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chánh Á châu nhưng đã khắc phục được ngay (GDP đầu người chỉ giảm năm 1998) nhờ nền tảng cơ bản của nền kinh tế vững chắc và các nhóm tài phiệt mà hoạt động cho vay và đầu tư không hiệu quả của họ đã gây ra khủng hoảng là những tổ hợp tư nhân, ảnh hưởng ít đến cả nền kinh tế.

Tại sao Hàn Quốc thành công trong quá trình phát triển liên tục, chuyển từ giai đoạn tăng trưởng ban đầu sang giai đoạn phát triển bền vững? Rất nhiều công trình nghiên cứu về kinh nghiệm nước này.

Từ góc độ tham khảo cho Việt Nam, và đặt tiêu điểm vào mặt cơ chế, tôi đặc biệt chú ý đến các yếu tố sau:

Thứ nhất, ngay từ đầu đã có ngay sự đồng thuận của xã hội về sự cần thiết phải phát triển, phải theo kịp các nước tiên tiến, nhất là theo kịp Nhật (nước láng giềng từng đô hộ mình).

Để có sự đồng thuận, năng lực, ý chí và chính sách của lãnh đạo chính trị là quan trọng nhất. Dù dưới chế độ độc tài, quyết tâm phát triển của lãnh đạo chính trị được thể hiện bằng các chiến lược, chính sách do lớp kỹ trị xây dựng, quan chức được tuyển chọn theo năng lực, người tài được trọng dụng. Park Chung-hee lập Hội đồng họach định kinh tế (Economic Planning Board) quy tụ những chuyên gia học ở Mỹ về, được giao toàn quyền họach định chiến lược.

Trong bối cảnh chung đó, tinh thần doanh nghiệp, nỗ lực học tập kinh nghiệm nước ngoài của giới kinh doanh rất lớn. Giữa thập niên 1980 tôi có đến Hàn Quốc điều tra thực tế về chiến lược đuổi bắt công nghệ của doanh nghiệp nước này, ấn tượng nhất là thấy họ đưa ra khẩu hiệu phải theo kịp khả năng công nghệ của công ty hàng đầu của Nhật trong ngành.

Những người có kinh nghiệm du học cùng với sinh viên Hàn Quốc cũng dễ dàng thấy nỗ lực học tập của họ. Quốc sách theo kịp nước tiên tiến không phải là khẩu hiệu chung chung mà từng thành phần trong xã hội đều nỗ lực thực hiện.

Thứ hai, Hàn Quốc xây dựng được một cơ chế rất hiệu suất, hiệu quả về quan hệ giữa nhà nước và doanh nghiệp. Trong quá trình đuổi theo các nước tiên tiến, mục tiêu cụ thể là tích cực đầu tư, tích lũy tư bản (nhưng tỉ lệ tiết kiệm ban đầu quá thấp phải vay nợ trong thời gian dài), đồng thời bảo hộ các ngành công nghiệp còn non trẻ và đẩy mạnh xuất khẩu để có ngoại tệ nhập khẩu nguyên liệu, công nghệ và trả nợ.

Như vậy vai trò của nhà nước rất lớn. Trong tình hình đó, ở nhiều nước khác, doanh nghiệp cấu kết với quan chức để được tiếp cận với vốn vay ưu đãi, với ngoại tệ khan hiếm và với các nguồn hỗ trợ cho xuất khẩu. Nạn tham nhũng dễ phát sinh từ đó.

Nhưng Hàn Quốc đã tránh được tệ nạn đó nhờ có cơ chế minh bạch, nhất quán, công minh có tính cách kỷ luật. Cụ thể là doanh nghiệp đuợc nhận ưu đãi phải có nghĩa vụ tăng năng lực cạnh tranh, chẳng hạn phải xuất khẩu nhiều hơn truớc.

Nếu không hoàn thành nghĩa vụ sẽ không được hưởng ưu đãi trong giai đoạn sau. Nói chung, các doanh nghiệp phải cạnh tranh nhau, đưa ra mục tiêu phấn đấu khả thi mới nhận được ưu đãi của nhà nước.

Thứ ba, nhiều nghiên cứu cho thấy Hàn Quốc là nước đã đã thực hiện công nghiệp hóa trên cơ sở của học tập.

Quả đúng như vậy nếu ta xem nỗ lực của chính phủ trong giao dục, đào tạo, trong việc tạo ra cơ chế để đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ, và nỗ lực của doanh nghiệp trong quá trình học hỏi nước ngoài.

Tỉ trọng dành cho giáo dục vào cuối thập niên 1950 chỉ có dưới 10% ngân sách nhà nước, nhưng đã tăng liên tục lên 15-18% trong thập niên 1960, và 19-21% trong đầu thập niên 1980.

Tỉ lệ học sinh cấp ba trong độ tuổi thanh thiếu niên tăng từ 34% năm 1965 lên 56% năm 1975 và 91% năm 1984. Tỉ lệ sinh viên đại học trong thời gian đó là 6%, 10% và 26%.

Hàn Quốc là một trong những nước có tỉ lệ rất cao trong hai chỉ tiêu: tỉ lệ của sinh viên du học trên tổng số sinh viên trong nước và tỉ lệ nguời du học trở về trên tổng số sinh viên đi du học. Thành quả này nhờ có các cơ chế liên quan đến việc thi tuyển và đãi ngộ người tài.

Kinh nghiệm Hàn Quốc cho thấy cơ chế động viên mọi nguồn lực của xã hội vào mục tiêu được xã hội đồng thuận, nhất là xây dựng và sử dụng nguồn nhân lực, tạo quan hệ lành mạnh giữa nhà nước với doanh nghiệp là điều kiện để phát triển bền vững.

Trần Văn Thọ (Giáo sư ĐH Waseda, Nhật Bản)
Nguồn: http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam//4565/index.aspx

Kỳ 1: Cơ chế để kinh tế VN phát triển bền vững

,

Kinh tế Việt Nam đang đứng trước một khúc ngoặt, từ nay sẽ cất cánh để phát triển bền vững và tiến dần lên vị trí một nước công nghiệp hiện đại hay là sẽ trì trệ hoặc phát triển với tốc độ thấp? Cơ chế nào để kinh tế VN cất cánh và phát triển bền vững là những câu hỏi lớn cần lời giải đáp.



Trước hết, có thể thấy Việt Nam tăng trưởng khá cao trong một thời gian tương đối dài. Thu nhập bình quân đầu người sắp vượt ngưỡng cửa 1000 USD, các chỉ tiêu về đói nghèo đã được cải thiện nhiều. Việt Nam cũng đưa ra mục tiêu đến năm 2020 sẽ trở thành một nước công nghiệp.

Thời gian từ khi thực hiện đổi mới thực sự (1989) cho đến nay có thể xem là một giai đoạn (trên căn bản thoát khỏi nguy cơ đói nghèo) và từ nay trở đi là một giai đoạn khác về chất, giai đoạn hướng đến việc phát triển bền vững. Vậy giai đoạn khác về chất này có nội dung như thế nào?

Thứ hai, theo kinh nghiệm phát triển của các nước, có nhiều nước phát triển trong thời gian khá dài, và trên căn bản đã thoát khỏi nguy cơ đói nghèo nhưng sau đó trì trệ và tụt hậu (như Philipiines, Indonesia), nhưng cũng có nhiều nước sau đó phát triển bền vững và trở thành hoặc ở ngưỡng cửa của nước công nghiệp tiên tiến (như Hàn Quốc, Hồng Kông,…). Vậy hiện tượng này cần được giải thích ra sao?

Thứ ba, về mặt lý luận, quá trình phát triển kinh tế có thể chia thành nhiều giai đoạn và có nhiều cách phân chia tùy theo góc độ phân tích, mỗi giai đoạn có một số đặc tính cơ bản và các đặc tính đó lại liên quan mật thiết với hệ thống các cơ chế hoặc thể chế (institutions).

Cơ chế hay luật chơi kinh tế

Cơ chế ở đây được định nghĩa là các luật chơi (rules of the games) gồm những thể lệ có tính cách pháp lý hoặc những chính sách, những quy định của nhà nước làm nền tảng cho hoạt động của các tác nhân trong nền kinh tế (như doanh nghiệp, lao động,…).

Trong quá trình phát triển kinh tế, giai đoạn sau đuợc thực hiện do những tiền đề cơ bản về cơ chế đã được chuẩn bị từ giai đoạn trước và hoàn thiện ở giai đoạn sau.

Mấy nhận xét trên đây sẽ giúp lập một khung phân tích để làm rõ điều kiện để Việt Nam phát triển bền vững trong giai đoạn tới.

Tuy nhiên bài viết không thể bàn hết các vấn đề mà chỉ xoay quanh vào yếu tố cơ chế và sự liên hệ của cơ chế đến chính sách và chiến lược để có phát triển bền vững.

Giả thuyết trung tâm của bài viết là trong giai đoạn đổi mới, các cơ chế, chính sách cần thiết tương đối đơn giản, nhưng để có phát triển bền vững ở giai đoạn tiếp theo, phải có cơ chế ở thứ nguyên cao hơn, tạm gọi là cơ chế chất lượng cao (high quality institutions).

Bài này chia làm ba kỳ. Kỳ I sẽ phân tích về mặt lý luận tương quan giữa giai đoạn phát triển và hệ thống cơ chế. Kỳ II sẽ giới thiệu kinh nghiệm phát triển của một số nước Á châu để xem đâu là những tiền đề về cơ chế bảo đảm cho giai đoạn cất cánh và phát triển bền vững. Kỳ III sẽ đánh giá quá trình đổi mới của Việt Nam về mặt cơ chế và bàn về điều kiện để có phát triển bền vững trong giai đoạn tới.

Kỳ I: Cơ chế trong hai giai đoạn phát triển kinh tế
http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/4546/index.aspx

Trước hết cần nói thêm về thuật ngữ cơ chế. Cơ chế được định nghĩa như trên đây có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế vì các lý do sau:

- Thứ nhất, hoạt động kinh tế thường đi liền với sự bất xác định nên đầu tư dễ gặp rủi ro; cần xây dựng cơ chế để giảm sự bất xác định, hạn chế rủi ro, thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư phát triển.

- Thứ hai, tùy theo cơ chế xấu hay tốt có thể làm nản chí hoặc khuyến khích hành động của các tác nhân kinh tế (doanh nghiệp, lao động,…).

- Thứ ba, sự phân công xã hội càng cao, sự hội nhập với thế giới càng sâu rộng thì chi phí giao dịch (transaction costs) giữa nhà nước với doanh nghiệp, giữa các doanh nghiệp với nhau và giữa doanh nghiệp/nhà nước với các cá nhân trong xã hội càng cao. Cần có cơ chế tốt để giảm chi phí giao dịch, hiệu suất hóa hoạt động sản xuất, kinh tế sẽ phát triển nhanh.

Vì các lý do này, vấn đề cơ chế trở thành đề tài trung tâm trong nghiên cứu về kinh tế phát triển từ thập niên 1990.

Cơ chế có thể chia làm 4 loại: công, tư, chính thức và phi chính thức. Ở đây ta chỉ bàn đến cơ chế công và cơ chế chính thức là các loại cơ chế do nhà nước xây dựng, vì vậy có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển.

Có thể nói, kinh tế càng phát triển, cơ chế chính thức thay thế dần cơ chế phi chính thức (chẳng hạn, bảo hiểm thất nghiệp hay bảo hiểm sức khỏe thay thế cho sự tương thân tương trợ trong cộng đồng), và cơ chế tư (chẳng hạn việc hình thành các hiệp hội doanh nghiệp) ngày càng xuất hiện.

Vậy nhà nước cần chủ động xây dựng cơ chế như thế nào để thúc đẩy kinh tế phát triển? Chất lượng của cơ chế tương ứng với các giai đoạn phát triển kinh tế như thế nào?

Có nhiều cách phân chia các giai đoạn phát triển của một nền kinh tế nhưng ở đây ta không thể đi xa và sâu vào các vấn đề này.

Từ thực tiễn Việt Nam, ở đây ta chỉ chú ý đến hai giai đoạn: Một là giai đoạn thoát khỏi vòng luẩn quẩn nghèo khó, thoát khỏi cái bẫy nghèo (poverty trap); dưới đây ta gọi là giai đoạn tăng trưởng ban đầu. Giai đoạn thứ hai là giai đoạn cất cánh để phát triển bền vững.

Biểu đồ phát triển của một nền kinh tế

Quá trình phát triển của một nền kinh tế có thể được hình dung như Hình 1.



Hình 1: Các giai đoạn phát triển của một nền kinh tế.
AB: Xã hội truyền thống, đối diện cái bẫy nghèo, vòng luẩn quẩn nghèo khó;
BC: Giai đoạn phát triển ban đầu, kinh tế thị truờng sơ khai, cơ bản thoát nghèo;
CD: Giai đoạn cất cánh và phát triển bền vững;
CE: Trường hợp thất bại, không cất cánh để phát triển bền vững.


AB là giai đoạn dài của một xã hội truyền thống trong đó dân số và lực lượng sản xuất tăng ở mức rất thấp, thu nhập đầu người hầu như cố định ở mức chỉ đủ để sinh tồn. Nền kinh tế lấy sản xuất nông nghiệp với năng suất thấp làm chủ đạo, tiết kiệm và đầu tư ở mức rất thấp, ít có khả năng tái sản xuất.

Vì các lý do này mà xã hội không thoát ra khỏi cái bẫy nghèo, cái vòng luẩn quẩn nghèo khó. Để thoát ra khỏi tình trạng này, cần một cú hích đánh vào nguyên nhân kiềm hãm phát triển được xem là quan trọng nhất, gây hạn chế phát triển nhất. Chỗ ấy có thể là cơ chế lạc hậu trong nông nghiệp cần phải phá vỡ để nông dân hăng hái sản xuất, để nông nghiệp phát triển, tạo điều kiện tích lũy cho công nghiệp khởi động.

Nguyên nhân kiềm hãm nếu là thiếu cơ chế động viên nguồn vốn đã có trong nước hoặc ở nước ngoài thì phải xây dựng cơ chế bảo đảm quyền sở hữu tư bản, bảo đảm lợi nhuận chính đáng của doanh nhân trong và ngoài nước. Khi những tiền đề này được hình thành, nền kinh tế bước sang giai đoạn tăng trưởng ban đầu (BC trong Hình 1).

Ở giai đoạn tăng trưởng ban đầu này nhà nước giữ vai trò quan trọng, ngoài việc xác lập các cơ chế đã nói, trong nhiều trường hợp còn phải trực tiếp xây dựng một số ngành công nghiệp ban đầu.

Ngoài ra, nhà nước phải huy động vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng, bảo hộ tạm thời các ngành công nghiệp non trẻ, v.v.. Trong giai đoạn này, vai trò của nhà nước còn phải xây dựng thị trường.

Cụ thể, ngoài việc xây dựng hạ tầng giao thông để hàng hóa lưu thông, thúc đẩy phân công giữ các khu vục trong nước, còn phải xây dựng hành lang pháp lý để các tác nhân kinh tế thực hiện các giao dịch.

Ở đây ta có thể liên kết vấn đề này với vấn đề chuyển đổi (transition) nền kinh tế từ kế hoạch tập trung sang thể chế kinh tế thị trường.

Ba đặc tính cơ bản của nền kinh tế kế hoạch hoá

Nền kinh tế kế hoạch hóa dưới thể chế xã hội chủ nghĩa có 3 đặc tính cơ bản:

- Thứ nhất, không có thị trường, việc phân bố các nguồn lực thực hiện theo mệnh lệnh của nhà nước.

- Thứ hai, vì không có thị trường nên không có sự phân công xã hội giữa các vùng trong nước.

- Thứ ba, chỉ có sở hữu nhà nước hoặc sở hữu tập thể các tư liệu, các yếu tố sản xuất.

Ở đây ta thấy có nhiều điểm tương đồng giữa một nước chậm phát triển và một nước theo cơ chế kế hoạch tập trung của thể chế xã hội chủ nghĩa.

- Điểm thứ nhất là cả hai đều chưa có kinh tế thị trường hoặc kinh tế thị truờng ở trình độ rất thấp.

- Thứ hai là sự phân công xã hội còn ở trình độ thấp.

- Thứ ba là sở hữu nhà nước còn khá phổ biến ít nhất là trong các ngành kinh tế phi truyền thống. Như vậy, giai đoạn tăng trưởng ban đầu trùng hợp với giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị truờng của một nước theo hệ thống xã hội chủ nghĩa.

Từ thập niên 1980 ở Trung Quốc và Việt Nam và từ thập niên 1990 ở Đông Âu, các nền kinh tế kế hoạch tập trung từng bước chuyển sang kinh tế thị truờng.

Đồng thuận Washington và giai đoạn tiệm tiến của Việt Nam

Vào đầu thập niên 1990, chiến lược chuyển đổi và các biện pháp cụ thể được Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế và nhiều chuyên gia Mỹ đúc kết thành ba nội dung chính: Tự do hóa các hoạt động kinh tế kể cả ngọai thương; giá cả, hối suất do thị trường tự do quyết định; ổn định hóa kinh tế vĩ mô, giảm chi tiêu chinh phủ; và tư nhân hóa doanh nghiệp quốc doanh. Ba biện pháp này được khuyến khích tiến hành đồng lọat trong thời gian ngắn. Các nhà phân tích gọi đây là Đồng thuận Washington (Washington Consensus).

Nếu cải cách theo Đồng thuận Washington là chiến lược cấp tiến có tính cách liệu pháp sốc để cứu chữa ngay căn bệnh của thể chế kinh tế xã hội chủ nghĩa thì cải cách của Trung Quốc và Việt Nam có thể được gọi là tiệm tiến (gradualism, incrementalism).

Nghĩa là tùy theo khu vực kinh tế mà áp dụng biện pháp cải cách khác nhau để giữ ổn định chính trị, xã hội và để không ai bị thiệt trong quá trình cải cách, như vậy tránh được sự chống đối cải cách của thế lực bảo thủ muốn duy trì quyền lợi đã có.

Nói cụ thể, ít nhất là trong giai đoạn đầu, không tư nhân hóa doanh nghiệp quốc doanh, thay vào đó đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp phi quốc doanh, kể cả đâu tư từ nước ngoài (FDI).

Chiến lược cải cách tiệm tiến nói chung được đánh giá cao không phải chỉ vì tính khả thi như vừa nói mà còn có hiệu quả về mặt cơ chế. Các cơ chế cần thiết cho kinh tế thị trường phải được xây dựng từng bước, cần thời gian.

Trong khi các tiền đề này chưa hành chỉnh, không thể thực hiện cải cách toàn bộ trong thời gian ngắn.

Nhưng vấn đề ở đây là chiến lược cải cách tiệm tiến này nên kéo dài bao lâu. Ở giai đoạn nào thì phải chuyển sang một chiến lược cải cách với nội dung khác về chất với giai đoạn tiệm tiến? Vấn đề này phải được đặt ra vì hai lý do:

Thứ nhất, chiến lược cải cách tiệm tiến kéo dài quá lâu (chẳng hạn trên 15 năm) sẽ nảy sinh các tệ hại làm kinh tế phát triển kém hiệu suất và gây bất công trong xã hội.

Chẳng hạn sự tồn tại của doanh nghiệp nhà nước trong nhiều ngành kinh tế làm cản trở sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân và những người quản lý, kinh doanh doanh nghiệp nhà nước lợi dụng những ưu đãi về đất đai, về tín dụng để trục lợi trên thị trường tự do.

Những người này còn cấu kết với quan chức để được nhiều ưu đãi đó, mặt khác doanh nghiệp tư nhân cũng khắc phục thế yếu bằng tăng cường quan hệ với quan chức tạo ra tình trạng tham nhũng.

Thứ hai, sau một giai đoạn phát triển và đã đạt một số thành quả (tương ứng với giai đoạn tăng trưởng ban đầu đã đề cập), cần có cải cách toàn diện để làm tiền đề cho giai đoạn phát triển bền vững. Cải cách toàn diện cũng có nghĩa là xây dựng một hệ thống cơ chế hoàn chỉnh hơn, quy mô rộng hơn và phức tạp nhưng vững chắc so với giai đoạn tăng trưởng ban đầu.

Cơ chế chất lượng cao trong giai đoạn hội nhập thế giới

Đặc biệt khi kinh tế hội nhập mạnh vào thị trường thế giới, nhiều vấn đề phức tạp phát sinh đòi hỏi có cơ chế hữu hiệu để tận dụng cơ hội mới và để ngăn ngừa bất ổn định. Có thể gọi đó là hệ thống cơ chế chất lượng cao (high quality institutions). Sở dĩ cần cơ chế chất lượng cao trong giai đoạn mới này là vì:

Một là, khác với giai đoạn trước trong đó tăng trưởng chủ yếu do động viên, sử dụng các yếu tố sản xuất như lao động, tư bản, đất đai, giai đoạn mới này đòi hỏi phải tăng năng suất tổng hợp đa yếu tố dựa trên việc áp dụng công nghệ tiên tiến, cải tiến quản lý, giảm phí tổn giao dịch (transaction cost), v.v.

Dù trước thời đại toàn cầu hóa, một nền kinh tế muốn phát triển bền vững phải liên tục tăng sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Thị trường mở rộng, tham gia phân công quốc tế sâu hơn và do đó sức cạnh tranh phải mạnh hơn là điều kiện phát triển sâu và bền vững. Ở thời đại toàn cầu hóa, các đặc tính này càng quan trọng hơn.

Hai là, sang giai đoạn mới, kinh tế thị trường phải phát triển sâu rộng hơn, hệ thống tài chánh tiền tệ phức tạp hơn, dòng vốn lưu thông đa dạng hơn, nên vấn đề ổn định phải được quan tâm. Mặt khác, do sự tham gia phân công quốc tế và hội nhập với thế giới ngày càng mạnh, kinh tế dễ biến động theo những thay đổi trên thị trường thế giới.

Các điểm chính của một cơ chế, chính sách

Như vậy, để phát triển bền vững, phải xây dựng một cơ chế, một hệ thống các chính sách, chiến lược khác về chất và ở trình độ cao so với giai đoạn trước. Những cơ chế, chính sách này bao gồm các điểm chính như sau:

(1) Tăng cường sự minh bạch (transparency), tăng khả năng dự đoán (predictability) và tăng năng lực quản lý nhà nước (governance) để vừa giảm sự bất xác định, giảm sự rủi ro đối với nhà đầu tư, để họ mạnh dạn tiến vào những lãnh vực mới (do đó cơ cấu kinh tế mới chuyển dịch nhanh), vừa tránh đầu cơ, tránh tham nhũng và giảm các chi phí giao dịch (transaction costs).

(2) Doanh nghiệp quốc doanh phải được cải cách triệt để, tạo sân chơi bình đẳng giữa các chủ thể kinh tế, tránh các tệ hại của chiến lược cải cách tiệm tiến quá lâu đã được đề cập.

(3) Có chính sách công nghiệp tích cực để xây dựng các ngành công nghiệp có lợi thế so sánh động (tức là lợi thế so sánh tiềm năng, sẽ được khơi dậy trong tương lai nếu các tiền đề được chuẩn bị từ bây giờ), như vậy vừa chuyển dịch cơ cấu lên cao vừa cạnh tranh được trên thị truờng thế giới.

(4) Trong các loại thị trường, thị trường lao động thuờng hoạt động ít hiệu quả vì manh mún, có sự không ăn khớp trong cung cầu giữa các loại lao động hoặc giữa các vùng. Do đó cần có chính sách về đào tạo, về hạ tầng xã hội để xóa hoặc giảm sự bất ăn khớp đó.

(5) Chấn hưng giáo dục, nghiên cứu khoa học, đẩy mạnh ứng công nghệ cần có chính sách, cơ chế thích đáng của nhà nước.

Vì tính chất phức tạp của kinh tế trong giai đoạn này, cơ chế trên cơ bản cũng khác giai đoạn trước. Như trên đã nói, ở giai đoạn trước, nhà nước chỉ cần nới rộng các quy chế và ban hành các luật lệ liên hệ là các tác nhân kinh tế hăng hái hoạt động.

Trên một ý nghĩa, việc quyết định các chính sách có thể có tính cách tập trung. Nhưng ở giai đoạn sau việc tư vấn tham gia từ các tầng lớp, các chủ thể kinh tế là cần thiết.

Sự tham gia của dân chúng, cụ thể qua các nhà ngôn luận, học giả, đại diện doanh nghiệp, đại diện giới lao động, sẽ tránh được tình trạng một số chính trị gia và quan chức lợi dụng thông tin và quyền lực họ có đưa ra những chính sách, những dự án, kế hoạch có lợi cho họ chứ không nhằm phục vụ lợi ích của đa số dân chúng, không nhằm mục đích phát triển.

Cơ chế chất lượng cao còn đòi hỏi các điều kiện như năng lực của quan chức, sự độc lập của tòa án, tính độc lập của ngân hàng trung ương, chính sách thu chi ngân sách minh bạch, có cơ chế giám sát tài chánh đối với doanh nghiệp nhà nước và các hoạt động kinh tế công.

Trở lại Hình 1, giả thuyết ở đây là nếu cơ chế chất lượng cao như vừa phân tích được nhà nước ý thức xây dựng thì kinh tế sẽ phát triển bền vững (diễn tả bằng đường CD), ngược lại nếu không có cơ chế chất lượng cao thì kinh tế có thể trì trệ lâu dài, không cất cánh vào giai đoạn phát triển bền vững (đường CE).

* Trần Văn Thọ (Giáo sư ĐH Waseda, Nhật Bản)

Nhiều nhân tài thì sẽ có thiên hạ

,

Hơn 16000 công chức xin thôi việc nên được hiểu là quá trình trao đổi tuần hoàn máu bình thường. Nhưng nếu chiều hướng gia tăng và tập trung vào nhân sự giỏi, các cấp lãnh đạo cần đặt câu hỏi tại sao.


Làm quan cũng chỉ là một nghề

Ngạn ngữ Việt Nam có câu: ”Một người làm quan, cả họ được nhờ” thể hiện rõ nét tính ưu việt của việc tham gia vào công việc triều chính hay bộ máy quản lý, điều hành công quyền trước đây. Chữ “nhờ” ở đây có thể mang ý nghĩa vật chất rất cụ thể mà đôi khi chỉ là sự “thơm lây” về tinh thần.

Cũng giống Việt Nam, trong tâm tư của người dân Châu Á truyền thống việc được tiếp nhận vào hàng ngũ phục vụ cho bộ máy cai trị là một vinh dự to lớn và một sự bảo đảm tốt về địa vị kinh tế- chính trị- xã hội. Người ta đua nhau thi cử để ra làm quan và nghề làm quan đã trở thành mục tiêu tối thượng của cả xã hội vì nó có thể hứa hẹn nhiều thứ, từ quyền lực, danh giá cho tới tiền tài và sự kính trọng.

Tuy nhiên lịch sử cũng chứng kiến nhiều trường hợp dám hy sinh quyền lợi cá nhân, dũng cảm “ trao ấn, từ quan” để lui về ở ẩn. Thông thường đó là thái độ phản kháng một cách bất lực của những vị quan thanh liêm trước thế sự triều đình suy vong, thối nát, tham nhũng tràn lan, bọn gian thần lộng hành vơ vét, muôn dân cực khổ còn vua chúa thì nhu nhược hoặc rất bạo tàn. Chu Văn An là một trong nhiều trường hợp tương tự trong lịch sử nước nhà.

Đối với xã hội phương Tây từ thời Đế chế La mã Roma và sau này là thời kỳ Phục hưng do những điều kiện lịch sử đặc thù đã hình thành sớm hơn Châu Á rất nhiều một hình thái phát triển kinh tế- xã hội khác, mà trong đó, con người với tư cách là các cá nhân được hưởng những quyền công dân, bao gồm quyền tư hữu tài sản và một số quyền tự do khác được pháp luật bảo vệ.

Kinh tế thị trường và xã hội dân sự bởi vậy đã có đất để bén rễ và phát triển mạnh mẽ. Thương mại và sản xuất công nghiệp dần dần trở thành động lực chính của tiến bộ xã hội. Người dân ngoài cơ hội lấy bằng cấp để ra phục vụ chính quyền còn có nhiều lựa chọn khác nữa trong kinh doanh, thương mại và công nghiệp tư nhân, do vậy mà khái niệm làm quan chỉ mang một ý nghĩa bình đẳng như mọi ngành nghề khác trong sự phân công lao động xã hội, không hơn không kém.

Sau những năm xóa bỏ bao cấp để tiến hành công cuộc Đổi mới, từng bước xây dựng nền kinh tế thị trường và đặc biệt với việc trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế Giới WTO vào năm 2006 cục diện kinh tế - xã hội Việt Nam đã đạt được những chuyển biến tích cực về cơ cấu và định hướng phát triển.

Nền kinh tế ngày càng mang đậm dấu ấn của những nhân tố mới phát triển rất năng động đó là kinh tế tư nhân và đầu tư nước ngoài. Người lao động lần đầu tiên có nhiều cơ hội để lựa chọn giữa “làm quan” trong khu vực nhà nước hay “làm giàu” và thử tài kinh doanh trong hai khu vực mới mẻ này.

Ngoài ra, do Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào quá trình phân công lao động quốc tế và các chuỗi giá trị toàn cầu nên lao động của chúng ta còn có nhiều cơ hội làm ăn ở hầu như khắp nơi trên thế giới. Số lượng kiều hối có chiều hướng năm sau tăng hơn năm trước được gửi về nước góp phần xây dựng quê hương và giúp đỡ gia đình là một minh chứng thuyết phục cho nhận định này.

Nhận dạng các nhu cầu tự nhiên

Giờ đây các nhà hoạch định chính sách lao động và giáo dục ở nước ta (cả khu vực quốc doanh và ngoài quốc doanh) đã phải tính đến việc đáp ứng các nhu cầu phát triển toàn diện của nguồn nhân lực một cách khoa học và hiệu quả nhất. Theo xu hướng này người ta thường tham khảo thang bậc nhu cầu của A. Maslow – một học thuyết đỉnh cao trong việc nhận dạng các nhu cầu tự nhiên của con người.

Theo thuyết của A. Maslow, nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau từ “đáy” lên tới ”đỉnh”, phản ánh mức độ “thiết yếu” của nó đối với sự tồn tại và phát triển của con người vừa là một sinh vật tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội. Cấp độ thấp nhất và thiết yếu nhất là nhu cầu thể chất hay thể xác của con người như nhu cầu ăn, mặc, ở, sinh lý…

Cấp độ tiếp theo là nhu cầu an toàn hay nhu cầu được bảo vệ. An toàn về tính mạng và an toàn về tài sản. Cao hơn nhu cầu an toàn là nhu cầu quan hệ như quan hệ giữa người với người, quan hệ con người với tổ chức hay quan hệ giữa con người với tự nhiên. Con người luôn có nhu cầu yêu thương gắn bó và cấp độ nhu cầu này cho thấy con người có nhu cầu giao tiếp để phát triển.

Ở trên cấp độ này là nhu cầu được đánh giá, nhận biết và tôn trọng. Đây là mong muốn của con người nhận được sự chú ý, quan tâm và tôn trọng từ những người xung quanh và mong muốn bản thân là một “mắt xích” không thể thiếu trong hệ thống phân công lao động xã hội. Việc họ được tôn trọng cho thấy bản thân từng cá nhân đều mong muốn trở thành người hữu dụng theo một điều giản đơn là “xã hội chuộng của chuộng công “.

Vì thế, con người thường mong muốn có địa vị cao để được nhiều người tôn trọng và kính nể. Vượt lên trên tất cả các nhu cầu đó là nhu cầu sự thể hiện. Đây là khát vọng và nỗ lực để đạt được mong muốn. Con người tự nhận thấy bản thân cần thực hiện một công việc nào đó theo sở thích và chỉ khi công việc đó được thực hiện thì họ mới cảm thấy hài lòng. Thuyết này sắp xếp nhu cầu con người từ thấp lên cao, những nhu cầu ở cấp cao hơn sẽ được thỏa mãn chỉ khi nhu cầu cấp thấp hơn được đáp ứng. (1)

Quy tụ người tài

Như vậy hiện tượng trong 5 năm gần đây có tới hơn 16000 công chức nhà nước xin thôi việc để chuyển sang khu vực ngoài quốc doanh nên được hiểu là một quá trình trao đổi tuần hoàn máu bình thường giữa các bộ phận của một cơ thể đang phát triển (2).

Người lao động bây giờ dựa trên năng lực bản thân có thể lựa chọn môi trường làm việc để được thỏa mãn ở mức phù hợp nhất đối với các thang bậc nhu cầu của họ.

Tuy nhiên nếu quá trình này có chiều hướng gia tăng và lại tập trung vào những vị trí nhân sự có trình độ chuyên môn cao, đức độ và có uy tín đối với quần chúng thì các cấp lãnh đạo phải tự đặt câu hỏi tại sao? Nguyên nhân nào và biện pháp gì để thay đổi tình thế?

Theo thang bậc nhu cầu A.Maslow thì những nhân sự có trình độ cao luôn có nhu cầu được tôn trọng và phải được đặt đúng vị trí tương xứng với khả năng và uy tín của họ.

Không thiếu những trường hợp trong các cơ quan nhà nước người ta tuyển chọn và cất nhắc, đề bạt cán bộ theo sự thân quen, bè cánh hay vì những lý do khuất tất khác. Điều này đã và sẽ làm suy yếu, tha hóa bộ máy công quyền – một công cụ quan trọng thực hiện sự nghiệp Đổi mới, biến nó thành những “căn cứ địa” và “pháo đài” của tham nhũng, mất dân chủ nội bộ và trù dập những người ngay thẳng.

Có một bài học tuy đã cũ nhưng chắc sẽ không bao giờ cổ, đó là muốn đất nước hay doanh nghiệp hưng thịnh thì phải quy tụ được nhiều người tài trong mọi lĩnh vực như kinh doanh, khoa học-kỹ thuật, công nghệ, quản lý và giáo dục. Những tấm gương sáng về phát triển kinh tế- xã hội ở các nước Châu Á quanh ta đã gợi mở nhiều điều. Trung Quốc với những chính sách khuyến khích của chính phủ đã lôi kéo một đạo quân khoa học Hoa kiều hơn 200.000 người trở về và họ hiện chiếm một tỷ lệ đáng ngạc nhiên là 81% số thành viên của Viện khoa học Trung Quốc.

Làn sóng chất xám quay về này đã thúc đẩy nền khoa học Trung Quốc chuyển động nhanh và mạnh. Đối với vấn đề nhân sự trong các tổ chức đảng và cơ quan công quyền nguyên thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ đã có lần nói: ”Chúng ta cần kiên quyết từ bỏ hệ thống đề bạt theo kiểu người tốt là người được cho là tốt thậm chí cho dù anh ta chẳng tốt gì; còn người xấu là người được cho là xấu trong khi anh ta không phải như vậy theo đánh giá của các tầng lớp quần chúng “.(3)

Rễ có sâu thì gốc mới vững, cây mới xanh tốt, đơm hoa thơm và kết trái ngọt, mà nhân tài trong quần chúng chính là những nhánh rễ li ti âm thầm lan tỏa trong lòng đất. “Có nhân tâm trước sẽ thu phục được nhân tài, có nhiều nhân tài thì sẽ được thiên hạ”… lời dạy của người xưa tưởng như ở đâu đó vẫn văng vẳng bên tai.

* TS Phạm Gia Minh

(1) xem bài của TS Nguyễn Thường Lạng, Tạp chí Nhà quản lý, trích đăng trên http:// chungta.com ngày 05/02/2006

(2) Trên thế giới sự dịch chuyển này vẫn diễn ra theo cả hai chiều (nhà nước – tư nhân và ngược lại ) nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội và bản thân người lao động, không hiếm trường hợp nhiều bộ trưởng trước đó là giáo sư đại học ngoài công lập và Thủ tướng là chủ tịch hội đồng quản trị công ty thuộc khu vực tư nhân. Việc gánh vác trách nhiệm trong cơ quan công quyền có nhiệm kỳ được quy định bởi hợp đồng lao động , rất hiếm trường hợp biên chế suốt đời và nếu anh nợ nhà nước tiền ăn học và đào tạo thì anh có nghĩa vụ phải làm việc một số năm để trả hết

(3 ) xem Tuổi trẻ cuối tuần số 25-2008 ngày 29/6/2008

“Tam nông” không chỉ cần vốn

,

Gần đây, “tam nông” (nông nghiệp - nông dân - nông thôn) là một trong những vấn đề thảo luận nóng hổi, từ các diễn đàn khoa học đến chương trình làm việc của Chính phủ cũng như Quốc hội.



Trong đó, vấn đề giải quyết bài toán vốn đầu tư cho nông nghiệp được đề cập rất nhiều và đa số ý kiến đều cho rằng, đây là một trong những trở ngại lớn trong việc đưa nông nghiệp trở thành nền sản xuất hàng hóa, đảm bảo tính bền vững cho ngành này khi hội nhập sâu vào kinh tế thế giới.

Vốn đầu tư chiếm tỷ trọng thấp

Theo bà Trịnh Ngọc Lan (Ngân hàng Nhà nước - Chi nhánh Hà Nội), ước đến hết tháng 6/2008, dư nợ cho vay đối với hộ sản xuất của Agribank, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Chính sách xã hội (VBSP) cho vay hộ nghèo cùng với đối tượng chính sách khoảng 181.500 tỷ đồng, chiếm 17%/tổng dư nợ cho vay các thành kinh tế khác của các tổ chức tín dụng (tổ chức tín dụng).

Một thống kê khác của Trung tâm Thông tin tín dụng (Ngân hàng Nhà nước) cũng cho thấy, tính đến tháng 6/2008, cơ cấu tín dụng dành cho Tp.HCM và Hà Nội chiếm 54%/tổng dư nợ cho vay của toàn hệ thống ngân hàng.

So với khu vực duyên hải miền Trung: 7%, Bắc Trung Bộ: 4%, Đông Bắc bộ: 4%, Tây nguyên: 3% và Tây Bắc: 1% thì phần lớn thị phần dư nợ đều dành cho thành phố, còn dư nợ cho vùng nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là miền núi chiếm tỷ lệ rất thấp.

Đồng tình với quan điểm này, ông Trần Văn Tần, Vụ Tín dụng (Ngân hàng Nhà nước) cho biết thêm: “Tốc độ tăng trưởng bình quân trong cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp nông thôn của 10 năm qua chỉ 22%/năm, thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng bình quân chung của cho vay toàn bộ nền kinh tế là 25%/năm”.

Theo các chuyên gia, thực trạng thị trường tài chính khu vực nông thôn hiện còn tồn tại khá nhiều bất cập.

Một là sự chu chuyển vốn ngược. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, tích lũy trung bình mỗi người khu vực nông thôn chưa đến 800 nghìn đồng/năm. Với mức tích lũy này, thật khó để nói đến chuyện tái đầu tư, nhất là trong điều kiện lạm phát hiện nay.

Trong khi đó, đáng lẽ cần phải chuyển vốn từ thành thị về nông thôn thì hiện tại đang diễn ra ngược lại: thông qua việc điều chuyển vốn trong nội bộ hệ thống các tổ chức tín dụng, một lượng tiền gửi dân cư khá lớn từ nông thôn đã bị chuyển ngược ra thành thị.

Hai là, trong 6 tháng đầu 2008, hoạt động thị trường tiền tệ diễn ra rất phức tạp, đặc biệt là cạnh tranh lãi suất. Nhiều ngân hàng thương mại (ngân hàng thương mại) đua nhau tăng lãi suất và hút bớt một lượng tiền khá lớn từ các quỹ tín dụng nhân dân, vốn được coi là kênh dẫn vốn chủ yếu cho khu vực nông nghiệp.

Ba là, hiệu quả sản xuất nông nghiệp còn thấp, môi trường kinh doanh nhiều rủi ro do thiên tai, dịch bệnh… làm cho khách hàng khó thu hồi vốn để thanh toán nợ cho ngân hàng, khiến dòng vốn thương mại ít chảy vào đây.

Chỉ khơi thông vốn là đủ?

Theo một cán bộ của Ngân hàng Nhà nước, thị trường tài chính nông thôn hiện nay tiếp nhận khá nhiều nguồn vốn đa dạng như vốn ngân sách, vốn tín dụng nhà nước lãi suất ưu đãi cho các dự án, vốn tín dụng ưu đãi lãi suất cho vay hộ nghèo và đối tượng chính sách, vốn của các tổ chức và cá nhân đầu tư tại chỗ, vốn tín dụng thương mại của các tổ chức tín dụng, vốn ODA… nhưng đáng kể nhất vẫn là nguồn vốn của Agribank, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và VBSP.

Cụ thể: Agribank có số dư hiện khoảng 225 nghìn tỷ đồng, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân khoảng 20 nghìn tỷ đồng và VBSP ước 46 nghìn tỷ đồng.

Trong số đó, chỉ có hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và VBSP dành tỷ trọng vốn lớn cho hộ sản xuất và đối tượng chính sách. Đối với Agribank, tuy có nguồn vốn lớn nhưng tỷ trọng dành cho nông thôn đang dần co lại và hướng nhiều hơn đến khách hàng phi nông nghiệp. Sở dĩ như vậy là bởi chi nhánh của Agribank tại các tỉnh kinh tế phát triển và thành phố trực thuộc Trung ương cũng phải cho vay vào đối tượng khách hàng như các ngân hàng thương mại khác.

Ngoài ra, trong một số trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước có chỉ đạo các ngân hàng thương mại tập trung hỗ trợ vốn cho một số hoạt động của khu vực nông nghiệp nông thôn. Chẳng hạn, 6 tháng đầu 2008, các ngân hàng thương mại cho vay 6.600 tỷ đồng mua 16 triệu tấn lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long và 1.000 tỷ đồng mua cá tra, basa cho nông dân…

Qua phân tích con số nêu trên, có thể thấy việc tiếp cận vốn của khu vực nông thôn chiếm tỷ trọng thấp so với các lĩnh vực phi nông nghiệp và chủ yếu là từ nguồn vốn phúc lợi, còn vốn thương mại rất mỏng.

Tại sao như vậy? Ông Nguyễn Sơn Tường, Vụ Chiến lược và Phát triển ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước) phân tích: lãi suất cho vay thương mại khu vực nông thôn không đủ bù đắp chi phí hoạt động, do địa bàn rộng lớn, bên cạnh rủi ro như bất kỳ loại hình rủi ro tài chính nào thì còn phải hứng chịu các rủi ro khác về sâu bệnh, thiên tai,…

Những điều ông Tường nói không phải không có lý khi nhìn vào thực tế sản xuất nông nghiệp hiện nay, bóng dáng của “công nghiệp hóa, hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp” vẫn chưa thấy đâu mà thay vào đó là sự nhỏ lẻ, manh mún và điệp khúc “trồng - chặt” hay “đào - lấp”.

Ông Tường cho rằng, cùng với việc mở cửa nền kinh tế, Chính phủ sẽ ngày càng ít can thiệp trực tiếp vào giá cả và điều này đồng nghĩa, nông dân sẽ đối mặt nhiều hơn, gay gắt hơn với bất ổn của thị trường thế giới.

Trong khi đó, canh tác cây lâu năm lại có xu hướng phát triển vào thời kỳ đỉnh điểm của giá cả, gặp khi cung lớn hơn cầu, hàng hóa khó tiêu thụ, nông dân lại phải chặt cây, trồng loại cây khác. Thực trạng này diễn ra tương tự với với cà phê, hồ tiêu, lúa và cả tôm cá.

Chưa kể, việc canh tác hết sức manh mún đã bóp chết những ý định làm ăn lớn. Từ thời Pháp thuộc, chỉ có 2,7 triệu mảnh ruộng nhưng hiện tại, mặc dù quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, đất nông nghiệp bị thu hẹp đáng kể nhưng số lượng mảnh ruộng lại gia tăng lên 3,5 – 3,7 triệu mảnh!

Điều này cho thấy, nếu không giải quyết được vấn đề tích tụ ruộng đất, gia tăng thời hạn sử dụng đất nông nghiệp nhiều hơn so với thời hạn hiện nay thì khó nói đến chuyện sản xuất lớn nông nghiệp. Một khi sản xuất nông nghiệp vẫn chưa được “công nghiệp hóa” thì phân bổ chi phí vào mỗi đơn vị sản phẩm sẽ rất cao, sản phẩm khó cạnh tranh, lợi nhuận thấp và vốn thương mại vẫn tiếp tục rời xa ngành này.

Từ thực tế này, nhiều ý kiến cho rằng, trước khi bàn chuyện khơi thông vốn cho “tam nông”, cần phải giải quyết những bất cập trong lĩnh vực nông nghiệp, để dòng vốn chảy vào đây không những không làm méo mó quy luật cung cầu vốn mà còn phát huy được hiệu quả của chúng.

“Tam nông” không chỉ cần vốn

,

Gần đây, “tam nông” (nông nghiệp - nông dân - nông thôn) là một trong những vấn đề thảo luận nóng hổi, từ các diễn đàn khoa học đến chương trình làm việc của Chính phủ cũng như Quốc hội.



Trong đó, vấn đề giải quyết bài toán vốn đầu tư cho nông nghiệp được đề cập rất nhiều và đa số ý kiến đều cho rằng, đây là một trong những trở ngại lớn trong việc đưa nông nghiệp trở thành nền sản xuất hàng hóa, đảm bảo tính bền vững cho ngành này khi hội nhập sâu vào kinh tế thế giới.

Vốn đầu tư chiếm tỷ trọng thấp

Theo bà Trịnh Ngọc Lan (Ngân hàng Nhà nước - Chi nhánh Hà Nội), ước đến hết tháng 6/2008, dư nợ cho vay đối với hộ sản xuất của Agribank, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Chính sách xã hội (VBSP) cho vay hộ nghèo cùng với đối tượng chính sách khoảng 181.500 tỷ đồng, chiếm 17%/tổng dư nợ cho vay các thành kinh tế khác của các tổ chức tín dụng (tổ chức tín dụng).

Một thống kê khác của Trung tâm Thông tin tín dụng (Ngân hàng Nhà nước) cũng cho thấy, tính đến tháng 6/2008, cơ cấu tín dụng dành cho Tp.HCM và Hà Nội chiếm 54%/tổng dư nợ cho vay của toàn hệ thống ngân hàng.

So với khu vực duyên hải miền Trung: 7%, Bắc Trung Bộ: 4%, Đông Bắc bộ: 4%, Tây nguyên: 3% và Tây Bắc: 1% thì phần lớn thị phần dư nợ đều dành cho thành phố, còn dư nợ cho vùng nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là miền núi chiếm tỷ lệ rất thấp.

Đồng tình với quan điểm này, ông Trần Văn Tần, Vụ Tín dụng (Ngân hàng Nhà nước) cho biết thêm: “Tốc độ tăng trưởng bình quân trong cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp nông thôn của 10 năm qua chỉ 22%/năm, thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng bình quân chung của cho vay toàn bộ nền kinh tế là 25%/năm”.

Theo các chuyên gia, thực trạng thị trường tài chính khu vực nông thôn hiện còn tồn tại khá nhiều bất cập.

Một là sự chu chuyển vốn ngược. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, tích lũy trung bình mỗi người khu vực nông thôn chưa đến 800 nghìn đồng/năm. Với mức tích lũy này, thật khó để nói đến chuyện tái đầu tư, nhất là trong điều kiện lạm phát hiện nay.

Trong khi đó, đáng lẽ cần phải chuyển vốn từ thành thị về nông thôn thì hiện tại đang diễn ra ngược lại: thông qua việc điều chuyển vốn trong nội bộ hệ thống các tổ chức tín dụng, một lượng tiền gửi dân cư khá lớn từ nông thôn đã bị chuyển ngược ra thành thị.

Hai là, trong 6 tháng đầu 2008, hoạt động thị trường tiền tệ diễn ra rất phức tạp, đặc biệt là cạnh tranh lãi suất. Nhiều ngân hàng thương mại (ngân hàng thương mại) đua nhau tăng lãi suất và hút bớt một lượng tiền khá lớn từ các quỹ tín dụng nhân dân, vốn được coi là kênh dẫn vốn chủ yếu cho khu vực nông nghiệp.

Ba là, hiệu quả sản xuất nông nghiệp còn thấp, môi trường kinh doanh nhiều rủi ro do thiên tai, dịch bệnh… làm cho khách hàng khó thu hồi vốn để thanh toán nợ cho ngân hàng, khiến dòng vốn thương mại ít chảy vào đây.

Chỉ khơi thông vốn là đủ?

Theo một cán bộ của Ngân hàng Nhà nước, thị trường tài chính nông thôn hiện nay tiếp nhận khá nhiều nguồn vốn đa dạng như vốn ngân sách, vốn tín dụng nhà nước lãi suất ưu đãi cho các dự án, vốn tín dụng ưu đãi lãi suất cho vay hộ nghèo và đối tượng chính sách, vốn của các tổ chức và cá nhân đầu tư tại chỗ, vốn tín dụng thương mại của các tổ chức tín dụng, vốn ODA… nhưng đáng kể nhất vẫn là nguồn vốn của Agribank, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và VBSP.

Cụ thể: Agribank có số dư hiện khoảng 225 nghìn tỷ đồng, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân khoảng 20 nghìn tỷ đồng và VBSP ước 46 nghìn tỷ đồng.

Trong số đó, chỉ có hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và VBSP dành tỷ trọng vốn lớn cho hộ sản xuất và đối tượng chính sách. Đối với Agribank, tuy có nguồn vốn lớn nhưng tỷ trọng dành cho nông thôn đang dần co lại và hướng nhiều hơn đến khách hàng phi nông nghiệp. Sở dĩ như vậy là bởi chi nhánh của Agribank tại các tỉnh kinh tế phát triển và thành phố trực thuộc Trung ương cũng phải cho vay vào đối tượng khách hàng như các ngân hàng thương mại khác.

Ngoài ra, trong một số trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước có chỉ đạo các ngân hàng thương mại tập trung hỗ trợ vốn cho một số hoạt động của khu vực nông nghiệp nông thôn. Chẳng hạn, 6 tháng đầu 2008, các ngân hàng thương mại cho vay 6.600 tỷ đồng mua 16 triệu tấn lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long và 1.000 tỷ đồng mua cá tra, basa cho nông dân…

Qua phân tích con số nêu trên, có thể thấy việc tiếp cận vốn của khu vực nông thôn chiếm tỷ trọng thấp so với các lĩnh vực phi nông nghiệp và chủ yếu là từ nguồn vốn phúc lợi, còn vốn thương mại rất mỏng.

Tại sao như vậy? Ông Nguyễn Sơn Tường, Vụ Chiến lược và Phát triển ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước) phân tích: lãi suất cho vay thương mại khu vực nông thôn không đủ bù đắp chi phí hoạt động, do địa bàn rộng lớn, bên cạnh rủi ro như bất kỳ loại hình rủi ro tài chính nào thì còn phải hứng chịu các rủi ro khác về sâu bệnh, thiên tai,…

Những điều ông Tường nói không phải không có lý khi nhìn vào thực tế sản xuất nông nghiệp hiện nay, bóng dáng của “công nghiệp hóa, hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp” vẫn chưa thấy đâu mà thay vào đó là sự nhỏ lẻ, manh mún và điệp khúc “trồng - chặt” hay “đào - lấp”.

Ông Tường cho rằng, cùng với việc mở cửa nền kinh tế, Chính phủ sẽ ngày càng ít can thiệp trực tiếp vào giá cả và điều này đồng nghĩa, nông dân sẽ đối mặt nhiều hơn, gay gắt hơn với bất ổn của thị trường thế giới.

Trong khi đó, canh tác cây lâu năm lại có xu hướng phát triển vào thời kỳ đỉnh điểm của giá cả, gặp khi cung lớn hơn cầu, hàng hóa khó tiêu thụ, nông dân lại phải chặt cây, trồng loại cây khác. Thực trạng này diễn ra tương tự với với cà phê, hồ tiêu, lúa và cả tôm cá.

Chưa kể, việc canh tác hết sức manh mún đã bóp chết những ý định làm ăn lớn. Từ thời Pháp thuộc, chỉ có 2,7 triệu mảnh ruộng nhưng hiện tại, mặc dù quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, đất nông nghiệp bị thu hẹp đáng kể nhưng số lượng mảnh ruộng lại gia tăng lên 3,5 – 3,7 triệu mảnh!

Điều này cho thấy, nếu không giải quyết được vấn đề tích tụ ruộng đất, gia tăng thời hạn sử dụng đất nông nghiệp nhiều hơn so với thời hạn hiện nay thì khó nói đến chuyện sản xuất lớn nông nghiệp. Một khi sản xuất nông nghiệp vẫn chưa được “công nghiệp hóa” thì phân bổ chi phí vào mỗi đơn vị sản phẩm sẽ rất cao, sản phẩm khó cạnh tranh, lợi nhuận thấp và vốn thương mại vẫn tiếp tục rời xa ngành này.

Từ thực tế này, nhiều ý kiến cho rằng, trước khi bàn chuyện khơi thông vốn cho “tam nông”, cần phải giải quyết những bất cập trong lĩnh vực nông nghiệp, để dòng vốn chảy vào đây không những không làm méo mó quy luật cung cầu vốn mà còn phát huy được hiệu quả của chúng.

Ai chia gánh nặng oằn vai nông dân?

,

Người nông dân muốn bỏ ruộng mà đi, người nuôi cá thấy con cá thành gánh nợ và người trồng rau thấy "sa lầy" trên những luống rau của mình... là thực tế đau lòng đang diễn ra. Ai sẽ chìa vai chia sẻ những gánh nặng oằn trên vai những người nông dân ấy?


"Đứng trước mâm cỗ mà không được ăn"

Những đầm cá tra quá lứa, dù đã kí hợp đồng thu mua vẫn không ai đến bắt. Người nông dân năm lần, bảy lượt tìm DN hỏi và chỉ nhận được câu trả lời: ĐỢI. Tự nguyện hoặc bị cưỡng ép, họ buộc phải viết đơn xin giảm giá bán, điều chỉnh hợp đồng chỉ mong DN sớm đến bắt cá. Một chữ ký đồng nghĩa với mất đi gần trăm triệu đồng nhưng họ vẫn phải ngậm ngùi đặt bút...

"Con cá tra thành của nợ" mà "hầu hết nông dân đều muốn tìm cách rũ ra nhanh nhất", Thời báo Kinh tế Sài Gòn nhận định.

Cùng lúc đó, người trồng lúa cũng điêu đứng, ngay cả khi được mùa. Với quyết định thu thuế xuất khẩu gạo mới được đưa ra, các DN lập tức ngưng thu mua chờ hướng dẫn của Bộ Tài chính. Giá lúa đang giảm dần mà cũng không ai chịu thu mua cho nông dân. Chưa biết sự tình sẽ đi đến đâu, nhưng giám đốc một DN xuất khẩu gạo đã nhận định: "trước mắt, nông dân sẽ phải gánh khoản thuế này".

Tình trạng người trồng rau, trồng lúa, nuôi cá... không khác nhau bao nhiêu, "giống đứa trẻ đứng trước mâm cỗ mà không được ăn". Mất mùa đã khổ, được mùa cũng không sướng hơn là bao. Con đường thoát khỏi cảnh chịu thiệt ấy vẫn tắc, trong khi đời sống của họ ngày càng khó khăn hơn.

Cách đây 3 tháng, người nông dân ở Đồng Tháp, ông Lê Văn Lam đã mạnh bạo gửi thư tới Thủ tướng, "kêu khổ" giúp người nông dân. Trong thư ông viết, "lúa đem về nhà chưa ấm chỗ đã bị ngân hàng tới đòi, các chủ cửa hàng vật tư đến nhắc nhở số tiền nợ vụ vừa rồi". Ông chua chát "nông dân mấy chục năm làm lúa cũng chỉ đủ ăn là mừng..."

Trong bối cảnh lạm phát tăng cao, theo hình thẳng đứng, dù gần đây gia tốc tăng có giảm lại, thì đủ ăn cũng trở thành giấc mơ của các hộ nông dân.

"Lạm phát cuối năm 2008 dự báo khoảng 30%. Nói cách khác, thu nhập của dân cư tự nhiên mất 30%, chưa nói tới thu nhập mất do mất việc làm hoặc giảm lương. Số hộ cận nghèo bị giảm thu nhập nói trên sẽ bổ sung vào số hộ nghèo, làm cho danh sách đã dày lại càng dày thêm", Thời báo Kinh tế Sài Gòn dẫn lời một chuyên gia kinh tế.

Ts. Nguyễn Hải Hữu, Cục trưởng Cục Bảo trợ xã hội, Bộ LĐ-TB-XH cho rằng, ngay cả khi thu nhập của người dân tăng lên, nếu trừ đi mức tăng giá của lạm phát, chất lượng sống của người dân về cơ bản không được nâng lên. Ngay cả khi lạm phát giữ được mức như hiện nay, thì đến cuối năm, tỷ lệ nghèo đói của Việt Nam có thể tăng tới 6-7% so với năm ngoái.

Tuy nhiên, con số này mới chỉ là đối chiếu với chuẩn nghèo của Việt Nam. Nếu so với tiêu chí 2 USD/người/ngày của chuẩn nghèo thế giới, con số người nghèo của Việt Nam sẽ lớn hơn nhiều, lên tới hàng triệu người, mà đa số họ là nông dân. Ts Nguyễn Quang A cho rằng, bản thân con số hàng triệu người này gắn với vấn đề chính trị - xã hội phức tạp, đòi hỏi Nhà nước cần sớm có biện pháp giải quyết.

Những tấm khiên che chắn

"Yếu tố quyết định để giải quyết câu chuyện này chính là xã hội quan tâm đến đâu cho nông dân, cho người nghèo. Nếu ta may cho họ cái áo hoặc ít ra chuẩn bị vải, cúc, kim chỉ thì họ sẽ chống được rét". Trong quá trình phát triển, chiếc áo bảo hộ của người nông dân đã bị tả tơi.

"Đừng để quá lạnh mới thấy họ thiếu áo", lời nhắn gửi của Gs. - Viện sĩ Đào Thế Tuấn, Chủ tịch Hội phát triển nông thôn, nguyên Viện trưởng Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp hồi đầu năm 2008, khi thời tiết rét đậm đến thời điểm này vẫn còn nguyên giá trị thời sự.

Những chính sách hỗ trợ cần được đưa ra và triển khai thực tế, gấp rút như cứu hỏa. "Không thể chỉ trông chờ ở Nhà nước. Đó là trách nhiệm của từng địa phương, thôn bản, gắn với trách nhiệm cá nhân người đứng đầu. Một thôn, một bản chưa làm được, cũng cần phải xử lý kịp thời", Ts. Lê Đăng Doanh từng nói. "Chính sách đã có, vấn đề còn lại là thực hiện. Nhà nước sẽ đóng vai trò giám sát, đôn đốc, kiểm tra".

Câu chuyện tại xã nghèo nhất của tỉnh Bắc Giang, nơi 1300 hộ gia đình đã phải 6 tháng sống trong cảnh tối tăm bởi không một giọt dầu... dù nhà nước đã có chính sách hỗ trợ mỗi gia đình 5 lít dầu mỗi tháng là bài học thấm thía về việc chính sách đi vào đời sống. Một cuộc điện thoại chỉ đạo của tân Chủ tịch, chỉ 2 giờ sau, 1300 hộ dân có dầu thắp, vậy mà suốt 6 tháng người dân phải đợi chờ trong mỏi mòn mà không biết kêu ai.

Chính sách hỗ trợ diezel cho ngư dân dù có từ lâu nhưng ngay cả đợt hỗ trợ ban đầu, người dân cũng chưa được thụ hưởng, bởi sự phức tạp của quản lý hành chính...

Trong khi đó, theo ghi nhận của Viện Quản lý kinh tế trung ương qua khảo sát ở các địa phương, ngay trong năm 2007, Việt Nam đã có một số vùng thiếu đói.

"Rất cần những tấm khiên che chắn cho người nghèo, nhất là người dân nông thôn, vùng sâu vùng xa, giúp họ giảm sốc do lạm phát", nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng nói.

Một hệ thống an sinh căn cơ, hiện đại cần được thiết lập, như một ngôi nhà vững chãi được thiết kế sẵn hệ thống báo bão và chống bão thay thế hệ thống an sinh truyền thống lụp xụp giống ngôi nhà tranh lợp tạm bằng những vật liệu sẵn có, loay hoay chống đỡ từng góc nhà tùy theo hướng tấn công của bão như hiện nay.

"Một hệ thống an sinh vững vàng thì không những cuộc sống nông dân không bị xáo động nhiều mà Chính phủ cũng sẽ dễ dàng vượt qua khủng hoảng". (Thời báo Kinh tế Sài Gòn).

Quan hệ đối tác DN - nông dân?

Để làm được điều đó cần không ít thời gian và những tính toán cẩn trọng. Trong khi đợi dựng khiên che chắn, mặc áo bảo hộ cho nông dân, trước mắt, rất cần những chính sách để họ được thụ hưởng chính thành quả lao động vất vả của mình, thay vì cảnh "đứng trước mâm cỗ mà không được ăn" như hiện nay.

Đơn cử, trong câu chuyện về con cá tra, khi hợp đồng mua bán kinh tế đã được kí kết, tại sao người ta có thể thay đổi dễ dàng đến thế mà không chịu sự ràng buộc pháp lý? Tại sao quan hệ giữa người mua - DN và kẻ bán - người nông dân lại nóng lạnh thất thường theo sự trồi sụt mang tính chu kì của thị trường?

Ở Việt Nam, trong cuộc doanh thương, người nông dân vẫn chưa được xem là một đối tác bình đẳng, để đàm phán và giao thương. Quan hệ giữa họ với DN dường như vẫn nghiêng về hình thức ban ơn và nhận ơn, cho và nhận...

Nếu như "nông dân Việt Nam là những người tự do nhất thế giới, muốn trồng cây gì, nuôi con gì thì làm mà không biết bán cho ai, bán bao nhiêu. Tới lúc thu hoạch là lo gấp rút bán cho thương lái...", theo nhận định của Giáo sư Võ Tòng Xuân, thì các DN Việt Nam hiện nay đang làm vai trò của thương lái, nhiều hơn là người biết làm ăn thực thụ, lâu dài, có chiến lược rõ ràng. Các DN đều không có vùng nguyên liệu cho mình.

Nhìn sang các nước, những nền nông nghiệp thành công là khi quan hệ giữa DN và nông dân thực sự là đối tác. Những người nông dân với vùng đất của họ trở thành vùng nguyên liệu đảm bảo cho DN phát triển, giảm thiểu những tác động trồi sụt của thị trường.

Cách làm tự phát, thiếu gắn kết, thiếu định hướng, hướng dẫn hiện nay đẩy người nông dân vào thế bị ép và phải chấp nhận thua thiệt mọi bề. Theo ông Xuân, chừng nào tình trạng mua đứt, bán đoạn còn chưa chấm dứt, thì người nông dân vẫn ở bi kịch và nền nông nghiệp Việt Nam không thể khá lên.

Để nông dân và DN cùng hưởng lợi, theo ông Xuân, cần thiết lập mối gắn bó giữa DN và nông dân với tư cách người sản xuất và vùng nguyên liệu. Người nông dân cũng không làm ăn cá thể nữa, tập hợp với nhau thành các HTX kiểu mới, gắn kết có sức mạnh hơn trong định giá.

* Phương Loan
Nguon: http://www.tuanvietnam.net//vn/sukiennonghomnay/4493/index.aspx
December 2009
M T W T F S S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31