Skip navigation

Sign up | Lost password? | Help

Củ khoai info

Tìm kiếm, liên kết, thu thập, đọc, viết, tổng hợp lại... những vấn đề văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội.

STICKY POST

News Portal...

Kinh tế Việt Nam nửa cuối 2009 - Nguy cơ rình rập! (kỳ 3)

,

Tình hình kinh tế VN: Một bộ phận qua đáy suy giảm.

Báo cáo của Tổng cục Thống kê về tình hình kinh tế sáu tháng đầu năm cho thấy nhiều ngành, lĩnh vực đã có dấu hiệu tăng trưởng trở lại. Liệu nền kinh tế VN đã vượt qua đáy suy giảm và bắt đầu phục hồi? Trao đổi với Tuổi Trẻ, TS Lê Đăng Doanh - Viện Nghiên cứu phát triển (IDS) - phân tích:

- Báo cáo của Tổng cục Thống kê cho thấy tăng trưởng GDP của VN quý 2 đã cao hơn quý trước, từ 3,1% lên 4,5%. Sản lượng công nghiệp cũng tăng đáng kể, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản ấm lên, nhập siêu tăng trở lại, đặc biệt nhập khẩu các mặt hàng phục vụ sản xuất, xây dựng chứng tỏ sản xuất kinh doanh tại khu vực đó có phục hồi... Đó là những tín hiệu đáng mừng, phần nào thể hiện nội lực của nền kinh tế và năng lực của Chính phủ.

Tuy nhiên, báo cáo của Tổng cục Thống kê cho thấy sự hồi phục kinh tế VN thời gian qua chưa đều, nhiều lĩnh vực chưa thật sự qua đáy của suy giảm kinh tế. Xuất khẩu vẫn giảm, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm khoảng 20% tổng đầu tư toàn xã hội giảm cả vốn đăng ký lẫn giải ngân so với năm trước. Chúng ta chưa có báo cáo rõ ràng về vấn đề việc làm nên theo tôi, đánh giá tình hình kinh tế sắp tới vẫn cần cẩn trọng, tỉnh táo, tránh chung chung.

* Nhiều ý kiến cho rằng xuất khẩu giảm có nghĩa một bộ phận sản xuất của nền kinh tế chưa thể phục hồi?

- Khó có thể khẳng định như thế, nhưng rõ ràng sản xuất xuất khẩu đang giữ vai trò hết sức to lớn trong nền kinh tế VN. Các doanh nghiệp ở khu vực này đóng góp cỡ 70% GDP, tạo nguồn thu ngân sách, nguồn công ăn việc làm rất quan trọng. Khi xuất khẩu chưa tăng trở lại có nghĩa một phần lớn các doanh nghiệp vẫn đang phải sản xuất dưới công suất, gặp khó trong lấy lại sức cạnh tranh... Nghĩa là khó khăn chưa thật đi qua hết.

* Thực tế các doanh nghiệp vừa và nhỏ, làng nghề... vốn bị tác động rất mạnh của khủng hoảng nhưng chúng ta cũng chưa có số liệu cụ thể. Đời sống của nông dân cũng thế?

- Doanh nghiệp nhỏ và vừa không thể phủ định đã bị tác động từ khủng hoảng kinh tế rất nặng. Nhiều làng nghề phải đóng cửa do không có đặt hàng. Mức độ hồi phục của các đơn vị này khó có thể nhanh hơn khu vực doanh nghiệp xuất khẩu có quy mô lớn được. Về đời sống bà con nông dân, khi nhiều mặt hàng nông sản khó bán hoặc phải bán giá thấp thì chắc chắn có ảnh hưởng. Khi kinh tế có một vài điểm sáng phục hồi, lợi ích có đến ngay với họ không, câu trả lời sẽ là chậm. Vì chúng ta chưa gắn kết chặt chẽ được nguồn lợi to lớn từ các hợp đồng xuất khẩu với sản xuất của bà con. Bà con thường được hưởng một phần không lớn. Các hiệp hội như xuất khẩu gạo, hiệp hội hạt điều, cà phê... nhìn kỹ đều là đại diện cho quyền lợi của doanh nghiệp xuất khẩu chứ chưa phải của bà con.

Nên lợi nhuận lớn từ xuất khẩu còn khoảng cách rất xa mới tới người trực tiếp làm ra sản phẩm.

* Đã có nhiều ý kiến cảnh báo: lạm phát có nguy cơ quay trở lại. Ông nhận xét như thế nào về điều này?

- Chỉ số giá sáu tháng đầu năm so với tháng 12-2008 tăng 2,68% nhưng so với cùng kỳ năm trước đã tăng trên 10%. Chỉ trong nửa năm, cung tiền tăng tới 16-17% so với cùng kỳ năm 2008. Vốn kích cầu đã tung ra đến trên 360.000 tỉ đồng. Đây là nguy cơ lạm phát không thể bỏ qua. Đặc biệt giá xăng dầu thế giới đang có xu hướng tăng. Nên sắp tới việc ổn định kinh tế vĩ mô cần làm nhưng cụ thể hơn, theo tôi, phải xem xét hiệu quả của các doanh nghiệp độc quyền trong một số lĩnh vực. Như xăng dầu, giá thế giới tăng thì ta tăng nhanh theo hình mũi tên nhưng giá thế giới giảm, ta chỉ giảm theo hình chữ L chứ không phải chữ V. Điều này làm chi phí sản xuất của doanh nghiệp VN cao hơn các nước. Hiện tại giá xăng dầu của VN đã cao hơn Singapore và một số nước ASEAN.

* Để giúp đỡ các doanh nghiệp sản xuất, những nơi chưa qua đáy suy giảm, theo ông, phải làm gì?

- Chúng ta đã hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn lưu động, rồi giảm, giãn thuế... Nhưng việc cần làm hơn lúc này không phải là cho tiền nữa mà giúp họ tái cơ cấu doanh nghiệp. Nếu cách làm cũ, công nghệ lạc hậu, sức cạnh tranh kém, ta cứ cho tiền chưa hẳn đã là giúp nền kinh tế. Nếu hỗ trợ để họ đổi mới công nghệ, giảm tiêu thụ điện, đất đai, vốn, nước... trên một đơn vị sản phẩm, giúp tăng khả năng quản trị thì mở ra tương lai có tiền cho doanh nghiệp. Khi kinh tế suy giảm, công nhân về quê, những người cho thuê nhà, xe ôm, quán tạp hóa, cơm hộp... cũng khó khăn nhưng chúng ta lại chưa hề có khảo sát và hỗ trợ những người này. Theo tôi, phải tính đến họ.

Song bài toán quan trọng hàng đầu lúc này, theo tôi, khi khủng hoảng có những diễn biến rất nhanh và phức tạp, chúng ta cần có đề án tái cơ cấu nền kinh tế. Đề án này phải nhanh, đúng chỗ và kịp thời để VN không bị lỡ bước khi các nước khác đi lên.

* Ông Nguyễn Đình Cung (viện phó Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế T.Ư):

Lạm phát sẽ khó trên 10%

Tình hình hiện tại khó có thể nói là khu vực dịch vụ du lịch đã được phục hồi, đặc biệt là với khu vực doanh nghiệp lữ hành quốc tế. Các doanh nghiệp có thể chịu ảnh hưởng từ nhiều vấn đề khác nhau và các tác động có thể ảnh hưởng theo dây chuyền. Trong tình hình thế giới chưa phải đã phục hồi hoàn toàn như hiện nay, nhiều doanh nghiệp phụ thuộc hoàn toàn vào xuất khẩu sẽ khó có thể xoay chuyển tình hình trong vòng vài tháng.

Về tình hình lạm phát, có ý kiến cho rằng trong năm 2009 sẽ khó lòng tăng cao trên 10% trở lại. Theo tôi, khi tăng trưởng kinh tế chúng ta chỉ ở khoảng 5% thì lạm phát lên đến trên 7-8% đã là cao. Với đà hiện tại lạm phát khó trên 10% nếu chúng ta quyết tâm giữ ổn định. Tuy nhiên, cũng cần cảnh giác với các yếu tố như tăng giá dầu, vấn đề hậu giải ngân vốn kích cầu để giữ lạm phát ở mức hợp lý.

* TS Bùi Quang Tuấn (viện phó Viện Kinh tế VN):

Sẽ còn nhiều khó khăn

Theo tôi, nền kinh tế VN sắp tới còn nhiều khó khăn, tăng trưởng quý 2 có cao hơn quý 1 nhưng không mạnh. Một số quan điểm lạc quan cho rằng chúng ta đã đi qua đáy của cuộc khủng hoảng kinh tế. Tuy nhiên, cần phân biệt quan điểm về đáy của khủng hoảng như thế nào? Nếu là đáy về tốc độ tăng trưởng thì có thể, vì tăng trưởng đã tăng lên. Nhưng về một số vấn đề khác như việc làm thì không phải như vậy. Theo tôi, số người mất việc làm hoặc khó khăn về việc làm năm 2010 có thể còn cao hơn năm 2009.



Nguon: http://www.baomoi.com/Home/KinhTe/tuoitre.com.vn/Tinh-hinh-kinh-te-VN-Mot-bo-phan-qua-day-suy-giam/2897052.epi

Kinh tế Việt Nam nửa cuối 2009 - Nguy cơ rình rập! (kỳ 2)

,

Wall Street Journal
JULY 2, 2009

Danger Signs Seen in Vietnam Stimulus

By JAMES HOOKWAY and PATRICK BARTA

HANOI -- Vietnam boasts one of the developing world's most resilient economies this year, but economists fear the success masks serious problems, as loose state-directed lending risks pushing Vietnam into a new speculative bubble.

Those concerns were highlighted Tuesday, when Fitch Ratings downgraded Vietnam's local currency rating, citing "a steady deterioration in the country's fiscal position" and a banking system that's "vulnerable to potential systemic stress" as the government floods the economy with credit.

Similar worries affect the U.S. and China, which are under pressure to prepare to pull in the reins of government stimulus. But the fears are especially pronounced in Vietnam, one of the most-closely watched emerging economies and an increasingly important magnet for foreign direct investment. Much of its economy is dominated by state enterprises that have a history of making ill-advised investments outside their core businesses, which have contributed to past speculative behavior and bouts of overheating.
.
Since the onset of the global economic crisis, state banks have poured at least $19 billion in loans into the economy, equivalent to about one-fifth of the country's annual gross domestic product, according to the government. The money is a key plank of a stimulus program in which the state provides interest-rate subsidies to banks so they can make more loans to help state enterprises and exporters.

The measures appear to be paying off in the short term, with the International Monetary Fund forecasting growth of 3.3% this year, while neighbors such as Thailand and Malaysia face steep contractions.

On Wednesday, the government said GDP expanded 3.9% in the first half of the year compared with a year earlier, with growth accelerating to 4.5% in the second quarter from 3.1% during the first quarter. Vietnam's economy expanded 6.2% in 2008 and 8.5% in 2007.

Stock market prices are also sharply higher, with Vietnam's benchmark index up 86% since the beginning of March. Residential property prices are climbing in many parts of Hanoi, the capital, and Ho Chi Minh City, the center of commerce and home to the stock exchange, economists say.

Providing lots of credit is "a good strategy. Our stimulus measures force banks to lend productively," says Le Xuan Nghia, vice chairman of the National Financial Supervisory Commission, one of the country's main financial regulators.

But with so much money being funneled into the economy, many people on the street fear a return of inflation, which accelerated to 28% in mid-2008 before easing to 5.6% in May.

Many Vietnamese are responding by investing whatever cash they can scrape together as fears about inflation revive. In the dust-choked eastern suburbs of Hanoi, for instance, a property boom is in full swing. A series of state and privately owned companies are erecting an arc of satellite towns in the area to ease congestion in old Hanoi, where cars and delivery trucks struggle to squeeze past swarms of motor-scooters and bicycles.

Nguyen Thi Huyen, a broker for the Van Khe New Urban City project, says she is putting together 10 or more deals a month at the development, up from just two or three this time last year. Some units have changed hands five times or more and prices have risen six-fold since the project was launched at the peak of Vietnam's boom in 2007, she says.

Buyers are "worrying about inflation and want to invest their money somewhere safe," Ms. Huyen says, lighting a candle at a shrine in her office where several piles of facsimile $100 bills are stacked up for good luck.

Some economists in Vietnam fear the country's politicians are so enmeshed in their growth-oriented five-year economic plans that they won't be willing to turn off the stimulus tap until inflation has already reared its head again. In April, the government extended by two years a lending-stimulus program that pays four percentage points of interest on any loans by Vietnamese banks to the business sector, encouraging banks to lend more aggressively.

"They are trying to turn back the clock to 2006 and 2007, when the name of the game was exporting as much as possible to profligate Americans. But Americans might not resume spending again in the same way, and we could end up with a serious inflation problem again," says an economist with close knowledge of government thinking.

While the "government's been successful at stabilizing the economy" in recent months, officials "also need to consider the longer-term risks, such as excess liquidity in the banking system and its potential to spark inflation," says Tran Le Khanh, chief investment officer at Prudential Vietnam Fund Management, Prudential PLC's Vietnam fund business.

The World Bank cautioned the Vietnamese government in report last month that state-directed lending could be hampering overhauls at state enterprises, and Vietnam might instead want to focus on helping people who have lost their jobs in the downturn. "It might be good to pause and reflect whether sustaining economic activity should remain the single priority," the World Bank said.

Other analysts worry the lending spree could escalate bad debt problems in the banking sector. Officially, nonperforming loans stand at 2.6%, up from 2.2% at the end of last year. But Vietnam doesn't calculate bad-debt rates according to international standards. Fitch Ratings recently estimated the real figure may have been as high as 13% of total loans at the end of 2008. In its ratings downgrade Tuesday, it said the country's loan-subsidy program "is almost certain to make matters worse."

Một bản dịch (trên Dân Luận):

Những dấu hiệu nguy hiểm nhìn thấy từ chương trình kích thích kinh tế của Việt Nam

James Hookway và Patrick Barta

Hà Nội -- Việt Nam đang tự hào rằng mình là một trong những nền kinh tế có sức hồi phục nhanh nhất thế giới năm nay, nhưng các nhà kinh tế lo ngại rằng thành công này che đậy những vẫn đề nghiêm trọng, bởi việc cho vay một cách phóng túng theo chỉ đạo của nhà nước khiến Việt Nam có nguy cơ rơi vào một bong bóng đầu cơ mới.

Những lo ngại này được nhấn mạnh vào Thứ Ba (30/06/2009), khi Fitch Ratings đánh tụt hạng tỷ giá đồng nội tệ của Việt Nam, nói rằng "vị trí tài chính của đất nước này đang suy giảm đều đặn" và hệ thống ngân hàng mà "dễ bị tổn thương bởi áp lực tiềm tàng của toàn bộ hệ thống" khi nhà nước đang nhấn chìm nền kinh tế với tín dụng.

Những lo ngại tương tự cũng ảnh hưởng Hoa Kỳ và Trung Quốc, những quốc gia đang dưới sức ép để chuẩn bị rút bớt các chương trình kích thích kinh tế của mình. Nhưng nỗi lo ngại đặc biệt rõ rệt ở Việt Nam, một trong những nền kinh tế đang trỗi dậy được nhiều chú ý nhất, và là một điểm thu hút đầu tư nước ngoài ngày càng quan trọng. Phần lớn nền kinh tế của Việt Nam bị chi phối bởi các doanh nghiệp quốc danh vốn có lịch sử đưa ra những quyết định đầu tư sai lầm ngoài lĩnh vực kinh doanh chính của họ, điều đã góp phần vào hành vi đầu cơ và giai đoạn tăng trưởng nóng của nền kinh tế trong quá khứ.

Kể từ khi bắt đầu cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, các ngân hàng nhà nước đã đổ ít nhất 19 tỷ USD dưới dạng các khoản vay vào nền kinh tế, tương đương với khoảng một phần năm tổng sản phẩm quốc nội hàng năm của quốc gia này, theo báo cáo của chính phủ. Khoản tiền này là phần chủ yếu của chương trình kích thích kinh tế, trong đó nhà nước hỗ trợ lãi suất cho các ngân hàng, để họ có thể tạo ra nhiều khoản cho vay giúp các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp xuất khẩu.

Biện pháp này tỏ ra có hiệu quả trong ngắn hạn, khi Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) ước tính tốc độ tăng trưởng năm nay của Việt Nam là 3,3%, trong khi các quốc gia láng giềng như Thái Lan và Malaysia đối mặt với tăng trưởng âm sâu.

Vào thứ Tư, chính phủ nói GDP tăng 3,9% so với năm ngoái trong nửa đầu của năm, với tốc độ tăng lên đến 4,5% trong quý II, so với con số 3,1% của quý I. Kinh tế Việt Nam tăng 6,2% năm 2008 và 8,5% trong năm 2007.

Giá cổ phiếu trên thị trường cũng tăng cao rõ rệt, khi mà chỉ số chứng khoán Việt Nam tăng 86% kể từ bắt đầu tháng Ba. Giá nhà ở cũng leo cao ở nhiều khu vực tại thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm thương mại và trung tâm của thị trường chứng khoán, các nhà kinh tế cho biết.

Cung cấp tín dụng thật nhiều là "một chiến lược tốt. Biện pháp kích thích kinh tế của chúng tôi buộc các ngân hàng phải cho vay một cách hiệu quả", theo ông Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, một trong những cơ quan quản lý tài chính chính của Việt Nam.

Nhưng với khoản tiền lớn như thế được đưa vào nền kinh tế, nhiều người dân thường lo ngại lạm phát quay trở lại: lạm phát đã từng tăng tới 28% giữa năm 2008 trước khi trở lại 5,6% vào tháng Năm.

Nhiều người Việt Nam đang đối phó bằng cách đầu tư tất cả những khoản tiền mà họ có thể cóp nhặt được, trước nỗi sợ lạm phát tăng trở lại. Ví dụ như tại những khu đô thị còn lấm đất ở phía Đông Hà Nội, bong bóng nhà đất đã tăng hết tốc lực. Hàng loạt các công ty tư nhân và quốc doanh đang dựng lên một vòng cung các thành phố vệ tinh tại khu vực này để giảm bớt tắc nghẽn ở Hà Nội, nơi ô tô và xe tải phải nỗ lực để vượt qua hàng đàn xe máy và xe đạp.

Nguyễn Thị Huyền, một môi giới trong dự án Đô Thị Mới Văn Khê, nói rằng chị ta đã môi giới thành công 10 giao dịch hoặc hơn tại đây, hơn nhiều so với chỉ 2-3 giao dịch thời điểm này năm ngoái. Một số đơn vị đã qua tay tới 5 lần hoặc hơn, và giá tăng gấp 6 lần kể từ khi dự án được khởi động vào thời điểm đỉnh cao của bong bóng năm 2007, chị Huyền nói.

Những người mua đang "lo sợ lạm phát và muốn đầu tư tiền của họ vào nơi nào đó an toàn", chị Huyền cho biết, châm một cây nến rọi sáng văn phòng của mình, nơi hàng chồng 100 USD giả được bày để lấy may.

Một số nhà kinh tế ở Việt Nam lo ngại rằng các chính trị gia tại đây đang vướng vào các kế hoạch phát triển kinh tế 5-năm theo hướng ưu tiên tăng trưởng tới mức họ không sẵn sàng tắt "vòi" kích thích kinh tế cho tới khi lạm phát ngập tới đầu của họ một lần nữa. Vào tháng Tư, chính phủ đã ra hạn 2 năm đối với chương trình cho vay kích thích kinh tế, trong đó trả 4 điểm phần trăm lãi suất cho bất kỳ khoản vay nào mà ngân hàng Việt Nam dành cho lĩnh vực kinh doanh, khuyến khích các ngân hàng cho vay mạnh bạo hơn.

"Họ đang cố găng quay ngược kim đồng hồ lại thời điểm 2006 và 2007, khi mà mục tiêu chính của trò chơi là xuất khẩu càng nhiều càng tốt sang nước Mỹ đang tiêu hoang. Nhưng Hoa Kỳ có lẽ sẽ không thể tiếp tục chi tiêu như trước nữa, và chúng ta có thể sẽ phải đối mặt với lạm phát nghiêm trọng một lần nữa", một nhà kinh tế có hiểu biết sâu sắc về cách suy nghĩ của chính phủ cho biết.

Trong khi "chính phủ đã và đang thành công trong việc ổn định nền kinh tế" trong những tháng gần đây, các quan chức "cũng cần phải cân nhắc nguy hiểm dài hạn, ví dụ như sự thừa mứa thanh khoản trong hệ thống ngân hàng và khả năng bùng nổ lạm phát", Trần Lê Khánh, Giám đốc đầu tư quỹ Prudential Việt Nam, thuộc tập đoàn Prudential PLC, cho biết.

Ngân hàng Thế Giới đã nhắc nhở chính phủ Việt Nam trong bản báo cáo tháng trước rằng việc cho vay theo chỉ thị của chính phủ có thể đang cản trở tiến trình cải tổ tại các doanh nghiệp nhà nước, và Việt Nam có lẽ nên tập trung vào giúp đỡ những người bị mất công ăn việc làm do khủng hoảng. "Có lẽ [chính phủ Việt Nam] nên dừng lại và cân nhắc xem hoạt động duy trì nền kinh tế có phải là ưu tiên duy nhất hay không?", ngân hàng Thế Giới đã nói.

Một số các nhà phân tích khác lo ngại việc thả nổi cho vay có thể làm trầm trọng thêm vấn đề nợ xấu trong lĩnh vực ngân hàng. Theo con số chính thống, nợ xấu đứng vào khoảng 2,6%, so với 2,2% vào cuối năm ngoái. Nhưng Việt Nam không tính toán tỷ lệ nợ xấu theo như tiêu chuẩn quốc tế. Fitch Ratings gần đây ước tính con số thực có lẽ lên đới 13% tổng số nợ vào cuối năm 2008. Trong bản đánh tụt hạng của mình hôm thứ Ba, Fitch Ratings đã nói chương trình hỗ trợ vay của Việt Nam "gần như chắc chắn rằng đã làm tình hình thêm tồi tệ".

Nguồn: www.viet-studies.info

Kinh tế Việt Nam nửa cuối 2009 - Nguy cơ rình rập! (kỳ 1)

,

Cung tiền đã lớn hơn tốc độ tăng GDP theo giá thực tế

Tổng cục thống kê cho biết tăng trưởng cả năm 2009 có khả năng đạt 5% (tương đương 6 tháng cuối năm phải tăng khoảng 5,9%) nhưng vẫn có nhiều nguy cơ cho tăng trưởng vững chắc.

Theo ông Bùi Bá Cường, Vụ trưởng Vụ Tài khoản quốc gia (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cảnh báo 3 điểm đáng chú ý để đảm bảo kinh tế vĩ mô tăng trưởng vững chắc.

Thứ nhất, 6 tháng đầu năm, nhập siêu là 2,1 tỷ USD nhưng khi loại trừ việc tái xuất vàng thì nhập siêu là 4,6 tỷ USD.

Mức nhập siêu ngày càng lớn khi quí I, chúng ta nhập siêu 1 tỷ USD thì sang quí II, chúng ta đã nhập siêu tới 3,6 tỷ USD. Theo dự báo năm nay chúng ta sẽ nhập siêu khoảng 10 tỷ USD.
Thứ hai, về thu Ngân sách Nhà nước dự toán 2009 khoảng 390.000 tỷ tức là bản thân thu dự toán giảm 9.000 tỷ so với năm ngoái. Tuy nhiên, khả năng đạt dự toán chi là 390.000 tỷ là khó khăn và phải giảm từ 30 - 60 nghìn tỷ đồng.

Thứ ba, tính GDP 6 tháng đầu năm tăng theo giá thực tế là 12,4% (tốc độ so sánh với 3,9% so với 6 tháng đầu năm 2008), lạm phát là 10,27% (chỉ số giá bình quân 6 tháng đầu năm 2009 so với thời kỳ tương ứng của năm 2008).

Theo con số nhận được thì hiện tốc độ cung tiền (M2) 6 tháng đầu năm vượt tăng tốc độ tăng GDP (trong khi thông thường cung tiền thường thấp hơn GDP). (Bổ sung ý này ông Đỗ Thức, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê cho biết: Cung tiền chỉ trong có nửa đầu năm đã tăng tới 16-17% so với cùng kỳ năm 2008).

Theo ông Cường so sánh, "năm 2008 chúng ta đã làm rất tốt, GDP tăng 29% theo giá thực tế thì cung tiền khoảng 20%. Tốc độ cung tiền của 2008, thấp hơn tăng trưởng GDP theo giá thực tế".

Cảnh báo về nguy cơ lạm phát, đại diện Vụ thương mại giá cả cho biết năm 2008 chúng ta đã phải trả giá việc nới lỏng cung tiền 2007. Vì vậy năm nay khả năng kiềm chế lạm phát dưới 1 chữ số là có thể thực hiện được. Tuy nhiên đại diện này cảnh báo nguy cơ lạm phát vào năm 2010 do những chính sách nới lỏng chính sách tiền tệ.

Ngoài ra, ông Đỗ Thức, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê cho biết nếu 145.000 tỷ đồng tiền kích cầu không được sử dụng đúng, chính sách tiền tệ không thận trọng thì chắc chắn, tái lạm phát sẽ xảy ra.

Theo Tổng cục thống kê, quý I/2009, tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước chỉ đạt 3,1% bằng 41% tốc độ tăng của quý I/2008 và là quý có tốc độc tăng thấp nhất trong những năm qua.

Tuy nhiên, sang quý II, ước tính GDP tăng 4,5%, bằng 79% tốc độ tăng GDP quí II/2008 và cao hơn quý I năm nay là 1,4 điểm phần trăm.
Tốc độ tăng trưởng GDP 6 tháng năm nay tăng 3,9% so với 6 tháng năm 2008, trong đó khu vưc nông - lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,25%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,48% và khu vực dịch vụ tăng 5,5%.

Để đạt tăng trưởng 5% GDP năm nay, trong 6 tháng cuối năm phải tăng khoảng 5,9%.

V.Minh (cafef.vn)

Truy vấn sự việc và truy vấn bản chất

,

Chất lượng “truy vấn” còn nặng về sự việc, mà còn ít hoặc là không đi vào bản chất của chính sách, cơ chế, luật pháp, giải pháp. Có trách nhiệm không kém Chính phủ trong thành, bại của đất nước, Quốc hội cần chủ động tham gia khâu hình thành chủ trương chính sách, giải pháp lớn cho vấn đề trọng đại của quốc gia - Ý kiến của chuyên gia Nguyễn Trung.



Truy vấn còn nặng về sự việc

- Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa 12 vừa khép lại với phiên chất vấn được Chủ tịch QH Nguyễn Phú Trọng đánh giá là chất lượng cao hơn các kỳ trước. Lần đầu tiên, một số ĐBQH đã truy vấn đến cùng, nhiều người đã hỏi tới lần thứ 3 để đi tới hai chữ "trách nhiệm" của Bộ trưởng. Quan sát chất vấn Quốc hội vừa rồi, ấn tượng của ông thế nào?

Hôm nay tốt hơn hôm qua một chút là tốt, rất đáng được trân trọng. Tuy nhiên, ngoài cái tốt hơn, tôi còn mong mỏi hôm nay phải mới hơn hôm qua. Các câu hỏi, các câu trả lời khá thẳng thắn.

Song chất vấn và trả lời như đã diễn ra trong kỳ họp QH vừa qua và trong các kỳ họp trước, nên làm hàng ngày, ngay sau khi sự việc xảy ra ở bất kỳ thời điểm hay địa phương nào, cho kịp thời, giải quyết ngay, không phải chờ đến họp 2 lần đầu năm cuối năm rồi mới đem ra chất vấn và trả lời.

Mỗi năm xuân thu nhị kỳ như thế vừa muộn cho giải quyết, vừa mất tính thời sự, trả lời rồi còn phải xử lý nữa chứ.

Ngày nay, Quốc hội và Chính phủ đều có trang web, nên tận dụng trang web cho việc chất vấn và trả lời như thế hàng ngày, nêu cả biện pháp xử lý. Làm như vậy sẽ còn tạo ra phương thức: Quốc hội, chính phủ và nhân dân cùng làm việc hàng ngày với nhau trên trang web, nóng hổi, kịp thời. Cho đến nay, hai trang web quan trọng này chưa được sử dụng như vậy.

Chất vấn và trả lời đưa lên TV cho cả nước theo dõi trong kỳ họp Quốc hội nên lựa chọn tập trung nhiều hơn vào những vấn đề chung lớn nhất và nóng bỏng của cả nước - vì đây là diễn đàn của cả nước, bàn những vấn đề chung của đất nước, ngoại trừ những vấn đề riêng của từng địa phương hay ngành nhưng lại có tính chất điển hình phổ biến chung cho cả nước. Cách làm như vậy lợi nhiều hơn - không còn đơn giản là chuyện xuất khẩu gạo của riêng An Giang, tắc đường của TP. HCM...

Các đại biểu Quốc hội tại diễn đàn lớn cho cả nước như thế cũng không còn chỉ là của một địa phương mình bầu ra, mà là của cả nước. Những vấn đề chung của cả nước như thế nhiều lắm, rất thời sự và chắc chắn là rất quan trọng. QH là của cả nước và trước hết phải lo bàn sâu những việc của cả nước.

“Truy” trách nhiệm của các Bộ trưởng như chất vấn và trả lời vừa qua là việc đáng khuyến khích. “Truy” đúng là tự nó có tính xây dựng rồi. Nhưng tôi nghĩ chất lượng “truy” như thế còn nặng về sự việc, mà còn ít hoặc là không đi vào bản chất của chính sách, cơ chế, luật pháp, giải pháp. “Truy” sâu như thế là khó, nhưng trách nhiệm đại biểu QH đòi hỏi cần làm được như vậy.

Ví dụ, lụt nặng ở Hà Nôi vừa qua không chỉ có dự báo sai lượng mưa, không chỉ có sự yếu kém của các công trình, mà trên hết cả là những yếu kém toàn diện của cả bộ máy nhà nước và các cán bộ viên chức của mình, tích tụ năm này qua năm khác, nên khi đụng độ với thiên tai thì mau chóng trở nên bất lực. Tình trạng này bộc lộ rất rõ hôm qua chúng ta đã sống lẹm vào hôm nay; thiết nghĩ QH nên làm rõ điều này.

Lời xin lỗi của Bộ trưởng Cao Đức Phát là đáng trân trọng. Nhưng quan trọng hơn là QH nên cùng với CP bàn xem khắc phục sự “hôm nay ăn lẹm vào hôm sau” như thế nào.

Mỗi Bộ trưởng phải là "Thủ tướng trong lĩnh vực của mình"

- Ông có hài lòng với trả lời của các Bộ trưởng trước những chấn vấn và truy vấn của ĐB?

Trả lời của các Bộ trưởng, tôi hiểu và thông cảm, song tôi vẫn mong các Bộ trưởng chịu khó quên đi nhiều hơn chức năng mình là thủ trưởng của lĩnh vực mình phụ trách, và nhớ đến nhiều hơn mình là Thủ tướng trong lĩnh vực của mình, thay mặt cho Thủ tướng trong lĩnh vực của mình.

Và như vậy Bộ trưởng sẽ là Bộ trưởng của đất nước - chứ không phải chỉ là của riêng lĩnh vực mình phụ trách.

Nghĩ như thế chắc Bộ Trưởng sẽ không trả lời trước Quốc hội theo cách: "Cả thế giới dự báo nhầm, không riêng gì ta..." Chắc sẽ không trả lời: "Kiểm tra có melamine hay không là việc của liên ngành..." Chắc sẽ không nói “ngoài quyết tâm thì các bộ trưởng còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan, các mối quan hệ khác chứ không phải bộ trưởng bàng quan, không chú ý thực hiện lời mình đã hứa"...

Bộ trưởng mà đóng vai Thủ tướng như thế khó lắm, phải bàn lĩnh lắm, dù là chỉ trong lĩnh vực mình phụ trách. Nhưng tôi tin làm được như thế Thủ tướng chắc chắn tán thành, sẽ có Chính phủ mạnh. Chắc chắn ai là Thủ tướng, nhất là Thủ tướng giỏi cũng muốn có các Bộ trưởng của mình như vậy.

QH có quyền đòi các Bộ trưởng đến điều trần

- Có vấn đề gì theo ông cần được đưa vào hội trường mà các ĐB đã quên?

Nhiều lắm. Ngay cả có không quên cũng không lấy đâu ra thời giờ mà chất vấn và trả lời bằng cách họp hết ngày này qua ngày khác được.

Tôi kiên trì kiến nghị QH, CP và nhân dân cùng làm việc với nhau hàng ngày trên website để giải quyết các vấn đề nóng hổi; còn một khi lên TV cho cả nước theo dõi chất vấn và trả lời thì nên coi đấy là diễn đàn của cả nước, nên lựa chọn bàn những vấn đề trọng đại nhất của đất nước. Phải thêm cả bàn bạc nữa, chứ không chỉ có chất vấn và trả lời.

Đại biểu QH chuyên trách của ta số lượng đủ đông giúp cho việc lựa chọn những vấn đề lớn đưa ra bàn, chất vấn và trả lời như vậy.

Đương nhiên bàn bạc như vậy rất khó, song QH hoàn toàn có quyền đòi các Bộ trưởng đến điều trần, giải thích; có quyền mời các chuyên gia, các nhà khoa học đến trình bày kỹ các vấn đề chuyên sâu và phản biện để QH xác lập ý kiến của mình trước khi xử dụng quyền biểu quyết... Tất cả đều tiến hành công khai trong khi họp và đưa lên các phương tiện truyền thông cho cả nước biết.

Đây còn là phương thức nâng cao trí tuệ, bản lĩnh của tất cả: QH, CP, dân. Điều này còn vô cùng cần thiết cho một quốc gia học hỏi như nước ta.

Hơn nữa, Hiến pháp ghi rõ QH là cơ quan quyền lực cao nhất của cả nước, nói nôm na là người làm luật và theo dõi việc thực thi luật pháp. Vì thế QH phải có cả việc bàn giải pháp chứ không chỉ có chất vấn và trả lời, như thế mới ra các Luật có chất lượng được.

Nhân dân giao cho QH trọng trách thay mặt mình làm việc này, chứ không khoán trắng việc này cho QH, nhân dân cũng cần biết QH mình giao cho trọng trách như vậy làm việc như thế nào.

Vì vậy, trong quá trình bàn bạc xây dựng luật pháp, chính sách, các giải pháp lớn..., - ngoại trừ một vài vấn đề mật nào đó thuộc lĩnh vực an ninh quốc phòng và đối ngoại - QH cần động viên sự tham gia tức thì của nhân dân, hàng ngày, ngay trong khi QH đang họp trong suốt kỳ họp - có thể dưới hình thức họp công khai, cử tri có thể đến quan sát trực tiếp, hoặc đưa cuộc họp lên TV và internet, cử tri có thể tham gia ý kiến tức thì qua các kênh thông tin, báo chí.

Ngay trong khi bàn bạc QH cũng cần lắng nghe ý kiến các cử tri qua các kênh thông tin, truyền thông.... Phần đông quốc hội các nước trên thế giới đều làm việc như vậy.

Trở lại câu hỏi còn vấn đề gì ĐBQH quên chưa đem ra bàn? - bàn, chứ không chỉ có chất vấn và trả lời: Vâng, có nhiều vấn đề lớn, nhưng phải lựa chọn. Theo tôi quan trọng và thời sự nhất đang là vấn đề: Chống lạm phát và đối phó với khủng hoảng tài chính thế giới đang lan sang thành khủng hoảng kinh tế thế giới. Tôi nghĩ, vấn đề này không phải chỉ là vấn đề riêng của Chính phủ.

Mong Thủ tướng nghe phản biện rồi mới quyết

- Trong phần câu hỏi của các ĐB lần này, kênh thông tin từ báo chí rất quan trọng, nhiều dữ liệu để ĐB chất vấn đến từ các báo?

Tôi cảm nhận được rất rõ vai trò quan trọng của báo chí. Có thể nói báo chí đã tăng thêm chất lượng các câu chất vấn của các ĐBQH.

- Trong phần trả lời chất vấn về quan hệ với trí thức, Thủ tướng nhấn mạnh quan điểm cho rằng, đối thoại với trí thức không cần treo bảng. Theo quan sát của ông, các quyết sách mới đây của Thủ tướng và CP có dấu ấn của việc lắng nghe hay chưa?

Tôi tán thành Thủ tướng không cần treo bảng như vậy. Tôi biết Thủ tướng có tham khảo ý kiến nhiều người trong nhiều việc.

- Việc từ chối dự án thép của Posco, cắt khoản 4,1 nghìn tỷ đồng đầu tư từ ngân sách cho PVN, quy định các tập đoàn không được đầu tư mạo hiểm... hình như đều là những tư vấn và cảnh báo từ lâu của các trí thức VN. Ông có hài lòng với những động thái lắng nghe phản biện đó? Điều ông kỳ vọng là gì?

Tôi có cảm tưởng những ý kiến phản biện về những vấn đề này đã được Thủ tướng chú ý. Ví dụ: Nếu thấy được cảng Vân Phong sẽ là cảng số một, cảng nước sâu hàng đầu của nước Việt Nam công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong tương lai có thể sẽ chỉ xếp thứ hai trong ĐNÁ về mọi phương diện - sau cảng Singapore - sẽ thấy quyết định của Thủ tướng từ chối dự án thép Posco đúng đắn và quan trọng như thế nào.

Nói, với quyết định này, Thủ tướng "cứu" cho đất nước một "bàn thua trông thấy" có lẽ không ngoa. Tôi thẳng thắn nhiệt liệt hoan nghênh quyết định này của Thủ tướng.

Nói như vậy cũng có nghĩa là dự án thép Posco sai như thế nào. Đất nước còn không ít dự án kinh tế - theo tôi - cũng sai như thế, ví dụ dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên, chỉ cần Thủ tướng nghe các ý kiến phản biện rồi hãy quyết định.

Mong QH chủ động tham gia vào khâu hình thành chủ trương...

- Lần đầu tiên, sau kỳ chất vấn QH ra nghị quyết về phiên chất vấn tại kỳ họp trong đó có ràng buộc cam kết của các Bộ trưởng. Liệu một NQ đã đủ để ràng buộc các Bộ trưởng với các cam kết trách nhiệm đó, thưa ông? Một cơ chế cần có là gì?

Có cam kết như thế vẫn tốt hơn là không có. Song đấy không phải là điều tôi mong muốn. Tôi mong mỏi QH thay đổi cách làm việc như tôi đã trình bày trên, để làm đúng và cố gắng làm hết chức năng là cơ quan có quyền lực cao nhất của quốc gia.

Là cử tri, tôi nghĩ rằng QH cũng có trách nhiệm không kém Chính phủ trong các thành, bại của đất nước, nghĩa là tôi mong mỏi QH cần chủ động tham gia cả vào khâu hình thành chủ trương chính sách, giải pháp lớn cho mọi vấn đề trọng đại của quốc gia - từ đấy QH xây dựng luật pháp, từ đấy CP hình thành cơ chế chính sách thực hiện.

Tôi hiểu, thay đổi như vậy cách làm việc của QH là rất khó. Nhưng cơ quan có quyền lực cao nhất không làm được thì ai làm được? Đảng viên là đại biểu QH chiếm tỷ lệ lớn. Đảng coi đấy là nhiệm vụ trọng đại của xây dựng nhà nước pháp quyền, chắc chắn sẽ làm được.

* Phương Loan (thực hiện)
http://www.tuanvietnam.net/vn/sukiennonghomnay/5340/index.aspx

Vài suy nghĩ về tập đoàn kinh tế quốc doanh ở nước ta

,

Vai trò của tập đoàn kinh tế thuộc chủ sở hữu là Nhà nước, nói theo ngôn ngữ dung dị là tập đoàn kinh tế quốc doanh, đang là vấn đề thu hút sự chú ý đặc biệt của tất cả những ai đang quan tâm đến tình hình kinh tế đất nước hiện nay, nhất là trên hai phương diện:
(a)sự đóng góp của nó đối với sự phát triển nền kinh tế nước ta,
(b)vai trò và ảnh hưởng của nó trong tình hình lạm phát hiện nay.



Để rộng đường dư luận, bài viết này xin nêu một vài suy nghĩ.

Theo các sách báo và nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới, sôi nổi nhất là trong thập kỷ 1990s[1], có thể nêu một số nét khái quát dưới đây.

Mô hình Tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước xuất hiện lần đầu tiên vào khoảng đầu thế kỷ thứ 19 (khoảng từ 1830) tại một số nước châu Âu (chủ yếu là Tây Âu) trong giai đoạn công nghiệp hóa phát triển bùng nổ ban đầu.

Nguyên nhân chính của sự xuất hiện này là một số sản phẩm hay ngành kinh tế tự nó mang tính chất độc quyền rất cao, nếu để nằm trong khu vực tư nhân mà mục đích hàng đầu của nó là lợi nhuận sẽ có nguy cơ dẫn tới những chiều hướng phát triển thiên lệch có hại cho sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế cả nước, đồng thời làm giảm khả năng cạnh tranh của cả nước với các nước chung quanh. Vì những lẽ này, các thế lực kinh tế và chính trị của những quốc gia này - thể hiện tập trung trong vai trò Nhà nước - đã đi tới quyết định thành lập các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước, tập trung vào các ngành cung cấp than, điện, hàng không, bưu chính viễn thông, một số sản phẩm trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng khác như cung cấp nước, giao thông vận tải thủy và bộ (ví dụ đường sắt)... Ngoài ra một số đòi hỏi nhất định về an ninh và quốc phòng khiến cho Nhà nước cần trực tiếp nắm lấy, ví dụ ngành hàng không, ngành bưu chính viễn thông... Thực tế vừa trình bày cho thấy ngay tính đặc thù của mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước, thể hiện trong 3 chức năng chính của nó:

(a) chống nguy cơ độc quyền tư nhân đối với những sản phẩm kinh tế cần thiết cho sự phát triển chung kinh tế cả nước,

(b) nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế cả nước đối với các quốc gia khác trên thị trường thế giới, và

(b) đáp ứng những yêu cầu có liên quan mật thiết đến an ninh và quốc phòng.

Giai đoạn phát triển bùng nổ thứ hai các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước, chủ yếu ở các nước Tây Âu, là những thập kỷ đầu tiên trong thời kỳ tái thiết và phát triển kinh tế sau chiến tranh thế giới II, từ 1950s – 1960s. Trong thời kỳ này nét nổi bật là các yếu tố chi phối mới: Những đòi hỏi cấp bách của tái thiết sau chiến tranh, sự phát triển bùng nổ của công nghệ mới, việc chuyển từ năng lượng than là chủ yếu sang năng lượng dầu được cung ứng từ bên ngoài.

Trong giai đoạn hai này, các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước tăng nhiều về số lượng, nhưng chủ yếu vẫn giữ nguyên 3 chức năng (a,b,c) đã khai sinh ra nó, mở rộng vào các lĩnh vực dầu khí, viễn thông, công nghệ tin học, bảo hiểm, nhà ở...

Cả trong hai giai đoạn, các tập đoàn này trước sau vẫn có 4 tiêu chí hay đặc tính: (1)chịu sự quản lý theo luật pháp, (2)hoạt động trong thể chế tài chính công khai minh bạch, (3)có thể huy động vốn từ khu vực tư nhân hoặc khu vực công dưới dạng bán trái phiếu hay cổ phần theo những quy định chặt chẽ của luật pháp và của thể chế tài chính quốc gia - song không được phép có ngân hàng riêng, (4)phải có khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa và thế giới[2].

Trong giai đoạn hai, sự xuất hiện của phong trào cánh tả - tiêu biểu là của các lực lượng theo khuynh hướng xã hội dân chủ (social democracy), góp phần nhất định thúc đẩy sự phát triển các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước. Khuynh hướng hoạt động của phong trào cánh tả trong thời kỳ này chủ yếu nhằm vào mục đích tăng cường các yếu tố công bằng và an sinh xã hội trong quá trình phát triển kinh tế.

Sự phát triển bột phá của công nghệ và khoa học kỹ thuật và quá trình toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng trong các thập kỷ 1960s - 1980s đã mang lại 2 hệ quả:

(1) khả năng cạnh tranh của các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước ngày càng giảm sút so với khu vực kinh tế tư nhân, và nhìn chung tính hiệu quả của chúng đối với toàn bộ nền kinh tế ngày càng thấp, ngày càng trở thành hiệu quả âm tới mức cản trở sự phát triển của nền kinh tế;

(2) sự phát triển năng động của công nghệ và dịch vụ thời kỳ đi vào kinh tế trí thức và toàn cầu hóa cho phép chuyển ngày càng nhiều sản phẩm kinh tế và dịch vụ vào khu vực tư nhân.

Tình hình trên đã khiến cho các quốc gia Tây Âu phải loại bỏ phần lớn các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước, chủ yếu bằng hai bước gắn với nhau: (a)bãi bỏ những quy định có liên quan và (b)tư nhân hóa hầu hết những tập đoàn này. Nguyên nhân chủ yếu của việc loại bỏ là do bản chất sở hữu nhà nước của những tập đoàn này khiến chúng chậm thích nghi hoặc không thể thích nghi với sự biến động năng động của môi trường kinh tế - thể hiện tập trung ở sự giảm sút khả năng cạnh tranh của nhóm tập đoàn này; đồng thời trong kinh tế và trong quản trị quốc gia ngày càng xuất hiện những công cụ hay phương thức điều tiết vỹ mô mới. Nói một cách khác, trong bối cảnh kinh tế mới và quá trình toàn cầu hóa sâu rộng, mô hình tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước ngày càng trở nên lỗi thời.

Rất tiếc rằng các nước phát triển không có yêu cầu điều tra số liệu thống kê tỷ trọng tham gia của những tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước vào toàn bộ nền kinh tế quốc dân mỗi nước, bởi lẽ hiện nay các tập đoàn này chỉ còn rất ít, hoặc hầu như không có ở Mỹ và Canada.

Ở cả trong hai thời kỳ phát triển mạnh (1830 và 1950s-1960s), nếu nhìn nhận các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước ở các nước phát triển châu Âu dưới góc độ tỷ trọng vốn (tài sản), tỷ trọng vốn đầu tư hàng năm, tỷ trọng sản phẩm của nhóm này làm ra trong tổng thể nền kinh tế cả nước... có thể phán đoán đấy là các tỷ trọng rất nhỏ. Nếu căn cứ vào khối lượng sản phẩm của nhóm tập đoàn này làm ra rồi ước đoán các số liệu, thì tại cả hai thời kỳ phát triển cao nhất nói trên các chỉ số tỷ trọng % này (tài sản, vốn đầu tư hàng năm, khối lượng output hàng năm) trong tổng thể nền kinh tế mỗi nước có lẽ không thể lên tới 2 con số (nghĩa là dưới 10%); tuy nhiên tầm quan trọng và tính hiệu quả của nhóm này vào những thời đoạn phát triển ấy là khẳng định.

Như vậy, toàn bộ lịch sử phát triển các tập đoàn kinh thế thuộc sở hữu nhà nước tại các nước công nghiệp phát triển cho thấy nó chỉ có vai trò nhất định vào những thời điểm và hoàn cảnh lịch sử cụ thể đòi hỏi cần tạo lập một sự độc quyền nhà nước nhất định để đảm bảo sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế cả nước trong bối cảnh ấy. Nhưng một khi bối cảnh phát triển như vậy qua đi, đặc biệt từ thập kỷ 1980s đến nay, các nhược điểm cố hữu của nhóm tập đoàn này xuất phát từ tính chất quyền sở hữu của Nhà nước ngày càng trở nên khó khắc phục, và tới một thời điểm nhất định là trở thành trở ngại kìm hãm sự phát triển. Từ thực tế này các nước phát triển hầu như đi tới kết luận giống nhau: Dưới góc nhìn lợi ích tổng thể của toàn bộ nền kinh tế, chỉ nên duy trì các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước cho những sản phẩm mà khu vực kinh tế tư nhân làm không hiệu quả bằng hoặc không làm được.

Trong kinh tế, việc quản lý quốc gia theo luật, cai trị đất nước theo luật, nói một cách khác là việc tách quyền lực chính trị ra khỏi quyền lực kinh tế (dù là thuộc khu vực tư nhân hoặc khu vực thuộc sở hữu Nhà nước) luôn luôn là vấn đề nan giải và hầu như không có giải pháp hoàn hảo tuyệt đối, luôn luôn phát sinh vấn đề mới, luôn luôn đòi hỏi những giải pháp mới, thường xuyên phải tiến hành những cải cách mới, không hiếm khi quyết liệt và gian khổ, cá biệt đã có trường hợp tình trạng tham nhũng dẫn tới làm sụp đổ nội các ở một vài nước phát triển (Ý, Nhật...)

Đặc biệt việc tách quyền lực chính trị của Nhà nước ra khỏi quyền của Nhà nước sở hữu các tập đoàn của nó là khó nhất, bởi lẽ quyền lực chính trị của Nhà nước và quyền của Nhà nước sở hữu các tập đoàn này đều nằm trong một thực thể chính trị chung, đó là Nhà nước.

Để hình thành sự câu kết giữa một bên là quyền lực chính trị của Nhà nước và một bên là quyền lực kinh tế (đặc biệt là quyền của Nhà nước đối với các tập đoàn kinh tế mà Nhà nước là chủ sở hữu), trước sau sẽ là con đường ngắn nhất dẫn tới hình thành các thế lực mafia, nhà nước mafia. Đấy là vấn đề các nước phát triển thường xuyên phải tìm mọi cách loại trừ và phòng ngừa – bằng cách thường xuyên cải cách, phát triển thể chế kinh tế thị trường – nhà nước pháp quyền – xã hội dân sự. Song chính sự câu kết này lại đang là vấn đề hàng chục nước đang phát triển không sao gỡ ra được. Có thể nói sự câu kết giữa quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế (kể cả khu vực sở hữu tư nhân và khu vực sở hữu nhà nước) là nguồn gốc nguyên thủy bất khả kháng của tham nhũng và mọi tệ nạn khác trong các nước đang phát triển. Sự bất lực trước thực trạng này của các nước đang phát triển nói lên nguyên nhân cơ bản nhất giải thích tại sao sau hơn nửa thế kỷ giành được độc lập mà họ vẫn họ không thể thoát khỏi số phận nước nghèo và lạc hậu. Một thời, tại một số nước đang phát triển tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước còn là công cụ trá hình của chủ nghĩa thực dân mới.

So với các nước công nghiệp phát triển, các nước NICs và một số nước đang phát triển có thu nhập cao vẫn còn duy trì nhiều tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước. Song có lẽ trừ trường hợp ngoại lệ là Singapore, các nước còn lại vẫn đứng trước nhiều khó khăn trong quá trình xử lý các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước, xu thế thu hẹp nhóm này vẫn đang tiếp diễn.

Nhìn vào nước ta.

Theo công bố trên báo chí, nước ta hiện nay có 8 tập đoàn kinh tế quốc doanh (thuộc sở hữu Nhà nước). Cũng theo công bố trên báo chí, cả nước có 18 tổng công ty 91 và 73 tổng công ty 90 mang dáng dấp các tập đoàn kinh tế quốc doanh hoặc công ty mẹ-công ty con, (không rõ bao nhiểu tổng công ty 91 và bao nhiêu tổng công ty 90 đã trở thành hoặc đã được đưa vào nhóm 8 tập đoàn kinh tế quốc doanh vừa kể trên). Toàn bộ các đơn vị kinh tế này chiếm khoảng 54% về vốn, 62% doanh thu và 73% tiền nộp ngân sách trong tổng số 5.970 doanh nghiệp nhà nước hiện nay (khu vực kinh tế quốc doanh).

Các số liệu thống kê cho biết khu vực kinh tế quốc doanh (5970 doanh nghiệp nhà nước nói trên) chiếm từ 53% đến 67% vốn kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp cả nước; có tài sản cố định cao hơn tài sản cố định của các doanh nghiệp tư nhân trong và ngoài nước nhưng không được thể hiện trong các số liệu thống kê về vốn. Hàng chục năm nay các doanh nghiệp nhà nước có tỷ lệ đóng góp vào GDP ước khoảng 37-39%; tạo công ăn việc làm cho khoảng 4,4% tổng số lao động, những năm gần đây không tạo ra không đáng kể việc làm mới; chỉ đóng góp từ 25% đến 34% sản lượng công nghiệp; các doanh nghiệp nhà nước hầu như tham gia không đáng kể vào các khu vực nông, lâm, ngư nghiệp. Khu vực các doanh nghiệp nhà nước có nhập siêu thường xuyên và lớn nhất trong hàng chục năm nay.

Từ các số liệu nói trên có thể suy ra bức tranh, vai trò và hiệu quả của các tập đoàn kinh tế quốc doanh ở nước ta hiện nay.

Hiện nay đang có xu thế đôn lên hoặc sáp nhập, hoặc tổ chức lại nhiều tổng công ty 91 và 90 để thành các tập đoàn kinh tế quốc doanh. Nhằm phán đoán xu thế này, có thể gộp các tổng công ty 91 và 90 và các tập đoàn kinh tế quốc doanh vào một nhóm để quan sát, chúng ta sẽ thấy riêng nhóm này hiện nay chiếm khoảng 25 đến 30% toàn bộ vốn kinh doanh của cả nền kinh tế (chưa kể tài sản cố định – vì chưa thể hiện trong số liệu thống kê và chưa tính được[3]), khoảng 30% vốn đầu tư hàng năm của toàn xã hội, đóng góp hàng năm ước tính khoảng 14% vào thu ngân sách nhà nước. Các số liệu này cho thấy tiếp tục xu thế hình thành các tập đoàn kinh tế quốc doanh, với mong muốn tạo thêm các quả đấm thép cho nền kinh tế, sẽ chỉ là ảo tưởng. Xu thế này chỉ có thể đẻ thêm ra những gánh nặng mới cho nền kinh tế[4].

Trong khi các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước ở các nước phát triển phải thực hiện 3 chức năng và tuân thủ 4 tiêu chí như đã trình bầy ở phần trên, các tập đoàn kinh tế quốc doanh ở nước ta chỉ được giao cho một nhiệm vụ chung chung là thực hiện vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh, và một nhiệm vụ riêng là quả đấm thép. Cho đến nay, trong các nghị quyết của Đảng cũng như trong các văn bản luật pháp của Nhà nước còn thiếu những định nghĩa và những quy định thực rõ ràng để thực hiện về “vai trò chủ đạo” và về “quả đấm thép”. Đi xa nhất là văn kiện Đại hội IX, phần nói về Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 – 2010 cũng chỉ ghi: “Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế nhà nước để thực hiện tốt vai trò chủ đạo trong nền kinh tế... Doanh nghiệp nhà nước giữ vững những vị trí then chốt trong nền kinh tế; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế và xã hội và chấp hành pháp luật”[5]. Tuy nhiên, nếu bám sát những điều dù còn chung chung và chưa đầy đủ như vậy đã được ghi vào nghị quyết, có thể nói nghị quyết chưa được thực hiện nghiêm túc.

Ở các nước phát triển, chức năng hàng đầu của loại tập đoàn này là chống độc quyền để phòng ngừa sự phát triển thiên lệch và thúc đẩy kinh tế phát triển. Ở nước ta, loại tập đoàn này phát triển độc quyền kinh tế và chính trị, không giải phóng được mọi nguồn lực của đất nước. Chức năng thứ hai ở các nước phát triển là nâng cao khả năng cạnh tranh của cả nền kinh tế; ở nước ta khó có thể nói các tập đoàn kinh tế quốc doanh đã làm được vai trò này. Chức năng thứ ba là góp phần gìn giữ an ninh chính trị xã hội và quốc phòng, ở nước ta chức năng này của các tập đoàn kinh tế quốc doanh cần được nghiên cứu đánh giá kỹ lưỡng để có đánh giá xác đáng.

Điều cần lưu ý là cả trong hai thời kỳ phát triển cao điểm, các nước phát triển chỉ cần huy động chưa đến 10% tổng lực nền kinh tế cho việc hình thành các tập đoàn thuộc sở hữu Nhà nước và chỉ tập trung vào một số ít sản phẩm, song các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước của họ đã thực hiện được vai trò của nó. Ở nước ta nhóm các tập đoàn quốc doanh và tổng công ty 91 & 90 nắm tới khoảng gần một nửa nguồn lực kinh tế của cả nước, tham gia vào hầu hết các loại sản phẩm của nền kinh tế (từ công nghiệp, công nghiệp chế tạo, công nghiệp dịch vụ, kinh tế bất động sản, thị trường tài chính..., chỉ trừ nông lâm ngư nghiệp), với kết quả như đã thể hiện qua một vài con số nêu trên. Như vậy phải chăng các tập đoàn kinh tế quốc doanh đã làm tốt vai trò của nó? Câu hỏi này sẽ khó trả lời hơn, nếu nhìn vào khả năng cạnh tranh chung của cả nền kinh tế nước ta còn thấp so với các nước trong khu vực, nhìn vào tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa hiện nay đạt được sau 32 năm hòa bình xây dựng đất nước.

Nếu đi vào khảo sát riêng một số tập đoàn, ví dụ EVN của ngành điện, hay Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam TKV, vân vân.., hoặc xem xét tình trạng các tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong thời gian gần đây đã đầu tư “vào nghề tay trái” lên đến gần 117.000 tỷ đồng; tình trạng gần một nửa trong 70 tổng công ty 91 & 90 có hoạt động thuộc lĩnh vực “hot” (“nóng”) là chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm, và bất động sản với giá trị lên đến hơn 23000 tỷ đồng (theo số liệu của Bộ Tài chính, VNN 12-05-2008).., tình trạng lấn sân và cạnh tranh không bình đẳng với các doanh nghiệp nhỏ[6].., và trên hết cả là xem xét tình trạng nền kinh tế cả nước trong vòng hai quý (kể từ quý IV – 2007) lâm vào lạm phát vọt lên hai con số giữa lúc nước ta nắm trong tay cơ hội lớn nhất, nền kinh tế đất nước có nhiều thuận lợi nhất, các nguồn lực trong ngoài huy động được nhiều nhất.., sẽ không thể tránh được câu hỏi: Các tập đoàn kinh tế quốc doanh và các tổng công ty 91 & 90 với tỷ trọng lớn trong nắm giữ mọi nguồn lực của đất nước và với ảnh hưởng áp đảo của nó đối với toàn bộ nền kinh tế và đời sống chính trị - xã hội của đất nước đã đóng vai trò gì trong diễn biến cấp tính và nguy hiểm này? Một tác nhân nặng ký như vậy không thể đứng ngoài cuộc. Là người giữ trọng trách lãnh đạo đất nước, Đảng cần chủ xướng và đi tiên phong làm rõ thực trạng này.

Đem so sánh 4 tiêu chí của các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước ở các nước phát triển với vai trò chủ đạo và quả đấm thép của nhóm kinh tế này trong thành phần doanh nghiệp nhà nước ở nước ta, cũng thấy nhiều vấn đề hệ trọng phải bàn, nổi bật là tình trạng các mối “quan hệ” chi phối sâu sắc tiêu chí các tập đoàn phải được quản lý theo luật, có quá nhiều kẽ hở không cho phép thực hiện được tài chính công khai minh bạch, sự chi phối ngày càng nghiêm trọng của các lợi ích “nhóm” – thể hiện công khai ra bên ngoài rõ nét nhất qua hai hiện tượng (1)cho phép một số tập đoàn kinh tế quốc doanh được lập ngân hàng riêng – một điều tối kỵ trong kinh tế, và (2)phong trào kinh doanh nghề “tay trái” của các tập đoàn này và các tổng công ty 91 & 90.

Giả thiết rằng các cơ quan quyền lực cao nhất của Đảng và Nhà nước, vì lợi ích tối cao của sự nghiệp phát triển đất nước, quyết tâm tổ chức điều tra nghiên cứu khách quan sự lưu chuyển hàng năm các dòng vốn khác nhau từ ngân sách nhà nước và từ mọi nguồn khác rót vào hoặc bị hút vào các tập đoàn, các tổng công ty 91 % 90, rồi qua kênh này chuyển vào các công ty con hoặc các nhóm công ty mẹ & con mà trên thực tế dù mang tên gọi là gì chúng đều thuộc quyền sở hữu tư nhân, hoặc do sở hữu tư nhân chi phối gần như tuyệt đối[7], chúng ràng buộc với nhau bởi mối quan hệ mẹ-con huyết thống thật sự, hoặc mang các quan hệ họ hàng, thân hữu với nhau; rồi lấy kết quả đạt được so sánh với lượng vốn được phân bổ vào các thành phần kinh tế khác... Nếu làm rõ được toàn bộ sự lưu chuyển vốn trong nền kinh tế, cả nước sẽ thấy rõ ngay có hay không có chủ nghĩa tư bản thân hữu (báo cáo của Đại học Harvard) ở nước ta, đúng hay sai mô hình tập đoàn kinh tế quốc doanh như hiện nay đã đẻ ra hoặc đang thai nghén tiếp những đứa con mới của chủ nghĩa tư bản thân hữu. Chính làm rõ sự lưu chuyển này của các dòng vốn, sẽ chứng minh được một cách thuyết phục nhất: “quan hệ” đang lấn sân luật pháp như thế nào, định hướng xã hội chủ nghĩa đang từng bước bị xóa bỏ ra sao, những kết luận gì khác nữa cần rút ra... Thiết nghĩ, muốn quản lý đất nước bằng luật pháp và thực hiện công khai minh bạch không thể bỏ qua việc điều tra, nghiên cứu như vậy. Vì quyền lợi của chính mình, người dân cả nước cũng đòi hỏi phải có những thông tin chuẩn xác về sự lưu chuyển này.

Nhân đây xin lưu ý: Làm minh bạch, kiểm soát và điều tiết có hiệu quả sự lưu chuyển các dòng vốn trong một nền kinh tế luôn luôn là đòi hỏi sống còn về điều hành vỹ mô của mỗi quốc gia. Đứng trước tình hình hệ thống tài chính tiền tệ thế giới hiện nay đang có xu hướng đi vào một cuộc khủng hoảng lớn với những biến động khôn lường, có khả năng tác động tàn phá vào mọi quốc gia, Nhà nước ta phải tìm cách chủ động đối phó ngay từ bây giờ, bắt đầu từ làm chủ sự lưu chuyển các dòng vốn trong nền kinh tế nước ta.

Đã có nhiều lời cảnh báo quyết liệt không thể để ngoài tai: Vai trò chủ đạo và quả đấm thép thì chưa rõ lắm, nhưng đang xuất hiện những quả bom nổ chậm phá nền kinh tế[8]. Chẩn bệnh thì phải làm xét nghiệm máu, chính là làm xét nghiệm sự lưu chuyển này.

Tình hình phức tạp tới mức Bộ trưởng Võ Hồng Phúc cũng phải than phiền Bộ Kế hoạch và Đầu tư không thể can thiệp quá trình quyết định của các tập đoàn; còn Bộ trưởng Vũ Văn Ninh thì nói là vấn đề tế nhị không trả lời được khi được Quốc hội chất vấn 10 nghìn tỷ đồng của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) được rót vào để cứu thị trường chứng khoán là cứu những chững khoán nào?

Xin lưu ý: Quản lý kinh tế theo cơ chế “chủ quản” là lỗi thời và cần xóa bỏ, song điều này có nghĩa phải thực hiện tốt quản lý theo luật và công khai minh bạch, tuyệt đối không thể để cho các “quan hệ” hay lợi ích nhóm chi phối như đang diễn ra. Hơn thế nữa, các tập đoàn kinh tế quốc doanh và các tổng công ty 91 & 90 là thuộc sở hữu Nhà nước, là tài sản của nhân dân, Nhà nước thay mặt dân là chủ sở hữu phải là người có tiếng nói quyết định, phải quản lý có có hiệu quả nhất khối tài sản rất lớn này; song hiện nay Nhà nước chưa thực hiện đúng được vai trò này. Hiển nhiên, xóa “chủ quản” thì phải triệt để quản lý theo luật và thực hiện công khai minh bạch, không có con đường nào khác – đòi hỏi này thực sự đang là thách thức lớn đối với hệ thống kinh tế - chính trị - xã hội của đất nước: Hoặc là phải làm bằng được, hoặc là bó tay đầu hàng.

Ưu tiên số một của cả nước bây giờ là chống lạm phát, chống trước mắt là chống những nguyên nhân trực tiếp gây ra lạm phát, chống lâu dài là khắc phục thực trạng dẫn tới những nguyên nhân gây ra lạm phát. Đặt vấn đề như vậy, hiển nhiên sẽ thấy không thể tiếp tục duy trì nguyên trạng của khu vực doanh nghiệp quốc doanh nói chung, và nhóm tập đoàn kinh tế quốc doanh và các tổng công ty 91 & 90 như hiện nay, lại càng không thể khuyến khích xu thế “tập đoàn hóa” và khuynh hướng lũng đoạn của nó đang diễn ra. Bởi lẽ nền kinh tế nước ta sẽ không thể chịu đựng nổi tình trạng chống được lạm phát (cứ giả thiết cho là chống được và phải chống bằng được) để rồi sau đó vài ba năm sẽ rơi trở lại vào lạm phát, có thể sẽ là cấp tính hơn, – vì tình trạng gây ra những nguyên nhân của lạm phát được giữ nguyên.

Dư luận trong cả nước đang vô cùng bức xúc về tình hình điện ở nước ta, về tình trạng than được khai thác một cách tàn phá môi trường và xuất khẩu lậu hàng chục triệu tấn mỗi năm, về cung cách cấp vốn cho Vinashin, về hoạt động của các tổng công ty trên lĩnh vực thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán.., về nhiều yếu kém lớn khác hay nói cho đúng hơn trong nhiều trường hợp là sự lũng đoạn của các tập đoàn và tổng công ty 91 & 90 và sự dính líu sâu của các cơ quan chức năng, về nguy cơ bên ngoài lợi dụng những yếu kém này can thiệp vào nước ta, vân vân... Trong báo chí nước ngoài đã xuất hiện tiếng nói: Kinh tế Việt Nam đang yếu thế này là lúc “vào dẫn dắt” Việt Nam dễ nhất! Cũng có tiếng nói cho rằng bây giờ là thuận lợi nhất để “dậy” Việt Nam thế này thế kia...

Tất cả cho thấy đòi hỏi nóng bỏng đặt ra đối với nước ta lúc này là cần tận dụng yêu cầu chống lạm phát thành một cơ hội mổ xẻ thực trạng các tập đoàn kinh tế quốc doanh và các tổng công ty 91 & 90, để ngay trước mắt là chống lạm phát hữu hiệu, đồng thời ngay từ bây giờ đề ra được những quyết định đưa toàn bộ hoạt động kinh tế của nhóm này vào sự quản lý theo luật và thực hiện công khai minh bạch, cắt bỏ mọi “quan hệ” đang phát sinh và mọi “bao cấp” – kể cả đặc quyền – đang tồn tại trên thực tế. Tất cả cho thấy an ninh của nước ta và sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế đòi hỏi phải làm ngay việc này.

Nhìn dài hạn, từ mổ xẻ thực trạng như vậy, sẽ có cơ sở xác đáng và có quyết tâm sắp xếp lại và đổi mới khu vực doanh nghiệp nhà nước nói chung và nhóm kinh tế này nói riêng, chống lại xu thế “tập đoàn hóa theo hướng tạo ra độc quyền và khuyến khích lũng đoạn”, tất cả nhằm vào mục tiêu giải phóng mọi nguồn lực và tiềm năng của đất nước. Có thể nói đây là nhiệm vụ then chốt nhất, khó nhất, là bước đi đầu tiên trong giai đoạn phát triển mới của đất nước hiện nay sau 22 năm đổi mới. Bước đi này có ý nghĩa quyết định thành hay bại toàn bộ sự nghiệp đổi mới của nước ta trong tương lai, là sẽ có hay không có một Việt Nam công nghiệp hóa – hiện đại hóa với đúng nghĩa: Một Việt Nam là một nước phát triển.

Có phải làm như thế không? Có làm được không? Nhưng trước đó là câu hỏi: Có dám không?

Hà Nội, 31-08-2008
Nguyễn Trung
http://www.viet-studies.info/NguyenTrung/NguyenTrung_VeTapDoanKinhTe.htm

The Economist: "Rủi ro tiềm ẩn ở cơ cấu kinh tế Việt Nam"

Một thành viên của tập đoàn The Economist (Anh) – hãng nghiên cứu Economist Intelligence Unit (EIU) - vừa ra hai bản báo cáo quan trọng về Việt Nam: một là báo cáo tổng quan quốc gia, hai là báo cáo đánh giá độ rủi ro của nền kinh tế Việt Nam. Theo đó, EIU "chấm" điểm tồi nhất, tức xác định mức rủi ro cao nhất, ở lĩnh vực ngân hàng và ở cơ cấu kinh tế của Việt Nam



Năm nay GDP sẽ tăng 6,2%

EIU đưa ra một số dự đoán: GDP sẽ tăng 6,2% năm 2008 và giảm xuống còn 5,9% năm 2009 – là mức thấp nhất trong vòng một thập niên qua, hệ quả của việc tiêu dùng suy giảm. Đầu tư cũng tăng chậm hơn do ảnh hưởng của các điều kiện tín dụng bị thắt chặt và suy thoái trên thị trường chứng khoán.

Bù lại, tin tốt lành là lạm phát (được EIU dự đoán ở mức 25% năm nay) sẽ hạ dần vào năm 2009, xuống còn 15,2%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) vẫn ổn định, nửa đầu năm nay đạt tới 31,6 tỷ USD, gấp gần 4 lần cùng kỳ năm ngoái.

EIU nhận xét, Chính phủ Việt Nam ý thức rất rõ về những tổn hại mà lạm phát gây ra cho nền kinh tế cũng như cho toàn xã hội, do vậy đã thắt chặt chính sách tiền tệ và cắt giảm đầu tư công. Đó là việc làm đúng đắn.

Tuy thế, chính quyền vẫn cần có thêm nhiều động thái để hạn chế các rủi ro tiềm ẩn, mà một trong số các động thái đó là tạo sự linh hoạt hơn nữa trong chế độ tỷ giá.

Và những rủi ro…

Trước hết là rủi ro về tiền tệ. Thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam 12 tháng qua “ngốn” tới 12,7% GDP (so với mức trung bình chỉ có 1,6% GDP của các nước đang phát triển khác trong khu vực).

EIU cũng cảnh báo, chừng nào hệ thống tỷ giá cố định giữa VND và USD còn được duy trì, thì chừng đó, kinh tế Việt Nam còn có nguy cơ chịu ảnh hưởng của những cú sốc từ bên ngoài. Hệ thống tỷ giá hiện nay đang gây ra nhiều điểm bất cân bằng trong nền kinh tế.

Rủi ro lớn, theo EIU, nằm ở khu vực ngân hàng. Nợ khó đòi tiếp tục gia tăng do gánh nặng lãi suất đè lên người đi vay và do việc cho vay vẫn còn chịu ảnh hưởng của các quyết định về chính trị thay vì dựa trên những tiêu chuẩn nghiêm ngặt về tài chính. EIU cho rằng hoạt động của hệ thống ngân hàng như vậy làm nguy cơ về khủng hoảng tiền tệ hoặc khủng hoảng nợ luôn tiềm ẩn.

Tính điểm cho lĩnh vực ngân hàng: Từ tháng 3 đến tháng 8 năm nay, điểm của Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng đã tăng đều từ 60 lên 70 (trên 100), xếp hạng CCC. Trong khi điểm của các nước châu Á nói chung giữ ổn định ở mức hơn 45 một chút. Như vậy là rủi ro trong hệ thống ngân hàng của Việt Nam quá cao so với khu vực.

Nguy cơ lớn nhất: suy giảm sức cạnh tranh

Điều này xuất phát từ cơ cấu kinh tế. Xét về độ rủi ro, EIU "chấm" cơ cấu kinh tế của Việt Nam ở mức CCC.

Họ đánh giá rằng trong những năm qua, Việt Nam đã tiến hành nhiều thay đổi về cấu trúc nền kinh tế, theo hướng thu hẹp nông nghiệp và khuyến khích đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp. Tuy nhiên, nền kinh tế hiện nay đang tỏ ra cực kỳ nhạy cảm với các xu hướng trong mậu dịch thế giới.

Giá trị thương mại quốc tế năm nay được dự đoán là 6,1%, giảm so với mức 7,3% của năm 2007. Điều đó sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới Việt Nam.

Ngoài ra, khi mà chi phí nhân công thấp vẫn là thế mạnh cho xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, những ngành xuất khẩu mạnh vẫn là ngành sử dụng nhiều lao động, thì sức cạnh tranh của Việt Nam trong những năm tới là rất đáng lo ngại, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất hàng may mặc.

Kết luận của EIU trong báo cáo đánh giá rủi ro là một đánh giá chung về độ rủi ro của quốc gia: Việt Nam hiện được xếp hạng B.

* Đoan Trang

EIU thực hiện báo cáo đánh giá rủi ro về 100 thị trường "đang nổi lên" (trong dó có Việt Nam) và 20 quốc gia thuộc khối OECD. Điểm được chấm theo thang từ 0 đến 100. Điểm càng cao nghĩa là độ rủi ro càng cao.

Khi xếp loại, dải điểm này được chia thành 10 nhóm theo mức rủi ro tăng dần: AAA, AA, A, BBB, BB, B, CCC, CC, C, D.


July 2009
M T W T F S S
June 2009August 2009
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31