Việt Nam - Ngươi đang ở đâu và sẽ đi đến đâu? (Kỳ 26)
Friday, 9. May 2008, 02:46:18
http://vietnamnet.vn/kinhte/2008/05/782107/
Tăng trưởng GDP chỉ 6,7%, lạm phát lên đến 22,3% - đây là kịch bản bi quan nhất trong ba kịch bản dự báo về viễn cảnh kinh tế Việt Nam 2008 mới được Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đưa ra trong Báo cáo Kinh tế Việt Nam 2007 mới được công bố ngày 8/5 tại Hà Nội.
CIEM cho rằng, nhìn chung, trong năm 2008 nền kinh tế Việt Nam sẽ khó có thể tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao như năm 2007. Kết quả dự báo cũng cho thấy lạm phát tiếp tục đứng ở mức cao và cao hơn so với năm 2007 và nhập siêu còn lớn, chưa thể khắc phục trong ngắn hạn. Vì thế, các chuyên gia CIEM cho rằng, các mục tiêu tăng trưởng GDP và lạm phát năm 2008 cần được xem xét lại.
Không thể tiếp tục lạc quan
Cuối năm, khi cả nước đang say sưa với những thắng lợi kinh tế được cho là cao nhất trong 10 năm lại đây và đưa ra những mực tiêu rất cao là tăng trưởng GDP 8,5 - 9%, lạm phát ở mức 11 - 12%. Tuy nhiên, thực tế cho thấy những mục tiêu này rất khó thực hiện. Chính phủ đã buộc phải có những đề xuất điều chỉnh thực tế hơn. Trong dự báo của CIEM, cả ba kịch bản được đưa ra đều cho thấy tham vọng về phát triển kinh tế như trên đây là không thể.
Kịch bản cơ bản được đưa ra là GDP tăng trưởng 7,2%, lạm phát ở mức trung bình là 19,4%. Dự báo này được đưa ra dựa trên xu thế kinh tế thế giới tăng trưởng thấp hơn 2007. Tuy có chậm lại, nhưng khu vực châu Á và ASEAN vẫn giữ được mức tăng trưởng cao. Đây là những đối tác thương mại lớn của Việt Nam nên sự tác động qua lại với Việt Nam là rất lớn.
Các yếu tố khác để hình thành lên kịch bản cơ bản này là: giá dầu xấp xỉ 100 USD/thùng, giá nhập khẩu nguyên liệu và giá nông sản tăng 15%. Các khoản đầu tư ngân sách tăng 10%, giải ngân vốn FDI tăng 20%. Đồng thời, Việt Nam thực thi một chính sách kinh tế vĩ mô thận trọng thông qua chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá.
Trong khi đó, kịch bản được cho là lạc quan hơn cũng chỉ đưa mức tăng trưởng GDP lên 7,6% và lạm phát ở mức 16,7%. Điều này được dự báo trên giả thiết kinh tế thế giới không quá bi quan và khả năng giải ngân và hấp thụ vốn FDI của Việt Nam được cải thiện hơn. Các đối tác thương mại chính có sự tăng trưởng kinh tế khá hơn.
Ngược lại, một kịch bản bi quan hơn cũng được đưa ra, theo đó tốc độ tăng trưởng GDP xuống còn 6,7% và lạm phát lên đến 22,3%. Điều này có thể xảy ra với giả thiết các điều kiện kinh tế thế giới và yếu tố kinh tế nội tại bất lợi hơn so với kịch bản cơ bản. Cụ thể, các đối tác thương mại lớn tăng trưởng kinh tế rất thấp, khả năng giải ngân FDI không tăng...
Như vậy, với dự báo lạc quan nhất thì Việt Nam cũng còn xa mới đạt đến mức hy vọng 8,5% như đã đề ra.
Ông Võ Trí Thành - người được xem là tổng biên tập thực hiện báo cáo này, nêu quan điểm cá nhân cho rằng, bản thân ông nghiêng nhiều hơn về kịch bản GDP thấp hơn là những kịch bản lạc quan. Có nhiều lý do như: bối cảnh và diễn biến suy thoái kinh tế thế giới chưa rõ ràng và tiềm ẩn nhiều bất ổn. Nền kinh tế trong nước đang vấp phải những khó khăn không dễ giải quyết trong ngắn hạn. Mặc dù Chính phủ đã nhận thấy và đề ra những giải pháp khắc phục nhưng việc triển khai như thế nào trong thực tế lại là một vấn đề.
Ông Thành ví vón, những thành công năm 2007, Việt Nam được xem là "ngôi sao đang lên" nhưng với tình hình hiện tại nó có thể đang bị tạm thời bị "che lấp". Tuy nhiên điều đó cũng không có gì là qua lo lắng. Chính phủ cần tiếp tục thực hiện những gải pháp dài hạn như: khắc phục các nút thắt của nền kinh tế về thể chế, hạ tầng, nhân lực; thực hiện kiểm soát và ổn định kinh tế vĩ mô; phối hợp chính sách phát triển kinh tế với an sinh xã hội... nhằm từng bước ổn định, giảm lạm phát mà không gây ra những đổ vỡ, duy trì lòng tin của các nhà đầu tư.
Vào WTO, càng thể hiện rõ yếu kém
Một trong những yếu tố chi phối nổi bật đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam năm 2007 là việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên WTO và bắt đầu thực hiện các cam kết theo lộ trình. Bên cạnh những tác động thuận chiều thì một cảnh báo tiếp tục được các chuyên gia nhắc lại trong báo cáo này là việc gia nhập WTO càng làm lộ rõ hơn những yếu kém và bất cập cố hữu của nền kinh tế Việt Nam.
Trước hết về thể chế, báo cáo nhấn mạnh rằng sẽ còn rất nhiều việc phải làm để tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý cho phù hợp cam kết hội nhập và các chuẩn mực kinh tế thị trường. Còn những khoảng cách khá xa giữa thực tế và yêu cầu tính chuyên nghiệp, minh bạch và khả năng giải trình của các cơ quan nhà nước. Thể chế cho sự phát triển các thị trường yếu tố sản xuất vẫn trong giai đoạn cần tiếp tục có những chỉnh sửa.
Bên cạnh đó, sự hụt hẫng về kỹ năng nguồn nhân lực cũng đang ngáng trở tăng trưởng có chất lượng và phát triển bền vững. Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực liên quan đến tất cả các nhóm xã hội, trong khi đó toàn bộ hệ thống giáo dục, đào tạo đang tỏ ra xa rời với hơi thở cuộc sống và thời đại.
Kết cấu hạ tầng yếu kém đã và đang gây nhiều tổn phí cho các hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội. Nguồn lực cần thiết cho phát triển kết cấu hạ tầng là rất lớn. Vì thế, các chuyên gia cho rằng, không thể không có tầm tầm nhìn xã rộng, những bản quy hoạch có hàm lượng chất xám và các hình thức hiệu quả trong huy động các nguồn lực.
Đây chính là 3 nút thắt cổ chai của nền kinh tế. Một dẫn chứng cho thấy, việc yếu kém về thể chế, hạ tầng và nhân lực đã hạn chế việc thực hiện vốn FDI. Tỷ lệ thực hiện FDI năm 2007 chỉ là 37,8% trong khi các năm trước đó đã đạt cao hơn.
Năm 2007, kinh tế Việt Nam lộ diện rõ ràng hơn những rủi ro bất ổn kinh tế vĩ mô. Lạm phát tính theo chỉ số tiêu dùng lên đến 12,63% là mức cao nhất từ 1997. Song có một thực tế là đến cuối 2007, Chính phủ vẫn chưa có những lập luận và giải trình hợp lý trong lựa chọn, về ngắn hạn, giữa mục tiêu tăng trưởng và kiềm chế lạm phát, dẫn đến sự lúng túng trong điều hành kinh tế vĩ mô, đặc biệt trong bối cảnh các luồng vốn đổ mạnh vào Việt Nam.
Việt Nam cần cuộc cách mạng mới về ruộng đất?
http://vietnamnet.vn/kinhte/2008/05/782146/
Thiệt thòi, tổn thương, bị gạt bên lề của sự phát triển, tiềm ẩn bất ổn... những cụm từ được nhắc nhiều nhất khi nói về số phận của người nông dân, nông thôn Việt Nam hiện nay. Một lần nữa, vấn đề này lại được đưa ra mổ xẻ tại một cuộc tọa đàm do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức mới đây.
Đất đai là gốc của vấn đề
GS-TS. Lê Duy Phong (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) nhận xét, nông dân đang là những người chịu nhiều thiệt thòi nhất, ít được thụ hưởng các thành quả của quá trình đổi mới. Lý giải điều này, GS. Phong cho rằng, nông dân đang thiếu các điều kiện và phương tiện để phát triển sản xuất, đảm bảo cuộc sống bình thường.
Theo GS. Phong, diện tích đất cho nông nghiệp quá chật hẹp. Cả nước có 12 triệu hộ gia đình, nhưng chỉ có 9,4 triệu ha đất nông nghiệp. Bình quân mỗi hộ chỉ 0,7-0,8ha, mỗi lao động 0,3ha và mỗi nhân khẩu 0,15ha. Ở Đồng bằng Bắc Bộ, con số này còn nhỏ hơn, chỉ 360m2/khẩu. Nếu chia ra, tất cả các hoạt động ăn, ở, đi lại, sinh hoạt hàng ngày của một người nông dân ở Bắc Bộ chỉ dựa vào... 1m2 đất.
Chưa kể, nông dân - đối tượng đông nhất trong xã hội - lại ít được đào tạo nghề nên tỷ lệ thất nghiệp ở mức báo động. Ông minh chứng, trên 83% lao động ở nông thôn chưa qua đào tạo bất kỳ chuyên môn gì (con số từ Bộ LĐTB-XH), trong khi tỷ lệ này ở thành thị là 49%. 20% lao động ở nông thôn thất nghiệp, tương đương khoảng 4,8 triệu người, cộng thêm hàng triệu thanh niên bước vào độ tuổi lao động mỗi năm.
Đáng lưu ý, khi mỗi ha đất nông nghiệp bị "xà xẻo" sẽ kéo theo 13 người rơi vào cảnh không có việc làm. Điển hình, mỗi năm, Hà Tây có 28.000-30.000 lao động đổ ra thành thị kiếm sống, trong khi con số này phải "Nam tiến" ở Quảng Nam là 46.000 người.
Cục Trồng trọt (Bộ NN-PTNT) cảnh báo, diện tích đất trồng lúa đang và vẫn tiếp tục giảm, nhất là vùng Đồng bằng sông Hồng do quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá. Giai đoạn 2002-2007, mỗi năm vùng này mất 7.500 ha đất/năm (0,67%), gần gấp hai lần tỷ lệ của cả nước.
Do vậy, tại cuộc tọa đàm “Những vấn đề xã hội của nông dân và nông thôn Việt Nam hiện nay”, TS. Vũ Tuấn Anh (Viện Kinh tế Việt Nam) đã đưa ra một cách nhìn nhận mới về vấn đề đất đai nông thôn hiện nay, đó là Việt Nam đang bước vào cuộc cách mạng ruộng đất mới - cuộc cách mạng lần thứ tư trong lịch sử, song Việt Nam chưa coi đó là một cuộc cách mạng.
TS. Tuấn Anh cho rằng, lịch sử nước ta đã từng tiến hành các cuộc cách mạng ruộng đất vào những năm 1950-1960, thời kỳ hợp tác hoá, Khoán 10 và bây giờ là cuộc cách mạng mới khi có sự phân bổ lớn lại ruộng đất. Ông khuyến cáo, cải cách ruộng đất với mật độ dày đặc (15 năm/lần) đã làm đảo lộn rất lớn đến cuộc sống của người dân, trong đó chỉ hai cuộc người dân được đất và hai cuộc bị mất đất.
Cuộc cách mạng ngày nay, chính là một cuộc cách mạng mà người nông dân bị mất đất, bằng chứng là trong vòng 5 năm (2000-2005), đã có 2 triệu hộ gia đình ít, nhiều đã bị thu hồi đất. TS. Tuấn Anh chỉ ra rằng, chúng ta đang rất thụ động trong cuộc cách mạng này, và chỉ chập chững chuẩn bị đối phó là chính mà chưa coi đó là cuộc cách mạng. Vai trò của chính quyền địa phương trong việc giao đất quá lớn, trong khi chính quyền TƯ lại buông lỏng quản lý. Chính vì được tiến hành một cách tự phát, địa vị người dân gần như không có, nên họ không có quyền đàm phán, buộc phải phục tùng, chấp nhận.
Hệ quả, về lâu dài, sẽ tạo thành một sự mâu thuẫn trong xã hội, âm ỉ rồi dần bùng phát mà điển hình là các vụ khiếu kiện của người dân hấu hết đều liên quan đến đất đai. "Với cách lấy đất như hiện nay, đất đai cả nước đang dần bị băm nát, ruộng đất của dân cũng bị băm nát, hậu quả sẽ rất nặng nề", TS. Tuấn Anh lo ngại.
Cần cái nhìn sâu hơn về nông thôn, nông dân
Do bản chất phức tạp, nhiều chiều của chủ thể tam nông (nông nghiệp - nông thôn - nông dân) nên sẽ không đầy đủ nếu chúng ta quá thiên về khía cạnh kinh tế (nông nghiệp) mà "bỏ quên" cái nhìn xã hội, tức là nông thôn và nông dân - GS. Trịnh Duy Luân - Viện trưởng Viện Xã hội học (Viện Khoa học Xã hội) thẳng thắn.
Chính vì chưa có sự hài hòa, lồng ghép giữa hai yếu tố kinh tế - xã hội nên chúng ta đang xử lý thụ động các vấn đề phát sinh trong đời sống nông thôn Việt Nam.
"Vị thế của người nông dân trong cấu trúc xã hội đã thay đổi, cần có cách ứng xử mới, không nên lạm dụng, vắt kiệt mà đền bù không tương xứng", GS. Luân nói. “Người nông dân đã biết sản xuất, biết tính toán, nên chúng ta không chỉ cứ lấy đi của họ 1 sào đất rồi đền bù là xong, mà cần phải thực hiện các chính sách an dân và hỗ trợ nhiều hơn, coi nông dân như một nhóm lợi ích xã hội”.
Ngoài ra, theo GS. Luân, cần cảnh báo cho họ những thay đổi trong quá trình phát triển, chuẩn bị chiến lược đối phó với những mâu thuẫn, xung đột xảy ra trong thời kỳ mới. Còn GS.TS. Lê Duy Phong kiến nghị nên sớm sửa đổi Luật Đất đai để những người biết làm ăn trên quy mô lớn có thể tích tụ ruộng, sản xuất hàng hoá lớn.
Một vấn đề khác cũng được các nhà khoa học cảnh báo, đó là mối quan hệ giữa con người với con người ở nông thôn.
PGS-TS. Vũ Mạnh Lợi (Viện Xã hội học) chỉ ra rằng, một bộ phận lớn nông dân đổ ra thành thị đã làm mối nối kết cộng đồng trong xã hội nông thôn trở nên lỏng lẻo. Ông đánh giá, mối quan hệ giữa người với người ở nông thôn bắt đầu rã đám. Họ sống theo kiểu "nhà nào biết nhà ấy", không chịu bất kỳ một sức ép nào để điều chỉnh hành vi, lối sống có chuẩn mực của mình, dẫn tới tình trạng an ninh xã hội khó kiểm soát.
TS. Lợi đề xuất, cần nâng cao vai trò của các loại hình hợp tác xã và rất cần một cơ chế, chính sách lôi cuốn các tổ chức xã hội tham gia vào cộng đồng làng xã, để dân tự lo liệu. Ông cho rằng, quản lý Nhà nước của ta đang rất yếu kém khi muốn làm cho dân nhiều song không làm nổi. Do vậy, cần có cách nhìn mới về quản lý con người, theo một cách năng động hơn.
* Hà Yên