Skip navigation

Sign up | Lost password? | Help

Nghĩa Lâm

Đôi lúc, cái mà nguời ta có được từ công việc của mình không phải là tiền bạc mà là những bài học quý báu - C. Black

Việt Nam - Ngươi đang ở đâu và sẽ đi đến đâu? (Kỳ 99)

,

Đổi mới ở Việt Nam: Nhớ lại và suy ngẫm
http://tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/sachhaynendoc//3967/index.aspx

Một nghị quyết lịch sử

Cùng đường và hầu như đã là quy luật, phải bị dồn đến chân tường mới chịu có thay đổi. Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IV) họp tháng 9 năm 1979.

Lúc đầu, Hội nghị dự kiến bàn về hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương, nhưng do tình hình kinh tế lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng, Hội nghị đã bàn và ra Nghị quyết số 20 – NQ/TW ngày 20 tháng 9 năm 1979 “Về tình hình và nhiệm vụ cấp bách” – một nghị quyết có ý nghĩa lịch sử mở đầu cho quá trình đổi mới.

Nghị quyết và bài phát biểu bế mạc của Tổng Bí thư Lê Duẩn đã nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá trong thời gian qua nhiều chủ trương đề ra còn mang tính chủ quan, nóng vội, thiếu căn cứ thực tiễn, không phù hợp với cuộc sống, và điều chỉnh lại một số chủ trương, giải pháp mà từ 1979 về trước là những điều cấm kỵ như: thừa nhận sự tồn tại khách quan của các thành phần kinh tế, cho phép các hộ xã viên nông nghiệp mượn đất sản xuất, ổn định nghĩa vụ lương thực, bãi bỏ việc phân phối định suất, thực hiện phân phối theo lao động, khuyến khích phát triển kinh tế gia đình, nới lỏng quyền tự do lưu thông và trao đổi nông sản, thực phẩm, v.v...

Nhiều hợp tác xã nông nghiệp thực hiện việc khoán đến hộ, cho phép xã viên bỏ vốn, sức lao động đầu tư thâm canh để vượt khoán trên ruộng đất hợp tác xã, được làm chủ hoàn toàn vượt khoán. Các hợp tác xã quy mô xã, liên xã điều hành không nổi được phép chia nhỏ hơn.

Nếu Nghị quyết 6 của Trung ương được thực hiện nghiêm chỉnh, thì khoán chui không còn bị cấm nữa. Thế nhưng, tình hình lại không được suôn sẻ như vậy. Tới lúc này mới thấy tư duy giáo điều, duy ý chí còn cố thủ trong không ít cơ quan bên trên.

Ủng hộ khoán hộ hay nghiêm cấm?

Các bộ, ban, ngành, các viện, trường, các cơ quan nghiên cứu, chỉ đạo có quan điểm đối lập nhau, thậm chí có sự đấu tranh quan điểm gay gắt xung quanh vấn đề nóng bỏng: ủng hộ khoán hộ hoặc nghiêm cấm.

Có cơ quan tham mưu của Đảng về nông nghiệp vẫn tự hào đã góp phần chặn đứng khoán hộ ở Vĩnh Phú không đồng tình với Nghị quyết 6 muốn nới lỏng với khoán sản phẩm, khoán tới hộ. Khoán việc càng được đề cao hết mức, với nhận thức rằng khoán việc gắn với chủ nghĩa xã hội, gắn với chủ nghĩa Mác-Lênin, đây là điều thiêng liêng đừng ai đụng chạm đến.

Một số cán bộ về các HTX nói với đảng viên cơ sở: “Đòi loại bỏ khoán việc, nếu thế thì đốt hết sách Mác-Lênin hay sao?” hoặc “Bỏ khoán việc thế thì bỏ Đảng à?”… Trên sách báo và bài giảng trong các lớp chính trị, cũng đưa ra cơ sở lý luận để chứng minh chủ nghĩa Mác-Lênin không chấp nhận khoán hộ trong nông nghiệp.

Đời cha đến đời con khổ vì khoán việc đành phải làm chui, thế mà lại bị truy chụp tội to quá, có đảng viên cơ sở ở Nghệ Tĩnh uất ức quá đã nói: “Hoặc là con cháu của Mác, hoặc là chú bác với bọn phản động, thế thôi, đói quá phải “chui”, còn đúng hay sai, hạ hồi phân giải”.

Khoán việc vẫn “chiếm thế thượng phong”

Báo chí vẫn đứng về phía khoán việc, đã có bài báo nói xa xôi rằng những điều cấm kỵ được nêu ra từ Đại hội IV vẫn có hiệu lực, nếu xoá bỏ thì làm gì còn chủ nghĩa xã hội. Báo chí được nhắc nhở đề cao hai huyện nổi tiếng đã khắc phục các khuyết tật trong các HTX làm cho khoán việc trở nên hấp dẫn hơn.

Huyện Tiền Hải (Thái Bình) có phong trào “5 công khai” trong các HTX để xã viên lúc nào cũng có thể kiểm tra các quỹ, các kho, kiểm tra mọi chi tiêu đề phòng tham ô, lãng phí. Huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng) đã chống lãng phí, rượu chè, tham ô trong các HTX ba năm liền đạt kết quả rất tốt.

Lúc đó, tôi là phóng viên báo Đại đoàn kết, được giao nhiệm vụ đi viết về Tiền Hải và Vĩnh Bảo, hai huyện giáp ranh, liền kề, cách nhau chỉ một con sông. Đến hai nơi có một cảnh giống nhau: nhà khách đều kín chỗ, lại đang mùa rét 1979.

Các đoàn cán bộ mãi Nghệ Tĩnh, Thanh Hoá cũng tìm về hai huyện này để học tập kinh nghiệm mô hình đấu tranh chống tham nhũng, chống các nhược điểm của khoán việc, nâng cao phẩm chất đội ngũ cán bộ trong các HTX. Chỗ yếu nổi bật nhất của Tiền Hải và Vĩnh Bảo rất giống nhiều huyện khác: các HTX tham nhũng, rượu chè tiếp khách thường xuyên, là gánh nặng rất lớn với các xã viên.

Tiếp tôi, ông Bình, Bí thư huyện uỷ Tiền Hải nói ngay: “Rất hoan nghênh anh về huyện tôi đi ô tô hàng. Mấy đoàn khác, kể cả một đoàn ở trung ương về sáng nay đều dùng ô tô riêng. Dân huyện tôi rất sợ khách về HTX lại có ô tô riêng, đây là cái cớ lại rượu chè, chiêu đãi, chợ thiếu thịt thì đã có lợn trại tập thể. Đôi khi không chịu đựng mãi được, thấy ô tô về xã, bà con có lời lẽ không được lịch sự làm cho chúng tôi rất ân hận.”

Ở Tiền Hải, tôi đã viết bài Miệng ăn núi lở, phản ánh hậu quả của những HTX bậc cao cấp xã, liên xã, với bộ máy điều hành quá đông, luôn luôn tìm mọi cách rượu chè, chiêu đãi. Phong trào “5 công khai” đang chống lại mối hoạ này, phần nào đã có kết quả nhưng vẫn như thùng nước có những lỗ thủng, bịt được chỗ này nước lại rò rỉ chỗ khác vì vẫn chỉ ra sức bảo vệ khoán việc.

Vĩnh Bảo là một huyện lúa, từ năm 1967 đã có phong trào 5 tấn, có xã đạt 7,8 tấn, toàn huyện có 28.000 hộ thì tới 23.000 hộ có con đi bộ đội, một đội du kích tập trung được tuyên dương anh hùng lực lượng vũ trang với thành tích bắn rơi máy bay Mỹ.

Cơ sở vật chất của huyện tương đối mạnh, khâu làm đất đã cơ giới hoá tới 75%, 27 trong 29 xã có điện để tưới và tiêu nước, đáng lẽ Vĩnh Bảo mỗi năm một no đủ mới phải, đâu ngờ lại nghèo đi, thiếu ăn đến nỗi, đất nước đã độc lập, thống nhất, có năm Chính phủ phải đưa về 2.000 tấn gạo cứu đói.

Suốt 3 năm chống tiêu cực, Đảng bộ huyện đã loại bỏ được một số cán bộ biến chất, tham nhũng nhưng khoán việc vẫn còn nguyên vẹn. Mấy hội nghị chống tiêu cực được tổ chức ở Trung ương và ở miền Nam ít có tiếng vang trong nông dân vì tiêu cực lớn nhất là khoán việc thì lại không thấy chống. Khoán việc vẫn có mọi điều kiện để khuếch trương thanh thế, báo cáo ở nhiều cuộc họp quan trọng đến phần nông nghiệp thường nhắc đến “hợp tác xã đã là nhà, xã viên đã là chủ”, thành tích của khoán việc vẫn còn được ca tụng lớn lắm.

Khoán chui vẫn cứ phải… chui

Còn khoán chui phần nào đã dễ thở hơn ở một số tỉnh do đã tranh thủ được sự ủng hộ của cán bộ lãnh đạo. Càng đi sâu tìm hiểu nguồn gốc của khoán chui càng thấy từ lúc còn là đốm lửa đầu tiên, chẳng có ai chỉ lối dẫn đường, đói khổ lâu quá phải tìm đường sống và rất may có hình mẫu đã được thực hiện, đã được nghe, được đọc, mong đợi mãi là khoán hộ ở Vĩnh Phú, nay có thời cơ thì làm thôi.

Nghệ Tĩnh tỏ ra trung lập giữa hai hình thức khoán, Bí thư Trương Kiện không ngăn bất cứ khoán nào tăng năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi. Vĩnh Phú, quê hương của khoán hộ, tỏ ra rất nhẹ tay với khoán chui, chỉ nơi nào quá lộ liễu thì Bí thư Hoàng Quy mới nhắc nhở nhẹ nhàng. Mấy tỉnh có diện tích lúa lớn như Thái Bình, Hải Hưng, Hà Nam Ninh, Hà Bắc chống khoán chui dữ dội, cùng quan điểm với những người chủ trương “hoặc chủ nghĩa xã hội, hoặc khoán hộ”.

Lúc đó, người lãnh đạo cao nhất của Đảng về nông nghiệp (nông, lâm, ngư, diêm nghiệp) là ông Võ Chí Công, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng phụ trách nông nghệp, trưởng Ban cải tạo nông nghiệp toàn quốc là người đã dứt khoát đứng về phía nông dân khoán chui và ủng hộ nông dân đòi loại bỏ ngay khoán việc.

Ông từng là Phó Bí thư trung ương Cục miền Nam, Bí thư khu uỷ khu V thời chống Mỹ. Chuyển sang lãnh đạo nông nghiệp, ông vẫn giữ tác phong sâu sát như ở chiến trường, rất ít khi về tỉnh, về huyện, ông thường về thẳng HTX, tìm hiểu thực tế nông thôn qua nông dân và đảng viên cơ sở.

Những chuyên viên hoạt động lâu năm trong lĩnh vực nông nghiệp là nguồn thông tin rất quý giá của ông. Gặp đảng viên cơ sở, ông nói rõ: “Khoán việc không phải là cái bàn thờ thì tại sao lại không dám đụng chạm đến khoán việc, nông dân không muốn làm theo khoán việc, Đảng phải thoả mãn đòi hỏi chính đáng của nông dân”.

Thời gian đó, ông vấp phải rất nhiều khó khăn từ trong nội bộ, báo chí không ủng hộ quan điểm của ông, các viện, các trường, các cơ quan nghiên cứu không lên tiếng bênh vực khoán chui, chỉ thấy những bài nghiên cứu, minh họa cho khoán việc là đúng, trích sách kinh điển để chứng minh về lý luận rằng tập thể hoá nông nghiệp càng cao thì càng gần với chủ nghĩa xã hội.

Lãnh đạo Ban Nông nghiệp Trung ương, cơ quan tham mưu của Đảng về nông nghiệp, lại chống “khoán chui” rất quyết liệt, còn cấp vụ và chuyên viên trong Ban thì nhiều người lại ủng hộ khoán sản phẩm. Lãnh đạo Ban đã thi hành kỷ luật một số cán bộ tích cực ủng hộ khoán sản phẩm. Có trường hợp một chuyên viên bị khai trừ khỏi Đảng nhưng ông Lê Thanh Nghị đã giao cho Ban Kiểm tra xem xét và đình chỉ việc thi hành các quyết định kỷ luật.

Chỗ dựa của ông Võ Chí Công ở bên trên cũng còn mong manh, rõ nhất là các chính sách, chế độ, thể lệ quản lý và hệ thống tổ chức bộ máy vẫn không đổi mới theo Nghị quyết Trung ương 6. Một số lãnh đạo cấp cao, nhiều cơ quan trung ương vẫn chậm thấy cái mới, sợ cái mới, vẫn dùng đủ mọi lý lẽ chống khoán chui.

Chỉ dựa vào bộ máy Đảng và Nhà nước, chỉ đấu tranh trong nội bộ rõ ràng càng không thấy lối ra, ông Võ Chí Công thấy phải có sức mạnh của quần chúng nông dân mới xoay chuyển tình hình, ông phải trực tiếp tham gia đấu tranh, “chia lửa” với nông dân.

(Trích sách Đổi mới ở Việt Nam: Nhớ lại và suy ngẫm, Chủ biên: Đào Xuân Sâm, Vũ Quốc Tuấn, NXB Tri Thức)

Khắc phục lạm phát: Những biện pháp táo bạo một thời!
http://www.tuanvietnam.net//vn/tulieusuyngam/3988/index.aspx

Những đường lối, biện pháp có tính đột phá đến mức dũng cảm, táo bạo từ sau Đại hội lần thứ VI năm 1986 đã mang lại bước ngoặt quan trọng cho tình hình kinh tế đất nước ta: Lạm phát phi mã được khắc phục, hệ thống ngân hàng bước đầu được đổi mới và đạt được những thành tựu đáng kể!



Xử lý lạm phát và đổi mới hệ thống ngân hàng

Khắc phục lạm phát phi mã

Đại hội lần thứ VI năm 1986 đã định ra đường lối đổi mới, tạo ra bước ngoặt cho kinh tế Việt Nam. Vài ba năm kế tiếp sau đó, tư duy kinh tế thị trường trong lãnh đạo hình thành ngày càng dứt khoát, mạch lạc, thể hiện trong nhiều chủ trương cụ thể như: xoá bỏ quan liêu bao cấp không chỉ với lĩnh vực đời sống mà còn với lĩnh vực sản xuất, phân phối nguồn lực, trao quyền tự chủ cho xí nghiệp quốc doanh hạch toán kinh doanh, khắc phục tình trạng “lãi giả - lỗ thật”. Xoá bỏ ngăn sông cấm chợ với thị trường trong nước và bước đầu với thị trường ngoài nước.

Những bước đi đầu tiên trong lĩnh vực này, Nhà nước cho phép cá nhân là cán bộ đi công tác nước ngoài và lưu học sinh được mang theo về nước hàng hoá tiêu dùng, vật liệu, linh kiện máy móc nhỏ, cho phép cá nhân và xí nghiệp địa phương trao đổi hàng hoá qua biên giới và uỷ thác các tổng công ty chuyên xuất nhập khẩu của Trung ương xuất nhập khẩu hàng hoá cho mình. Thị trường khu vực đồng đôla Mỹ nhanh chóng mở rộng. Vàng, ngoại tệ cũng được mở cửa cho phép nhập về nước nếu có nguồn gốc rõ ràng.

Trước đây, hàng hoá và ngoại tệ không phải của Nhà nước, không nằm trong quyết định của kế hoạch nhà nước đều bị coi là tác nhân gây rối, thậm chí lũng đoạn kinh tế. Nay, những biện pháp tưởng chừng cụ thể nhỏ nhặt ấy đã đem lại cho khu vực thị trường cơ hội pháp lý mở rộng không gian tự do xoay xở trong việc tự phân phối những nguồn lực mới, sản xuất đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu kinh tế. Hiện tượng lạm phát phi mã, theo đó, đã giảm dần.

Cho tới năm 1989, cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tuy đã suy yếu nhưng vẫn được bảo đảm bởi những nguyên tắc chính yếu: Hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh còn hiệu lực; ngân hàng đơn cấp chỉ phục vụ khu vực kế hoạch nhà nước, xuất nhập khẩu là hoạt động độc quyền của Nhà nước; tư liệu sản xuất nhập khẩu và sản xuất từ kế hoạch nhà nước do Nhà nước nắm quyền phân phối; giá cả hàng hoá sản xuất, lưu thông trong kế hoạch do Nhà nước ấn định; ngoại tệ nằm trong tay Nhà nước và Nhà nước ấn định tỷ giá.

Tuy nhiên, vào năm 1989, theo tinh thần của đường lối Đại hội VI và các nghị quyết Trung ương khoá VI, Nhà nước đã vượt qua những nguyên tắc tưởng như bất di bất dịch đó, đi đến những quyết định quan trọng.

Những quyết định mang tính cách mạng

Những quyết định ấy là: xoá bỏ hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh, trao toàn quyền tự chủ kinh doanh cho xí nghiệp quốc doanh; từ bỏ quyền phân phối và giao lại nguồn lực cho thị trường; dưới tên gọi “thương mại hóa” tư liệu sản xuất, cho phép hàng loạt doanh nghiệp địa phương và xí nghiệp quốc doanh lớn trực tiếp xuất nhập khẩu; tự do hoá giá cả, từ năm 1989 trong nền kinh tế chấm dứt tình trạng hai giá, chỉ còn duy nhất một hệ thống giá thị trường.

Nhà nước cũng liên tục điều chỉnh lại tỷ giá giữa đồng Việt Nam với đồng rúp và đôla sát với tỷ giá hình thành ngoài thị trường. Cũng trong năm 1989, Nhà nước đã có một quyết định dũng cảm, xoá bỏ bao cấp lương thực, thực phẩm cho hàng triệu công nhân, viên chức, lực lượng vũ trang và dân cư đô thị. Theo đó, bãi bỏ chế độ thu mua, trao đổi đối lưu hàng hoá với nông dân, giải phóng cho thị trường nông thôn rộng lớn.

Bộ máy chính phủ duy trì cơ chế kinh tế kế hoạch có những thay đổi lớn. Ủy ban Kế hoạch Nhà nước được xác định lại chức năng nhiệm vụ; Bộ Vật tư, Bộ Lương thực, Uỷ ban Kiến thiết cơ bản Nhà nước được giải thể; Uỷ ban Vật giá Nhà nước được thu hẹp. Hệ thống cửa hàng cung cấp lương thực của Nhà nước, không còn lý do tồn tại. Hệ thống thương nghiệp quốc doanh phải giải thể từng mảng lớn và 12.000 xí nghiệp quốc doanh được sắp xếp lại chỉ còn 6.000 xí nghiệp.

Từ đây chấm dứt thời kỳ nền kinh tế vật vã tồn tại dưới cơ cấu kép vừa kế hoạch vừa thị trường, đổi mới dứt khoát sang một cơ cấu đồng nhất – thị trường. Thành tựu được nhìn thấy đầu tiên là từ giữa năm 1989, tình trạng rối loạn giá cả, rối loạn trong quá trình phân phối, lưu thông hàng hoá chấm dứt; lạm phát phi mã được chặn đứng, nền kinh tế đi nhanh vào ổn định, không khí kinh doanh tràn ngập.

Riêng thành tựu khắc phục lạm phát phi mã ở Việt Nam thời kỳ 1980 – 1989, có thể nói, đã được khắc phục bằng cả tổng lực của công cuộc đổi mới, phá bỏ cơ chế khiến lạm phát tự duy trì, không riêng gì giải pháp lẻ loi, yếu ớt như việc nâng lãi suất tiền gửi lên 12%/tháng giữa năm 1989 trong khi lạm phát tới 740% năm.

Hơn nữa, Việt Nam lúc ấy chính thức vẫn là nền kinh tế kế hoạch, một nền kinh tế tiền tệ yếu, mức cung tiền chính thức của ngân hàng nhà nước chưa tới 20% GDP, tiền gửi tiết kiệm không quá 5% GDP.

Liệu một lượng tiền tiết kiệm ít ỏi thu hút vào ngân hàng có làm giảm mức cầu tiêu dùng, giảm áp lực lạm phát cao và, khi mọi doanh nghiệp đang căng thẳng tiền vốn, tiền gửi lập tức quay ra thị trường thì giải pháp nâng lãi suất có thực sự đủ mạnh chặn đứng lạm phát phi mã?

Đổi mới hệ thống ngân hàng

Như ngân hàng của những nền kinh tế theo phương thức kế hoạch hoá, trước năm 1989, ngân hàng của Việt Nam cũng là hệ thống một cấp, duy nhất một ngân hàng nhà nước từ Trung ương đến các chi nhánh địa phương. Nó có chức năng phát hành đồng tiền quốc gia, phân phối tín dụng theo chỉ tiêu pháp lệnh của kế hoạch nhà nước, làm nghiệp vụ kho bạc – thu chi ngân sách theo lệnh Bộ Tài chính, làm nghiệp vụ thanh toán giữa các xí nghiệp quốc doanh và thanh toán đối ngoại.

Chính sách tiền tệ và những công cụ chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô đều không được sử dụng vì không có ý nghĩa gì với kinh tế kế hoạch hoá. Ngân hàng vẫn đứng ngoài cuộc với khu vực kinh tế thị trường nóng bỏng cũng như Bộ Vật tư đóng cửa không cho tư liệu sản xuất của Nhà nước ra thị trường.

Năm 1989, sau những chủ trương đổi mới có tính bước ngoặt, xoá bỏ chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh, trao quyền tự chủ kinh doanh cho xí nghiệp quốc doanh, tự do hoá phân phối tư liệu sản xuất và tự do hoá giá cả, kinh tế thị trường được chính thức xác lập, việc đổi mới tất yếu tiếp theo là xây dựng khuôn khổ thể chế cho việc hình thành hệ thống ngân hàng mới hai cấp, tách biệt chức năng điều tiết chính sách tiền tệ của cấp ngân hàng Trung ương với chức năng kinh doanh phân phối nguồn lực tài chính cho thị trường của cấp các ngân hàng thương mại.

Giữa năm 1989, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) giao cho ông Cao Sỹ Kiêm, Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước, cùng phối hợp với một nhóm chuyên gia độc lập do Hội đồng Bộ trưởng chỉ định cùng soạn thảo hai pháp lệnh ngân hàng.

Một pháp lệnh về Ngân hàng Nhà nước (Ngân hàng Trung ương) và một pháp lệnh về ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính. Việc soạn thảo đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt.

Trong số những chuyên gia độc lập, có giáo sư Phan Văn Tiệm (lúc đó đang là Chủ nhiệm Uỷ ban Vật giá Nhà nước), các ông Lâm Võ Hoàng, Huỳnh Bửu Sơn cựu viên chức ngân hàng của chính quyền Sài Gòn cũ, ông Nguyễn Thiệu cán bộ giúp việc Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt.

Việc sử dụng một nhóm chuyên gia ngoài biên chế ngân hàng với chuyên gia Ngân hàng Nhà nước, và sau này giúp Ngân hàng Nhà nước triển khai thực hiện là cách làm mới mẻ của người chỉ đạo trực tiếp, nhằm lắng nghe ý kiến độc lập và tranh luận nhất trí giữa hai nhóm chuyên gia đồng soạn thảo pháp lệnh đổi mới ngân hàng.

Sau hơn bốn tháng làm việc khẩn trương, vượt qua nhiều cuộc tranh luận thẳng thắn, mấy lần trình xin ý kiến chỉ đạo của Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt, hai dự thảo pháp lệnh hoàn thành. Sau đó, hai dự thảo được mang sang Paris nhờ Ngân hàng Trung ương Pháp đánh giá; nhờ Quỹ tiền tệ quốc tế IMF thẩm định và cử chuyên gia sang Hà Nội tổ chức một lớp tập huấn cho cán bộ Ngân hàng Nhà nước.

Tháng 5 năm 1990, hai pháp lệnh bắt đầu có hiệu lực thi hành sau khi Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công phê chuẩn. Hai pháp lệnh Ngân hàng đem lại nhận thức mới và cơ hội pháp lý tổ chức lại Ngân hàng Nhà nước theo mô hình Ngân hàng Trung ương, cơ cấu lại các ngân hàng thương mại quốc doanh theo hướng kinh doanh đa năng.

Lần đầu tiên, hàng loạt ngân hàng cổ phần tư nhân được phép ra đời và cũng lần đầu tiên, Việt Nam mở cửa cho ngân hàng nước ngoài thành lập liên doanh hoặc mở chi nhánh.

Có thể nói, với Luật Đầu tư nước ngoài và hai pháp lệnh Ngân hàng, vào thời điểm năm 1989 – 1990, Việt Nam đã có hai cam kết pháp lý đầu tiên mở cửa ra bên ngoài và cũng là hai công cụ pháp lý có vai trò đột phá, thúc đẩy Việt Nam chuyển đổi nhanh, sâu rộng sang kinh tế thị trường. Tiếp sau đó, hình thái kinh tế thị trường ở Việt Nam càng được khẳng định bởi các Luật Công ty, Luật Thương mại, Luật Dân sự, Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi)…

Những thành tựu đầu tiên

Đến năm 1993, hệ thống ngân hàng đổi mới đi dần vào nề nếp, hoạt động theo hướng thị trường, bình thường hoá quan hệ với IMF, WB, ADB. Ở cấp hoạch định chính sách tiền tệ, điều tiết và giám sát có Ngân hàng Nhà nước làm chức năng Ngân hàng Trung ương; ở cấp kinh doanh tín dụng có bốn ngân hàng thương mại quốc doanh, hàng chục ngân hàng cổ phần tư nhân, ba ngân hàng liên doanh với ngân hàng nước ngoài và hàng chục chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Những thành tựu bước đầu có tính đột phá của hệ thống ngân hàng mới là vượt qua nỗi ám ảnh của tâm lý sợ “Tiền ra thì giá lên”, chỉ trong vài tháng đã hạ lãi suất tiền gửi từ 12%/tháng xuống 2%/tháng, tăng nhanh cung tiền với tốc độ 30 – 40%/năm, khắc phục nạn khan hiếm tiền mặt, tín dụng ngoài ngân hàng lùi nhanh nhường chỗ cho thị trường tiền tệ chính thức phân phối nguồn lực tài chính cho kinh tế thị trường nảy nở sôi động.

Ở giai đoạn khởi phát, hệ thống ngân hàng Việt Nam không tránh khỏi non nớt nhưng bù lại là sự thận trọng, sự quan tâm sát sao của Thường trực Chính phủ với mục tiêu là duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, quá trình tự do hoá được nới lỏng dần dần. Tiến trình ấy đã giúp ngân hàng có những thành công gây ấn tượng, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định, vượt qua những cú sốc kinh tế trong nước và khu vực.

Việc thực hiện tư duy và chủ trương đổi mới ngân hàng, được thể hiện trong hai Pháp lệnh Ngân hàng năm 1989 – 1990, vì nhiều nguyên nhân, chưa được thật nhất quán, liên tục, mạnh mẽ, với những bước phát triển mới cần thiết. Thành tựu lẽ ra đã có thể lớn hơn.

Hệ thống ngân hàng Việt Nam còn đang vận động đi lên trong tiến trình tiếp tục đổi mới, và nếu tiến trình ấy có những bước cải cách nhanh hơn, Ngân hàng Nhà nước sớm trở thành Ngân hàng Trung ương chủ động hơn, ngân hàng thương mại lành mạnh hơn… thì mức độ thành công sẽ tốt đẹp hơn.

(Trích sách Đổi mới ở Việt Nam: Nhớ lại và suy ngẫm, Chủ biên: Đào Xuân Sâm, Vũ Quốc Tuấn, NXB Tri thức, 2008)

Việt Nam - Ngươi đang ở đâu và sẽ đi đến đâu? (Kỳ 98)Việt Nam - Ngươi đang ở đâu và sẽ đi đến đâu? (Kỳ 100)

Write a comment

You must be logged in to write a comment. If you're not a registered member, please sign up.

December 2009
M T W T F S S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31