Skip navigation

Lost password? | Help

Nghĩa Lâm

Đôi lúc, cái mà nguời ta có được từ công việc của mình không phải là tiền bạc mà là những bài học quý báu - C. Black

Posts tagged with "Cải cách"

Việt Nam - Ngươi đang ở đâu và sẽ đi đến đâu? (Kỳ 97)

,

Võ Văn Kiệt, nhà lãnh đạo kiệt xuất thời kỳ Đổi mới
http://vietnamnet.vn/chinhtri/2008/06/787871/

VietNamNet xin trân trọng giới thiệu bài viết về nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã được đăng tải nhân dịp sinh nhật 85 tuổi (23/11/1922 – 23/11/2007) của nhà lãnh đạo kiệt xuất này.



Với tuổi đời 85 và 70 năm tham gia cách mạng (1938 – 2007), ông đã cống hiến gần như toàn bộ cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc và đổi mới đất nước. Tên tuổi của ông gắn liền với một giai đoạn lịch sử oai hùng và đầy thử thách của dân tộc qua những hoạt động phong phú và nổi bật mang dấu ấn đặc sắc, dấu ấn Võ Văn Kiệt. Dấu ấn về tư tưởng và quyết tâm đổi mới đất nước, đưa đất nước vượt qua tình trạng khó khăn, trì trệ, từng bước phát triển và hội nhập. Dấu ấn về bầu nhiệt huyết không hề vơi cạn theo thời gian và tuổi tác của con người.

Võ Văn Kiệt thuộc thế hệ lãnh đạo hàng đầu đi tiên phong trên con đường đổi mới đất nước. Ông quan niệm rõ ràng và nhất quán về đổi mới: “Đổi mới không phải là xóa bỏ hoàn toàn cái cũ hay từ bỏ chủ nghĩa xã hội mà là nhận thức lại một cách đúng đắn hơn về một chủ nghĩa xã hội nhân bản, hoàn thiện, với lý tưởng phục vụ con người, vì con người”.

Ông là nhà lãnh đạo có sự đóng góp xuất sắc bởi tầm nhìn sâu rộng và trí tuệ sắc sảo. Những phẩm chất tiêu biểu đó, một phần do bẩm sinh, do tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn lâu dài ở những nơi đầu sóng ngọn gió của cách mạng, và đặc biệt do phong cách gần gũi bình dị, khả năng tập hợp và khai thác có hiệu quả những tri thức tiên tiến của một tập thể chuyên gia giỏi về nhiều mặt; chính trị, kinh tế, khoa học công nghệ, văn hoá nghệ thuật v.v….

Nhờ thế, ông cùng với lãnh đạo Đảng và Nhà nước đưa ra được những quyết sách đúng đắn, những giải pháp hiệu quả cho sự phát triển của đất nước. Nhiều chủ trương của Chính phủ mang dấu ấn của cá nhân Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã được thực tiễn chứng minh là đúng đắn, nhưng không phải được mọi người đồng tình ngay từ đầu.

Để biến đường lối, chủ trương thành hiện thực, Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã từng thể hiện một phong cách lãnh đạo sâu sát, cụ thể và đặc biệt lòng dũng cảm đến mức quyết liệt. Và trên hết là bầu nhiệt huyết đối với vận mệnh của đất nước và số phận của nhân dân không hề vơi cạn.

Ông thể hiện phong cách, tinh thần đó không chỉ khi ở cương vị nhà lãnh đạo cao nhất của một thành phố (Bí thư Thành uỷ TP. HCM), của Chính phủ, mà cả khi ông không còn giữ trọng trách nào trong Đảng và Nhà nước.

Trong 10 năm nay (1997 – 2007), trước mỗi sự kiện nóng bỏng, quan trọng mang tầm quốc gia hoặc ảnh hưởng lớn đến quyền lợi nhân dân, lại thấy Công dân Võ Văn Kiệt lên tiếng. Có khi là một bài viết, có lúc là bài trả lời phỏng vấn, và đặc biệt có cả những bức thư ngỏ công khai gửi lên các cấp lãnh đạo đất nước.

Trong thời gian gần đây, ông phát biểu ý kiến, kiến nghị với các cơ quan đảng và nhà nước dồn dập hơn. Từ những vấn đề trọng đại như ý kiến “đóng góp với đại hội X”, hoà hợp dân tộc, đến những kiến nghị, góp ý, phát biểu về những sự việc cụ thể như: quy hoạch về “thành phố dọc sông Hồng”, việc “xây nhà Quốc hội” v.v....Những ý kiến của ông được trình bày thẳng thắn và chứa tâm huyết lớn với nước với dân. Dù được chấp nhận hay không, các ý kiến của ông đều rất quý, rất đáng trân trọng, phù hợp lòng dân và được người dân mong chờ, đón nhận.

Tư tưởng “đổi mới”, hành động “đổi mới”, công lao trong sự nghiệp “đổi mới” cùng với bầu nhiệt huyết với đất nước và nhân dân của Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đưa ông trở thành một trong những nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước xuất sắc, một hình ảnh tiêu biểu của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập.

Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt thực sự được nhân dân cả nước yêu quý với tên gọi thân thiết Sáu Dân và được bạn bè trên thế giới nể trọng. Đó là món quà quý giá nhất cuộc đời dành tặng ông.

* GS Trần Thanh Minh

Cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt qua đời
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/06/080611_vovankiet_dies.shtml

Tôi rất hy vọng thông tin này không đúng

Cựu thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt, một trong các nhà lãnh đạo hàng đầu thời kỳ đổi mới, vừa từ trần ở tuổi 85.



Được tin ông Võ Văn Kiệt (tên thật là Phan Văn Hòa) qua đời lúc 6:40 sáng thứ Tư 11/6 tại Singapore nơi ông đang chữa bệnh.

Chưa rõ nguyên nhân dù có các nguồn tin khác nhau nói trước đó ông Kiệt bị tai biến mạch máu não. Nhưng cũng có tin nói ông bị bệnh đường hô hấp.

Được biết thi hài ông Kiệt đã được đưa trở về Việt Nam.

Khi được hỏi về tang lễ bà Hiếu Dân, con gái ông Kiệt nói với BBC: "Các anh trong ban bí thư ngày mai họp và thông báo, chứ gia đình cũng chưa biết gì."

Phản biện xã hội

Ông Kiệt từng giữ các chức vụ quan trọng như chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Thủ tướng chính phủ (1991-1997). Ông cũng là ủy viên bộ Chính trị trong suốt sáu khóa liền.

Ông Võ Văn Kiệt là người đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình đổi mới kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Thậm chí ông từng được mệnh danh 'kiến trúc sư' của tiến trình đổi mới.

Là một trong các nhân vật lãnh đạo miền Nam, cả sau khi về hưu, ông Kiệt vẫn có ảnh hưởng lớn.

Trong những năm gần đây, ông được biết tới như một nhà phản biện với tiếng nói có sức nặng và uy tín không thể chối cãi.

Ông Võ Văn Kiệt là một trong các 'kiến trúc sư' của tiến trình Đổi mới
Cựu thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt, một trong các nhà lãnh đạo hàng đầu thời kỳ đổi mới, vừa từ trần ở tuổi 85.

Được tin ông Võ Văn Kiệt (tên thật là Phan Văn Hòa) qua đời lúc 6:40 sáng thứ Tư 11/6 tại Singapore nơi ông đang chữa bệnh.

Chưa rõ nguyên nhân dù có các nguồn tin khác nhau nói trước đó ông Kiệt bị tai biến mạch máu não. Nhưng cũng có tin nói ông bị bệnh đường hô hấp.

Được biết thi hài ông Kiệt đã được đưa trở về Việt Nam.

Khi được hỏi về tang lễ bà Hiếu Dân, con gái ông Kiệt nói với BBC: "Các anh trong ban bí thư ngày mai họp và thông báo, chứ gia đình cũng chưa biết gì."

Phản biện xã hội

Ông Kiệt từng giữ các chức vụ quan trọng như chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Thủ tướng chính phủ (1991-1997). Ông cũng là ủy viên bộ Chính trị trong suốt sáu khóa liền.

Ông Võ Văn Kiệt là người đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình đổi mới kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Thậm chí ông từng được mệnh danh 'kiến trúc sư' của tiến trình đổi mới.

Là một trong các nhân vật lãnh đạo miền Nam, cả sau khi về hưu, ông Kiệt vẫn có ảnh hưởng lớn.

Trong những năm gần đây, ông được biết tới như một nhà phản biện với tiếng nói có sức nặng và uy tín không thể chối cãi.


Sinh ngày 23/11/1922 trong một gia đình nông dân tại xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Cửu Long (nay là tỉnh Vĩnh Long), ông Võ Văn Kiệt bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1938.

Ông gia nhập đảng Cộng sản một năm sau đó.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và cuộc chiến Việt Nam, ông Kiệt hoạt động chủ yếu tại địa bàn Nam Bộ với bí danh Sáu Dân.

Sau 1975, ông giữ chức Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh.

Ông Võ Văn Kiệt làm ủy viên Bộ Chính trị từ 1982-1997. Ông rút khỏi Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương ĐCS tại đại hội IV năm 1997 nhưng giữ vai trò cố vấn cho Ban Chấp hành tới năm 2001.

Hòa giải dân tộc

Từ 2001 tới nay, ông Võ Văn Kiệt đã góp tiếng nói có uy tín trong nhiều chính sách có liên quan tới xã hội - dân sinh.

Ông là cựu lãnh đạo Việt Nam đầu tiên công khai đặt vấn đề hòa hợp - hòa giải dân tộc.

Trong một phỏng vấn hiếm hoi với BBC, ông Kiệt nói:

"Tổ quốc là của mình, dân tộc là của mình, quốc gia là của mình, Việt Nam là của mình, chứ không phải là của riêng của người cộng sản hay của bất cứ tôn giáo hay phe phái nào cả".

Ông cũng kêu gọi đối thoại với những người bất đồng chính kiến.

Lần cuối cùng ông Võ Văn Kiệt lên tiếng trên công luận là để nêu quan ngại về hai dự án: mở rộng Hà Nội và xây dựng tòa nhà Quốc hội.

Việt Nam - Ngươi đang ở đâu và sẽ đi đến đâu? (Kỳ 96)

,

VNĐ đang trượt giá, có tiền nên làm gì?
http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=123602&ChannelID=3

Tác phong nhanh nhẹn, giọng nói sôi nổi, khi nói về những vấn đề kinh tế, ông Cao Sỹ Kiêm đã để lại ấn tượng về một chuyên gia tư vấn tiền tệ. Ông “mổ xẻ” tình hình lạm phát đang diễn ra hiện nay.



Có vẻ những năm tháng trên cương vị đứng đầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong thời kỳ đầu đổi mới (1988-1997) đã cho ông những kinh nghiệm xử lý khá bài bản.

Lạm phát cao - Có lỗi “hệ điều hành”

Những yếu tố tác động bên ngoài thì chúng ta đã biết (kinh tế thế giới xấu đi, mình là nước có yếu tố phụ thuộc cao; giá dầu và giá lương thực tăng mạnh, rồi thiên tai, dịch bệnh…) còn “nội tại” bên trong, lạm phát đến từ rất nhiều nguyên nhân: nền kinh tế, chính sách tài khóa, lỗi hệ điều hành, chính sách đầu tư công, chính sách nhập siêu.

Vào WTO, những yếu kém tồn tại của mình nó “bật” lên hết. Ý nữa, đúng là không thể phủ nhận chúng ta đã có “lỗi” trong hệ điều hành. (Cái này nói theo nghĩa rộng, nói chung của cả một hệ thống; cả của các DN, của xã hội chứ không phải chỉ có riêng Chính phủ).

Điều hành thì có mấy cái thế này: thứ nhất là dự báo thì chưa chính xác; thứ hai là phối hợp chưa đồng bộ. Đáng lẽ có 4-5 kênh như thế thì phải hoạch định đồng thời nhưng vừa qua chúng ta mới làm được có 1 kênh với ngân hàng…

Mặc dù cuối năm ngoái chúng ta đã thấy rất rõ và có một hệ thống giải pháp toàn diện nhưng do điều hành có vấn đề nên lạm phát không những không giảm xuống mà lại tăng lên.

Thưa ông, “lỗi” trong hệ điều hành góp bao nhiêu phần vào con số lạm phát hiện nay?

Nói chung thì không thể định lượng chính xác bao nhiêu phần trăm nhưng nếu điều hành tốt hơn, khắc phục được những điểm yếu sẵn có của nền kinh tế thì chắc chắn lạm phát sẽ không phải ở mức như thế.

Về ý kiến cho rằng một phần “lỗi” này thuộc về những bộ, ngành có liên quan trực tiếp đến điều hành chống lạm phát, theo tôi cần phải có sự kiểm điểm sâu sắc của chính phủ, phải có phân tích ngược xuôi; phải nhìn nhận từng vị trí một để quy trách nhiệm, tất nhiên phải có đánh giá toàn diện cả khách quan và chủ quan chứ không nên quy kết ngay lỗi thuộc về cá nhân ai đó.

Hệ thống ngân hàng liệu có xảy ra “đổ vỡ”?

Là người đã từng nắm giữ vị trí cao nhất trong ngành ngân hàng, ông nói gì về “sức khỏe” hiện tại của hệ thống ngân hàng? Hiện đang có mối lo ngại của người dân về việc có thể xảy ra đổ vỡ như hệ thống quỹ tín dụng ngày xưa?

Yên tâm. Mọi thứ bây giờ đã khác xa. Ngân hàng đúng là biểu hiện sức khỏe của nền kinh tế. Tất nhiên, sẽ theo thứ tự những NH nào yếu thì bị tác động trước, khỏe bị tác động sau.

Năm 2007, vốn khả dụng của nhiều NH, nhất là khối những NH thương mại cổ phần từ nông thôn chuyển lên NH thương mại cổ phần đô thị rất nhiều. Nhẽ ra ngân hàng trung ương phải có giải pháp thông qua thị trường rút vốn về thì có thể ổn định hơn.

Nhưng trên thực tế do không rút về, cứ để vốn thừa “chết cứng” đấy, thành ra các NH có vốn thừa nhiều mới “điều” sang thị trường chứng khoán; cuối năm 2007, lại đổ thêm vào thị trường bất động sản.

Một cách nhanh chóng hai anh này phối hợp với nhau đẩy vốn ra, làm thị trường này tăng lên nhanh, kéo theo lãi suất ảo. Và hệ quả là những NH nào lao vào những lĩnh vực này dễ bị rủi ro.

Đặc biệt là những NH mới từ khối nông thôn lên, chưa có công nghệ, nhân sự thì còn thiếu và yếu mà vốn thì quá lớn…

Cái này cũng là một bài học để chúng ta cần xem xét: phát triển NH như thế nào cho nó có chất lượng...

Còn e ngại về khả năng xảy ra như đổ vỡ tín dụng trước kia, chúng ta đã có kinh nghiệm và biện pháp đề phòng rồi.

Ví dụ như là bảo hiểm tiền gửi, phòng ngừa rủi ro, đó là những dây an toàn mà chúng ta đã thiết kế theo xu hướng thị trường và người dân có thể yên tâm.

“Có tiền, nên tìm cơ hội đầu tư vào kinh doanh”

Tỷ giá giữa VNĐ và USD đang biến động mạnh theo chiều hướng VNĐ giảm giá. Ông nhìn nhận thế nào về đồng tiền của ta trong thời điểm hiện tại và trong một tương lai gần?

Đồng tiền của mình nếu so với cái chung thì vẫn còn những yếu tố thuận lợi đấy. Chỉ số xuất khẩu của nước mình so với GDP vẫn có tốc độ tăng cao, khả năng xuất khẩu tốt.

Hiện nay thế giới có 2 vấn đề gây ra lạm phát là mất cân đối lương thực, thực phẩm và giá xăng dầu tăng cao, nhưng với ta lại có phần thuận lợi hơn.

Có thể lạc quan nhìn vào các chỉ số tăng trưởng được không khi mà những người dân, kể cả sống ở nông thôn hay thành thị đang “nhìn thấy” đồng tiền trượt giá khá nhanh. Gần như giá tất cả các loại dịch vụ, nguyên liệu đầu vào sản xuất đều tăng mạnh?

Phải thừa nhận những cái này đang ảnh hưởng mạnh vào những người làm công, ăn lương. Đấy là vấn đề khiến Chính phủ khi xử lý lạm phát đang rất chú ý.

Cụ thể là giữ cân đối giá những mặt hàng thiết yếu không cho tăng nhiều, cố gắng để cho chính sách phúc lợi chung có điều kiện cải thiện đời sống người dân tốt hơn. Nhưng việc chia sẻ khó khăn giữa nhà nước, doanh nghiệp và người dân cần phải nêu rất cụ thể.

Chẳng hạn với việc tăng giá xăng dầu “ông” phải lượng hóa ra trong 1 lít xăng đó nhà nước lỗ bao nhiêu, doanh nghiệp gánh bao nhiêu, còn bao nhiêu là người dân phải chịu.

Trong tình hình hiện nay, một người đang có một khoản tiền đồng là 100 triệu, ông khuyên họ sẽ làm gì?

Bây giờ đúng là đô la đang tăng giá trở lại, trong khi chỉ vài tháng trước các NHTM kêu thừa, cái đó là biến động mới. Nếu có 100 triệu, trước tiên là phải chọn xem trong tình hình này có thể đầu tư vào sản xuất không?

Nên đi tìm chỗ nào, cơ hội nào để đầu tư kinh doanh, thậm chí kể cả chứng khoán. Còn nếu không có điều kiện, trình độ kinh doanh thì phải gửi vào tiết kiệm thôi.

Nếu chọn hình thức gửi tiết kiệm, vào lúc này, người dân nên chọn ngân hàng theo quy mô hay theo lãi suất?

Nơi nào an toàn mà lợi thì người ta có thể gửi vào, chứ không nhất thiết phải là ngân hàng lớn. NH có thể nhỏ nhưng mà có chỉ số an toàn tốt thì vẫn rất đáng tin cậy.

Theo tôi đó là những NH có số liệu được công bố thường xuyên, có hiệu số lợi nhuận, công nghệ tốt…

Thị trường chứng khoán sẽ ra sao?

Thị trường chứng khoán đang sụt giảm kỷ lục, bất động sản cũng có dấu hiệu đóng băng, trước việc “tiền tỷ” bốc hơi, mọi người đang băn khoăn không biết đồng tiền đang ở đâu.

Phải chăng nó đã nằm trong tay một số quỹ đầu cơ (hedge fund) thông qua việc buôn chứng khoán trên thị trường Việt Nam?

Chúng ta phải hiểu các nhà đầu tư nước ngoài vào đây làm gì, khi nào, nơi nào có lợi nhuận thì họ thu hái, họ làm thôi. Vừa qua đúng là có một số nhà đầu tư đã thu hái được.

Ví dụ như chứng khoán lúc mà cao tướng lên thì họ bán, khi xuống thấp thì họ mua vì họ trường vốn và có cái nhìn trung hạn, họ không hùa đám đông và họ cũng không có sự hỗn loạn theo kiểu tháo chạy.

Nói họ dẫn dắt TTCK cũng đúng vì họ nắm số lượng lớn, lại có tiền, có thông tin, trình độ để phán đoán được.

Ông có dự đoán là thị trường chứng khoán sẽ phục hồi trong năm nay không?

TTCK sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào nền kinh tế đất nước, vì chứng khoán chỉ sôi động trên cơ sở có luồng vào, luồng ra. Các yếu tố kinh tế thông suốt vào ra một cách bình thường thì nó sẽ khởi sắc hơn lên. Còn bây giờ thì dứt khoát là sẽ còn khó khăn…

Khánh Huyền

Việt Nam - Ngươi đang ở đâu và sẽ đi đến đâu? (Kỳ 95)

,

Không có cuộc tấn công tiền tệ mang tính đầu cơ ở Việt Nam
http://www.nguoidaibieu.com.vn/Trangchu/VN/tabid/66/CatID/3/ContentID/42038/Default.aspx

Một số chuyên gia mới đây bày tỏ lo ngại rằng, trong tình trạng rối ren về chính sách lãi suất và tỷ giá như hiện nay tại Việt Nam thì nguy cơ xảy ra một cuộc tấn công tiền tệ của những nhà đầu cơ nước ngoài là rất cao. Kết cục là một cuộc khủng hoảng tài chính với cuộc tháo chạy của các nhà đầu tư và đầu cơ nước ngoài khi VND bị phá giá không kiểm soát. Vậy khả năng đổ vỡ và khủng hoảng xảy ra theo kịch bản này là như thế nào?



Cơ chế tấn công tiền tệ của các nhà đầu cơ nước ngoài thường là như sau: Ngân hàng trung ương tuyên bố (hoặc ngầm định) giữ tỷ giá cố định hoặc biên độ trong một biên độ giao động hẹp. Nếu các nhà đầu cơ tin/kỳ vọng rằng đồng nội tệ đang bị định giá cao hơn giá trị thực (tức là phải bị phá giá hơn nữa) so với USD, và nếu họ biết rõ về khả năng can thiệp vào tỷ giá của ngân hàng trung ương thông qua sử dụng quỹ dự trữ ngoại tệ của mình là có hạn, thì họ sẽ tấn công vào cơ chế neo giữ tỷ giá này bằng cách liên tục vay bằng nội tệ (VND) rồi mua USD tại nước sở tại (Việt Nam) theo tỷ giá trên thị trường ngoại hối chính thức. Vì cầu USD tăng lên nên ngân hàng trung ương phải bán USD ra để can thiệp nhằm bình ổn tỷ giá. Nhưng hành động can thiệp này có hạn, phụ thuộc vào mức độ dự trữ ngoại hối của ngân hàng trung ương cũng như phụ thuộc vào mức độ tấn công dai dẳng của nhà đầu cơ. Trong tình huống xấu nhất, ngân hàng trung ương mặc dù đã dùng quá nhiều dự trữ ngoại hối của mình nhưng vẫn không thắng nổi ý chí tấn công liên tục của nhà đầu cơ nên buộc phải từ bỏ ý định can thiệp ổn định tỷ giá. Kết cục là đồng bản tệ bị phá giá tự do không kiểm soát, gây hoảng loạn trong giới đầu tư nước ngoài, làm nhu cầu chuyển đổi từ nội tệ sang ngoại tệ càng tăng mạnh, đến lượt nó lại làm cho nội tệ mất giá hơn nữa trong một vòng xoáy trôn ốc.
Đến lúc này các nhà đầu cơ tiền tệ mới ung dung tung một phần USD mà họ mới vừa mua trước đây ở nước sở tại ra để mua nội tệ nhằm thanh toán các khoản vay bằng nội tệ từ hệ thống ngân hàng sở tại dùng để tấn công hệ thống tỷ giá nước này. Nói là họ chỉ tung “một phần” USD vì đồng nội tệ đã bị phá giá rất nhiều so với thời điểm họ vay ngân hàng nên nay họ chỉ cần một phần trong số USD mua gom được là cũng đủ để mua lại đúng số bản tệ mà họ đã vay. Kết quả là nhà đầu cơ thu được một khoản USD chênh lệch đáng kể từ hoạt động tấn công mang tính đầu cơ này. Còn nền kinh tế sở tại thì bị tổn thương nghiêm trọng với đồng bản tệ mất giá, nhà đầu tư nước ngoài nghiêm túc (dài hạn) thì hoảng sợ bỏ chạy, các hoạt động sản xuất và kinh doanh bị đình đốn, và nền kinh tế thậm chí có khả năng rơi vào khủng hoảng.
Tuy nhiên, điều kiện để xảy ra kịch bản trên không hoàn toàn dễ dàng. Nhà đầu cơ chỉ có thể tấn công cơ chế tỷ giá khi: (1) nhà đầu cơ có thể dễ dàng vay nội tệ từ hệ thống ngân hàng sở tại với mục đích không rõ ràng; (2) nhà đầu cơ có thể dễ dàng mua USD từ hệ thống ngân hàng; (3) một tỷ trọng lớn vốn đầu tư nước ngoài vào nước sở tại là vốn đầu tư ngắn hạn; (4) nhà đầu tư nước ngoài dễ dàng mang vốn ngoại tệ ra nước ngoài; (5) ngân hàng trung ương kiên định thái quá vào việc bảo vệ cơ chế neo tỷ giá chặt chẽ (hầu như cố định) bằng mọi giá.
Nếu không thỏa mãn được những điều kiện này thì hoặc là nhà đầu cơ không vay được nội tệ để thực hiện đòn tấn công “tay không bắt giặc”, hoặc là họ vay được nội tệ nhưng cho dù tỷ giá có bị thả nổi chăng nữa nhưng nhà đầu tư và cả đầu cơ không thể mang USD ra ngoài lãnh thổ nước sở tại nên sẽ không tạo ra được vòng xoáy trôn ốc nói trên và làm mất đi động cơ tấn công đầu cơ là để kiếm chênh lệch USD mang lại từ hành động đi vay và hành động mua USD ở nước sở tại.
Rất may cho Việt Nam là hiện nay tất cả những điều kiện trên đều không tồn tại. Với tình trạng khan hiếm VND như hiện nay và việc thắt chặt cho vay, hầu như không một nhà đầu cơ tiền tệ nào có thể vay nổi VND từ hệ thống ngân hàng (có lẽ trừ khi họ vạch ra những dự án sản xuất kinh doanh “ma” nào đó để thuyết phục ngân hàng cho vay, nhưng dẫu vậy thì khả năng thành công cũng rất thấp). Việc mua USD từ hệ thống ngân hàng cũng đã bị thắt chặt, và họ chỉ mua được trừ khi chứng minh được mục đích hợp pháp theo quy định quản lý ngoại hội hiện hành (tất nhiên không có mục đích dành cho đầu cơ). Thậm chí trong tình hình cung cầu ngoại tệ căng thẳng như thế này thì việc mua được USD từ hệ thống ngân hàng cũng không đơn giản. Còn việc chuyển vốn ngoại tệ ra nước ngoài thì càng gian nan hơn với nhiều quy định và thủ tục nhằm chứng minh nguồn gốc của khoản ngoại tệ và mục đích chuyển ra nước ngoài. Thêm nữa, phần lớn nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam hiện nay là nhà đầu tư dài hạn (FDI) nên động cơ tháo chạy của họ không mạnh bằng của những nhà đầu tư ngắn hạn. Và cuối cùng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không có ý định cố định tỷ giá, và luôn tuyên bố (cũng như trên thực tế có làm như vậy) một cơ chế tỷ giá linh hoạt. Tất cả những yếu tố này hoặc là làm nản lòng nhà đầu cơ tiền tệ, hoặc là ngăn họ không thể thực hiện được hành động tấn công mang tính đầu cơ tại Việt Nam.
Như vậy, có thể kết luận lại rằng hành động tấn công mang tính đầu cơ – vốn là nguồn gốc gây ra khủng hoảng tài chính ở khu vực và các nơi khác trên thế giới – không có điều kiện xảy ra ở Việt Nam, ít nhất là trong bối cảnh hiện tại. Cảnh báo sớm, nếu đúng, là một điều tốt để cho các cơ quan quản lý chức năng nhận thức rõ hơn nguy cơ để từ đó có biện pháp phòng bị. Nhưng cảnh báo, nhất là đưa ra công khai trên báo chí, dựa trên nhận thức mang tính sách vở, hời hợt, chủ quan, và phiến diện thì chỉ có tác dụng hà hơi thêm cho tình trạng rối ren của nền kinh tế, và có khi chính vì thế đẩy nền kinh tế rơi vào khủng hoảng.

Ts Phan Minh Ngọc

Việt Nam - Ngươi đang ở đâu và sẽ đi đến đâu? (Kỳ 94)

,

Bài 2: Ruộng của dân biến thành... biệt thự nhà vườn
http://vietnamnet.vn/xahoi/2008/06/787579/

Như VietNamNet đã phản ánh, rất nhiều người dân tại 4 xã Yên Trung, Yên Bình, Tiến Xuân, Đông Xuân (Hoà Bình) đang ở tình trạng không còn ruộng để cày, tất cả chỉ trông mong vào số tiền đền bù ít ỏi từ việc thu hồi ruộng. Trong khi đó, qua khảo sát, chỉ riêng xã Tiến Xuân đã có tới gần 20 dự án "biệt thự nhà vườn, thể thao giải trí" đang chuẩn bị đi vào hoạt động.



Ruộng thành biệt thự nhà vườn!

Trong đơn kiến nghị gửi tới Báo Điện tử VietNamNet, những người dân hiện đang sống tại xóm Miễu, xã Tiến Xuân, cho biết: "Hiện nay, 160 hộ dân với gần 600 nhân khẩu xóm Miễu đang sắp rơi vào tình trạng thất nghiệp, phải lo ăn từng bữa do diện tích trồng lúa tại cánh đồng Văn mà người dân chúng tôi trồng cấy từ bao đời nay đã ở trong diện bị thu hồi để giao cho một số công ty thực hiện dự án xây dựng các khu "Biệt thự nhà vườn và thể thao giải trí".

Ông Hoàng Văn Sáng - người dân tộc Mường ở xóm Gò Mè cho biết thêm: "Không chỉ người dân xóm Miễu mà người dân ở các xóm khác như Gò Mè, Nhòn và Bãi Dài thuộc xã Tiến Xuân cũng đều gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, khi hầu hết diện tích ruộng lúa trên địa bàn xã đều nằm trong các dự án.

Người dân chúng tôi bao đời nay chỉ biết sống bằng nghề nông, giờ ruộng sắp bị thu hồi, giá đền bù chỉ được áp ở mức 27.000 đồng/m2, tương đương 9.720.000 đồng/sào. Nhà nào nhiều thì cũng có tới 10 sào ruộng, tổng tiền đền bù được hơn trăm triệu làm sao đủ để cả 1 hộ gia đình với 10 nhân khẩu sinh sống cho đến khi tìm được việc mới hoặc chuyển sang làm nghề phụ".

Ngoài ra, theo ông Sáng, điều khiến người dân ở đây cảm thấy khó hiểu và bất bình là trong cùng một xã, mỗi công ty lại có một phương án đền bù khác nhau. "Công ty TNHH Xuân Cầu chỉ đền bù cho chúng tôi với giá 9.720.000 đồng/sào trong khi bên cạnh đó, công ty Phú Đạt lại tiến hành đền bù cho dân xóm Nhòn - xóm Miễu với giá 30.000.000 đồng/sào" - ông cho hay.

Ông Bùi Văn Bình - người dân xóm Miễu bức xúc: "Chúng tôi không phản đối việc chính quyền ra quyết định thu hồi đất để làm các dự án nhưng chúng tôi mong muốn việc đền bù được thoả đáng để người dân có cơ hội chuyển đổi nghề sau khi mất đất. Mặt khác, trước khi tiến hành thu hồi đất, các doanh nghiệp đều hứa sẽ có phương án giúp người dân chuyển đổi nghề, tiếp nhận lao động địa phương vào làm việc nhưng cho đến nay, chỉ có một vài người được nhận vào làm bảo vệ, còn lại hàng trăm lao động khác vẫn phải chạy ăn từng bữa cho gia đình".

Trao đổi với phóng viên VietNamNet, ông Bùi Văn Tình - Chủ tịch UBND xã Tiến Xuân cho rằng: "Hiện trên toàn xã đã có gần 20 dự án đang chuẩn bị đi vào hoạt động. Mọi thắc mắc, khiếu nại của người dân đêu bắt nguồn từ việc khung giá đền bù thấp, các doanh nghiệp lấy đất không có phương án cụ thể để đào tạo, chuyển đổi nghề cho người dân.

Với trách nhiệm của mình, Ban lãnh đạo xã chúng tôi rất thông cảm với bà con nhưng việc giải quyết các thắc mắc, kiến nghị đó lại nằm ngoài thẩm quyền của xã. Lãnh đạo xã chúng tôi cũng đã nhiều lần thay mặt người dân kiến nghị, đề đạt nguyện vọng về việc nâng giá đền bù, tạo công ăn việc làm cho người dân sau khi bị thu hồi đất".

Dân chưa nhận tiền, xã đã cưỡng chế?

Còn trường hợp của ông Lê Cao Sơn ở xóm Bãi Dài có gần 9 sào ruộng nằm trong diện bị thu hồi. Trước thời điểm có thông báo nhận tiền đền bù, ông có lên xã, lên huyện đưa đơn kiến nghị để đề nghị chính quyền trả lời cụ thể về giá đền bù. Tuy nhiên, trong khi chưa nhận được câu trả lời của chính quyền huyện thì ở xã người ta đã gọi ông Sơn lên để nhận tiền đền bù. "Chỉ ít ngày sau khi có thông báo nhận tiền, chính quyền xã đã tổ chức cưỡng chế, san ủi toàn bộ diện tích ruộng của gia đình tôi" - ông Sơn thuật lại.

Tương tự như trường hợp của gia đình ông Sơn, gia đình bà Vũ Thị Tuyết ở số 17 - ngách 93/30 phố Vương Thừa Vũ, quận Thanh Xuân, Hà Nội cũng bị cưỡng chế đối với hơn 20.000m2 đất đang sử dụng hợp pháp tại xóm Nhòn, xã Tiến Xuân. Bà Tuyết khẳng định: "Trong suốt quá trình từ khi lập dự án cho tới ngày 22/8/2007 - ngày bị tổ chức cưỡng chế hành chính, gia đình tôi chưa hề nhận được bất cứ thông báo nào về việc thu hồi đất mà chỉ nhận được 7 thông báo lên nhận tiền đền bù.

Trước khi bị cưỡng chế, tôi đã nhiều lần tìm tới trụ sở UBND huyện Lương Sơn và UBND xã Tiến Xuân để đề nghị được cung cấp các văn bản có liên quan tới việc thu hồi đất nhưng chính quyền địa phương không hề trả lời. Đến tận ngày 27/8/2007 - 5 ngày sau khi bị cưỡng chế thì tôi mới được cán bộ huyện bàn giao Quyết định số 1123 về việc thu hồi đất".

Khó hiểu hơn cả trường hợp của gia đình bà Tuyết, gia đình ông Nguyễn Chí Phưởng trú tại số 15, ngách 438/4 phố Tây Sơn, Đống Đa, Hà Nội đã bị cưỡng chế hành chính để giải phóng mặt bằng khi mà toàn bộ các thửa đất của gia đình ông Phưởng đang sử dụng hợp pháp đều không có tên trong các văn bản, quyết định thu hồi đất của UBND huyện Lương Sơn.

Bà Đinh Thị Chân Phương - Vợ ông Phưởng bức xúc: "Ngày 30/5/2007, gia đình tôi có nhận được Quyết định số 432/QĐ-UBND do ông Hoàng Thanh Mịch - Chủ tịch UBND huyện Lương Sơn ký với nội dung "Quyết định cưỡng chế hành chính giải phóng mặt bằng đối với gia đình ông Phưởng để thu hồi đất cho Công ty TNHH Xuân Cầu xây dựng khu biệt thự nhà vườn và thể thao giải trí".

Đối chiếu tên của các thửa đất trong Quyết định 432 với các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà gia đình tôi đang sở hữu, chồng tôi nhận thấy toàn bộ số thửa đất của gia đình tôi đều không phù hợp với tên nêu trong Quyết định 432 nên đã có đơn khiếu nại gửi tới UBND huyện Lương Sơn để đề nghị xem xét lại quyết định cưỡng chế. Tuy nhiên, sáng 7/6/2007 các thửa đất của gia đình tôi vẫn bị cưỡng chế như thường".

Ông Đinh Công Bào ở xóm Nhòn thẳng thắn nói: "Chúng tôi chưa đồng tình với phương án đền bù thì đã bị cưỡng chế. Sau khi bị thu hồi đất, dân chúng tôi chẳng còn gì ngoài cái xác nhà. Tiền thì ai cũng cần nhưng một vài trăm triệu cũng chỉ giúp chúng tôi sống được một thời gian, đến khi hết tiền mà lại chẳng nghề nghiệp gì thì biết trông chờ vào ai?".

Do ông chủ tịch UBND xã Tiến Xuân đã khẳng định vấn đề này nằm ngoài thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết của cán bộ xã, nên chúng tôi đã cố gắng liên lạc với lãnh đạo cấp trên của địa phương này để tìm câu trả lời, song không thể thực hiện...

* Công Thanh

Việt Nam - Ngươi đang ở đâu và sẽ đi đến đâu? (Kỳ 93)

,

Bài 1: Chưa "lên" thủ đô, nhiều nông dân đã hết ruộng
http://vietnamnet.vn/xahoi/2008/06/787377/

Dự kiến, 4 xã Yên Trung, Yên Bình, Tiến Xuân, Đông Xuân thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình sẽ được sáp nhập về với Hà Nội. Trong khi kế hoạch sáp nhập này vẫn đang nằm trên văn bản thì người dân 4 xã đã thấp thỏm lo lắng, bởi phần lớn đã chẳng còn mảnh ruộng nào để sinh nhai...



Người lớn lo...

Từ ngày có tin sẽ được sáp nhập về với Hà Nội, đi xe trên đường qua 4 xã Yên Trung, Yên Bình, Tiến Xuân, Đông Xuân, đâu đâu cũng có thể bắt gặp những nhóm thanh niên, phụ nữ và cả người già to nhỏ bàn tán về chuyện bán đất, bán ruộng và đền bù.

Hàng nghìn người dân tộc Mường ở 4 xã này từ bao đời nay chỉ biết làm rừng, làm ruộng bỗng chốc có mối quan tâm mới: "Có dự án nào lấy vào đất nhà mình hay không?".

Ông Đinh Công Bào, người dân tộc Mường ở xóm Nhòn, xã Tiến Xuân than thở: "Cả nhà có 16 nhân khẩu, 10 sào đất ruộng và mấy héc-ta đồi rừng. Từ ngày có tin sẽ được nhập về Hà Nội, những dự án như khu biệt thự, nhà vườn và thể thao giải trí mọc lên như nấm. Chính quyền đã phê duyệt, ra quyết định thu hồi đất và đền bù cho dân 9,7 triệu/ 1 sào. Vậy nên, nếu như trước đây nhờ có 10 sào ruộng, 1 năm gia đình tôi chỉ phải lo ăn 3 - 4 tháng thì bây giờ ruộng bị ủi hết rồi, 16 người nhà tôi phải lo ăn đủ 12 tháng một năm".

Tương tự như gia đình ông Bào, gia đình ông Lê Cao Sơn ở xóm Bãi Dài cũng bị thu hồi hết hơn 8 sào ruộng nên thu nhập của gia đình hiện chỉ còn trông vào mấy héc-ta rừng trồng trên đỉnh đồi sau nhà.

Ông Sơn nói như khóc: "Ruộng hết, rừng trồng vài ba năm mới thu hoạch được nên trong khoảng thời gian chờ rừng cho thu hoạch thì gia đình tôi chẳng biết sống bằng gì. Trước khi thu hồi đất, Ban dự án có nói là sẽ hỗ trợ người dân về việc làm nhưng rồi họ chỉ hỗ trợ 1,5 triệu/lao động để tìm việc làm. Số tiền đó còn chưa đủ để đổ xăng chạy xe máy đi xin việc ấy chứ, nói gì đến chuyện có việc làm".

Theo tìm hiểu của phóng viên VietNamNet, hiện cuộc sống của hàng trăm hộ dân tại các xóm Bãi Dài, Gò Mè, xóm Nhòn của xã Tiến Xuân đang ở trong tình trạng khó khăn khi ruộng không còn, rừng cũng có thể bị thu hồi, việc làm thì không có.

Ông Sơn tâm sự: "Dù được trở thành người Hà Nội hay vẫn là người Hòa Bình thì người dân chúng tôi vẫn cần phải có đất để canh tác và kiếm gạo bỏ vào miệng. Chúng tôi thực sự chỉ biết sống nhờ vào ruộng và rừng, nếu xã thu lại hết thì chẳng biết tìm ra kế nào mà sinh nhai".

Không chỉ ở xã Tiến Xuân, người dân các xã Yên Trung - Yên Bình và Đông Xuân cũng đang phải phấp phỏng lo chuyện bị thu đất canh tác, bởi ngay sau khi có thông tin sẽ được sáp nhập về Hà Nội, rất nhiều công ty đã đổ về khu vực này để lập dự án xin đất.

Ông Hoàng Văn Bình ở xã Yên Bình cho biết: "Tôi có nghe mấy cán bộ xã nói về việc các công ty thi nhau lập dự án để xin đất, tuy nhiên hầu hết đều là những dự án xây dựng nhà vườn, biệt thự và khu vui chơi giải trí chứ chả thấy công ty nào lập dự án xin đất để mở xưởng sản xuất, tạo điều kiện cho dân địa phương có công ăn việc làm sau khi mất ruộng cả".

Bà Đinh Thị Nhàn ở xã Đông Xuân nói: "Dân chúng tôi ở đây xưa nay chỉ biết con trâu, cái cày và gỗ rừng, giờ nếu chính quyền lấy hết đất rồi thì đến khi được trở thành người Hà Nội, dân chúng tôi cũng chẳng biết làm gì để sống. Với trình độ "lớp 5 trường làng" như chúng tôi thì dù có công ty nào tuyển lao động thì cũng chẳng có mấy người được nhận vào làm công nhân đâu. Bố mẹ vật vờ kiếm chẳng đủ ăn thì nói gì đến chuyện cho con cái học hành tử tế?".

Vợ ông Hoàng Văn Sáng ở xóm Gò Mè tâm sự: "Từ khi bị thu hồi ruộng, tiền thì chẳng có bao nhiêu nên ngày có 3 bữa thì 2 bữa phải ăn độn chuối luộc. Chỉ khổ bọn trẻ con, đang tuổi ăn tuổi lớn mà người cứ gầy rộc đi, sức khoẻ còn không đảm bảo thì làm sao học hành cho tử tế được".

Trẻ con cũng phải nghĩ!

"Đừng nghĩ rằng bọn trẻ chúng không biết gì, chúng cũng biết mình sắp trở thành người Hà Nội nên hay hỏi han, "hạnh họe" bố mẹ về chuyện học hành lắm đấy!", bà Lê Thị Chuân ở xã Đông Xuân mở đầu câu chuyện. "Từ hôm ti vi nói đến chuyện được sáp nhập về Hà Nội, mấy đứa bé nhà tôi bắt đầu thắc mắc chuyện sẽ không được cộng điểm ưu tiên nữa. Con lớn nhà tôi đang học lớp 11 còn bảo, mình ở miền núi, học làm sao bằng được học sinh thành phố nên có muốn vào đại học cũng phải trông chờ nhiều vào điểm ưu tiên".

Tuy nhiên, theo bà Chuân, không phải nhà nào cũng có đủ điều kiện cho con ăn học đầy đủ và nuôi ước mơ vào đại học như gia đình bà. Bà Chuân kể: "Cậu em họ tôi ở bên xã Yên Trung làm lụng quanh năm mà chẳng đủ nuôi 3 đứa con ăn học. Giờ nhà lại không còn ruộng, mấy chục triệu tiền đền bù thu hồi ruộng đã dùng tiêu pha sắm sửa, giờ cũng chẳng còn được bao nhiêu. Mỗi lần đến nhà nó chơi, nhìn cảnh 3 đứa con nó lê la đất cát, sách vở rách nát mà không cầm được nước mắt".

Trên con đường liên xã gập ghềnh từ Đồng Xuân tới Yên Bình, khi qua địa bàn xã Tiến Xuân, phóng viên VietNamNet đã bắt gặp 3 đứa trẻ người Mường đang ngồi bệt ven đường để chơi bài "ăn ảnh". Đứa lớn nhất là Đinh Văn Quyết học lớp 6 nhưng người còi cọc như đứa trẻ lên 7 ở thành phố, hai đứa còn lại đều bắt đầu chập chững lớp 1 người cũng còi gí. Trên tay chúng, một bộ bài tú lơ-khơ cũ và không đủ quân, những tấm hình "siêu nhân" in trên bìa các-tông nhàu nát được dùng làm "chiến lợi phẩm" sau mỗi ván bài.

Sau màn làm quen bằng một túi kẹo, Quyết nói như "ông cụ non": "Hồi đầu năm học, mẹ cháu đã bảo cháu là nghỉ học ở nhà để đi làm giúp mẹ, cháu cũng đã định nghỉ rồi đấy chứ. Nhưng rồi khi biết sắp về Hà Nội, mẹ cháu lại bảo "Thôi đừng nghỉ học vội. Nếu về Hà Nội mà khá hơn thì bố mẹ cho đi học tiếp!" nên đến giờ cháu vẫn được đi học".

Vào tới xã Tiến Xuân, chúng tôi được những người dân ở xóm Gò Mè chỉ tới căn nhà của gia đình ông Hoàng Văn Sáng với lời nhắn: "Gia đình đó tội nghiệp nhất đấy! Các chú phóng viên cứ đến đó xem có giúp được gì không?". Đường vào nhà ông Sáng đầy nắng, bùn và ngập ngụa phân trâu.

Ông Sáng kể: "Tôi có 5 đứa con, giờ chỉ còn thằng út là chưa có gia đình. Khổ nhất là vợ chồng "thằng 4", chồng thất nghiệp ở nhà làm ruộng, vợ lại bị bệnh tâm thần. Đẻ được đứa thứ 3 xong, con chưa đầy năm thì vợ bỏ đi lang thang mất tích đến hơn 15 tháng. Đến lúc gia đình tôi tìm được cô ấy về thì phát hiện cô ấy lại mang bầu đứa thứ 4, chẳng biết của ai. Giờ ruộng đất của nhà nó đã bị thu hồi sạch, tiền đền bù thì thuốc thang cho cô vợ vài tháng cũng hết mà bệnh chẳng giảm được bao nhiêu. Mấy đứa cháu đang tuổi ăn, tuổi học mà giờ nheo nhóc, lê la chẳng biết lúc nào phải nghỉ".

Hoàng Thị Hường - cháu ông Sáng tâm sự: "Mẹ cháu bệnh nặng, bố làm chẳng đủ ăn nên đâm ra lại rượu chè, cháu đang nghĩ đến việc bỏ học ở nhà đi làm thuê phụ bố nhưng ông bà và mấy bác hàng xóm cứ ngăn. Có một bác ở Hà Nội mua đất gần nhà cháu còn hứa nếu cháu học hết lớp 9 sẽ xin cho cháu lên Hà Nội phụ việc bán hàng nên cháu cũng cố gắng học cho hết lớp 9, nhưng nhiều lúc cực lắm chú ạ. Không biết đến khi về Hà Nội các em cháu có được học hành tử tế hơn không?".

* Công Thanh

Bài 2: Ruộng của dân "đi" đâu?


Nơi "thần chết" hoành hành
http://www.tintuconline.vietnamnet.vn/vn/xahoi/205773/

Ông Nguyễn Văn Thu - người có "thâm niên" làm nghề khâm liệm người chết hàng chục năm trời ở thôn Đại An, xã Tam Đại (huyện Phú Ninh, Quảng Nam), bất thần ngồi bấm ngón tay đếm những cái chết do ung thư trong thôn, than thở: "Cả đời tui tiếp xúc với chết chóc, nhưng chưa thấy khi mô "đi" nhiều như ri! Toàn là chết trẻ, chết trong đau đớn. Cái bệnh quái ác thiệt!".



Những cái chết trẻ

Khi chúng tôi ngỏ lời nhờ ông Thu đưa đến một số gia đình có người chết do ung thư trong thôn, ông sốt sắng nhận lời: "Tội lắm, toàn nhà nghèo. Người chết để lại hàng trăm mối lo cho người sống". Đến thăm nhà ông Nguyễn Tiền, trên bàn thờ bà Võ Thị Chí - vợ ông Tiền mấy cây hương đang cháy dở.

Bà Chí mới chết chưa đầy một tuần. Ra đi ở cái tuổi 40 vì căn bệnh ung thư phổi, bà để lại cho chồng một nách 3 đứa con thơ. Nhà làm nông, quanh năm nghèo túng, đồ đạc có giá trị trong nhà đều đã đội nón ra đi để lo thuốc thang cho người bệnh. 2 người con đầu còn nhỏ nhưng phải nghỉ học, đi phụ hồ lấy tiền mua thuốc cho mẹ.

Hôm làm tang lễ cho vợ, ông Tiền phải vay mượn, nhờ sự giúp đỡ của bà con chòm xóm, người ít, kẻ nhiều mới đủ tiền lo cho người vợ xấu số. Gia đình anh Võ Ngọc Châu, có cháu Võ Thị Yến chết vì bị ung thư não khi mới 10 tuổi. Anh Châu tâm sự: "Thấy cháu cứ hay la đau trong đầu, điều trị mãi không hết. Một hôm cháu ốm, sốt cao gia đình đưa đi bệnh viện, mới phát hiện cháu bị u não, chỉ trong vòng một tháng sau khi phát bệnh, gia đình tôi đã mất cháu vĩnh viễn!". Hầu hết những nạn nhân chết do ung thư ở Đại An đều đang rất trẻ.

Chị Trần Thị Sương bị ung thư da, mất khi vừa tròn 25 tuổi. Anh Nguyễn Đại Sĩ vừa tốt nghiệp đại học nhưng đã ra đi vì căn bệnh ung thư đại tràng. Chị Mai Thị Thu bị ung thư não… Từ đầu năm đến giờ đã có 6 người trong thôn "về thế giới bên kia" vì căn bệnh ung thư. Thôn Đại An chỉ cách TP. Tam Kỳ khoảng 7km. Ở vùng quê cằn cỗi này, đời sống của người dân chỉ dựa vào mấy sào lúa nước, cuộc sống rất khó khăn. Căn bệnh ung thư ngốn tiền như thùng không đáy đã làm bao gia đình ở địa phương lâm vào cảnh khánh kiệt.

Nối dài những danh sách buồn…

Danh sách những cái chết do ung thư ở Đại An có thể còn nối dài thêm. Hầu hết bệnh nhân đã ở giai đoạn nguy kịch, bệnh viện đã "chào thua" trả về nhà. Bà Nguyễn Thị Đáng - một phụ nữ goá bụa mắc bệnh ung thư phổi đã gần 2 năm nay. Để có tiền đi Bệnh viện Trung ương Huế điều trị, gia đình bà phải bán từ con bò đến lúa, khoai và cả con chó tơ... mới được hơn 3 triệu đồng "dằn túi" ra Huế. Mất tiền, nhưng bệnh không bớt, bà suy sụp hoàn toàn.

Gặp chúng tôi, bà Đáng nghẹn ngào: "Mấy bác sỹ ngoài đó dặn ra khám lại, nhưng xoay mô ra tiền nữa mà đi”. Trong thôn còn có chị Nguyễn Thị Lễ, 28 tuổi. Chồng chị Lễ bị tai nạn giao thông chết trong Sài Gòn, để lại đứa con từ lúc còn đỏ hỏn. Theo kết luận của bệnh viện, chị Lễ bị ung thư vú. Hiện nay, sức khoẻ của chị đã giảm sút rõ rệt. Tóc rụng hết. Ông Phan Văn Xuân - Phó thôn Đại An nói chuyện mà như than thở với… ông trời: "Tại sao căn bệnh quái ác này cứ gieo xuống những người dân nghèo vô tội? Rồi mảnh đất này sẽ có bao người nữa phải ra đi vì căn bệnh quái ác này!?".

Những nguyên nhân… phỏng đoán

Theo thống kê thôn Đại An có 298 hộ thì trong đó đã có 33 hộ có người chết vì bệnh ung thư. Trước con số giật mình như vậy, Đại An trở thành… làng ung thư mới ở Quảng Nam! Theo nhiều người lý do bệnh ung thư "hoành hành" dữ dội ở Đại An như vậy là do vùng đất này trước kia là điểm cao 159 - một căn cứ quân sự của Mỹ. Nhiều người dân ở đây cho biết, khu vực này đã bị rải rất nhiều hoá chất để phát quang cây cối. Lâu ngày số hoá chất này "ngấm" vào nguồn nước nên đã gieo rắc cái chết hôm nay. Có người lại cho rằng ung thư là do… nạn khai thác vàng trái phép. Bởi theo họ, các hoá chất để tách vàng ra khỏi quặng từ mỏ vàng Bông Miêu ngấm vào nước, trở thành tác nhân gây bệnh ung thư.

Có người chôn thử hoá chất này dưới bụi tre, một thời gian sau cả bụi tre rụng lá rồi chết khô! Nhưng tất cả nguyên nhân trên mới chỉ là… phỏng đoán. Ông Thái Hữu Niệm - Phó Chủ tịch UBND xã Tam Đại trao đổi với chúng tôi: "Trước tình hình bệnh ung thư gia tăng, từ năm 2007 xã đã báo lên huyện. Đầu năm 2008, Trung tâm Y tế huyện Phú Ninh có về khảo sát, kiểm tra tình hình thực tế. Nhưng đến nay, vẫn chưa có kết luận gì! Chúng tôi không có một cơ sở khoa học nào để giải thích cho dân yên tâm".

Tình trạng người dân chết do bệnh ung thư ở thôn Đại An đã nhức nhối từ mấy năm nay nhưng các cơ quan chức năng vẫn chưa đưa ra được giải pháp hữu hiệu nào nhằm giúp đỡ người dân!?

Việt Nam - Ngươi đang ở đâu và sẽ đi đến đâu? (Kỳ 92)

,

Nền móng phát triển và mệnh lệnh cải cách
http://www.tuanvietnam.net/vn/thongtindachieu/3956/index.aspx

Tuần Việt Nam giới thiệu góc nhìn riêng của Ts. Vũ Minh Khương về nền móng phát triển của Việt Nam trong bối cảnh đất nước có những khó khăn hiện nay.



Những ai đã trăn trở trong nhiều năm qua về sự yếu kém trong nền móng phát triển của Việt Nam có lẽ đều đã dự cảm từ lâu những khó khăn mà nước ta hiện nay đang trải qua: Tăng trưởng suy giảm, lạm phát cao, lòng dân xao xuyến.

Trong khi việc giải quyết khó khăn nêu trên trước mắt dựa vào các biện pháp tình thế như điều chỉnh lãi suất ngân hàng, quản lý chặt chẽ việc mua bán ngoại tệ, hạn chế đầu tư vào các dự án kém hiệu quả, bài viết này đề cập đến yêu cầu giải quyết những yếu kém ở nền móng, là nguyên nhân gốc rễ không chỉ của những khó khăn hiện tại mà của cả những nguy cơ, thách thức sẽ ngày càng gay gắt trong tương lai.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả và mong muốn nhận được những tranh luận, thậm chí phản biện từ những người cùng quan tâm.

Nền móng phát triển và kỳ vọng tăng trưởng

Các nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế chỉ ra rằng, tốc độ và chất lượng tăng trưởng của mỗi quốc gia tùy thuộc cơ bản vào nền móng phát triển của nước đó.

Nền móng phát triển của một nước dựa trên một số định tố chủ yếu, bao gồm, nguồn nhân lực, hạ tầng cơ sở, hội nhập quốc tế, dung năng sáng tạo, phẩm chất cần kiệm, và chất lượng thể chế. Các định tố này có quan hệ tác động qua lại mật thiết với nhau, trong đó chất lượng thể chế đóng vai trò trụ cột, chi phối, có tính quyết định.

Với một nền móng phát triển vững chắc và không ngừng được gia cường, nâng cấp, nền kinh tế sẽ đạt tốc độ và chất lượng tăng trưởng cao. Trái lại, trên một nền móng yếu lại không được chú trọng củng cố, chất lượng tăng trưởng sẽ thấp, và do vậy, tốc độ tăng trưởng nếu có cao trong giai đoạn đầu cũng sẽ không bền vững và nền kinh tế dễ bị tổn thương trước mỗi biến động không thuận lợi của nền kinh tế thế giới.

Theo qui tắc hội tụ có điều kiện từ phương pháp phân tích khảo nghiệm, trung bình, cứ 35 năm, một quốc gia có thể thu hẹp một nửa khoảng cách về thu nhập bình quân đầu người giữa mức hiện tại và mức tiềm năng quyết định bởi các định tố nền móng phát triển của quốc gia đó.

Chẳng hạn, mức bình quân thu nhập đầu người của nước ta hiện nay vào khoảng gần 1.000 USD[1]. Nếu chúng ta tạo lập và xây đắp một nền móng phát triển cho mức 20.000 USD, thì trong vòng 35 năm tới (năm 2043), chúng ta có thể thu hẹp một nửa khoảng cách này (=19.000/2=9.500 USD), đưa mức thu nhập bình quân đầu người lên 10.500 USD.

Trái lại, nếu chúng ta chấp nhận duy trì nền móng phát triển ở mức thấp, tương ứng với mức tiềm năng 5.000 USD, thì sau 35 năm nữa, mức thu nhập bình quân đầu người của chúng ta sẽ tăng thêm 4.000/2=2000 USD và đạt 3.000 USD, xấp xỉ với mức của Thái Lan hiện nay.

Theo nghiên cứu của chúng tôi, Việt Nam coi nhẹ việc gia cường, thậm chí làm suy yếu nền móng phát triển vốn còn rất thấp của mình. Thay vì quyết liệt tinh giản và nâng cấp bộ máy quản lý, chúng ta để khu vực nhà nước phình ra với hiệu năng ngày một thấp.

Thay vì ráo riết cải cách doanh nghiệp nhà nước, tạo lập một môi trường cạnh tranh lành mạnh, chúng ta lập ra các tập đoàn kinh tế với não trạng bao cấp và lợi ích cục bộ, làm thị trường càng thêm méo mó và thiếu minh bạch.

Thay vì đầu tư nâng cấp hiện đại hóa hệ thống giáo dục, y tế, và văn hóa đáp ứng đòi hỏi của thời đại, chúng ta để các lĩnh vực này xuống cấp nghiêm trọng trong sự hoành hành của tham nhũng, gian dối, và tệ nạn xã hội.

Thay vì khích lệ người dân cần kiệm đầu tư với tầm nhìn dài hạn và trách nhiệm với tương lai, chúng ta tạo nên cơ chế để mọi người ảo tưởng với những cơ hội chụp giật ngắn hạn, hoang phí trong tiêu dùng, phô trương trong hình thức với những lễ hội và tượng đài được tổ chức và xây dựng tràn lan.

Trong khi đó, Trung Quốc với mục tiêu trở thành cường quốc trước năm 2050, đã và đang ráo riết xây dựng một nền móng phát triển ở đẳng cấp hàng đầu, tạo nền tảng cho nhịp độ tăng trưởng mạnh mẽ và bền vững.

Nếu tiếp tục theo đuổi cung cách phát triển hiện nay, kinh tế Việt Nam sẽ đứng trước nguy cơ rơi vào cạm bẫy của nước có mức thu nhập trung bình thấp; nghĩa là không quá khó khăn thiếu đói để buộc phải cải cách, nhưng cũng không có nền móng đủ mạnh cho nỗ lực vượt lên.

Bài viết này so sánh Việt Nam với Trung Quốc nhằm là rõ một số điểm yếu then chốt trong nền móng phát triển của Việt Nam. Việc so sánh giữa Việt Nam và Trung Quốc không có hàm ý rằng Trung Quốc là mô hình tốt nhất mà Việt Nam cần đi theo; mà chỉ để chỉ ra rằng, Việt Nam, trong sự tương đồng về mô hình phát triển với Trung Quốc, đã thể hiện sự yếu kém nghiêm trọng trong nỗ lực gia cường và nâng cấp nền móng phát triển của mình.

Tại sao lại so sánh Việt Nam với Trung Quốc?

Đó là vì hai nước có đặc điểm khá tương đồng trong cải cách và phát triển nhưng kết quả đạt được của hai nước có sự khác biệt cơ bản, cả về lượng và chất.

Sự tương đồng giữa Việt Nam và Trung Quốc trong cải cách và phát triển thể hiện ở bối cảnh dẫn đến cải cách, điều kiện phát triển lúc khởi đầu cải cách, mục tiêu và biện pháp tiến hành cải cách.

Về bối cảnh dẫn đến cải cách: Việt Nam và Trung Quốc khởi đầu công cuộc cải cách (Việt Nam năm 1986, Trung Quốc năm 1978) sau khi đều đã nhận ra rằng không thể tiếp tục mô hình xây dựng CNXH theo kiểu cũ vì nó tàn phá động lực phát triển và chỉ dẫn đến những khó khăn kinh tế ngày càng nghiêm trọng. Đồng thời, cả hai nước đều đứng trước khó khăn nghiêm trọng về kinh tế mà cải cách là sự lựa chọn sống còn để thoát ra khỏi nguy cơ khủng hoảng.

Về điều kiện phát triển khi khởi đầu cải cách: Bảng 1 cho thấy, khi khởi đầu cải cách, cả hai nước đều có mức thu nhập đầu người rất thấp (xấp xỉ 200 USD, thuộc nhóm nước nghèo nhất thế giới) với trên 80% dân số sống ở nông thôn; năng suất ngũ cốc trên một héc ta đất canh tác xấp xỉ nhau (2,7-2,8 tấn). Tỷ lệ dân biết chữ và tuổi thọ giữa hai nước khá tương đồng với Việt Nam có sự trội vượt đôi chút. Hội nhập quốc tế của hai nước đều rất thấp với xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 6,6% GDP; điều kiện hạ tầng kém, thể hiện ở số điện thoại mới ở mức 1-2 chiếc trên 1000 dân.



Về mục tiêu và biện pháp tiến hành cải cách: Cả hai nước lựa chọn cải cách theo mục tiêu kinh tế chứ không phải chính trị, với bước đi thận trọng để đảm bảo sự ổn định tuyệt đối của hệ thống chính trị hiện hành. Cả hai nước chọn tiến hành cải cách với những bước đi khá giống nhau, khởi đầu với việc khoán hộ trong nông nghiệp và thừa nhận về mặt pháp lý thành phần kinh tế tư nhân. Tiếp đó là thúc đẩy mạnh kinh tế đối ngoại, cải tổ các doanh nghiệp quốc doanh, và cải cách hệ thống tài chính-ngân hàng.

Thế nhưng kết quả đạt được của hai nước, dù đều ấn tượng, có một cách biệt lớn cả về lượng và chất, với sự tụt hậu rõ rệt của Việt Nam trong so sánh với Trung Quốc. Kể từ mốc vượt qua mức thu nhập bình quân đầu người 200 USD (Việt Nam: 1986; Trung Quốc: 1982; Indonesia: 1968), tuyến trình tăng trưởng của Việt Nam rất thấp so với Trung Quốc và khá gần với Indonesia, trong khi nền kinh tế Trung Quốc có sự cất cánh với sự tương đồng với mô hình Đông Á, bao gồm Nhật Bản, Hồng Kông, Singapore, Đài Loan, và Hàn Quốc.

Những tổn thất nặng nề về kinh tế và chính trị mà Indonesia phải gánh chịu trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997-1998 (tăng trưởng GDP của Indonesia giảm xuống mức 4,7% năm 1997 trước khi rơi vào suy thoái ở mức -13, 1% năm 1998) là bài học đắt giá về hậu quả của việc coi nhẹ gia cường nền móng phát triển trong sự say sưa với một số thành tích bề nổi và sự khen ngợi của một số tổ chức quốc tế.

Vì vậy, việc đánh giá xác đáng những điểm yếu then chốt trong nền móng phát triển của Việt Nam và đưa ra những biện pháp cải cách có tính nền tảng, sâu rộng và mạnh mẽ, là việc làm cấp thiết; không chỉ để vượt qua các khó khăn trước mắt, mà còn tạo nền móng căn bản cho nền kinh tế nước ta phát triển nhanh và bền vững hơn, tránh được nguy cơ khủng hoảng đang tích tụ và có khả năng xảy ra trong 5-10 năm tới.

Một số minh chứng về những điểm yếu then chốt trong nền móng phát triển của Việt Nam.

Từ kết quả nghiên cứu chung của tác giả với Tiến sĩ Danny Quah, trưởng khoa kinh tế của Đại học Kinh tế London, chúng tôi xin nêu ra dưới đây một số minh chứng điển hình về một số điểm yếu cơ bản trong nền móng phát triển của Việt Nam. Do dung lượng có hạn, bài viết này sẽ chỉ tập trung thảo luận ba điểm yếu then chốt có liên quan trực tiếp đến chất lượng của hệ thống thể chế.

1- Điểm yếu thứ nhất, Việt Nam thiếu ý chí chiến lược trong nỗ lực cải cách

Điều này thể hiện ở việc phình ra của lực lượng lao động trong khu vực nhà nước, sự manh mún trong nỗ lực cải cách các doanh nghiệp quốc doanh, và tính thiếu quyết đoán ở những thời điểm bước ngoặt.

Sự phình ra của lực lượng lao động trong khu vực nhà nước

Một nền kinh tế mạnh với hiệu năng cao đòi hỏi sự tinh giảm mạnh mẽ về lao động trong khu vực nhà nước. Khác với Trung Quốc, Việt Nam đi ngược lại xu thế này. Bảng 2 cho thấy lao động trong khu vực nhà nước (bao gồm chính phủ, Đảng, đoàn thể, và các doanh nghiệp quốc doanh) của Việt Nam tăng nhanh hơn so với lao động trong toàn bộ nền kinh tế, với độ phình ngày càng mạnh hơn, từ mức +1,3% trong giai đoạn 1995-2000 vọt lên +9,3% trong giai đoạn 2000-2005. Trong khi đó, lao động trong khu vực nhà nước của Trung Quốc so với toàn bộ nền kinh tế co lại rất mạnh ở mức -27% giai đoạn 1995-2000 và -17% giai đoạn 2000-2005.



Sự manh mún trong nỗ lực cải cách các doanh nghiệp quốc doanh: Thiếu ý chí chiến lược trong cải cách thể hiện rõ trong sự trì trệ và manh mún của nỗ lực cải cách các doanh nghiệp quốc doanh.

Bảng 3. Nỗ lực cổ phần hóa giai đoạn 1990-2005



Nguồn:Từ số liệu của Ngân hàng Thế giới

Trong khi các doanh nghiệp quốc doanh của Trung Quốc bị đặt vào môi trường cạnh tranh khốc liệt trên qui mô toàn cầu và bị hối thúc bởi khẩu hiệu “học hỏi, cải tiến, và tạo đột phá để vượt lên đẳng cấp thế giới”, các doanh nghiệp quốc doanh của Việt Nam được o bế nâng đỡ trong một hệ thống quản trị lạc hậu, thiếu minh bạch, nên luẩn quẩn trong sự hạn hẹp về tầm nhìn và sự hà lạm của quyền lợi cục bộ và lợi ích cá nhân.

Bảng 3 cho thấy qui mô và nhịp độ cổ phần hóa của Việt Nam trong giai đoạn 1990-2005 rất nhỏ so với Trung Quốc. Tổng mức tiền thu được từ cổ phần hóa của Việt Nam chỉ bằng 1% mức GDP năm 2000 với qui mô trung bình của mỗi dự án là 3 triệu USD; trong khi các con số này của Trung Quốc là 4,8% và 252 triệu USD.

Thiếu quyết đoán chiến lược ở thời điểm bước ngoặt

Trong tiến trình phát triển thường xuất hiện những thời điểm có tính bước ngoặt, đòi hỏi tính quyết đoán chiến lược của người lãnh đạo. Tại thời điểm này, một quyết đoán sáng suốt sẽ giúp tạo nên một cục diện mới tạo sức phát triển nhảy vọt; trái lại, sự chần chừ, lúng túng sẽ làm mất đi thời cơ quí giá này và dẫn đến một bước lùi tai hại trong tiến trình phát triển.

Tiến trình cải cách của Việt Nam và Trung Quốc đều xuất hiện những thời điểm có tính bước ngoặt vào năm thứ 13 của cải cách sau khi công cuộc cải cách đã thu được những thành quả bước đầu tạo nên tâm lý thỏa mãn, đồng thời làm nổi lên những lo ngại mang tính giáo điều về sự xa rời “chủ nghĩa xã hội”. Tiến trình cải cách do vậy có thể bị trì hoãn bởi những tranh cãi gay gắt trong nội bộ lãnh đạo.

Trung Quốc ở vào tình thế này vào năm 1991, năm thứ 13 của cải cách, khi đó thậm chí có kiến nghị đòi bãi bỏ các khu kinh tế đặc biệt. Trong tình thế đấu tranh căng thẳng này, ông Đặng Tiểu Bình quyết định không nhượng bộ mà chọn cách đương đầu quyết liệt bằng tiến hành một chuyến đi về các tỉnh và thành phố cải cách ở phía Nam vào tháng 1 năm 1992 để tập hợp được lực lượng ủng hộ cải cách, làm hậu thuẫn cho quyết định của hội nghị mở rộng của Bộ Chính trị tháng 3 năm 1992 về đẩy mạnh hơn nữa nhịp độ cải cách và mở cửa[2]. Với quyết định này, cải cách và mở cửa của Trung Quốc kể từ năm thứ 13 của cải cách không những không bị chậm lại mà lại có bước tiến nhảy vọt.

Việt Nam vào năm thứ 13 của cải cách (năm 1999) cũng đứng trước một cơ hội đòi hỏi sự quyết đoán đặc biệt, đó là việc ký hiệp định thương mại với Mỹ vào tháng 9 năm 1999. Thế nhưng chúng ta từ chối ký hiệp định này mặc dù mọi việc chuẩn bị dường như đã sẵn sàng. Điều này làm nhiều người ngỡ ngàng.

Một quan chức của Bộ Thương mại Mỹ khi đó nhận xét: “Khi các bạn so sánh điều này với những nỗ lực của Trung Quốc trong các đàm phán thương mại [ ] nó cho thấy rằng, Việt Nam chưa thực sự tin vào mở cửa[3]”.

Giáo sư Dwight Perkins của Đại học Harvard, nhà nghiên cứu hàng đầu về các mô hình phát triển Đông Á nhận xét: “Việc từ chối [này] của Việt Nam trong việc ký hiệp định thương mại với Mỹ là một minh chứng về việc [Việt Nam] ngại ngùng trong việc chấp nhận một chính sách công nghiệp có lẽ là thích hợp nhất cho đất nước của mình[4]”.

Với sự thiếu quyết đoán này, Việt Nam đã tự làm minh tụt hậu trong nhịp độ tăng trưởng so với Trung Quốc kể từ năm thứ 13 của cải cách.

2- Điểm yếu thứ hai, chúng ta thiếu tầm chiến lược trong hoạch định công cuộc phát triển

Ba minh chứng cho kết luận này dựa trên mức tiêu thụ điện cho tăng trưởng, khả năng nắm bắt cơ hội thị trường, và nỗ lực bước lên trên nấc thang công nghệ trong quá trình hội nhập quốc tế.

Về tiêu thụ năng lượng cho phát triển, mỗi nhà hoạch định chính sách đều hiểu rằng năng lượng ngày càng khan hiếm và giá của nó có xu hướng tăng nhanh hơn các loại sản phẩm khác. Do vậy, phát triển kinh tế và công nghiệp hóa phải đi hướng về các lĩnh vực và sản phẩm tiết kiệm năng lượng nói chung và điện nói riêng. Thế nhưng chúng ta không đi theo hướng này.



Nguồn:Từ số liệu của Ngân hàng Thế giới; Bộ Công-Thương Việt Nam; Niên Giám Thống kê Trung Quốc, 2006

Bảng 4 cho thấy, khác với Trung Quốc, mức tăng về điện tiêu thụ ở nước ta trong giai đoạn 1990-2005 cao hơn nhiều mức tăng của giá trị gia tăng, trên qui mô của toàn bộ nền kinh tế cũng như của riêng ngành công nghiệp. Trên qui mô toàn bộ nền kinh tế, chúng ta tăng trưởng bình quân 7,6% trong khi tiêu thụ điện tăng 14,1% . Trong lĩnh vực ngành công nghiệp nói riêng, mức tăng trưởng của giá trị gia tăng là 10,9% trong khi mức tăng điện năng tiêu thụ là 14,3%.

Nghĩa là, phát triển kinh tế và công nghiệp của Việt Nam đang đi theo hướng tổn phí năng lượng. Tình hình này nếu không được sớm khắc phục sẽ không chỉ gây nên tình trạng thiếu điện nghiêm trọng mà còn làm cho nền kinh tế nước ta ngày càng kém sức cạnh tranh và dễ tổn thương do sự biến động ngày càng gia tăng của giá năng lượng quốc tế.

Về nắm bắt cơ hội thị trường, Việt Nam chung biên giới với Trung Quốc nhưng kém xa các nước Đông Nam Á khác trong khai thác thị trường khổng lồ và tăng trưởng rất nhanh này trong khi lại nhanh chóng lệ thuộc vào nó một cách thụ động.

Bảng 5 cho thấy, trong giai đoạn 2000-2005, tỷ trọng Trung Quốc trong toàn bộ xuất khẩu của Việt Nam chỉ tăng không đáng kể, từ 6,6% năm 2000 lên 7,6% năm 2005; trong khi các con số này tương ứng là 3,9% lên 8,6% với Singapore; 1,7% lên 9,9% với Philippine; và 4,5% lên 7.8% với Indonesia; 4,1% lên 8,3% với Thái Lan. Mặt khác, cùng trong thời gian này, Việt Nam lại tăng mạnh nhập khẩu từ Trung Quốc, từ tỷ trọng 11,5% trong toàn bộ nhập khẩu năm 2000 lên 17,5% năm 2005.



Về nỗ lực bước lên trên nấc thang công nghệ trong hội nhập quốc tế, bảng 6 cho thấy, từ năm 2000 đến năm 2005 tỷ trọng công nghệ cao trong xuất nhập khẩu của chúng ta còn thấp và tăng chậm. Trong xuất khẩu, tỷ trọng sản phẩm công nghệ cao tăng thêm +1,8%, từ 5,8% lên 7,6%; trong khi con số này của Trung Quốc là +12,3%, từ mức 28,9% lên mức 41,3%.

Trong nhập khẩu của Việt Nam, tỷ trọng các sản phẩm công nghệ cao gia tăng không đáng kể (+0,6%), đồng thời có một bước thụt lùi về công nghệ là chúng ta giảm nhập công nghệ trung-cao (-6,5%) để nhập công nghệ trung-thấp (+7,4%). Trong khi đó, Trung Quốc tăng mạnh tỷ trọng nhập sản phẩm công nghệ cao (+6,2%) và giảm mạnh tỷ trong nhập sản phẩm công nghệ thấp (-7,3%).

Bảng 6. Cấu trúc xuất nhập khẩu giai đoạn 2000-2005



3- Điểm yếu thứ ba, chính phủ chưa thực sự hợp tác sát cánh cùng doanh nghiệp và người dân, đặc biệt là nông dân, để tạo sự yểm trợ hiệu quả trong công cuộc phát triển

Một quốc gia với chiến lược phát triển khôn ngoan thường tìm cách tạo nên giá trị gia tăng cao hơn trên mỗi đơn vị sản phẩm. Để làm được việc này, Chính phủ phải dành một phần quan trọng nguồn lực của mình giúp các doanh nghiệp và người dân có được thông tin thấu đáo và kịp thời về thị trường và công nghệ để họ có các quyết định sáng suốt hơn trong đầu tư và tổ chức sản xuất của mình.

Ở Việt Nam, Chính phủ chưa làm được việc này. Vì vậy, mặc dù các doanh nghiệp và người dân, đặc biệt đã rất năng động, chịu khó nhưng hiệu quả thu được vẫn thấp.

So sánh tăng trưởng của ngành nông nghiệp giữa Việt Nam và Trung Quốc cho thấy sự tương phản này. Sản lượng nông nghiệp (qui theo chỉ số định lượng) trong giai đoạn 1986-2004[5] của Việt Nam tăng nhanh hơn hẳn Trung Quốc . Thế nhưng, nhưng năng suất lao động nông nghiệp (tính bằng lượng giá trị gia tăng trên lao động nông nghiệp) của Việt Nam thua kém Trung Quốc một cách rõ rệt.

Một minh họa cho thực trạng này là ý kiến của lão nông Lê Văn Lam trong thư gửi Thủ tướng Chính phủ ngày 4/5/2008: “Người nông dân luôn phải lao đao về việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, khi thì đào ao nuôi cá, lúc thì bỏ ruộng trồng bắp nhưng hầu như không mang lại hiệu quả, cũng vì người nông dân thiếu kiến thức về thị trường cũng như kỹ thuật sản xuất[6]... “

Kết luận

Douglas North, nhà kinh tế được giải thưởng Nobel, có kết luận đại ý rằng, môt nước không khá lên được là do thể chế của nó tạo nên các qui tắc vận hành xã hội không khuyến khích các nỗ lực kiến tạo nên giá trị mới[7]. Các qui tắc này thường làm cá nhân và doanh nghiệp rơi vào vòng xoáy của chụp giật với sự thúc đẩy của động lực hưởng thụ, tích cốc phòng cơ, và phô trương hình thức.

Công cuộc phát triển của Việt Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức to lớn. Hệ thống thể chế với những qui tắc vận hành kinh tế xã hội như hiện nay không chỉ chưa tạo được động lực chân chính và mạnh mẽ cho cá nhân và doanh nghiệp nỗ lực kiến tạo nên giá trị mới mà còn làm thang bảng giá trị của xã hội bị méo mó và xuống cấp.

Trước những khó khăn gay gắt tạm thời hiện nay, chúng ta đang đứng trước sự lựa chọn giữa hai cách ứng xử.

Cách thứ nhất dựa trên các giải pháp xử lý có tính tình thế; có thể quyết liệt tức thời về sự vụ nhưng tránh né không động chạm đến những yếu tố nền móng. Cách giải quyết này có thể làm khó khăn đang gặp phải tạm thời lắng đi trong ít năm để rồi sau đó lại trỗi dậy với mức độ gay gắt và nguy hại lớn gấp nhiều lần trong khi nền móng phát triển mỗi ngày một suy yếu.

Cách thứ hai dựa trên cách tiếp cận chiến lược, với ý chí nâng cấp căn bản nền tảng phát triển, trong đó hệ thống thể chế là trụ cột chính yếu, tạo dựng cho nền kinh tế Việt Nam phát triển trên nền móng của một quốc gia có đẳng cấp hàng đầu như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore đã và đang làm. Cách tiếp cận thứ hai này không chỉ giúp nước ta vượt qua khó khăn hiện thời mà còn tạo nên một khí sắc đổi thay có sức đột phá mạnh mẽ cho công cuộc phát triển của Việt Nam.

Nhiều chuyên gia quốc tế cho rằng Việt Nam sẽ lựa chọn cách tiếp cận thứ nhất và sẽ xoay sở thành công để thoát ra khó khăn hiện tại, cũng giống như Việt Nam đã vượt qua các nạn dịch cúm gia cầm, lợn tai xanh, hay khuẩn tả. Thế nhưng, chúng tôi thấy xót xa cho hiện tại và lo ngại cho tương lai nếu Việt Nam quả thực lựa chọn cách tiếp cận này bởi lẽ chúng ta không chứng minh được rằng Việt Nam là một dân tộc có thể lớn lên từ thất bại, mạnh lên từ khó khăn, thách thức.

Từ cách nhìn của chúng tôi, cải cách hệ thống và nâng cấp nền móng phát triển không chỉ là bước đi khẩn thiết để vượt qua khó khăn hiện tại mà còn là mệnh lệnh thiêng liêng để thế hệ hôm nay không phải hổ thẹn với quá khứ và tương lai./.

* Ts. Vũ Minh Khương (ĐHQG Singapore)

[1] Mức giá năm 2000.

[2] “Deng Xiaoping’s Southern Tour: Elite Politics in Post Tiannanmen China”, Suisheng Zhao, Asian Survey, Volume 33 (8), 1993.

[3] “Politburo Is Hesitating on Pact, Official Says : U.S. Aide Is Pessimistic On Hanoi Trade Accord”, Thomas Crampton, International Herald Tribune, 11/9/1999. (www.iht.com/articles/1999/09/11/viet.2.t_0.php)

[4] “Industrial and Financial Policy in China and Vietnam: A New Model or a Relay of the East Asian Experience”, Dwight Perkins (Chapter 6 in Rethinking the East Asia Miracle, edited by Joseph Stiglitz and Shahid Yusuf, World Bank, 2001).

[5] Số liệu 20005 đến nay chưa có

[6] Trích thư của ông Lê Văn Lam gửi cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng qua cổng thông tin điện tử Chính phủ ngày 4-5.

[7] Institutions, Institutional Change, and Economic Performance, Douglas North, New York: Cambridge University Press, 1990.

Việt Nam - Ngươi đang ở đâu và sẽ đi đến đâu? (Kỳ 91)

,

GS Hoàng Tụy: Nhìn thẳng vào khủng hoảng GD Việt Nam
http://www.tuanvietnam.net//vn/tulieusuyngam/3949/index.aspx

Dù bảo thủ đến đâu, Bộ Giáo dục & Đào tạo cũng như bất cứ ai đều không thể làm ngơ trước nhiều vấn nạn giáo dục đã và đang làm đau đầu cả xã hội. Chỉ có nhìn thẳng, gọi tên đúng sự vật và chấp nhận thay đổi, coi cải cách là mệnh lệnh của cuộc sống mới có thể khắc phục tình trạng nguy kịch của ngành GD Việt Nam.



1. Nhìn lại một chặng đường giáo dục

Mặc dù tín hiệu báo động đỏ đã phát ra từ lâu, và nguyên Thủ Tướng Võ Văn Kiệt khi từ nhiệm đã thừa nhận chính thức sự không thành công của giáo dục. Đến nay thực trạng nghiêm trọng của giáo dục VN vẫn chưa được đánh giá đúng mức. Nhiều người có trách nhiệm vẫn tự ru ngủ mình với những thành tựu to lớn, thực và ảo, của giáo dục.

Đương nhiên, nếu cô lập VN với thế giới thì không đến nỗi quá lo lắng. Song nếu đặt giáo dục trong bối cảnh toàn cầu hóa, nhìn tình hình một cách khách quan và có trách nhiệm, thì không thể nhắm mắt trước sự tụt hậu ngày càng xa của giáo dục VN so với các nước xung quanh, và so với yêu cầu phát triển của xã hội.

Thực tế, đất nước nghìn năm văn hiến này đang trả giá nặng nề cho sự suy thoái trầm trọng của giáo dục kéo dài suốt ba mươi năm qua.

Giáo dục là một hệ thống phức tạp được đặc trưng bởi mục tiêu, cấu trúc, tổ chức (bao gồm các phần tử và các hệ thống con), phương thức vận hành và hiệu quả hoạt động. Nếu mỗi yếu tố ấy đều có quá nhiều trục trặc nghiêm trọng kéo dài hàng thập kỷ mà không khắc phục được, khiến mọi sự điều chỉnh cục bộ theo cơ chế phản hồi đều không cứu vãn nổi, thì tình trạng ấy phải được xem là sự khủng hoảng toàn diện.

Những dấu hiệu...

Nhìn lại hệ thống giáo dục VN, những dấu hiệu khủng hoảng đã lộ rõ từ lâu và ngày càng đậm nét.

Từ chỗ trước đây dù sao cũng là sự nghiệp toàn dân, là “bông hoa của chế độ”, nay giáo dục đã dần dần mất phương hướng, không còn rõ giáo dục cho ai, vì ai, để làm gì.

Trách nhiệm của Nhà nước đối với giáo dục có nguy cơ sút giảm để dần dần nhường chỗ cho quan niệm tư nhân hóa cực đoan, phủ nhận giáo dục với tư cách lợi ích công hòng biến nó thành một thứ hàng hóa thuần túy, thuận mua vừa bán theo cung cầu của một thứ thị trường vô tâm.

Giữa mục tiêu lý thuyết và thực tiễn thực hiện tồn tại khoảng cách ngày càng gia tăng, có nguy cơ đẩy giáo dục xa rời lý tưởng công bằng, dân chủ, văn minh mà xã hội đang hướng tới.

Cơ cấu tổ chức và hoạt động giáo dục mất cân đối, rối loạn trầm trọng giữa giáo dục phổ thông, dạy nghề, cao đẳng, đại học, giữa trường tư, trường công, giữa chuyên tu, tại chức, đào tạo liên kết, v.v.... tất cả làm thành một hệ thống tạp nham, rối ren không đồng bộ, thiếu nhất quán, hoạt động phân tán, rời rạc, mà mỗi đơn vị tuân theo lợi ích cục bộ, thiển cận, nhiều hơn là quan tâm đến lợi ích cơ bản và lâu dài của cộng đồng (gần đây nhất, giữa lúc Chính Phủ kêu gọi mọi ngành ngăn cơn bão giá thì ngành giáo dục tăng giá sách giáo khoa 10%).

Nội dung và phương pháp giáo dục thể hiện xu hướng hư học cổ lỗ, dành nhiều thời gian học những kiến thức lạc hậu vô bổ (sau nhiều lần bàn cãi cũng chỉ mới giảm được thời lượng bắt buộc).

Mặt khác lại quá thực dụng thiển cận, thiên về triết lý mì ăn liền mà coi nhẹ những vấn đề có ý nghĩa cơ bản suốt đời cho mỗi người như: hình thành nhân cách, rèn luyện năng lực tư duy, khả năng cảm thụ.

Coi nhẹ kỹ năng lao động, kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, đức tính trung thực, năng lực sáng tạo, trí tưởng tượng, là những đức tính thời nào cũng cần nhưng đặc biệt thời nay càng cần hơn bao giờ hết.

Bằng cách đặt nặng quá mức bằng cấp và thi cử, nhà trường đã vô tình tuôn ra xã hội mọi thứ rác rưởi độc hại: bằng giả, bằng dỏm, học giả, v.v.

Chất lượng giáo dục sa sút một thời gian dài, nhất là ở đại học, cao đẳng và dạy nghề, khiến nhân lực đào tạo ra còn rất xa mới đáp ứng được đòi hỏi thực tế về cả chất lượng và số lượng, do đó đang trở thành nhân tố cản trở nghiêm trọng sự phát triển kinh tế.

Dân trí thấp - hệ quả tất nhiên của giáo dục yếu kém -- tác động tiêu cực đến môi trường, sức khỏe cộng đồng, an toàn giao thông, và hàng loạt vấn nạn khác.

Thêm vào đó, chất lượng giáo dục quá thấp là nguyên nhân quan trọng gây ra nạn chảy máu chất xám đang làm xã hội mất đi những nguồn lực trí tuệ quý giá.

Trong khi chất lượng giáo dục sa sút thì chi phí giáo dục tăng liên tục, trở thành gánh nặng phi lý không chỉ cho ngân sách quốc gia, mà còn cho mọi gia đình vì phần đóng góp trực tiếp của dân ngoài thuế lên đến hơn 40% tổng chi phí giáo dục.

Tuy nhiên, còn may là vượt lên trên tình hình chung không mấy sáng sủa đó vẫn có những điểm sáng nhất định (lác đác trong từng cấp học đều có những đơn vị khá thành công), chứng tỏ tiềm năng phát triển giáo dục ở đất nước này còn nhiều.

Hai năm gần đây đã có một số chuyển biến tích cực nhưng vì chưa động tới các vấn đề cốt lõi - nơi sức ỳ đã bám rễ trong nhiều năm - nên chưa tạo đủ xung lực cho một cuộc lột xác của giáo dục hiện đang là đòi hỏi cấp bách của xã hội.

2. Đi tìm nguyên nhân

Điều gì đã khiến nền giáo dục của một đất nước vốn có truyền thống hiếu học lâu đời rơi vào suy thoái trầm trọng vào đúng thời điểm mà lẽ ra nó phải là bệ phóng cho kinh tế cất cánh?

Hoàn toàn không phải do nghèo, vì công sức, tiền của lãng phí, thât thoát hàng năm vô cùng lớn. Nguyên nhân phải thẳng thắn nhìn nhận là do quản lý, lãnh đạo dưới tầm.

Từ quan niệm, tư duy cơ bản (triết lý giáo dục, theo cách nói gần đây) cho đến thiết kế hệ thống và quản lý, điều hành, mọi khâu đều có những bất cập, sai lầm nghiêm trọng, ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ hệ thống.

Quan niệm, tư duy về giáo dục xơ cứng, cũ kỹ

Cái gốc của phần lớn sai lầm ấy là quan niệm, tư duy xơ cứng về giáo dục, quá cũ kỹ mà qua hai thập kỷ hầu như không thay đổi. Vẫn cách suy nghĩ thiển cận, vẫn những quan điểm giáo điều thời bao cấp, được biến tấu ít nhiều để thích nghi với những xu hướng phiêu lưu du nhập từ bên ngoài phù hợp với từng nhóm lợi ich chi phối các hoạt động giáo dục.

Mọi người đều biết thời nào, chế độ nào thì một nền giáo dục chân chính cũng có sứ mạng cao cả giống nhau về giáo dục con người. Đồng thời trên cái nền chung đó mỗi thời, mỗi xã hội đặt những nhiệm vụ, yêu cầu cụ thể khác nhau cho giáo dục. Không thấy hai mặt đó mà chỉ thiên một mặt này hay mặt kia, thậm chí để hai mặt đó xung đột, sẽ dẫn đến một nền giáo dục hoặc thoát ly thực tế hoặc thực dụng thiển cận, hoặc vừa có cả hai tính chất đó.

Chẳng hạn, thời nào thì con người sống trong xã hội lành mạnh cũng cần trung thực, và muốn đóng góp vào sự phát triển của xã hội cũng phải ít nhiều có đầu óc sáng tạo, nhưng chưa bao giờ hai đức tính đó thiết yếu như bây giờ trong thế giới toàn cầu hóa và kinh tế tri thức.

Điều đó tiếc thay đã không được chú ý trong suốt quá trình xây dựng giáo dục ở VN. Trong khi xã hội và môi trường quốc tế đã biến đổi cực kỳ sâu sắc mà từ mẫu giáo đến đại học, nhà trường vẫn dựa vào kinh nghiệm giáo dục tư tưởng chính trị thời đấu tranh giành độc lập và xây dựng chủ nghĩa xã hội để rèn luyện nhân cách, kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, thì với sự vênh đó giữa lý thuyết và đời sống, cộng thêm sự xuống cấp nhanh đạo đức xã hội, làm sao có thể giáo dục trung thực và sáng tạo có hiệu quả?

Đó là nguyên nhân sâu xa khiến sự giả dối và nạn giáo điều lan tràn, từ tiêu cực trong thi cử, bệnh thành tich, bệnh thi đua hình thức, cho đến nạn sao chép, dạy mẫu, học thuộc lòng, cứ tồn tại dai dẳng bất chấp sự lên án của dư luận xã hội.

Cần phải bình đẳng về cơ hội học tập thành công

Gần đây, những cuộc tranh cãi xung quanh đề án tăng học phí, nạn học sinh bỏ học, ngồi nhầm lớp, v.v. cho thấy rõ một nguyên nhân căn bản của nhiều vấn nạn ấy là do nhận thức về công bằng, dân chủ trong giáo dục còn quá hời hợt và thô sơ. Chỉ mới chú ý yêu cầu sơ đẳng bảo đảm quyền học tập (nói chính xác là quyền bình đẳng về cơ hội học tập), mà ngay việc này cũng chưa được hiểu đúng và làm tốt.

Trong khi đó, với chế độ học tập như hiện nay, buộc học sinh phải học thêm ngoài giờ rất nhiều (kể cả làm bài tập ở nhà và học thêm ngoài giờ có trả học phí), thì con em các gia đình nghèo làm sao có được cơ hội học tập thành công bình đẳng với con em các gia đình khá giả.

Cho nên được đi học mới chỉ là bình đẳng một phần. Bình đẳng về cơ hội học tập không thôi chưa đủ mà phải bình đẳng về cơ hội học tập thành công. Không phải không có lý do mà ở nhiều nước, để bảo đảm công bằng về cơ hội thành công trong học tập, để giúp con em nhà nghèo không bỏ học giữa chừng, học sinh tiểu học và trung học không phải làm bài tập ở nhà mà đều làm hết ở trường, trong những giờ tự học có thầy giám sát.

Ở các nước ấy cũng không có chuyện phải học thêm ngoài giờ ở lớp và không có học sinh phải bỏ học chỉ vì chương trình nặng, học không nổi hay sách giáo khoa quá đắt, không có tiền mua. Vì vậy hiện tượng học sinh bỏ học nhiều cần được nhìn nhận là dấu hiệu đáng lo ngại của một nền giáo dục thiếu công bằng.

Vào những năm 80 thế kỷ trước, khi kinh tế bế tắc, hệ thống giáo duc cũ gần như tan rã. Sai lầm cơ bản khi ấy là đã không xuất phát từ gốc để cải tạo hệ thống giáo dục mà chỉ cải sửa tùy tiện từng phần của nó trong khi vẫn khư khư giữ nền móng tư duy lạc hậu cũ. Rốt cuộc đã đẻ ra một hệ thông giáo dục dị dạng, đầu Ngô mình Sở, thường xuyên gặp khó khăn, đòi hỏi phải liên tục cải sửa, song càng sửa càng rối, càng bất cập.

Như trên đã nói, khủng hoảng giáo dục là từ bên trong, tức là chủ yếu do hậu quả của hàng loạt sai hệ thống. Trong đó đáng nêu nhất có một số sai căn bản như sau.

Sai đầu tiên tai hại nhất là về chính sách đối với người thầy

Xuất phát từ quan niệm lệch lạc về sứ mạng và vai trò người thầy trong nền giáo dục hiện đại. Phản ứng lại tư duy lạc hậu trong nhà trường cũ, gán cho thầy quyền uy tuyệt đối theo quan niệm “không thầy đố mầy làm nên”, biến giáo dục thành quá trình truyền đạt và tiếp thu hoàn toàn thụ động, đã xuất hiện tư duy cực đoan ngược lại, phủ nhận vai trò then chốt của thầy đối với chất lượng giáo dục.

Với cách hiểu giáo dục thô sơ nặng về cảm tính, khi thì nhấn mạnh một chiều “học sinh là trung tâm”, khi khác tôn chương trình, sách giáo khoa lên địa vị “linh hồn giáo dục”, nhận định chất lượng đại học thấp “không phải do thầy mà do chương trình”, v.v. dẫn đến hoàn toàn xem thường việc xây dựng đội ngũ thầy giáo theo chuẩn mực giáo dục hiện đại. Trong mọi khâu từ tuyển chọn đến sử dụng và bồi dưỡng người thầy, khâu nào cũng phạm sai lầm lớn. Đặc biệt tệ hại là chính sách lương.

Ngay từ đầu đã bỏ qua kinh nghiệm muôn thuở “có thực mới vực được đạo”, trả lương cho thầy cô giáo dưới mức sống hợp lý, lấy cớ ngân sách eo hẹp (thật ra chỉ là sử dụng ngân sách không hợp lý), bỏ mặc các thầy cô “tự cứu” kiếm thêm thu nhập bằng mọi cách (dạy thêm, làm thêm, đến nỗi không hiếm giảng viên đại học dạy trên 30 giờ/tuần).

Rốt cuộc phần thu nhập thêm đó cũng từ ngân sách hoặc tiền đóng góp của dân mà ra, nhưng cái giá phải trả cho cái nghịch lý lương/thu nhập đó là chất lượng giáo dục bị hy sinh, đạo lý xuống cấp, cần kiệm liêm chính mất dần, gây ra tình trạng hỗn loạn rất khó đảo ngược để lập lại trật tự, dân chủ, văn minh trong giáo dục.

Sai lớn thứ hai là chú trọng thi hơn học

Có quá nhiều kỳ thi “quốc gia”, mà thi theo cách học thuộc lòng, sao chép bài mẫu, lại thiếu nghiêm túc, sinh ra hội chứng thi rất đặc biệt của giáo dục VN, tái diễn cảnh lều chõng xa xưa ngay giữa thời toàn cầu hóa và kinh tế tri thức (với tâm lý rớt thi đặc trưng “đau quá đòn ghen, rát hơn lửa bỏng, hổ bút hổ nghiên, hổ lều hổ chõng”). Có thể nói không ngoa, muốn hiểu thực chất việc học ở VN như thế nào chỉ cần quan sát xã hội VN trong mùa thi.

Thực học hay hư học, học để biết, để làm, để sống cuộc sống hữu ích, hay học để làm gì, tất cả đều phơi bày ra hết ở mùa thi. Trên thì Bộ Giáo dục & Đào tạocó cả một bộ máy đồ sộ để nghiên cứu nghĩ ra cách tổ chức thi, ra đề thi, chấm thi, thanh tra, giám sát thi, mỗi năm một kiểu, dưới thì các lò luyện thi, các lớp học thêm, dạy thêm, các máy sao chụp đua nhau hoạt động phục vụ học sinh đi thi. Suốt mấy năm trời hết ba chung rồi hai chung, hết tự luận rồi trắc nghiệm, thảo luận không dứt, nhưng không hề băn khoăn: có cần thiết bấy nhiêu kỳ thi và thi căng thẳng như vậy không?

Mặc dù đã có nhiều ý kiến đề nghị bỏ bớt các kỳ thi và thay đổi cách thi, nhưng với sức ỳ cố hữu của cơ quan quản lý, phải mất tám năm mới bỏ được cách thi kỳ quặc dựa theo bộ đề thi có sẵn, sau đó nhiều năm mới bỏ được thi tiểu học, thi THCS. Còn lại hai kỳ thi căng thẳng tốn kém nhất là thi THPT và thi tuyển sinh đại học, dự kiến kết hợp lại làm một, cũng là một tiến bộ dù chỉ mới nửa vời. Ở đại học, do đào tạo theo niên chế nên “thi tốt nghiệp” theo cách nặng nề, hình thức mà ít hiệu quả.

Từ cách thi nhiêu khê sinh ra lắm dich vụ ăn theo kỳ lạ ở mọi cấp: kỹ nghệ “phao” thi, thi thuê, viết luận án thuê, làm bằng giả, bằng thật nhưng học giả, v.v. Cho nên chừng nào còn thi kiểu này, còn học chỉ để thi, thì hư học còn phát triển, gây lãng phí lớn cho Nhà Nước và cả xã hội. Nếu tính hết mọi khoản chi trực tiếp và gián tiếp phục vụ cho các kỳ thi thì tốn kém lên tới con số khủng khiếp khó có thể chấp nhận.

Sai lớn thứ ba là chạy theo số lượng, hy sinh chất lượng

Bất chấp mọi chuẩn mực, thông lệ và kinh nghiệm quốc tế, khiến việc hội nhập khó khăn và không cạnh tranh nổi ngay với giáo dục các nước trong khu vực. Điều này rõ nhất, nghiêm trọng nhất ở cấp đại học và cao học (đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ). Thật ra, từ giữa thế kỷ XX mâu thuẫn gay gắt giữa số lượng và chất lượng đã xuất hiện phổ biến trong phát triển giáo dục ở hầu hết các nước trên thế giới.

VN càng không phải là ngoại lệ, nhưng VN đi sau, có thể học hỏi kinh nghiệm của các nước để tránh sai lầm. Tiếc rằng nhiều kinh nghiệm tốt ở các nước đã không được áp dụng, hoặc áp dụng không thành công, chủ yếu vì thiếu nghiên cứu cho thấu đáo và không có cách nhìn hệ thống (đào tạo nghề, đại học đại cương là những ví dụ). Trong thời đại toàn cầu hóa, muốn hội nhập thành công, phải hiểu biết và tôn trọng luật chơi, trước hết là các quy tắc, chuẩn mực, thông lệ quốc tế.

Thế nhưng từ các chuẩn mực thông thường xây dựng một đại học về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng dạy, cho đến việc tuyển chọn, đánh giá GS, PGS, tuyển sinh thạc sĩ, tiến sĩ, đánh giá công trinh nghiên cứu khoa hoc, đánh giá các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, đánh giá các đại học v.v. phần lớn đều không theo những chuẩn mực quốc tế mà dựa vào những tiêu chí tự sáng tác, nặng về cảm tính thô sơ, rất thấp và rất khác so với quốc tế, thiếu khách quan, thiếu căn cứ khoa học, thiếu minh bạch, dễ bị lợi dụng mưu lợi ich riêng cho từng nhóm thay vì phục vụ sự nghiệp chung.

Với cách quản lý xô bồ đó, số phế phẩm tuôn ra xã hội ngày càng đông, tài năng làng nhàng chiếm ưu thế, rồi phế phẩm thế hệ 1 sản xuất ra phế phấm thế hệ 2, cứ thế thành cái vòng xoáy trôn ốc nhấn chìm giáo dục trong một mớ bòng bong, không gỡ ra được (tình hình lộn xộn về các bằng cấp đại học, thạc sĩ, tiến sĩ trong nước và các chức danh GS, PGS hay các danh vị khác đã khiến các sản phẩm giáo dục VN mất giá thảm hại trên quốc tế).

Khó khắc phục năng lực yếu kém của bộ máy tham mưu, quản lý và điều hành

Sau cùng, mà có thể là nguyên nhân quan trọng nhất, tuy khó khắc phục nhất, là năng lực yếu kém của bộ máy tham mưu, quản lý và điều hành. Xây dựng giáo dục để hội nhập thành công trong thời toàn cầu hoá và kinh tế tri thức đòi hỏi một trình độ chuyên nghiệp cao và một tinh thần trách nhiệm lớn.

Đó là khâu đầu tiên phải giải quyết đúng, phải “thắng”, thì mới bảo đảm thành công. Cho nên khi giáo dục lâm vào khủng hoảng toàn diện thì nguyên nhân thất bại đầu tiên phải tìm ngay trong khâu mấu chốt đó.

Không thể đổ cho thiếu tiền, vì tuy một số lĩnh vực như đại học cần thật sự được tăng đầu tư, nhưng nhìn chung, quản lý tài chính trong toàn ngành yếu kém, thiếu minh bạch, không tạo được niềm tin tăng đầu tư cho giáo dục sẽ tăng chất lượng tương ứng.

Một ví dụ: Một đề án 6 năm để phát triển giáo dục đại học được đâu tư 115 triệu USD (trong đó vay của World Bank 85 triệu), mới thực hiện được vài năm đã bị WB dọa đình chỉ vì quản lý quá kém, thế nhưng sau đề án đó lại tiếp tục một đề án khác 70,5 triệu USD trong đó khoảng gần 5 triệu USD chỉ để… nâng cao năng lực quản lý của Bộ GD và ĐT.

Chỉ một thông tin như thế đủ cho thấy trình độ chuyên nghiệp của bộ máy quản lý yếu kém đến mức nào. Mà đó chỉ là một đề án. Xung quanh Bộ Giáo dục & Đào tạocó nhiều vụ, viện với biên chế rất lớn, từng có thời gian dài có bộ phận biên chế đến 500 người mà năng suất rất thấp, mặc dù đã tốn hàng nghìn chuyến đi nước ngoài với danh nghĩa học tập kinh nghiệm … viết sách giáo khoa.

Hằng năm khoản chi để “bồi dưỡng năng lực quản lý” theo kiểu đó đã ngốn một phần công quỹ lớn thì còn đâu ngân sách trả lương đàng hoàng cho thầy cô giáo! Ở TƯ đã vậy thì ở các địa phương cũng lặp lại mô hình đó, sự thiếu chuyên nghiệp, cọng với thiếu công tâm, là đặc trưng nổi bật của bộ máy quản lý, đẻ ra một kiểu quản lý tập trung quan liêu, thiếu trách nhiệm và kém hiệu quả.

Bên cạnh Bộ Giáo dục & Đào tạothiếu chuyên nghiệp mà rất cồng kềnh, còn có một Hội đồng Quốc gia Giáo dục với nhiệm vụ giúp sự chỉ đạo của Chính Phủ và một Hội đồng Chức danh GS, PGS lo việc xem xét công nhận các chức danh này. Thành phần chủ chốt của cả hai hội đồng đều có nhiều người chỉ hiểu biết hời hợt về giáo dục hiện đại, nhất là đại học, cho nên có thể nói ảnh hưởng khá tiêu cực đối với sự phát triển giáo dục.

Tình trạng sa sút của giáo dục đại học vừa qua có một phần trách nhiệm rất quan trọng của chính hai hội đồng này. Với một bộ máy quản lý vừa thiếu chuyên nghiệp vừa quan liêu như thế, không lạ gì chủ trương coi giáo dục cùng với khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu đã gần như bị vô hiệu hóa hoàn toàn, và hơn mười năm sau khi đề ra chủ trương đó nhiệm vụ chấn hưng giáo dục và khoa học đặt ra càng gay gắt hơn bao giờ hết.

3. Lối ra nào?

Trước tình hình khủng hoảng của giáo dục, năm 2004 đã có một bản kiến nghị của 24 tri thức, chuyên gia trong nước và Việt kiều kêu gọi cải cách giáo dục toàn diện và mạnh mẽ. Cách đây gần một năm, trong một bài viết đầy tâm huyết, Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đã nhắc lại và nhấn mạnh sự cần thiết phải thực hiện những biến đổi có tính cách mạng để chấn hưng giáo dục.

Rồi cách đây vài tháng, một nhóm 11 chuyên gia Việt kiều và trong nước cũng đã có một đề án mới về cải cách giáo dục. Gần đây nhất nhóm nghiên cứu về giáo dục do nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình chủ trì lại đưa ra một kiến nghị nữa về cải cách giáo dục. Đủ thấy tình hình thật sự nước sôi lửa bỏng trên mặt trận giáo dục. Chưa bao giờ xã hội có mối quan tâm lo lắng nhiều như hiện nay đối với việc học của con em.

Thật ra không phải chỉ mấy năm qua khủng hoảng giáo dục mới được nhận dạng, mà ngay từ năm 1995, trong một hội nghị lớn do Thủ Tướng Võ Văn Kiệt hồi ấy triệu tập và chủ trì đã có ý kiến thẳng thắn nêu lên thực trạng nguy kịch của giáo dục và lên tiếng kêu cứu cho ngành này.

Nhìn thẳng

Nhiều nhận định và kiến nghị tâm huyết đề xuất trong hội nghị đó và một loạt hội thảo tiếp theo đã được tiếp thu và ghi nhận trong nghị quyết TƯ II khóa 8, đánh dấu một bước ngoặt lớn trong nhận thức và tư duy lãnh đạo đối với giáo dục. Nhưng từ đó đến nay giáo dục vẫn ì ạch, chưa có dấu hiệu bứt ra được khỏi thế trì trệ triền miên. Thật đáng buồn khi giở ra xem lại báo chí thời đó, hóa ra những nhận định và đánh giá 15 năm trước bây giờ vẫn còn nguyên tính thời sự.

Thế mà trong 15 năm ấy thế giới đã đổi thay biết bao, ngày càng phẳng và trí tuệ hơn, có biết bao cơ hội mới đã mở ra, đồng thời biết bao thách thức lớn ở phía trước ! Điều gì sẽ xảy ra cho đất nước 15 năm nữa nếu vẫn sức ỳ này chi phối giáo dục?

Trong thực tế, dù bảo thủ đến đâu, Bộ Giáo dục & Đào tạocũng như bất cứ ai đều không thể làm ngơ trước nhiều vấn nạn giáo dục đã và đang làm đau đầu cả xã hội. Chỉ có điều, để khắc phục các vấn nạn ấy, ngành giáo dục thực hiện những sửa đổi vụn vặt, chắp vá, chậm chạp, thiếu nhất quán, nên tác dụng và hiệu quả thấp, dẫn đến tình trạng các vấn nạn kéo dài triền miên hết năm này qua năm khác, ngày càng trở nên phức tạp vượt quá tầm kiểm soát.

Phân ban hay không phân ban?

Sức ỳ và tinh thần ngại thay đổi, cộng với tính thiếu chuyên nghiệp biểu hiện rõ nhất trong vấn đề thi cử và phân ban. Suốt hơn hai chục năm trời, những cải cách về thi cử chỉ đạt được kết quả là bỏ thi theo bộ đề thi (mất 8 năm), bỏ thi tiểu học, thi THCS (mới cách đây vài năm), kết hợp thi THPT với thi tuyển sinh đại học làm một (giải pháp nửa vời chưa tốt lắm), nhưng chưa bỏ được mà còn tăng cường thi tốt nghiệp ở đại học.

Về việc chương trình THPT có nên phân ban hay không, và phân ban như thế nào, thì loay hoay mãi 15 năm trời, thí điểm đi thí điểm lại các phương án phân ban kiểu cũ (theo hướng chuyên môn hóa dứt điểm từ lớp 10 hay 11), sau thất bại nhiều lần đến năm 2006 mới bắt đầu sửa theo kinh nghiệm các nước tiên tíến, nhưng cũng chỉ sửa nửa vời vì vẫn tiếc rẻ chương trình, sách giáo khoa đã trót soạn và in theo tinh thần phân ban cũ từ mấy năm trước.

Trong cả hai chuyện (thi cử và phân ban) , sở dĩ mò mẫm mãi và cải cách chỉ đến nửa vời là vì xuất phát từ tư duy giáo dục cũ kỹ: Coi nhẹ văn hóa phổ quát, muốn chuyên môn hóa dứt điểm rất sớm, do đó phổ thông thì phân ban, đại học thì học theo niên chế (đào tạo theo chuyên môn hẹp), cả phổ thông và đại học đều phải thi tốt nghiệp.

Trong khi đó nếu xuất phát từ quan điểm coi học chứ không phải thi là chính, trọng văn hóa phổ quát, không chuyên môn hóa dứt điểm quá sớm, nhằm tạo điều kiện cho người học có khả năng hợp tác liên ngành và khả năng thích nghi với môi trường ngành nghề thường xuyên biến động trong thời kinh tế tri thức.

Do đó học theo chế độ tín chỉ, thi theo từng học phần dứt điểm, không có thi tốt nghiệp mà cứ hội đủ số tín chỉ theo yêu cầu thì tôt nghiệp. Như vậy, thich hợp hơn với các điều kiện làm viêc thực tế hiện đại, không bị áp lực thi cử quá nặng nề, giảm bớt stress học tập cho giới trẻ.

Nhìn lại vấn đề đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ và xét duyệt chức danh GS, PGS

Hai vấn đề lớn khác là chế độ đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, và chế độ xét duyệt, công nhận chức danh GS, PGS. Đây là hai lĩnh vực công tác có nhiều sai lầm nghiêm trọng tác động tiêu cực đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhưng trong suốt ba mươi năm vẫn được duy trì hầu như không thay đổi.

Nhiều kiến nghị liên tục của chuyên gia trong nước và Việt kiều kêu gọi chấn chỉnh hai công tác này đều bị xếp xó. Mãi đến mấy năm gần đây một số kiền nghị ấy mới bắt đầu được nghiên cứu và chấp nhận một phần, nhưng khi thực hiện lại cũng trì hoãn thêm một số năm nữa, không ai hiểu vì lý do gì. Sự ngập ngừng, tiến vài bước rồi lại lùi, có khi quay ngược 180 độ, biểu hiện tư duy lấn cấn, chưa thông suốt, chưa sẵn sàng đổi mới, ngay cả khi sự cấp thiết phải thay đổi đã quá rõ và đã được chính thức thừa nhận.

Bấy nhiêu kinh nghiệm thất bại là những bài học cho thấy không thể chấn hưng giáo dục bằng những cải cách nửa vời, chậm chạp, tùy tiện, như ngành giáo dục đã làm hơn hai mươi năm qua. Ngay những biện pháp tich cực hai năm gần đây, tuy rất cần thiết và đáng hoan ngênh, cũng chỉ mới có tác dụng sửa sang bề ngoài bộ mặt nhà trường cho dễ coi, chứ thật sự chưa động tới cốt lõi.

Chống tiêu cực phải chống tới gốc

Chẳng hạn, chống tiêu cực trong thi cử chỉ mới làm cho quang cảnh thi cử sạch sẽ hơn chứ chưa động tới cái gốc của hội chứng thi; chống hành vi xâm phạm nhân phẩm học sinh của một bộ phận thầy giáo chỉ mới cải thiện chút it hình ảnh người thầy chứ chưa động tới các nguyên tắc giáo dục trong nhà trường hiện đại (thầy chẳng những không được đánh đập, mà cũng không được quở mắng, làm nhục học sinh trươc lớp, dù chỉ với ý tốt để răn dạy các em).

Quản lý chặt chẽ việc dạy thêm, học thêm tràn lan, giải quyết vấn nạn bỏ học, ngồi nhầm lớp chưa hề động tới nguyên tắc công bằng trong giáo dục; kế hoạch đào tạo hai vạn tiến sĩ chưa động tới cốt lõi vấn đề tuyển chọn, sử dụng, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên đại học.

Trong khi những đề nghị cải cách nhằm tới một nền giáo dục hiện đại, công bằng, dân chủ, văn minh, đều rất khó được tiếp thu thì ngược lại nhiều ý tưởng về tự do hoá và thị trường hoá giáo dục lại được hưởng ứng với một nhiệt tình mù quáng, tưởng như đó là chiếc đũa thần để chữa mọi căn bệnh trầm kha của giáo dục VN.

Đặc biệt, chưa nghiên cứu kỹ để hiểu đúng tinh thần cuộc cải cách quản lý đại học gần đây ở các nước phát triển đã vội vã noi theo họ đề ra chủ trương phiêu lưu cổ phần hóa đại học công và phát triển đại học tư vì lợi nhuận mạnh hơn cả ở các nước ấy, gây lo lắng cho nhiều tầng lớp xã hội trước sự buông lơi trách nhiệm của Nhà Nước đối với giáo dục.

Như chúng tôi đã phát biểu trong bản kiến nghị năm 2004, trước tình hình khủng hoảng kéo dài của giáo dục, chỉ có một lối ra tiết kiệm và nhanh chóng là thực hiện một cuộc cải cách giáo dục toàn diện, triệt để, nhằm xây dựng lại hệ thống giáo dục từ gốc, tiến tới một nền giáo dục thật sự hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới, và tạo tiền đề cho đất nước hội nhập quốc tế thành công.

Cải cách GD là mệnh lệnh của cuộc sống

Đó thật sự là mệnh lệnh cuộc sống, nếu chúng ta không muốn bị đẩy ra ngoài lề thế giới văn minh ngày nay. Tốt nhất Chính Phủ nên thành lập một tổ đặc nhiệm, độc lập với Bộ GD và ĐT, chịu trách nhiệm xây dựng trong thời hạn 12 tháng một đề án cải cách giáo dục toàn diện kèm theo một lộ trình thực hiện đề án đó sau khi được Chính Phủ đồng ý để trình Quốc Hội thông qua.

Tổ đặc nhiệm này cần có một nòng cốt gồm một số không nhiều (dưới 5) những chuyên gia thật sự có năng lực và thật sự am hiểu giáo dục hiện đại, làm việc toàn thời gian, và bên cạnh đó môt hội đồng rộng hơn, làm việc bán thời gian, gồm có đại diện Bộ GD và ĐT, các nhà khoa học, nhà văn hóa, và doanh nhân.

Trong thời gian chuẩn bị đề án cải cách căn cơ, nên gác lại việc xây dựng chiến lược phát triển giáo dục 2008-2020 (cần rút kinh nghiệm về thất bại của chiến lược phát triển giáo dục 2000-2010 do Bộ Giáo dục & Đào tạođã xây dựng).

Đồng thời, để tạo cơ sở và mở đường chuyển sang cải cách toàn diện cần tập trung giải quyết một số vấn đề cấp bách về những lỗi hệ thống trầm trọng đã nêu ở trên:

1) Chính sách đối với thầy cô giáo, đặc biệt là nghịch lý lương/thu nhập hiện nay.

2) Thi cử và đi liền với nó là phân ban ở THPT và chế độ tín chỉ ở đại học.

3) Nhấn mạnh chất lượng và chuẩn mực thay vì chạy theo số lượng, bất chấp chuẩn mực.

4) Cải tổ quản lý (đặc biệt quản lý tài chính), khắc phục bệnh tập trung quan liêu, tăng tính chuyên nghiệp và tính trách nhiệm, chống lãng phi, tham nhũng trong nội bộ ngành.

Trên thực tế, từ hai năm nay Bộ Giáo dục & Đào tạođã có nhiều cố gắng để kéo cổ xe giáo dục ra khỏi sa lầy, vực giáo dục lên nhằm đáp ứng các yêu cầu bức thiết hội nhập và phát triển kinh tế và nguyện vọng chính đáng của người dân được hưởng một nền giáo dục công bằng, dân chủ, hiện đại.

Giờ đây cả nước, từng gia đình, không ai không thấm thía những hậu quả của khủng hoảng giáo dục. Mong rằng trong hoạ này cũng có cái may, và đây chính là cơ hội lịch sử để nền giáo dục tự ý thức đầy đủ sự yếu kém của minh, tìm thấy trở lại động lực mạnh mẽ để phát huy tiềm năng và vươn lên hoàn thành sứ mạng cao cả trong giai đoạn đầy trách nhiệm đối với tương lai đất nước.

* GS Hoàng Tụy

Ghi chú: Đây là bài diễn thuyết của GS Hoàng Tuỵ với chủ đề: "Khủng hoảng giáo dục: Nguyên nhân và lối ra trước thách thức toàn cầu hoá" được trình bày và thảo luận tại Viện IDS ngày 6/6/2008.
December 2009
M T W T F S S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31