Skip navigation

Lost password? | Help

Nghĩa Lâm

Đôi lúc, cái mà nguời ta có được từ công việc của mình không phải là tiền bạc mà là những bài học quý báu - C. Black

Posts tagged with "Cải cách"

Nhiều nhân tài thì sẽ có thiên hạ

,

Hơn 16000 công chức xin thôi việc nên được hiểu là quá trình trao đổi tuần hoàn máu bình thường. Nhưng nếu chiều hướng gia tăng và tập trung vào nhân sự giỏi, các cấp lãnh đạo cần đặt câu hỏi tại sao.


Làm quan cũng chỉ là một nghề

Ngạn ngữ Việt Nam có câu: ”Một người làm quan, cả họ được nhờ” thể hiện rõ nét tính ưu việt của việc tham gia vào công việc triều chính hay bộ máy quản lý, điều hành công quyền trước đây. Chữ “nhờ” ở đây có thể mang ý nghĩa vật chất rất cụ thể mà đôi khi chỉ là sự “thơm lây” về tinh thần.

Cũng giống Việt Nam, trong tâm tư của người dân Châu Á truyền thống việc được tiếp nhận vào hàng ngũ phục vụ cho bộ máy cai trị là một vinh dự to lớn và một sự bảo đảm tốt về địa vị kinh tế- chính trị- xã hội. Người ta đua nhau thi cử để ra làm quan và nghề làm quan đã trở thành mục tiêu tối thượng của cả xã hội vì nó có thể hứa hẹn nhiều thứ, từ quyền lực, danh giá cho tới tiền tài và sự kính trọng.

Tuy nhiên lịch sử cũng chứng kiến nhiều trường hợp dám hy sinh quyền lợi cá nhân, dũng cảm “ trao ấn, từ quan” để lui về ở ẩn. Thông thường đó là thái độ phản kháng một cách bất lực của những vị quan thanh liêm trước thế sự triều đình suy vong, thối nát, tham nhũng tràn lan, bọn gian thần lộng hành vơ vét, muôn dân cực khổ còn vua chúa thì nhu nhược hoặc rất bạo tàn. Chu Văn An là một trong nhiều trường hợp tương tự trong lịch sử nước nhà.

Đối với xã hội phương Tây từ thời Đế chế La mã Roma và sau này là thời kỳ Phục hưng do những điều kiện lịch sử đặc thù đã hình thành sớm hơn Châu Á rất nhiều một hình thái phát triển kinh tế- xã hội khác, mà trong đó, con người với tư cách là các cá nhân được hưởng những quyền công dân, bao gồm quyền tư hữu tài sản và một số quyền tự do khác được pháp luật bảo vệ.

Kinh tế thị trường và xã hội dân sự bởi vậy đã có đất để bén rễ và phát triển mạnh mẽ. Thương mại và sản xuất công nghiệp dần dần trở thành động lực chính của tiến bộ xã hội. Người dân ngoài cơ hội lấy bằng cấp để ra phục vụ chính quyền còn có nhiều lựa chọn khác nữa trong kinh doanh, thương mại và công nghiệp tư nhân, do vậy mà khái niệm làm quan chỉ mang một ý nghĩa bình đẳng như mọi ngành nghề khác trong sự phân công lao động xã hội, không hơn không kém.

Sau những năm xóa bỏ bao cấp để tiến hành công cuộc Đổi mới, từng bước xây dựng nền kinh tế thị trường và đặc biệt với việc trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế Giới WTO vào năm 2006 cục diện kinh tế - xã hội Việt Nam đã đạt được những chuyển biến tích cực về cơ cấu và định hướng phát triển.

Nền kinh tế ngày càng mang đậm dấu ấn của những nhân tố mới phát triển rất năng động đó là kinh tế tư nhân và đầu tư nước ngoài. Người lao động lần đầu tiên có nhiều cơ hội để lựa chọn giữa “làm quan” trong khu vực nhà nước hay “làm giàu” và thử tài kinh doanh trong hai khu vực mới mẻ này.

Ngoài ra, do Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào quá trình phân công lao động quốc tế và các chuỗi giá trị toàn cầu nên lao động của chúng ta còn có nhiều cơ hội làm ăn ở hầu như khắp nơi trên thế giới. Số lượng kiều hối có chiều hướng năm sau tăng hơn năm trước được gửi về nước góp phần xây dựng quê hương và giúp đỡ gia đình là một minh chứng thuyết phục cho nhận định này.

Nhận dạng các nhu cầu tự nhiên

Giờ đây các nhà hoạch định chính sách lao động và giáo dục ở nước ta (cả khu vực quốc doanh và ngoài quốc doanh) đã phải tính đến việc đáp ứng các nhu cầu phát triển toàn diện của nguồn nhân lực một cách khoa học và hiệu quả nhất. Theo xu hướng này người ta thường tham khảo thang bậc nhu cầu của A. Maslow – một học thuyết đỉnh cao trong việc nhận dạng các nhu cầu tự nhiên của con người.

Theo thuyết của A. Maslow, nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau từ “đáy” lên tới ”đỉnh”, phản ánh mức độ “thiết yếu” của nó đối với sự tồn tại và phát triển của con người vừa là một sinh vật tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội. Cấp độ thấp nhất và thiết yếu nhất là nhu cầu thể chất hay thể xác của con người như nhu cầu ăn, mặc, ở, sinh lý…

Cấp độ tiếp theo là nhu cầu an toàn hay nhu cầu được bảo vệ. An toàn về tính mạng và an toàn về tài sản. Cao hơn nhu cầu an toàn là nhu cầu quan hệ như quan hệ giữa người với người, quan hệ con người với tổ chức hay quan hệ giữa con người với tự nhiên. Con người luôn có nhu cầu yêu thương gắn bó và cấp độ nhu cầu này cho thấy con người có nhu cầu giao tiếp để phát triển.

Ở trên cấp độ này là nhu cầu được đánh giá, nhận biết và tôn trọng. Đây là mong muốn của con người nhận được sự chú ý, quan tâm và tôn trọng từ những người xung quanh và mong muốn bản thân là một “mắt xích” không thể thiếu trong hệ thống phân công lao động xã hội. Việc họ được tôn trọng cho thấy bản thân từng cá nhân đều mong muốn trở thành người hữu dụng theo một điều giản đơn là “xã hội chuộng của chuộng công “.

Vì thế, con người thường mong muốn có địa vị cao để được nhiều người tôn trọng và kính nể. Vượt lên trên tất cả các nhu cầu đó là nhu cầu sự thể hiện. Đây là khát vọng và nỗ lực để đạt được mong muốn. Con người tự nhận thấy bản thân cần thực hiện một công việc nào đó theo sở thích và chỉ khi công việc đó được thực hiện thì họ mới cảm thấy hài lòng. Thuyết này sắp xếp nhu cầu con người từ thấp lên cao, những nhu cầu ở cấp cao hơn sẽ được thỏa mãn chỉ khi nhu cầu cấp thấp hơn được đáp ứng. (1)

Quy tụ người tài

Như vậy hiện tượng trong 5 năm gần đây có tới hơn 16000 công chức nhà nước xin thôi việc để chuyển sang khu vực ngoài quốc doanh nên được hiểu là một quá trình trao đổi tuần hoàn máu bình thường giữa các bộ phận của một cơ thể đang phát triển (2).

Người lao động bây giờ dựa trên năng lực bản thân có thể lựa chọn môi trường làm việc để được thỏa mãn ở mức phù hợp nhất đối với các thang bậc nhu cầu của họ.

Tuy nhiên nếu quá trình này có chiều hướng gia tăng và lại tập trung vào những vị trí nhân sự có trình độ chuyên môn cao, đức độ và có uy tín đối với quần chúng thì các cấp lãnh đạo phải tự đặt câu hỏi tại sao? Nguyên nhân nào và biện pháp gì để thay đổi tình thế?

Theo thang bậc nhu cầu A.Maslow thì những nhân sự có trình độ cao luôn có nhu cầu được tôn trọng và phải được đặt đúng vị trí tương xứng với khả năng và uy tín của họ.

Không thiếu những trường hợp trong các cơ quan nhà nước người ta tuyển chọn và cất nhắc, đề bạt cán bộ theo sự thân quen, bè cánh hay vì những lý do khuất tất khác. Điều này đã và sẽ làm suy yếu, tha hóa bộ máy công quyền – một công cụ quan trọng thực hiện sự nghiệp Đổi mới, biến nó thành những “căn cứ địa” và “pháo đài” của tham nhũng, mất dân chủ nội bộ và trù dập những người ngay thẳng.

Có một bài học tuy đã cũ nhưng chắc sẽ không bao giờ cổ, đó là muốn đất nước hay doanh nghiệp hưng thịnh thì phải quy tụ được nhiều người tài trong mọi lĩnh vực như kinh doanh, khoa học-kỹ thuật, công nghệ, quản lý và giáo dục. Những tấm gương sáng về phát triển kinh tế- xã hội ở các nước Châu Á quanh ta đã gợi mở nhiều điều. Trung Quốc với những chính sách khuyến khích của chính phủ đã lôi kéo một đạo quân khoa học Hoa kiều hơn 200.000 người trở về và họ hiện chiếm một tỷ lệ đáng ngạc nhiên là 81% số thành viên của Viện khoa học Trung Quốc.

Làn sóng chất xám quay về này đã thúc đẩy nền khoa học Trung Quốc chuyển động nhanh và mạnh. Đối với vấn đề nhân sự trong các tổ chức đảng và cơ quan công quyền nguyên thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ đã có lần nói: ”Chúng ta cần kiên quyết từ bỏ hệ thống đề bạt theo kiểu người tốt là người được cho là tốt thậm chí cho dù anh ta chẳng tốt gì; còn người xấu là người được cho là xấu trong khi anh ta không phải như vậy theo đánh giá của các tầng lớp quần chúng “.(3)

Rễ có sâu thì gốc mới vững, cây mới xanh tốt, đơm hoa thơm và kết trái ngọt, mà nhân tài trong quần chúng chính là những nhánh rễ li ti âm thầm lan tỏa trong lòng đất. “Có nhân tâm trước sẽ thu phục được nhân tài, có nhiều nhân tài thì sẽ được thiên hạ”… lời dạy của người xưa tưởng như ở đâu đó vẫn văng vẳng bên tai.

* TS Phạm Gia Minh

(1) xem bài của TS Nguyễn Thường Lạng, Tạp chí Nhà quản lý, trích đăng trên http:// chungta.com ngày 05/02/2006

(2) Trên thế giới sự dịch chuyển này vẫn diễn ra theo cả hai chiều (nhà nước – tư nhân và ngược lại ) nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội và bản thân người lao động, không hiếm trường hợp nhiều bộ trưởng trước đó là giáo sư đại học ngoài công lập và Thủ tướng là chủ tịch hội đồng quản trị công ty thuộc khu vực tư nhân. Việc gánh vác trách nhiệm trong cơ quan công quyền có nhiệm kỳ được quy định bởi hợp đồng lao động , rất hiếm trường hợp biên chế suốt đời và nếu anh nợ nhà nước tiền ăn học và đào tạo thì anh có nghĩa vụ phải làm việc một số năm để trả hết

(3 ) xem Tuổi trẻ cuối tuần số 25-2008 ngày 29/6/2008

“Tam nông” không chỉ cần vốn

,

Gần đây, “tam nông” (nông nghiệp - nông dân - nông thôn) là một trong những vấn đề thảo luận nóng hổi, từ các diễn đàn khoa học đến chương trình làm việc của Chính phủ cũng như Quốc hội.



Trong đó, vấn đề giải quyết bài toán vốn đầu tư cho nông nghiệp được đề cập rất nhiều và đa số ý kiến đều cho rằng, đây là một trong những trở ngại lớn trong việc đưa nông nghiệp trở thành nền sản xuất hàng hóa, đảm bảo tính bền vững cho ngành này khi hội nhập sâu vào kinh tế thế giới.

Vốn đầu tư chiếm tỷ trọng thấp

Theo bà Trịnh Ngọc Lan (Ngân hàng Nhà nước - Chi nhánh Hà Nội), ước đến hết tháng 6/2008, dư nợ cho vay đối với hộ sản xuất của Agribank, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Chính sách xã hội (VBSP) cho vay hộ nghèo cùng với đối tượng chính sách khoảng 181.500 tỷ đồng, chiếm 17%/tổng dư nợ cho vay các thành kinh tế khác của các tổ chức tín dụng (tổ chức tín dụng).

Một thống kê khác của Trung tâm Thông tin tín dụng (Ngân hàng Nhà nước) cũng cho thấy, tính đến tháng 6/2008, cơ cấu tín dụng dành cho Tp.HCM và Hà Nội chiếm 54%/tổng dư nợ cho vay của toàn hệ thống ngân hàng.

So với khu vực duyên hải miền Trung: 7%, Bắc Trung Bộ: 4%, Đông Bắc bộ: 4%, Tây nguyên: 3% và Tây Bắc: 1% thì phần lớn thị phần dư nợ đều dành cho thành phố, còn dư nợ cho vùng nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là miền núi chiếm tỷ lệ rất thấp.

Đồng tình với quan điểm này, ông Trần Văn Tần, Vụ Tín dụng (Ngân hàng Nhà nước) cho biết thêm: “Tốc độ tăng trưởng bình quân trong cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp nông thôn của 10 năm qua chỉ 22%/năm, thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng bình quân chung của cho vay toàn bộ nền kinh tế là 25%/năm”.

Theo các chuyên gia, thực trạng thị trường tài chính khu vực nông thôn hiện còn tồn tại khá nhiều bất cập.

Một là sự chu chuyển vốn ngược. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, tích lũy trung bình mỗi người khu vực nông thôn chưa đến 800 nghìn đồng/năm. Với mức tích lũy này, thật khó để nói đến chuyện tái đầu tư, nhất là trong điều kiện lạm phát hiện nay.

Trong khi đó, đáng lẽ cần phải chuyển vốn từ thành thị về nông thôn thì hiện tại đang diễn ra ngược lại: thông qua việc điều chuyển vốn trong nội bộ hệ thống các tổ chức tín dụng, một lượng tiền gửi dân cư khá lớn từ nông thôn đã bị chuyển ngược ra thành thị.

Hai là, trong 6 tháng đầu 2008, hoạt động thị trường tiền tệ diễn ra rất phức tạp, đặc biệt là cạnh tranh lãi suất. Nhiều ngân hàng thương mại (ngân hàng thương mại) đua nhau tăng lãi suất và hút bớt một lượng tiền khá lớn từ các quỹ tín dụng nhân dân, vốn được coi là kênh dẫn vốn chủ yếu cho khu vực nông nghiệp.

Ba là, hiệu quả sản xuất nông nghiệp còn thấp, môi trường kinh doanh nhiều rủi ro do thiên tai, dịch bệnh… làm cho khách hàng khó thu hồi vốn để thanh toán nợ cho ngân hàng, khiến dòng vốn thương mại ít chảy vào đây.

Chỉ khơi thông vốn là đủ?

Theo một cán bộ của Ngân hàng Nhà nước, thị trường tài chính nông thôn hiện nay tiếp nhận khá nhiều nguồn vốn đa dạng như vốn ngân sách, vốn tín dụng nhà nước lãi suất ưu đãi cho các dự án, vốn tín dụng ưu đãi lãi suất cho vay hộ nghèo và đối tượng chính sách, vốn của các tổ chức và cá nhân đầu tư tại chỗ, vốn tín dụng thương mại của các tổ chức tín dụng, vốn ODA… nhưng đáng kể nhất vẫn là nguồn vốn của Agribank, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và VBSP.

Cụ thể: Agribank có số dư hiện khoảng 225 nghìn tỷ đồng, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân khoảng 20 nghìn tỷ đồng và VBSP ước 46 nghìn tỷ đồng.

Trong số đó, chỉ có hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và VBSP dành tỷ trọng vốn lớn cho hộ sản xuất và đối tượng chính sách. Đối với Agribank, tuy có nguồn vốn lớn nhưng tỷ trọng dành cho nông thôn đang dần co lại và hướng nhiều hơn đến khách hàng phi nông nghiệp. Sở dĩ như vậy là bởi chi nhánh của Agribank tại các tỉnh kinh tế phát triển và thành phố trực thuộc Trung ương cũng phải cho vay vào đối tượng khách hàng như các ngân hàng thương mại khác.

Ngoài ra, trong một số trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước có chỉ đạo các ngân hàng thương mại tập trung hỗ trợ vốn cho một số hoạt động của khu vực nông nghiệp nông thôn. Chẳng hạn, 6 tháng đầu 2008, các ngân hàng thương mại cho vay 6.600 tỷ đồng mua 16 triệu tấn lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long và 1.000 tỷ đồng mua cá tra, basa cho nông dân…

Qua phân tích con số nêu trên, có thể thấy việc tiếp cận vốn của khu vực nông thôn chiếm tỷ trọng thấp so với các lĩnh vực phi nông nghiệp và chủ yếu là từ nguồn vốn phúc lợi, còn vốn thương mại rất mỏng.

Tại sao như vậy? Ông Nguyễn Sơn Tường, Vụ Chiến lược và Phát triển ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước) phân tích: lãi suất cho vay thương mại khu vực nông thôn không đủ bù đắp chi phí hoạt động, do địa bàn rộng lớn, bên cạnh rủi ro như bất kỳ loại hình rủi ro tài chính nào thì còn phải hứng chịu các rủi ro khác về sâu bệnh, thiên tai,…

Những điều ông Tường nói không phải không có lý khi nhìn vào thực tế sản xuất nông nghiệp hiện nay, bóng dáng của “công nghiệp hóa, hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp” vẫn chưa thấy đâu mà thay vào đó là sự nhỏ lẻ, manh mún và điệp khúc “trồng - chặt” hay “đào - lấp”.

Ông Tường cho rằng, cùng với việc mở cửa nền kinh tế, Chính phủ sẽ ngày càng ít can thiệp trực tiếp vào giá cả và điều này đồng nghĩa, nông dân sẽ đối mặt nhiều hơn, gay gắt hơn với bất ổn của thị trường thế giới.

Trong khi đó, canh tác cây lâu năm lại có xu hướng phát triển vào thời kỳ đỉnh điểm của giá cả, gặp khi cung lớn hơn cầu, hàng hóa khó tiêu thụ, nông dân lại phải chặt cây, trồng loại cây khác. Thực trạng này diễn ra tương tự với với cà phê, hồ tiêu, lúa và cả tôm cá.

Chưa kể, việc canh tác hết sức manh mún đã bóp chết những ý định làm ăn lớn. Từ thời Pháp thuộc, chỉ có 2,7 triệu mảnh ruộng nhưng hiện tại, mặc dù quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, đất nông nghiệp bị thu hẹp đáng kể nhưng số lượng mảnh ruộng lại gia tăng lên 3,5 – 3,7 triệu mảnh!

Điều này cho thấy, nếu không giải quyết được vấn đề tích tụ ruộng đất, gia tăng thời hạn sử dụng đất nông nghiệp nhiều hơn so với thời hạn hiện nay thì khó nói đến chuyện sản xuất lớn nông nghiệp. Một khi sản xuất nông nghiệp vẫn chưa được “công nghiệp hóa” thì phân bổ chi phí vào mỗi đơn vị sản phẩm sẽ rất cao, sản phẩm khó cạnh tranh, lợi nhuận thấp và vốn thương mại vẫn tiếp tục rời xa ngành này.

Từ thực tế này, nhiều ý kiến cho rằng, trước khi bàn chuyện khơi thông vốn cho “tam nông”, cần phải giải quyết những bất cập trong lĩnh vực nông nghiệp, để dòng vốn chảy vào đây không những không làm méo mó quy luật cung cầu vốn mà còn phát huy được hiệu quả của chúng.

“Tam nông” không chỉ cần vốn

,

Gần đây, “tam nông” (nông nghiệp - nông dân - nông thôn) là một trong những vấn đề thảo luận nóng hổi, từ các diễn đàn khoa học đến chương trình làm việc của Chính phủ cũng như Quốc hội.



Trong đó, vấn đề giải quyết bài toán vốn đầu tư cho nông nghiệp được đề cập rất nhiều và đa số ý kiến đều cho rằng, đây là một trong những trở ngại lớn trong việc đưa nông nghiệp trở thành nền sản xuất hàng hóa, đảm bảo tính bền vững cho ngành này khi hội nhập sâu vào kinh tế thế giới.

Vốn đầu tư chiếm tỷ trọng thấp

Theo bà Trịnh Ngọc Lan (Ngân hàng Nhà nước - Chi nhánh Hà Nội), ước đến hết tháng 6/2008, dư nợ cho vay đối với hộ sản xuất của Agribank, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Chính sách xã hội (VBSP) cho vay hộ nghèo cùng với đối tượng chính sách khoảng 181.500 tỷ đồng, chiếm 17%/tổng dư nợ cho vay các thành kinh tế khác của các tổ chức tín dụng (tổ chức tín dụng).

Một thống kê khác của Trung tâm Thông tin tín dụng (Ngân hàng Nhà nước) cũng cho thấy, tính đến tháng 6/2008, cơ cấu tín dụng dành cho Tp.HCM và Hà Nội chiếm 54%/tổng dư nợ cho vay của toàn hệ thống ngân hàng.

So với khu vực duyên hải miền Trung: 7%, Bắc Trung Bộ: 4%, Đông Bắc bộ: 4%, Tây nguyên: 3% và Tây Bắc: 1% thì phần lớn thị phần dư nợ đều dành cho thành phố, còn dư nợ cho vùng nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là miền núi chiếm tỷ lệ rất thấp.

Đồng tình với quan điểm này, ông Trần Văn Tần, Vụ Tín dụng (Ngân hàng Nhà nước) cho biết thêm: “Tốc độ tăng trưởng bình quân trong cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp nông thôn của 10 năm qua chỉ 22%/năm, thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng bình quân chung của cho vay toàn bộ nền kinh tế là 25%/năm”.

Theo các chuyên gia, thực trạng thị trường tài chính khu vực nông thôn hiện còn tồn tại khá nhiều bất cập.

Một là sự chu chuyển vốn ngược. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, tích lũy trung bình mỗi người khu vực nông thôn chưa đến 800 nghìn đồng/năm. Với mức tích lũy này, thật khó để nói đến chuyện tái đầu tư, nhất là trong điều kiện lạm phát hiện nay.

Trong khi đó, đáng lẽ cần phải chuyển vốn từ thành thị về nông thôn thì hiện tại đang diễn ra ngược lại: thông qua việc điều chuyển vốn trong nội bộ hệ thống các tổ chức tín dụng, một lượng tiền gửi dân cư khá lớn từ nông thôn đã bị chuyển ngược ra thành thị.

Hai là, trong 6 tháng đầu 2008, hoạt động thị trường tiền tệ diễn ra rất phức tạp, đặc biệt là cạnh tranh lãi suất. Nhiều ngân hàng thương mại (ngân hàng thương mại) đua nhau tăng lãi suất và hút bớt một lượng tiền khá lớn từ các quỹ tín dụng nhân dân, vốn được coi là kênh dẫn vốn chủ yếu cho khu vực nông nghiệp.

Ba là, hiệu quả sản xuất nông nghiệp còn thấp, môi trường kinh doanh nhiều rủi ro do thiên tai, dịch bệnh… làm cho khách hàng khó thu hồi vốn để thanh toán nợ cho ngân hàng, khiến dòng vốn thương mại ít chảy vào đây.

Chỉ khơi thông vốn là đủ?

Theo một cán bộ của Ngân hàng Nhà nước, thị trường tài chính nông thôn hiện nay tiếp nhận khá nhiều nguồn vốn đa dạng như vốn ngân sách, vốn tín dụng nhà nước lãi suất ưu đãi cho các dự án, vốn tín dụng ưu đãi lãi suất cho vay hộ nghèo và đối tượng chính sách, vốn của các tổ chức và cá nhân đầu tư tại chỗ, vốn tín dụng thương mại của các tổ chức tín dụng, vốn ODA… nhưng đáng kể nhất vẫn là nguồn vốn của Agribank, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và VBSP.

Cụ thể: Agribank có số dư hiện khoảng 225 nghìn tỷ đồng, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân khoảng 20 nghìn tỷ đồng và VBSP ước 46 nghìn tỷ đồng.

Trong số đó, chỉ có hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và VBSP dành tỷ trọng vốn lớn cho hộ sản xuất và đối tượng chính sách. Đối với Agribank, tuy có nguồn vốn lớn nhưng tỷ trọng dành cho nông thôn đang dần co lại và hướng nhiều hơn đến khách hàng phi nông nghiệp. Sở dĩ như vậy là bởi chi nhánh của Agribank tại các tỉnh kinh tế phát triển và thành phố trực thuộc Trung ương cũng phải cho vay vào đối tượng khách hàng như các ngân hàng thương mại khác.

Ngoài ra, trong một số trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước có chỉ đạo các ngân hàng thương mại tập trung hỗ trợ vốn cho một số hoạt động của khu vực nông nghiệp nông thôn. Chẳng hạn, 6 tháng đầu 2008, các ngân hàng thương mại cho vay 6.600 tỷ đồng mua 16 triệu tấn lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long và 1.000 tỷ đồng mua cá tra, basa cho nông dân…

Qua phân tích con số nêu trên, có thể thấy việc tiếp cận vốn của khu vực nông thôn chiếm tỷ trọng thấp so với các lĩnh vực phi nông nghiệp và chủ yếu là từ nguồn vốn phúc lợi, còn vốn thương mại rất mỏng.

Tại sao như vậy? Ông Nguyễn Sơn Tường, Vụ Chiến lược và Phát triển ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước) phân tích: lãi suất cho vay thương mại khu vực nông thôn không đủ bù đắp chi phí hoạt động, do địa bàn rộng lớn, bên cạnh rủi ro như bất kỳ loại hình rủi ro tài chính nào thì còn phải hứng chịu các rủi ro khác về sâu bệnh, thiên tai,…

Những điều ông Tường nói không phải không có lý khi nhìn vào thực tế sản xuất nông nghiệp hiện nay, bóng dáng của “công nghiệp hóa, hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp” vẫn chưa thấy đâu mà thay vào đó là sự nhỏ lẻ, manh mún và điệp khúc “trồng - chặt” hay “đào - lấp”.

Ông Tường cho rằng, cùng với việc mở cửa nền kinh tế, Chính phủ sẽ ngày càng ít can thiệp trực tiếp vào giá cả và điều này đồng nghĩa, nông dân sẽ đối mặt nhiều hơn, gay gắt hơn với bất ổn của thị trường thế giới.

Trong khi đó, canh tác cây lâu năm lại có xu hướng phát triển vào thời kỳ đỉnh điểm của giá cả, gặp khi cung lớn hơn cầu, hàng hóa khó tiêu thụ, nông dân lại phải chặt cây, trồng loại cây khác. Thực trạng này diễn ra tương tự với với cà phê, hồ tiêu, lúa và cả tôm cá.

Chưa kể, việc canh tác hết sức manh mún đã bóp chết những ý định làm ăn lớn. Từ thời Pháp thuộc, chỉ có 2,7 triệu mảnh ruộng nhưng hiện tại, mặc dù quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, đất nông nghiệp bị thu hẹp đáng kể nhưng số lượng mảnh ruộng lại gia tăng lên 3,5 – 3,7 triệu mảnh!

Điều này cho thấy, nếu không giải quyết được vấn đề tích tụ ruộng đất, gia tăng thời hạn sử dụng đất nông nghiệp nhiều hơn so với thời hạn hiện nay thì khó nói đến chuyện sản xuất lớn nông nghiệp. Một khi sản xuất nông nghiệp vẫn chưa được “công nghiệp hóa” thì phân bổ chi phí vào mỗi đơn vị sản phẩm sẽ rất cao, sản phẩm khó cạnh tranh, lợi nhuận thấp và vốn thương mại vẫn tiếp tục rời xa ngành này.

Từ thực tế này, nhiều ý kiến cho rằng, trước khi bàn chuyện khơi thông vốn cho “tam nông”, cần phải giải quyết những bất cập trong lĩnh vực nông nghiệp, để dòng vốn chảy vào đây không những không làm méo mó quy luật cung cầu vốn mà còn phát huy được hiệu quả của chúng.

Ai chia gánh nặng oằn vai nông dân?

,

Người nông dân muốn bỏ ruộng mà đi, người nuôi cá thấy con cá thành gánh nợ và người trồng rau thấy "sa lầy" trên những luống rau của mình... là thực tế đau lòng đang diễn ra. Ai sẽ chìa vai chia sẻ những gánh nặng oằn trên vai những người nông dân ấy?


"Đứng trước mâm cỗ mà không được ăn"

Những đầm cá tra quá lứa, dù đã kí hợp đồng thu mua vẫn không ai đến bắt. Người nông dân năm lần, bảy lượt tìm DN hỏi và chỉ nhận được câu trả lời: ĐỢI. Tự nguyện hoặc bị cưỡng ép, họ buộc phải viết đơn xin giảm giá bán, điều chỉnh hợp đồng chỉ mong DN sớm đến bắt cá. Một chữ ký đồng nghĩa với mất đi gần trăm triệu đồng nhưng họ vẫn phải ngậm ngùi đặt bút...

"Con cá tra thành của nợ" mà "hầu hết nông dân đều muốn tìm cách rũ ra nhanh nhất", Thời báo Kinh tế Sài Gòn nhận định.

Cùng lúc đó, người trồng lúa cũng điêu đứng, ngay cả khi được mùa. Với quyết định thu thuế xuất khẩu gạo mới được đưa ra, các DN lập tức ngưng thu mua chờ hướng dẫn của Bộ Tài chính. Giá lúa đang giảm dần mà cũng không ai chịu thu mua cho nông dân. Chưa biết sự tình sẽ đi đến đâu, nhưng giám đốc một DN xuất khẩu gạo đã nhận định: "trước mắt, nông dân sẽ phải gánh khoản thuế này".

Tình trạng người trồng rau, trồng lúa, nuôi cá... không khác nhau bao nhiêu, "giống đứa trẻ đứng trước mâm cỗ mà không được ăn". Mất mùa đã khổ, được mùa cũng không sướng hơn là bao. Con đường thoát khỏi cảnh chịu thiệt ấy vẫn tắc, trong khi đời sống của họ ngày càng khó khăn hơn.

Cách đây 3 tháng, người nông dân ở Đồng Tháp, ông Lê Văn Lam đã mạnh bạo gửi thư tới Thủ tướng, "kêu khổ" giúp người nông dân. Trong thư ông viết, "lúa đem về nhà chưa ấm chỗ đã bị ngân hàng tới đòi, các chủ cửa hàng vật tư đến nhắc nhở số tiền nợ vụ vừa rồi". Ông chua chát "nông dân mấy chục năm làm lúa cũng chỉ đủ ăn là mừng..."

Trong bối cảnh lạm phát tăng cao, theo hình thẳng đứng, dù gần đây gia tốc tăng có giảm lại, thì đủ ăn cũng trở thành giấc mơ của các hộ nông dân.

"Lạm phát cuối năm 2008 dự báo khoảng 30%. Nói cách khác, thu nhập của dân cư tự nhiên mất 30%, chưa nói tới thu nhập mất do mất việc làm hoặc giảm lương. Số hộ cận nghèo bị giảm thu nhập nói trên sẽ bổ sung vào số hộ nghèo, làm cho danh sách đã dày lại càng dày thêm", Thời báo Kinh tế Sài Gòn dẫn lời một chuyên gia kinh tế.

Ts. Nguyễn Hải Hữu, Cục trưởng Cục Bảo trợ xã hội, Bộ LĐ-TB-XH cho rằng, ngay cả khi thu nhập của người dân tăng lên, nếu trừ đi mức tăng giá của lạm phát, chất lượng sống của người dân về cơ bản không được nâng lên. Ngay cả khi lạm phát giữ được mức như hiện nay, thì đến cuối năm, tỷ lệ nghèo đói của Việt Nam có thể tăng tới 6-7% so với năm ngoái.

Tuy nhiên, con số này mới chỉ là đối chiếu với chuẩn nghèo của Việt Nam. Nếu so với tiêu chí 2 USD/người/ngày của chuẩn nghèo thế giới, con số người nghèo của Việt Nam sẽ lớn hơn nhiều, lên tới hàng triệu người, mà đa số họ là nông dân. Ts Nguyễn Quang A cho rằng, bản thân con số hàng triệu người này gắn với vấn đề chính trị - xã hội phức tạp, đòi hỏi Nhà nước cần sớm có biện pháp giải quyết.

Những tấm khiên che chắn

"Yếu tố quyết định để giải quyết câu chuyện này chính là xã hội quan tâm đến đâu cho nông dân, cho người nghèo. Nếu ta may cho họ cái áo hoặc ít ra chuẩn bị vải, cúc, kim chỉ thì họ sẽ chống được rét". Trong quá trình phát triển, chiếc áo bảo hộ của người nông dân đã bị tả tơi.

"Đừng để quá lạnh mới thấy họ thiếu áo", lời nhắn gửi của Gs. - Viện sĩ Đào Thế Tuấn, Chủ tịch Hội phát triển nông thôn, nguyên Viện trưởng Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp hồi đầu năm 2008, khi thời tiết rét đậm đến thời điểm này vẫn còn nguyên giá trị thời sự.

Những chính sách hỗ trợ cần được đưa ra và triển khai thực tế, gấp rút như cứu hỏa. "Không thể chỉ trông chờ ở Nhà nước. Đó là trách nhiệm của từng địa phương, thôn bản, gắn với trách nhiệm cá nhân người đứng đầu. Một thôn, một bản chưa làm được, cũng cần phải xử lý kịp thời", Ts. Lê Đăng Doanh từng nói. "Chính sách đã có, vấn đề còn lại là thực hiện. Nhà nước sẽ đóng vai trò giám sát, đôn đốc, kiểm tra".

Câu chuyện tại xã nghèo nhất của tỉnh Bắc Giang, nơi 1300 hộ gia đình đã phải 6 tháng sống trong cảnh tối tăm bởi không một giọt dầu... dù nhà nước đã có chính sách hỗ trợ mỗi gia đình 5 lít dầu mỗi tháng là bài học thấm thía về việc chính sách đi vào đời sống. Một cuộc điện thoại chỉ đạo của tân Chủ tịch, chỉ 2 giờ sau, 1300 hộ dân có dầu thắp, vậy mà suốt 6 tháng người dân phải đợi chờ trong mỏi mòn mà không biết kêu ai.

Chính sách hỗ trợ diezel cho ngư dân dù có từ lâu nhưng ngay cả đợt hỗ trợ ban đầu, người dân cũng chưa được thụ hưởng, bởi sự phức tạp của quản lý hành chính...

Trong khi đó, theo ghi nhận của Viện Quản lý kinh tế trung ương qua khảo sát ở các địa phương, ngay trong năm 2007, Việt Nam đã có một số vùng thiếu đói.

"Rất cần những tấm khiên che chắn cho người nghèo, nhất là người dân nông thôn, vùng sâu vùng xa, giúp họ giảm sốc do lạm phát", nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng nói.

Một hệ thống an sinh căn cơ, hiện đại cần được thiết lập, như một ngôi nhà vững chãi được thiết kế sẵn hệ thống báo bão và chống bão thay thế hệ thống an sinh truyền thống lụp xụp giống ngôi nhà tranh lợp tạm bằng những vật liệu sẵn có, loay hoay chống đỡ từng góc nhà tùy theo hướng tấn công của bão như hiện nay.

"Một hệ thống an sinh vững vàng thì không những cuộc sống nông dân không bị xáo động nhiều mà Chính phủ cũng sẽ dễ dàng vượt qua khủng hoảng". (Thời báo Kinh tế Sài Gòn).

Quan hệ đối tác DN - nông dân?

Để làm được điều đó cần không ít thời gian và những tính toán cẩn trọng. Trong khi đợi dựng khiên che chắn, mặc áo bảo hộ cho nông dân, trước mắt, rất cần những chính sách để họ được thụ hưởng chính thành quả lao động vất vả của mình, thay vì cảnh "đứng trước mâm cỗ mà không được ăn" như hiện nay.

Đơn cử, trong câu chuyện về con cá tra, khi hợp đồng mua bán kinh tế đã được kí kết, tại sao người ta có thể thay đổi dễ dàng đến thế mà không chịu sự ràng buộc pháp lý? Tại sao quan hệ giữa người mua - DN và kẻ bán - người nông dân lại nóng lạnh thất thường theo sự trồi sụt mang tính chu kì của thị trường?

Ở Việt Nam, trong cuộc doanh thương, người nông dân vẫn chưa được xem là một đối tác bình đẳng, để đàm phán và giao thương. Quan hệ giữa họ với DN dường như vẫn nghiêng về hình thức ban ơn và nhận ơn, cho và nhận...

Nếu như "nông dân Việt Nam là những người tự do nhất thế giới, muốn trồng cây gì, nuôi con gì thì làm mà không biết bán cho ai, bán bao nhiêu. Tới lúc thu hoạch là lo gấp rút bán cho thương lái...", theo nhận định của Giáo sư Võ Tòng Xuân, thì các DN Việt Nam hiện nay đang làm vai trò của thương lái, nhiều hơn là người biết làm ăn thực thụ, lâu dài, có chiến lược rõ ràng. Các DN đều không có vùng nguyên liệu cho mình.

Nhìn sang các nước, những nền nông nghiệp thành công là khi quan hệ giữa DN và nông dân thực sự là đối tác. Những người nông dân với vùng đất của họ trở thành vùng nguyên liệu đảm bảo cho DN phát triển, giảm thiểu những tác động trồi sụt của thị trường.

Cách làm tự phát, thiếu gắn kết, thiếu định hướng, hướng dẫn hiện nay đẩy người nông dân vào thế bị ép và phải chấp nhận thua thiệt mọi bề. Theo ông Xuân, chừng nào tình trạng mua đứt, bán đoạn còn chưa chấm dứt, thì người nông dân vẫn ở bi kịch và nền nông nghiệp Việt Nam không thể khá lên.

Để nông dân và DN cùng hưởng lợi, theo ông Xuân, cần thiết lập mối gắn bó giữa DN và nông dân với tư cách người sản xuất và vùng nguyên liệu. Người nông dân cũng không làm ăn cá thể nữa, tập hợp với nhau thành các HTX kiểu mới, gắn kết có sức mạnh hơn trong định giá.

* Phương Loan
Nguon: http://www.tuanvietnam.net//vn/sukiennonghomnay/4493/index.aspx

Tiền đồng đang ở đâu?

,

Bài viết của GS.TS Trần Ngọc Thơ, Đại học Kinh tế Tp.HCM.

Để trả lời câu hỏi này, một số tác giả đã tiến hành so sánh tốc độ tăng GDP và cung tiền. Theo đó tốc độ tăng GDP trong giai đoạn 2005-2007 là 27,6% nhưng cung tiền lại tăng tới 135%.

Hai dữ kiện này sau đó đã được liên kết lại để đưa đến nhận định rằng với lượng cung tiền này thì lạm phát đáng lý phải cao hơn nhiều chứ không phải như trong thời gian qua (?!). Sở dĩ lạm phát chưa bùng phát lên cao là do phần lớn lượng tiền cung ứng trong ba năm qua đã nằm ở các hedge fund (quỹ đầu cơ) và một số nhà đầu cơ lớn nhỏ khác. Họ chỉ chờ thời cơ thuận lợi để thao túng (lũng đoạn tiền tệ hoặc tiến hành các hoạt động thâu tóm).

Nếu ví tiền đồng như “nước”, phần lớn nước hiện nay nằm ở các con sông (ngân hàng thương mại). Có điều lượng nước từ các con sông cũng không còn nhiều do đã được hồ chứa là Ngân hàng Nhà nước hút về phần lớn (bằng việc siết van khóa chặt tiền tệ). Nước không nhiều nên các con sông đã hạn chế đến mức tối đa cho các cánh đồng (doanh nghiệp) vay mượn.

Cánh đồng nào may mắn vay được nước từ sông cũng không chủ yếu dùng để canh tác mà để bù đắp thanh khoản. Sông nào vay được nước từ hồ cũng rất hạn chế cho các cánh đồng vay lại vì bị hồ chứa đặt ra quá nhiều điều kiện (như tốc độ tăng trưởng tín dụng không được vượt quá 30%).

Phần nước mà hồ cung ứng trước đây cho các cánh đồng “chứng khoán và bất động sản” đã bốc hơi phần lớn, số còn lại cũng bị đóng băng vì thị trường đang rơi vào cảnh chợ chiều. Sau khi tính hết các yếu tố này, lượng nước chắc rất ít ỏi còn lại nằm ở các cây giữ nước là người có tiền nhàn rỗi, các doanh nghiệp và một số quỹ đầu tư.

Đây mới là cách phân tích khả dĩ để trả lời cho câu hỏi “tiền đồng đang ở đâu”, thay vì chỉ suy đoán. Trước hết, ta thấy rằng tiền không phải đến từ những cỗ máy in mà từ nguồn vốn vay hoặc huy động từ cổ đông. Tiền trả lãi vay và cổ tức lấy từ đâu khi mà lượng tiền đồng này nằm yên không sinh lợi trong thời gian quá dài chỉ để chờ thời cơ thao túng?

Tuy nhiên tiền đồng mà các quỹ có được là do trước đó họ phải bán đi Đô la để đầu tư vào chứng khoán hoặc bất động sản, nhưng với việc thị trường chứng khoán và bất động sản giảm giá khoảng 60% trong gần một năm qua, kết hợp với tỷ giá ngày càng có xu hướng tăng lên (nghĩa là cũng số lượng tiền đồng như cũ nhưng chuyển sang Đô la ngày càng ít đi theo thời gian), liệu các quỹ có đủ kiên nhẫn chấp nhận lỗ thêm nữa và chờ đến bao giờ để tiến hành các hoạt động thao túng?

Thống kê từ một số quỹ đầu tư cho thấy lượng tiền mặt hiện cũng chỉ còn vài phần trăm so với tài sản ròng, trừ các quỹ mới huy động (xem bảng dưới). Các quỹ khác không nằm trong thống kê này chắc hẳn cũng đang trong tình trạng tương tự. Và ngay cả trong trường hợp toàn bộ lượng tiền đồng này được chuyển đổi sang Đô la, các quỹ cũng gặp phải những khó khăn từ các rào cản ngoại hối.

Việt Nam chưa phải là quốc gia tự do hóa tài khoản vốn hoàn toàn và với chính sách quản lý ngoại hối vẫn còn khá chặt chẽ như hiện nay, khó nhà đầu tư nào có thể bán ngay một lúc toàn bộ lượng tiền đồng lấy Đô la để chuyển ra nước ngoài. Còn nếu sử dụng các công cụ phái sinh để chuyển tiền đồng thành Đô la thì càng không thể.

Các hợp đồng phái sinh ở các ngân hàng chủ yếu là hợp đồng kỳ hạn, và cũng chỉ được các ngân hàng cung ứng cho các doanh nghiệp trong giao dịch xuất nhập khẩu. Còn với công cụ phái sinh quyền chọn (option) Đô la Mỹ/Đồng Việt Nam thì do đang trong quá trình thí điểm nên thiếu khung pháp lý để các quỹ chuyển đổi hàng loạt sang đô la với số lượng lớn.

Như vậy nếu có thể chuyển từ tiền đồng sang Đô la và sau đó chuyển ra nước ngoài, các quỹ chỉ có thể tiến hành nhỏ giọt, thị trường ngoại hối khó có thể có đột biến đáng kể, thậm chí nếu khả năng này xảy ra. Tuy nhiên với những thông tin tích cực gần đây và việc các nhà đầu tư nước ngoài đang có kế hoạch đổ vốn vào Việt Nam, xem ra việc tính toán thế trận giờ đây đã không còn hoàn toàn phụ thuộc vào chỉ mỗi một phía các quỹ đầu cơ.

Tóm lại, nếu chỉ nhìn vào lượng nước (tiền) mà hồ chứa là Ngân hàng Nhà nước cung ứng trong nhiều năm qua để cho rằng chúng hiện đang nằm ở các quỹ đầu cơ lớn là chỉ chụp ảnh có mỗi lượng nước tích tụ tại các cây giữ nước ngay tại một thời điểm nào đó (khi thị trường chứng khoán và bất động sản còn đang nóng).

Cách chụp ảnh ở trạng thái tĩnh tại một thời điểm hoàn toàn bỏ qua việc hồ chứa nước đã thu hồi nước từ các con sông (ngân hàng tăng lãi suất, tăng dự trữ bắt buộc, mua tín phiếu bắt buộc và chuyển toàn bộ khoảng 50.000 tỉ đồng tiền gửi của hệ thống kho bạc đang gửi về Ngân hàng Nhà nước).

Để trả lời cho câu hỏi nước (tiền) đang ở đâu, cần xem lại từ đầu đến cuối cuốn phim “bơm hút nước” từ toàn bộ hệ thống của hồ chứa nước, các con sông, các cánh đồng và các cây giữ nước, thay vì chỉ xem duy nhất một tấm ảnh của chỉ có mỗi cây giữ nước. Sau đó còn phải nhận diện các điều kiện và cơ chế mà lượng nước từ các cây có thể gom lại được để tạo nên một trận lụt.

Ta còn phải tiến hành chọn mẫu tiêu biểu một số cây giữ nước để ước đoán lượng nước từ các cây khác còn lại nhiều hay ít. Điều quan trọng mà nhà làm chính sách cần quan tâm chính là các cây giữ nước này đang tích trữ bao nhiêu lượng ngoại tệ Đô la và vàng trong thời gian qua để chờ thời?

Mọi suy diễn chủ quan khác đều tạo ra tâm lý hoang mang không đáng có về một trận lụt ảo.



http://vneconomy.vn/?home=detail&page=category&cat_name=01&id=05b51607ee558e
Viết tiếp chuyện tiền đồng đang ở đâu?
Bài viết của chuyên gia kinh tế Huỳnh Thế Du, giảng viên Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright Việt Nam.

Thực ra, người có đủ khả năng và thẩm quyền để có thể đưa ra câu trả lời một cách tin cậy nhất nhằm trấn an công chúng chính là Ngân hàng Nhà nước.



Việc thông tin kịp thời rõ ràng và chính xác là việc làm hết sức cần thiết và cấp bách trong giai đoạn lòng tin của công chúng dễ bị tác động bởi những thông tin thổi phồng thiếu cơ sở.

Hiện nay có một số ý kiến cho rằng các quỹ đầu cơ đang nắm giữ một lượng lớn tiền đồng nhằm thực hiện những mưu đồ riêng, gây tổn hại đến nền kinh tế Việt Nam. Điều này đã gây tâm lý hoang mang cho không ít người và tác động không tốt đến sự ổn định vĩ mô.

Tuy nhiên, trên thực tế, tiền đồng chẳng mất đi đâu cả và cảm giác “thiếu tiền” đơn giản chỉ là do cung không đáp ứng đủ cầu theo kỳ vọng được hình thành ở thời điểm mở rộng tiền tệ trước đây.

Quy trình tạo tiền

Ở mỗi quốc gia, ngân hàng trung ương (Ngân hàng Nhà nước, ở Việt Nam) là cơ quan duy nhất có thẩm quyền in và phát hành tiền. Khi muốn đưa tiền ra nền kinh tế thì Ngân hàng Nhà nước sẽ “chuyển” qua kênh các ngân hàng thương mại, hay kênh kho bạc (chính phủ).

Giả sử Ngân hàng Nhà nước cho Chính phủ vay 100 đồng để mua hàng hóa dịch vụ. Khi những thành viên trong nền kinh tế nhận được số tiền này sẽ giữ lại 70 đồng để đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu và cất giữ, 30 đồng còn lại đem gửi ngân hàng.

Khi đó, ngân hàng sẽ giữ lại 3 đồng (10%) làm dự trữ bắt buộc và đảm bảo khả năng thanh toán, 27 đồng đem cho những người có nhu cầu vay để mua hàng hóa và dịch vụ. Người bán hàng sẽ đem gửi toàn bộ số tiền vào ngân hàng và các ngân hàng lại trích 10% làm dự trữ, còn lại tiếp tục cho vay.

Cứ như vậy, các vòng quay tiền tệ sẽ diễn ra mãi mãi và trong két của các ngân hàng (kể cả Ngân hàng Nhà nước) vẫn luôn có 30 đồng, nhưng 300 đồng tiền gửi đã được tạo ra (30/10%) (ký hiệu là D).

Như vậy, 100 đồng tiền cơ sở ban đầu (ký hiệu là MB) đã tạo ra 370 đồng. Đây chính là cung tiền (ký hiệu là M) với 70 đồng tiền mặt đang lưu thông (ký hiệu là C), 30 đồng dự trữ ở các ngân hàng (ký hiệu là R) và 270 đồng cho vay (ký hiệu là CR) (xem bảng).



Tỷ số giữa M/MB được gọi là số nhân tiền tệ, ký hiệu là m và có thể tính toán bằng công thức m = (1+c)/(r+c) với r = R/D và c = C/D.

Cung tiền (M=m*MB) tỷ lệ thuận với cơ sở tiền (MB), tỷ lệ nghịch với tỷ lệ tiền trong lưu thông (c) và tiền dự trữ (r) tại các ngân hàng so với số dư tiền gửi. Những yếu tố này lại phụ thuộc vào công nghệ ngân hàng cũng như thói quen thanh toán do chúng làm cho dòng tiền được luân chuyển nhanh hay chậm hơn (1).

Diễn biến tiền tệ ở Việt Nam (2)

Bình quân trong giai đoạn 2000-2007, tốc độ tăng cơ sở tiền, cung tiền và tín dụng lần lượt là 23,7%, 29,3% và 31,5%, một mức khá cao so với tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhất là trong một vài năm gần đây. Đến cuối năm 2007, tổng tín dụng cho nền kinh tế đã xấp xỉ 1 lần và cung tiền tương đương 1,2 lần GDP. Đây là một mức khá cao so với nền kinh tế Việt Nam và dần tiệm cận với một số nước trong khu vực.

Số nhân tiền tệ đã tăng từ khoảng 3 lên hơn 4. Một sự tiến triển tích cực có được phần lớn là do (1) hệ thống ngân hàng đã được cải thiện nên người ta sử dụng nhiều hơn; (2) sự ổn định kinh tế vĩ mô trong thời gian dài đã làm gia tăng lòng tin của công chúng nên việc tích trữ tiền mặt ít được coi trọng hơn, dẫn đến tỷ trọng tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán giảm xuống; và (3) tỷ lệ tiền dự trữ trong hệ thống ngân hàng so với lượng tiền gửi cũng giảm, có thể là do các ngân hàng đã dần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nhất là kể từ khi áp dụng mô hình quản trị nguồn vốn tập trung (3).

Những biến động bất lợi về lạm phát và tiền tệ bắt đầu bùng phát từ năm 2007 do sự tích tụ từ thời gian trước đó cộng với tiền tệ được mở rộng quá mức. Đến năm 2008 này, khi những bất ổn vĩ mô xảy ra, chính sách tiền tệ được thắt chặt thì dường như ai cũng có cảm giác thiếu tiền. Nếu những yếu tố bất ổn không được xử lý tốt có thể sẽ làm cho số nhân tiền tệ giảm đi và cung tiền cũng sẽ giảm với một cơ sở tiền không đổi.

Tại sao nhiều người cảm thấy thiếu tiền?

Một số người cho rằng tiền đồng hiện đang do các quỹ đầu cơ nắm giữ và đến một lúc nào đó họ sẽ tấn công vào đồng tiền trong nước để trục lợi và gây tổn hại cho nền kinh tế Việt Nam như từng đã xảy ra ở một số nước. Lập luận này là thiếu cơ sở vì đồng Việt Nam không phải là đồng tiền có thể chuyển đổi và nếu các quỹ đầu cơ nắm giữ nhiều thì họ vẫn phải gửi trong các ngân hàng Việt Nam hoặc chuyển ra bên ngoài.

Nếu tình huống thứ nhất xảy ra thì tiền vẫn ở trong nền kinh tế, ngược lại, thì ở đâu đó ngoài lãnh thổ Việt Nam phải tồn tại một thị trường mua bán sôi động vì không ai đem hàng ngàn tỉ đồng cất trong két cả. Thực tế điều này khó xảy ra cho dù tiền đồng vẫn được trao đổi ở một vài nơi nhưng khối lượng không nhiều đến mức làm cho nền kinh tế hết tiền.

Thực ra, nguyên nhân làm cho ai cũng cảm thấy thiếu tiền là do cung tiền được siết chặt trong khi cầu tiền gia tăng do chịu tác động bởi những yếu tố sau:

Thứ nhất, với tốc độ tăng trưởng tín dụng và tăng cung tiền trong một năm trước đây ở mức rất cao, nhiều kế hoạch hoành tráng đã được xây dựng với kỳ vọng việc huy động vốn sẽ rất dễ dàng. Tuy nhiên, điều ngược lại đang xảy ra nên nhiều người đã không có tiền để triển khai kế hoạch của mình.

Thực ra, việc thiếu tiền chỉ là do không thể thực hiện các khoản đầu tư mới, hoặc chỉ một số ít người không thể quay vòng vốn vay, hoặc một vài ngành (cá ba sa chẳng hạn) đến vụ thu hoạch cần một lượng vốn lớn nhưng không được đáp ứng đầy đủ, trong khi hầu hết số dư nợ hiện tại vẫn được quay vòng và duy trì ổn định.

Hay nói cách khác, tiền vẫn nằm ở những chỗ chúng đang nằm chứ không biến đi đâu cả. Thậm chí, trong nền kinh tế còn có nhiều tiền hơn vì trong sáu tháng đầu năm, lượng tín dụng do hệ thống ngân hàng cung ứng đã lên trên 200.000 tỉ đồng, tương đương 50% số vốn cho vay năm 2007.

Thứ hai, khi mức giá tăng vài ba chục phần trăm thì nhu cầu nắm giữ tiền mặt cũng gia tăng tương ứng để đảm bảo cho việc thanh toán diễn ra một cách bình thường. Hơn thế, những biến động không tốt trong thời gian qua đã tác động đến lòng tin làm cho nhiều người có xu hướng gia tăng dự trữ tiền mặt. Chính những yếu tố này đã làm cho lượng tiền mặt được giữ lại trong nền kinh tế nhiều hơn thay vì nằm trong hệ thống ngân hàng.

Dựa trên những số liệu quá khứ cho thấy, nếu giả định các yếu tố khác không đổi, để đảm bảo lượng tiền trong nền kinh tế tương ứng với dư nợ tín dụng (1,250 triệu tỉ đồng vào cuối tháng 4-2008 và 1,380 triệu tỉ đồng theo kế hoạch tăng trưởng tín dụng 30% vào cuối năm nay) thì Ngân hàng Nhà nước phải cung ứng thêm khoảng 60.000 tỉ đồng trong sáu tháng đầu năm và gần 100.000 tỉ đồng trong năm 2008 (xem đồ thị 2).

Hơn thế, nếu lượng tiền mặt công chúng nắm giữ gia tăng thì lượng tiền cung ứng phải nhiều hơn nữa vì lúc này số nhân tiền tệ sẽ giảm, đó là chưa kể tác động của việc tăng dự trữ bắt buộc và 20.300 tỉ đồng tín phiếu bắt buộc.

Trên thực tế, với chính sách thắt chặt tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước chỉ đưa vào nền kinh tế một lượng tiền hạn chế, thậm chí có thể còn rút bớt tiền về. Đây chính là yếu tố làm giảm cơ sở tiền hay chí ít nó cũng không tăng như kỳ vọng của nhiều người. (Cũng có thể, một lượng tiền lớn hơn đã được tung ra, nhưng nếu lượng tiền mặt được nắm giữ nhiều hơn như đã phân tích thì cung vẫn không gặp cầu).

Với những lý do nêu trên, cảm giác thiếu tiền trong nền kinh tế là điều hiển nhiên. Đây chính là dấu hiệu của việc thực thi chính sách tiền tệ đúng hướng. Nguyên nhân của lạm phát là do nền kinh tế có quá nhiều tiền nên cần phải giảm bớt. Câu hỏi đặt ra là tại sao tiền đã giảm mà giá vẫn tăng?

Thực ra, nguyên nhân của áp lực tăng giá vẫn còn là do yếu tố kỳ vọng. Giá đang tăng thì mọi người nghĩ nó sẽ tăng tiếp và kết quả tăng thật. Tuy nhiên, sau khi tiền được rút bớt hay không tăng thêm thì nền kinh tế chỉ còn 100 đồng tiền ứng với 100 đơn vị hàng hóa nên mức giá hợp lý chỉ là 1 đồng cho một đơn vị hàng hóa, nhưng do yếu tố kỳ vọng mức giá được đẩy lên 1,2 đồng.

Điều này đã gây ra tình trạng thiếu tiền và thiếu thanh khoản, nhưng theo thời gian, nếu không có tiền tăng thêm và lượng hàng hóa không giảm đi, thì mức giá sẽ giảm xuống. Đây chính là tác động của việc thắt chặt tiền tệ đối với lạm phát.

Điều cần lưu ý là nếu những đồng tiền còn lại được sử dụng không hiệu quả sẽ làm cho tình trạng lạm phát trầm trọng hơn. Có nghĩa khi nền kinh tế có ít hơn 100 đơn vị hàng hóa và với số tiền hiện tại thì lạm phát vẫn có thể xảy ra. Đây chính là lý do tại sao thắt chặt tiền tệ phải đi kèm với thắt chặt chi tiêu ngân sách. Hơn thế, thắt chặt tiền tệ sẽ gây khó khăn thanh khoản, nên cần phải có những giải pháp phù hợp nhằm đảm bảo ổn định cho hệ thống ngân hàng, nhất là trong bối cảnh có nhiều yếu tố bất ổn như hiện nay.

Tóm lại, cảm giác thiếu tiền trong thời kỳ chính sách tiền tệ được thắt chặt là điều hiển nhiên. Chính điều này làm cho người ta phải chi tiêu tằn tiện và tính toán thiệt hơn kỹ càng với mỗi đồng tiền được bỏ ra. Kết quả là hàng hóa sẽ được tạo ra nhiều hơn và tiền ít bị phung phí hơn làm áp lực tăng giá sẽ giảm và chúng sẽ trở lại trạng thái bình thường trong điều kiện các chính sách vĩ mô đã được triển khai đúng hướng.

(1) Trên thực tế việc tính toán, đo lường cung tiền phức tạp hơn. Tiền được chia ra làm các loại M0, M1, M2, M3 và L.

(2) Các số liệu bài viết này được thu thập và tính toán dựa trên dữ liệu của Ngân hàng Nhà nước, IMF và số liệu công bố trên các báo.

(3) Thực ra, việc tính toán cung tiền nêu trên còn thiếu hai yếu tố có tác động không nhỏ đến khối lượng tiền trong nền kinh tế, đó chính là số ngoại tệ và vàng lưu thông có chức năng như tiền mặt.

(Theo TBKTSG)

Kế hoạch 10 điểm để khôi phục nền kinh tế

,

"Bảo vệ người nghèo và những đối tượng dễ bị tổn thương trong điều kiện lạm phát và kinh tế khó khăn như hiện nay phải luôn luôn là một mục tiêu hàng đầu của chính phủ." - Trích Báo cáo của Chương trình Kinh tế Fulbright phối hợp với Trung tâm Châu Á của ĐH Harvard ra ngày 19/5/2008.



Dưới đây là một danh mục những hành động chính sách có thể trở thành cơ sở cho một chương trình bình ổn kinh tế của chính phủ.

Cần phải nhấn mạnh ngay từ đầu là các cơ quan làm chính sách không thể tuỳ ý nhặt ra từ danh mục này 1 số chính sách để thực hiện và bỏ qua các chính sách còn lại.

Nếu không thực hiện toàn bộ gói giải pháp này một cách trọn vẹn thì mục tiêu bình ổn nền kinh tế có thể sẽ không đạt được, và những biến số vĩ mô trọng yếu như lạm phát, tỷ giá, thâm hụt ngân sách và thương mại, thanh khoản, nguy cơ phá sản của các ngân hàng, và cuối cùng suy thoái và/hoặc khủng hoảng có thể sẽ không được cải thiện.

Chẳng hạn như, nếu chính sách thắt chặt tiền tệ không được kết hợp một cách hiệu quả với những chính sách khác (như cắt giảm chi tiêu của khu vực nhà nước và đảm bảo thanh khoản cho hệ thống ngân hàng) thì có thể làm cho khu vực dân doanh bị bóp nghẹt khiến nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa, dẫn tới sự sụt giảm của nguồn cung hàng hoá và dịch vụ trong nước, đồng thời làm tăng mức thất nghiệp, suy giảm kim ngạch xuất khẩu, tăng nhập siêu.

Đồng thời, một nhiệm vụ hết sức quan trọng là chính phủ theo dõi một cách sát sao những chỉ báo kinh tế quan trọng như chỉ số giá tiêu dùng, thâm hụt thương mại, tình trạng nhập siêu...

Những việc cần làm ngay

1. Xiết chặt chính sách tài khoá. Cắt giảm hay tạm dừng một số dự án đầu tư công song song với kế hoạch tiết kiệm chi thường xuyên của chính phủ.

Chính sách: Xây dựng danh sách các dự án đầu tư công phải cắt giảm căn cứ vào suất sinh lợi kinh tế của chúng. Cắt giảm hay dừng những dự án có suất sinh lời thấp nhất cho đến khi tổng lượng đầu tư cắt giảm đạt mức 1,65 tỷ đô la (bằng 2% tổng chi ngân sách dự kiến năm 2008) và nhờ đó giảm thâm hụt ngân sách được 2%. Chuẩn bị cắt giảm và dừng những dự án khác khi cần thiết.

Mục tiêu: 1) Giảm dần thâm hụt ngân sách của chính phủ tới một mức cẩn trọng theo chuẩn mực quốc tế;
2) Đồng bộ hoá chính sách tài chính và tiền tệ để hạ nhiệt nền kinh tế và qua đó giảm lạm phát;
3) Giúp giảm thâm hụt thương mại vì tình trạng nhập siêu tăng đột biến vừa qua một phần là do nhu cầu nhập khẩu của các dự án đầu tư công ; đồng thời giảm mức độ phụ thuộc vào các dòng vốn nước ngoài để tài trợ thâm hụt thương mại;
4) Giảm bớt sức ép cho yêu cầu giảm chi thường xuyên trong ngân sách;
5) Phát tín hiệu rõ ràng đối với cộng đồng kinh doanh và công chúng về quyết tâm của chính phủ trong việc chống lạm phát.

2. Tăng dần lãi suất: Quyết định của Ngân hàng Nhà nước huỷ bỏ trần lãi suất huy động và nâng lãi suất cơ bản gần hơn với thực tế của thị trường là một bước đi tích cực, phù hợp với cơ chế điều hành chính sách tiền tệ trong một nền kinh tế thị trường.

Chính sách này sẽ giúp giảm tình trạng lãi suất thực âm, khuyến khích người tiết kiệm gửi tiền và giúp cải thiện tình trạng căng thẳng thanh khoản hiện nay.

Tuy nhiên, khi chính sách này có hiệu lực thì các NHTM sẽ đồng loạt tăng lãi suất để huy động thêm vốn, và điều này có thể kích hoạt một cuộc đua lãi suất mới.

Bên cạnh đó, vì lãi suất của các ngân hàng nhỏ thường rất mỏng nên chúng vẫn phải tăng cường nới tín dụng để có thể có lãi, qua đó gây thêm sức ép gia tăng lạm phát. Ngân hàng Nhà nước cần chuẩn bị để ứng phó với những tình huống này.

Chính sách: Nâng dần lãi suất cơ bản, làm cơ sở cho các NHTM nâng dần lãi suất huy động, tiến tới lãi suất thực dương. Đảm bảo lượng thanh khoản cần thiết cho thị trường liên ngân hàng. Có phương án đối phó với khả năng chạy đua tăng lãi suất của các NHTM, đặc biệt là giữa những NHTMCP nhỏ.

Mục tiêu: 1) Giảm nhẹ khó khăn thanh khoản cho các NHTM bằng cách hút tiền trở lại hệ thống ngân hàng;
2) Giảm áp lực cho chính sách tỷ giá bằng cách khuyến khích doanh nghiệp và người dân giữ tiền đồng;
3) Kiềm chế lạm phát nhờ khuyến khích tiết kiệm và hạn chế tiêu dùng.

3. Không cấp giấy phép thành lập mới NHTM nội địa trong thời hạn 12 tháng

Chính sách: SBV tuyên bố không thành lập ngân hàng nội địa trong vòng 12 tháng.

Mục tiêu: 1) Giảm tăng trưởng tín dụng để làm cơ sở cho giảm lạm phát;
2) Giúp ổn định hệ thống ngân hàng;
3) Chuẩn bị cho việc sáp nhập và mua lại các ngân hàng yếu kém;
4) Giảm gánh nặng (đang quá tải) cho hệ thống giám sát ngân hàng.

Hành động chính sách trong ngắn và trung hạn (Kỳ vọng có tác động ngay)

4. Hợp nhất ngân sách của chính phủ bao gồm tất cả các khoản ngoài ngân sách (thu, chi, vay, các trách nhiệm nợ khác) của cả chính quyền trung ương, địa phương, và doanh nghiệp nhà nước.

Xây dựng dự toán ngân sách cho 5 năm tới, tức là cần có một lộ trình và tầm nhìn dài hạn cho việc cắt giảm bội chi ngân sách. Liên tục cập nhật và công bố dự toán thu, chi, thâm hụt ngân sách của chính phủ và các nguồn tài trợ cho thâm hụt ngân sách.

5. Tăng cường hệ thống giám sát và báo cáo của hệ thống ngân hàng để chấn dứt những tin đồn thổi về tình trạng phá sản của một số ngân hàng, đồng thời để chuẩn bị cho SBV trong trường hợp phải can thiệp và cứu trợ các ngân hàng thất bại.

Xây dựng kế hoạch và cơ sở pháp lý cho hoạt động mua lại và sáp nhập giữa các ngân hàng (bao gồm cả ngân hàng nước ngoài). Yêu cầu các tập đoàn từ bỏ các hoạt động đầu tư vào ngân hàng và công ty tài chính. Hoàn thiện thủ tục phá sản để cho phép các doanh nghiệp phá sản thanh lý tài sản một cách nhanh nhất.

6. Chấm dứt việc nhà nước bảo lãnh cho các khoản vay (trong nước và quốc tế) của DNNN. Các DNNN muốn phát hành nợ phải có sự tham gia ít nhất 10% của các ngân hàng nước ngoài trên cơ sở thương mại, không có sự bảo lãnh của nhà nước. Những khoản vay ngoại tệ của DNNN trước đây cần được sử dụng để tăng cường dự trữ ngoại hối cho quốc gia.

7. Tăng cường vai trò của Uỷ ban Giám sát Tài chính Quốc gia để Uỷ ban này có thể đảm đương trách nhiệm giám sát hoạt động của các ngân hàng và tổ chức tài chính phi ngân hàng. Trong khi yêu cầu tăng cường năng lực của Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước tuy rất cần thiết nhưng lại không thể thực hiện trong một sớm một chiều thì việc tập hợp một nhóm nhỏ các nhà kỹ trị tài năng và có kinh nghiệm trong Uỷ ban Giám sát Tài chính Quốc gia có thể là một giải pháp thích hợp trong tình huống khẩn cấp.

C. Những hành động trong ngắn và trung hạn (cần thời gian để thực hiện và phát huy tác dụng)

8. Tái cấu trúc Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và Uỷ Ban Giám sát Tài chính Quốc gia. Mời các chuyên gia bên ngoài tham gia nhiệm vụ tái cấu trúc này, bao gồm cả những quan chức đã về hưu của một số nước trong khu vực nhưng giàu kinh nghiệm trong hoạt động cải cách Ngân hàng Trung ương và Bộ Tài chính.

9. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện cam kết WTO để tạo áp lực khuyến khích DNNN trở nên có tính cạnh tranh hơn.

10. Thực hiện kiểm toán độc lập đối với tất cả các Tập đoàn nhà nước. Hoạt động kiểm toán này phải do các công ty kiểm toán quốc tế có uy tín thực hiện. Các cơ quan chức năng của nhà nước cũng phải được trao quyền để đảm bảo sự hợp tác trọn vẹn của các tập đoàn. Kết quả kiểm toán sau đó phải được công bố rộng rãi.

* Trích Báo cáo của Chương trình Kinh tế Fulbright phối hợp với Trung tâm Châu Á của ĐH Harvard ra ngày 19/5/2008.
http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/4174/index.aspx

Việt Nam phải sống với hệ quả quyết định của mình

,

Giải pháp nâng lãi suất chỉ phát huy tác dụng trong những nền kinh tế thị trường đầy đủ. VN chưa phải là nền kinh tế ấy. Trong một số trường hợp, Chính phủ cần lắng nghe các ý kiến đa chiều, cần chỉ đạo trực tiếp, cần biết nói không với những dự án đầu tư không hiệu quả... Đó là nhận định của Giáo sư Dwight Perkins, Chủ nhiệm chương trình Việt Nam, ĐH Harvard.



Giáo sư Dwight Perkins là chuyên gia hàng đầu của Mỹ về Đông Á, là đồng tác giả của 19 cuốn sách và nhiều bài viết về lịch sử kinh tế, phát triển kinh tế, đặc biệt về Đông Á và Đông Nam Á, trong đó có nhiều phân tích sâu sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường.

Ông cũng từng tham vấn chính sách cho nhiều nước như Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, Papua New Guinea và là nhà tư vấn cho Ngân hàng Thế giới, quỹ Ford, cùng nhiều tổ chức của Mỹ.

Cơ chế lắng nghe đa chiều để có chính sách tốt

- Trong bối cảnh kinh tế VN gặp khó khăn, Chính phủ đã chủ động gặp gỡ và lắng nghe các ý kiến từ bên ngoài, trong đó có nhóm Harvard. Ông nhìn nhận ra sao?

Luôn là đúng đắn khi các chính phủ hướng ra bên ngoài và đón lấy các ý tưởng. Điều này đúng đối với chính quyền Mỹ cũng như với chính phủ VN.

Điều này tốt hơn việc bạn chỉ nghe ý kiến của người bên trong, mà đa phần những người này thường lạc trong một số quan điểm nhất định. Đôi khi quan điểm đó đúng, nhưng cũng có khi quan điểm đó là sai. Trong trường hợp thứ hai, lắng nghe bên ngoài là cách để bứt phá ra khỏi con đường đó.

Tất nhiên, những người bên trong thường biết nhiều tình hình cụ thể hơn, nhưng họ cũng có lợi ích riêng của mình. Lợi ích đó đóng đinh họ với những gì họ nói và làm.

Lắng nghe bên ngoài là cách bạn lùi lại đằng sau để nhìn về chính sách và các bước đi.

Ví dụ với nước Mỹ, Ngân hàng Trung ương Mỹ, tức FED, có quyền đưa ra các chính sách tiền tệ và tăng trưởng tín dụng, nhưng những người đứng đầu ngân hàng không bao giờ chỉ nhìn vào các con số báo cáo. Họ thường ra ngoài, lắng nghe các kinh tế gia nói.

Về mặt cá nhân, người đứng đầu các ngân hàng Mỹ rất thông minh, nhưng cũng có thể có điểm họ chưa nghĩ tới. Đó là lý do họ đi ra ngoài và tìm kiếm các ý tưởng, góc nhìn từ người khác để có bức tranh rõ ràng.

Những ý kiến bên ngoài không phải lúc nào cũng đúng, thậm chí là sai; và quan trọng hơn, những nhóm khác nhau thường có quan điểm trái ngược nhau. Nhưng càng nhiều ý kiến bên ngoài, tình hình càng có cơ tốt đẹp hơn bởi bạn được tiếp cận gần hơn với bức tranh thực.

Ngay cả khi là chuyên gia về các thông số, bạn cũng cần có những chuyên gia bên ngoài phân tích các thông số ấy và kiểm chứng nó. Ở Mỹ, chính phủ thường đưa ra các dự đoán về tương lai kinh tế. Nhưng chính phủ lại được lãnh đạo bởi các chính trị gia, những người muốn được bỏ phiếu bầu. Do đó, điều đương nhiên là họ muốn có những con số đẹp, những thông số tốt về bức tranh kinh tế - xã hội dù có thể thực tế dự báo không tốt như vậy.

Vì thế, cũng là dễ hiểu khi người ta không chú ý vào các dự báo của chính phủ mà quan tâm hơn tới các dự báo của bên ngoài.

Với VN, các bạn cần có một cơ chế lắng nghe đa chiều như vậy để đảm bảo có được những chính sách kinh tế tốt.

VN phải sống với hệ quả quyết định của mình

- Vừa qua, Harvard cũng đã gửi tới Chính phủ VN hai bản báo cáo về kinh tế VN. Cho tới thời điểm này, phản hồi từ phía Chính phủ như thế nào?

Công việc của Chính phủ VN không phải là phản hồi lại với chúng tôi, rằng họ đồng ý hay không. Chúng tôi quan sát tình hình và đưa ra phân tích, nhận định, quan điểm của mình và gửi tới Chính phủ.

Chúng tôi là một trong những nhóm đưa ra các quan điểm, góc nhìn; ý kiến đó hoặc đúng hoặc sai, và trách nhiệm thuộc về Chính phủ, không phải chúng tôi.

Công việc của các bạn là lắng nghe các ý kiến, và đưa ra quyết định. VN phải sống với hệ quả của quyết định đó, chúng tôi thì không.

Giải pháp thị trường cho nền kinh tế thị trường cạnh tranh

- Là người ở bên ngoài nhưng hiểu VN khá rõ, ông có thể nói cụ thể hơn các vấn đề mà nền kinh tế VN đang gặp phải?

Tình hình kinh tế VN khác xa so với thời điểm năm 1989-1991 khi tôi bắt đầu nghiên cứu về VN. Thời điểm đó, VN bắt đầu thay đổi hoàn toàn cách thức hoạt động của cả nền kinh tế, từ kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường. Đến thời điểm này, vấn đề của VN cần tập trung là làm thế nào quản lý được nền kinh tế thị trường hiệu quả.

Bản chất của khủng hoảng những năm đầu thập niên 1990 hoàn toàn khác với thời điểm này, do khủng hoảng thời đó chịu tác động từ sự sụp đổ của hệ thống XHCN ở Đông Âu và lạm phát cao hơn rất nhiều. Tuy nhiên, hiện nay, VN cũng gặp một số vấn đề nghiêm trọng đã từng xuất hiện ở thời điểm đó: lạm phát cao và thâm hụt thương mại lớn.

Các bạn phải đưa thâm hụt thương mại và lạm phát xuống. Hai mục tiêu đó riêng rẽ và cần hai biện pháp khác nhau để giải quyết.

Vào thời điểm này, VN là một nền kinh tế thị trường cạnh tranh, do đó các giải pháp đưa ra phải là các giải pháp thị trường.

- Giải pháp nào cho VN, thưa ông?

Với thâm hụt thương mại, các bạn cần cắt giảm chi tiêu. Theo tôi biết, VN quyết tâm cắt giảm chi tiêu công, đặc biệt là với các tập đoàn lớn.

Các bạn cũng có thể hạ giá tiền đồng để tăng xuất khẩu, giảm nhập khẩu. Một vấn đề với giải pháp này là nó có xu hướng làm tăng lạm phát.

Bạn không thể chỉ giảm giá tiền đồng mà cách thức tốt hơn là cắt giảm chi tiêu, với số lượng lớn. Giải pháp cắt chi tiêu cũng giúp giảm lạm phát.

Vấn đề đặt ra là bạn sẽ cắt giảm chi tiêu như thế nào? Trong một nền kinh tế thị trường đầy đủ, bạn chỉ cần đẩy lãi suất lên. Tôi không nghĩ VN đã là một nền kinh tế thị trường đầy đủ, cũng giống như Trung Quốc vậy. Trung Quốc đã phải hạn chế việc các ngân hàng cho vay tiền bằng cách yêu cầu tăng dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng, và hệ quả là các ngân hàng không thể cho vay thêm.

Tôi không biết đầy đủ chi tiết về tình hình các ngân hàng VN vào thời điểm này để nói câu trả lời chính xác cho vấn đề của VN là gì. Nhưng những quyết định mạnh mẽ về cắt giảm chi tiêu cần phải được đưa ra và thực hiện sớm.

Mối hiểm nguy trước mặt

- Trong giải pháp 8 điểm của Chính phủ đưa ra, việc cắt giảm chi tiêu công cũng được xem là một vấn đề ưu tiên, tuy nhiên, đến thời điểm này cũng chưa được thực hiện đầy đủ...

Về nguyên tắc, con số cắt giảm phải rất lớn, vần đề là làm thế nào để cắt mà không làm tổn hại tới những khu vực, vấn đề cần được triển khai? Cần nhiều đầu tư tốt. Tuy nhiên, hiện nay có nhiều DN đầu tư không hiệu quả. Làm thế nào các bạn có thể kiểm soát được tình hình này?

Đối với các tập đoàn lớn của nhà nước, Chính phủ có sự chỉ đạo trực tiếp. Vấn đề chỉ còn là Chính phủ có trực tiếp yêu cầu hay không.

Với tôi thì rất dễ trả lời, vì tôi không có những ràng buộc và trách nhiệm, không phải chính trị gia hay người dân VN. Chính các bạn phải chỉ ra điều gì cần làm để đạt kết quả tốt nhất.

- VN có thể học hỏi kinh nghiệm gì từ các nước?

Có rất nhiều bài học tồi tệ mà VN có thể nhìn vào để thấy điều gì sẽ xảy ra nếu không làm gì cả. Nếu các bạn không làm gì khác, sẽ tiếp tục có những dự án đầu tư tồi. Đó sẽ là một vấn đề nghiêm trọng ngay cả khi thâm hụt thương mại không lớn. Hãy nhìn vào những gì Indonesia, Hàn Quốc đã làm.

Hàn Quốc là một ví dụ điển hình. Trong những năm 1996 - 1997, nước này có nhiều DN tư nhân, đồng thời có những tập đoàn rất lớn. Các tập đoàn có mối liên hệ rất gần gũi, chặt chẽ với chính phủ, thường xuyên đề nghị chính phủ bảo vệ. Họ đầu tư vào mọi lĩnh vực ngay cả khi không biết gì về lĩnh vực đó. Việc này góp phần làm thâm hụt thương mại lớn và đầu tư xấu. Họ chi rất nhiều để trả các khoản vay nợ nước ngoài, và tất nhiên quản lý kinh tế vĩ mô yếu, dự trữ ngoại hối về gần với mức 0.

Kết quả là khi chính phủ phát hiện ra mình không còn dự trữ ngoại hối, còn các tập đoàn bị các ngân hàng của Nhật Bản, Mỹ, châu Âu từ chối không cho vay và yêu cầu trả nợ, trả những khoản vay ngắn hạn, thì các tập đoàn phải tự mình trả nợ. Theo cách thông thường, họ tìm đến ngân hàng Hàn Quốc và đề nghị cho vay nợ để trả nợ. Chính phủ và các ngân hàng Hàn Quốc đều từ chối cấp tiền. Vậy là các tập đoàn không thể trả nợ. Tất cả đều bị phá sản.

Những kịch bản như vậy có thể xảy ra nếu bạn không kiểm soát chặt tình hình.

Tôi không nói rằng VN sẽ lâm vào tình thế này nhưng tôi muốn lưu ý mối nguy hiểm của việc đảm bảo rằng tình hình được kiểm soát, để các tập đoàn kinh tế không rơi vào tình thế tương tự.

Chính phủ cần biết nói "không"

- Mô hình hay cách thức VN có thể áp dụng trong cắt giảm chi tiêu là gì?

Cách thức duy nhất VN có thể áp dụng để cắt giảm chi tiêu là kiểm soát trực tiếp với những dự án mà VN đang tiến hành, nói rằng "Các anh phải dừng dự án lại!".

Đây có vẻ không phải là cách hành xử kiểu thị trường, nhưng rất nhiều dự án lớn kém hiệu quả là của các DNNN với chi tiêu lớn. Và giải pháp thực tế duy nhất là chấm dứt nó.

Chính phủ có quyền nói không đối với các dự án kiểu này, cũng như với các DNNN, tập đoàn nếu Chính phủ thực sự muốn làm.

Nguon: http://www.tuanvietnam.net//vn/sukiennonghomnay/4217/index.aspx
December 2009
M T W T F S S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31