Skip navigation

Sign up | Lost password? | Help

Củ khoai info

Tìm kiếm, liên kết, thu thập, đọc, viết, tổng hợp lại... những vấn đề văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội.

Posts tagged with "kinh tế"

Kinh tế Việt Nam nửa cuối 2009 - Nguy cơ rình rập! (kỳ 4)

,

Kinh tế Việt Nam, những sắc màu tương phản

Vào cuối tháng 5 năm nay, tạp chí Business Week, trong bài viết tựa đề “Châu Á: Vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế” đã trích dẫn nhận định của Mark Mobius, vị chủ tịch nổi tiếng của Quỹ Đầu tư Thị trường mới nổi Templeton về triển vọng của những nền kinh tế Đông Nam Á như sau: “Dĩ nhiên có sự suy thoái nhưng những quốc gia này đã chuẩn bị tốt để vượt qua cơn bão. Họ đã hoạt động tốt hơn các thị trường toàn cầu và điều này cho chúng ta thấy họ sẽ tiếp tục làm khá tốt”.



Tín hiệu rõ rệt là sự hồi phục trong thời gian gần đây của các thị trường chứng khoán với chỉ số chứng khoán Djakarta của Indonesia tăng 70% và VN-Index của Việt Nam tăng 80% so với điểm đáy vào đầu năm 2009. Bài báo cho rằng đó là bằng chứng về sức mạnh đáng ngạc nhiên của 10 quốc gia thuộc Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), trong đó có Việt Nam.

Những điểm sáng

Những số liệu về đầu tư nước ngoài trong sáu tháng đầu năm 2009 tại Việt Nam cho thấy nền kinh tế chúng ta vẫn còn nằm trong tầm ngắm của các nhà đầu tư quốc tế, khi mà ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng toàn cầu đã làm họ phải thận trọng nhiều hơn trong các quyết định đầu tư với một nguồn vốn khả dụng thấp hơn trước khủng hoảng rất nhiều do sự sụp đổ của khá nhiều các tập đoàn tài chính lớn và các quỹ đầu tư rủi ro (hedge funds).

Tháng 5 vừa qua, General Electric đã động thổ dự án đầu tiên ở Việt Nam, tại Hải Phòng, một nhà máy trị giá 61 triệu USD sản xuất xuất khẩu máy phát điện chạy bằng turbin gió. Samsung Electronics cũng đã khởi động nhà máy sản xuất điện thoại di động trị giá 50 triệu USD tại Hà Nội vào tháng 4/2009, và Canon sẽ xây dựng tại ngoại ô Hà Nội một nhà máy sản xuất xuất khẩu máy in laser trị giá 100 triệu USD, lớn hơn bất kỳ nhà máy nào tương tự của Canon trên toàn cầu.

Trong khi đó Jabil Circuit cũng đã khởi công nhà máy trị giá 100 triệu USD tại Khu công nghiệp Công nghệ cao của TP.HCM. Cũng tại đây, nhà máy trị giá 1 tỉ USD của Intel sẽ hoàn thành và đi vào hoạt động trong năm 2010, với mục tiêu sản xuất và xuất khẩu hàng trăm triệu con chip mỗi năm. Ông Rick Howarth, Tổng giám đốc Intel Việt Nam, phát biểu: “Cuộc khủng hoảng toàn cầu có thể làm nản lòng mong muốn đầu tư của các công ty, nhưng họ bắt buộc phải xem xét các thị trường mới để phát triển”. Việt Nam có vẻ là một thị trường mới đầy tiềm năng cho các nhà đầu tư.

Trong khi ngành ngoại thương toàn cầu sụt giảm nghiêm trọng (WTO dự báo một sự sụt giảm từ 9% đến 10%), xuất nhập khẩu của Việt Nam tuy bị ảnh hưởng nhưng không quá lớn. Xuất khẩu gạo của Việt Nam trong những tháng đầu năm 2009 đã tăng đến 10%, nông phẩm và thủy hải sản của Việt Nam vẫn được chào đón trên các thị trường và cho thấy có tiềm năng cạnh tranh mạnh mẽ, tuy có lúc có nơi phải vượt qua hàng rào thuế chống bán phá giá được dựng lên một cách bất công, như trường hợp Mỹ đối với cá basa của Việt Nam.

Dầu thô và các loại khoáng sản khác vẫn duy trì được mức kim ngạch tuy giá giảm (giá dầu thô đang tăng trong những ngày gần đây) và người ta hy vọng ngành dệt may, da giày của Việt Nam sẽ lấy lại nhịp độ tăng trưởng kỳ vọng của chúng khi sức mua tại các thị trường Bắc Mỹ và Tây Âu hồi phục trong vòng vài tháng tới. Bộ Công Thương hy vọng xuất khẩu có khả năng tăng 3% trong năm 2009 để có thể đạt mục tiêu kềm giữ mức khiếm hụt ngoại thương trong khoảng 10-12 tỉ USD, giảm 30% so với năm 2008.

Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã dự đoán mức tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là 4,5% trong năm 2009, tuy giảm gần một nửa so với năm 2007 (8,5%) nhưng là mức tăng trưởng cao nhất trong các nước ASEAN. Chính phủ cũng đang triển khai các chương trình kích cầu mà tổng cộng lên đến gần 8 tỉ USD, chiếm tỷ lệ 12% GDP.

Các chương trình này, bao gồm việc hỗ trợ chi phí lãi suất cho các doanh nghiệp, miễn giảm, giãn một số loại thuế và kéo dài thời gian nộp thuế, kích cầu đầu tư và tiêu dùng, trợ cấp thất nghiệp, hạ lãi suất cơ bản nhằm mở rộng tín dụng… cho thấy các hiệu ứng nhất định của chúng trong việc duy trì hoạt động sản xuất và trao đổi thương mại của các khu vực kinh tế, làm giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp bằng cách tạo thêm công ăn việc làm, duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính ngân hàng và giữ vững sức mua trong nền kinh tế.

Với những dấu hiệu tích cực như thế, liệu nền kinh tế Việt Nam sẽ vượt qua được một cách an toàn những hậu quả khó khăn của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu để bước vào một giai đoạn tăng trưởng hậu khủng hoảng, khi nền kinh tế thế giới bắt đầu hồi phục vào năm tới?

Không chỉ màu hồng

Tuy nhiên bức tranh kinh tế của Việt Nam không phải chỉ toàn màu hồng. Vào đầu tháng 6-2009, cả hai định chế tài chính quốc tế là Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (World Bank) đều đưa ra những khuyến cáo đáng lưu ý về các biện pháp kinh tế vĩ mô của Việt Nam. IMF lo ngại rằng việc nới lỏng chính sách tiền tệ thông qua chương trình hỗ trợ lãi suất sẽ có thể dẫn đến nguy cơ tái lạm phát.

Trong khi đó, World Bank cảnh báo về tình trạng khiếm hụt ngân sách lớn (10% GDP) sẽ khiến cho việc sung dụng tài nguyên quốc gia giảm hiệu quả: đầu tư tư nhân sụt giảm dẫn đến sự suy giảm khả năng hồi phục và tăng trưởng của nền kinh tế quốc gia sau khủng hoảng.

Cả hai biện pháp nới lỏng chính sách tiền tệ và đẩy mạnh các chương trình kích thích kinh tế bằng thâm hụt ngân sách và vay mượn khu vực tư (phát hành trái phiếu) sẽ có thể ảnh hưởng đến giá trị đồng nội tệ và cuối cùng là việc quay trở lại với mức lãi suất cao. Điều này giống như một vòng lẩn quẩn: bắt đầu bởi lạm phát và chống lạm phát, sau đó là nới lỏng tiền tệ và chống suy thoái và cuối cùng lại quay trở lại lạm phát và chống lạm phát.

Mặt khác, tình trạng khiếm hụt ngoại thương tuy đã giảm so với năm 2008, nhưng vẫn còn ở mức cao có thể tác động đến sự ổn định tỷ giá. Mặc dù chính sách tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước vẫn nhằm mục tiêu ổn định một cách linh hoạt, tuy nhiên, các nhà kinh tế đã chỉ ra rằng có một nguyên tắc về bộ ba bất khả thi (impossible trinity) theo đó chúng ta không thể đạt cùng lúc ba mục tiêu là vừa ổn định tỷ giá, vừa có thể tự quyết định độc lập chính sách tiền tệ và vừa có thể cho phép một sự tự do chuyển dịch dòng vốn (FDI và FII).

Trong trường hợp của Việt Nam, sự thặng dư của tài khoản vốn (sự gia tăng của FDI và FII) đã dẫn đến sự khiếm hụt của tài khoản vãng lai (cán cân thương mại) và điều này nếu tiếp tục kéo dài chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến tỷ giá đồng nội tệ và khiến cho chính sách tiền tệ không đạt mục tiêu đề ra.

Chúng ta ai cũng mong muốn nền kinh tế đất nước sẽ hồi phục và phát triển trở lại sau khủng hoảng. Hiện nay các nhà làm chính sách đã bắt đầu tham khảo ý kiến giới chuyên gia kinh tế và các doanh nghiệp về những gì cần phải làm để đạt được điều mong ước nói trên. Phần còn lại của thế giới cũng mong muốn như thế và cũng đang nỗ lực tìm kiếm những giải pháp hiệu quả nhất.

Chúng ta cần biết rằng, thị trường thế giới sau khủng hoảng chắc chắn sẽ trở nên cạnh tranh hơn, khó khăn hơn và quyết liệt hơn đối với doanh nghiệp chúng ta, không những vì chính phủ các nước và doanh nghiệp của họ đã rút ra những bài học đau đớn từ khủng hoảng và cam kết làm mọi thứ lành mạnh hơn, tốt hơn và hiệu quả hơn trước đây mà còn vì lộ trình hội nhập vào WTO của chúng ta đã tiếp cận mức đến, những rào cản thuế quan và phi thuế quan đã từng là vòng tay bảo hộ các doanh nghiệp - và là hòn đá ngăn chặn sự tiến bộ của họ - sẽ được dỡ bỏ.

Chúng ta cần những chính sách kinh tế vĩ mô đúng đắn hướng đến mục tiêu sung dụng tài nguyên quốc gia một cách hữu hiệu vì lợi ích chung của toàn nền kinh tế, tài nguyên được hiểu bao gồm nguồn nhân lực, đồng vốn, tài nguyên thiên nhiên và công nghệ. Chúng ta phải xây dựng cho được một nền kinh tế có chi phí thấp để cho các doanh nghiệp của chúng ta có được năng lực cạnh tranh cao, một năng lực cạnh tranh cần thiết cho cả thị trường nội địa lẫn quốc tế. Để đạt được điều đó, bên cạnh các chính sách kinh tế đúng, còn cần một bộ máy hành chính hữu hiệu và tương đối trong sạch và một hệ thống luật pháp và thi hành luật pháp công minh.

Theo HUỲNH BỬU SƠN
Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

Kinh tế Việt Nam nửa cuối 2009 - Nguy cơ rình rập! (kỳ 3)

,

Tình hình kinh tế VN: Một bộ phận qua đáy suy giảm.

Báo cáo của Tổng cục Thống kê về tình hình kinh tế sáu tháng đầu năm cho thấy nhiều ngành, lĩnh vực đã có dấu hiệu tăng trưởng trở lại. Liệu nền kinh tế VN đã vượt qua đáy suy giảm và bắt đầu phục hồi? Trao đổi với Tuổi Trẻ, TS Lê Đăng Doanh - Viện Nghiên cứu phát triển (IDS) - phân tích:

- Báo cáo của Tổng cục Thống kê cho thấy tăng trưởng GDP của VN quý 2 đã cao hơn quý trước, từ 3,1% lên 4,5%. Sản lượng công nghiệp cũng tăng đáng kể, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản ấm lên, nhập siêu tăng trở lại, đặc biệt nhập khẩu các mặt hàng phục vụ sản xuất, xây dựng chứng tỏ sản xuất kinh doanh tại khu vực đó có phục hồi... Đó là những tín hiệu đáng mừng, phần nào thể hiện nội lực của nền kinh tế và năng lực của Chính phủ.

Tuy nhiên, báo cáo của Tổng cục Thống kê cho thấy sự hồi phục kinh tế VN thời gian qua chưa đều, nhiều lĩnh vực chưa thật sự qua đáy của suy giảm kinh tế. Xuất khẩu vẫn giảm, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm khoảng 20% tổng đầu tư toàn xã hội giảm cả vốn đăng ký lẫn giải ngân so với năm trước. Chúng ta chưa có báo cáo rõ ràng về vấn đề việc làm nên theo tôi, đánh giá tình hình kinh tế sắp tới vẫn cần cẩn trọng, tỉnh táo, tránh chung chung.

* Nhiều ý kiến cho rằng xuất khẩu giảm có nghĩa một bộ phận sản xuất của nền kinh tế chưa thể phục hồi?

- Khó có thể khẳng định như thế, nhưng rõ ràng sản xuất xuất khẩu đang giữ vai trò hết sức to lớn trong nền kinh tế VN. Các doanh nghiệp ở khu vực này đóng góp cỡ 70% GDP, tạo nguồn thu ngân sách, nguồn công ăn việc làm rất quan trọng. Khi xuất khẩu chưa tăng trở lại có nghĩa một phần lớn các doanh nghiệp vẫn đang phải sản xuất dưới công suất, gặp khó trong lấy lại sức cạnh tranh... Nghĩa là khó khăn chưa thật đi qua hết.

* Thực tế các doanh nghiệp vừa và nhỏ, làng nghề... vốn bị tác động rất mạnh của khủng hoảng nhưng chúng ta cũng chưa có số liệu cụ thể. Đời sống của nông dân cũng thế?

- Doanh nghiệp nhỏ và vừa không thể phủ định đã bị tác động từ khủng hoảng kinh tế rất nặng. Nhiều làng nghề phải đóng cửa do không có đặt hàng. Mức độ hồi phục của các đơn vị này khó có thể nhanh hơn khu vực doanh nghiệp xuất khẩu có quy mô lớn được. Về đời sống bà con nông dân, khi nhiều mặt hàng nông sản khó bán hoặc phải bán giá thấp thì chắc chắn có ảnh hưởng. Khi kinh tế có một vài điểm sáng phục hồi, lợi ích có đến ngay với họ không, câu trả lời sẽ là chậm. Vì chúng ta chưa gắn kết chặt chẽ được nguồn lợi to lớn từ các hợp đồng xuất khẩu với sản xuất của bà con. Bà con thường được hưởng một phần không lớn. Các hiệp hội như xuất khẩu gạo, hiệp hội hạt điều, cà phê... nhìn kỹ đều là đại diện cho quyền lợi của doanh nghiệp xuất khẩu chứ chưa phải của bà con.

Nên lợi nhuận lớn từ xuất khẩu còn khoảng cách rất xa mới tới người trực tiếp làm ra sản phẩm.

* Đã có nhiều ý kiến cảnh báo: lạm phát có nguy cơ quay trở lại. Ông nhận xét như thế nào về điều này?

- Chỉ số giá sáu tháng đầu năm so với tháng 12-2008 tăng 2,68% nhưng so với cùng kỳ năm trước đã tăng trên 10%. Chỉ trong nửa năm, cung tiền tăng tới 16-17% so với cùng kỳ năm 2008. Vốn kích cầu đã tung ra đến trên 360.000 tỉ đồng. Đây là nguy cơ lạm phát không thể bỏ qua. Đặc biệt giá xăng dầu thế giới đang có xu hướng tăng. Nên sắp tới việc ổn định kinh tế vĩ mô cần làm nhưng cụ thể hơn, theo tôi, phải xem xét hiệu quả của các doanh nghiệp độc quyền trong một số lĩnh vực. Như xăng dầu, giá thế giới tăng thì ta tăng nhanh theo hình mũi tên nhưng giá thế giới giảm, ta chỉ giảm theo hình chữ L chứ không phải chữ V. Điều này làm chi phí sản xuất của doanh nghiệp VN cao hơn các nước. Hiện tại giá xăng dầu của VN đã cao hơn Singapore và một số nước ASEAN.

* Để giúp đỡ các doanh nghiệp sản xuất, những nơi chưa qua đáy suy giảm, theo ông, phải làm gì?

- Chúng ta đã hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn lưu động, rồi giảm, giãn thuế... Nhưng việc cần làm hơn lúc này không phải là cho tiền nữa mà giúp họ tái cơ cấu doanh nghiệp. Nếu cách làm cũ, công nghệ lạc hậu, sức cạnh tranh kém, ta cứ cho tiền chưa hẳn đã là giúp nền kinh tế. Nếu hỗ trợ để họ đổi mới công nghệ, giảm tiêu thụ điện, đất đai, vốn, nước... trên một đơn vị sản phẩm, giúp tăng khả năng quản trị thì mở ra tương lai có tiền cho doanh nghiệp. Khi kinh tế suy giảm, công nhân về quê, những người cho thuê nhà, xe ôm, quán tạp hóa, cơm hộp... cũng khó khăn nhưng chúng ta lại chưa hề có khảo sát và hỗ trợ những người này. Theo tôi, phải tính đến họ.

Song bài toán quan trọng hàng đầu lúc này, theo tôi, khi khủng hoảng có những diễn biến rất nhanh và phức tạp, chúng ta cần có đề án tái cơ cấu nền kinh tế. Đề án này phải nhanh, đúng chỗ và kịp thời để VN không bị lỡ bước khi các nước khác đi lên.

* Ông Nguyễn Đình Cung (viện phó Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế T.Ư):

Lạm phát sẽ khó trên 10%

Tình hình hiện tại khó có thể nói là khu vực dịch vụ du lịch đã được phục hồi, đặc biệt là với khu vực doanh nghiệp lữ hành quốc tế. Các doanh nghiệp có thể chịu ảnh hưởng từ nhiều vấn đề khác nhau và các tác động có thể ảnh hưởng theo dây chuyền. Trong tình hình thế giới chưa phải đã phục hồi hoàn toàn như hiện nay, nhiều doanh nghiệp phụ thuộc hoàn toàn vào xuất khẩu sẽ khó có thể xoay chuyển tình hình trong vòng vài tháng.

Về tình hình lạm phát, có ý kiến cho rằng trong năm 2009 sẽ khó lòng tăng cao trên 10% trở lại. Theo tôi, khi tăng trưởng kinh tế chúng ta chỉ ở khoảng 5% thì lạm phát lên đến trên 7-8% đã là cao. Với đà hiện tại lạm phát khó trên 10% nếu chúng ta quyết tâm giữ ổn định. Tuy nhiên, cũng cần cảnh giác với các yếu tố như tăng giá dầu, vấn đề hậu giải ngân vốn kích cầu để giữ lạm phát ở mức hợp lý.

* TS Bùi Quang Tuấn (viện phó Viện Kinh tế VN):

Sẽ còn nhiều khó khăn

Theo tôi, nền kinh tế VN sắp tới còn nhiều khó khăn, tăng trưởng quý 2 có cao hơn quý 1 nhưng không mạnh. Một số quan điểm lạc quan cho rằng chúng ta đã đi qua đáy của cuộc khủng hoảng kinh tế. Tuy nhiên, cần phân biệt quan điểm về đáy của khủng hoảng như thế nào? Nếu là đáy về tốc độ tăng trưởng thì có thể, vì tăng trưởng đã tăng lên. Nhưng về một số vấn đề khác như việc làm thì không phải như vậy. Theo tôi, số người mất việc làm hoặc khó khăn về việc làm năm 2010 có thể còn cao hơn năm 2009.



Nguon: http://www.baomoi.com/Home/KinhTe/tuoitre.com.vn/Tinh-hinh-kinh-te-VN-Mot-bo-phan-qua-day-suy-giam/2897052.epi

Kinh tế Việt Nam nửa cuối 2009 - Nguy cơ rình rập! (kỳ 2)

,

Wall Street Journal
JULY 2, 2009

Danger Signs Seen in Vietnam Stimulus

By JAMES HOOKWAY and PATRICK BARTA

HANOI -- Vietnam boasts one of the developing world's most resilient economies this year, but economists fear the success masks serious problems, as loose state-directed lending risks pushing Vietnam into a new speculative bubble.

Those concerns were highlighted Tuesday, when Fitch Ratings downgraded Vietnam's local currency rating, citing "a steady deterioration in the country's fiscal position" and a banking system that's "vulnerable to potential systemic stress" as the government floods the economy with credit.

Similar worries affect the U.S. and China, which are under pressure to prepare to pull in the reins of government stimulus. But the fears are especially pronounced in Vietnam, one of the most-closely watched emerging economies and an increasingly important magnet for foreign direct investment. Much of its economy is dominated by state enterprises that have a history of making ill-advised investments outside their core businesses, which have contributed to past speculative behavior and bouts of overheating.
.
Since the onset of the global economic crisis, state banks have poured at least $19 billion in loans into the economy, equivalent to about one-fifth of the country's annual gross domestic product, according to the government. The money is a key plank of a stimulus program in which the state provides interest-rate subsidies to banks so they can make more loans to help state enterprises and exporters.

The measures appear to be paying off in the short term, with the International Monetary Fund forecasting growth of 3.3% this year, while neighbors such as Thailand and Malaysia face steep contractions.

On Wednesday, the government said GDP expanded 3.9% in the first half of the year compared with a year earlier, with growth accelerating to 4.5% in the second quarter from 3.1% during the first quarter. Vietnam's economy expanded 6.2% in 2008 and 8.5% in 2007.

Stock market prices are also sharply higher, with Vietnam's benchmark index up 86% since the beginning of March. Residential property prices are climbing in many parts of Hanoi, the capital, and Ho Chi Minh City, the center of commerce and home to the stock exchange, economists say.

Providing lots of credit is "a good strategy. Our stimulus measures force banks to lend productively," says Le Xuan Nghia, vice chairman of the National Financial Supervisory Commission, one of the country's main financial regulators.

But with so much money being funneled into the economy, many people on the street fear a return of inflation, which accelerated to 28% in mid-2008 before easing to 5.6% in May.

Many Vietnamese are responding by investing whatever cash they can scrape together as fears about inflation revive. In the dust-choked eastern suburbs of Hanoi, for instance, a property boom is in full swing. A series of state and privately owned companies are erecting an arc of satellite towns in the area to ease congestion in old Hanoi, where cars and delivery trucks struggle to squeeze past swarms of motor-scooters and bicycles.

Nguyen Thi Huyen, a broker for the Van Khe New Urban City project, says she is putting together 10 or more deals a month at the development, up from just two or three this time last year. Some units have changed hands five times or more and prices have risen six-fold since the project was launched at the peak of Vietnam's boom in 2007, she says.

Buyers are "worrying about inflation and want to invest their money somewhere safe," Ms. Huyen says, lighting a candle at a shrine in her office where several piles of facsimile $100 bills are stacked up for good luck.

Some economists in Vietnam fear the country's politicians are so enmeshed in their growth-oriented five-year economic plans that they won't be willing to turn off the stimulus tap until inflation has already reared its head again. In April, the government extended by two years a lending-stimulus program that pays four percentage points of interest on any loans by Vietnamese banks to the business sector, encouraging banks to lend more aggressively.

"They are trying to turn back the clock to 2006 and 2007, when the name of the game was exporting as much as possible to profligate Americans. But Americans might not resume spending again in the same way, and we could end up with a serious inflation problem again," says an economist with close knowledge of government thinking.

While the "government's been successful at stabilizing the economy" in recent months, officials "also need to consider the longer-term risks, such as excess liquidity in the banking system and its potential to spark inflation," says Tran Le Khanh, chief investment officer at Prudential Vietnam Fund Management, Prudential PLC's Vietnam fund business.

The World Bank cautioned the Vietnamese government in report last month that state-directed lending could be hampering overhauls at state enterprises, and Vietnam might instead want to focus on helping people who have lost their jobs in the downturn. "It might be good to pause and reflect whether sustaining economic activity should remain the single priority," the World Bank said.

Other analysts worry the lending spree could escalate bad debt problems in the banking sector. Officially, nonperforming loans stand at 2.6%, up from 2.2% at the end of last year. But Vietnam doesn't calculate bad-debt rates according to international standards. Fitch Ratings recently estimated the real figure may have been as high as 13% of total loans at the end of 2008. In its ratings downgrade Tuesday, it said the country's loan-subsidy program "is almost certain to make matters worse."

Một bản dịch (trên Dân Luận):

Những dấu hiệu nguy hiểm nhìn thấy từ chương trình kích thích kinh tế của Việt Nam

James Hookway và Patrick Barta

Hà Nội -- Việt Nam đang tự hào rằng mình là một trong những nền kinh tế có sức hồi phục nhanh nhất thế giới năm nay, nhưng các nhà kinh tế lo ngại rằng thành công này che đậy những vẫn đề nghiêm trọng, bởi việc cho vay một cách phóng túng theo chỉ đạo của nhà nước khiến Việt Nam có nguy cơ rơi vào một bong bóng đầu cơ mới.

Những lo ngại này được nhấn mạnh vào Thứ Ba (30/06/2009), khi Fitch Ratings đánh tụt hạng tỷ giá đồng nội tệ của Việt Nam, nói rằng "vị trí tài chính của đất nước này đang suy giảm đều đặn" và hệ thống ngân hàng mà "dễ bị tổn thương bởi áp lực tiềm tàng của toàn bộ hệ thống" khi nhà nước đang nhấn chìm nền kinh tế với tín dụng.

Những lo ngại tương tự cũng ảnh hưởng Hoa Kỳ và Trung Quốc, những quốc gia đang dưới sức ép để chuẩn bị rút bớt các chương trình kích thích kinh tế của mình. Nhưng nỗi lo ngại đặc biệt rõ rệt ở Việt Nam, một trong những nền kinh tế đang trỗi dậy được nhiều chú ý nhất, và là một điểm thu hút đầu tư nước ngoài ngày càng quan trọng. Phần lớn nền kinh tế của Việt Nam bị chi phối bởi các doanh nghiệp quốc danh vốn có lịch sử đưa ra những quyết định đầu tư sai lầm ngoài lĩnh vực kinh doanh chính của họ, điều đã góp phần vào hành vi đầu cơ và giai đoạn tăng trưởng nóng của nền kinh tế trong quá khứ.

Kể từ khi bắt đầu cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, các ngân hàng nhà nước đã đổ ít nhất 19 tỷ USD dưới dạng các khoản vay vào nền kinh tế, tương đương với khoảng một phần năm tổng sản phẩm quốc nội hàng năm của quốc gia này, theo báo cáo của chính phủ. Khoản tiền này là phần chủ yếu của chương trình kích thích kinh tế, trong đó nhà nước hỗ trợ lãi suất cho các ngân hàng, để họ có thể tạo ra nhiều khoản cho vay giúp các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp xuất khẩu.

Biện pháp này tỏ ra có hiệu quả trong ngắn hạn, khi Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) ước tính tốc độ tăng trưởng năm nay của Việt Nam là 3,3%, trong khi các quốc gia láng giềng như Thái Lan và Malaysia đối mặt với tăng trưởng âm sâu.

Vào thứ Tư, chính phủ nói GDP tăng 3,9% so với năm ngoái trong nửa đầu của năm, với tốc độ tăng lên đến 4,5% trong quý II, so với con số 3,1% của quý I. Kinh tế Việt Nam tăng 6,2% năm 2008 và 8,5% trong năm 2007.

Giá cổ phiếu trên thị trường cũng tăng cao rõ rệt, khi mà chỉ số chứng khoán Việt Nam tăng 86% kể từ bắt đầu tháng Ba. Giá nhà ở cũng leo cao ở nhiều khu vực tại thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm thương mại và trung tâm của thị trường chứng khoán, các nhà kinh tế cho biết.

Cung cấp tín dụng thật nhiều là "một chiến lược tốt. Biện pháp kích thích kinh tế của chúng tôi buộc các ngân hàng phải cho vay một cách hiệu quả", theo ông Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, một trong những cơ quan quản lý tài chính chính của Việt Nam.

Nhưng với khoản tiền lớn như thế được đưa vào nền kinh tế, nhiều người dân thường lo ngại lạm phát quay trở lại: lạm phát đã từng tăng tới 28% giữa năm 2008 trước khi trở lại 5,6% vào tháng Năm.

Nhiều người Việt Nam đang đối phó bằng cách đầu tư tất cả những khoản tiền mà họ có thể cóp nhặt được, trước nỗi sợ lạm phát tăng trở lại. Ví dụ như tại những khu đô thị còn lấm đất ở phía Đông Hà Nội, bong bóng nhà đất đã tăng hết tốc lực. Hàng loạt các công ty tư nhân và quốc doanh đang dựng lên một vòng cung các thành phố vệ tinh tại khu vực này để giảm bớt tắc nghẽn ở Hà Nội, nơi ô tô và xe tải phải nỗ lực để vượt qua hàng đàn xe máy và xe đạp.

Nguyễn Thị Huyền, một môi giới trong dự án Đô Thị Mới Văn Khê, nói rằng chị ta đã môi giới thành công 10 giao dịch hoặc hơn tại đây, hơn nhiều so với chỉ 2-3 giao dịch thời điểm này năm ngoái. Một số đơn vị đã qua tay tới 5 lần hoặc hơn, và giá tăng gấp 6 lần kể từ khi dự án được khởi động vào thời điểm đỉnh cao của bong bóng năm 2007, chị Huyền nói.

Những người mua đang "lo sợ lạm phát và muốn đầu tư tiền của họ vào nơi nào đó an toàn", chị Huyền cho biết, châm một cây nến rọi sáng văn phòng của mình, nơi hàng chồng 100 USD giả được bày để lấy may.

Một số nhà kinh tế ở Việt Nam lo ngại rằng các chính trị gia tại đây đang vướng vào các kế hoạch phát triển kinh tế 5-năm theo hướng ưu tiên tăng trưởng tới mức họ không sẵn sàng tắt "vòi" kích thích kinh tế cho tới khi lạm phát ngập tới đầu của họ một lần nữa. Vào tháng Tư, chính phủ đã ra hạn 2 năm đối với chương trình cho vay kích thích kinh tế, trong đó trả 4 điểm phần trăm lãi suất cho bất kỳ khoản vay nào mà ngân hàng Việt Nam dành cho lĩnh vực kinh doanh, khuyến khích các ngân hàng cho vay mạnh bạo hơn.

"Họ đang cố găng quay ngược kim đồng hồ lại thời điểm 2006 và 2007, khi mà mục tiêu chính của trò chơi là xuất khẩu càng nhiều càng tốt sang nước Mỹ đang tiêu hoang. Nhưng Hoa Kỳ có lẽ sẽ không thể tiếp tục chi tiêu như trước nữa, và chúng ta có thể sẽ phải đối mặt với lạm phát nghiêm trọng một lần nữa", một nhà kinh tế có hiểu biết sâu sắc về cách suy nghĩ của chính phủ cho biết.

Trong khi "chính phủ đã và đang thành công trong việc ổn định nền kinh tế" trong những tháng gần đây, các quan chức "cũng cần phải cân nhắc nguy hiểm dài hạn, ví dụ như sự thừa mứa thanh khoản trong hệ thống ngân hàng và khả năng bùng nổ lạm phát", Trần Lê Khánh, Giám đốc đầu tư quỹ Prudential Việt Nam, thuộc tập đoàn Prudential PLC, cho biết.

Ngân hàng Thế Giới đã nhắc nhở chính phủ Việt Nam trong bản báo cáo tháng trước rằng việc cho vay theo chỉ thị của chính phủ có thể đang cản trở tiến trình cải tổ tại các doanh nghiệp nhà nước, và Việt Nam có lẽ nên tập trung vào giúp đỡ những người bị mất công ăn việc làm do khủng hoảng. "Có lẽ [chính phủ Việt Nam] nên dừng lại và cân nhắc xem hoạt động duy trì nền kinh tế có phải là ưu tiên duy nhất hay không?", ngân hàng Thế Giới đã nói.

Một số các nhà phân tích khác lo ngại việc thả nổi cho vay có thể làm trầm trọng thêm vấn đề nợ xấu trong lĩnh vực ngân hàng. Theo con số chính thống, nợ xấu đứng vào khoảng 2,6%, so với 2,2% vào cuối năm ngoái. Nhưng Việt Nam không tính toán tỷ lệ nợ xấu theo như tiêu chuẩn quốc tế. Fitch Ratings gần đây ước tính con số thực có lẽ lên đới 13% tổng số nợ vào cuối năm 2008. Trong bản đánh tụt hạng của mình hôm thứ Ba, Fitch Ratings đã nói chương trình hỗ trợ vay của Việt Nam "gần như chắc chắn rằng đã làm tình hình thêm tồi tệ".

Nguồn: www.viet-studies.info

Kinh tế Việt Nam nửa cuối 2009 - Nguy cơ rình rập! (kỳ 1)

,

Cung tiền đã lớn hơn tốc độ tăng GDP theo giá thực tế

Tổng cục thống kê cho biết tăng trưởng cả năm 2009 có khả năng đạt 5% (tương đương 6 tháng cuối năm phải tăng khoảng 5,9%) nhưng vẫn có nhiều nguy cơ cho tăng trưởng vững chắc.

Theo ông Bùi Bá Cường, Vụ trưởng Vụ Tài khoản quốc gia (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cảnh báo 3 điểm đáng chú ý để đảm bảo kinh tế vĩ mô tăng trưởng vững chắc.

Thứ nhất, 6 tháng đầu năm, nhập siêu là 2,1 tỷ USD nhưng khi loại trừ việc tái xuất vàng thì nhập siêu là 4,6 tỷ USD.

Mức nhập siêu ngày càng lớn khi quí I, chúng ta nhập siêu 1 tỷ USD thì sang quí II, chúng ta đã nhập siêu tới 3,6 tỷ USD. Theo dự báo năm nay chúng ta sẽ nhập siêu khoảng 10 tỷ USD.
Thứ hai, về thu Ngân sách Nhà nước dự toán 2009 khoảng 390.000 tỷ tức là bản thân thu dự toán giảm 9.000 tỷ so với năm ngoái. Tuy nhiên, khả năng đạt dự toán chi là 390.000 tỷ là khó khăn và phải giảm từ 30 - 60 nghìn tỷ đồng.

Thứ ba, tính GDP 6 tháng đầu năm tăng theo giá thực tế là 12,4% (tốc độ so sánh với 3,9% so với 6 tháng đầu năm 2008), lạm phát là 10,27% (chỉ số giá bình quân 6 tháng đầu năm 2009 so với thời kỳ tương ứng của năm 2008).

Theo con số nhận được thì hiện tốc độ cung tiền (M2) 6 tháng đầu năm vượt tăng tốc độ tăng GDP (trong khi thông thường cung tiền thường thấp hơn GDP). (Bổ sung ý này ông Đỗ Thức, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê cho biết: Cung tiền chỉ trong có nửa đầu năm đã tăng tới 16-17% so với cùng kỳ năm 2008).

Theo ông Cường so sánh, "năm 2008 chúng ta đã làm rất tốt, GDP tăng 29% theo giá thực tế thì cung tiền khoảng 20%. Tốc độ cung tiền của 2008, thấp hơn tăng trưởng GDP theo giá thực tế".

Cảnh báo về nguy cơ lạm phát, đại diện Vụ thương mại giá cả cho biết năm 2008 chúng ta đã phải trả giá việc nới lỏng cung tiền 2007. Vì vậy năm nay khả năng kiềm chế lạm phát dưới 1 chữ số là có thể thực hiện được. Tuy nhiên đại diện này cảnh báo nguy cơ lạm phát vào năm 2010 do những chính sách nới lỏng chính sách tiền tệ.

Ngoài ra, ông Đỗ Thức, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê cho biết nếu 145.000 tỷ đồng tiền kích cầu không được sử dụng đúng, chính sách tiền tệ không thận trọng thì chắc chắn, tái lạm phát sẽ xảy ra.

Theo Tổng cục thống kê, quý I/2009, tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước chỉ đạt 3,1% bằng 41% tốc độ tăng của quý I/2008 và là quý có tốc độc tăng thấp nhất trong những năm qua.

Tuy nhiên, sang quý II, ước tính GDP tăng 4,5%, bằng 79% tốc độ tăng GDP quí II/2008 và cao hơn quý I năm nay là 1,4 điểm phần trăm.
Tốc độ tăng trưởng GDP 6 tháng năm nay tăng 3,9% so với 6 tháng năm 2008, trong đó khu vưc nông - lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,25%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,48% và khu vực dịch vụ tăng 5,5%.

Để đạt tăng trưởng 5% GDP năm nay, trong 6 tháng cuối năm phải tăng khoảng 5,9%.

V.Minh (cafef.vn)

Đọc báo: Mục chào buổi sáng

, , ,

Mục chào buổi sáng báo Thanh Niên luôn là mục mình thích nhất, trước đây, khi chưa kết nối Internet, vào mỗi buổi sáng, mình cầm tờ thanh niên mình đều đọc mục này đầu tiên như một món điểm tâm buổi sáng vậy. Mấy tháng nay, online suốt, minh lại nhác đọc mục này hơn. Tuy nhiên chắc từ nay cứ khoảng 1 tuần mình lại tổng hợp mục này một lần.
1. Lại nói về nghịch lý tỷ giá

Tỷ giá VND/ USD cho đến hết năm 2006 vẫn chỉ ở dưới mức 16.000. Cho đến mấy tháng đầu năm 2007 tỷ giá VND/USD không những không tăng lên mà còn có xu hướng giảm, mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã mở rộng biên độ giao dịch. Những tháng gần đây, tỷ giá VND/USD đã có biến động, đặc biệt từ tháng 8 đến nay. Đầu tháng 8, cứ 1 USD ăn 16.150 VND, nhưng đến nay đã lên 16.265, có cửa hàng lên đến 16.300 VND. Sự tăng lên của tỷ giá VND/USD (hay sự giảm của VND so với USD) hiện đã chứa đựng một số nghịch lý.


Thứ nhất, khi tăng trưởng kinh tế của nước này cao hơn của nước khác thì thông thường đồng tiền của nước đó sẽ tăng giá so với đồng tiền của nước kia; trong khi đó, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cao hơn, nhưng đồng Việt Nam vẫn giảm giá so với đồng USD, còn trong nhiều năm Trung Quốc vẫn giữ tỷ giá NDT/USD ở mức thấp.


Thứ hai, đồng USD giảm giá mạnh so với các đồng tiền chủ chốt trên thế giới, nhưng vẫn tăng giá ở thị trường Việt Nam. Giá USD trên thị trường thế giới gần như ở mức thấp nhất trong 15 năm qua, đến nay 1 USD chỉ còn ăn 0,4947 bảng Anh, 0,7181 euro, 114,8 yen Nhật, 34,76 baht Thái, 7,557 nhân dân tệ... Khi VND giảm giá so với USD thì đồng thời lại giảm giá "kép" so với các đồng tiền mạnh khác.


Thứ ba, đồng Việt Nam giảm giá so với USD trong điều kiện lượng USD vào Việt Nam tăng mạnh ở tất cả các nguồn. Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 8 tháng so với cùng kỳ thì đăng ký cao gần gấp rưỡi, thực hiện tăng gần 20%; khả năng cả năm sẽ vượt 13 tỉ USD đăng ký, thực hiện vượt 4,5 tỉ USD. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đạt kỷ lục mới về lượng vốn cam kết và thực hiện giải ngân cũng vượt 2 tỉ USD.


Thứ tư, do tỷ giá trên thị trường tăng lên, nên lãi suất huy động ngoại tệ của các ngân hàng thương mại cũng tăng lên, có ngân hàng đưa lên mức 5,5%/năm. Sự tăng lên này vẫn là trái chiều so với dự đoán của nhiều người.


2. Cải cách hành chính... trên giấy!

Cải cách hành chính (CCHC) được Chính phủ xác định là một trong 3 nhiệm vụ trọng tâm trong công tác chỉ đạo, điều hành. Tỉnh Tiền Giang cũng xác định CCHC là khâu đột phá trong năm 2007. Tuy nhiên, sau khi kiểm tra việc thực hiện CCHC tại một số đơn vị trong tỉnh, Giám đốc Sở Nội vụ, Phó trưởng Ban chỉ đạo CCHC tỉnh Tiền Giang Lê Hùng tỏ ra bức xúc vì có quá nhiều đơn vị đã báo cáo... láo!


3. Chào một "thiên thần hộ mệnh" cho trẻ em

Đều đặn mỗi ngày 4 bận, trên giao lộ "tử thần" (quốc lộ 1A cắt đường liên thôn qua xã Quỳnh Văn, Quỳnh Lưu, Nghệ An), xuất hiện một người đàn ông đội mũ cối, tay cầm 2 chiếc cờ hiệu, đeo băng-rôn đỏ đứng chờ bọn nhỏ đến lớp và trở về sau buổi tan trường. Người đàn ông này xuất hiện mỗi ngày để đưa những "chuyến đò cạn", như là vị thiên thần hộ mệnh cho lũ học trò nhỏ qua đường trên giao lộ đầy nguy hiểm này...


Đó là công việc thường ngày của ông Điều từ hơn hai năm nay. Đều đặn mỗi ngày 4 bận, bất kể mưa hay nắng, chưa đến 6 giờ sáng, ông đã có mặt tại giao lộ này để dẫn bọn trẻ sang đường đến trường. Trưa, chiều vẫn vậy. Hơn 100 học sinh của hai xóm 9 và 10 đến trường băng qua ngã tư đầy nguy hiểm này từ khi có ông đều tuyệt đối an toàn.


"Tui cân nhắc mãi vì sợ không làm tròn nhiệm vụ, lỡ sơ sẩy một tí là có tội lớn, nhưng mình không làm thì cũng khó ai làm giúp. Nghĩ đến bọn trẻ với những vụ tai nạn giao thông trước đây, rứa là tui nhận". Ông Điều làm ruộng, 5 sào ruộng không chưa đủ chi tiêu, còn nuôi mấy đứa con ăn học. Làm công việc "hộ mệnh" này, mỗi năm xã cấp cho ông 6 tạ thóc, tương đương với mỗi tháng 100 ngàn đồng. Đầu năm học này, hội phụ huynh trường thương ông vất vả và nguy hiểm, đã bỏ tiền ra mua cho ông tấm thẻ bảo hiểm thân thể.


4. Chữ tín của Nhà nước

Có lẽ vụ bán nhà thuộc sở hữu nhà nước tại 1B Đặng Thái Thân (Hà Nội) mới đây là chuyện đáng buồn... cười nhất về cách hành xử rất thiếu tôn trọng người dân và thiếu tôn trọng pháp luật của chính các cơ quan công quyền.


Câu chuyện được đẩy lên như là điển hình của tiêu cực, làm sai chính sách bán nhà 61. Và trong khi chờ giải quyết (hứa hẹn là rất lâu), UBND thành phố Hà Nội ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho chủ nhân ngôi nhà này.


Thứ nhất, phải khẳng định 10 hộ đầu tiên đã mua nhà theo Nghị định 61 là đúng đối tượng, đúng chính sách. Họ bán cho 3 chủ tiếp theo là giao dịch dân sự và đúng pháp luật (làm hợp đồng tại công chứng nhà nước, sang tên lại Sở Tài nguyên-Môi trường và Nhà đất). Vấn đề có thể có ở đây chỉ là, số diện tích dùng chung (hành lang, lối đi, sân chung) đã được giải quyết bán cho 3 hộ này theo quy trình như thế nào? Theo báo cáo của Sở Tài nguyên-Môi trường và Nhà đất, phần diện tích này đã được tính với giá 100% tiền sử dụng đất x hệ số 1,8. Có nghĩa rằng không theo quy trình 61, có nghĩa rằng đúng pháp luật vào thời điểm đó (QĐ 4526/QĐ-UB ngày 21.11.1997 của UBND thành phố Hà Nội). Thế nhưng UBND thành phố đã vội vàng chiều theo dư luận (không phải lúc nào cũng đúng), thu hồi lại giấy chứng nhận đã cấp đúng thẩm quyền, đúng pháp luật (?)


Thứ hai, theo Nghị định 181/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai thì việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không hề đơn giản như vậy, phải có quyết định hoặc bản án của tòa án nhân dân. Một quyết định của cơ quan công quyền liên quan đến người dân không thể bị xóa bỏ một cách tùy tiện. Đó là chữ tín của Nhà nước với dân. Giả sử trong trường hợp phát hiện có cán bộ nào đó có sai phạm trong quá trình ra quyết định hoặc có tư lợi từ quyết định đó thì phải cương quyết xử lý cán bộ đó theo đúng quy định của pháp luật (chứ không phải là xử người dân). Đó cũng là chữ tín của Nhà nước với DN.



5. Phản ứng tức thời của thị trường sau khi FED giảm lãi suất

Trong phiên họp ngày 18.9, Cục dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã quyết định giảm 0,50% lãi suất cho vay ngắn hạn (từ 5,25% xuống 4,75%). Đây là lần đầu tiên Mỹ cắt giảm lãi suất cơ bản kể từ giữa năm 2006.


Do GDP của Mỹ chiếm tới 28% GDP của toàn thế giới, nhập khẩu của Mỹ lên tới trên 1.500 tỉ USD,... nên động thái của FED có tác động tức thời, tính bằng phút ở hầu hết các thị trường và hầu như trên toàn thế giới. Đúng là chỉ vài phút sau khi FED quyết định giảm lãi suất cơ bản, thì thị trường tiền tệ, dầu mỏ, chứng khoán, giá vàng đều phản ứng tức thì. Chỉ số giá chứng khoán ở Mỹ cũng như các thị trường thế giới đều tăng mạnh hàng chục, hàng trăm, hàng mấy trăm điểm - một hiện tượng hiếm thấy trong nhiều năm qua. Giá dầu đã tăng lên mức kỷ lục mới đã vượt qua mốc 82 USD/ thùng- cao nhất từ trước tới nay. Giá USD giảm so với giá euro, hiện 1 USD chỉ còn ăn 0,7136 euro, thấp nhất tính từ khi đồng euro ra đời. Thị trường vàng lại tiếp tục khởi động đợt tăng giá mới: tại Hồng Kông đã tăng mạnh 8,3 USD lên 725,8- 726,3 USD/ounce,...


Đó là nói về thị trường thế giới, còn Việt Nam thì sao? :D ?

Cần phải nói trước rằng thị trường Việt Nam và thị trường thế giới chưa thông nhau hoàn toàn, mặc dù độ mở cửa của Việt Nam đã gia tăng qua các năm, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) từ đầu năm. Tuy nhiên, tác động của việc FED cắt giảm lãi suất đối với Việt Nam không phải là không có, chỉ có nhiều hay ít và trực tiếp hay gián tiếp mà thôi. Trước hết là giá vàng, vào cuối buổi sáng ngày 20.9, tại Hà Nội giá vàng loại 4 số 9 bán ra đã đạt mốc 14 triệu đồng/lượng; tại thành phố Hồ Chí Minh phản ứng chậm hơn nhưng cũng đã tăng trở lại và đạt xấp xỉ 13,9 triệu đồng/lượng. Khả năng sẽ còn tăng hơn nữa vì giá vàng Việt Nam đang thấp hơn giá vàng thế giới và giá vàng thế giới còn tiếp tục tăng (có thể vượt mức 30-40 USD/ounce).


6. Khi phương tiện bị biến thành mục đích

Nói về chuyện ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), GS Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang, cho biết: "Ở nước nào cũng có chương trình công nghệ tin học. Khi đến Thái Lan, tôi thấy chương trình công nghệ tin học của họ đặt ra mục tiêu lớn là làm sao để thay thế được Microsoft. Từ đó họ tập trung giải quyết, sử dụng mã nguồn mở thay thế Microsoft Office để đưa về các trường học và họ rất thành công. Trong khi ở xứ ta, lẽ ra Đề án 112 ngoài việc phục vụ cho chính phủ điện tử, mình cũng phải chuẩn bị, phải có phần mềm riêng để thay thế các phần mềm sao chép. Nhưng việc chuẩn bị cho dân mình sử dụng phần mềm mở thì chưa có".


Liên quan đến Đề án 112 ở xứ ta, cũng có những nét giống như vậy. Ví dụ, nếu mình muốn chính phủ điện tử như thế nào thì phải cụ thể hóa chủ trương đó thành quy định, bắt buộc các bộ, ngành và các địa phương phải thực hiện. Chẳng hạn như một tài xế phạm luật giao thông và đã bị giữ bằng lái ở TP.HCM, khi anh ta chạy xe ra Hà Nội và lại tiếp tục vi phạm rồi nói rằng đã bỏ quên bằng lái ở đâu đấy thì quả là rất khó kiểm tra. Trong trường hợp này Chính phủ chỉ cần đặt ra yêu cầu: khi cần kiểm tra bằng lái của bất cứ công dân nào trên toàn quốc thì ngành GTVT phải tìm ra ngay các yếu tố pháp lý liên quan đến bằng lái và người sử dụng bằng ngay lập tức. Khi yêu cầu đó là bắt buộc thì tự thân Sở GTVT các tỉnh, thành trong cả nước sẽ có nhu cầu hình thành một hệ thống mạng thông tin chung. Thế là, khi một tài xế vi phạm bất cứ đâu, chỉ cần click chuột một cái là biết được anh ta đã vi phạm bao nhiêu lần, đã bị xử lý ra sao, rất nhanh chóng


7. Bài toán giao thông vì sao không giải nổi?

Thông thường trên thế giới, khi một đô thị tập trung đến trên 1 triệu dân với mật độ lên đến vài ngàn người/km2 thì các nhà quản lý đô thị phải nghĩ ngay đến việc phát triển hệ thống giao thông công cộng. Giao thông công cộng thường chủ yếu gồm xe bus và vận tải đường sắt (railway) như tàu hỏa (train), xe điện (tram), tàu điện ngầm (metro hay subway), và tàu điện trên cao (monorail, hay ở Bangkok là skytrain).


Thủ đô Bangkok của Thái Lan gần 1.600km2 với dân số hiện tại trên 5 triệu người cũng đã có 2 tuyến skytrain vào năm 1999, đến năm 2004 có thêm tuyến subway đi từ tây-bắc xuống đông-nam rồi qua phía tây thành phố nối vào. Thành phố này hiện cũng có trên 400 tuyến xe bus và hệ thống skytrain thì đang tiếp tục kéo dài, thêm tuyến, và nối ra tận sân bay quốc tế mới Suvarnabhumi. Với ngần ấy cơ sở, hệ thống giao thông công cộng của Bangkok cũng chỉ mới đáp ứng được hơn 40% nhu cầu đi lại của người dân, kẹt xe vẫn còn phổ biến.


TP.HCM vào những năm đầu thập niên 80 thế kỷ trước, khi dân số thành phố đã lên trên 3 triệu người, đáng lẽ phải nghĩ ngay đến việc phát triển hệ thống giao thông công cộng như một chiến lược cấp bách đi cùng với công cuộc Đổi mới thì chúng ta đã... không làm gì cả. Cho đến khi nghĩ đến, tính đến thì lại rề rà chậm chạp. Năm 1997, trường Đại học Công nghệ Dresden (Đức) đã thực hiện một nghiên cứu tiền khả thi về xây dựng và củng cố hệ thống giao thông ở TP.HCM. Họ đã kiến nghị việc xây dựng hệ thống railway gồm subway và monorail cho thành phố. Năm 1998, một đơn vị của Anh cũng đề xuất cải tiến mạng lưới xe bus và xây dựng hệ thống vận tải công cộng sức tải lớn để đáp ứng được 20-30% nhu cầu đi lại vào năm 2000 và 50% vào năm 2020. Ngày 15.11.2002, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định 162/2002/QD-TTg chấp thuận các đề xuất này. Năm 2004, tôi đã nhìn thấy bản sơ đồ 7 đường tàu điện các kiểu sẽ được xây dựng ở TP cho đến năm 2020, trong đó có 2 đường ghi rõ đã được phê duyệt và sẽ khởi công xây dựng vào năm 2005. Thế nhưng đến nay mọi thứ vẫn còn nằm trên giấy.
Nghe các vị quan chức trả lời về giải pháp trước mắt và lâu dài để giải quyết tình trạng giao thông “kẹt cứng” hiện nay mà buồn. Các ông chỉ nhấn mạnh đến việc phân luồng giao thông, đưa thêm thanh niên xung phong, học sinh ra đường, dùng biện pháp tài chính để ép dân hạn chế sử dụng phương tiện cá nhân. Nhưng thử hỏi, đường không đủ (tỷ lệ diện tích mặt đường/trên diện tích chung có 1,7%, so với các nước là 10-20%) thì phân luồng giải quyết được gì? Ép dân hạn chế sử dụng phương tiện cá nhân mà không có phương tiện công cộng hiệu quả thay thế thì khác nào bảo họ đừng đi lại? Trong khi đó, các giải pháp lâu dài như xây dựng hệ thống metro, monorail thấy các ông chỉ nhắc qua loa và than thở rằng không có tiền, rằng phải cần đến 26 tỉ USD… Chả lẽ cứ phải bó tay hay sao? Thành phố Bangkok sau vụ đảo chính ngày 19.9.2006, một số dự án phát triển đường giao thông bị đề nghị tạm hoãn vì khó khăn về tài chính, nhưng những đề nghị này lập tức bị dân chúng phản đối.

Ở nhiều nước châu Âu, hay Singapore, đường sá từ trung tâm thủ đô ra sân bay rất rộng rãi, nhìn đâu cũng thấy đường, đường chạy trên đường (gọi là fly-over). Vậy mà người ta vẫn xây đường tàu nối sân bay với hệ thống railway trong nội đô. Đường tàu này giúp thay thế được bao nhiêu taxi, xe bus… vốn chiếm diện tích lưu thông lớn. Trong khi đó, nối sân bay Tân Sơn Nhất với nội thành TP.HCM gần như chỉ có con đường “độc đạo” Trường Sơn - Nguyễn Văn Trỗi – Nam Kỳ Khởi Nghĩa lúc nào cũng đông đúc. Vừa rồi con đường này được mở rộng, nhưng vẫn bị một số nút cổ chai, xem ra không cải thiện được mấy tốc độ cũng như lưu lượng xe, trong khi tổng chi phí đổ vào khâu đền bù giải tỏa chiếm phần lớn ngân sách dự án. Trộm nghĩ, thay vì mở rộng con đường này, người ta có thể xây dựng con đường khác đi ra sân bay, có thể phải đi vòng, đi xa hơn, nhưng tốc độ đi nhanh hơn. Tương tự, việc mở rộng một số con đường khác trong nội đô vốn đã ổn định “mặt tiền” cũng không có hiệu quả mấy. Hình như chúng ta không dám mạnh dạn xây những fly-over để tiết kiệm đất trong bối cảnh giá đất nội thành TP.HCM thuộc loại rất đắt trên thế giới!

Không có một tầm nhìn xa, không có chiến lược, không có quyết tâm, không có chỉ huy tập trung thống nhất, chúng ta đã không giải quyết nổi bài toán giao thông đô thị.


8. "Người chiến thắng sau cùng" là ai ?

Tôi không hiểu khi các cuộc thi Idol này tổ chức tại Anh và Mỹ, người ta có chuẩn bị "vận động tin nhắn" theo kiểu "vận động bầu cử" không? Nhưng khi Idol tới Việt Nam, có cảm giác cuộc thi này dễ bị hóa thành "cuộc thi tin nhắn": ai tổ chức được nhiều "fans" có khả năng tài chính mạnh hơn - vì không giới hạn tin nhắn cho mỗi máy điện thoại nên số lượng tin nhắn hoàn toàn có thể nghiêng hẳn về thí sinh nào "tổ chức" được "lực lượng nhắn tin" có "hầu bao tốt" và có nhiệt tình bấm máy điện thoại di động.


Chỉ cần 100 fans "chủ lực" như thế với 500 tin nhắn mỗi người chẳng hạn, một thí sinh đã có thể sở hữu "phần cứng" là… 50.000 tin nhắn ủng hộ. Một con số khá ấn tượng!


Ha ha ha ha VN giống cục phân!
9. "Thượng đế" cần được bảo vệ và tôn vinh

Trong nền kinh tế thị trường, "thượng đế" phải được bảo vệ, thậm chí còn phải được tôn vinh. "Thượng đế" trong kinh tế thị trường cần được hiểu theo nghĩa rộng ở các mối quan hệ khác nhau.


Ấy vậy, mà người tiêu dùng hiện chưa được bảo vệ một cách hữu hiệu, chưa nói đến việc tôn vinh. Tình trạng hàng giả, hàng nhái, tình trạng vệ sinh an toàn thực phẩm không được bảo đảm đã gây ra hậu quả ngộ độc thức ăn tập thể, xăng pha aceton, sữa bột chế ngược thành sữa tươi nguyên chất… từ cơ quan chức năng, Hội bảo vệ người tiêu dùng có cơ quan Trung ương và chân rết ở gần một nửa tổng số tỉnh, thành phố trong cả nước… chẳng phát hiện được nếu không nhờ đến phương tiện thông tin đại chúng. Do vậy, cần có luật định việc theo dõi, giám sát các hành vi, trách nhiệm bồi thường khi sản phẩm có lỗi, khi đưa ra thông tin sai hoặc quảng cáo sai lệch về sản phẩm…, bảo đảm quyền khởi kiện, khiếu nại, khiếu tố của người tiêu dùng; khuyến khích các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin, tạo ra dư luận xã hội và các cơ quan chức năng xử lý.
Trong lĩnh vực dịch vụ công, người được phục vụ cũng là "thượng đế", những cơ quan đơn vị được giao chức năng làm dịch vụ công phải tôn trọng và bảo đảm quyền lợi của người được phục vụ; các đơn vị không được lạm dụng vị trí để "ban phát". Tốt nhất là cần xã hội hóa các lĩnh vực này, nếu cứ để Nhà nước hoặc các đơn vị nhà nước "ôm" thì rất dễ bị lạm quyền!

Trong lĩnh vực các văn bản quy phạm pháp luật, những người dự thảo thường chỉ "nhằm" vào đối tượng thi hành là người dân và doanh nghiệp, không coi việc làm luật cũng là để phục vụ cho người dân và doanh nghiệp có hành lang pháp lý để hoạt động, để chống lại các hoạt động tác động xấu đến hành lang pháp lý đó. Xét tổng quát, người dân và doanh nghiệp cũng là "thượng đế" của các văn bản quy phạm pháp luật đó. Tuy nhiên, về lĩnh vực trưng cầu dự thảo luật, các văn bản dưới luật trưng cầu dự thảo các luật, các văn bản dưới luật cũng còn tình trạng "hỏi ít, nghe ít hơn, tiếp nhận càng ít hơn".

Trong lĩnh vực quản lý hành chính cũng cần coi người dân và doanh nghiệp là "thượng đế" mà cơ quan nhà nước phải phục vụ, không được lạm quyền để "ban phát" hay "hành dân là chính".

Còn có thể kể ra đây rất nhiều ngành, lĩnh vực mà "thượng đế" chưa được bảo vệ và tôn vinh. Cần phải có các luật để bảo vệ, tôn vinh "thượng đế"!


Đến khi nào thì có Luật bảo vệ người tiêu dùng, và được thực thi ???

10. Xe ô tô: Thấy, Nghe, Biết và Nghĩ
Chuyện mắt thấy mà lạ

Chiếc xe hơi xịn, kiểu lạ hoắc, rõ là hàng nhập nguyên con, mang biển ngoại giao chữ màu đỏ lướt tới nhẹ đậu bên hè. Anh chàng gác cửa nhà hàng mặc đồng phục như lính thời Napoleon nở nụ cười… hình chữ nhật, nhanh nhẹn mở sẵn cửa để đón khách ngoại.

Ông khách to con đầu húi cua bệ vệ bước xuống, nhưng thay vì bước vào khách sạn lại ngồi phịch xuống cái ghế con bên chõng tre của bà hàng nước ngay sát cạnh. Bà hàng nước rón rén nhìn, gọi nhỏ cậu gác cổng đang đứng tẽn tò: "Chú ơi, tôi không biết tiếng Tây, chú hỏi hộ cái ông này muốn uống gì?". "Ông Tây" cười ầm lên: "Bà ơi, rót cho con cốc nhân trần!", đoạn với tay lôi cái điếu cày từ chân bàn, khoái trá bắn một bi.


.....

Vậy thì nếu có gặp xe NG chữ đỏ, hay xe LD chữ đen, hay xe chữ Lào màu vàng…, bạn đừng nghĩ nhất thiết trên xe là bạn bè quốc tế. Có khi là người Việt, Việt "nguyên cây" cả đấy!


Chuyện tai nghe mà tức

- Ông bức xúc chuyện xe lắp nội địa giá cao là nhãn quan chưa đủ tầm! Xe lắp trong nước giá càng cao, người tiêu dùng Việt Nam càng được hưởng lợi. Không tin hả? Tôi chứng minh rành mạch, rõ ràng cho ông coi! Này nhé: Giá xe ô tô lắp ở VN càng cao thì người muốn mua xe càng ngóng mua xe nhập ngoại vào.

- Chứ sao nữa, xe ngoài rõ ràng xịn hơn nhiều, nhìn đã thấy sướng, chưa nói chuyện chạy!

- Rồi. Nhiều người muốn mua xe nhập ngoại thì càng có thể đánh thuế cao xe nhập ngoại vào.

- Thì đó, xe ngoài rẻ nhưng nhập vào đến đây thì giá gấp mấy lần giá gốc, mua sao nổi!

- Tiếp tục: Xe nhập ngoại vào giá càng cao thì người mua chẳng có cách nào lại phải bấm bụng mua xe lắp nội.

- Cái đó giờ đang xảy ra!

- Nữa: Nhiều người bấm bụng mua xe lắp nội thì giá xe lắp nội càng cao.

- Thì đó, bây giờ còn phải "các" thêm tiền mới mua được xe đó, chứ dễ gì!

- Giá xe lắp nội càng cao, mà thuế nhập linh kiện có ưu đãi, thì các hãng ô tô đầu tư vào Việt Nam càng có lãi cao.

- Cái đó con nít nó cũng rành!

- Càng có lãi cao thì các hãng càng nhiệt tình đầu tư vào công nghiệp ô tô ở VN.

- Ngon vậy ngu gì không làm!

- Họ càng đầu tư thì VN càng nhanh chóng trở thành nước sản xuất ô tô có cỡ. Không sản xuất thì lắp ráp cũng ra ô tô!

- Ờ, ờ...

- Công nghiệp ô tô VN càng lớn thì người Việt Nam càng dễ mua ô tô xài! Chịu chưa?


Chuyện biết rồi phải nghĩ

Ai cũng biết: Mục đích tốt đẹp là chưa đủ. Cần có những phương thức chính xác, rõ ràng cho từng thời điểm. Và cần điều chỉnh các phương thức ấy, cho dẫu có phải kiên quyết gạt đi một phần quyền lợi của một nhóm lợi ích cục bộ, nếu như sự điều chỉnh này là cần thiết và có lợi để đạt được mục tiêu là đảm bảo lợi ích cho số đông hơn gấp nhiều lần. Các nhà quản lý không phải là thánh, không thể đòi hỏi họ đoán biết hết mọi điều. Nhưng điều có thể đòi hỏi chính là sự dũng cảm khi cần phải điều chỉnh một chính sách quản lý. Sau bức xúc người dân và nhà quản lý phải chung nhau suy nghĩ để tìm giải pháp tốt hơn.

Kinh tế, chính trị, xã hội 12/9

, ,

1. Để những con số "giật mình" không tái diễn

Ngày 5.9, Kiểm toán Nhà nước đã công khai báo cáo kiểm toán ngân sách Nhà nước năm 2005. Đây là việc làm rất đáng hoan nghênh. Bởi ngân sách Nhà nước là tài chính công, mà đã là công thì phải công khai, minh bạch để toàn dân biết. Từ trước tới nay, nhân dân, thậm chí cả đại biểu Quốc hội thường chỉ biết những thông tin rất chung chung, rất "tròn trịa" về thu, chi ngân sách Nhà nước, chưa biết nó được kiểm toán ra sao và có vấn đề gì sau kiểm toán.


Đây luôn là câu quan trong nhất của một báo cáo kết quả kiểm toán:

về cơ bản, các doanh nghiệp đã chấp hành các quy chế quản lý tài chính, kế toán của Nhà nước…


(Và phổ biến nhất trong những bản đánh giá ở VN :D )

Hầu hết các cơ quan, đơn vị được kiểm toán đều có sai phạm, không vấn đề này thì vấn đề khác. Tức là "đụng đâu sai đó". Điều này chứng tỏ "cái gốc" làm phát sinh sai phạm là "chủ" tài sản Nhà nước vẫn chưa xác định rõ ràng, cụ thể. Chế độ ghi chép chứng từ ban đầu - một trong những công cụ trực tiếp quản lý tài sản công - chưa được nghiên cứu đầy đủ, còn sơ hở hoặc thực hiện không đúng, nhất là sự giám sát trên những chứng từ ban đầu. Quan trọng hơn là các vấn đề về thể chế tài chính, trong đó cần phải xem lại việc ngân sách Nhà nước "đổ" quá nhiều tiền vào các dự án đầu tư phát triển, làm tăng "tiền chùa", tăng "chùm khế ngọt" để A - B "trèo hái" suốt ngày.


2. TP.HCM: Tăng cường đối thoại để giải quyết dứt điểm khiếu nại, tố cáo
Cái gì mà đối thoại được thì mới giải quyết tốt được

3. TP.Hồ Chí Minh: 40% số người chết vì tai nạn giao thông ở độ tuổi dưới 20
Một con số hết sức đau lòng, khoảng 40%x30 = 12 người chết vì tai nạn giao thông/1 ngày :frown: , xót xa.

4. Đánh mất tín nhiệm, Thủ tướng Nhật từ chức
Đến bao giờ các nhà lãnh đạo VN mới làm được cái việc nhỏ nhoi nhất là "tự từ chức nhĩ ?" chắc chỉ có câu "tôi còn khỏe, còn cống hiến được cho đất nước" :frown:

5. Đội mũ bảo hiểm 15/9: Hà Nội chỉ khuyến khích, chưa phạt

Phòng CSGT Công an Hà Nội cho biết, "đây chỉ là cuộc vận động CBCC của Thành ủy Hà Nội, làm "đà" thực hiện đội mũ bảo hiểm trên mọi tuyến đường toàn quốc từ 15/12. Hiện chưa có chế tài xử phạt CBCC vi phạm".


6. VN cần lập cơ quan chuyên trách về thủ tục hành chính

ại tọa đàm trao đổi kinh nghiệm quốc tế về cải cách thủ tục hành chính (TTHC) do Văn phòng Chính phủ tổ chức hôm nay (12/9) tại Hà Nội, các đại biểu VN và nước ngoài nhấn mạnh sự cần thiết thành lập một cơ quan chuyên trách về TTHC, hoạt động độc lập.


Cái gì chuyên nghiệp nó cũng phải tốt hơn, nhưng tốt nhất là ra tòa, kiện hết ra tòa, phải có toàn hành chính đủ mạnh và có chế tài nghiêm khắc, là tốt nhất.

7. Bổ nhiệm quan chức theo tiêu chuẩn gì?

Nếu không quan tâm xử lý một cách bài bản, hệ thống, có lý luận hẳn hoi (về nhân sự và thể chế) thì bức xúc xã hội khó giải tỏa triệt để


Thật ra thể chế và nhân sự đều quan trọng như nhau. Làm một cách bài bản, có cân nhắc, theo các luận cứ khoa học thì chúng hoạt động hiệu quả... Nếu không quan tâm xử lý một cách bài bản, hệ thống, có lý luận hẳn hoi thì bức xúc xã hội khó giải tỏa triệt để, bất bình đẳng thu nhập, chênh lệch giàu nghèo tăng nhanh. Khi đó, chi phí để xử lý vấn đề sẽ rất lớn, tổn thất xã hội sẽ cao khó lường


Một bộ máy NN hoạt động hoàn toàn không hiệu quả, ai cũng thấy mà không làm được gì :eek:
Có giải pháp tốt cũng không được chấp thuận. Nghe mà buồn cười :D

Một ngày bình thường như bao ngày khác. Giải trí chút xíu nào

Triết lý ly cà phê Starbucks: Rót cả tâm hồn vào đáy cốc...

, , , ...

Đọc bài này trên blog Quantridoanhnghiep's blog, thấy hay quá, tìm về nguồn của nó ở site www.khoahoc.net, thấy tác giả yêu cầu nếu phát hành lại phải xin ý kiến của tác giả. Nhân đây mình xin trích những ý chính của bài báo mà mình lĩnh hội được, còn đâu ai muốn đọc đầy đủ hơn, tìm đến đường Link bài báo ở cuối bài.

Dân Mỹ càng ngày càng có khuynh hướng biến ý nghĩa hai chữ triết lý (philosophy) thành ra lối sống hay lối hành xử trong cuộc sống (lifestyle). Nếu cần uống một tách cà phê, chọn một chữ dễ hiểu thay cho chữ rắc rối để giúp mình thư giãn thì e cũng nên làm. Triết lý ly cà phê Starbucks!



Starbucks là ai mà ghê gớm thế? Hắn có tài ba gì mà dám nhổ bật gốc cái “hương đồng cỏ nội” đã định hình bản sắc dân tộc trong ta?

Về mặt hình tướng, hắn chẳng có gì ghê gớm cả. Chỉ là cái quán cà phê nhỏ nhắn, nép mình khiêm tốn bên góc của một khu thương mãi mới xây. Có khi hắn thu mình gọn lỏn trong một phòng xép tại một trung tâm kinh doanh nổi tiếng lẫy lừng và lâu đời nhất của một thành phố lớn nhất nhì thế giới. Nhiều nơi, hắn cũng chỉ là cái sạp cà phê (coffee stand) đứng nép mình khiêm tốn trong một siêu thị sang trọng hay trong một nhà sách tư nhân lớn như một thư viện trung ương mang tên Barn & Noble. Hắn là một tên khổng lồ kinh tế đang chu du khắp thiên hạ dưới dạng một gã bán buôn lãng tử bình dân; một loại siêu sao bên hè phố.


Đạo quân kinh tế của Starbucks hiện đang có mặt trên khắp 50 tiểu bang của Mỹ với hơn 8.600 cửa hàng nhộn nhịp suốt ngày. Tổng số Starbucks, hiện đang có khoảng 12.000 cửa hàng cà phê trên toàn thế giới với 125.000 nhân viên phục vụ và doanh thu hơn 6 tỉ đô la hàng năm. Công ty này đề ra mục tiêu là sẽ có 40.000 tiệm cà phê của họ trên toàn thế giới. Họ dự kiến vào năm 2007 sẽ mở vào khoảng 2.400 cửa hàng mới; nghĩa là cứ thuận đà mỗi ngày sẽ có 6 tiệm cà phê Starbucks mới tà tà mọc lên đâu đó[1].


Càng ngày, tôi càng khám phá ra rằng, người ta mê, bất cứ mê gì, cũng đều phải trải qua một quá trình thẩm định phức tạp. Đơn giản như trường hợp người mê cơm hến Huế. Người ta mê không phải chỉ vì con Hến Cồn thanh nhã hay vì hương vị của các loại rau nồng nàn níu gọi mà mê vì tổng hợp hương vị của quán cơm hến. Dĩ nhiên, phải tính luôn cả sự hấp dẫn của cái áo dài vá vai và cả cái nếm tỉnh queo ngon ơ của o chủ gánh cơm hến trước khi chìa tô cơm hến cho khách nữa chớ(!)


Câu hỏi then chốt đặt ra ở đây là: “Những nét đặc biệt gì và những phẩm chất nào đã làm cho Starbucks trở thành một ‘anh hùng hè phố’ tại Mỹ cũng như tại một số nước có nền kỹ nghệ và thương mãi tiên tiến như hiện nay?”


...Có 4 yếu tố mà nhiều người cho là quan trọng nhất để tạo sức bật trong sinh hoạt kinh tế là:
(1) Tính quần chúng,
(2) tính sáng tạo độc đáo,
(3) năng lực quảng cáo tiếp thị và
(4) sức mạnh tổ chức nội bộ.


...Thurmond trích dẫn lời của ông chủ và đồng thời cũng là người sáng lập Starbucks, Howard Schultz, đã “cáo yết” trước quần chúng rằng: “Chúng tôi không ở trong tư thế của tầng lớp kinh doanh cà phê mà ở về phía khách hàng uống cà phê.” Nghĩa là ông ta muốn xác định rằng ông ta và 12 vạn quân Starbucks thật sự đứng về phía “quần chúng nhân dân” hay đồng nghĩa với sự làm giàu công khai trên thương trường với sự hưởng ứng nồng nhiệt và tiếp tay đắc lực của khách hàng.

Kristy Thurmond bảo vệ cho nhận định của bà bằng cách dẫn chứng những việc làm cụ thể của Starbucks qua các bài nhận định và phân tích trên Moneyline.

Thông qua mạng lưới truyền thông đại chúng và thông tin điện tử của chính Starbucks (www. Starbucks.com) và các đối thủ đang ráo riết cạnh tranh; cũng như qua quan sát và kinh nghiệm tiếp cận thường xuyên của khách hàng, người ta có thể dễ dàng nhận ra 3 đặc tính trội bật của Starbucks như sau:

- Về hình thức, hầu hết mọi quán cà phê Starbucks đều xuất hiện một cách khiêm tốn và bình dân. Từ mầu sắc các bức tường đến cách thiết kế trần nhà, ghế ngồi, quầy hàng có một nét độc đáo riêng. Sự thiết trí là cả một nghệ thuật hài hòa, cố dấu vẻ quý phái giàu có; đồng thời cũng giàu chất văn hóa dưới một dáng vẻ “lùi xùi”, cởi mở như đang dang tay chào đón khách hàng. Khách vào uống cà phê hay sắp hàng mua cà phê Starbucks mang đi, tuy đủ mọi hạng người và mọi tầng lớp, giai cấp xã hội, nhưng hầu như mọi người đều cảm nhận được bầu không khí ấm cúng, thân hữu và không phân biệt khi bước vào bất cứ một quán cà phê Starbucks nào. Thử bất chợt ghé một trong hàng trăm quán cà phê Starbucks vào một buổi sáng mùa Thu tại thành phố Sacramento, tiểu bang California như tôi đang làm trong phút viết những dòng nầy. Xa xa ngoài sân là mùa Thu Cali và lá vàng đang rụng. Bên ngoài hiên, sau lớp tường kính là một bàn cà phê với những người mặc đồ lớn vừa nhâm nhi cà phê vừa thảo luận về một đồ án gì đó đang trải rộng trên bàn. Bàn bên cạnh phía góc hành lang là một gã vô gia cư (homeless) râu ria xồm xoàm vừa uống cà phê, vừa hút thuốc nhàn nhã với ba lô quần áo, mền chiếu gia sản đặt bên cạnh. Trong cửa hàng cà phê, bàn ghế bộ tròn, bộ vuông, bộ xa lông… một bà cụ già chẳng ngó ngàng gì ly cà phê (có lẽ đã nguội) trước mặt, chăm chú đan thêu. Bên cạnh một ông cụ già vừa hớp từng ngụm cà phê, vừa nói chuyện rì rầm với bà cụ. Bàn trong góc, cô sinh viên (?) đang lặng lẽ làm việc trên chiếc máy vi tính xách tay. Bàn bên phải mấy cô cậu trẻ vừa khuấy ly cà phê của mình vừa cười nói hồn nhiên một lát rồi yên lặng chăm chú vào công việc của mình như những người xung quanh. Trước quầy, khách vẫn sắp hàng, đến và đi không ngớt. Dàn âm thanh trên trần vẫn liên tục phát ra điệu nhạc jazz nhẹ. Bây giờ đã 11 giờ trưa, sáng thứ hai. Ngày đầu tuần, mọi người đều tất bật làm việc thế mà chẳng có ai quan tâm hay thắc mắc nhìn nhau hay tự hỏi là gần giờ ăn trưa rồi mà vẫn có những người còn nhâm nhi ly cà phê một cách nhàn hạ đến như thế. Hay vẫn có ngưới sắp hàng đứng chờ mua cà phê. Thật là một khung cảnh “văn hóa cà phê” không hợp với nếp sống tất bật của xứ nầy mà người thích quan sát nhưng nếu lại làm biếng phân tích như tôi chỉ chỉ có thể gọi là “một không gian nội tâm Starbucks!”

- Vị trí của các quán cà phê Starbucks tại những khu thương mãi đồ sộ, mới xây cất tại Mỹ là một kinh nghiệm quý báu về “tính quần chúng” cho các nhà kinh doanh. Starbucks thường nằm ở một vị trí rất khiêm tốn trong toàn khu thương mãi; phần lớn nằm ở vị trí của một góc nào đó. Nhỏ nhắn, không trang trí màu mè, nhưng sự xuất hiện của Starbuck lại rất bắt mắt và nổi bật trong một khu thương mãi có nhiều cửa hàng sang trọng, được kiến trúc tân kỳ và mỹ thuật. Người ta sẽ ngạc nhiên một cách đầy thích thú và thán phục khi biết rằng, những nhà chủ thầu kinh doanh xây dựng (developer) thường gọi mời Starbucks đầu tiên trong số những cửa hàng tương lai trong khu thương mãi. Thế nhưng cách chọn vị trí tại những góc rất khiêm tốn trong toàn cảnh giữa trung tâm thương mãi chứng tỏ bản lĩnh cao cường của tập đoàn kinh doanh Starbucks về các mặt tâm lý, kỹ thuật, mỹ thuật và văn hóa. Xây dựng được một nhãn quan “chiêu khách” đầy sáng tạo và tinh tế là chiếc đũa vàng của thành công trong bối cảnh kinh tế thị trường mang tính toàn cầu trong thời đại mới.

- Tính quần chúng chiêu khách của Starbucks còn được thể hiện trên các sản phẩm “cà phê” dành cho phụ nữ và trẻ em không bao giờ uống cà phê. Bởi vậy, từ dân ghiền cà phê nhà nòi đến các tay uống cà phê tơ lơ mơ đều kiếm được một ly cà phê hợp với trình độ và khẩu vị thưởng thức cà phê của mình. Do đó, cà phê Starbucks tại Mỹ đang trở thành một dấu hiệu tượng trưng về sự “sành điệu” của khách thích uống cà phê và thích ngồi quán cà phê. Nhóm đầu não của Starbucks gần đây còn đề ra tham vọng là sẽ biến quán cà phê Starbucks thành nơi gặp gỡ của tuổi trẻ. Họ hy vọng những danh từ đường phố chết người của loài ma túy như “rock”, “speed”, “weed”, “crack” sẽ được thay bằng những danh từ quen thuộc của các loại cà phê, trà… chế biến trong các quán cà phê Starbucks “siêu sao bên hè phố”.

- Và, nét đặc trưng nhất của Starbucks là tính nhân bản hay nói một cách nôm na hơn là tình người. Hơn một nửa trong tổng số 125 nghìn nhân viên của Starbucks làm việc bán thời gian. Nhưng chỉ cần làm việc 20 giờ mỗi tuần trở lên (toàn thời gian theo luật lao động quốc tế là 40 giờ) thì người làm cho Starbucks đã hưởng được bảo hiểm sức khỏe và quy chế an sinh, phúc lợi xã hội căn bản. Chủ nhân Starbucks đã hãnh diện tuyên bố rằng, tiền mua bảo hiểm sức khoẻ cho nhân viên còn nhiều hơn là tiền mua cà phê từ châu Mỹ, châu Á, châu Phi để cung cấp cho toàn bộ hệ thống Starbucks.


Đáng lẽ tôi chấm dứt bài viết về cà phê Starbuck nầy ngang đây. Nhưng nhìn lên bàn viết, tôi thấy hộp cà phê Trung Nguyên do một người bạn vừa về thăm quê nhà trở qua gởi tặng. Hộp cà phê xinh xắn từ quê hương yêu dấu vẫn còn nằm nguyên. Trong dáng vẻ trầm tư phương Đông ấy, hộp cà phê Trung Nguyên đang nói gì với tôi?

Tôi chưa uống thử sản phẩm cà phê Trung Nguyên và chưa được bước chân vào một quán cà phê Trung Nguyên tại quê nhà nên chưa nghe em cà phê lên tiếng nói. Trước khi em tự giới thiệu mình bằng chính hương vị của em, có lẽ tôi muốn nói với em một đôi điều trước đã.

***

Quan điểm truyền thống “nhất bản vạn lợi” hay “một vốn bốn lời” trong quan niệm thương mãi truyền thống của Trung Hoa và xứ ta đã trở thành sự mơ mộng hoang tưởng trong thời đại mới. Mỗi năm, như trong năm 2005 chẳng hạn, doanh thu của hệ thống Starbucks là 6.3 tỷ đô la Mỹ, nhưng thu nhập ròng (net income) chỉ còn lại là 494 triệu (7.8%). Nghĩa là nếu cả vốn lẫn lời thu vào được 100 đồng thì chỉ kiếm được chưa tới 8 đồng bỏ túi. Thế mà Starbucks được xem là ngôi sao thành công rực rỡ giữa thị trường thế giới. Không ít những công ty Mỹ có tầm cỡ quốc tế bị phá sản, khai báo khánh tận (bankruptcy) và phải đóng cửa trong năm qua. Bởi thế, quả là không đại ngôn hay cường điệu tùy hứng khi cho rằng: Thương trường cũng là chiến trường đầy bão liệt trong lĩnh vực kinh tế. Việt Nam gia nhập WTO là trực tiếp tham gia một “mặt trận” – không phải là mặt trận của máu xương mà là chiến trường của bản lĩnh kết hợp với chất xám của con người!

Việt Nam, WTO và kỳ vọng mới.

Bước sang thế kỷ 21, sự chuyển mình theo khuynh hướng toàn cầu hóa trong kỹ thuật, thông tin, thương mãi tiến nhanh theo một tốc độ chóng mặt. Trong dòng chuyển ào ạt về kinh tế từ Đông sang Tây, Starbucks nổi bật như một lực sĩ chạy đường dài vừa nhanh vừa khéo, vừa gần gũi giữa đám đông mà ai cũng có thể thấy được. Tôi nói đến Starbucks như một cách hình tượng hóa sự cạnh tranh trong thương trường nóng bỏng để sống còn, vươn lên và chiếm lĩnh. Thế nhưng trong cái chung tự nhiên và lạnh lùng mạnh được yếu thua giữa chiến trường kinh tế, một thế lực tranh đua lành mạnh và tích cực vẫn có thể cùng lúc kết hợp hài hòa giữa tính lợi nhuận, tính sáng tạo, tính văn hóa và tính nhân bản.

Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO (Tổ Chức Thương Mãi Quốc Tế -World Trade Organization) có vẻ như đang hâm nóng niềm hy vọng vào một tương lai kinh tế tươi sáng cho Việt Nam. Người giàu hy vọng sẽ giàu thêm; người nghèo khấp khởi mừng mình sẽ bớt khổ.

Sự thật thì WTO chỉ là một cơ hội lớn hơn đóng vai một bến cảng cho những con tàu kinh tế ra khơi có trang bị hải đồ và phương hướng. Nhưng việc tàu có đến được bến bờ mong muốn hay không còn đòi hỏi phải có thuyền trưởng và thủy thủ giỏi, máy móc tốt, nhiên liệu đầy đủ. Thuyền chìm vì đơn độc lạc hướng hay vì tàu không trang bị sức người và sức của thích hợp thì cũng đều chung số phận nguy khốn như nhau mà thôi.

Trong số 149 nước đã gia nhập WTO từ 10 năm qua có những nước nghèo, không chuẩn bị hay không có đủ tài nguyên, sức người, sức của… thì WTO chỉ làm cho nền kinh tế nước đó – ngỡ như phong phú hơn trên bề mặt nổi vì hàng hóa nhập cảng gia tăng – nhưng cán cân mậu dịch quốc gia thâm thủng một cách thảm hại.

Thử quan sát hiện trạng của một số nước nghèo đã vào WTO như Angola (1996), Gambia (1996), Botswana (1995), Cambodia (2004)… người ta sẽ thấy các nước nầy phải mở cửa cho các mặt hàng của những nước giàu tuôn vào nước họ không có chỉ tiêu, không bị khống chế nhiều bởi hàng rào quan thuế. Nhưng bù lại, họ chẳng có gì nhiều để bán ra thị trường thế giới ngoài việc bán sức lao động trong các xưởng may mặc, chế tạo các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp với tiền lương mỗi ngày chỉ được một vài đô la Mỹ. Trong khi đó họ phải mua những mặt hàng kỹ thuật cao cấp mà công nhân các nước giàu kiếm trung bình hàng trăm đô la Mỹ mỗi ngày. Đã có sự so sánh tội nghiệp rằng, một trăm người Gambia may gia công trong một tháng thì sản phẩm áo quần bán ra có giá trị tài chánh trao đổi giữa thị trường chưa bằng một giờ sản xuất của một chuyên viên chế tạo “chips” trang bị trong hệ thống điện tử cao cấp tại các nước Âu Mỹ giàu có.

Như người bạn láng giềng Campuchia của chúng ta chẳng hạn. Từ ngày gia nhập WTO vào năm 2004, kinh tế chưa thấy lên về mặt nào cả mà đã thấy xuống trong nhiều lĩnh vực. Trước hết là mức độ thâm thủng mậu dịch tăng 12% trong năm đầu làm bạn với WTO (2005) . Với mức độ thu nhập bình quân đầu người trên toàn quốc chưa tới 1 đô la Mỹ mỗi ngày, trong lúc tất cả sách báo, trang thiết bị điện tử, những hàng CD, VCD, các chương trình vi tính đều phải theo đúng luật lệ bản quyền (copy rights) quốc tế… Hậu quả trực tiếp là giới trẻ và ngành giáo dục vốn đã khó khăn trong vấn đề tiếp cận với mạng lưới truyền thông, thông tin quốc tế càng trở nên khó khăn và tụt hậu xa hơn vì sự mất cân đối giữa cung và cầu; giữa khả năng mua sắm quá thấp và giá hàng nhập cảng quá cao[3].

So với các nước chưa phát huy được sức mạnh WTO kể trên, Việt Nam có một vị thế khác hẳn. Với đà tăng trưởng kinh tế nhanh hàng thứ nhì trong vùng (chỉ sau Trung Quốc) và mức độ doanh thu đang ở thế tích cực (xuất cảng sang Hoa Kỳ 5.7 tỷ đô la và nhập cảng chỉ 724 triệu) Việt Nam có hy vọng sẽ ở nửa phần trên trong 4 nấc thang chạy đường dài của WTO:

- 1. Thắng, dựa vào WTO như một đòn bẩy kinh tế giúp dân giàu, nước mạnh.

- 2. Lợi, WTO giúp cải thiện và nâng cao chất lượng, phương pháp quản lý thị trường.

- 3. Bình, chẳng có lợi mà cũng chẳng có hại gì sau khi gia nhập WTO.

- 4. Thua, thâm thủng mậu dịch và khủng hoảng quản lý thị trường trước tác động của hàng hóa và văn hóa ngoại nhập dưới cán dù của WTO.

Kinh tế thị trường giữa thế kỷ 20, 21 không có phép lạ nào ngoài chính bàn tay và trí tuệ của con người làm nên cuộc sống.

Rồi đây, Việt Nam sẽ lần lượt gia nhập những tổ chức kinh tế, tài chánh, thương mãi của thế giới. Và, hẳn nhiên là chẳng có một cơ sở nào “bất chiến tự nhiên thành” như chuyện thần tiên giả tưởng cả.

Trước mắt, có ba vế: Việt Nam, WTO và Kỳ Vọng Mới. Đấy là một hình ảnh đầy khích lệ của cơ hội lẫn thách thức. Hay nói theo chữ nghĩa Phật giáo thì đây là một hợp duyên tương tác, tương sinh. Sự chọn lựa nào cũng kéo theo những ràng buộc và khó khăn riêng của nó. Ngày Việt Nam “tương tác” với cộng đồng thương mãi thế giới thì cũng là ngày Việt Nam phải chuẩn bị sẵn sàng để vươn tới gần với những tiêu chí “tương sinh” nhân bản toàn cầu: Ấm no, tự do, dân chủ và hạnh phúc thật sự.


Nguồn:
http://www.khoahoc.net/baivo/trankiemdoan/231106-trietlycaphestarbuck.htm
Trần Kiêm Đoàn
San Antonio, TX, tháng 11-06
Email: Doantran@sbcglobal.net
www.Trankiemdoan.net
[1] www.starbucks.com
[2] Howard Schultz. Herperion, 1998
[3] Theo Samnang Chea, trưởng ban nghiên cứu kinh tế của Economic Institute và Hach Sok, giám đốc Economic Institute của Cambodia (WTO on line, Nov. 2006)
November 2009
M T W T F S S
October 2009December 2009
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28 29
30