Việt Nam - Ngươi đang ở đâu và sẽ đi đến đâu? (Kỳ 100)
Thursday, 12. June 2008, 17:04:40
Hai ngày quốc tang: 14-15/6
Một trái tim lớn đã ngừng đập
http://www.tuanvietnam.net//vn/nhanvattrongngay/3985/index.aspx
Không sao tin được trái tim lớn ấy lại có thể ngừng đập vào lúc mà dân tộc, đất nước, nhân dân, Đảng mong chờ và đòi hỏi ở Anh; và cả tuổi trẻ Việt Nam gửi gắm niềm tin vào con người tuy đã 86 tuổi mà vẫn rất trẻ trong tình cảm và tư tưởng, trong hành động và ước mơ. Vậy mà con người ấy đã đột ngột ra đi...
Thế kỷ XXI với những biến động dữ dội không sao lường hết trên hành tinh chúng ta đang sống. Đó cũng chính là lúc mà trí tuệ và cảm xúc của con người cũng theo tốc độ của khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ vượt bậc mà lịch sử chưa từng biết đến.
Nhưng cũng chính vào lúc ấy, một sự thật oái oăm và nghiệt ngã đã xảy ra... Tin đồng chí Sáu Dân qua đời gây chấn động mạnh trong tâm tư, tình cảm của biết bao người thầm mong mỏi, vững tin vào vận nước.
Có biết bao người đang thiết tha gửi gắm niềm tin và khát vọng vào con người ấy - một trái tim, một khối óc, một bản lĩnh nổi trội trong những trái tim và bộ óc của một thế hệ; con người đã được tôi luyện trong ngọn lửa cách mạng, kháng chiến và Đổi Mới để rồi thật sự tỉnh táo và bản lĩnh trong hội nhập và phát triển của đất nước.
Sau những phút giây lạnh người với tin dữ, sau những thương cảm trào dâng tưởng chừng khó mà viết được gì khi nước mắt nhòe mặt kính, hình ảnh lớn của con người ấy cứ như mỉm cười nhắc nhở: đừng ủy mị chỉ biết sụt sùi thương cảm, hãy làm một cái gì đó cho đất nước, cho nhân dân.
***
Khi chia tay chuẩn bị lên đường đi Hà Lan, để rồi đến phút cuối lại phải đi cấp cứu, ông vẫn nói rõ dự định, mà giờ phút này có thể nói, đó là dự định dang dở cuối cùng: “Thử học hỏi kinh nghiệm về chống nước biển dâng tại nơi mà bao thế kỷ nay người ta đã có biết bao tri thức, công nghệ và bản lĩnh sống dưới mực nước biển, đây là nơi số một cần phải tìm đến vào lúc này”.
Ông Sáu Dân vừa cười vừa nói đùa “không được nản, nghe chưa”. Ấy là ông muốn nhắc nhở điều mà ông thường nhắc nhở “thua keo này phải bày keo khác, cứ phải tin rằng, dân tộc sẽ thắng, Đảng của chúng ta sẽ thắng”.
Niềm tin mãnh liệt ấy của ông đã truyền một sức mạnh bất tận cho những ai có dịp được ông tiếp sức.
Có một chuyện ông nói đùa song nội dung thì thật nghiêm túc: “Tôi sẵn sàng ký gửi tấm thẻ Đảng của tôi cho các anh giữ, kể cả những huân chương, huy chương mà Đảng và Nhà nước đã trao cho tôi, các anh cũng có thể xem là vật ký cược cho điều mà tôi đang làm, đang đề nghị, đang giới thiệu mà tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm”.
Con người ấy từng được tôi luyện trong ngọn lửa của “Nam kỳ khởi nghĩa” năm 1940, qua thử thách khốc liệt của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đến từ mọi hướng, qua những suy tư dằn vặt để dám chịu trách nhiệm về những sáng tạo trong cách nghĩ và cách làm của một trong những người đi đầu của công cuộc Đổi mới.
Con người ấy, cho đến khi đột ngột ra đi, vẫn trước sau như một, là con người hết lòng vì sự nghiệp của dân tộc, của Đảng, tuyệt đối trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh nên đã học theo bản lĩnh và sự kiên trì thuyết phục của Hồ Chí Minh để không chút mệt mỏi, ngừng nghỉ phấn đấu cho mục tiêu chân chính trước mắt cũng như lâu dài của đất nước.
Mục tiêu trước mắt và lâu dài ấy được đúc kết qua trải nghiệm một người chiến sĩ cách mạng biết vượt lên chính mình, biết và dám học hỏi quần chúng, đặc biệt là biết lắng nghe và dám nghe những ý kiến trái tai của những người dám có chính kiến.
Võ Văn Kiệt đúng là người có "con mắt xanh" khi nhận ra thời điểm cần phải tập trung đưa sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc lên một tầm vóc mới, đáp ứng được đòi hỏi của dân tộc trong vận hội mới của đất nước, trong thời cơ mới của hội nhập quốc tế với bối cảnh thời đại thế kỷ XX bước sang thế kỷ XXI.
Ông không mệt mỏi, kiên trì thuyết phục và tự mình làm gương cho việc chăm chút vun đắp sự nghiệp cao cả ấy từ những ý tưởng táo bạo được nhiều tờ báo có uy tín quốc tế xem là những “ý tưởng cách tân mang tầm cỡ thời đại”, đến việc làm cụ thể sẵn sàng tiếp và đối thoại thẳng thắn với bất kỳ cá nhân nào bày tỏ tấm lòng yêu nước theo cách của họ.
Có lẽ vì thế chăng mà ngày 11/6/2008, khi trong nước chưa đưa tin, thì các các hãng truyền thông lớn của thế giới như BBC, AP đã nhanh chóng bình luận và trang trọng đưa những bức ảnh của nhân vật chính trị mà họ đánh giá rất cao.
BBC bình luận: Trong một phỏng vấn hiếm hoi với BBC, ông Kiệt nói:
"Tổ quốc là của mình, dân tộc là của mình, quốc gia là của mình, Việt Nam là của mình, chứ không phải là của riêng của người cộng sản hay của bất cứ tôn giáo hay phe phái nào cả". Ông cũng kêu gọi đối thoại với những người bất đồng chính kiến.
Có phải vì thế chăng mà trong điện thoại hỏi tin, một trí thức yêu nước ở Mỹ vừa được ông hai lần nói chuyện vào đầu tháng 5 vừa qua đã nghẹn ngào mãi mới thốt lên “rồi đây chúng tôi biết nói chuyện với ai đây?!”.
Có lẽ, nếu nghe được lời nói chân tình ấy, ông Sáu sẽ tủm tỉm cười như mọi bận: “Đất nước này là của những người cùng một tấm lòng yêu nước như chúng ta, sẽ còn biết bao người sẵn sàng nghe các anh” .
***
Ông gần gũi với giới trí thức, thật lòng lắng nghe họ, khuyến khích họ thẳng thắn nói hết những nhận xét của họ cho dù là gay gắt, thậm chí không dấu được sự phẫn nộ.
Trong một bữa cơm thân mật ở nhà con gái ông vào hồi tháng Tư vừa rồi, cách nói chuyện của ông cũng như lối ứng xử của ông không chút phân biệt giữa một giáo sư sử học vừa ở Mỹ về đến thăm ông, một giáo sư kinh tế - người ngoài đảng vừa hoàn thành một công trình nghiên cứu kinh tế mà ông nhận viết lời giới thiệu, một ông Viện trưởng một Viện Nghiên cứu tư nhân vừa mới thành lập mà ông hết lòng cổ vũ, một nhà thơ từng có những câu thơ nổi tiếng là “ngang ngạnh” dám nói “rất ngang” với ông, khiến cho bữa cơm mang đầy đủ không khí cởi mở, thoải mái của đúng “một bữa nhậu lai rai”.
“Bữa nhậu lai rai” là lời của ông Sáu Dân khi yêu cầu con gái ông tiếp thêm món nhậu mà bớt đi những đĩa cơm. Ấy thế mà lắng nghe kỹ thì dư âm của bữa nhậu ấy lại tràn đầy ý tưởng phải làm một cái gì cho đất nước, để vuột mất cơ hội là lỗi của tất cả chứ không của riêng ai. Ông đã truyền niềm tin và sức mạnh của ông cho mọi người “lai rai” cùng ông!
Với ông, tập hợp cho được trí tuệ và đóng góp của giới trí thức trong ngoài nước lúc này phải là một đột phá nhằm khởi động một sức mạnh mới của đất nước. Theo ông, đây phải là một ý tưởng cần chiếm lĩnh trong tư duy của những người đang gánh trên vai mình trọng trách của đất nước.
***
Với một năng khiếu trời phú, Võ Văn Kiệt có sự nhạy cảm với vai trò của người trí thức và hết lòng tôn trọng sự đóng góp của họ. Ngay khi còn là phó bí thư Tỉnh ủy một tỉnh năm 1947, ông thà chịu kỷ luật của tổ chức chứ không đồng ý gạt bỏ chức trách bí thư vốn xuất thân là một trí thức để ông thay thế vào vị trí ấy, vì ông chính là một người cố nông đúng với nghĩa đen của nó.
Và trong sâu thẳm tình cảm của con người xuất thân từ nông dân nghèo khổ ấy, ông viết với tất cả tấm lòng mình “không thể để thân phận người nông dân bị gạt ra ngoài rìa của của sự phát triển” vừa đăng trên báo ít lâu.
Chuyến đi dài của ông dọc các tỉnh Miền Trung vừa rồi là để tận mắt nhìn thấy những mất mát mà người dân, trước hết là nông dân phải gánh chịu cùng với cách xử lý của các cấp Đảng và chính quyền sau những thiên tai dữ dội giáng xuống khúc ruột của đất nước. Đi về, ông bắt tay vào viết ngay những bài báo nói trên.
Ông nhiều lần nhắc nhở các nhà xã hội học phải điều tra ngay cuộc sống của công nhân ở những xóm lao động, ở những khu nhà trọ với tất cả những vấn nạn mà họ đang gánh chịu.
Có lần ông không dấu được phẫn nộ khi nghe nói rằng: “Có khi những tình cảnh mà người lao động phải bán sức lao động rẻ mạt với đồng lương không đủ sống còn thê thảm hơn điều mà Ph.Ăngghen miêu tả trong tác phẩn từng được gọi là kinh điển “Tình cảnh giai cấp công nhân Anh ”.
Ông dằn giọng, “thế thì sao anh không viết đi. Chỉ phê phán, than vãn suông thì ích gì?
Chính vì thề, ông đặc biệt quan tâm đến cách làm việc của cấp ủy và chính quyền địa phương.
Có lần trong một chuyến đi khảo sát ở Lâm Đồng, sau suốt buổi sáng đi thăm nhiều cơ sở sản xuất, do đường vào xã quá gồ ghề khiến chiếc xe xóc dựng, người bảo vệ phải quài tay giữ chặt lấy ông, thế mà sau bữa trưa, ông kiên quyết không đồng ý với bố trí nhằm dành để ông nghỉ trưa chút đỉnh mà hủy cuộc gặp huyện ủy và ủy ban huyện.
“Làm sao đã đến được đây mà chỉ ăn cơm rồi về. Tôi đâu phải khách mời của các anh. Tôi đi để gặp anh em mình ở cơ sở”, ông chân tình nói với đồng chí Chủ tịch tỉnh.
Ông cũng không đồng ý chỉ gặp Bí thư và Chủ tịch huyện tại phòng làm việc của Bí thư huyện có ghế bành, để ông ngồi thoải mái. Ông dành trọn buổi chiều tại phòng họp nghe huyện ủy và ủy ban báo cáo tình hình, hỏi tỉ mỉ từng việc rồi thẳng thắn góp nhiều ý kiến cụ thể.
Ông ôm chặt cả Bí thư và Chủ tịch trong vòng tay thân thiết và thân mật dặn “tụi bây phải thật gần dân, lắng nghe dân, tiếp thu ý kiến đóng góp của bà con các dân tộc”.
Cũng vẫn ứng xử như vậy, trong một chuyến đi thăm Bình Định, giữa trưa đứng bóng, sau chuyến đi thẳng từ Dung Quất vào. Mặc cho bác sĩ đi kèm nhăn nhó cự nự với bí thư tỉnh, ông cười cười gạt đi. Vẫn cứ đầu trần, để người cầm ô “thất nghiệp”, ông ra thẳng công trường đang thi công chiếc cầu, mà theo Bình Định là dài nhất nước, để động viên công nhân và nhận lời trao giải thưởng cho đơn vị xuất sắc.
Ông dí dỏm hỏi Bí thư tỉnh - bây giờ là Bộ trưởng Giao thông Vận tải: “Liệu giữa cầu có chú ý thi công chỗ đứng hóng mát cho tụi trẻ ra đây ngắm cảnh và hò hẹn không. Cảnh trí tuyệt vời này mà quên mất điều đó thì phí quá ”!
***
Trong trái tim lớn mà nhịp đập dành cho vận mệnh của đất nước, vẫn đủ chỗ cho những cảm xúc rất nhân văn. Có lẽ vì thế mà Võ Văn Kiệt có rất nhiều người bạn là những Hai Lúa ở miệt vườn đồng bằng sông Cửu Long cũng như những bà con người Dao ở thung lũng Điện Biên tít tắp vùng Lai Châu - Tây Bắc phải chuyển cư ra khỏi vùng đất màu mỡ để dành cho việc xây dựng thành phố hiện đại.
Những bà con dân tộc ấy đã kết nghĩa anh em với ông Sáu Dân. Họ nhận ông làm xã viên danh dự của họ, điều mà ông vẫn thường tự hào nhắc đến, và tiếc cho trong dịp vừa rồi, ông chưa có dịp lên thăm lại những người bà con thân thiết mà ông luôn nhớ họ.
Ông cũng sẵn sàng nhận một lời mời về bữa nhậu ngẫu hứng của cánh nhà văn và nghệ sĩ quen biết, bỏ bữa cơm nhà để sau 30 phút đã có mặt “để anh em khỏi sốt ruột”, ông vừa ngồi xuống vừa nói.
Nhưng, ông cũng lại hết sức chu đáo và nghiêm túc chỉ thị chuẩn bị cho một bữa cơm thân mật để tiếp mấy trí thức Việt Kiều sao cho thân mật đơn giản, nhưng lịch sự và tế nhị.
Trong bữa cơm ông mời anh em trí thức Hà Nội trong dịp ông ra công tác, ông không quên nhắc phải chuẩn bị một suất ăn kiêng cho một người có mặt trong bữa cơm đạm bạc ấy.
Ông rất hào hứng và thú vị đến với thế hệ trẻ vì ông tin ở trí tuệ, bản lĩnh và sức mạnh của họ, đó là lý do ông hay về thăm và viết bài cho các tờ báo nhiều độc giả trẻ tìm đọc.
Trong trái tim lớn ấy có đủ chỗ cho những tấm lòng thiết tha vì vận mệnh của đất nước, từ những người cộng sản trung kiên và trong sáng mà ông hết mực tin cậy và chia sẻ, cho đến những trí thức ngoài nước mà ông chỉ gặp qua bức thư tâm huyết trình bày ý tưởng của họ, cùng với biết bao những người Việt Nam tin vào vận nước đã tìm đến ông, và ông hết lòng chia sẻ.
Cũng đã có những người đã giữ những trọng trách trong chế độ cũ nay thành tâm muốn đóng góp cho đất nước, ông đã tìm cách cảm thông, động viên, dám bỏ qua những nghi ngờ định kiến thiếu thiện chí, để có thể hướng những đóng góp của họ vào sự nghiệp chung không của riêng ai.
Dân Sài Gòn đã nói nhiều đến chuyện này với sự khâm phục và tin cậy, họ biết là ông đã phải vượt qua những thử thách như thế nào, và cuộc sống đã chứng minh rằng ông đúng.
Vì quả thật, thời đại mà chúng ta đang sống là thời đại của những chuyển động khó lường và những đột biến cũng không sao có thể hình dung trước được mà không phải ai cũng đủ khả năng nhìn ra được quy luật về sự vận động của nó.
Khi mà những con người cụ thể không phân biệt quốc tịch và màu da bước từ tàu vũ trụ ra ngoài không gian, chập chững những bước đi khám phá nhằm khắc phục sự hạn hẹp của quả đất - “ngôi làng toàn cầu”- đã quá chật chội. Rồi lúc con tàu vũ trụ đáp xuống Sao Hỏa, mở ra một chân trời mới, để cho những ai chần chừ, còn tin rằng tương lai chỉ sẽ là sự tiếp tục đơn giản của quá khứ, sẽ sớm thấy mình bị hụt hẫng trước sự thay đổi.
Họ buộc phải suy nghĩ lại, sẽ đi đến đâu và bằng cách nào đi đến đó, khi mà có lẽ đã quá muộn để tránh được điều không thể tránh khỏi.
Nhưng khi những điều ấy xảy ra, thì oái oăm thay, điều không thể tránh khỏi trước tiên vào lúc này, lại là nỗi đau nhân thế mà chúng ta phải nhận lĩnh: Trái tim lớn của con người đã từng cống hiến hết sức mình và để lại dấu ấn đậm nét vào lịch sử, đặc biệt là giai đoạn Đổi Mới với những quyết sách táo bạo và đầy trách nhiệm của một vị Thủ tướng dám ra quyết định và chịu trách nhiệm về những quyết định của mình, đã ngừng đập.
Nhưng chính vì trái tim lớn ấy đã biết dành trọn vẹn cho Đảng của Hồ Chí Minh, cho sự nghiệp bất tử của dân tộc, trái tim ấy dành cho vận mệnh của đất nước, luôn đập trong nhịp đập mạnh mẽ của khối đại đoàn kết dân tộc, vào lúc mà nhân dân không cho phép để vuột mất vận hội của đất nước; cho nên, trái tim ấy tuy ngừng đập trong cơ thể của một con người, song nhịp đập của nó lại mãnh liệt và không phút giây ngừng nghỉ trong trái tim của mọi người Việt Nam yêu nước và tin vào sức mạnh bất diệt của một dân tộc chưa bao giờ chịu đầu hàng số phận.
Trái tim lớn ấy biết đập theo nhịp đập của thời đại và truyền thống quật cường Việt Nam luôn biết vượt qua mọi thách thức mà lớn lên, để cả dân tộc biết mình từng có sức mạnh của Thánh Gióng. Trái tim mãnh liệt của Võ Văn Kiệt vẫn đập mạnh mẽ và sôi động hơn bao giờ hết trong mạch sống của dân tộc!
GS. Tương Lai
Võ Văn Kiệt - Người lo nỗi lo của dân tộc
http://www.viet-studies.info/NguyenTrung/NguyenTrung_VVKiet.htm
Giữa lúc đất nước ta bước vào hội nhập toàn diện với cộng đồng thế giới để xây dựng một Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ và giầu mạnh cho chính mình và góp phần xứng đáng của mình cho khát vọng chung của nhân dân các nước là hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, Võ Văn Kiệt – người con ưu tú của dân tộc Việt Nam, người bạn thân thiết của nhiều quốc gia và dân tộc trên thế giới không còn nữa.
Lời lẽ nào nói lên được niềm thương tiếc, lòng yêu mến, sự cảm phục và tâm tình gắn bó của đồng bào, đồng chí, của bạn bè xa gần trên thế gian này, của bất kỳ ai đã có lần tiếp xúc hay được làm việc với Võ Văn Kiệt!
Dù ở vị thế nào trên con đường đời của mình, từ người chiến sỹ cách mạng thời trai trẻ đến cương vị Thủ tướng, ở ông sự chân thành vì sự nghiệp chung và lòng vị tha đã luôn luôn tạo ra quanh mình sự hội tụ mọi tâm huyết và trí tuệ làm nên sức mạnh vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành những nhiệm vụ tưởng chừng không sao làm nổi. Song quan trọng hơn thế, ở Võ Văn Kiệt là niềm tin sâu sắc: Tất cả những ai nặng lòng với đất nước đều sẵn sàng xả thân cho sự nghiệp chung. Chính niềm tin chân thành này đã tạo ra sự hội tụ Võ Văn Kiệt – một tính cách riêng làm nên chính con người và sự nghiệp của ông.
Hỏi: Anh tìm ở đâu ra niềm tin ấy?
Đáp: Đơn giản lắm. Mình đi làm cách mạng vì hồi ấy chỉ biết là mất nước thì khổ thôi, không hiểu gì sâu xa lắm đâu, thắng thì chắc hết khổ, còn thua thì chỉ mất cái quần xà-lỏn. Còn anh em trí thức đi làm cách mạng với mình họ giảng giải cho mình nhiều điều lắm, thế nào là mất nước, vì sao mà mất nước, vì thế họ ý thức rõ ràng và sẵn sàng hy sinh tất cả… Yêu nước không là đặc quyền của riêng ai…
Ông đã có lần tâm sự với lính của mình như thế.
Thời chiến, cơ sở cách mạng trong vùng địch hậu ông phụ trách có lúc bị bóc trắng, song niềm tin ấy, sức hội tụ ấy đã thấm sâu vào từng cán bộ, từng người dân – từ bà buôn thúng bán bưng đến những nhà tư sản lớn, trí thức lớn, các nhà tu hành.., để rồi dần dần lại gây dựng lại được tất cả và làm nên tất cả.
Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm tháng đầu tiên đầy gian lao sẽ mãi mãi ghi nhớ công lao người đứng mũi chịu sào là anh Sáu Dân của mình. Khỏi phải kể lại muôn vàn khó khăn và cay đắng sau khi bước ra khỏi chiến tranh khốc liệt mà đường lối khôi phục và xây dựng đất nước còn mang dấu ấn chủ quan, nóng vội, đến mức không một chính sách, chỉ thị hay nghị quyết nào có thể kham nổi tình hình. Nhưng niềm tin vào dân và sự hội tụ Võ Văn Kiệt đã vượt ra ngoài mọi giáo điều, đã tập hợp được mọi trí tuệ và nghị lực của cả thành phố, nhờ đó có đủ sức cứu vãn tình thế. Và không bao lâu sau này, Thành phố Hồ Chí Minh đã xứng đáng là một ngọn cờ đầu của đổi mới.
Ở cương vị Thủ tướng Chính phủ, tên tuổi Võ Văn Kiệt gắn liền với những bước đi quyết định của đất nước thời đổi mới, nêu gương sáng cho mọi tâm huyết, lòng khát khao và ý chí chấn hưng đất nước thời nay và mai sau. Nói lên điều này chẳng có gì dính dáng đến tôn sùng cá nhân, mà là thừa nhận tính công bằng của sự thật mà đất nước ta đang rất cần để cổ vũ cho mọi tiến bộ và tuyên chiến không khoan nhượng với mọi tha hóa. Không phải ngẫu nhiên trên thế giới nhiều bạn bè, chính khách, học giả và báo chí tôn vinh ông là một kiến trúc sư của đổi mới ở Việt Nam, là người trong hàng ngũ đi tiên phong tìm đường đưa Việt Nam ra khỏi đói nghèo để phát triển.
Dân tộc Việt Nam sẽ mãi mãi ghi nhớ công lao người con ưu tú Võ Văn Kiệt của mình là một chiến sỹ tiên phong trên mặt trận chống phá mọi thế lực muốn bao vây cô lập Việt Nam. Trên cương vị Thủ tướng, ông đã góp phần xứng đáng của mình đưa đất nước hội nhập vào cộng đồng nhân dân thế giới. Ngoài niềm tin sắt son vào bản lĩnh dân tộc mình trong quá trình hội nhập, cần nhấn mạnh tầm nhìn Võ Văn Kiệt - được xác lập từ mọi trí tuệ và thiện chí trong nước và trên thế giới mà ông hội tụ được - đã góp phần quyết định vượt qua mọi định kiến và mở ra một đường lối đối ngoại mới mang lại vị thế quốc tế mới cho đất nước ta hôm nay. Nói về quan hệ cá nhân, thật hiếm có một thủ tướng nào sau khi mãn nhiệm lại có nhiều bạn quốc tế là các chính khách lớn, các nguyên thủ tướng từ Á sang Âu như ông.
Thấu hiểu nỗi đau của dân tộc mình là nạn nhân của các cuộc chiến tranh xâm lược khốc liệt kéo dài nhiều thế hệ, chịu đựng không biết bao nhiêu sự can thiệp chia cắt từ bên ngoài, Võ Văn Kiệt là người của đoàn kết, của hòa hợp và hòa giải dân tộc. Ở nước ta, có gia đình họ tộc nào không bị chiến tranh chia lìa, ly tán? Có gia đình nào không có người ngã xuống cho cả phía bên này và phía bên kia? Không phải chỉ ở Viêt Nam, tìm kiếm trong các quốc gia trên thế giới cũng khó mà thấy được một con người, một nhân cách, một chính khách có được tiếng nói mà người nghe hôm qua còn cầm súng đứng bên kia chiến tuyến hôm nay cũng phải mở lòng lắng nghe?.. Con người đó, chính khách đó không ai khác là Võ Văn Kiệt, với một suy tư mộc mạc: Tổ quốc là của mình, dân tộc là của mình, quốc gia là của mình, Việt Nam là của mình, chứ không phải là của riêng của người cộng sản hay của bất cứ tôn giáo hay phe phái nào cả… Đơn giản, ông hiểu nỗi đau của dân tộc bằng nỗi đau của gia đình mình, của chính bản thân mình.
Làm thế nào để Tổ quốc yêu dấu của chúng ta có được nhân tâm thu về một mối ? Tổ quốc Việt Nam ta sẽ phát triển ra sao, sẽ có vị thế nào và sẽ đi về đâu trong thế giới này nếu Tổ quốc là của nhân tâm thu về một mối như thế?
Những năm cuối đời, nhất là từ sau Đại hội X, điều day dứt tâm can Võ Văn Kiệt là nỗi lo và những suy tư của ông về Đảng. Đôi lần ông tâm tình: Nếu coi điều day dứt này là thách thức phải đối mặt, thì đây là thách thức lớn nhất của cả đời mình kể từ khi lớn lên biết làm người, mọi thách thức đã trải qua không ăn nhằm gì!.. Ôi, ở đây, đứng trước nhiệm vụ mới của đất nước, người đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam Võ Văn Kiệt xác định lại cho mình rõ ràng thế nào là tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng Đảng đã ghi trên lá cờ của mình: Phụng sự nhân dân, phụng sự tổ quốc!
Chia sẻ điều trăn trở day dứt nhất này, không biết bao nhiêu lần ông mời các lính cũ của mình, lúc trong Nam, lúc ngoài Bắc, chỉ để nêu một câu hỏi: Phải đổi mới Đảng như thế nào?
Trong tâm khảm Võ Văn Kiệt trước sau chỉ một ý nguyện: Đảng phải là đảng của dân tộc – là Đảng Việt Nam! Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói lên từ trái tim mình trước quốc dân đồng bào và thế giới. Nói lên như thế là nói lên tất cả!
Trong các phát biểu chính thức trong Đảng, các bài viết, nhiều lần ông khẳng định: Đi vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ đất nước trong hoà bình, Đảng phải đổi mới chính mình một cách triệt để: Làm tốt vai trò lãnh đạo, nhất là phải thực hiện tốt hơn nữa phương châm: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Với tư duy như vậy, ông đấu tranh không mệt mỏi chống lại bệnh “đảng hóa”, bệnh “cơ cấu” và tư tưởng “nhiệm kỳ”. Ông luôn luôn nhấn mạnh sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước cần người tài đức chứ không cần “cơ cấu” theo lối sắp đặt; đất nước là trường tồn và không có “nhiệm kỳ”, muốn cách mạng thực sự là sự nghiệp của quần chúng thì Đảng phải thực sự làm được nhiệm vụ lãnh đạo, chứ không phải là “nắm”, là “đảng hóa”… Ông coi thực hiện dân chủ trong Đảng là việc đầu tiên phải làm và cũng là điều bức xúc nhất, từ đó sẽ có thể thực hiện được dân chủ trong cả hệ thống chính trị và Việt Nam sẽ có một sức vươn lên mới…
Vài ngày trước khi qua đời, họp mặt với lính cũ, câu chuyện của ông vẫn chỉ xoay quanh câu hỏi: Đổi mới Đảng như thế nào? Ông giục giã: Nói đi, cần gặp ai tôi cũng sẵn sàng. Đi đâu tôi cũng đi! Không thể bỏ cuộc được!
Trong bản thảo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có chỗ Người dặn: Kháng chiến thành công xong việc phải làm trước tiên là phải lo chỉnh đốn lại Đảng. 39 năm rồi, đến nay Đảng ta chưa làm được việc này. Có lẽ Võ Văn Kiệt là người nặng lòng nhất với lời trối trăng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh?
Còn những người còn sống chúng ta?
Yêu nước đã làm nên nhân cách Võ Văn Kiệt thời dân tộc ta đấu tranh cứu nước.
Lo nỗi lo dân tộc đã làm nên nhân cách Võ văn Kiệt thời dân tộc ta tìm đường chấn hưng đất nước.
Los Angles, ngày 11 tháng sáu năm 2008
Nguyễn Trung
Tiểu sử cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt![]()
Đồng chí Võ Văn Kiệt, tên khai sinh là Phan Văn Hòa, bí danh Sáu Dân, sinh ngày 23/11/1922 tại xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
Năm 1938, đồng chí tham gia hoạt động trong phong trào Thanh niên phản đế. Tháng 11/1939, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, làm Bí thư Chi bộ, Huyện ủy viên và tham gia cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ở huyện Vũng Liêm, Vĩnh Long.
Từ năm 1941 - 1945: Hoạt động cách mạng ở Rạch Giá, tham gia Tỉnh ủy lâm thời và tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở Rạch Giá.
Sau Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, khi thực dân Pháp tái chiếm Nam Bộ, đồng chí làm Ủy viên Chính trị dân quân cách mạng liên tỉnh Tây Nam Bộ.
Năm 1950, đồng chí được điều về tỉnh Bạc Liêu làm Phó Bí thư rồi Bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu.
Năm 1955, đồng chí được bầu vào làm Ủy viên xứ ủy Nam Bộ, Phó Bí thư liên Tỉnh ủy Hậu Giang.
Năm 1959, đồng chí được điều về Khu Sài Gòn - Gia Định làm Bí thư khu ủy T.4 (Sài Gòn - Gia Định) cho đến cuối năm 1970.
Tại ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (năm 1960), đồng chí được bầu làm Ủy viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng. Là Ủy viên Trung ương Cục miền Nam, đồng chí tiếp tục làm Bí thư khu ủy T.4 (Sài Gòn - Gia Định), rồi Bí thư Khu 9 (Khu Tây Nam Bộ).
Năm 1972 đồng chí được bầu làm Ủy viên chính thức Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa III.
Từ năm 1973 đến 1975 đồng chí được điều về công tác ở Trung ương Cục và là Ủy viên Thường vụ Trung ương Cục miền Nam. Trong thời gian chuẩn bị giải phóng Sài Gòn, đồng chí được Trung ương Cục phân công làm Đảng ủy đặc biệt trong Ủy ban Quân quản hành phố Sài Gòn.
Năm 1976 đồng chí làm Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng chí được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa VI.
Tại ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (năm 1976), đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị và được phân công làm Bí thư Thành ủy TP.HCM.
Tại ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (tháng 3 - 1982), đồng chí tiếp tục được bầu lại vào Ban chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị.
Tại ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12 - 1986), đồng chí tiếp tục được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung uơng Đảng bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị. Tháng 02 - 1987, đồng chí được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa VIII và được Quốc hội phê chuẩn giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Phó Chủ tịch Thường trực rồi Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng.
Tại ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6 - 1991), đồng chí tiếp tục được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị. Tại kỳ họp thứ nhất QH khóa VIII, đồng chí được QH phê chuẩn giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
Tại kỳ họp thứ 9, QH khóa VIII (tháng 8/1991), đồng chí được QH bầu giữ chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước CHXHCN Việt Nam.
Tại ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (tháng 6/1996), đồng chí tiếp tục được bầu lại vào BCH Trung ương Đảng, được BCH Trung ương Đảng bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị và được cử làm Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị.
Tại kỳ họp thứ nhất QH khóa IX (1992 - 1997), đồng chí được QH bầu làm Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh.
Từ tháng 12/1997 đến tháng 4/2001, đồng chí được Hội nghị lần thứ tư BCH Trung ương Đảng khóa VIII cử làm cố vấn BCH Trung ương Đảng Cộng sản VN.
Đồng chí là ĐB Quốc hội các khóa VI, VIII, IX.
Do có công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, đồng chí đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng, nhiều huân chương, huy chương cao quý khác và Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.
Tham khảo: Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã ra đi
Tổ chức Quốc tang nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt
http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2008/06/3BA0338D/
Sáng 11/6, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã qua đời vì bệnh tuổi già, hưởng thọ 86 tuổi. Tang lễ của ông được quyết định tổ chức theo nghi thức Quốc tang trong 2 ngày.
Thông cáo đặc biệt của Ban chấp hành Trung ương Đảng chiều nay viết, sau một thời gian lâm bệnh nặng, mặc dù được Đảng, nhà nước, tập thể các giáo sư, bác sĩ tận tình cứu chữa, gia đình hết lòng chăm sóc, nhưng do tuổi cao, bệnh nặng, nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt đã từ trần hồi 7h40 ngày 11/6/2008, thọ 86 tuổi.
"Đồng chí mất đi là một tổn thất đối với Đảng, nhà nước và nhân dân ta, để tỏ lòng tưởng nhớ và biết ơn đồng chí Võ Văn Kiệt, Ban chấp hành trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban trung ương mặt trận tổ quốc Việt Nam quyết định tổ chức tang lễ đồng chí Võ Văn Kiệt với nghi thức quốc tang", thông cáo viết.
Linh cữu ông quàn tại Hội trường Thống Nhất, TP HCM. Lễ viếng được tổ chức tại Hội trường Thống Nhất, bắt đầu từ 8h ngày 14 đến 8h30 ngày 15/6. Lễ truy điệu bắt đầu lúc 9h ngày 15/6. Lễ an táng được tổ chức cùng ngày tại nghĩa trang TP HCM.
Cùng thời gian tổ chức lễ viếng và lễ truy điệu ông Võ Văn Kiệt ở TP HCM, Ban tang lễ sẽ tổ chức lễ viếng, lễ truy điệu tại trung tâm Hội nghị quốc tế số 11 Lê Hồng Phong, quận Ba Đình, Hà Nội và trụ sở UBND tỉnh Vĩnh Long.
Trong hai ngày quốc tang (14-15/6), các công sở, nơi công cộng treo cờ rủ và ngừng các hoạt động vui chơi giải trí.
Ban lễ tang nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt gồm 33 lãnh đạo cấp cao do Tổng bí thư Nông Đức Mạnh làm trưởng ban.
Ông Võ Văn Kiệt có tên khai sinh là Phan Văn Hòa, sinh ngày 23/11/1922 tại xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Cửu Long. Bí danh hoạt động cách mạng là Sáu Dân.
Tham gia cách mạng năm 1938, vào Đảng tháng 11 năm 1939, ông là Thủ tướng Chính phủ khóa 1991-1997. Từ tháng 12/1997, ông Kiệt được Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) chấp thuận rút khỏi Bộ Chính trị và cử làm Cố vấn Ban chấp hành Trung ương. Ông là đại biểu Quốc hội các khóa 6, 8, 9, huân chương Sao Vàng, huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.
Những năm cuối đời, ông Kiệt sống tại TP HCM. Với tư cách công dân, nguyên Thủ tướng vẫn hết sức quan tâm đến những vấn đề thời sự nóng bỏng của đất nước và thường xuyên đóng góp ý kiến, viết bài thể hiện quan điểm, chính kiến.
Ông Võ Văn Kiệt được xem là nhà chính trị, "tổng công trình sư" nhiều dự án táo bạo của thời kỳ đổi mới.
Từ năm 1988, với tư cách Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, ông Sáu Dân đã có những quyết đoán cho chủ trương thực hiện chương trình 10 năm đầu tư khai phá vùng Đồng Tháp Mười, khu tứ giác Long Xuyên và bán đảo Cà Mau vốn bị nhiễm phèn, mặn thành vùng đất trù phú, người dân có nước ngọt để dùng.
Năm 1992, ông Kiệt duyệt luận chứng kinh tế và trực tiếp chỉ đạo công trình đường dây tải điện Bắc - Nam. Đây là hệ thống tải điện với đường dây siêu cao áp 500 kV đầu tiên ở Việt Nam, chuyển tải năng lượng từ Nhà máy thủy điện Hòa Bình vào miền Trung, Tây Nguyên và miền Nam.
Năm 1993, ông ký quyết định xây dựng con đường Trường Sơn công nghiệp hóa, chia sẻ mật độ phương tiện lưu thông cho quốc lộ 1A vốn thường xuyên bị lũ lụt ngăn trở. 7 năm sau, từ quyết định của người tiền nhiệm, Thủ tướng Phan Văn Khải đã ra lệnh khởi công con đường huyền thoại mang tên Hồ Chí Minh.
Ông Kiệt cũng là người ký nghị định thành lập ĐHQG năm 1993, chủ trương xã hội hóa giáo dục. Sự ra đời của hai trường ĐH Quốc gia Hà Nội và TP HCM là mốc đổi mới sâu sắc trong cơ cấu hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Đây cũng là lần đầu tiên xuất hiện loại trường đại học đa lĩnh vực có quyền tự chủ cao trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Chủ trương mở ra con đường cao tốc Láng - Hòa Lạc của Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã giúp cả phía Tây của Hà Nội phát triển mạnh. Thời gian đi từ Hà Nội đến Hòa Lạc được rút ngắn chỉ còn 30 phút, nhanh hơn đi trong nội thành vào giờ cao điểm.
Khi về hưu, ông Kiệt vẫn tiếp tục cống hiến như góp ý về việc xây dựng tòa nhà Quốc hội và Hội trường Ba Đình; dự án xây dựng nhà máy dầu Dung Quốc; đề xuất nghiên cứu xử lý hai cửa sông để khai thác giao thông sông Tiền, sông Hậu; khởi công tuyến cao tốc TP HCM - Trung Lương thuộc tỉnh Tiền Giang; dự án mở rộng Hà Nội sáp nhập Hà Tây, xây dựng thành phố dọc sông Hồng.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/06/080612_media_vvkiet.shtml
Một ngày sau khi cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt qua đời, báo chí trong nước vẫn im lặng chưa đưa tin.
Trong khi đó, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và lãnh đạo Singapore đã gửi lời chia buồn tới gia đình ông Kiệt và nhân dân Việt Nam.
Thông cáo của ông Ban được đưa ra hôm thứ Tư từ đại bản doanh của LHQ tại New York, trong đó đánh giá ông Võ Văn Kiệt là 'động lực trong công cuộc cải tổ kinh tế của Việt Nam'.
Ông Ban cũng nói ông cựu thủ tướng 'đã đóng vai trò tối quan trọng trong cải thiện quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nước trên thế giới'.
Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trong thông cáo ra ngày 11/6 cũng đánh giá rằng sự lãnh đạo của ông Võ Văn Kiệt đã 'cải thiện cuộc sống của hàng chục triệu người Việt Nam'.
Thông cáo viết: "Các nỗ lực của ông đã giúp mở đường cho bình thường hóa quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam".
Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đã gửi thư chia buồn tới thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng. Thư có đoạn: "Ông Võ Văn Kiệt là bạn lâu năm của Singapore, người đặt nền móng cho quan hệ thân cận giữa hai nước".
Thư của ông Lý cũng nói trong thời gian ông Kiệt làm thủ tướng, Việt Nam đã tham gia ASEAN năm 1995 và đồng sáng lập đối thoại Á Âu vào một năm sau đó.
Im lặng vì đợi quyết định?
24 tiếng đồng hồ sau khi cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt qua đời, 600 tờ báo của Việt Nam vẫn không có dòng nào nói về việc ông ra đi.
Một số báo điện tử 'mau mắn' đưa tin hôm thứ Tư đã vội gỡ tin xuống. Báo điện tử VietnamNet chỉ còn giữ bài viết cũ ca ngợi ông Kiệt, đăng lần đầu nhân sinh nhật ông hồi tháng 11/2007.
Có nguồn tin nói các bên còn đang chờ thông tin chính thức từ Đảng và Nhà nước.
Một nhà báo ở TPHCM cho BBC hay hôm 12/06 rằng phải tới 7 giờ tối trong ngày, các phương tiện truyền thông Việt Nam 'mới được phép' đăng tin về cái chết của ông Kiệt.
Nhà báo Bùi Tín hôm thứ Tư giải thích với BBC từ Paris rằng việc lập ban tang lễ nhà nước, ra thông cáo, cáo phó, quyết định chôn cất ở đâu đều rất quan trọng trong trường hợp các nhà lãnh đạo Việt Nam.
Ông Tín nói: "Các đám tang như thế đều có tính biểu tượng và việc xác định vị thế của người đã khuất có ý nghĩa thông điệp chính trị".
Cũng có ý kiến e ngại rằng với sự ra đi không chuẩn bị của ông Võ Văn Kiệt, phe bảo thủ trong Đảng sẽ lấn tới, nhất là trong giai đoạn chuẩn bị hội nghị trung ương, dự kiến vào cuối tháng 7/2008.
By nghialam, # 12. June 2008, 17:07:12