Skip navigation.

Mr. Geroi's Blog

Opera lại OK rùi. Tại cái FF cũ.

Nực cười chuyện chống tham nhũng



Nực cười chuyện chống tham nhũng




Vừa đọc trên báo Tiền Phong bài viết về chuyện lương lậu của Tổng Cty Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC), mà hơi hơi thấy... “ngạc nhiên chưa”! Nói “hơi hơi”, vì cái kiểu “trắng trợn giữa thanh thiên bạch nhật” mà đã như thế thì cái kiểu “ngầm ngầm đố có ai hay”, thì chắc phải “ghê răng” hơn nhiều!

Theo đó, đây là một công ty nhà nước có (đích danh) “bộ sậu” gồm: “HĐQT SCIC gồm 7 thành viên do Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh kiêm nhiệm Chủ tịch HĐQT. Phó Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc là ông Trần Văn Tá. Các ủy viên HĐQT kiêm nhiệm là Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Hữu Hào, Thứ trưởng Bộ KH&ĐT Cao Viết Sinh, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà. Hai thành viên chuyên trách HĐQT là ông Hoàng Nguyên Học- Phó Tổng giám đốc và ông Nguyễn Quốc Huy- Trưởng Ban Kiểm soát”.

Hãy xem “lương lậu” của mấy sếp Tổng này: “năm 2008, lương của thành viên chuyên trách HĐQT và tổng giám đốc SCIC là 78,5 triệu đồng/tháng (tương đương 942 triệu đồng năm)!!! Hãy xem ai trả lương cho họ: “Với những ưu ái của Bộ Tài chính và Bộ LĐ-TB&XH, SCIC đã được phê duyệt một đơn giá tiền lương quá cao”. Theo đó, chính là Bộ Tài chính duyệt trả! Tức là Tôi (ông Bộ trưởng tài chính) duyệt trả lương cho chính Tôi (ông Chủ tịch HĐQT Tổng công ty SCIC)! Giời ạ, thật quá nực cười!!!

Lại nực cười nữa là khi Kiểm toán nhà nước thấy mức lương vô lý, vì quá cao, bèn “đề nghị Bộ Tài chính chỉ đạo HĐQT, Ban Tổng giám đốc SCIC kiểm điểm làm rõ trách nhiệm trong việc xây dựng đơn giá tiền lương, quyết toán và phân phối tiền lương”. Cứ chiểu theo đó mà “dịch” ra, thì có nghĩa là: đề nghị Tôi (ông Bộ trưởng tài chính) chỉ đạo Tôi (chủ tịch HĐQT) kiểm điểm chính Tôi (“trưởng ban” của... Ban tổng giám đốc?) để làm rõ vì sao Tôi (bộ trưởng Tài chính) lại trả lương cho Tôi (chủ tịch H ĐQT) và bộ sậu của Tôi cao đến thế???!!!

Ối giời ơi, chỉ nguyên nghe mà đã mệt vãi! Cứ bảo tại sao lương công nhân viên chức nhà nước, lực lượng vũ trang... mãi chả thấy tăng đâu, trong khi giá cả cứ “tẩu như phi” mà Bộ tài chính (và cả Bộ LĐ-TB&XH nữa chứ) vẫn im re. Thì ra là vì các ông (cũng là “công nhân viên nhà nước” thứ thiệt chứ bộ!) thấy vẫn sống tốt, “có chi đâu mà (chúng mày) kêu, hè hè”???

Thậm chí có mấy anh nhà báo như đã thành “quán tính”, cứ hễ nghe phong thanh tăng lương (dù là tăng kiểu nhỏ giọt, chả bõ bèn gì. Mà mãi chửa thấy tăng đâu?) đã hè nhau kêu “vì tăng lương mà giá cả tăng”. Đến khổ, chỉ được cái mình tự mình nhát mình, không biết là cứ nói bừa như thế, chỉ có lợi cho mấy ông... Tôi, những ông chỉ thích tăng lương “nhõn” cho mình, còn thì “sống chết mặc bay” không muốn tăng lương (dù là đồng lương chết đói) cho người khác!!!

Thử hỏi, kiểu mở công ty nhà nước (cho mình) như thế, để moi tiền nhà nước trả lương trên trời (cho mình) như thế, đã phải là tham nhũng chưa? Nếu đúng là tham nhũng rồi thì có cần họ phải “khai báo” nữa không? Rồi thì có chống tham nhũng kiểu như thế được không, ai đứng ra chống, hở giời?





Thank you Hảo khách!



Tản mạn về mùa hoa cải



Tản mạn về mùa hoa cải



“Có một mùa hoa cải
Nở vàng bên bến sông...”


Không hiểu sao khi nói về hoa cải, đặc biệt là khi xem những bức ảnh đám thanh niên nghịch ngợm làm dáng bên vườn cải vàng rực, tôi lại thấy văng vẳng bên tai hai câu hát ấy. Lắng mình chút nữa, tôi nhớ lại rõ mồn một những hình ảnh trong bộ phim “Mùa hoa cải ven sông” của đạo diễn Khải Hưng với cảnh chàng trai vạn chài cả đời mênh mang buồn trên sông nước. Bỗng một ngày tình yêu đến, trong một đêm trăng nọ, anh chàng đã bơi vào vườn cải bên sông hái hoa tặng cho người mình yêu...

Tôi cũng lại nhớ những câu hát đậm chất dân gian của nhạc sĩ Nguyễn Vĩnh Tiến trong bài “Bà tôi” và đặc biệt thấy ấn tượng với những hình ảnh thú vị: “Bà ví lông gà vàng như vườn cải, ông ví mặt trời như lời mối lái, ai ví tình yêu như trò nghịch dại”...

Tôi từng nhiều lần thử hỏi mình tại sao? Tại sao hình ảnh vàng rực ấm áp của vườn cải lại gợi cho mình những ấn tượng về câu thơ ấy, về tình yêu thôn dã ấy, về những hình tượng thú vị ấy? Mà dường như tôi chưa một lần rốt ráo tìm cho mình câu trả lời. Mùa cải vàng năm nay, tôi lại tình cờ bắt gặp trên báo mạng những bức ảnh các cô gái xinh đẹp nghịch ngợm làm dáng bên vườn cải và những câu hỏi trên kia lại tự nhiên lặp lại...

Tôi tự nhủ mình hãy thử trả lời. Phải chăng là những vườn cải ấy vẫn thường trải dài ven những bến sông. Những bến sông quê đầy thơ mộng và thanh bình. Bến sông quê cũng thường gắn liền với ruộng dâu xanh ngắt của bà, của mẹ, của chị, của em gái quanh năm chăn tằm dệt lụa. Bến sông quê gắn liền với bến đò quê rộn rã những câu chào hỏi của láng giềng ngày hai buổi sang đò. Bến sông quê cũng gắn liền với hình ảnh những cô gái chiều chiều xuống sông múc nước tưới cho những hàng rau xanh mướt để rồi những ngày cuối thu sang đông, lại “Có một mùa hoa cải/ Nở vàng bên bến sông”?...

Tôi cũng nghĩ, hẳn là những chàng trai cô gái đáng yêu kia cũng mang trong mình tâm trạng như tôi về những bến sông quê thơ mộng, êm đềm, nên mới yêu vườn cải vàng đến vậy. Và họ muốn tận hưởng cảm giác thanh bình bên bến sông trong cái rực vàng của bạt ngàn là hoa cải ấy. Loài hoa thôn dã từ cái tên, từ sắc màu, từ những chấm vàng li ti trải dài trên bãi cát, bên dòng sông đỏ nặng phù sa, mang mang câu hát:

“Có một mùa hoa cải
Nắng vàng trong mê mải
Cầm tay em bối rối
Anh nói lời yêu thương…"



P/S: Một số hình ảnh lấy từ trang "Tintuc.xalo.vn".







Thank you Hảo khách!


Đối thoại về người anh hùng.



Đối thoại về người anh hùng.




Mấy hôm nay trời rét nhưng nhóm các cụ về hưu vẫn không bỏ thể dục sáng, đủ để thấy “thói quen khó bỏ”. Một phần vì ngay tôi đây cũng thấy không thể bỏ một buổi đi bộ ra hồ đã thành thói quen từ dăm năm nay rồi. Ngoài ra còn cảm thấy nếu bỏ, sức làm việc cho một ngày sẽ kém hẳn đi. Hôm nào có tiết đầu, tôi còn phải để báo thức từ 5 giờ. Mà mùa này, 5 giờ hãy còn tối mịt...

Tôi thấy các cụ ra hồ nhiều khi còn vì nhu cầu trao đổi thông tin thời sự nữa. Và hôm nay, tôi nghe họ trao đổi về một chủ đề đang nóng trong thời gian gần đây, đó là án phạt dành cho bà Ba Sương, một người anh hùng nông dân.
Bắt đầu là cụ A:
- Tôi không cảm thấy bình thường trong việc bỏ tù vị “anh hùng áo vải” này, các cụ ạ. Cứ như địa phương có những “ân oán” riêng nào đó, hay chí ít là cố gắng lấy thành tích về chống tham những...
Cụ B:
- Hình ảnh “anh hùng áo vải” mà cụ dành cho bà Ba Sương có vẻ hợp cảnh: chồng con không, nhà cửa không, ngoài sáu mươi tuổi với hơn nửa đời gắn bó với ruộng đồng... Tham nhũng gì ở người phụ nữ này đây hả các cụ?
Cụ C:
- Tôi cũng thấy không bình thường. Có vẻ như địa phương muốn tỏ “oai trời”, nhưng tiếc là không đúng đối tượng. Tôi nghĩ rằng tìm những kẻ tham những đích thực ở trung ương và địa phương hiện tại chẳng khó khăn gì. Bên Tây, nó cứ chiếu thu nhập với tài sản chìm nổi của quan chức là mò ra ngay. Mà tiêu chí ấy áp dụng cho bà Ba Sương thì chả thuyết phục được ai.
Cụ D:
- Đã gọi là Anh hùng, phải được xem xét, sàng lọc từ địa phương lên. Nay đùng một cái, vẫn người ấy với những tội trạng không mới, có nguồn gốc từ hàng chục năm nay thì thật nực cười...
Một cụ phát hiện:
- Cánh báo chí nhiều khi họ khá tâm huyết, các cụ ạ. Các báo đã tạo dư luận ủng hộ bà khá lâu rồi. Chứng tỏ họ biết vụ này không dễ dàng gì... Tôi cho rằng trong vụ này, không những họ có thể cứu được người anh hùng, mà có khi còn lôi ra khối chuyện làm mưa làm gió mượn tay pháp luật ở địa phương nữa...
Cụ khác đồng tình:
- Tôi cũng cho là cánh báo chí rất có tình trong vụ việc này. Họ làm khá bài bản, từ những văn bản chỉ đạo của địa phương, những cảnh báo của lãnh đạo từ cách đây cả chục năm họ đều “nói có sách mách có chứng”, khiến cho nhiều vị lãnh đạo địa phương “há miệng mắc quai”...
Cụ nhận xét ban đầu về báo chí nhận xét:
- Cũng may cho bà Ba Sương (đấy là kể sau này được trắng án) là đang kỳ họp quốc hội, các nhà báo có cơ hội chất vấn trực tiếp được nhiều quan chức và họ không thể lảng tránh chuyện này. Đặc biệt là các vị lãnh đạo trung ương, vì qua đây có thể nhận xét về năng lực pháp lý trong những vụ việc cụ thể và tầm ảnh hưởng của họ đối với các địa phương...

Qua đoạn đối thoại của các cụ, tôi cho rằng họ có quá nhiều kinh nghiệm về những vấn đề tương tự, vì họ vốn là những công chức thời xưa về hưu, những người vốn trung thực và đầy nhiệt huyết về những vấn đề xã hội. Tôi cho rằng những ai theo dõi vụ việc này, đều cũng thấy đồng tình với những trao đổi của họ.

Vì đúng như phát biểu của ông Phó Chủ tịch QH Uông Chu Lưu với cánh báo chí bên hành lang kỳ họp Quốc hội sáng nay: “Bản án sau khi được tuyên mà dư luận lại không đồng tình thì phải xem lại...”. Hy vọng các cụ đúng và danh vị anh hùng nông dân lại được trả lại cho bà Ba Sương, đó còn là mong muốn của nhiều nông dân từng lăn lộn... “Ba sương” một nắng với bà...





Thank you Hảo khách!



Quần ngư tranh thực



Quần ngư tranh thực




Tại thành phố Hồ Chí Minh, cũng như Thủ Đô Hà Nội, những vùng ngoại ô xa tít hiện nay đất đã đắt như vàng, vậy mà trong nội đô, ta vẫn dễ thấy “những khu đất hoang” đẹp như tranh vẽ, cái đẹp ở vị trí đắc địa của nó cũng có nghĩa là cái đẹp... “kim tiền”- nhiều nơi đến vàng, thậm chí cũng chưa chắc đắt như đất ở đó?! Tỷ như hàng ngàn mét vuông kho bãi hoang hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh mà báo chí và TV nhiều lần nhắc tới; hay đập vào mắt tôi mỗi sáng đi bộ ra hồ Giảng Võ là hàng trăm mét mặt đường Giảng Võ, sâu hàng mấy chục mét, sát ngay cạnh Cục thuế Hà Nội nhìn ra đường Trần Huy Liệu chẳng hạn.

Tại sao mấy chục năm nay, hàng ngàn mét vuông đất đó vẫn bị bỏ hoang hóa? Hãy sơ bộ tính giá thuê mặt tiền những khu như trên phố Giảng Võ, ta dễ dàng thấy Thành phố đã hoang phí tiền tấn ở đó. Kể về mỹ quan thì cái nội đô cũ của Thủ Đô chỉ bé cỏn con mà vẫn còn những khu cỏ dại chen đầy mặt phố như vậy thì thật là kỳ lạ? Cứ như lãnh đạo Thành phố và các nhà hoạch định kiến trúc đô thị của Thủ Đô đang lơ đãng để mắt đi đâu đó mà để quên những khu đất đó đi vậy?

Nhưng rồi nghĩ lại, ta sẽ thấy nó giống hơn cái hình ảnh một chú nai tơ tung tăng trên bãi cỏ mà chung quanh không chỉ một mà có rất nhiều sư tử đang rình. Thọat nhìn, ai cũng ngạc nhiên sao con nai vẫn sống sót, vẫn nhở nhơ giữa bầy dã thú. Nhưng nhìn kỹ thì thấy nó sống sót chỉ vì những khắc tinh của nó, bầy sư tử đang bận gầm ghè nhau, chưa chú nào dám động thủ mà thôi. Hễ sư tử thỏa thuận được với nhau thì nai tơ ta hết đời? Đó cũng chính là hình ảnh đàn cá dữ cùng gầm ghè quanh một con mồi từ câu thành ngữ quen thuộc “quần ngư tranh thực” vậy...





Thank you Hảo khách!



Trường đại học trên khán đài B?



Trường đại học trên khán đài B?




Mấy hôm nay xem thời sự trên VTV1, thấy có cái trường mang biển hiệu rất to, gọi là “Đại học Nguyễn Trãi” gác trên hàng rào sân vận động Mỹ Đình. Biên tập viên 360 độ thể thao thông báo các lớp học của trường này mở trên khán đài B nên có khả năng được nghe thông báo nghỉ học dài dài, vì hiện sân vận động đang có nhiều cuộc thi đấu các môn của giải thể thao trong nhà khu vực châu Á, lần thứ 3 (AIG3).

Sáng nay tập thể dục bên hồ, nghe các cụ bình luận về đề tài này. Theo các cụ, đây gọi là kinh doanh đại học, đại học chỉ mở để thu học phí, không phải để dạy và học. Vì thế mới có tin trên báo chí về thí sinh chỉ có 7 điểm ba môn mà tới tấp nhận giấy báo nhập học của tận... 20 trường (cao đẳng và đại học) khác nhau. Với điểm ấy, phản ảnh đúng thực chất lực học của thí sinh ấy, thì các trường bậc Cao đẳng hay Đại học không thể dạy, mà học sinh cũng không thể học được. Thế thì ghi danh chỉ để thu học phí thôi, các cụ bảo đúng quá đi rồi...

Một cụ thông báo vừa đọc cái tiểu phẩm hài trên báo TP. Một ông Tiến sĩ hăm hở về quê nhờ ông bạn là chủ tịch xã chạy cho thủ tục mở trường đại học ở quê, theo quy trình từ xã lên huyện lên tỉnh... Ông chủ tịch xã không am hiểu lắm về chuyện tày đình này, vì ông vốn có học đại học bao giờ đâu. Ông Tiến sĩ tư vấn: Bằng tiến sĩ là tiêu chuẩn để đứng ra mở trường, kiểu như bằng Đốc-tơ để mở hiệu thuốc tây ý, thì ông có rồi. Chỉ cần chừng 5 tỷ để đầu tư xây phòng học và mua trang thiết bị, nhờ địa phương vay vốn ở nông thôn với lãi suất thấp...

Ông chủ tịch xã hiểu ra, liền phát huy sáng kiến: xã ta có dãy chuồng lợn, chuồng bò khá... hiện đại ở ngoài đồng, ngặt vì dịch tai xanh rồi lở mồm long móng mà nay bỏ hoang cả. Chỉ cần cho thợ quét vôi lại là đỡ được một khoản lớn kinh phí cho phòng học... Ông vạch ra ý tưởng trong tầm tay một cách say sưa và hăng hái nhưng vẫn không quên chốt hạ: Đề nghị ông bạn Tiến sĩ lưu ý ưu tiên cho con cháu họ hàng nhà mình được học đại học tất ở xã để chả phải đi đâu xa mà tương lai vẫn có bằng cử nhân, Tiến sĩ...

Ông Tiến sĩ nghe ra, mừng như nhặt được vàng vì đỡ được cái khoản kinh phí khá lớn cho phòng học, vì ngoài phố, bạn bè ông cũng mở trường, nhưng chúng nó cứ gọi là lao đao vì phải cho sinh viên chạy xô học nhờ bất cứ xó xỉnh nào kê được bàn ghế, thậm chí phải ra cả khán đài B sân bóng đá để mở lớp. Nhưng khi nghe câu chốt hạ của ông bạn vàng, lại là người trong tộc họ mình xin ưu tiên cho con cháu họ hàng vào học, bèn lập tức cắt ngay: Ấy chớ, trường này chỉ mở để thu tiền thôi, chứ học hành dạy giỗ gì ở cái xó xỉnh đầy chuồng lợn chuồng bò này mà xin cho con cháu mình vô...

Thế mới biết, kẻ mở trường đại học với ý đồ như vậy đã quá tệ rồi. Người có trách nhiệm thẩm định cho cái trường đại học như thế mọc ra, còn đáng trách hơn. Chuyện về cái trại lợn, trại bò tân trang mà các cụ bên hồ kể, thì cứ cho là tiểu phẩm hài hước, là ngoa ngôn loạn chuyện đi, chứ cái dãy phòng học (hay cái gì tương tự thế) trên khán đài B sân Mỹ Đình, với cái biển hiệu trường đại học to đùng (xù xì?) mang tên Đại học Nguyễn Trãi trên hàng rào sân vận động đó, người xem TV mấy hôm nay ai mà chả mục sở thị? Nhưng, có lẽ rồi còn phải “xem tiếp hồi sau mới rõ” nữa cơ đấy, vì chuyện trứng ngâm a xít, lên báo lên TV rành rành, mà sau đó vẫn người bảo có, kẻ bảo không, chả biết đằng nào mà lần nữa là...




Thank you Hảo khách!



Thỏ lặn ác tà.



Thỏ lặn ác tà.




Trong tiếng Việt, có nhiều câu, nhiều từ thú vị chỉ thời gian trôi qua mang tính hình tượng, ẩn dụ chứ không chỉ rõ ra: “thấm thoắt thoi đưa”, “bóng câu qua cửa”... Riêng Truyện Kiều của Nguyễn Du có nhiều câu ám chỉ sự dịch chuyển thời gian ứng vào ngữ cảnh một cách bậc thầy theo kiểu như vậy: “Tà tà bóng ngả về tây”, “Mùa xuân con én đưa thoi”, “Trải bao thỏ lặn ác tà”...

Tại sao lại “tà tà”? Những tưởng thời gian trôi đi vĩnh hằng: mỗi ngày 24 giờ, mỗi năm 365 ngày chứ? Sao ở đây thích nhanh thì bảo “thấm thoắt thoi đưa” hay “bóng câu qua cửa”; thích chậm lại bảo “tà tà bóng ngả về tây”? Theo một nghĩa nào đó, ta cứ ngỡ như Nguyễn Du (nói riêng) hay dân gian (nói chung) đã tường tận “nguyên lý bất định” của thời gian, một phần quan trọng trong cái “tuyệt đối khó” của “Thuyết tương đối” Anh-stanh rồi vậy. Với Nguyễn Du, thời gian không vĩnh hằng, thời gian là bất định, có thể nhanh chậm phụ thuộc vào tâm trạng nhân vật của ông.

“Tà tà bóng ngả về Tây” là ám chỉ thời gian trôi đi chỉ khi người ta không vội vã, thời gian giành cho đi dạo hay cho một công việc nào đó không ấn định giờ giấc. Ở ngữ cảnh này là khi chị em Kiều đã tảo mộ xong, dạo chơi xong và đang “thơ thẩn”, thủng thẳng dắt tay nhau ra về. Dùng cho ngữ cảnh khác nhiều khi không hợp hay thậm chí là không được... Tỷ như khi Vương ông chưa kịp kể hết câu chuyện về “thằng bán tơ” cho nàng Kiều, mà “người nách thước, kẻ tay dao” đã ập đến, trói gô hai cha con “một lão một trai” bằng thứ “dây vô định” lại, thì tuyệt nhiên không thể dùng “tà tà bòng ngả về tây” được rồi...

Mặc dù thông thạo Hán ngữ, thuộc lòng vô số điển tích Trung Hoa, nhưng nhiều khi Nguyễn Du tránh dùng những từ Hán Việt, hay có chăng là những ẩn dụ đã Việt hóa đi rồi. Chỉ thời gian trôi đi một cách tuần hoàn, hết đêm đến ngày, ông viết: “Trải bao thỏ lặn ác tà”. Dân gian ví mặt trăng hiền từ, trong trắng mát mẻ bằng những hình ảnh đẹp như chị Hằng (Hằng Nga), Thỏ ngọc, hay thậm chí là giản dị quen thuộc như chú Cuội, cây đa. Thỏ lặn nghĩa là trăng khuất núi, hết đêm rồi. Còn mặt trời, nóng nảy thiêu đốt, con người không ra ngắm như ngắm trăng được, thì ví với con vật xấu xí chẳng ai muốn nhìn như con quạ (chim ác). Ác tà là khi mặt trời khuất dần đi sau đường chân trời, đã là lúc ngày qua cho đêm tới rồi.

Tuy nhiên, đó là kể riêng ra mà bình luận cái sự tuần hoàn của đêm và ngày, để chỉ thời gian trôi đi thôi. Chứ dùng nó vào đâu, còn tùy thuộc vào những tình huống cụ thể nữa, điều này thể hiện tài năng của thi nhân. Thời gian trôi đi mà dùng câu “Trải bao thỏ lặn ác tà”, thì chỉ tuyệt khéo khi miêu tả nấm mộ Đạm Tiên bị mưa gió bào mòn đi qua năm tháng, trong sự lãng quên của người đời thôi, chứ dùng vào tình huống khác không đắt, thậm chí là không dùng được. Tỷ như ngày xuân là thời điểm con người thường khắc khoải nhớ mong, để ám chỉ người thiếu phụ ngóng chồng ngoài biên ải chẳng hạn, có thể dùng “con én đưa thoi”, chứ tuyệt nhiên không thể là “thỏ lặn ác tà”, mặc dù cả hai câu đều ngầm định thời gian trôi đi...

Thế mới biết cái tài của dân gian hay ở đây ta đang nói đến thi nhân họ Nguyễn Tiên Điền, đã khéo sáng tạo ra hình tượng, lại tuyệt khéo khi sử dụng đúng nơi, đúng lúc, đúng chỗ hình tượng đó, khiến cho Truyện Kiều hàng trăm năm nay vẫn được hậu thế xếp vào hàng “đệ nhất lục bát diễm tình”, xứng đáng như chính những câu thơ tuyệt bút mà thi nhân dành miêu tả thi tài của nàng Kiều, cái đêm nàng trổ tài đọc thơ cho chàng Kim nghe: “Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”...




Thank you Hảo khách!




Lâu lâu chẳng viết được gì...



Lâu lâu chẳng viết được gì...




Lâu rồi không viết lách gì. Bảo là bận, thì bận thật vì giờ lên lớp cứ xé lẻ thời gian ra, trong khi để viết ra cái gì đó cần phải ngồi lâu lâu một chút... Nhưng, nếu kể thế thì dễ quá. Dễ biện hộ cho việc lâu lâu chẳng viết được gì...

Lâu lâu chẳng viết được gì còn do tự nhiên... mất lửa nữa. Thì ra là để viết được, cũng cần không khí, cần môi trường. Từ khi Yahoo!360 tan rã, ít được đọc các bài viết hay ho của nhiều người, không được sống trong không khí viết lách nên cảm hứng của mình cũng bị... xuôi xị đi?

Đọc báo chí, nghe nói đa phần các “cựu 360” sang hết bên Facebook trồng rau nuôi gà. Nếu quả vậy thì Bộ giáo dục nên trao cho Yahoo danh hiệu “Vì một nền văn chương Việt”? Vì suy cho cùng, 360 từng là mảnh đất màu mỡ cho bao người rèn dũa văn chương hay gì đó gần gũi với văn chương! Có lẽ bởi vậy mà có ngôi nhà nhỏ bên Facebook nhưng cũng ít khi tôi ghé qua...

Munti thì có vẻ đìu hiu cho dù thực ra có lẽ chỉ mình tôi thấy thế? Mà cũng không hẳn vậy. Dường như blog đang hồi thoái trào và người ta ít viết hơn, cũng như mình ít có cảm hứng viết hơn? Viết blog như một thứ giải trí và nó không nằm ngoài quy luật hào hứng rồi chán đi? Đến cả thói quen dạo quanh một lượt các trang viết của mình mà rồi tôi cũng nhận thấy mình đã thưa dần đi.

Thử ngồi gõ một điều gì đó mong tìm lại thói quen viết lách mà thấy thật chẳng dễ gì. Ngay cả khi anh bạn Thiết Hùng đột nhiên gọi đặt hàng, cứ nghĩ như hồi trước, liền nhận lời ngay với hy vọng ngồi xuống sẽ viết ngay ra được, mà không phải vậy. Một phần có lẽ đề tài chẳng dễ dàng gì vì mấy lần có chủ ý ngồi gõ mà chẳng thấy cảm hứng đâu, biết ngay là sẽ thất bại. Phần khác lâu lâu không viết, phản xạ dường như đã kém đi. Mới biết lời nói người xưa chửa thấy sai: Văn ôn võ luyện!

Cứ sợ rằng vì lâu không viết mà mình bị trì trệ đi mất, nhưng mỗi lần tạm ngừng công việc để viết, rồi lại chẳng viết được gì. Biết là có viết cũng chẳng ra gì nên lại quay về với công việc và thời gian cứ thế trôi đi, để thỉnh thoảng lại giật mình vì lâu lâu chẳng viết được gì...





Thank you Hảo khách!



Vô đề



Vô đề




Một thời...


Cái gì cũng chỉ được một thời thôi?
Thanh xuân một thời
Vui vẻ một thời...

Một thời em phới phới xuân xanh
Đi thẳng chẳng hề ngoái lại
Một thời bè bạn vây quanh...

Tóc xanh rẽ thành hai mái
Da nõn nà
Mắt huyền lúng liếng...
Lúc nào cũng vui
Cũng thấy ai đó nhìn mình xao xuyến?

Nay đã thấy vơi đi tiếng cười
Vơi đi niềm vui vu vơ
Vơi đi nỗi nhớ bâng quơ
Vơi đi nỗi buồn vô cớ...

Tuổi thanh xuân qua đi
Là khi nhìn thấy gì cũng rõ
Không còn vu vơ, bâng quơ, vô cớ:
Niềm vui hồ nghi
Nối nhớ bỏ đi
Nỗi buồn đọng lại
Vô vi...

10/10/2009



Mùa đông?


Mùa thu dường như chưa đến
Mùa hè như chẳng muốn qua
Phố phường nóng như chảo lửa
Cơn mưa bất chợt vỡ òa

Chợt ngoảnh tháng 10 ùa đến
Mang theo một chút heo may
Tưởng như mùa đông gõ cửa
Khẽ khàng chiếc lá thu bay

Mùa hè mải chơi nấn ná
Để mùa thu khuyết trong năm
Bởi thế ta như bỡ ngỡ
Khi mùa đông chợt ghé thăm...

17/10/2009




Thank you Hảo khách!



Ảnh chùa Biện Sơn


Ảnh lớp Báo chí khóa 3 lên chiêm bái xá lợi Thích ca mâu ni Phật

theo lời mời của Đại đức Thích Minh Pháp.



(Xem bài trên báo Dân Trí)











































































Thông tin



Thông tin




Độ rày hơi bị nhiều giờ nên hàng ngày chỉ còn chút thời gian lẻ tranh thủ lướt qua báo mạng, xem thời sự trên TV vào giờ ăn cơm, thấy bộn bề thông tin...

Nào là cơn bão Ketsana vào miền Trung và khu vực Tây nguyên gây thiệt hại ghê gớm. Khá lâu rồi, bão chỉ ở ngoài khơi, nay xộc thẳng vào đất liền khiến cho ông Bí thư tỉnh nọ bức xúc, nặng lời với “cánh thời tiết”. Của đáng tội, lúc nóng lên, lại vốn xưa nay làm vua một vùng, chả ai dám cãi, nay cứ phán bừa đi vậy thôi. Chứ thực ra thời tiết thất thường, bảo sai thì làm sao chả có chút sai, mà quy tội cho bên thời tiết thì chính ông mới bị sai nhiều, chứ không phải chỉ “một chút” nữa.

Làm thời tiết là cả một đội ngũ cán bộ khoa học chuyên ngành, lại dễ dàng tham khảo thông tin của hàng loạt các nước khác trên thế giới cùng quan tâm đến một đối tượng (cơn bão) ấy với đủ mọi phương tiện hiện đại và hàng nhiều chục năm kinh nghiệm, nói trắng phớ ra là sai, nghe sao được? Vậy mà vẫn cứ khăng khăng lấy được, thì cũng lạ, cái việc lẽ ra đứng đầu một tỉnh, anh phải cảm ơn hộ dân một tiếng, mới phải đạo chứ...

Rồi tin về tai nạn giao thông, liên tục và thảm khốc. Vừa một xe khách đâm vào xe contener, nhiều người chết; lại hai xe khách khác đâm trực diện vào nhau, kèm một danh sách dài người thiệt mạng... Lại nhớ cái tổng kết của cánh phóng viên giao thông trên TV: ở Việt Nam một ngày trung bình có ba mươi người bị thiệt mạng vì tai nạn giao thông. Thấy còn ghê hơn HIV, hơn SARH, hơn cả H1N1, chỉ khác là không thấy nguy cơ lây nhiễm, nên vì thế mà không lên phương án cảnh báo đặc biệt như mấy “anh” kia?

Nói đến H1N1, chỉ đọc báo thì thấy còn xa xa đâu đó, bắt đầu là Mêhico, Mỹ rồi HongKong, Đài Loan... gần chút nữa thì ở một số trường học rải rác tỉnh này, tỉnh nọ. Nay thì đã là tin đồng nghiệp của vợ có con bị H1N1, và vừa sáng nay đi chào cờ, đã thấy bộ môn mình có mẹ phải nghỉ vào viện chăm con H1N1 rồi. Có vẻ như xa xa thì thấy ghê ghê, còn ngay bên cạnh thì cũng đến vậy? Mà nếu không đến vậy thì biết đến làm sao nữa nhỉ?

Lại tin về giá cả, đặc biệt là giá xăng, vì nó liên quan đến nền kinh tế, mà nhỡn tiền là liên quan đến cái xe máy ta đi mỗi ngày. Thấy cũng lạ, vì hè năm ngoái khi dầu lên 145 đô một thùng thì xăng chỉ ở 17 nghìn, nay dầu mới chớm một nửa, độ trên 70 đô thì xăng đã vọt lên gần 16 nghìn? Mới xuống chưa kịp mua thì đã nghe phong thanh xăng chuẩn bị lên? Cái lý đưa ra là dầu khác, xăng khác. Dầu có khi rẻ nhưng xăng đắt thì cũng... rứa, nghĩa là phải... “lên giá thôi, chúng mày ơi!”. Nhưng suy cho cùng, không chỉ tại mấy ông xăng dầu đâu, họ cũng... “khó nói bỏa mịe đi í chứ”, ai muốn bán đắt làm gì! Dưng mà thà đừng nói, chỉ gãi tai rồi cứ tăng giá lên, đừng ní nuận rằng thì là bên Tây í, giá xăng cũng cao thế, nghe chán lắm. Vì bên Tây, ai bán rẻ khối thứ cho chúng nó xài như ông xài bên ta? Vả lại, so thế sao không tiện thể so cái đồng lương của ta với Tây cho nó... hành tá?

Rồi tin về giá xe ô tô. GM bên Mỹ nổi tiếng cả trăm năm nay thì chết trắng mắt, trong khi mấy cái hãng lắp ráp xe ở Việt Nam vẫn sống... nhăn răng. Giá xe bên chính quốc người ta bán một, ở Việt Nam nó bán đắt gấp 3, vậy mà còn bày đặt xếp hàng, mua chui. Lại nhớ cái hồi xe máy Wave Thái. Bên chính quốc nó bán 700 đô, sang Việt Nam đã lên 2000 đô, tranh nhau mua. Các hãng xe máy Việt Nam nhờ gió bẻ măng, xe nội kém hơn sản xuất ra cũng cứ giá ấy mà bán vô tư. May có anh Tàu đổ bộ xe dỏm sang, hạ nhiệt hộ mà xe trong nước mới chịu “trả lại tên cho em”, trở về gần với giá trị của nó, chỉ bằng phân nửa... Nghĩa là ô tô ấy, bên chính quốc chỉ 1/3, nhà nước thu 1/3 còn nó ăn lãi 1/3, tức là “trăm dâu đổ đầu... dân” ta? Gần đây đọc báo, thấy dân tình đang lên án VAMA, hiệp hội ô tô Việt Nam cam tội tố cáo xe nhập ngoại trốn thuế, nhằm triệt hạ mầm mống cạnh tranh. Chỉ vì người ta đang có xu hướng mua xe ngoại nhập, vừa tốt vừa rẻ hơn xe nội do VAMA áp đặt giá...

Lại tin về lương lậu. Thông tin đại chúng, từ báo chí cho đến TV, lan sang cả dân, cứ hễ có tin tăng lương là lại điệp khúc “rồi giá cả lại tăng cho coi!”. Cứ làm như giá chỉ ngồi rình, chờ lương tăng mới tăng vậy. Mà lạ là vẫn thường xuyên nghe tin giá cả tăng đều đều, hàng năm mới có đợt tăng lương, vậy mà hễ khi nghe phong thanh tăng lương, lại thấy điệp khúc “thở dài” như thế? Rõ là chỉ mình nhát mình mà thôi chứ nếu so sánh, giá tẩu như ngựa ông lớn phi, còn lương, chỉ như mấy anh lính Tây Sơn ngày xưa vác giáo chạy bộ theo sau, chứ nhằm nhò gì...

Mà rồi, trông thế thôi, chứ cứ lên mạng mà không làm việc, thì chán muốn out ngay ý mà, vì quanh đi quẩn lại, chỉ mấy cái tin thế, báo nọ đăng hộ báo kia. Chán rồi, thì sửa cái tít đi, đại để “thầy giáo với học sinh” thế này... Sang báo khác, thêm vô cái tít “Lại thêm một thầy giáo với học sinh” thế kia. Kỳ thực, vẫn là tin ấy. Thảng hoặc, cũng có những cái điểm tin tuần đọc khá được, như của VNN...

Nói đi vậy thôi chứ nói lại, cũng không bỏ báo chí được. Bận việc mấy thì cũng vẫn dành chút thời gian lẻ tranh thủ đọc qua tin tức trên mạng, xem thời sự trên TV vào giờ ăn cơm, để thấy bộn bề thông tin như thế...





Thank you Hảo khách!



Phát minh?



Phát minh?




Vì một lý do rất... “giời ơi đất hỡi” mà cái điện thoại bàn nhà tôi thường nhận được những câu kêu cứu kiểu như: “Ôi, anh ơi (chắc là nghe thấy giọng nam... trung?), em (tôi, cháu...) bị nuốt thẻ rùi”. Vài lần ngạc nhiên rồi tôi cũng thấy... “chán chả thèm ngạc nhiên” nữa, vì biết là những “nhân” ấy gọi nhầm vào số nhà tôi mà cứ tưởng là gọi cho ngân hàng có cái ATM đã “cam tội nuốt thẻ” của họ. Thậm chí tôi còn nhiều lần nghe cả... Tây kêu cứu nữa. Thế mới bít, không chỉ cái thẻ mà cái hướng dẫn sự cố của Ngân hàng cũng thật là... củ chuối nữa?

Vì bức xúc, tôi luôn nung nấu cái ý tưởng nghĩ cách “chống nuốt thẻ”, một phần để đỡ khổ cho chúng sanh, phần để tôi đỡ nghe điện thoại... rác (?), nên một ngày đẹp giời, tôi đã phát minh ra cách chống nuốt thẻ. Nghĩa là phải làm sao để khi giao dịch, người sử dụng thẻ không còn thấp thỏm sợ cái máy ATM (vốn đã vô tri giác thì chớ lại rất thường bị lỗi) không thèm nhả thẻ ra.

Bạn sẽ nghĩ: chắc chả dễ, vì cả thế giới nó thế. Mà thế giới thì thiếu thì thằng giỏi, đâu đến lượt mình phát minh? Tôi cũng từng nghĩ thế (nên tận hôm nay mới phát minh ra?) và đã thấm thía một sự thực rằng, khoa học nhiều khi bị kìm hãm là do ta “tự ti” quá, cứ nghĩ mình... kém tắm nên không chịu phát minh hay cải tiến cái gì đó đã từng có sẵn rồi. Cũng vì tâm lý đó mà nhiều cái tưởng đơn giản mà mãi chả ai thèm cải tiến gì, cứ loay hoay chịu đựng.

Nhiều khi, cũng bởi những đầu óc thiên tài mải nghĩ chuyện “lên mặt trăng”, mà lãng quên chuyện vặt vãnh. Kiểu như Niu-tơn (?) thấy hai chú mèo cưng của mình (một to một bé) cứ làm phiền mình phải mở hoặc đóng cửa mỗi khi chúng cần ra vào, bèn cặm cụi đục hai cái lỗ, một to, một nhỏ cho chúng tự do ra vào tùy thích vậy. Dọn đường thế để bây giờ tôi chiềng làng cái phát minh của mình, cho các bạn đỡ thấy... nhột, hay buộc phải kêu lên: đây mà là phát minh ư?

Xin thưa vâng, đấy là phát minh đấy ạ. Mà là một phát minh quan trọng nữa. Vì nhờ có nó mà thiên hạ bi giờ tha hồ “cà chớn” với cái máy ATM mà không sợ bị nó nuốt thẻ, không sợ vì thế mà mất công đi làm lại thẻ và đặc biệt là không còn Sì-pam vô cái điện thoại bàn của tôi nữa. Vậy phát minh đó là gì? Bạn sẽ rất sốt ruột mà nghĩ thế. Xin thưa là chỉ đơn giản thế này: cái thẻ ATM mà chúng ta đang dùng ý, nó là phát minh của một kẻ rất “ngớ ngẩn” (so với bây giờ thôi), vì chả cần thiết phải để máy “nuốt hẳn vào bụng” như thế mới đọc được thông tin trên thẻ. Vậy thì phải cải tiến cái thẻ ý đi, sao cho khi cắm vào máy, người sử dụng vẫn “nắm đằng chuôi” (theo cả nghĩa đen lẫn bóng!), nghĩa là có thể dễ dàng rút ra ngay, nếu đổi ý.

Vậy là xong. Cuối cùng, vì cả... thiên hạ, tôi xin biếu không phần xác của phát minh này, chỉ giữ lại cho mình phần hồn (bản quyền ý tưởng) của nó, theo cách một câu lẩy Kiều nào đó “của tin chỉ một chút này làm ghi”...

P/S: Ai đó sẽ phản ứng: Xì, tưởng gì. Việc phải nuốt thẻ vào bụng máy là bắt buộc để kẻ gian không sử dụng được thẻ ăn cắp. Xin thưa là nếu nghĩ thế, bạn đã quá coi thường khả năng của công nghệ tin học rồi. Thay vì phải nuốt đi (mà tiếc thay hầu như chỉ làm hại khổ chủ do lỗi máy), người ta chỉ việc vô hiệu hóa những thẻ nạp sai mã nhiều lần, rồi khôi phục lại nếu xác thực đúng là chính chủ. Vả chăng, điều gì chả có hai mặt. Những đồ vật quý như con xe bạc tỷ mà rơi vào tay đạo chích, nó cũng bị bốc hơi như thường, mọi thứ mã khóa chúng cũng thành vô dụng. Ngay cả bom hạt nhân, nếu rơi vào tay kẻ gian, nó cũng gây tác hại như thường, cho dù người ta đã tìm cách hạn chế tối đa khả năng kích hoạt nó trong những trường hợp như thế...






Thank you Hảo khách!


Cái lý của người Mèo.



Cái lý của người Mèo.


(Nhân đọc báo mạng mấy hôm nay)




Bạn tôi tên là Dục - Trịnh Đức Dục - cùng học văn hóa ở Lạng Sơn hồi năm 1975 có cái vẻ bề ngoài rất giống Trịnh Thịnh, một diễn viên hài nổi danh thời đó. Trịnh Thịnh vẻ ngớ ngẩn và trung thành mà không giấu được vẻ hài hước, lanh hoạt trong vai “ông Củng”, người hầu của một gia đình danh gia vọng tộc Hà Thành, trong phim “Lá ngọc cành vàng”, loại phim video thời “nhà nhà làm phim, người người làm phim”. Bởi thế, chúng tôi thường gọi Dục bằng cái tên... ông Củng.

Ông Củng vẻ ít nói nhưng nói chuyện rất khôi hài, kể từ vẻ mặt trở đi. Dục kể, dạo ở đơn vị với Dục, có một cậu lính người dân tộc Mèo, nhưng rất ngang. Một mình một lý. Anh em biết tính, lại “thông cảm” là người dân tộc nên ít khi phê bình cái tính bảo thủ nhiều khi rất ngớ ngẩn của cậu ta trong các cuộc họp, mặc dù thời đó rất thịnh hành “công cuộc phê và tự phê” mỗi tối sinh hoạt đơn vị. Từ đó mà có câu đại loại: lý đâu bằng “cái lý của người Mèo”, gọn lại thành câu châm ngôn cho người... cùn, là “cái lý của người Mèo”!

Dẫn ra thế để thấy mấy hôm nay báo chí Hà Nội xôn xao câu chuyện về một vị Tiến sĩ là “chuyên viên cao cấp Sở Nội vụ Hà Nội, thành viên “Ban soạn thảo Chiến lược cán bộ, công chức khối chính quyền Thành phố” về một “phát minh” mới trong lĩnh vực cán bộ. Theo ông Tiến sĩ (viết hoa) này thì lãnh đạo phải là “người có bằng Tiến sĩ mới có khả năng tư duy đột phá”; rằng thì là nếu công chức là Tiến sĩ mà lãnh đạo thì không, tất sẽ sinh ra tình trạng “đẽo chân cho vừa giày”...

Tôi rất ngạc nhiên, vì có vẻ như vị Tiến sĩ này đã “tư duy quá đột phá” chăng, nên không biết rằng hiện tại, các nhà tâm huyết với nền giáo dục sau đại học đang lo lắng vì Việt Nam đang khủng hoảng thừa bằng Tiến sĩ, theo nghĩa chất lượng đa số đề tài bậc nghiên cứu này quá kém, do người ta vì chạy bằng cấp cho một chức vụ lãnh đạo nào đó. Hay với tư duy không để tình trạng “đẽo chân cho vừa giày” xảy ra mà người soạn thảo chiến lược cán bộ (như vị nọ) không những phải là Tiến sĩ mà buộc phải cao hơn một bước, nghĩa là cần phải “tư duy quá đột phá” lên như vậy? Trước đó, trên mặt báo đã xuất hiện một trăn trở (kiểu đột phá?) của ai đó, rằng phải phấn đấu để 100% các cán bộ thuộc diện Thành ủy Hà Nội quản lý phải là Tiến sĩ. Phải chăng là kiểu tư duy này đều xuất phát từ một nguồn?

Tôi lại nhớ một dạo ở cơ quan, mọi người ai cũng biết một chuyện như tiếu lâm thời hiện đại về chuyện đề tài Tiến sĩ ở một đơn vị chiến đấu nào đó bị Bộ giáo dục loại vào sọt rác, vì cái tầm rất... ngớ ngẩn của nó. Đại để: “Nghiên cứu cấp nước sinh hoạt cho đơn vị cấp sư đoàn”. Nghĩa là, cũng như một thời ở bên Tàu, chỉ vì một tham vọng hoang tưởng mà Mao Trạch Đông vạch ra, đại để: “Hai mươi năm sau Trung Quốc phải vượt Mỹ về sản lượng thép cho công nghiệp”, mà mấy nhà “Mao-ít” phát động phong trào “trăm hoa đua nở, nhà nhà luyện thép”. Kết quả là nhà nhà phải dùng... nồi đất và đồ gỗ, vì mọi thứ kim loại đều bị cho vào “lò luyện thép mini Tầu” để nấu ra thứ thép chả dùng được cho bất cứ việc gì, chưa nói là cho công ngiệp. Sau này Trung Quốc có một bộ phim rất hay từng chiếu ở Việt Nam nói về đề tài này, lấy từ tiểu thuyết “Phải sống” của Dư Hoa.

Nghe một người gọi là “chuyên gia soạn thảo chiến lược cán bộ” phát ngôn rồi, tôi bỗng thấy lo lắng, vì cứ theo cái lý của vị Tiến sĩ nọ thì không chỉ hiện tại chúng ta đang thừa bằng Tiến sĩ, mà tương lai chúng ta còn bị... thiếu giấy để in bằng Tiến sĩ. Và với tư duy “quá đột phá” như trên, hứa hẹn xã hội sẽ xuất hiện ngày càng nhiều Tiến sĩ nữa... Vả chăng, sau này các vị lãnh đạo có bằng Tiến sĩ theo chuẩn rồi mà trình độ cứ na ná như vị chuyên gia nọ thì cũng... kinh. Vì lúc đó “chân đã vừa giày” rồi, chả cần phải đẽo nữa, xã hội hẳn sẽ loạn cả lên vì đâu đâu cũng thấy cùng một kiểu “tư duy quá đột phá” như vậy!

Còn hiện tại, mấy hôm nay dù hết sức lịch sự khi phỏng vấn hay bình luận, cánh báo chí cũng không thể giấu được cái ý tứ như của ông Củng bạn tôi trên Lạng Sơn hồi nào đối với vị chuyên gia nọ, về... “cái lý của người Mèo”???





Thank you Hảo khách!


Ôi, cửa công...



Ôi, cửa công...


(Nhân những lần có việc ra cửa công)




Hôm nọ đọc bài của Nhị Tường về chuyến đi kho bạc rất chán, liền nhớ cái lần mình ra “nhà đèn” quận Đống Đa tách cái công tơ, nhưng lại phải ra Công an quận tách khẩu trước, cả hai nơi đều gặp cảnh tương tự, nghĩa là cũng... rất chán khi bắt gặp đúng một mẫu công chức nhà nước coi dân tình như... cỏ rác (?) ấy. Thấy cảm thông, lại thấy dường như thế là tất yếu (cái kiểu công chức nhà nước ấy) nên khuyên Nhị Tường học thuộc “Tứ niệm xứ” của Phật Đà trước khi có việc ra cửa công, để tránh phải bức xúc, cho nó... lành.

Ai dè hôm nay ra Công an quận Đống Đa (hẹn 16 ngày ra lấy), lại gặp một cô công chức khác, cũng y chang như vậy (Cô ở nhà đèn thì nói năng trống không, xếch mé. Cô công an trước thì trả lời vô cảm, cô công an này thì mặc cho người ta đợi, cứ rông rài nói chuyện điện thoại di động với bạn bằng những lời lẽ như ở chốn không người. Khi bắt đầu gọi là làm việc thì lơ đễnh, vô cảm và vô nguyên tắc nữa...). Nhưng có lẽ mình chưa thuộc “Tứ niệm xứ” nên thấy cũng bị bức xúc lắm lắm... Phải “nuốt” mãi, cái “cục bực” nó mới tạm trôi xuống.... hạ điền (?) cho, để im lặng mà rút lui? Ngẫm ra thì thấy, khuyên người khác thì dễ, mình thực hiện thì thấy khó lắm thay!

Bạn sẽ hỏi tại sao lại là “Tứ niệm xứ”? Nó là cái gì vậy? Xin thưa là nhân đọc cái comment của mekhaidang, tôi liền tò mò tìm đọc và biết “Tứ niệm xứ” là bài niệm (gồm bốn bước, hay nhắm vào bốn đối tượng niệm) do đích thân Phật Đà dạy truyền khẩu cho các tỳ kheo, với mục đích tối hậu là thực hành rời bỏ cái “tôi”, ngõ hầu có cái nhìn khách quan vào chính mình, từ đó sẽ dễ dàng chế ngự những cảm xúc của bản thân, đặng hướng đến cõi niết bàn...

Sở dĩ Phật Đà luôn chủ trương rời bỏ cái “tôi” (vô chấp tướng ngã) có lẽ cũng tương tự như cái ý mà cổ nhân vẫn dạy: “người trong cuộc thường không sáng suốt”. Tỷ như có một anh cáu giận hay vui mừng ghê lắm một điều gì đó, dẫn đến những hành động cực đoan thường là có hại. Trong khi người ngoài cuộc lại nhận thấy chuyện không đến nỗi như thế, thậm chí là ngạc nhiên vì sự thái quá của anh ta. Ấy là vì ở ngoài cuộc, người ta thường tỉnh táo hơn. Như ở trên tôi vừa thú nhận: “khuyên người thì dễ...” cũng với lý do đó.

Tôi không nói kỹ về các bước mà Phật Đà dạy cách thực hành “Tứ niệm xứ”, vì chỉ cần gõ mấy chữ kia lên google, bạn sẽ đọc được nhiều hơn những gì mà tôi có thể viết ra. Chỉ nhân tiện lưu ý bạn đọc rằng, thực hành “Tứ niệm xứ” (cũng như nhiều lời răn khác của nhà Phật) tưởng dễ mà chẳng hề dễ tẹo nào, chí ít là khi ta chưa thực sự dấn thân vào con đường hành Phật pháp. Đa số chúng ta luôn là người bình thường, nghĩa là rất dễ bị “ái ố hỉ nộ” theo bản năng. Đặc biệt khi gặp những người hành xử rất... không bình thường như mấy “cô nương” kể trên. Mà cái “cửa công” lại dường như có một “công năng” rất lạ, là phần lớn (tôi nhấn mạnh) những người lọt vào đó, không chóng thì chầy, đều bị biến thành những kẻ... bất thường, mà kiểu coi người như “cỏ rác” là rất phổ biến!

Đến mức, tôi thấy rất phân vân về điều gì đó đã biến các cô gái (có vẻ bề ngoài) xinh xắn dễ thương như tôi từng gặp ở “nhà đèn” và ở công an quận hai tuần trước, hay cô sĩ quan công an trẻ măng hôm nay (và cả nhân viên kho bạc mà NT gặp nữa)... thành mẫu người bất thường như vậy? Tính phổ biến trong các trường hợp đã khiến cho tôi nghiêng về kết luận rằng, chỉ có “cửa công” mới có “khả năng đặc biệt” như vậy. Tức là chỉ là sớm hay muộn, cửa công sẽ làm tha hóa phần lớn (?) những nhân viên lọt vào đó? Ôi, cửa công...

P/S: Bạn sẽ hỏi: tại sao tôi (hay phần lớn ai đó) không phản ứng lại, mà cố nuốt... “cục bực” khi bắt gặp những hành vi ấy? Thật khó trả lời. Vì ngay cả tôi cũng thấy phân vân, không hiểu họ có sai không nữa, vì ta vẫn thường gặp họ rất thản nhiên với những hành vi như vậy. Phải chăng là ở cửa công, có một cái luật bất thành văn là cứ vô tư coi người như cỏ rác như vậy, nên nếu mình có ý kiến, có khi lại là... mình sai, chứ không phải họ? Vả chăng, khi đó đang bức xúc, nếu có ý kiến gì rất dễ mắc sai lầm, vì người ta vẫn nói: “cả giận mất khôn” mà... Thành ra, mỗi khi gặp cảnh ấy, ta đành tặc lưỡi tự nhủ: “thôi thì hãy cứ nín lặng mà rút lui đi cho nó lành”???





Thank you Hảo khách!



Nguyên lý... đống cát?


(Nuy nghệ thuật của Thái Phiên - Xin hãy nhìn "đống cát". Sorry)


Nguyên lý... đống cát?


(Nhân những ngày thu mà "Hà Nội nóng như chảo lửa")




Một ngày nọ, tôi suy nghĩ vơ vẩn rồi phát minh ra nguyên lý... “đống cát” (khi sang thu rồi mà khí hậu vẫn cực kỳ nóng bức vì... “em ơi Hà Nội nắng”?), để rung đùi tự coi đó là một kiểu “đốn ngộ”; như Niu-tơn bị “đốn ngộ”, phát minh ra định luật vạn vật hấp dẫn khi bị trái táo rơi vào đầu; như Ac-si-met bị “đốn ngộ”, phát minh ra định luật về các vật nổi khi cởi truồng nhảy vào bồn tắm công cộng; như Ngài A Nan chứng quả A la Hán khi đang quay mình đặt lưng xuống chiếu; như Ngài Châu lợi Bàn Ðà Già ngộ đạo khi đang... quét nhà...

Bạn sẽ hỏi: Với định luật vạn vật hấp dẫn, người ta tính toán được chính xác quỹ đạo của mặt trăng, mặt trời và các vì sao khác trong hệ mặt trời và giải thích được vô số hiện tượng tự nhiên huyền bí khác trong thế giới vĩ mô; với định luật mang tên mình, Ac-si-mét giúp cho khoa học về tàu thuyền của ngành hàng hải (nói riêng) phát triển mạnh mẽ; bằng sự “chứng ngộ” của mình, A Nan cùng các đại đệ tử khác của Phật Đà cứu độ được vô số chúng sinh thoát khỏi kiếp nạn, “đi” được vào chốn cực lạc... Vậy, tôi có thể làm gì với “nguyên lý đống cát” của mình?

Xin thưa là với “nguyên lý đống cát”, con người ta có thể hiểu được vô số biểu hiện (tinh thần, vật chất...) từ đơn giản đến phức tạp vẫn xảy ra quanh ta hàng ngày. Hoàn toàn có thể dẫn ra nhiều ví dụ không kém so với các vĩ nhân trên kia, nhưng trước hết, ta cần biết “nguyên lý đống cát” là gì đã. Nôm na, có thể phát biểu nguyên lý đó như sau: “Mọi biểu hiện (tinh thần, vật chất...) mà ta nhận thấy được, như đống cát có thể vun cao lên hay nhấp nhô lồi lõm, nhưng nhìn chung là có xu hướng cào bằng”.

Bạn sẽ nghĩ ngay: Ví dụ? Xin thưa là có vô số ví dụ ở tầm vĩ mô, vi mô hay thậm chí là siêu hình, nhưng tôi không thể liệt kê vô hạn ra đây. Vả chăng, đã là nguyên lý thì yêu cầu đầu tiên là ai cũng phải dễ tìm thấy ví dụ. Bởi vậy, tôi sẽ chỉ đưa vài ví dụ có tính đại diện ra thôi. Chẳng hạn:

Vĩ mô như của cải, theo một hình thái xã hội nào đó, nếu được phân đều cho mọi gia đình, thì tất cả cùng chung một mức sống nào đó, cao hay thấp tùy theo trình độ xã hội. Khi bắt đầu có người giàu, lập tức có người bị nghèo khổ đi. Dưới ánh sáng của "nguyên lý đống cát", điều đó trở nên dễ hiểu và mọi xã hội đều lo ngại những tác động (tiếc thay đa phần là tiêu cực) có xu hướng vun cao đống cát lên theo kiểu như vậy. Vì đó là biểu hiện của sự bất bình đẳng, một nguyên nhân khiến cho xã hội bị mất ổn định.

Vi mô như trạng thái dãn nở không đều của trái bóng bay: bình thường các phân tử khí phân bố ở trạng thái tự do, trái bóng căng đều. Dưới tác động cố ý của con người: ấn chỗ này xuống, nó sẽ phình chỗ kia lên. Theo một nghĩa không gán ghép, thì trạng thái ổn định của trái bóng tương ứng với đống cát ở trạng thái cào bằng.

Siêu hình như trí tuệ con người. Trong môi trường tiến hóa chung ở trái đất, mọi người đều sở hữu một khả năng trí tuệ không hơn kém nhau nhiều lắm. Do thói quen xã hội mà sự biểu hiện của trí tuệ ở mỗi người có xu hướng bị cào bằng để đồng thời: sử dụng cho giao tiếp xã hội; để học tập; để làm một công việc nào đó; để sử dụng phương tiện đi lại; để mưu cầu cho vô vàn lợi ích thiết thân... Kết quả là dần dần ta mất đi khả năng tập trung trí tuệ cho một đối tượng cụ thể nào đó và trở thành một người bình thường như đa số những người khác trong xã hội.

Nếu có ai đó bỗng nhiên bị mất khả năng chia sẻ trí tuệ cho nhiều hình thái giao tiếp như thế, “đống cát trí tuệ” sẽ được vun lên và dễ hiểu người đó sẽ trở nên một siêu nhân trong lĩnh vực mà trí tuệ anh ta nhắm vào. Với cách lập luận như thế, ta có thể để ý thấy những vĩ nhân trong lĩnh vực này sẽ rất... “vi nhân” trong (thậm chí là nhiều) lĩnh vực khác? Và hiển nhiên là chúng ta, những người bình thường (có đống cát bị cào bằng) sẽ thấy họ, những vĩ nhân đó (với đống cát vun cao), là bất thường! Thậm chí trong mắt ta, họ là những... dị nhơn!

Tất nhiên là cũng có những người bộc lộ trí tuệ cao ở lĩnh vực nào đó, mà dường như họ vẫn bình thường, đó là vì họ có khả năng điều khiển “đống cát trí tuệ” của mình: vun lên rồi cào bằng ra, hay có thể nó chỉ nhấp nhô đôi chỗ. Tuy nhiên, nếu có “xu hướng trung dung” (mà không dám, hay không thể xả thân?) như thế, đến một lúc nào đó, người đó không còn khả năng vun cao đống cát lên được nữa, họ vĩnh viễn trở thành... “thường nhân”. Nguyên lý này, với cách hiểu như thế, sẽ giải thích về những thần đồng, “vĩ nhân” thời bé khi ít va chạm tiếp xúc (lại có khả năng vun cao đống cát trí tuệ của mình), trở thành “thường nhân” khi đã trưởng thành (buộc phải cào bằng đống cát trí tuệ cho vô số các giao tiếp khác)!

Nếu hiểu như vậy, “nguyên lý đống cát” có thể dễ dàng giải thích được một số người bằng cách rèn luyện, có thể tự mình vun cao đống cát trí tuệ để trở thành nhà thông thái (thậm chí đạt đến sự thông tuệ tột đích như Phật Đà?), nhưng nhất định là phải thường xuyên rèn luyện để duy trì cho đống cát không bị cào bằng đi theo xu hướng cố hữu của con người. Với quan niệm như vậy, ta không còn cho rằng Niu-tơn, Ác-si-met hay A Nan ở ví dụ trên bị “đốn ngộ” nữa, mà đó là một quá trình rèn luyện để đạt đến trạng thái có thể vun cao đống cát trí tuệ lên và duy trì nó theo ý muốn.

Tương tự như vậy, ta có thể dễ dàng hiểu được năng lượng của con người vốn bị cào bằng ở trạng thái bình thường để chi phối cho vô số những hoạt động bản năng, vốn không cần tập trung năng lượng. Xuất kỳ bất ý, khi gặp một trạng thái đột khởi nào đó, anh ta tập trung năng lượng được một cách bản năng (vun cao đống cát năng lượng) và trở nên mạnh mẽ gấp bội. Như khi bị cháy nhà chẳng hạn, một người bình thường có thể nhấc cả thùng nước to mấy người khiêng; nữ anh hùng Ngô Thị Tuyển dưới mưa bom vác nổi thùng đạn nặng hàng tạ..., những hành động mà ở trạng thái bình thường họ không thể làm được. Hoàn toàn dễ hiểu là người ta có thể luyện tập để “vun cao đống cát năng lượng” một cách cố ý để trở thành vô địch nhảy cao, nhảy xa, bơi, chạy ma-ra-tông...

Vân vân và vân vân... Bạn có thể sử dụng “nguyên lý đống cát” để tự mình thấu triệt các hiện tượng khác. Chỉ lưu ý một điều, trong một trăm lần dùng “nguyên lý đống cát” trên để giải thích, nếu có duy nhất một lần nguyên lý đó bị... sai bét, thì coi như bạn đã góp phần vứt nguyên lý đó vào... sọt rác rồi. Đó chính là quy luật đào thải tự nhiên trong khoa học vậy. Tuy nhiên, người ta vẫn bỉu “nói đi cũng phải nói lại”: có thể trong một số trường hợp, nguyên lý nào đó bị sai bét, nó vẫn được sử dụng như thường. Theo một khái niệm mới (được đề cập trong tác phẩm “Cái vô hạn trong lòng bàn tay”), đó gọi là “tính định xứ” của một nguyên lý khoa học. Kiểu như các nguyên lý nổi tiếng trong cơ học cổ điển của Niu-tơn bị... sai bét trong cơ học lượng tử, nhưng điều đó không ngăn cản nó vẫn là những nguyên lý tối thượng trong thế giới vĩ mô vậy.





Thank you Hảo khách!


Phật tính phi thực?



Phật tính phi thực?


(Nhân đọc “Tứ vô lượng tâm” và “Cái vô hạn trong lòng bàn tay”-
Matthieu Riacar và Nguyễn Văn Thuận- Phạm Văn Thiều dịch)



Hầu hết mọi giáo lý nhà Phật đều thu phục nhân tâm do phù hợp với thiện tính con người, nhưng tại sao xã hội loài người không thể theo (một cách triệt để), để trở thành một xã hội mà người người đều có Phật tính? Chẳng hạn như hãy nói cụ thể về một trong những bước phát tâm hướng Phật tính là thiền tập “Tứ vô lượng tâm”, nghĩa là dần dần thấu triệt và thực hành “Từ, Bi, Hỉ, Xả”?

Trong “Tứ vô lượng tâm”, quan trọng nhất là “Xả” (loại bỏ): đầu tiên là xả cái tôi (tướng ngã), vì cái tôi là nguồn cội của “tham, sân, si”. Mà cái tôi là hư ảo, không có thật. Vì một cái không có thật mà phát sinh ra mọi tội lỗi, phiền não, khổ ải... thì thật là “vô minh”! Một khi đã xả được cái tôi, thì cũng xả bỏ được “tướng nhân” (gồm “ta” và “người khác”). Cũng từ đó mà xả bỏ được “chúng sinh” (gồm “ta”, “người khác” và “muôn loài”). Trong những điều cần xả, còn có xả “thọ giả tướng”, là gạt bỏ ảo tưởng về khả năng trường sinh bất lão, mãi mãi trường tồn, nguồn gốc của mọi tham vọng. Và cuối cùng là xả bỏ cả Phật pháp, tức là “vô chấp” Phật pháp. Nghĩa là hành Phật pháp mà không chấp (nghĩ) đến đắc đạo thành Phật (tức là không bao hàm một tư lợi).

Tiếp đến mới là “Từ, Bi”: yêu người, mang cho người niềm vui; chia sẻ với người nỗi buồn khổ. Cũng gọi là “ban vui, cứu khổ” và cuối cùng là “Hỉ”: chia sẻ niềm vui với người. Vô lượng tứ coi “Hỉ” là tâm khó thực hiện nhất vì bản tính con người có thể muốn làm cho người khác vui (“Từ”, ban vui) hay muốn sẻ chia nỗi buồn của người khác (“Bi”, cứu khổ) nhưng hay ganh ghét, rất khó chia sẻ khi thấy kẻ khác thành đạt, vui vẻ. Có lẽ điều đó cảnh báo những nhóm cộng sự thường gắn bó đoàn kết khi gặp khó khăn hoạn nạn nhưng lại dễ tan rã phân hóa khi bắt đầu gặt hái thành công???
Trở lên là tóm tắt một trong những (tạm gọi là) giáo lý nhà Phật mà hết thảy chúng ta, những người có thiện tâm - hay thậm chí là kẻ ác tâm(?)- đều thấy đúng, thấy hợp lẽ. Nhưng tại sao tôi lại nói là “phi thực”? Vì kể từ khi Phật Đà ra đời đến nay, đã gần 3000 năm, Phật pháp đã truyền đi khắp thế giới, hầu như không ai chỉ trích giáo lý nhà Phật, thậm chí nhiều quốc gia ở nhiều giai đoạn phát triển đã coi Phật giáo là quốc giáo, mà chưa từng đâu có một xã hội đã được... “Bồ tát hóa”, nghĩa là người người có triệt để Phật tính như Bồ tát?

Có nhiều nguyên do trong đó có nguyên do căn bản là quy luật phát triển của xã hội song hành với những cuộc đấu tranh, thậm chí là cạnh tranh khốc liệt. Trong phạm vi thế giới thì nước lớn lấn át, thôn tính nước nhỏ; trong phạm vi quốc gia thì các nhóm lợi ích thôn tính nhau, trong phạm vi một nhóm người thì ganh ghét, triệt hạ nhau... Ngay thế giới tự nhiên cũng phải đấu tranh sinh tồn, bất chấp tư duy: Cây cối phải vươn cao để đón ánh sáng mặt trời; loài thú nào không đủ mạnh ắt phải tuyệt chủng (có câu “cá lớn nuốt các bé”)...

Xã hội bao gồm những tế bào là gia đình, trong đó ông bà cha mẹ bươn chải để nuôi con cháu khôn lớn và chung tay xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cuộc sống cộng đồng. Những hoạt động đó bao hàm cạnh tranh theo những cấp độ khác nhau, (với những mục đích dường như bản năng): để có nhiều tiền hơn cho nhu cầu của gia đình, cần đua tranh vào những vị trí có nhiều thu nhập; để tăng thu nhập từ hàng hóa nông sản cần cạnh tranh về chất lượng sản phẩm với nhau... Kết quả là một xã hội phát triển, cho dù kèm theo đó là những tiêu cực không tránh khỏi như kẻ này thế chỗ kẻ khác một vị trí làm việc; hàng hóa người này khiến người khác ế ẩm thua lỗ, phá sản...

Trở lại việc thực hành “Tứ vô lượng tâm” như trên, nếu ai ai cũng trở nên toàn thiện theo đúng như vậy, thử hỏi động cơ nào cho xã hội phát triển, của cải đâu cho người khất thực vì lúc đó ai ai cũng đã... trở thành kẻ khất thực rồi. May thay là không thế, nếu không còn đâu người ngồi thuyết giảng về (chẳng hạn như) “Tứ vô lượng tâm” (?). Vả chăng, con người cần ăn uống để tồn tại, không sát sinh (theo nghĩa “chúng sinh” của nhà Phật thì từ hoa quả, cây cối làm thực phẩm đến động vật cung cấp dinh dưỡng, nghĩa là bao hàm cả “chay” và “mặn”) thì làm sao sống, nói chi đến hành Phật pháp? Thế mới nói “Phật tính phi thực” vậy.

Tuy nhiên, như ta dễ thấy, Phật giáo vẫn phát triển, giáo lý nhà Phật vẫn được đón nhận và thực tế đạo Phật có tính xã hội hóa cao nhất, gần gũi với con người nhất so với đa số tôn giáo hiện hành. Trong khi các tôn giáo khác thường đòi hỏi người ta phải từ bỏ (cải đạo) để gia nhập, thậm chí là phải “tử vì đạo” thì Phật giáo luôn đón nhận “thập loại chúng sinh”, cho dù họ đang tồn tại ở môi trường xã hội nào. Ngoài ra, có lẽ một phần do sự không hoàn hảo (phi thực) của Phật tính ở đa số con người, mà xã hội không ngại hướng về Phật tính? Vả chăng, cứ cho là mười phần, nếu con người đạt được 5 phần những gì kinh Phật răn dạy, há đã chẳng là quá tốt cho xã hội rồi ư?



Thank you Hảo khách!