Skip navigation.

Sign up | Lost password? | Help

Mr. Geroi's Blog

Opera lại OK rùi. Tại cái FF cũ.

Đối thoại về người anh hùng.



Đối thoại về người anh hùng.




Mấy hôm nay trời rét nhưng nhóm các cụ về hưu vẫn không bỏ thể dục sáng, đủ để thấy “thói quen khó bỏ”. Một phần vì ngay tôi đây cũng thấy không thể bỏ một buổi đi bộ ra hồ đã thành thói quen từ dăm năm nay rồi. Ngoài ra còn cảm thấy nếu bỏ, sức làm việc cho một ngày sẽ kém hẳn đi. Hôm nào có tiết đầu, tôi còn phải để báo thức từ 5 giờ. Mà mùa này, 5 giờ hãy còn tối mịt...

Tôi thấy các cụ ra hồ nhiều khi còn vì nhu cầu trao đổi thông tin thời sự nữa. Và hôm nay, tôi nghe họ trao đổi về một chủ đề đang nóng trong thời gian gần đây, đó là án phạt dành cho bà Ba Sương, một người anh hùng nông dân.
Bắt đầu là cụ A:
- Tôi không cảm thấy bình thường trong việc bỏ tù vị “anh hùng áo vải” này, các cụ ạ. Cứ như địa phương có những “ân oán” riêng nào đó, hay chí ít là cố gắng lấy thành tích về chống tham những...
Cụ B:
- Hình ảnh “anh hùng áo vải” mà cụ dành cho bà Ba Sương có vẻ hợp cảnh: chồng con không, nhà cửa không, ngoài sáu mươi tuổi với hơn nửa đời gắn bó với ruộng đồng... Tham nhũng gì ở người phụ nữ này đây hả các cụ?
Cụ C:
- Tôi cũng thấy không bình thường. Có vẻ như địa phương muốn tỏ “oai trời”, nhưng tiếc là không đúng đối tượng. Tôi nghĩ rằng tìm những kẻ tham những đích thực ở trung ương và địa phương hiện tại chẳng khó khăn gì. Bên Tây, nó cứ chiếu thu nhập với tài sản chìm nổi của quan chức là mò ra ngay. Mà tiêu chí ấy áp dụng cho bà Ba Sương thì chả thuyết phục được ai.
Cụ D:
- Đã gọi là Anh hùng, phải được xem xét, sàng lọc từ địa phương lên. Nay đùng một cái, vẫn người ấy với những tội trạng không mới, có nguồn gốc từ hàng chục năm nay thì thật nực cười...
Một cụ phát hiện:
- Cánh báo chí nhiều khi họ khá tâm huyết, các cụ ạ. Các báo đã tạo dư luận ủng hộ bà khá lâu rồi. Chứng tỏ họ biết vụ này không dễ dàng gì... Tôi cho rằng trong vụ này, không những họ có thể cứu được người anh hùng, mà có khi còn lôi ra khối chuyện làm mưa làm gió mượn tay pháp luật ở địa phương nữa...
Cụ khác đồng tình:
- Tôi cũng cho là cánh báo chí rất có tình trong vụ việc này. Họ làm khá bài bản, từ những văn bản chỉ đạo của địa phương, những cảnh báo của lãnh đạo từ cách đây cả chục năm họ đều “nói có sách mách có chứng”, khiến cho nhiều vị lãnh đạo địa phương “há miệng mắc quai”...
Cụ nhận xét ban đầu về báo chí nhận xét:
- Cũng may cho bà Ba Sương (đấy là kể sau này được trắng án) là đang kỳ họp quốc hội, các nhà báo có cơ hội chất vấn trực tiếp được nhiều quan chức và họ không thể lảng tránh chuyện này. Đặc biệt là các vị lãnh đạo trung ương, vì qua đây có thể nhận xét về năng lực pháp lý trong những vụ việc cụ thể và tầm ảnh hưởng của họ đối với các địa phương...

Qua đoạn đối thoại của các cụ, tôi cho rằng họ có quá nhiều kinh nghiệm về những vấn đề tương tự, vì họ vốn là những công chức thời xưa về hưu, những người vốn trung thực và đầy nhiệt huyết về những vấn đề xã hội. Tôi cho rằng những ai theo dõi vụ việc này, đều cũng thấy đồng tình với những trao đổi của họ.

Vì đúng như phát biểu của ông Phó Chủ tịch QH Uông Chu Lưu với cánh báo chí bên hành lang kỳ họp Quốc hội sáng nay: “Bản án sau khi được tuyên mà dư luận lại không đồng tình thì phải xem lại...”. Hy vọng các cụ đúng và danh vị anh hùng nông dân lại được trả lại cho bà Ba Sương, đó còn là mong muốn của nhiều nông dân từng lăn lộn... “Ba sương” một nắng với bà...





Thank you Hảo khách!




Quần ngư tranh thực



Quần ngư tranh thực




Tại thành phố Hồ Chí Minh, cũng như Thủ Đô Hà Nội, những vùng ngoại ô xa tít hiện nay đất đã đắt như vàng, vậy mà trong nội đô, ta vẫn dễ thấy “những khu đất hoang” đẹp như tranh vẽ, cái đẹp ở vị trí đắc địa của nó cũng có nghĩa là cái đẹp... “kim tiền”- nhiều nơi đến vàng, thậm chí cũng chưa chắc đắt như đất ở đó?! Tỷ như hàng ngàn mét vuông kho bãi hoang hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh mà báo chí và TV nhiều lần nhắc tới; hay đập vào mắt tôi mỗi sáng đi bộ ra hồ Giảng Võ là hàng trăm mét mặt đường Giảng Võ, sâu hàng mấy chục mét, sát ngay cạnh Cục thuế Hà Nội nhìn ra đường Trần Huy Liệu chẳng hạn.

Tại sao mấy chục năm nay, hàng ngàn mét vuông đất đó vẫn bị bỏ hoang hóa? Hãy sơ bộ tính giá thuê mặt tiền những khu như trên phố Giảng Võ, ta dễ dàng thấy Thành phố đã hoang phí tiền tấn ở đó. Kể về mỹ quan thì cái nội đô cũ của Thủ Đô chỉ bé cỏn con mà vẫn còn những khu cỏ dại chen đầy mặt phố như vậy thì thật là kỳ lạ? Cứ như lãnh đạo Thành phố và các nhà hoạch định kiến trúc đô thị của Thủ Đô đang lơ đãng để mắt đi đâu đó mà để quên những khu đất đó đi vậy?

Nhưng rồi nghĩ lại, ta sẽ thấy nó giống hơn cái hình ảnh một chú nai tơ tung tăng trên bãi cỏ mà chung quanh không chỉ một mà có rất nhiều sư tử đang rình. Thọat nhìn, ai cũng ngạc nhiên sao con nai vẫn sống sót, vẫn nhở nhơ giữa bầy dã thú. Nhưng nhìn kỹ thì thấy nó sống sót chỉ vì những khắc tinh của nó, bầy sư tử đang bận gầm ghè nhau, chưa chú nào dám động thủ mà thôi. Hễ sư tử thỏa thuận được với nhau thì nai tơ ta hết đời? Đó cũng chính là hình ảnh đàn cá dữ cùng gầm ghè quanh một con mồi từ câu thành ngữ quen thuộc “quần ngư tranh thực” vậy...





Thank you Hảo khách!




Trường đại học trên khán đài B?



Trường đại học trên khán đài B?




Mấy hôm nay xem thời sự trên VTV1, thấy có cái trường mang biển hiệu rất to, gọi là “Đại học Nguyễn Trãi” gác trên hàng rào sân vận động Mỹ Đình. Biên tập viên 360 độ thể thao thông báo các lớp học của trường này mở trên khán đài B nên có khả năng được nghe thông báo nghỉ học dài dài, vì hiện sân vận động đang có nhiều cuộc thi đấu các môn của giải thể thao trong nhà khu vực châu Á, lần thứ 3 (AIG3).

Sáng nay tập thể dục bên hồ, nghe các cụ bình luận về đề tài này. Theo các cụ, đây gọi là kinh doanh đại học, đại học chỉ mở để thu học phí, không phải để dạy và học. Vì thế mới có tin trên báo chí về thí sinh chỉ có 7 điểm ba môn mà tới tấp nhận giấy báo nhập học của tận... 20 trường (cao đẳng và đại học) khác nhau. Với điểm ấy, phản ảnh đúng thực chất lực học của thí sinh ấy, thì các trường bậc Cao đẳng hay Đại học không thể dạy, mà học sinh cũng không thể học được. Thế thì ghi danh chỉ để thu học phí thôi, các cụ bảo đúng quá đi rồi...

Một cụ thông báo vừa đọc cái tiểu phẩm hài trên báo TP. Một ông Tiến sĩ hăm hở về quê nhờ ông bạn là chủ tịch xã chạy cho thủ tục mở trường đại học ở quê, theo quy trình từ xã lên huyện lên tỉnh... Ông chủ tịch xã không am hiểu lắm về chuyện tày đình này, vì ông vốn có học đại học bao giờ đâu. Ông Tiến sĩ tư vấn: Bằng tiến sĩ là tiêu chuẩn để đứng ra mở trường, kiểu như bằng Đốc-tơ để mở hiệu thuốc tây ý, thì ông có rồi. Chỉ cần chừng 5 tỷ để đầu tư xây phòng học và mua trang thiết bị, nhờ địa phương vay vốn ở nông thôn với lãi suất thấp...

Ông chủ tịch xã hiểu ra, liền phát huy sáng kiến: xã ta có dãy chuồng lợn, chuồng bò khá... hiện đại ở ngoài đồng, ngặt vì dịch tai xanh rồi lở mồm long móng mà nay bỏ hoang cả. Chỉ cần cho thợ quét vôi lại là đỡ được một khoản lớn kinh phí cho phòng học... Ông vạch ra ý tưởng trong tầm tay một cách say sưa và hăng hái nhưng vẫn không quên chốt hạ: Đề nghị ông bạn Tiến sĩ lưu ý ưu tiên cho con cháu họ hàng nhà mình được học đại học tất ở xã để chả phải đi đâu xa mà tương lai vẫn có bằng cử nhân, Tiến sĩ...

Ông Tiến sĩ nghe ra, mừng như nhặt được vàng vì đỡ được cái khoản kinh phí khá lớn cho phòng học, vì ngoài phố, bạn bè ông cũng mở trường, nhưng chúng nó cứ gọi là lao đao vì phải cho sinh viên chạy xô học nhờ bất cứ xó xỉnh nào kê được bàn ghế, thậm chí phải ra cả khán đài B sân bóng đá để mở lớp. Nhưng khi nghe câu chốt hạ của ông bạn vàng, lại là người trong tộc họ mình xin ưu tiên cho con cháu họ hàng vào học, bèn lập tức cắt ngay: Ấy chớ, trường này chỉ mở để thu tiền thôi, chứ học hành dạy giỗ gì ở cái xó xỉnh đầy chuồng lợn chuồng bò này mà xin cho con cháu mình vô...

Thế mới biết, kẻ mở trường đại học với ý đồ như vậy đã quá tệ rồi. Người có trách nhiệm thẩm định cho cái trường đại học như thế mọc ra, còn đáng trách hơn. Chuyện về cái trại lợn, trại bò tân trang mà các cụ bên hồ kể, thì cứ cho là tiểu phẩm hài hước, là ngoa ngôn loạn chuyện đi, chứ cái dãy phòng học (hay cái gì tương tự thế) trên khán đài B sân Mỹ Đình, với cái biển hiệu trường đại học to đùng (xù xì?) mang tên Đại học Nguyễn Trãi trên hàng rào sân vận động đó, người xem TV mấy hôm nay ai mà chả mục sở thị? Nhưng, có lẽ rồi còn phải “xem tiếp hồi sau mới rõ” nữa cơ đấy, vì chuyện trứng ngâm a xít, lên báo lên TV rành rành, mà sau đó vẫn người bảo có, kẻ bảo không, chả biết đằng nào mà lần nữa là...




Thank you Hảo khách!




Thỏ lặn ác tà.



Thỏ lặn ác tà.




Trong tiếng Việt, có nhiều câu, nhiều từ thú vị chỉ thời gian trôi qua mang tính hình tượng, ẩn dụ chứ không chỉ rõ ra: “thấm thoắt thoi đưa”, “bóng câu qua cửa”... Riêng Truyện Kiều của Nguyễn Du có nhiều câu ám chỉ sự dịch chuyển thời gian ứng vào ngữ cảnh một cách bậc thầy theo kiểu như vậy: “Tà tà bóng ngả về tây”, “Mùa xuân con én đưa thoi”, “Trải bao thỏ lặn ác tà”...

Tại sao lại “tà tà”? Những tưởng thời gian trôi đi vĩnh hằng: mỗi ngày 24 giờ, mỗi năm 365 ngày chứ? Sao ở đây thích nhanh thì bảo “thấm thoắt thoi đưa” hay “bóng câu qua cửa”; thích chậm lại bảo “tà tà bóng ngả về tây”? Theo một nghĩa nào đó, ta cứ ngỡ như Nguyễn Du (nói riêng) hay dân gian (nói chung) đã tường tận “nguyên lý bất định” của thời gian, một phần quan trọng trong cái “tuyệt đối khó” của “Thuyết tương đối” Anh-stanh rồi vậy. Với Nguyễn Du, thời gian không vĩnh hằng, thời gian là bất định, có thể nhanh chậm phụ thuộc vào tâm trạng nhân vật của ông.

“Tà tà bóng ngả về Tây” là ám chỉ thời gian trôi đi chỉ khi người ta không vội vã, thời gian giành cho đi dạo hay cho một công việc nào đó không ấn định giờ giấc. Ở ngữ cảnh này là khi chị em Kiều đã tảo mộ xong, dạo chơi xong và đang “thơ thẩn”, thủng thẳng dắt tay nhau ra về. Dùng cho ngữ cảnh khác nhiều khi không hợp hay thậm chí là không được... Tỷ như khi Vương ông chưa kịp kể hết câu chuyện về “thằng bán tơ” cho nàng Kiều, mà “người nách thước, kẻ tay dao” đã ập đến, trói gô hai cha con “một lão một trai” bằng thứ “dây vô định” lại, thì tuyệt nhiên không thể dùng “tà tà bòng ngả về tây” được rồi...

Mặc dù thông thạo Hán ngữ, thuộc lòng vô số điển tích Trung Hoa, nhưng nhiều khi Nguyễn Du tránh dùng những từ Hán Việt, hay có chăng là những ẩn dụ đã Việt hóa đi rồi. Chỉ thời gian trôi đi một cách tuần hoàn, hết đêm đến ngày, ông viết: “Trải bao thỏ lặn ác tà”. Dân gian ví mặt trăng hiền từ, trong trắng mát mẻ bằng những hình ảnh đẹp như chị Hằng (Hằng Nga), Thỏ ngọc, hay thậm chí là giản dị quen thuộc như chú Cuội, cây đa. Thỏ lặn nghĩa là trăng khuất núi, hết đêm rồi. Còn mặt trời, nóng nảy thiêu đốt, con người không ra ngắm như ngắm trăng được, thì ví với con vật xấu xí chẳng ai muốn nhìn như con quạ (chim ác). Ác tà là khi mặt trời khuất dần đi sau đường chân trời, đã là lúc ngày qua cho đêm tới rồi.

Tuy nhiên, đó là kể riêng ra mà bình luận cái sự tuần hoàn của đêm và ngày, để chỉ thời gian trôi đi thôi. Chứ dùng nó vào đâu, còn tùy thuộc vào những tình huống cụ thể nữa, điều này thể hiện tài năng của thi nhân. Thời gian trôi đi mà dùng câu “Trải bao thỏ lặn ác tà”, thì chỉ tuyệt khéo khi miêu tả nấm mộ Đạm Tiên bị mưa gió bào mòn đi qua năm tháng, trong sự lãng quên của người đời thôi, chứ dùng vào tình huống khác không đắt, thậm chí là không dùng được. Tỷ như ngày xuân là thời điểm con người thường khắc khoải nhớ mong, để ám chỉ người thiếu phụ ngóng chồng ngoài biên ải chẳng hạn, có thể dùng “con én đưa thoi”, chứ tuyệt nhiên không thể là “thỏ lặn ác tà”, mặc dù cả hai câu đều ngầm định thời gian trôi đi...

Thế mới biết cái tài của dân gian hay ở đây ta đang nói đến thi nhân họ Nguyễn Tiên Điền, đã khéo sáng tạo ra hình tượng, lại tuyệt khéo khi sử dụng đúng nơi, đúng lúc, đúng chỗ hình tượng đó, khiến cho Truyện Kiều hàng trăm năm nay vẫn được hậu thế xếp vào hàng “đệ nhất lục bát diễm tình”, xứng đáng như chính những câu thơ tuyệt bút mà thi nhân dành miêu tả thi tài của nàng Kiều, cái đêm nàng trổ tài đọc thơ cho chàng Kim nghe: “Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”...




Thank you Hảo khách!





Lâu lâu chẳng viết được gì...



Lâu lâu chẳng viết được gì...




Lâu rồi không viết lách gì. Bảo là bận, thì bận thật vì giờ lên lớp cứ xé lẻ thời gian ra, trong khi để viết ra cái gì đó cần phải ngồi lâu lâu một chút... Nhưng, nếu kể thế thì dễ quá. Dễ biện hộ cho việc lâu lâu chẳng viết được gì...

Lâu lâu chẳng viết được gì còn do tự nhiên... mất lửa nữa. Thì ra là để viết được, cũng cần không khí, cần môi trường. Từ khi Yahoo!360 tan rã, ít được đọc các bài viết hay ho của nhiều người, không được sống trong không khí viết lách nên cảm hứng của mình cũng bị... xuôi xị đi?

Đọc báo chí, nghe nói đa phần các “cựu 360” sang hết bên Facebook trồng rau nuôi gà. Nếu quả vậy thì Bộ giáo dục nên trao cho Yahoo danh hiệu “Vì một nền văn chương Việt”? Vì suy cho cùng, 360 từng là mảnh đất màu mỡ cho bao người rèn dũa văn chương hay gì đó gần gũi với văn chương! Có lẽ bởi vậy mà có ngôi nhà nhỏ bên Facebook nhưng cũng ít khi tôi ghé qua...

Munti thì có vẻ đìu hiu cho dù thực ra có lẽ chỉ mình tôi thấy thế? Mà cũng không hẳn vậy. Dường như blog đang hồi thoái trào và người ta ít viết hơn, cũng như mình ít có cảm hứng viết hơn? Viết blog như một thứ giải trí và nó không nằm ngoài quy luật hào hứng rồi chán đi? Đến cả thói quen dạo quanh một lượt các trang viết của mình mà rồi tôi cũng nhận thấy mình đã thưa dần đi.

Thử ngồi gõ một điều gì đó mong tìm lại thói quen viết lách mà thấy thật chẳng dễ gì. Ngay cả khi anh bạn Thiết Hùng đột nhiên gọi đặt hàng, cứ nghĩ như hồi trước, liền nhận lời ngay với hy vọng ngồi xuống sẽ viết ngay ra được, mà không phải vậy. Một phần có lẽ đề tài chẳng dễ dàng gì vì mấy lần có chủ ý ngồi gõ mà chẳng thấy cảm hứng đâu, biết ngay là sẽ thất bại. Phần khác lâu lâu không viết, phản xạ dường như đã kém đi. Mới biết lời nói người xưa chửa thấy sai: Văn ôn võ luyện!

Cứ sợ rằng vì lâu không viết mà mình bị trì trệ đi mất, nhưng mỗi lần tạm ngừng công việc để viết, rồi lại chẳng viết được gì. Biết là có viết cũng chẳng ra gì nên lại quay về với công việc và thời gian cứ thế trôi đi, để thỉnh thoảng lại giật mình vì lâu lâu chẳng viết được gì...





Thank you Hảo khách!




Vô đề



Vô đề




Một thời...


Cái gì cũng chỉ được một thời thôi?
Thanh xuân một thời
Vui vẻ một thời...

Một thời em phới phới xuân xanh
Đi thẳng chẳng hề ngoái lại
Một thời bè bạn vây quanh...

Tóc xanh rẽ thành hai mái
Da nõn nà
Mắt huyền lúng liếng...
Lúc nào cũng vui
Cũng thấy ai đó nhìn mình xao xuyến?

Nay đã thấy vơi đi tiếng cười
Vơi đi niềm vui vu vơ
Vơi đi nỗi nhớ bâng quơ
Vơi đi nỗi buồn vô cớ...

Tuổi thanh xuân qua đi
Là khi nhìn thấy gì cũng rõ
Không còn vu vơ, bâng quơ, vô cớ:
Niềm vui hồ nghi
Nối nhớ bỏ đi
Nỗi buồn đọng lại
Vô vi...

10/10/2009



Mùa đông?


Mùa thu dường như chưa đến
Mùa hè như chẳng muốn qua
Phố phường nóng như chảo lửa
Cơn mưa bất chợt vỡ òa

Chợt ngoảnh tháng 10 ùa đến
Mang theo một chút heo may
Tưởng như mùa đông gõ cửa
Khẽ khàng chiếc lá thu bay

Mùa hè mải chơi nấn ná
Để mùa thu khuyết trong năm
Bởi thế ta như bỡ ngỡ
Khi mùa đông chợt ghé thăm...

17/10/2009




Thank you Hảo khách!




Ảnh chùa Biện Sơn


Ảnh lớp Báo chí khóa 3 lên chiêm bái xá lợi Thích ca mâu ni Phật

theo lời mời của Đại đức Thích Minh Pháp.



(Xem bài trên báo Dân Trí)












































































Thông tin



Thông tin




Độ rày hơi bị nhiều giờ nên hàng ngày chỉ còn chút thời gian lẻ tranh thủ lướt qua báo mạng, xem thời sự trên TV vào giờ ăn cơm, thấy bộn bề thông tin...

Nào là cơn bão Ketsana vào miền Trung và khu vực Tây nguyên gây thiệt hại ghê gớm. Khá lâu rồi, bão chỉ ở ngoài khơi, nay xộc thẳng vào đất liền khiến cho ông Bí thư tỉnh nọ bức xúc, nặng lời với “cánh thời tiết”. Của đáng tội, lúc nóng lên, lại vốn xưa nay làm vua một vùng, chả ai dám cãi, nay cứ phán bừa đi vậy thôi. Chứ thực ra thời tiết thất thường, bảo sai thì làm sao chả có chút sai, mà quy tội cho bên thời tiết thì chính ông mới bị sai nhiều, chứ không phải chỉ “một chút” nữa.

Làm thời tiết là cả một đội ngũ cán bộ khoa học chuyên ngành, lại dễ dàng tham khảo thông tin của hàng loạt các nước khác trên thế giới cùng quan tâm đến một đối tượng (cơn bão) ấy với đủ mọi phương tiện hiện đại và hàng nhiều chục năm kinh nghiệm, nói trắng phớ ra là sai, nghe sao được? Vậy mà vẫn cứ khăng khăng lấy được, thì cũng lạ, cái việc lẽ ra đứng đầu một tỉnh, anh phải cảm ơn hộ dân một tiếng, mới phải đạo chứ...

Rồi tin về tai nạn giao thông, liên tục và thảm khốc. Vừa một xe khách đâm vào xe contener, nhiều người chết; lại hai xe khách khác đâm trực diện vào nhau, kèm một danh sách dài người thiệt mạng... Lại nhớ cái tổng kết của cánh phóng viên giao thông trên TV: ở Việt Nam một ngày trung bình có ba mươi người bị thiệt mạng vì tai nạn giao thông. Thấy còn ghê hơn HIV, hơn SARH, hơn cả H1N1, chỉ khác là không thấy nguy cơ lây nhiễm, nên vì thế mà không lên phương án cảnh báo đặc biệt như mấy “anh” kia?

Nói đến H1N1, chỉ đọc báo thì thấy còn xa xa đâu đó, bắt đầu là Mêhico, Mỹ rồi HongKong, Đài Loan... gần chút nữa thì ở một số trường học rải rác tỉnh này, tỉnh nọ. Nay thì đã là tin đồng nghiệp của vợ có con bị H1N1, và vừa sáng nay đi chào cờ, đã thấy bộ môn mình có mẹ phải nghỉ vào viện chăm con H1N1 rồi. Có vẻ như xa xa thì thấy ghê ghê, còn ngay bên cạnh thì cũng đến vậy? Mà nếu không đến vậy thì biết đến làm sao nữa nhỉ?

Lại tin về giá cả, đặc biệt là giá xăng, vì nó liên quan đến nền kinh tế, mà nhỡn tiền là liên quan đến cái xe máy ta đi mỗi ngày. Thấy cũng lạ, vì hè năm ngoái khi dầu lên 145 đô một thùng thì xăng chỉ ở 17 nghìn, nay dầu mới chớm một nửa, độ trên 70 đô thì xăng đã vọt lên gần 16 nghìn? Mới xuống chưa kịp mua thì đã nghe phong thanh xăng chuẩn bị lên? Cái lý đưa ra là dầu khác, xăng khác. Dầu có khi rẻ nhưng xăng đắt thì cũng... rứa, nghĩa là phải... “lên giá thôi, chúng mày ơi!”. Nhưng suy cho cùng, không chỉ tại mấy ông xăng dầu đâu, họ cũng... “khó nói bỏa mịe đi í chứ”, ai muốn bán đắt làm gì! Dưng mà thà đừng nói, chỉ gãi tai rồi cứ tăng giá lên, đừng ní nuận rằng thì là bên Tây í, giá xăng cũng cao thế, nghe chán lắm. Vì bên Tây, ai bán rẻ khối thứ cho chúng nó xài như ông xài bên ta? Vả lại, so thế sao không tiện thể so cái đồng lương của ta với Tây cho nó... hành tá?

Rồi tin về giá xe ô tô. GM bên Mỹ nổi tiếng cả trăm năm nay thì chết trắng mắt, trong khi mấy cái hãng lắp ráp xe ở Việt Nam vẫn sống... nhăn răng. Giá xe bên chính quốc người ta bán một, ở Việt Nam nó bán đắt gấp 3, vậy mà còn bày đặt xếp hàng, mua chui. Lại nhớ cái hồi xe máy Wave Thái. Bên chính quốc nó bán 700 đô, sang Việt Nam đã lên 2000 đô, tranh nhau mua. Các hãng xe máy Việt Nam nhờ gió bẻ măng, xe nội kém hơn sản xuất ra cũng cứ giá ấy mà bán vô tư. May có anh Tàu đổ bộ xe dỏm sang, hạ nhiệt hộ mà xe trong nước mới chịu “trả lại tên cho em”, trở về gần với giá trị của nó, chỉ bằng phân nửa... Nghĩa là ô tô ấy, bên chính quốc chỉ 1/3, nhà nước thu 1/3 còn nó ăn lãi 1/3, tức là “trăm dâu đổ đầu... dân” ta? Gần đây đọc báo, thấy dân tình đang lên án VAMA, hiệp hội ô tô Việt Nam cam tội tố cáo xe nhập ngoại trốn thuế, nhằm triệt hạ mầm mống cạnh tranh. Chỉ vì người ta đang có xu hướng mua xe ngoại nhập, vừa tốt vừa rẻ hơn xe nội do VAMA áp đặt giá...

Lại tin về lương lậu. Thông tin đại chúng, từ báo chí cho đến TV, lan sang cả dân, cứ hễ có tin tăng lương là lại điệp khúc “rồi giá cả lại tăng cho coi!”. Cứ làm như giá chỉ ngồi rình, chờ lương tăng mới tăng vậy. Mà lạ là vẫn thường xuyên nghe tin giá cả tăng đều đều, hàng năm mới có đợt tăng lương, vậy mà hễ khi nghe phong thanh tăng lương, lại thấy điệp khúc “thở dài” như thế? Rõ là chỉ mình nhát mình mà thôi chứ nếu so sánh, giá tẩu như ngựa ông lớn phi, còn lương, chỉ như mấy anh lính Tây Sơn ngày xưa vác giáo chạy bộ theo sau, chứ nhằm nhò gì...

Mà rồi, trông thế thôi, chứ cứ lên mạng mà không làm việc, thì chán muốn out ngay ý mà, vì quanh đi quẩn lại, chỉ mấy cái tin thế, báo nọ đăng hộ báo kia. Chán rồi, thì sửa cái tít đi, đại để “thầy giáo với học sinh” thế này... Sang báo khác, thêm vô cái tít “Lại thêm một thầy giáo với học sinh” thế kia. Kỳ thực, vẫn là tin ấy. Thảng hoặc, cũng có những cái điểm tin tuần đọc khá được, như của VNN...

Nói đi vậy thôi chứ nói lại, cũng không bỏ báo chí được. Bận việc mấy thì cũng vẫn dành chút thời gian lẻ tranh thủ đọc qua tin tức trên mạng, xem thời sự trên TV vào giờ ăn cơm, để thấy bộn bề thông tin như thế...





Thank you Hảo khách!




Phát minh?



Phát minh?




Vì một lý do rất... “giời ơi đất hỡi” mà cái điện thoại bàn nhà tôi thường nhận được những câu kêu cứu kiểu như: “Ôi, anh ơi (chắc là nghe thấy giọng nam... trung?), em (tôi, cháu...) bị nuốt thẻ rùi”. Vài lần ngạc nhiên rồi tôi cũng thấy... “chán chả thèm ngạc nhiên” nữa, vì biết là những “nhân” ấy gọi nhầm vào số nhà tôi mà cứ tưởng là gọi cho ngân hàng có cái ATM đã “cam tội nuốt thẻ” của họ. Thậm chí tôi còn nhiều lần nghe cả... Tây kêu cứu nữa. Thế mới bít, không chỉ cái thẻ mà cái hướng dẫn sự cố của Ngân hàng cũng thật là... củ chuối nữa?

Vì bức xúc, tôi luôn nung nấu cái ý tưởng nghĩ cách “chống nuốt thẻ”, một phần để đỡ khổ cho chúng sanh, phần để tôi đỡ nghe điện thoại... rác (?), nên một ngày đẹp giời, tôi đã phát minh ra cách chống nuốt thẻ. Nghĩa là phải làm sao để khi giao dịch, người sử dụng thẻ không còn thấp thỏm sợ cái máy ATM (vốn đã vô tri giác thì chớ lại rất thường bị lỗi) không thèm nhả thẻ ra.

Bạn sẽ nghĩ: chắc chả dễ, vì cả thế giới nó thế. Mà thế giới thì thiếu thì thằng giỏi, đâu đến lượt mình phát minh? Tôi cũng từng nghĩ thế (nên tận hôm nay mới phát minh ra?) và đã thấm thía một sự thực rằng, khoa học nhiều khi bị kìm hãm là do ta “tự ti” quá, cứ nghĩ mình... kém tắm nên không chịu phát minh hay cải tiến cái gì đó đã từng có sẵn rồi. Cũng vì tâm lý đó mà nhiều cái tưởng đơn giản mà mãi chả ai thèm cải tiến gì, cứ loay hoay chịu đựng.

Nhiều khi, cũng bởi những đầu óc thiên tài mải nghĩ chuyện “lên mặt trăng”, mà lãng quên chuyện vặt vãnh. Kiểu như Niu-tơn (?) thấy hai chú mèo cưng của mình (một to một bé) cứ làm phiền mình phải mở hoặc đóng cửa mỗi khi chúng cần ra vào, bèn cặm cụi đục hai cái lỗ, một to, một nhỏ cho chúng tự do ra vào tùy thích vậy. Dọn đường thế để bây giờ tôi chiềng làng cái phát minh của mình, cho các bạn đỡ thấy... nhột, hay buộc phải kêu lên: đây mà là phát minh ư?

Xin thưa vâng, đấy là phát minh đấy ạ. Mà là một phát minh quan trọng nữa. Vì nhờ có nó mà thiên hạ bi giờ tha hồ “cà chớn” với cái máy ATM mà không sợ bị nó nuốt thẻ, không sợ vì thế mà mất công đi làm lại thẻ và đặc biệt là không còn Sì-pam vô cái điện thoại bàn của tôi nữa. Vậy phát minh đó là gì? Bạn sẽ rất sốt ruột mà nghĩ thế. Xin thưa là chỉ đơn giản thế này: cái thẻ ATM mà chúng ta đang dùng ý, nó là phát minh của một kẻ rất “ngớ ngẩn” (so với bây giờ thôi), vì chả cần thiết phải để máy “nuốt hẳn vào bụng” như thế mới đọc được thông tin trên thẻ. Vậy thì phải cải tiến cái thẻ ý đi, sao cho khi cắm vào máy, người sử dụng vẫn “nắm đằng chuôi” (theo cả nghĩa đen lẫn bóng!), nghĩa là có thể dễ dàng rút ra ngay, nếu đổi ý.

Vậy là xong. Cuối cùng, vì cả... thiên hạ, tôi xin biếu không phần xác của phát minh này, chỉ giữ lại cho mình phần hồn (bản quyền ý tưởng) của nó, theo cách một câu lẩy Kiều nào đó “của tin chỉ một chút này làm ghi”...

P/S: Ai đó sẽ phản ứng: Xì, tưởng gì. Việc phải nuốt thẻ vào bụng máy là bắt buộc để kẻ gian không sử dụng được thẻ ăn cắp. Xin thưa là nếu nghĩ thế, bạn đã quá coi thường khả năng của công nghệ tin học rồi. Thay vì phải nuốt đi (mà tiếc thay hầu như chỉ làm hại khổ chủ do lỗi máy), người ta chỉ việc vô hiệu hóa những thẻ nạp sai mã nhiều lần, rồi khôi phục lại nếu xác thực đúng là chính chủ. Vả chăng, điều gì chả có hai mặt. Những đồ vật quý như con xe bạc tỷ mà rơi vào tay đạo chích, nó cũng bị bốc hơi như thường, mọi thứ mã khóa chúng cũng thành vô dụng. Ngay cả bom hạt nhân, nếu rơi vào tay kẻ gian, nó cũng gây tác hại như thường, cho dù người ta đã tìm cách hạn chế tối đa khả năng kích hoạt nó trong những trường hợp như thế...






Thank you Hảo khách!



Cái lý của người Mèo.



Cái lý của người Mèo.


(Nhân đọc báo mạng mấy hôm nay)




Bạn tôi tên là Dục - Trịnh Đức Dục - cùng học văn hóa ở Lạng Sơn hồi năm 1975 có cái vẻ bề ngoài rất giống Trịnh Thịnh, một diễn viên hài nổi danh thời đó. Trịnh Thịnh vẻ ngớ ngẩn và trung thành mà không giấu được vẻ hài hước, lanh hoạt trong vai “ông Củng”, người hầu của một gia đình danh gia vọng tộc Hà Thành, trong phim “Lá ngọc cành vàng”, loại phim video thời “nhà nhà làm phim, người người làm phim”. Bởi thế, chúng tôi thường gọi Dục bằng cái tên... ông Củng.

Ông Củng vẻ ít nói nhưng nói chuyện rất khôi hài, kể từ vẻ mặt trở đi. Dục kể, dạo ở đơn vị với Dục, có một cậu lính người dân tộc Mèo, nhưng rất ngang. Một mình một lý. Anh em biết tính, lại “thông cảm” là người dân tộc nên ít khi phê bình cái tính bảo thủ nhiều khi rất ngớ ngẩn của cậu ta trong các cuộc họp, mặc dù thời đó rất thịnh hành “công cuộc phê và tự phê” mỗi tối sinh hoạt đơn vị. Từ đó mà có câu đại loại: lý đâu bằng “cái lý của người Mèo”, gọn lại thành câu châm ngôn cho người... cùn, là “cái lý của người Mèo”!

Dẫn ra thế để thấy mấy hôm nay báo chí Hà Nội xôn xao câu chuyện về một vị Tiến sĩ là “chuyên viên cao cấp Sở Nội vụ Hà Nội, thành viên “Ban soạn thảo Chiến lược cán bộ, công chức khối chính quyền Thành phố” về một “phát minh” mới trong lĩnh vực cán bộ. Theo ông Tiến sĩ (viết hoa) này thì lãnh đạo phải là “người có bằng Tiến sĩ mới có khả năng tư duy đột phá”; rằng thì là nếu công chức là Tiến sĩ mà lãnh đạo thì không, tất sẽ sinh ra tình trạng “đẽo chân cho vừa giày”...

Tôi rất ngạc nhiên, vì có vẻ như vị Tiến sĩ này đã “tư duy quá đột phá” chăng, nên không biết rằng hiện tại, các nhà tâm huyết với nền giáo dục sau đại học đang lo lắng vì Việt Nam đang khủng hoảng thừa bằng Tiến sĩ, theo nghĩa chất lượng đa số đề tài bậc nghiên cứu này quá kém, do người ta vì chạy bằng cấp cho một chức vụ lãnh đạo nào đó. Hay với tư duy không để tình trạng “đẽo chân cho vừa giày” xảy ra mà người soạn thảo chiến lược cán bộ (như vị nọ) không những phải là Tiến sĩ mà buộc phải cao hơn một bước, nghĩa là cần phải “tư duy quá đột phá” lên như vậy? Trước đó, trên mặt báo đã xuất hiện một trăn trở (kiểu đột phá?) của ai đó, rằng phải phấn đấu để 100% các cán bộ thuộc diện Thành ủy Hà Nội quản lý phải là Tiến sĩ. Phải chăng là kiểu tư duy này đều xuất phát từ một nguồn?

Tôi lại nhớ một dạo ở cơ quan, mọi người ai cũng biết một chuyện như tiếu lâm thời hiện đại về chuyện đề tài Tiến sĩ ở một đơn vị chiến đấu nào đó bị Bộ giáo dục loại vào sọt rác, vì cái tầm rất... ngớ ngẩn của nó. Đại để: “Nghiên cứu cấp nước sinh hoạt cho đơn vị cấp sư đoàn”. Nghĩa là, cũng như một thời ở bên Tàu, chỉ vì một tham vọng hoang tưởng mà Mao Trạch Đông vạch ra, đại để: “Hai mươi năm sau Trung Quốc phải vượt Mỹ về sản lượng thép cho công nghiệp”, mà mấy nhà “Mao-ít” phát động phong trào “trăm hoa đua nở, nhà nhà luyện thép”. Kết quả là nhà nhà phải dùng... nồi đất và đồ gỗ, vì mọi thứ kim loại đều bị cho vào “lò luyện thép mini Tầu” để nấu ra thứ thép chả dùng được cho bất cứ việc gì, chưa nói là cho công ngiệp. Sau này Trung Quốc có một bộ phim rất hay từng chiếu ở Việt Nam nói về đề tài này, lấy từ tiểu thuyết “Phải sống” của Dư Hoa.

Nghe một người gọi là “chuyên gia soạn thảo chiến lược cán bộ” phát ngôn rồi, tôi bỗng thấy lo lắng, vì cứ theo cái lý của vị Tiến sĩ nọ thì không chỉ hiện tại chúng ta đang thừa bằng Tiến sĩ, mà tương lai chúng ta còn bị... thiếu giấy để in bằng Tiến sĩ. Và với tư duy “quá đột phá” như trên, hứa hẹn xã hội sẽ xuất hiện ngày càng nhiều Tiến sĩ nữa... Vả chăng, sau này các vị lãnh đạo có bằng Tiến sĩ theo chuẩn rồi mà trình độ cứ na ná như vị chuyên gia nọ thì cũng... kinh. Vì lúc đó “chân đã vừa giày” rồi, chả cần phải đẽo nữa, xã hội hẳn sẽ loạn cả lên vì đâu đâu cũng thấy cùng một kiểu “tư duy quá đột phá” như vậy!

Còn hiện tại, mấy hôm nay dù hết sức lịch sự khi phỏng vấn hay bình luận, cánh báo chí cũng không thể giấu được cái ý tứ như của ông Củng bạn tôi trên Lạng Sơn hồi nào đối với vị chuyên gia nọ, về... “cái lý của người Mèo”???





Thank you Hảo khách!



Ôi, cửa công...



Ôi, cửa công...


(Nhân những lần có việc ra cửa công)




Hôm nọ đọc bài của Nhị Tường về chuyến đi kho bạc rất chán, liền nhớ cái lần mình ra “nhà đèn” quận Đống Đa tách cái công tơ, nhưng lại phải ra Công an quận tách khẩu trước, cả hai nơi đều gặp cảnh tương tự, nghĩa là cũng... rất chán khi bắt gặp đúng một mẫu công chức nhà nước coi dân tình như... cỏ rác (?) ấy. Thấy cảm thông, lại thấy dường như thế là tất yếu (cái kiểu công chức nhà nước ấy) nên khuyên Nhị Tường học thuộc “Tứ niệm xứ” của Phật Đà trước khi có việc ra cửa công, để tránh phải bức xúc, cho nó... lành.

Ai dè hôm nay ra Công an quận Đống Đa (hẹn 16 ngày ra lấy), lại gặp một cô công chức khác, cũng y chang như vậy (Cô ở nhà đèn thì nói năng trống không, xếch mé. Cô công an trước thì trả lời vô cảm, cô công an này thì mặc cho người ta đợi, cứ rông rài nói chuyện điện thoại di động với bạn bằng những lời lẽ như ở chốn không người. Khi bắt đầu gọi là làm việc thì lơ đễnh, vô cảm và vô nguyên tắc nữa...). Nhưng có lẽ mình chưa thuộc “Tứ niệm xứ” nên thấy cũng bị bức xúc lắm lắm... Phải “nuốt” mãi, cái “cục bực” nó mới tạm trôi xuống.... hạ điền (?) cho, để im lặng mà rút lui? Ngẫm ra thì thấy, khuyên người khác thì dễ, mình thực hiện thì thấy khó lắm thay!

Bạn sẽ hỏi tại sao lại là “Tứ niệm xứ”? Nó là cái gì vậy? Xin thưa là nhân đọc cái comment của mekhaidang, tôi liền tò mò tìm đọc và biết “Tứ niệm xứ” là bài niệm (gồm bốn bước, hay nhắm vào bốn đối tượng niệm) do đích thân Phật Đà dạy truyền khẩu cho các tỳ kheo, với mục đích tối hậu là thực hành rời bỏ cái “tôi”, ngõ hầu có cái nhìn khách quan vào chính mình, từ đó sẽ dễ dàng chế ngự những cảm xúc của bản thân, đặng hướng đến cõi niết bàn...

Sở dĩ Phật Đà luôn chủ trương rời bỏ cái “tôi” (vô chấp tướng ngã) có lẽ cũng tương tự như cái ý mà cổ nhân vẫn dạy: “người trong cuộc thường không sáng suốt”. Tỷ như có một anh cáu giận hay vui mừng ghê lắm một điều gì đó, dẫn đến những hành động cực đoan thường là có hại. Trong khi người ngoài cuộc lại nhận thấy chuyện không đến nỗi như thế, thậm chí là ngạc nhiên vì sự thái quá của anh ta. Ấy là vì ở ngoài cuộc, người ta thường tỉnh táo hơn. Như ở trên tôi vừa thú nhận: “khuyên người thì dễ...” cũng với lý do đó.

Tôi không nói kỹ về các bước mà Phật Đà dạy cách thực hành “Tứ niệm xứ”, vì chỉ cần gõ mấy chữ kia lên google, bạn sẽ đọc được nhiều hơn những gì mà tôi có thể viết ra. Chỉ nhân tiện lưu ý bạn đọc rằng, thực hành “Tứ niệm xứ” (cũng như nhiều lời răn khác của nhà Phật) tưởng dễ mà chẳng hề dễ tẹo nào, chí ít là khi ta chưa thực sự dấn thân vào con đường hành Phật pháp. Đa số chúng ta luôn là người bình thường, nghĩa là rất dễ bị “ái ố hỉ nộ” theo bản năng. Đặc biệt khi gặp những người hành xử rất... không bình thường như mấy “cô nương” kể trên. Mà cái “cửa công” lại dường như có một “công năng” rất lạ, là phần lớn (tôi nhấn mạnh) những người lọt vào đó, không chóng thì chầy, đều bị biến thành những kẻ... bất thường, mà kiểu coi người như “cỏ rác” là rất phổ biến!

Đến mức, tôi thấy rất phân vân về điều gì đó đã biến các cô gái (có vẻ bề ngoài) xinh xắn dễ thương như tôi từng gặp ở “nhà đèn” và ở công an quận hai tuần trước, hay cô sĩ quan công an trẻ măng hôm nay (và cả nhân viên kho bạc mà NT gặp nữa)... thành mẫu người bất thường như vậy? Tính phổ biến trong các trường hợp đã khiến cho tôi nghiêng về kết luận rằng, chỉ có “cửa công” mới có “khả năng đặc biệt” như vậy. Tức là chỉ là sớm hay muộn, cửa công sẽ làm tha hóa phần lớn (?) những nhân viên lọt vào đó? Ôi, cửa công...

P/S: Bạn sẽ hỏi: tại sao tôi (hay phần lớn ai đó) không phản ứng lại, mà cố nuốt... “cục bực” khi bắt gặp những hành vi ấy? Thật khó trả lời. Vì ngay cả tôi cũng thấy phân vân, không hiểu họ có sai không nữa, vì ta vẫn thường gặp họ rất thản nhiên với những hành vi như vậy. Phải chăng là ở cửa công, có một cái luật bất thành văn là cứ vô tư coi người như cỏ rác như vậy, nên nếu mình có ý kiến, có khi lại là... mình sai, chứ không phải họ? Vả chăng, khi đó đang bức xúc, nếu có ý kiến gì rất dễ mắc sai lầm, vì người ta vẫn nói: “cả giận mất khôn” mà... Thành ra, mỗi khi gặp cảnh ấy, ta đành tặc lưỡi tự nhủ: “thôi thì hãy cứ nín lặng mà rút lui đi cho nó lành”???





Thank you Hảo khách!




Nguyên lý... đống cát?


(Nuy nghệ thuật của Thái Phiên - Xin hãy nhìn "đống cát". Sorry)


Nguyên lý... đống cát?


(Nhân những ngày thu mà "Hà Nội nóng như chảo lửa")




Một ngày nọ, tôi suy nghĩ vơ vẩn rồi phát minh ra nguyên lý... “đống cát” (khi sang thu rồi mà khí hậu vẫn cực kỳ nóng bức vì... “em ơi Hà Nội nắng”?), để rung đùi tự coi đó là một kiểu “đốn ngộ”; như Niu-tơn bị “đốn ngộ”, phát minh ra định luật vạn vật hấp dẫn khi bị trái táo rơi vào đầu; như Ac-si-met bị “đốn ngộ”, phát minh ra định luật về các vật nổi khi cởi truồng nhảy vào bồn tắm công cộng; như Ngài A Nan chứng quả A la Hán khi đang quay mình đặt lưng xuống chiếu; như Ngài Châu lợi Bàn Ðà Già ngộ đạo khi đang... quét nhà...

Bạn sẽ hỏi: Với định luật vạn vật hấp dẫn, người ta tính toán được chính xác quỹ đạo của mặt trăng, mặt trời và các vì sao khác trong hệ mặt trời và giải thích được vô số hiện tượng tự nhiên huyền bí khác trong thế giới vĩ mô; với định luật mang tên mình, Ac-si-mét giúp cho khoa học về tàu thuyền của ngành hàng hải (nói riêng) phát triển mạnh mẽ; bằng sự “chứng ngộ” của mình, A Nan cùng các đại đệ tử khác của Phật Đà cứu độ được vô số chúng sinh thoát khỏi kiếp nạn, “đi” được vào chốn cực lạc... Vậy, tôi có thể làm gì với “nguyên lý đống cát” của mình?

Xin thưa là với “nguyên lý đống cát”, con người ta có thể hiểu được vô số biểu hiện (tinh thần, vật chất...) từ đơn giản đến phức tạp vẫn xảy ra quanh ta hàng ngày. Hoàn toàn có thể dẫn ra nhiều ví dụ không kém so với các vĩ nhân trên kia, nhưng trước hết, ta cần biết “nguyên lý đống cát” là gì đã. Nôm na, có thể phát biểu nguyên lý đó như sau: “Mọi biểu hiện (tinh thần, vật chất...) mà ta nhận thấy được, như đống cát có thể vun cao lên hay nhấp nhô lồi lõm, nhưng nhìn chung là có xu hướng cào bằng”.

Bạn sẽ nghĩ ngay: Ví dụ? Xin thưa là có vô số ví dụ ở tầm vĩ mô, vi mô hay thậm chí là siêu hình, nhưng tôi không thể liệt kê vô hạn ra đây. Vả chăng, đã là nguyên lý thì yêu cầu đầu tiên là ai cũng phải dễ tìm thấy ví dụ. Bởi vậy, tôi sẽ chỉ đưa vài ví dụ có tính đại diện ra thôi. Chẳng hạn:

Vĩ mô như của cải, theo một hình thái xã hội nào đó, nếu được phân đều cho mọi gia đình, thì tất cả cùng chung một mức sống nào đó, cao hay thấp tùy theo trình độ xã hội. Khi bắt đầu có người giàu, lập tức có người bị nghèo khổ đi. Dưới ánh sáng của "nguyên lý đống cát", điều đó trở nên dễ hiểu và mọi xã hội đều lo ngại những tác động (tiếc thay đa phần là tiêu cực) có xu hướng vun cao đống cát lên theo kiểu như vậy. Vì đó là biểu hiện của sự bất bình đẳng, một nguyên nhân khiến cho xã hội bị mất ổn định.

Vi mô như trạng thái dãn nở không đều của trái bóng bay: bình thường các phân tử khí phân bố ở trạng thái tự do, trái bóng căng đều. Dưới tác động cố ý của con người: ấn chỗ này xuống, nó sẽ phình chỗ kia lên. Theo một nghĩa không gán ghép, thì trạng thái ổn định của trái bóng tương ứng với đống cát ở trạng thái cào bằng.

Siêu hình như trí tuệ con người. Trong môi trường tiến hóa chung ở trái đất, mọi người đều sở hữu một khả năng trí tuệ không hơn kém nhau nhiều lắm. Do thói quen xã hội mà sự biểu hiện của trí tuệ ở mỗi người có xu hướng bị cào bằng để đồng thời: sử dụng cho giao tiếp xã hội; để học tập; để làm một công việc nào đó; để sử dụng phương tiện đi lại; để mưu cầu cho vô vàn lợi ích thiết thân... Kết quả là dần dần ta mất đi khả năng tập trung trí tuệ cho một đối tượng cụ thể nào đó và trở thành một người bình thường như đa số những người khác trong xã hội.

Nếu có ai đó bỗng nhiên bị mất khả năng chia sẻ trí tuệ cho nhiều hình thái giao tiếp như thế, “đống cát trí tuệ” sẽ được vun lên và dễ hiểu người đó sẽ trở nên một siêu nhân trong lĩnh vực mà trí tuệ anh ta nhắm vào. Với cách lập luận như thế, ta có thể để ý thấy những vĩ nhân trong lĩnh vực này sẽ rất... “vi nhân” trong (thậm chí là nhiều) lĩnh vực khác? Và hiển nhiên là chúng ta, những người bình thường (có đống cát bị cào bằng) sẽ thấy họ, những vĩ nhân đó (với đống cát vun cao), là bất thường! Thậm chí trong mắt ta, họ là những... dị nhơn!

Tất nhiên là cũng có những người bộc lộ trí tuệ cao ở lĩnh vực nào đó, mà dường như họ vẫn bình thường, đó là vì họ có khả năng điều khiển “đống cát trí tuệ” của mình: vun lên rồi cào bằng ra, hay có thể nó chỉ nhấp nhô đôi chỗ. Tuy nhiên, nếu có “xu hướng trung dung” (mà không dám, hay không thể xả thân?) như thế, đến một lúc nào đó, người đó không còn khả năng vun cao đống cát lên được nữa, họ vĩnh viễn trở thành... “thường nhân”. Nguyên lý này, với cách hiểu như thế, sẽ giải thích về những thần đồng, “vĩ nhân” thời bé khi ít va chạm tiếp xúc (lại có khả năng vun cao đống cát trí tuệ của mình), trở thành “thường nhân” khi đã trưởng thành (buộc phải cào bằng đống cát trí tuệ cho vô số các giao tiếp khác)!

Nếu hiểu như vậy, “nguyên lý đống cát” có thể dễ dàng giải thích được một số người bằng cách rèn luyện, có thể tự mình vun cao đống cát trí tuệ để trở thành nhà thông thái (thậm chí đạt đến sự thông tuệ tột đích như Phật Đà?), nhưng nhất định là phải thường xuyên rèn luyện để duy trì cho đống cát không bị cào bằng đi theo xu hướng cố hữu của con người. Với quan niệm như vậy, ta không còn cho rằng Niu-tơn, Ác-si-met hay A Nan ở ví dụ trên bị “đốn ngộ” nữa, mà đó là một quá trình rèn luyện để đạt đến trạng thái có thể vun cao đống cát trí tuệ lên và duy trì nó theo ý muốn.

Tương tự như vậy, ta có thể dễ dàng hiểu được năng lượng của con người vốn bị cào bằng ở trạng thái bình thường để chi phối cho vô số những hoạt động bản năng, vốn không cần tập trung năng lượng. Xuất kỳ bất ý, khi gặp một trạng thái đột khởi nào đó, anh ta tập trung năng lượng được một cách bản năng (vun cao đống cát năng lượng) và trở nên mạnh mẽ gấp bội. Như khi bị cháy nhà chẳng hạn, một người bình thường có thể nhấc cả thùng nước to mấy người khiêng; nữ anh hùng Ngô Thị Tuyển dưới mưa bom vác nổi thùng đạn nặng hàng tạ..., những hành động mà ở trạng thái bình thường họ không thể làm được. Hoàn toàn dễ hiểu là người ta có thể luyện tập để “vun cao đống cát năng lượng” một cách cố ý để trở thành vô địch nhảy cao, nhảy xa, bơi, chạy ma-ra-tông...

Vân vân và vân vân... Bạn có thể sử dụng “nguyên lý đống cát” để tự mình thấu triệt các hiện tượng khác. Chỉ lưu ý một điều, trong một trăm lần dùng “nguyên lý đống cát” trên để giải thích, nếu có duy nhất một lần nguyên lý đó bị... sai bét, thì coi như bạn đã góp phần vứt nguyên lý đó vào... sọt rác rồi. Đó chính là quy luật đào thải tự nhiên trong khoa học vậy. Tuy nhiên, người ta vẫn bỉu “nói đi cũng phải nói lại”: có thể trong một số trường hợp, nguyên lý nào đó bị sai bét, nó vẫn được sử dụng như thường. Theo một khái niệm mới (được đề cập trong tác phẩm “Cái vô hạn trong lòng bàn tay”), đó gọi là “tính định xứ” của một nguyên lý khoa học. Kiểu như các nguyên lý nổi tiếng trong cơ học cổ điển của Niu-tơn bị... sai bét trong cơ học lượng tử, nhưng điều đó không ngăn cản nó vẫn là những nguyên lý tối thượng trong thế giới vĩ mô vậy.





Thank you Hảo khách!



Phật tính phi thực?



Phật tính phi thực?


(Nhân đọc “Tứ vô lượng tâm” và “Cái vô hạn trong lòng bàn tay”-
Matthieu Riacar và Nguyễn Văn Thuận- Phạm Văn Thiều dịch)



Hầu hết mọi giáo lý nhà Phật đều thu phục nhân tâm do phù hợp với thiện tính con người, nhưng tại sao xã hội loài người không thể theo (một cách triệt để), để trở thành một xã hội mà người người đều có Phật tính? Chẳng hạn như hãy nói cụ thể về một trong những bước phát tâm hướng Phật tính là thiền tập “Tứ vô lượng tâm”, nghĩa là dần dần thấu triệt và thực hành “Từ, Bi, Hỉ, Xả”?

Trong “Tứ vô lượng tâm”, quan trọng nhất là “Xả” (loại bỏ): đầu tiên là xả cái tôi (tướng ngã), vì cái tôi là nguồn cội của “tham, sân, si”. Mà cái tôi là hư ảo, không có thật. Vì một cái không có thật mà phát sinh ra mọi tội lỗi, phiền não, khổ ải... thì thật là “vô minh”! Một khi đã xả được cái tôi, thì cũng xả bỏ được “tướng nhân” (gồm “ta” và “người khác”). Cũng từ đó mà xả bỏ được “chúng sinh” (gồm “ta”, “người khác” và “muôn loài”). Trong những điều cần xả, còn có xả “thọ giả tướng”, là gạt bỏ ảo tưởng về khả năng trường sinh bất lão, mãi mãi trường tồn, nguồn gốc của mọi tham vọng. Và cuối cùng là xả bỏ cả Phật pháp, tức là “vô chấp” Phật pháp. Nghĩa là hành Phật pháp mà không chấp (nghĩ) đến đắc đạo thành Phật (tức là không bao hàm một tư lợi).

Tiếp đến mới là “Từ, Bi”: yêu người, mang cho người niềm vui; chia sẻ với người nỗi buồn khổ. Cũng gọi là “ban vui, cứu khổ” và cuối cùng là “Hỉ”: chia sẻ niềm vui với người. Vô lượng tứ coi “Hỉ” là tâm khó thực hiện nhất vì bản tính con người có thể muốn làm cho người khác vui (“Từ”, ban vui) hay muốn sẻ chia nỗi buồn của người khác (“Bi”, cứu khổ) nhưng hay ganh ghét, rất khó chia sẻ khi thấy kẻ khác thành đạt, vui vẻ. Có lẽ điều đó cảnh báo những nhóm cộng sự thường gắn bó đoàn kết khi gặp khó khăn hoạn nạn nhưng lại dễ tan rã phân hóa khi bắt đầu gặt hái thành công???
Trở lên là tóm tắt một trong những (tạm gọi là) giáo lý nhà Phật mà hết thảy chúng ta, những người có thiện tâm - hay thậm chí là kẻ ác tâm(?)- đều thấy đúng, thấy hợp lẽ. Nhưng tại sao tôi lại nói là “phi thực”? Vì kể từ khi Phật Đà ra đời đến nay, đã gần 3000 năm, Phật pháp đã truyền đi khắp thế giới, hầu như không ai chỉ trích giáo lý nhà Phật, thậm chí nhiều quốc gia ở nhiều giai đoạn phát triển đã coi Phật giáo là quốc giáo, mà chưa từng đâu có một xã hội đã được... “Bồ tát hóa”, nghĩa là người người có triệt để Phật tính như Bồ tát?

Có nhiều nguyên do trong đó có nguyên do căn bản là quy luật phát triển của xã hội song hành với những cuộc đấu tranh, thậm chí là cạnh tranh khốc liệt. Trong phạm vi thế giới thì nước lớn lấn át, thôn tính nước nhỏ; trong phạm vi quốc gia thì các nhóm lợi ích thôn tính nhau, trong phạm vi một nhóm người thì ganh ghét, triệt hạ nhau... Ngay thế giới tự nhiên cũng phải đấu tranh sinh tồn, bất chấp tư duy: Cây cối phải vươn cao để đón ánh sáng mặt trời; loài thú nào không đủ mạnh ắt phải tuyệt chủng (có câu “cá lớn nuốt các bé”)...

Xã hội bao gồm những tế bào là gia đình, trong đó ông bà cha mẹ bươn chải để nuôi con cháu khôn lớn và chung tay xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cuộc sống cộng đồng. Những hoạt động đó bao hàm cạnh tranh theo những cấp độ khác nhau, (với những mục đích dường như bản năng): để có nhiều tiền hơn cho nhu cầu của gia đình, cần đua tranh vào những vị trí có nhiều thu nhập; để tăng thu nhập từ hàng hóa nông sản cần cạnh tranh về chất lượng sản phẩm với nhau... Kết quả là một xã hội phát triển, cho dù kèm theo đó là những tiêu cực không tránh khỏi như kẻ này thế chỗ kẻ khác một vị trí làm việc; hàng hóa người này khiến người khác ế ẩm thua lỗ, phá sản...

Trở lại việc thực hành “Tứ vô lượng tâm” như trên, nếu ai ai cũng trở nên toàn thiện theo đúng như vậy, thử hỏi động cơ nào cho xã hội phát triển, của cải đâu cho người khất thực vì lúc đó ai ai cũng đã... trở thành kẻ khất thực rồi. May thay là không thế, nếu không còn đâu người ngồi thuyết giảng về (chẳng hạn như) “Tứ vô lượng tâm” (?). Vả chăng, con người cần ăn uống để tồn tại, không sát sinh (theo nghĩa “chúng sinh” của nhà Phật thì từ hoa quả, cây cối làm thực phẩm đến động vật cung cấp dinh dưỡng, nghĩa là bao hàm cả “chay” và “mặn”) thì làm sao sống, nói chi đến hành Phật pháp? Thế mới nói “Phật tính phi thực” vậy.

Tuy nhiên, như ta dễ thấy, Phật giáo vẫn phát triển, giáo lý nhà Phật vẫn được đón nhận và thực tế đạo Phật có tính xã hội hóa cao nhất, gần gũi với con người nhất so với đa số tôn giáo hiện hành. Trong khi các tôn giáo khác thường đòi hỏi người ta phải từ bỏ (cải đạo) để gia nhập, thậm chí là phải “tử vì đạo” thì Phật giáo luôn đón nhận “thập loại chúng sinh”, cho dù họ đang tồn tại ở môi trường xã hội nào. Ngoài ra, có lẽ một phần do sự không hoàn hảo (phi thực) của Phật tính ở đa số con người, mà xã hội không ngại hướng về Phật tính? Vả chăng, cứ cho là mười phần, nếu con người đạt được 5 phần những gì kinh Phật răn dạy, há đã chẳng là quá tốt cho xã hội rồi ư?



Thank you Hảo khách!



Làng cá.


(Làng cá Tiến thủy)

Làng cá.


(Tản mạn nhân những ngày về quê nghỉ hè 2)




Làng cá Tiến Thủy bây giờ khác lắm, nhịp sống sôi động và sầm uất như phố thị, không như cái thời chúng tôi (là thanh niên những năm cuối 60 đầu 70 thế kỷ trước), làng xóm êm đềm và đơn sơ... Duy nhất có một điểm chung: nhà nhà tối ngủ hay ban ngày đi đâu đó trong làng, không cần phải khóa cửa ngõ. Tôi về nhà, xe đạp xe máy nhà anh chị vẫn để ngoài sân qua đêm, còn khách đến chơi thì xe máy, xe đạp để đâu tận ngoài đường.

Cô Mong (mà anh tôi vẫn gọi là Hơ Mong, na ná như tên nhân vật nữ trong phim dã sử Hàn Quốc, vợ anh chàng Văn Sĩ, một đại gia có vài hầm đá vẫn thường sang nhà chơi mỗi khi tôi về hè) nhà ngay mặt “xã lộ”, lối xuống cảng cá tấp nập người xe, kể: - Ở đây không có trộm, nhà em đây xe máy thợ vẫn để ở sân cả đêm cả ngày...

Tôi nhìn cái sân, chỉ ngăn cách với đường nhựa bằng hàng rào xây tạm bằng “khớm” (loại gạch ba banh, người ta trộn vỏ sò vụn với vôi cát, đổ khuôn, phơi khô), chả có cổng ngõ gì. Tôi cho rằng, đó đơn giản là ở quê, người ta tỏ tường mặt mũi gốc gác ông bà cha mẹ nhau lắm, khó có kẻ trộm là dân nội xã. Mà ngoại xã thì một phần dân người ta cũng hiền, phần khác như cô Mong nói là “chúng nó sợ lắm, động cái là cả xóm nó đổ ra gô cổ ngay”...

Đầu ngõ nhà anh tôi có cậu bé tên Đức. Dạo hai cậu con tôi đang đi học, hè nào tôi cũng cho cùng về quê chơi thì Đức suốt ngày ở bên nhà anh chị tôi, chuyên làm người dẫn đường, lên núi, ra biển. Cậu chàng này người nhỏ thó, lanh lẹ, hay nói, vui tính, kém các con tôi vài ba tuổi và có biệt danh là “Đức nhèm”. Phải đến 3-4 năm như thế, trông Đức nhèm như chẳng lớn lên tẹo nào. Khi các con tôi đi làm, không còn kỳ nghỉ hè nữa, một lần tôi về và bỗng thấy Đức nhèm đã là một trang thanh niên, kiểu “công tử làng” rồi.


(Giai làng "Đức nhèm"-2008)

Từ khi không có các con tôi về hè, phần không có bạn cùng lứa, phần cũng lớn rồi, Đức ít khi sang chơi, mà tôi cũng ít gặp. Một lần nào đó gặp, tôi thấy vui vui: A, thanh niên, lâu lắm... Vợ chưa? Đức cười, cặp mắt vẫn tít lên, hiền khô như xưa: Cháu chưa, nhưng thằng Hạnh (là anh trai, hơn nó vài tuổi) thì có người yêu rồi, bác ạ. Tôi trêu: Oai, cu Hạnh lùn tè mà đã có người yêu, thanh niên Đức cao ráo giỏi trai thế này mà chịu thua ru? Đức lại cười: Thằng Hạnh lên Quỳnh Nghĩa cưa gái, bị trai làng nó rượt cho, xuýt chết bác ạ.

Thường vẫn thế, ở làng quê mức độ có khác nhau, còn chuyện trai làng “canh chừng” gái làng không cho trai nơi khác đến “cưa kéo”, nơi nào cũng có (?). Tôi trêu Đức: Cu Hạnh thế là giỏi hơn Đức rồi, nhề? Đức cười nhưng không giấu được vẻ tự ái thực của lứa tuổi mình: Giỏi gì bác, có người yêu rồi mà vẫn còn đứng... đái giữa đường? Tôi ngạc nhiên: Giữa đường? Ban ngày? Đức dịu giọng, ngập ngừng: Mơ mơ sáng, dậy đi câu...

À há... Tôi gật gù ngắm vẻ ngượng nghịu của cu Đức và thầm nghĩ, chắc anh chàng đã thấy hớ vì giây phút bột phát vừa rồi? Bèn tế nhị chuyển câu chuyện sang hướng khác: Oai, cu Hạnh đã đi câu rồi cơ à? Chung thuyền hay đi nhờ? Đức đã thoải mái hơn: Mẹ cháu chung thuyền, cũng vài năm rồi... Tôi lại hỏi: Thế Đức đã đi câu chưa? Cười: cháu chưa, sang năm, bác ạ. Tôi ngắm nghía bộ dạng đang ra vẻ người lớn của Đức, trêu: Thế tối tối có đi cưa không đấy? Đức thật thà: có, bác ạ.

Vậy đấy. Lũ thanh niên làng tôi lớn lên cứ theo nếp nhà: nhà ai có bố mẹ, anh em ruột đi học lên cao rồi thoát ly công tác thì con cháu học rất xuya và cũng nối gót cha anh ra phố lập nghiệp. Nhà ai bố mẹ anh chị em ruột ở lại bám làng làm nghề biển (mà thường là số đông) thì trai làng đều có “mô-típ” như Hạnh lùn, như Đức nhèm. Sớm theo nhau đi “cưa gái”, cứng cáp lên chút thì chung thuyền (4-5 nhà chung một suất thuyền cỡ trên trăm triệu) rồi ra khơi đánh cá lưới đèn.

Vậy mà nhà nhà làm nghề cá làng tôi giờ giàu lên trông thấy: nhà ngói, nhà mái bằng mọc lên san sát. Nhiều nhà xây sớm, cũ kiểu đi thì đua nhau đập ra “mông” lại, trông rất “mô đen”, mà cũng đẹp thật, vì họ ra phố chụp mẫu mới mang về cho thợ làm y chang. Phố có hàng gì, qua một ngày ở quê có nấy, vì làng tôi có hai xe khách Hun-đai cỡ lớn, hiện đại, ghế nửa nằm hoặc nằm hẳn. Tinh mơ chạy ù đi, chưa kịp đẫy giấc đã ra đến Hà Nội, đợi vài tiếng lấy khách rồi lại lộn về làng.


(Cả nhà về quê nghỉ hè 2003 - thêm cậu bạn con ngồi cạnh "blog chủ")

Hôm tôi với anh cả về quê, lên xe ngồi yên vị rồi, thấy cậu lơ trẻ măng, vẻ mặt rất điển giai gài một cái đĩa nén compac vào đầu DVD, chiếu phim lên màn LCD 32 inh. Vậy mà xem liền tù tì đến tận nhà vẫn chưa hết mấy tập “Huyền thoại Lý tiểu Long”, do Bruc Lee đóng. Hôm ra, anh tôi còn cẩn thận dặn: chú lên bảo nó mở tiếp mấy tập hôm nọ xem cho trọn bộ, hôm nọ chưa kịp xem hết, tiếc ghê... Nhưng khi ra, xe chạy vào tầm đêm, nhà xe không mở Video, khách trên xe chuyện trò chán rồi cứ ngủ chập chờn cho ra đến bến xe Nước ngầm...

Về làng mà vào dịp gần giữa tháng âm lịch, còn tối trời là dịp tàu thuyền cắn đuôi nhau ghé vào cảng cá, nhộn nhịp trên bến dưới thuyền, người xe đổ về thu mua cá mực. Vào đợt trăng sáng thì giai làng ở tất trên bờ, chơi bời cưa kéo. Các quán xá lại nhộn nhịp thanh niên ăn uống, mua bán, hay chuẩn bị tàu bè ngư cụ. Chừng qua rằm thì cả xã rộn lên một đợt ra khơi mới: mua sắm lương thực, thực phẩm, xe cộ rầm rập chở đá lạnh, nạp nước ngọt xuống tàu. Hàng trăm con tàu một lúc như thế khiến cho cả xã cứ sôi lên sùng sục, nhà nhà nô nức như năm xưa chuẩn bị hội làng.

Và chừng mươi mười lăm hôm sau, một chu kỳ mới lại lặp lại: những tàu cá mang phồn vinh, giàu có về cho những gia đình có suất tàu thuyền và cũng cho cả làng bởi những dịch vụ ăn theo nghề cá. Có chuyến, mỗi nhà thu trên chục triệu, nên các trai làng lại có dịp sắm xe máy, tối tối đi “cưa kéo”; các gia đình lại có dịp tân trang nhà cửa để không bị thua kém anh em, bạn bè...




Thank you Hảo khách!



Nghỉ hè ở biển.



Nghỉ hè ở biển


(Tản mạn nhân những ngày về quê nghỉ hè)




Hè này tôi về quê nghỉ muộn một nhịp. Nghĩa là lần này tôi về vào ngày lẽ ra là đã kết thúc kỳ nghỉ ở biển, so với mọi năm rồi. Đó là do anh cả tôi ra Hà Nội chữa bệnh và tôi đợi để cùng anh về quê luôn. Vả chăng, nếu không đợi thì về quê vắng anh, tôi không có bạn đều đặn đi tắm biển mỗi sáng, mỗi chiều. Và đặc biệt là không có... “bạn rượu” vào mỗi bữa ăn, nhưng thú vị nhất là sau ca tắm chiều, khi mặt trời cũng bắt đầu khoan thai lặn xuống mặt biển tận ngoài khơi xa tít tắp, sau cái đường mở ảo tiếp giáp giữa biển với trời...

Gọi là anh cả, là tôi tính riêng về con trai trong số bốn anh em mà tôi là út, trên anh còn hai chị cả nữa cơ. Dễ hiểu là anh cũng xêm xêm... 70 cái xuân xanh rồi! Anh tuổi Tân Tỵ, tính ra âm vị chi là 69. Anh hơn tôi đúng một giáp, vì tôi Qúy Tỵ, “đứng” ở 57! Nói vậy để thấy rằng anh còn rất trẻ trung nên một phần tôi về nghỉ hè lâu ở quê là do hợp với anh.

Tôi ngừng ở đây một chút nhân nói đến chuyện “bạn rượu” ở trên. Tôi uống rượu gọi là được nhưng không quá mê đắm nó, để xếp vào hàng “lưu linh đệ tử”. Có lẽ là “chỉ được cái nói sau”, nhưng nhờ đó mà tôi có thể tự hào là mình không bao giờ bị “tửu (sắc?) sai khiến”. Anh uống rượu (cũng như hút thuốc lá hay suy rộng ra là về “cái gì đó”) mà thấy bị phụ thuộc vào nó, làm “đệ tử” cho nó (với rượu, thuốc... ta vẫn nói là nghiện), tức là anh “kém tắm” rồi, miễn ngụy biện! Mà tôi lại “có cái tính”, nếu ý thức được là mình bị “kém tắm” về điều gì đó, là tôi hay... tự ái lắm. Đại để thế. Điều đó hẳn nhiên là không hoàn toàn tốt. Nhưng với hai cái khoản “rượu (mí cả) thuốc” ở trên, thì “Play dân” chỉ đơn giản là chìa ngón tay cái ra, nhướng mày lên rồi... to say O-ky-e???

Tuy nhiên, tôi ngẫm ra là không phải ai cũng cho là thế. Đơn giản vì những người nghiện... “này nọ” - nhiều người cũng thấy rất “bất tiện” vì điều đó hẳn hoi - đâu phải là họ... “hung bít”! Nhưng họ vẫn không thoát được sự phụ thuộc vào chúng. Có thể là tôi biết “giữ mình” là do hoàn cảnh chăng? Nói vậy vì một dạo đã lâu lắm rồi - chừng trước năm 2000, khi đa số “công chức nhà ta” còn phổ biến chuyện “kiếm thêm” nuôi con ăn học - tôi là cộng tác viên quay phim thường xuyên cho VTV. Tôi hay đi với mấy em bên Thời sự hay Chuyên đề, mà dù ở đâu, họ cũng là đối tượng cho các sếp ở địa phương cưng chiều, mời mọc rượu chè. Hẳn nhiên là các em không dám uống, họ thường là những cô gái “đáng nể”, không chỉ vì thông minh nhanh nhẹn mà còn rất ngoan và có học hành tử tế. Họ “đáng nể” nên các sếp không nỡ ép và do vậy, tôi trở thành “đối tác” bên bàn nhậu của các sếp.

Như đã nói trên, tôi vốn uống không tồi nhưng nắm bắt tình huống khá nhanh nhẹn và có... mưu mẹo(?). Hẳn là nhờ tôi từng đọc “Tam quốc”, hay “Binh pháp Tầu” gì đó, đại loại thía? Nhờ đó mà để không làm các sếp “mất hứng”, lại “đỡ” được cho các em, tôi thường dùng chiêu “không đợi nước đến chân mới nhảy”. Cần nói thêm là tôi cũng có chút kinh nghiệm “rượu chè” ở Bộ môn, những dịp liên hoan này nọ. Các thầy Bộ môn tôi có cái lệ, ai mới gia nhập, phải thể hiện “tửu lượng”, nghĩa là phải uống “tẹt ga”, để các thầy còn... “nắm tình hình”, liệu cách “đối xử”.

Có thể căn cứ vào “nền kinh tế” thời đó để đoán ra cái cung cách “đối xử” này, vì nó cũng “sặc mùi kinh tế”. Nghĩa là ai uống giỏi thì mời... ra rìa, lần sau không thèm chấp, vì ép nó uống cũng chỉ như... “đổ lỗ dế”, phí rượu! Nhưng gặp phải anh rón ra rón rén vì... uống kém, là thôi rồi, các thầy “săn sóc” từng ly từng tý một, theo cái nghĩa mỗi lần liên hoan, ai cũng ân cần chu đáo tiếp chiêu! Tôi vượt qua cửa ải đầu tiên để “bị loại”, là do uống mãi mặt vẫn tỉnh khô, không đỏ tẹo nào. Cũng chỉ là may thôi, phần vì các thầy chừng cũng vừa... “chán cái mặt tôi”, phần còn tập trung vào anh chàng “nhát rượu” khác, chứ đận ấy chỉ cần quá ngưỡng một chút đỉnh nữa, dù chỉ vài dọt (?), là tôi đã... tèo rồi.

Vậy là tôi uống được, nhưng dễ hiểu là “một mình chống Maphia” sao lại nổi, nếu không có mẹo. Ai mà không biết những người uống rượu là chúa hay “đì” những anh cho là mình uống giỏi, đặc biệt là khi cả mâm đã... tây tây rồi? Vậy là tôi dùng chiêu “con cừu non giữa bầy sói”, để làm thỏa mãn máu iêng hùng của họ, ra vẻ uống rất kém. Đương nhiên là vẫn phải uống. Cứ kiên trì như thế thì cho dù có cố mà ép, các sếp cũng thấy không có “động cơ” lắm với mình nữa, mà chĩa mũi nhọn sang đối tượng khác, là OK rồi. Gặp mâm “quá đáng” lắm thì vẫn chưa bị qúa ngưỡng chịu đựng của mình, còn thì với chiêu đó, tôi thường vẫn hết sức tỉnh táo để không bị “thất thố” trước các sếp, và do vậy các em đi cùng đỡ bị khó xử vì mình.

Quay lại chuyện về quê... Lần này về nghỉ hè, anh chị tôi ở quê rất vui. Nguyên là cách đây hơn hai tháng, anh cả tôi bị cái hạn mang tên “tiền liệt tuyến”, căn bệnh mà người ta thống kê có đến 70% người có tuổi bị mắc, đa phần là dạng u xơ. Nói ngay để phái yếu yên tâm: chỉ nhõn mỗi đàn ông bị bệnh này thôi, đơn giản vì phụ nữ... không có tuyến tiền liệt!!! Nhưng, ông giời vốn chả để ai chịu thiệt (?) bao giờ, nên cũng cho chị em “độc quyền” cái... tử cung (sorry), để đỡ tỵ nạnh với cánh mày râu?

Vậy là đột nhiên, đang khỏe mạnh, rượu chè rất bốc, anh bị “bí tiểu tiện” do “cái anh tiền liệt tuyến” tự dưng... “sưng mặt” lên. Ra Hà Nội, hai cha con mặc dù rất hoảng nhưng cố chịu để người nọ không... nhát người kia? Cậu con cả tên Sơn (mà tôi từng viết bài bệnh Goutte về hắn) là trung tá năm cuối (sang năm lên thượng tá) vốn rất lắm tài lẻ. Hiện đang là đệ tử ruột về khí công trường sinh của ông Việt trên Thanh Xuân. Nhân tiện lại mách: Ông này hiện là “nhất đẳng huyền đai” về trục khối u mà không để lại dấu vết gì cho người bệnh, do không (thậm chí là) chạm vào... đối tác!

Lại nói về hai cha con ông anh tôi. Nghe tin, năm chị em tôi hoảng quá, ráo riết gọi điện nắm tình hình. Nhưng tịnh không có ai trên nhà cậu con trai nhấc máy. Chúng tôi lo lắng với nhau: cái thằng cháu này tệ qúa, phong tỏa thông tin không cho ai biết khiến mọi người hoang mang ghê. Đến khi gặp được, nó nói một cách bí hiểm “là đang điều trị” nên không tiện trao đổi điện thoại hay tạm thời chưa thăm thú gì đuợc. Cố gặp bằng được ông anh thì nghe giọng rất mệt mỏi, lại càng hoang mang tợn. Sau này mới biết, anh bị u xơ tiền liệt tuyến, khối u chèn bàng quang, chèn đường tiết niệu nên bí tiểu tiện. Cậu con tham vấn sư phụ rồi cấp tốc đưa bố vào bệnh viện E xin dùng ống thông thoát tiểu rồi đưa lên Trung tâm Thanh Xuân. Ông Việt xem rồi bảo OK, may mà không động dao kéo vào. Thông thường những ca như thế này mang vào viện là Tây y đè nghiến ra mổ, lọc bỏ khối u bằng cách nội soi hay phanh hẳn ra. Cả hai cách đều gây tác dụng phụ có hại (bị dính, phải mổ lại hai ba lần ở hầu hết các ca), chưa kể chi phí cho nó phải là tiền hàng chục triệu. Ở Bệnh viện E, hai cha con phải tìm mọi cách hoãn binh mới thông tiểu được mà không bị lưu lại chờ mổ.

Tuy nhiên, chữa bằng khí công trường sinh như ông Việt, không phải theo kiểu “Trông tôi thoắt cái xong ngay” như kéo mạng nhện được. Thông thường người bệnh chỉ được ông Việt (những ca như thế này thì chỉ riêng ông trong Trung tâm làm được mà thôi) thao tác trục khối u mỗi ngày một lần, mỗi lần chừng 5 - 10 phút. Riêng cu Sơn là đệ tử ruột, bệnh trạng của bố lại khẩn cấp nên anh tôi được ưu ái làm hai lần ngày, mỗi sáng và chiều. Ngoài ra, về nhà cu Sơn cũng tranh thủ ngồi thiền để bổ trợ thanh lọc cơ thể cho bố. Dễ hiểu là tuy vậy, cả hai cha con đều hoang mang, vì chưa mục sở thị ai đã khỏi căn bệnh mà cho đến nay 100% đều phải mổ để bóc tách!

Chúng tôi lo lắng nhưng vì cậu con khuyến cáo, đề nghị chưa lên thăm vội, nên mấy hôm sau mới lẳng lặng đột kích lên nhà nó, vì quá hoang mang, sốt ruột. Lên mới thấy tình hình bi đát. Anh tôi hông mang túi chọc tiểu, mông bị zona thần kinh (kiểu như bị giời leo, rất kinh, tôi đã từng bị), đi lại trăn trở đều khó. Thêm nỗi, cả hai bố con đều nửa tin nửa ngờ với hiện trạng chữa bệnh nên không khí rất bất ổn. Cậu con cố tin sư phụ của mình nên cứ kiên trì hàng ngày đưa bố đi chữa, nhưng không khỏi chập chờn với ý nghĩ phải mổ. Anh tôi thì phó thác cho cậu con vì nó có vẻ rất tin sư phụ. Tổng hợp tình hình, chúng tôi đành động viên hai bố con rồi chờ mong vận may đến với anh vậy.

Chừng gần tháng sau, anh tôi hớn hở khoe, thầy Việt thông báo đã teo lại rồi (theo cu Sơn thì ông có thể “nhìn” thấy khối u hàng ngày khi điều trị bằng phương pháp khí công trường sinh), và khi hồi hộp đi siêu âm, hai cho con mừng quýnh khi tuyến tiền liệt từ 80gam nay xuống còn... 19gam thôi. Cần nhớ bình thường, nam thanh niên có TTL trên dưới 20gam, khi trên 50 tuổi, đa phần to lên, nếu bị u xơ có thể lên 90gam hay hơn nữa, lúc đó nó chèn ép bàng quang, niệu đạo và gây bí tiểu, phải mổ ngay. Lại nhớ, hôm đó thông báo tin vui xong, cu Sơn tuyên bố: chú đi siêu âm đi, chắc chắn là to rồi, nếu cần thì cháu nhờ sư phụ trị luôn, đừng chờ như bố cháu lại gay. Tôi liền đi soi và mừng hú khi thấy, chao ơi, TLT của mình không những không bị to lên mà còn bé lại, chỉ có nhõn hơn... 14gam! Tôi thắc mắc thì bác sĩ siêu âm giải thích, đa phần là to lên, nhưng cũng có ca giảm đi, đó là do cơ chế nào đó của cơ thể từng người và không có gì bất thường cả. Thậm chí là tốt, vì người ta còn bóc hẳn TTL đi cơ mà??? Bác sĩ đã nói, chẳng nhẽ không tin? Vả chăng, nghe cũng có lý đấy chứ nhỉ? (Nói thêm là tình cờ, sau đó độ một tháng, ông Việt lại chữa khỏi một ca y hệt anh tôi, cho một ông chừng bằng tuổi anh, là bố vợ cậu trường phòng, nơi cu Sơn là phó phòng)

Vậy là lần này về quê, cả hai anh chị tôi đều phần khởi vì không những anh tôi khỏi bệnh hiểm nghèo, mà còn béo trắng lên nữa. Vậy là đã thoát (một cách ngoạn mục) khỏi cái hạn không chỉ đe dọa tính mạng mà còn hứa hẹn rất... tốn khá nhiều tiền nữa, nếu phải vào mổ. Dễ hiểu là tôi cũng vui vì thú thực là hôm nghe tin anh bị như thế, tôi nửa đùa nửa thật: “Thôi chết, nhà chỉ còn anh biết uống rượu, sau lần này mà anh phải kiêng rượu nữa thì... tèo. Không lẽ mỗi hè về quê mình lại mất đi “lạc thú” uống rượu hải sản mỗi buổi chiều, sau khi tắm biển lên?”. Hè rồi, hai anh em tôi đều đặn mỗi sáng mỗi chiều ra biển tắm và anh tôi không những vẫn uống tốt, mà còn giữ nguyên phong độ như xưa, trẻ trung và yêu đời. Và tôi còn hy vọng mọi chuyện cứ như thế mãi ở những mùa hè sau nữa...





Thank you Hảo khách!