Tiểu thuyết (5)
Thursday, 20. March 2008, 09:06:55
Tiểu thuyết(5)
“Để tặng những người mà tôi yêu mến"- Phạm Ngọc Hùng
(Kỳ V)
8. Thơ thiền.
“Chớ bảo Xuân tàn hoa rụng hết/Đêm qua- sân trước- một nhành mai”
("Cáo tật thị chúng"-Thiền sư Mãn Giác)
Lớp báo chí của tôi có 52 sinh viên khi học chung. Lớp có đến hơn hai phần ba là nữ sinh. Qua đó cho rằng con gái có vẻ thích hợp với nghề văn chương nghệ thuật chăng? Có lẽ cũng không hẳn, vì sau này, tài năng về lĩnh vực này có vì thế mà nhiều con gái đâu? Có khá nhiều nam tử... Việt (không phải nam tử Hán?) trong tốp đứng đầu ngành truyền thông báo chí mà. Nhận xét này không cần chứng minh, chỉ theo dõi lõm bõm trên truyền hình hay ở các báo, đài thì thấy có vẻ như vậy?
Nhưng điều này thì thấy rõ: lớp học không chuyên cần lắm đâu, thường vắng mặt non nửa, vì lý do nào đó không biết, trong đó đa phần là sinh viên nam. Cũng có những hôm, lớp học khá đông đủ, thường rơi vào những môn học có thầy cô giáo nào dạy rất cuốn hút. Thuộc loại như vậy, tôi đã từng kể về môn văn học Trung Quốc của thầy La Quán Trung. Còn có môn Lý luận văn học của một cô giáo, Tiến sĩ ngữ văn, là cô Mai Ly. Chắc các bạn sẽ nghĩ đến một cô giáo mảnh mai, xinh đẹp theo cái tên kia? Thực ra, lại không hẳn vậy, hay có thể nói là khác hẳn vậy, như tôi sẽ tả về cô sau đây...
Như lũ học trò tinh nghịch chúng tôi hay đặt biệt danh cho thầy cô hồi PTTH, lên đại học, chúng tôi cũng không bỏ được thói quen ấy. Thầy Lê Quán Trung, dạy Văn học Trung Quốc rất... nể, được thay bằng tên từa tựa, là tác giả của một trong bốn “Tứ đại danh tác”: La Quán Trung. Cô giáo dạy Lý luận văn học cũng được chúng tôi yêu mến đặt cho biệt danh cô “Công Án”. Đó là những cái tên gắn liền với những đặc điểm nào đó của môn học, hay thói quen ấn tượng nào đó của thầy cô dạy môn đó. Nói ra thật chẳng có lý lẽ gì, nhưng nhìn chung thì chỉ những thầy cô mà chúng tôi yêu mến đặc biệt mới có những biệt danh như vậy?
Cô Mai Ly, hay như tôi nói trên, cô Công Án, là một nhà giáo đúng như kiểu tôi nghĩ: không theo một mẫu công chức nào. Ở đây ta hiểu là mẫu nhà giáo thì phải đạo mạo, mô phạm , đứng trên bục giảng nhìn xuống sinh viên ấy. Cô có vẻ ngoài rất... bụi, như cách nói của thanh niên chúng tôi về kiểu đầu tóc, ăn mặc: trạc hơn bốn mươi tuổi nhưng cô trông trẻ hơn thế qua kiểu đầu tém, như của một võ sĩ Zu-đô. Quần bò, áo bò kiểu blu-zông, khi nóng thì xắn tay áo lên quá khuỷu. Chân luôn dận đôi dày thể thao thấp đế rất xịn, mặc dù cô không cao để phải đi dày đế thấp như thế, nếu không nói là hơi lùn... Khi lạnh thì thêm cái áo len cổ lọ to sụ, khiến cho cái đầu tém của cô như luôn ngọ nguậy một cách sinh động ở phía trên của cuộn chăn len dựng đứng vậy.
Khuôn mặt cô không xinh đẹp nhưng rất dễ mến, đặc biệt khi ta nói chuyện với cô hay khi cô giảng bài. Cái cảm giác luôn thường trực trong ta khi nói chuyện với cô là vẻ chăm chú theo dõi câu chuyện và đặc biệt là cô như luôn bật ra những câu ngạc nhiên đầy phấn hứng, về những gì ta kể, kiểu như: "Ô, thế à? Hay nhỉ!"... Điều đó khiến cho ta cũng thấy hào hứng và thú vị.
Giọng của cô Công Án không trong trẻo như cái nghề cần phải thế, mà khàn khàn không giống giọng một phụ nữ, lại như luôn phải cố gắng trong khi giảng bài nên có cảm giác như cô sắp phải cho nghỉ giải lao vậy. Nhưng tất nhiên là không phải thế, vì trong suốt thời gian học môn của cô, chúng tôi chẳng bao giờ được nghỉ sớm trước giờ. Chưa kể nhiều khi còn quên cả giải lao giữa các tiết học và không ít lần tan học muộn giờ!
Nói đến muộn giờ, lại để có một so sánh thú vị về vẻ ngoài của cô Công Án, tôi dành một phút để kể lại câu chuyện này. Cô có một cô con gái rất xinh, như thiên thần, tên Trà My, chừng 4-5 tuổi. (Cô giáo lấy chồng muộn, mãi đâu ba mấy mới có cô con gái này. Chồng cô là một doanh nhân, hơn cô 5 tuổi, là... học trò một lớp bằng hai của cô. Có lần, cô đùa đùa bảo, vì yêu tớ mà ông ấy bỏ tiền học một cái bằng Báo chí, nhưng chẳng để làm gì. Các bạn bảo còn mơ gì hơn, mà chả lấy ông ý? Ước gì tôi có dịp kể về chuyện tình của cô nhỉ. Một câu chuyện tình hay ghê lắm, do cô kể cho chúng tôi nghe. Cô kể chuyện rất hay, rất cuốn hút, như giảng bài vậy, lại rất thoải mái khi trò chuyện với cánh sinh viên, không ra dáng quan cách kiểu một Tiến sĩ tẹo nào, nên chúng tôi rất quý cô). Cô gửi bé Trà My ở một nhà trẻ gần trường. Khi nhà trẻ tan học thì chúng tôi còn học ca chiều thêm hơn một tiếng nữa, mới tan. Trong lúc cô giảng bài cho chúng tôi thì cô trực phòng, áng chừng ngoài 50 tuổi, trông rất trung hậu và vui tính, đi đón và trông bé Trà My hộ cô.
Một lần, chúng tôi đang chăm chú nghe cô giảng, dù đã hết giờ khá lâu rồi, thì bỗng nghe ngoài hành lang, ngay chếch cửa lớp học có tiếng hét của cô trực phòng:
- Trà My... Ơ kìa, đừng có ngồi mà “tè” ra đó chứ con...
Chúng tôi như chợt tỉnh, quay ngang ra cửa. Cô bé Trà Mi trong chiếc váy bồng rất điệu, áo ngắn tay trắng viền cổ màu cánh sen, đầu búi hai bím xinh xinh, thắt nơ nho nhỏ màu xanh lá cây, đang lom khom rón rén lần theo quả bóng ten-nít từ từ lăn vào lớp học. Nó như không muốn kinh động đến cả lớp và mẹ đang thao thao trên bục giảng, nên nín thở chăm chú nhích từng bước nhỏ, trông xa như đang ngồi yên. Có lẽ do chạy nhảy nhiều, đã có đôi giọt mồ hôi tinh khôi như sương sớm, tấm tấm trên hai cánh mũi xinh xắn của nó. Giật mình khi nghe tiếng hét, nhưng nó nhanh chóng hiểu ra, quay khuôn mặt thiên thần lại, nhìn về hướng cô trực phòng, đưa ngón tay trỏ bé xíu lên môi, ra ý giữ trật tự. Vừa lúc, cô Công Án cũng quay lại nhìn bé. Trà Mi không hề biết cả lớp và mẹ đang ngó nó, cứ tập trung chú ý, rón rén lần theo quả bóng, lúc này đang được một sinh viên ngồi ngoài cửa kín đáo chặn lại. Bé sung sướng thấy rõ, nhanh nhẹn nhặt quả bóng rồi ù té, chạy bay ra ngoài trong tiếng cười phấn khích của cô trò chúng tôi.
Lúc sinh viên lục tục ra hành lang, cô trực phòng vừa liếc vào phòng, về hướng cô giáo, vừa khẽ lè lưỡi, ra hiệu: “Khiếp, cứ tưởng lớp học tan lâu rồi. Cô xin lỗi các cháu nhé”...
Thế đấy, cũng khó tưởng tượng ra một cô giáo có vẻ ngoài như tôi mô tả, lại sinh ra được một cô con gái xinh xắn, dễ thương đến vậy. Khi ai khen bé, cô hay nhân tiện mà đùa: “Là tôi xin được bé trong nhà hộ sinh đó. Khổ, chả ai bảo nó là con tôi. May mà tôi không phải là... bố nó”. Rồi cô cười rất thoải mái và không dấu diếm niềm hạnh phúc lớn lao trong tiếng cười đó...
Mỗi lần giảng bài, cô đi lại nhanh nhẹn trên bục giảng, tay luôn trắng xóa vì phấn. Sau này có bảng phoóc, bút dạ thì đỡ bẩn tay hơn. Nhưng có vẻ cô không thích bút dạ lắm, vì cô luôn viết phấn nét đậm, chữ to cộ trên bảng, và viết rất ít chữ. Chỉ nhăm nhăm tô đậm những chữ cần thiết đã viết, khoanh khoanh nó nhiều lần trong khi giảng, như muốn cho người nghe thấy rằng, trong những chữ đó có rất nhiều điều mà cô khai thác ra. Và, do một thứ ma thuật nào đó do cô tạo ra, mà cô lkhông hề tỏ ra điều đó, chúng tôi cứ như bị thôi miên. Luôn nhìn chăm chăm vào mấy cái chữ bị tô đi tô lại cho đến khi chả đọc ra chữ gì, chỉ thấy trắng xóa và rối rắm trên bảng, trong khi hai tai thì dỏng lên nghe như hút lấy từng lời cô giảng.
Một lần nhân giảng về thơ văn thời Lý-Trần, cô đọc cho chúng tôi nghe một bài thơ Thiền, hay chính xác hơn là thơ do một Đại sư có pháp danh Thụy hiệu (do vua ban sau khi mất) là Mãn Giác làm ra. Ông kết già thị tịch (mất) năm 1096, khi chỉ mới 45 tuổi. Cô đọc lên, cả câu thơ nghĩa Hán ngữ, lại cả bản dịch thơ, rồi như thấy đọc lên chưa đủ sao đó, cô chép nó lên bảng, cả nguyên văn chữ Hán, cả bản dịch nghĩa Hán và bản dịch thơ của Hòa thượng Thích Thanh Từ. Bài thơ như sau:
春去百花落
春到百花開
事逐眼前過
老從頭上來
莫謂春殘花落盡
庭前昨夜一枝梅
Dịch:
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
Thích Thanh Từ dịch thơ:
Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu, già đến rồi
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua – sân trước – một cành mai.
Viết xong, cô tung viên phấn theo một đường vòng cung cho rơi đúng vào... ly nước lọc, để trên bàn giáo viên mà cô vừa uống xong? Chúng tôi không ai có phản ứng gì về điều kỳ quặc đó, vì đang dán hết mọi ánh mắt vào vẻ mặt cô. Mà vẻ mặt cô thì không có dấu hiệu gì liên quan đến hành động của mình, cô đang phiêu diêu đâu đó, như bị cảm xúc mạnh về bài thơ chi phối, đang chờ thoát ra thành lời. Y như rằng, cô lên tiếng, vẫn bằng cái giọng khàn khàn như thế, nhưng bắt đầu tỏa ra ma thuật:
- Bài thơ này vốn không có gì đặc sắc lắm, nếu nó không do một nhà sư nổi tiếng thời Lý, vốn là một nho sĩ sớm tài danh, có cái tên hiệu do vua Lý Nhân Tông ban cho là Hoài Tín. Sau này, khi xuất gia, - là bạn học của thiền sư Quảng Trí, - ông là bậc lãnh tụ pháp môn một thời, được cả vua Lý Nhân Tông và Hoàng hậu kính nể, dựng chùa Giáo Nguyên, mời về trụ trì...
Cô bước những bước dài lại gần bảng, như nhà ảo thuật, trong tay đã có một mẩu phấn nào đó rồi. Cô thong thả khoanh một vòng lớn lên bài thơ chữ Hán:
- Vốn là nhà nho, thích làm thơ chữ Hán, lại thông kinh kệ, phát tiết tinh anh về Thiền học. Bài thơ này được coi là một tác phẩm thi kệ nổi tiếng thời kỳ văn học Lý-Trần. Mặc dù, nghĩa của nó dịch từ tên bài kinh “Cáo tật thị chúng”, chỉ nôm na là “Có bệnh, bảo mọi người”. Nhưng lạ thay, bài thơ đọc lên, lại nghe như một “tuyên ngôn triết học”, ẩn ngữ dưới dạng một tác phẩm văn chương!
Cô như thức tỉnh chúng tôi:
- Các bạn nghe này. Giản dị, dưới một giác độ nào đó là thô thiển. Nhưng lạ thay, giản dị, lại là bản chất của siêu thực, là thăng hoa của tài năng. Trong Kinh Dịch: sự biến hóa của 64 quẻ thể hiện nguyên lý của vũ trụ là Giản dị, Biến dịch và Bất dịch. Thì Giản dị, như thực chất của mọi thực thể vốn đơn giản là chính nó vậy! Hãy đọc hai câu đầu của bài thơ:
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai.
Đó há chẳng phải là sự giản dị ư? Xuân đi thì hoa rụng/Xuân đến thì hoa nở! Có gì đâu, ai mà chẳng thấy thế chứ? - Cô bỗng nhìn chúng tôi chăm chú, như hơi cười:
- Các bạn có biết ai có thể giản dị hơn không, theo nghĩa ngắn gọn hơn, đến tận cùng, khi miêu tả ý?
Cô suy nghĩ một giây, như tìm cách cho chúng tôi liên tưởng:
- Như tôi đang giảng một bài thuộc về văn thơ Lý-Trần cho các bạn đây. Có ai nghĩ có thể giảng ngắn gọn hơn không. Hay sát nghĩa hơn: dạy một cách giản dị hơn, - là tôi lấy từ ta đang bàn về nó đấy,- không?
Cô nhướng mày một cách sinh động, như ra ý hỏi, như khuyến khích chúng tôi tham gia vô tiết học, như muốn đánh tan cái không khí mà chắc cô cho đang đọng lại trong phòng, cho nó sôi động lên.
Tôi chợt nhớ ra một câu của Lão Tử, liên quan đến gợi ý của cô, về dạy học, bèn xin thưa. Cả lớp quay đầu lại phía tôi một cách tò mò, chăm chú, đều như một động tác múa nào đó được chỉ huy cẩn thận. Cô tỏ vẻ rất thú vị, vì đã đạt được điều mình muốn, là khuấy động không khí do trạng thái một chiều của việc dạy và học mang lại, liền đến sát bàn tôi, chạm hẳn tay lên người tôi, vui vẻ:
- Em, Tùng Chi!
Cả lớp hơi ồn ào một chút. Thảo Mai và Thanh Thư ngồi hai bên thích thú như chính mình được cả lớp chú ý, được tham gia vào tiết học. Tôi tự tin đứng lên, mặc dù không chắc là sẽ trả lời đúng:
- Em thưa cô, có phải là quan điểm của Lão Tử về dạy học không ạ?
Cô Công Án ngạc nhiên, nghiêng hẳn đầu sang, cao giọng khích lệ tôi.
- Chính nó! Là...?
Tôi vui mừng:
- Thưa cô, là “Bất ngôn chi giáo” ạ!
Cả lớp ồ lên, rì rào nhắc lại, vẻ thừa nhận.
Cô giáo vừa reo lên, vừa bước nhanh về phía bảng, bước lên bục giảng rồi đột ngột xoay người, quay ngoắt lại, nhìn chúng tôi chăm chăm:
- Phải rồi: Lão Tử đã giản dị đến cùng cực là... “không nói nữa”, hay chính xác là “Dạy bằng sự im lặng”! Nhưng, - cô cười, kêu lên phấn khích, - trời đất ơi. Các bạn đừng bảo tôi hãy dạy bài “Cáo tật thị chúng” này bằng cách... im lặng nhé!
Chúng tôi rộ lên cười, hiểu câu đùa của cô theo một ý nghĩa nào đó.
Cô bỗng giơ hai tay lên, giang rộng ra, xòe bàn tay về hướng chúng tôi, làm động tác đẩy đẩy như gây chú ý, như nhắc chúng tôi lắng lại, để nghe cô:
- Đó chính là triết lý của Thiền học đấy, các bạn ạ: “Không” không phải là “không”, mà trong “có” có cái gọi là “không”. “Có” không phải là “có”, mà trong “không” có cái gọi là “có”. Với khái niệm “Sắc” và “Không”, ta cũng hiểu như thế được, nhé. Ngừng một lát , cô lại chỉ tay vào tôi:
- Em! - cô gật đầu khi tôi nhìn lại cô ra ý hỏi, - Là em, phải rồi đó Tùng Chi! Em hiểu được câu của Lão Tử theo nghĩa đó không? Có thể diễn giải nó ra sao nhỉ?
Tôi, một chút lúng túng... Cố hiểu thật nhanh cái đám rối “không không” và “có có” của cô Công Án, rồi quyết định trả lời theo ý mình. Mặc dù vậy, vẫn có cảm giác như bơi trong sương mù:
- Thưa cô, có thể hiểu là: Nói một nửa, rồi im lặng. Phần còn lại, để cho người nghe tự khám phá ra ạ. - Trong khi chờ phản ứng của cô, tôi thêm - Là dạy kiểu gợi ý, không nói ý mình ra, để phát huy ý nghĩa của bài học từ nhiều người ạ...
Cô giáo bỗng bất giác vỗ tay, khiến cho cả lớp ồn lên một phút, vẻ phân vân. Còn tôi thì vẫn chưa kịp phản ứng gì, cứ đứng ngây ra, khiến cô phải vui vẻ vẫy vẫy tay một cách thân ái, nhắc:
- Em ngồi xuống đi. Nào nào... Phải rồi đấy, các bạn ạ. Là bạn Tùng Chi đã hiểu đúng câu của Lão tử đấy. Ta nói ra hết, là áp đặt cho nhiều người ý của riêng ta. Mà quên mất, ý nghĩa của một vấn đề vốn không đơn trị như thế. Nó đa trị, theo quan niệm của nhiều người.
Cô cười:
- Các bạn sẽ hỏi, tôi có làm vậy không? Xin thưa là có đấy, nhưng là tôi còn phải nói phần của tôi trên lớp, chỉ tranh thủ thêm ý hiểu của các bạn thôi. - Cô cười, - Tiếc là chưa có một quy trình nào cho kiểu dạy của Lão Tử cả. Rồi sau này, các bạn phải làm cho được việc đó đấy...
Chúng tôi có vẻ hiểu được đôi chút điều cô nói. Đó chẳng phải là kiểu học theo nhóm, thảo luận về môn học dưới sự hướng dẫn của thầy cô sao?
Một chút lắng đi, như đợi cho chúng tôi lại chú ý đễn bài giảng, rồi tiến về phía bảng, dùng phấn gạch nhiều nét dưới hai câu thơ trên, như cho chúng tôi chú ý vào, cô tiếp:
Hai câu này là sự thật hiển nhiên, như Thiền sư chỉ muốn nhắc thôi, cũng như Bác Hồ, trong "Nhật ký trong tù" có viết: “Sự việc vần xoay đà định sẵn/Hết mưa là nắng hửng lên thôi.”
Vì thế mới có hai câu sau, - cô lại gạch nhiều nét phấn dưới hai câu tiếp trong bài kinh và đọc:
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu, già đến rồi.
Giản dị đến thế thì thôi: Thời gian trôi đi, đếm qua mùa: Xuân đi, Xuân đến. Không cần kể lể thêm nữa, kiểu như Xuân qua, Hạ tới, Thu về, Đông sang, vân vân... để cũng chỉ thời gian trôi đi thôi mà. Lại đếm qua công việc: Việc này, việc kia ta đã làm rồi, cũng là chỉ thời đã gian trôi đi, nhưng đã có sự nhắc nhở ta rồi... Chỉ bắt đầu có sự suy ngẫm sâu xa ở câu tiếp: “Trên đầu, già đến rồi!” . - Cô cao giọng, - Là đã kêu lên rồi đấy. Các bạn có thấy thế không? Có một sự liên tưởng thú vị ở đây chăng: Xuân Diệu, khi nhắc các bạn, là thanh niên ý, hãy yêu nhau đi, thời gian không chờ ta nữa:
“Mau lên chứ, vội vàng lên với chứ
Em, ơi em, tình non đã già rồi!”
Cô nghiêng đầu ngó chúng tôi trân trân, như có ý hỏi: “Phải vậy không?” mà không ra ý chờ chúng tôi trả lời. Rồi, cô làm một động tác mà chúng tôi sửng sốt: dùng phấn gạch chéo lên bốn câu thơ vừa đọc:
Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu, già đến rồi.
Đợi một lúc cho chúng tôi chú ý. Cô thu hết tinh lực như chỉ để chúng tôi lắng nghe điều cô sắp nói ra:
- Nếu chỉ hiểu vậy, và nếu bài thơ chỉ có vậy, thì chẳng có gì đặc sắc trong bài thơ này. Nó chẳng hơn được một bài thơ tả tâm trạng tương tự của Trần Tử Ngang, là bài Đăng U Châu đài ca. (登幽州臺歌) -Bài ca lên đài U Châu- như sau. Cô nhanh tay viết lên một phía bảng vẫn chừa sẵn, như cố ý từ trước:
前不見古人
後不見來者
念天地之悠悠
獨愴然而涕下
Dịch:
Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất kiến lai giả
Niệm thiên địa chi du du
Độc thương nhiên nhi thế hạ
Dịch thơ:
Người trước chẳng thấy đâu
Người sau càng mờ mịt
Ngẫm trời đất vô cùng
Riêng lòng đau lệ chảy
Trần Tử Ngang cũng tả tâm trạng u hoài khi cô đơn trong cõi mang mang trời đất, cái cô đơn của kẻ như thấy mình bất lực trước vũ trụ, trước quy luật tự nhiên. Nhưng, - đến đây, cô lại sải những bước dài, tiến đến bên bảng đen, dùng phấn khoanh hai câu cuối bài “Cáo tật thị chúng” lại, - các bạn hãy chú ý hai câu cuối này, - rồi cô đọc nhấn từng từ Hán nghĩa:
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
Đoạn cô ngâm nga lời dịch:
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua – sân trước – một nhành mai.
Rồi bất ngờ, cô quay một vòng trên mũi dày chân trái một cách sành điệu, xoay ngang người. Đồng thời, lại tung viên phấn viết dở theo một hình vòng cung, vào cốc nước ban nãy một cách chính xác, khiến chúng tôi vô cùng thú vị khi theo dõi các động tác của cô... Nét mặt cô như đang phiêu diêu đâu đó theo tư tưởng của mình, khiến chúng tôi chả có bất cứ biểu hiện nào về những động tác kỳ quặc kia.
Tôi bỗng có ý nghĩ thế này. Nếu vào lúc đó có ai hỏi cô: "Sao cô lại ném phấn vô cốc nước đang uống dở?". Thì cô sẽ giật mình và ngạc nhiên lắm ý. Cô sẽ ngơ ngác tự hỏi: "Là tôi sao? Nước nào? Phấn nào? Ai ném? Lúc nào vậy?"... Thế đấy! Đó nhất định là trạng thái tâm thần của cô lúc ấy!
Lại nghe tiếng cô cất lên, như từ một nơi xa lắc, mà lại nghe rõ từng từ một:
- Đây mới chính là “cái đinh” của bài thơ này. Nó góp phần làm cho cả bài thơ thăng hoa thành một thứ triết lý nhà phật: Đó là nghịch lý mà chỉ khi ta bị “đốn ngộ”, - theo một cách nói nào đó liên quan đến Phật pháp, chỉ sự giác ngộ đặc biệt của trạng thái tâm thức con người, - mới hiểu được. Hai câu thơ mang đặc trưng của một “Công án” trong Thiền tông, là nghịch lý so với trật tự tự nhiên, mà rõ ràng là trước đó, Thiền sư đã dụng công nhắc tới: Ở trên là Xuân đi, hoa rụng. Ở đây là Xuân tàn, mà qua một đêm, lại xuất hiện một nhành mai ở sân trước!
Các bạn hãy chú ý cho tôi điều này, - cô làm động tác khoát tay chỉ để chúng tôi chú ý thêm, dù biết chúng tôi vẫn đang bị hút vào dòng tư tưởng của cô, - trong Kinh Dịch, có một biểu tượng rất hay, mà người ta còn gọi một cách hình tượng là “Cá bát quái”. Đó chính là vòng tròn bát quái gồm hai nửa đen và đỏ như hai con cá xếp ngược, cạnh nhau, có mắt cá hẳn hoi. Mà các bạn biết ý nghĩa của nó là gì không? “Trong đủ Âm (nửa đen) có mầm Dương (chấm đỏ, là con mắt của cá đen); trong đủ Dương (nửa đỏ) có mầm Âm (chấm đen, là con mắt của cá đỏ).
Nghĩa của nó là: Trong Thái Âm (đủ Âm) đã có Thiếu Dương (mầm Dương); Trong Thái Dương (đủ Dương) đã có Thiếu Âm (mầm Âm)!
Hay có thể suy rộng triết lý Âm Dương kia ra là: Cùng Loạn tắc Yên; cùng Yên tắc Loạn! Trong tận cùng của thời loạn, đã có mầm yên; trong cùng tận thái bình, đã có mầm loạn.
Áp vào hai câu trên, tức là trong cái suy tàn của mùa Xuân, thì nhành mai là sự sống trỗi dậy theo triết lý ấy. Nhưng theo quy luật tự nhiên, từ bốn câu trước, đó lại là một nghịch lý, là một “Công án”! Một đoạn “kinh” kệ chỉ sự phi thực tế, phải có kinh nghiệm giác ngộ vượt ra ngoài tư duy thông thường, mà phải chính là người bị “đốn ngộ”, mới thực hiểu. Còn cả các bạn, cả tôi, chỉ nghe giảng ra thế thôi, hiểu mà thực ra là chưa “ngộ” được...
Cô làm một cử chỉ như bất lực, có thể hiểu là còn nhiều điều về bài thơ này, về Công án kia mà không thể một lúc mà nói ra hết được; hay cũng có thể hiểu là ta không thể ngộ được cái Công án kia, dù có thể giảng nó ra thế. Chỉ bản thân kẻ bị “đốn ngộ”, mới tự nhận thức ra Công án đó, lúc đó thì đã đắc đạo thành Phật rồi. Như Đại sư Mãn Giác, như Bồ Đề Lạt Ma... đã từng ngộ ra Công án mà đắc đạo vậy!...
Vậy là, thêm một lần, ở một môn học khác, trước kia là môn Văn học Trung Quốc, lần này, chúng tôi lại đồng loạt đứng dậy vỗ tay khi cô Công Án kết thúc bài giảng, trong một trạng thái hết sức phấn khích.
Vừa lúc, cô trực phòng lắc lắc chùm chìa khóa to sụ, cho kêu leng keng, vui vẻ hò hét cô bé Trà My rằng đã tan học, mau mau vào đón mẹ. Chúng tôi vui vẻ chào cô giáo rồi ùa cả ra hành lang, lục tục chen vai đi xuống cầu thang. Không quên cố vuốt má cô bé thiên thần, trong khi nó cứ cười ré lên như bị cù mỗi khi ai chạm được vào cái mặt xinh xinh đang cố dấu dưới hai cánh tay và luôn nép sát tường để tiến dần vào phòng đón mẹ...
9. Email của bố.
“Bố là chỗ dựa tinh thần cho ta" ("Mario Vargas Losa-Nhà văn Pêru)
Một buổi tối, hoàn thành bài vở xong thì đã khuya. Mẹ và cậu em trai tôi chừng đã đi ngủ, tôi tranh thủ check mail. Tôi không có nhiều email vì ít khi viết cho ai. Phải có việc gì cần lắm, mà tôi thì không nhớ đã từng viết email cho ai chưa, chỉ check theo thói quen và bỗng nhiên thấy thư của bố.
Bố vẫn thường xuyên về vào cuối tuần và hai bố con tôi vẫn tranh thủ nói chuyện với nhau. Chủ yếu tôi kể chuyện về bạn bè trong nhóm, cũng hay kể về các tiết học mà chúng tôi thích.
Mặc dù có đăng rải rác những “bài thơ già”, - như mẹ tôi vẫn gọi loại thơ mà tôi vừa hay viết gần đây như thế, - nhưng chưa có dịp nào bố cho tôi biết cảm nhận của mình về chúng. Tiểu thuyết thì tôi đã bắt đầu đăng những kỳ đầu tiên trên trang web cá nhân và bố cũng đang đọc, những chưa có ý kiến gì. Hôm kia là thứ 2, bố lên cơ quan và vừa buổi tối nay, mẹ thông báo sáng qua bố đi Liên Bang Nga hai tuần, cùng đoàn cán bộ của Bộ Giáo dục sang một số nước có quan hệ chuyên môn hẹp nào đó về khoa học kỹ thuật...
Tôi vui mừng nghĩ, chắc là bố đã suy nghĩ nhiều và nhân dịp này sẽ góp ý cho tôi về thơ hay tiểu thuyết gì đây. Y như rằng...
Bố không viết trực tiếp vào mail, mà đính kèm một file khá nặng. Tôi hào hứng nghĩ trong khi clik vào đó để download: Chắc là dài đây, tha hồ đọc nhé.
Nó thêm là tôi rất thích đọc những gì bố tôi viết. Từ khi còn ở Tiểu học, "cô bé già" là tôi đã lục tung thư của bố mẹ viết cho nhau ra để đọc, và mẹ chả dấu diếm vẻ thích thú khi kể đến những lá thư của bố cho mẹ, còn có lúc thấy xen cả những bài thơ tình.
Thư của mẹ thì ngắn, nhưng đầy ắp tình cảm. Còn thư của bố thì như những bài văn dài nhiều trang viết tay, - tất nhiên rồi, hồi đó còn chưa có máy tính, - chữ viết đều đặn nhưng khoáng đạt, rất ưa nhìn. Như ta quan sát một trang thiếu niên tuấn tú, - khái niệm trong chưởng Kim Dung, nghĩa là thanh niên, là “hảo hán” và còn hào hoa nữa? - thanh lịch và thông minh vậy? Nội dung thư thì dung dị chân thành nhưng thông minh, sắc sảo, lại hóm hỉnh và đặc biệt là rất tình cảm.
Tôi bỗng nghĩ, con người ta, viết ra thơ, ra văn, có thể không phản ánh nhân cách thực, vì có thể tạo ra trạng thái tâm lý cho phù hợp với vấn đề cần miêu tả. Như diễn viên khi lên sân khấu vậy, là lúc họ diễn, không phải bản thân họ, bản tính của họ. Nhưng khi viết thư riêng cho nhau, cũng như khi rời sân khấu về nhà, sống với nhau, họ đã trút bỏ vỏ bọc rồi. Phần lớn trong nhân cách lúc đó, nếu không nói là tất cả, là họ thực, là bản ngã của chính họ? Nếu vậy thì đọc thư, tôi thấy bố là người chân thành, giản dị, thông minh, hóm hỉnh và sâu sắc. Đặc biệt, qua thư cũng thấy được bố am hiểu rất nhiều lĩnh vực về xã hội, về nghệ thuật, mặc dù bố theo học chuyên ngành về kỹ thuật. Chắc là bố đọc nhiều và có năng khiếu đọc để có thể hấp thu và chuyển hóa kiến thức thành của mình?
Đọc một bức thư như vậy, có thể hiểu được đến hơn nửa bản chất con người rồi, nếu không nói là tất cả? Phần còn lại sẽ do cảm nhận hàng ngày, khi ta tiếp xúc với người đó mà khẳng định hay bác bỏ một phần cảm nhận đã có được qua thư...
Tôi dứt dòng suy nghĩ, clik chuột vào file word, năm trang thư hiện ra. Tôi bất giác reo lên khi đọc lướt thấy nói về tiểu thuyết: “Đúng là bố, thư ra thư. Đây hẳn là nhận xét về các kỳ tiểu thuyết của tôi rồi”. Làm một phép nhẩm: “Nếu theo tốc độ viết của tôi, khi tràn ngập cảm xúc, chỉ gõ không sửa, thì năm trang tiểu thuyết phải trong năm tiếng, là có kể cả thời gian lục tìm tư liệu trên mạng làm luận cứ khoa học cho vấn đề đang viết. Vậy thì bố ít ra phải gõ mất 3 tiếng không sửa, để ra cái thư này cho tôi...”
Như một nghi lễ cho việc đọc văn, hay chính xác là ngồi học đã lâu, tôi rời máy tính lục tủ lạnh kiếm một chút nước mát, cho ra cốc. Vặn vẹo thân mình cho sảng khoái rồi mới lại ngồi vào máy. Đồng hồ trên bàn học của tôi chỉ 01h34 phút. Mai tôi có tiết chiều, có thể ngủ bù đôi chút vào sáng muộn. Tôi yên tâm làm một ngụm lớn nước mát trong cốc rồi bắt đầu đọc thư.
“Tiểu thư của bố! Chắc mẹ đã báo tin cho con việc bố đi Liên bang Nga hai tuần, trong đoàn cán bộ khoa học của Bộ Giáo dục. Bố vừa ổn định chỗ ở xong. Liên bang Nga hiện nay khá ổn, nên cán bộ của ta được bố trí ở phòng khách khá sang, mỗi người một buồng. Điều lý thú là trong phòng có mạng Internet, vậy là bố đã mở được trang web của con, lại gõ được mail để gửi, còn có gì hay hơn nữa kia chứ?
(Tôi vui vẻ nghĩ: “Phải đấy, bố ạ. Con cũng cho là như vậy”)
Bố viết ra bản word để gửi file đính kèm cho con, vì sẽ định viết dài. Con chuẩn bị tinh thần mà đọc nhé (Tôi thích thú: “Vâng, con chuẩn bị rồi đây ạ. Một cốc nước mát và tinh thần thì rất phấn hứng ạ”). Về việc viết tiểu thuyết theo kỳ, trước tiên, bố hình dung ra hồi xưa, vào năm 1933, từ khi thành lập, các nhà văn ưu tú của bút nhóm “Tự lực văn đoàn” như: Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam); Khái Hưng (Trần Khánh Giư); Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long); Thạch Lam (Nguyễn Tường Vinh); Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu); Thế Lữ (Nguyễn Thứ Lễ); Xuân Diệu (Ngô Xuân Diệu) và Trần Tiêu (Trần Tiêu), - Bút danh và trong ngoặc là tên thật. Trong đó: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam và Khái Hưng, Trần Tiêu là các anh em ruột, - đều viết tiểu thuyết đăng từng kỳ trên các báo ăn khách hồi đó như Tiểu thuyết thứ Bảy, Phong hóa, Ngày nay, Tinh hoa, Phụ nữ tân văn...
Kể trên là những nhà văn thuộc “bút nhóm”, kiểu như trong Hội nhà văn hiện nay. Ngoài ra còn nhiều nhà văn khác tham gia viết cho nhóm. Thậm chí tác phẩm được giải của “Tự lực văn đoàn” hồi đó lại về tay số tham gia này, mà không thuộc những người trong bút nhóm, - tôi tưởng tượng ra bố hài hước khi viết thêm, - chứ không phải như các giải thưởng văn học do Hội nhà văn hay các Hội văn học nhệ thuật của ta ngày nay, mà bố nghe được trên TV, trong một buổi tọa đàm Văn học nghệ thuật nào đó, thì những người đầu tiên có giải, phải là chủ tịch, hay phó chủ tịch, hoặc các ủy viên của Hội đã? A ha...
Có thể kể đến một số các giải thưởng, các tiểu thuyết và tác giả được giải hồi đó như:
Năm 1935: "Ba" , truyện ngắn của Đỗ Đức Thu. "Diễm dương trang", tiểu thuyết của Phan Văn Dật. "Bóng mây chiều", tiểu thuyết của Hàn Thế Du.
Năm 1937: Giải nhất, trao cho tác phẩm "Bỉ vỏ", của Nguyên Hồng; Giải khuyến khích, trao cho tiểu thuyết đầu tay "Nỗi lòng" , của Nguyễn Khắc Mẫn.
Năm 1939: Giải đồng hạng được trao cho: "Làm lẽ", tiểu thuyết của Mạnh Phú Tư; "Cái nhà gạch", tiểu thuyết của Kim Hà (khi xuất bản thành sách, tác phẩm này đổi tên là "Tiếng còi nhà máy")
Tuy nhiên, những tác phẩm tiêu biểu của thời kỳ này lại phải kể đến những tác phẩm và các tên tuổi trong bút nhóm: Bướm Trắng, của Nhất Linh; Đoạn Tuyệt, của Nhất Linh; Hồn Bướm Mơ Tiên, của Khái Hưng; Nửa Chừng Xuân, của Khái Hưng; Gánh Hàng Hoa, của đôi bạn Nhất Linh - Khái Hưng; Đời Mưa Gió, cũng của họ: Nhất Linh - Khái Hưng...
(Tôi thích thú: “Ôi, bố... Hình như việc gì bố cũng dụng công như thế này. Con nhân tiện lại thêm được khối thông tin, mà đỡ phải mất công tìm tòi đấy ạ”)
Trở lên là khái quát để con thấy rằng, viết tiểu thuyết theo kỳ không phải là mới mẻ và đã cho ra những tên tuổi lớn. Ngày nay, viết rồi post dần lên mạng cũng là kiểu viết tương tự và có cái hay của nó: Không phải mất công thai nghén lâu và có thể “thưởng thức sản phẩm” ngay, theo kiểu “ăn cỗ cưới”: hết món này, bê ra món khác, luôn nóng rẫy và thơm ngon! Đó là chưa kể, đến mình cũng không biết kỳ tới là gì, rất thú vị. Phải xong kỳ này, mới thấy nên viết tiếp về vấn đề gì.
Nhân tiện, bố đã thấy con dự định kỳ sau, rồi lại thay đổi. Và hiểu là chuyện ắt phải thế, tức là câu chuyện dẫn dắt ta, theo một cái logic tự thân nào đó, chứ không phải ta cứ gán cho nó tùy ý, như ai đó tưởng vậy! Thậm chí, có nhà văn lớn, sáng tạo ra được nhân vật yêu thích rồi, mà khi buộc phải để chết, đã không tìm ra cách nào cứu được. Hình như văn chương, nghệ thuật, cũng như khoa học kỹ thuật, là một dạng nghệ thuật, mà khi đạt đến một cảnh giới nào đó, sẽ chính là cuộc sống của tác giả hay sao đó?
(Tôi thầm thốt lên: “Ôi bố... Bố như một triết gia vậy. Nhiều suy nghĩ thật mới mẻ và bất ngờ. Mà không viết như con, sao bố hiểu công việc viết lách tưởng đâu là “nhì nhằng” này của con làm vậy chứ?”)
Về văn trong tiểu thuyết. Tùy theo câu chuyện, tùy theo từng người mà viết theo kiểu này hay kiểu khác. Kiểu văn ở đây, có thể hiểu là dùng câu đơn ngắn gọn, hay câu phức dài dòng. Đối thoại ngắn, súc tích, hay kèm theo phân tích trạng huống tâm lý kèm theo...
Ngay cả là một tác giả, trong một tác phẩm cũng có thể linh hoạt sử dụng các kiểu viết văn khác nhau, hiểu nôm na theo nghĩa trên. Bố nói vậy để con đừng chịu ảnh hưởng của ai, khi đọc họ. Cứ viết theo cảm nhận của mình, khi thấy nên như vậy. Thế mới ra tiểu thuyết của A, của B, của C, vân vân... Và không thể nói là kiểu văn nào hay hơn. Chỉ có thể đọc và thấy kiểu văn đó là hợp lý, cho trạng huống đó. Vậy là... “ăn tiền”, nôm na vậy!
(Tôi lập tức nghĩ: “Bố lại như đi guốc vào con rồi. Con vẫn đọc trong khi viết và thấy đây đó kiểu cách của họ hay hơn mình, rồi chợt nghĩ, ta đã sai rồi ư? Thì ra không hẳn vậy!”)
Nói chuyện ngắn dài trong câu văn, trong lời thoại, có thể đưa ra ví dụ thế này. Các nhà văn cổ điển Pháp chẳng hạn, ưa viết câu văn dài, và họ lý luận thật thâm sâu, về những gì đề cập trong một câu văn. Có cảm tưởng, họ tiết kiệm từng dấu chấm ngắt câu. Vấn đề tâm lý, sự kiện... khi cần đề cập, thường họ muốn xử lý rốt ráo trong một lần đặt bút, và họ thực sự có tài năng để làm được việc đó. Có thể kể đến Ban-Zắc, với bộ “Tấn trò đời” gồm rất nhiều cuốn tiểu thuyết dài hơi và nổi tiếng. Trong số đó, có: “Miếng da lừa”, có “Lão Gô-ri-ô”... Văn của ông phân tích tỉ mỉ và mạch lạc diễn biến tâm lý của nhân vật qua từng câu nói, từng suy nghĩ, dài hàng trang giấy luôn. Mà đọc thì mê ly!
Cũng theo phong cách gần như vậy, là Flô-be trong tác phẩm nổi tiếng “Bà Bô-va-ry”. Là Đuy-ma con trong “Ba chàng lính ngự lâm”... Có thể kể thêm Lép Tôn-xtôi trong bộ “Chiến tranh và Hòa bình”; A. Tôn-xtôi trong “Con đường đau khổ”...
Nhân tiện, về các tác giả tên tuổi trên, tác phẩm văn học của họ còn hàm chứa cả khoa học, cả lịch sử, xã hội. Ăng-ghen, một trí tuệ lớn và đa tài ở nhiều lĩnh vực đã từng có một kết luận thú vị, đại loại thế này “Có thể học về lịch sử chiến tranh cận đại và hiện đại nhiều hơn là từ các nhà viết sử chuyên nghiệp cộng lại, qua những tác phẩm văn học thuần túy như tiểu thuyết lừng danh “Ba chàng lính ngự lâm” của Đuy-ma con hay “Chiến tranh và Hòa bình” của Lép Tôn-xtôi... Có thể học về tâm lý học, tâm thần học nhiều hơn từ các nhà tâm lý học và y khoa cộng lại, qua những tác phẩm cũng thuần túy văn chương như bộ “Tấn trò đời” của Ban-zắc, hay “Anh em nhà Ka-ra-ma-zốp” của Đô-xtôi-epxki...”
Tiểu thuyết của họ không đơn giản chỉ là một câu chuyện, mà là khoa học tới từng sự kiện với độ chính xác đáng nể. Từng ý, từng dòng đều hàm ý nhiều điều cho ta suy ngẫm và học hỏi, về nhiều lĩnh vực khác nhau. Bởi vậy, nhiều khi, khái niệm “câu chuyện” trong một cuốn tiểu thuyết, theo nghĩa có đầu, có kết hoàn hảo như ai đó tưởng không là điều còn “tối hậu” nữa, nếu không nói là đã "lạc hậu". Mà nhiều khi như thế, tức là “câu chuyện” hoàn hảo quá, lại khiến cho ta đọc một mạch hiểu hết rồi, vứt sách đi. Vì còn gì mà suy ngẫm, còn gì mà tìm tòi qua từng ý từng từ, từng lời và liên hệ nó với cuộc đời nữa?
Câu văn ngắn, lại có thế mạnh của nó, là cho ta hiểu ngay, đích thị là nó, như tác giả muốn thẳng tưng ra thế. Nó khiến người đọc sướng ngay vì sự tường minh, ngắn gọn của câu văn, của ý nghĩ mà nó muốn thể hiện. Kiểu văn này thông dụng trong một số thể loại như tiểu thuyết chương hồi, như "Tam Quốc diễn nghĩa" của La Quán Trung; như "Thủy Hử" của Thi Nại Am; như truyện ngắn của một số cây bút hiện nay, đặc biệt rõ trước kia là Nguyễn Huy Thiệp, gần đây là của "nhà văn miệt" vườn xuất sắc Nguyễn Ngọc Tư. Nhân nói đến nhà văn trẻ xuất chúng, có giọng văn đặc sệt Nam bộ đáng yêu này, phải kể đến sự thông minh của cô ấy trong các cuộc phỏng vấn báo chí. Và đặc biệt, trong một cuộc phỏng vấn, Nguyễn Ngọc Tư đã có một câu đại ý: “Nhiều khi đọc được những tác phẩm thật hay, của những nhà văn nổi tiếng, bỗng thấy văn mình sao kém cỏi quá, thấy nản quá... Nhưng rồi, mình viết cái mình thích, chứ không phải viết cái người khác thích, nên lại tĩnh tâm lại...”
Đó là trạng thái tâm lý không chỉ của riêng Nguyễn Ngọc Tư. Có thể hiểu thế này: 10 cái cây cảnh, là 10 kiểu thế khác nhau, to nhỏ khác nhau. Cái cây nào đó nhiều người khen đẹp, mà quả là nó đẹp thực, không có nghĩa là các cây còn lại thấy... xấu hổ. Nhiều người trầm trồ khen cây kia đẹp, nhưng họ lại thấy các cây còn lại có những nét đáng yêu nào đó mà cây kia không có, và họ chọn mua những cây còn lại đó... Vậy đấy.
(“Bố lại đúng rồi, như đọc vị mình rồi”... Tôi thầm nghĩ khi thấy đó chính là tâm trạng lúc này hay lúc khác của chính tôi...)
Con gái yêu của bố. Rõ ràng là bố không chỉ ra cụ thể về những kỳ tiểu thuyết con đã đăng, đơn giản vì bố tránh áp đặt tư duy của mình lên sáng tạo của con. Tuy nhiên bố cũng thấy con có nhiều đặc sắc trong xây dựng nhân vật, để có được những mẹ Cầm, thầy giáo dạy Văn, anh Hoàng, kẻ lạ mặt... Bố ủng hộ con có những trường đoạn về giờ học cụ thể trên lớp, vì viết về sinh viên mà lẩn tránh nó thì thật kỳ. Làm được điều đó là con đã đi tiên phong trong tiểu thuyết về nhà trường đấy. Có lẽ chưa có ai viết kỹ về một giờ học hay giờ giảng của sinh viên hay giáo viên, kể cả tác giả nước ngoài, ít ra là qua các sách đã dịch, lại phổ biến được nhiều người đọc biết đến?
Nếu theo kỳ tiếp, không có gì thay đổi, mà hình như con đã chọn lại rồi (?) thì sẽ lại có giờ giảng về Thi pháp học, về thơ Thiền nữa? Bố thấy có vẻ được, vì có thể qua đó cài cắm nhiều điều về kiến thức văn học, về thực trạng dạy và học ở nhà trường, dù chỉ phác họa về nó, về tâm lý giáo viên, sinh viên trong dạy và học, vân vân... Cái chính như bố nói, viết về sinh viên phải có những tiết giảng cụ thể, sẽ hay hơn và con đã làm đúng rồi...
(“Vậy là mình được bố khen đấy nhé”... Tôi thấy vui vui và nghĩ, bố chê gì đi nào? À, có đây rồi...)
Có lẽ con cần chú ý đến sự tương xứng giữa tâm lý nhân vật (nội dung) và thể hiện bề ngoài (hình thức) của nhân vật để khắc họa nhân vật rõ nét hơn. Như các cô bạn, như con, ăn mặc ra sao, đi đứng thế nào... Vì dễ hiểu là hình thức nhiều khi cũng khắc họa nhân vật không kém hiệu quả. Như Nam Cao miêu tả Chí Phèo say ở những nét bề ngoài khá ấn tượng, nó hỗ trợ cho phân tích nội tâm nhân vật ấy khi trong trạng thái say và đã... hết say!
Bù lại, con phân tích tâm lý nhân vật khá tốt, tuy nhiên, chỉ mới ở nhân vật tôi. Cần như vậy ở các nhân vật khác nữa. Thoạt đọc, có vẻ nhân vật thể hiện tâm lý, suy nghĩ già quá. Nhưng thực ra là không phải vậy. Suy nghĩ của con người nói chung, chưa kể là thanh thiếu niên sinh ra ở thành phố, trong gia đình tri thức, lại sống trong môi trường toàn những em như thế ở một trường chuyên, là rất phức tạp. Có điều, ta không quen phân tích cho nó rạch ròi ra, hay không phân tích được rạch ròi ra, thì cũng vậy. Nhưng nhất định là không phải không có những suy nghĩ như thế.
Nhà văn, phải đủ sức khai mở nó, theo một cách nào đó, cho người đọc thấy được, và họ sẽ hiểu là có như vậy. Mặc dù, với người này thì thế là phức tạp rối rắm, với người khác thì hiểu được. Nhưng nhất định là nhà văn phải viết ra cho được điều phải có và đã có trong suy nghĩ của con người ta. Vì điều đó là có thật, là bản năng tư duy hết sức phức tạp của con người!
Cũng như có một cái hồ nước, rất sâu, nhưng ta không phải xuống đó bao giờ. Nhưng như thế không có nghĩa là ta cứ nói đại đi cho xong là nó nông, chả có gì ghê gớm cả. Đã miêu tả nó, ta phải dò cho ra, nó sâu đến đâu, có cái gì cụ thể dưới đó. Bởi vì, sẽ có ai đó, bằng thiết bị đặc biệt, sẽ có lúc mò xuống và thấy rõ mọi chuyện. Lúc đó, họ sẽ biết được ta nông cạn, hời hợt, cứ nói xơi xơi vậy thôi, thực ra trong bụng chả có gì. Tức là, ta đã bị "bóc mẽ", không ai còn nể phục và đọc ta nữa. Vậy đấy!
Việc còn lại là người đọc sẽ hiểu nó vào lúc này hay lúc khác, là vấn đề của người đọc. Chính vì vậy mà lúc này chưa hiểu, vào lúc khác, ở một trạng thái tâm lý khác, họ lại hiểu. Và đó mới là cái được của cuốn sách, theo chính họ, vì tác giả đã hoàn thành sứ mệnh của mình rồi! Dễ hiểu là có cuốn sách đọc một lần và có cuốn sách bắt ta đọc lần hai, lần ba mà vẫn tìm thấy cái hay ở đâu đó, trong những chương nào đó, trang nào đó hay thậm chí là ở một dòng nào đó...
Con gái của bố. Buổi tối ở đây thật dễ chịu. Trước tiên là căn phòng, sạch sẽ và tiện nghi, lại riêng biệt, rất phù hợp để ta suy nghĩ làm việc. Nó giúp bố viết xong cho con lá thư dài lòng thòng này. Thứ hai là thời tiết mùa này, ở Hà Nội đang dịp nắng nóng, sang đây thì mát mẻ, dễ chịu quá. Mà bố thì đang ở trạng thái sức khỏe rất tốt, mặc dù qua một chuyến bay dài. Chắc con đang học hành vất vả? Vài năm đầu đại học bao giờ cũng vậy. May là con có năng khiếu về các môn học, nên đỡ vất vả hơn. Bố mừng vì điều đó. Tuy nhiên, con cần chú trọng sức khỏe nhé. Thức khuya với con gái là không tốt lắm, mặc dù nhiều khi không còn cách nào khác. Vậy thì cố gắng hạn chế càng nhiều càng tốt và khi có dịp thì ngủ bù ngay nhé. May mà càng lớn lên con càng khỏe ra, chứ hồi bé, đặc biệt dạo đang học năm cuối tiểu học, là lớp 5, nhỉ, con bị ốm một trận ghê quá...
Dù vậy, con hãy nhớ giữ gìn sức khỏe nhé. Nhớ trông nom dạy dỗ em thay bố nhé. May mà hai chị em con lại hợp nhau, cu Bách có vẻ hâm mộ chị nên con có thể giúp nó học và chơi với nó được. Còn mẹ nữa, con vẫn dành thời gian quan tâm đến mẹ đấy chứ. Thêm cả phần của bố nữa nhé.
Thôi, bố đi nghỉ đây. Con cũng đi học hay nghỉ ngơi đi nhé. Bố của con, Nam Phong!”
Ôi, bố! Một bức thư thật là dài và chả thiếu gì nữa. Bố luôn là người chu đáo vậy đấy. Nhìn đồng hồ thấy đã 02h30, tôi đứng dậy mở cánh cửa sổ trông ra con ngõ nhỏ. Phía dưới, tôi đã thấy những con người đi xe máy lướt vèo qua, vì những cuộc mưu sinh hàng ngày, trong ánh đèn đường đỏ quạch, như vì thức đêm thiếu ngủ. Xa xa, những quầng sáng nhấp nháy, như có ánh lửa hàn từ những công trình xây dựng nào đó rất nhiều trong thành phố.
Tôi tưởng tượng ra một nơi xa lắm, bố cũng đang chuẩn bị đi ngủ, cho dù xét về múi giờ thì không phải vậy. Bố của tôi, là một người như vậy đấy: luôn chu đáo với mọi người trong nhà về mọi việc. Và tôi thấy hạnh phúc khi được làm bạn với bố, như bố vẫn nói: bố chỉ muốn được con coi như một người bạn, đặc biệt là trong mọi vấn đề của cuộc sống!...
Tiếp theo:
(Kỳ VI)
Tiểu thuyết (6)
(Kỳ VI)
10. Trận ốm nhớ đời-Địa ngục
“Những kẻ định bước qua cánh cửa này, hãy để lại đây mọi niềm hy vọng" (Câu đề trên cánh cửa vào Địa ngục - "Hài kịch thần thánh"- Dante Alighieri, Nhà thơ Italya)














Nguyen Phuong Dung # 22. March 2008, 17:05
Phạm Ngọc Hùng (55) # 22. March 2008, 17:16
Ý quên, "khủng" này là "khủng" tốt hay "khủng"... xấu hả PD ơi? Để "khổ chủ" còn biết đường mà... "sướng cái bụng" coi! Cái này, người xưa có câu:
"Người khôn ăn nói nửa chừng/Để cho người... dại, nửa mừng nửa lo" à nha. Hì hì... Đùa chút vậy thôi, nhỉ.
Nguyen Ngoc # 30. March 2008, 12:26
Phạm Ngọc Hùng (55) # 30. March 2008, 14:06
Nguyen Ngoc # 30. March 2008, 15:08
Phạm Ngọc Hùng (55) # 30. March 2008, 17:39
Nguyễn Hoài Phong # 31. March 2008, 04:12
Phạm Ngọc Hùng (55) # 31. March 2008, 10:33