Tuesday, 8. December 2009, 04:38:17
Có người hỏi Khổng Tử: “Người dời nhà mà quên vợ. Điều đó có chăng?”. Khổng Tử bảo: “Lại có kẻ hơn thế nữa, như Vua Kiệt Vua Trụ thì còn quên cả bản thân mình”. Nếu dùng đạo nhãn mà quán xét thì mọi người thời nay đều quên mất thân mình. Tại sao? Từ sáng sớm mở mắt ra, bước xuống giường, cho đến tối lên giường ngủ thì đều là trần lao, chưa từng tạm thời tỉnh xét thân mình. Đó đều là quên mất mình vậy!
Vả lại, con người đối với thân mình, nếu ở trong một ngày mà nói thì không gì quan trọng hơn là sự đói khát. Ai nấy cần phải lo ăn uống đầy đủ.
Nếu ở trong một năm mà nói thì không gì quan trọng hơn sự lạnh nóng, ai nấy đều cần có y phục đầy đủ. Nếu lấy trọn đời mà nói thì không gì quan trọng hơn là sự sanh tử. Thế mà lại không dự bị, tại sao quá ngu mê như thế?
Đó chẳng phải là ngu thật sự, mà chỉ vì không biết có pháp tu Tịnh độ, có thể làm dự bị chu toàn cho sự sanh tử. Ví như có người đi đến chỗ xa xôi trước cần phải tìm nhà trọ, sau đó mới đi kiếm công việc làm thì tối đến mới có chỗ nghỉ ngơi. Trước tìm nhà trọ đó là nói tu Tịnh độ, khi tối đến là chỉ cho sanh mạng sắp hết, có chỗ nghỉ ngơi nghĩa là sanh trong hoa sen không còn trầm luân nơi đường ác, chịu những điều khỗ não.
Do đó mà xét thì niệm Phật để tu Tịnh độ, tu Tịnh độ để vãng sanh. Trong kinh nói, thọ mạng vô lượng, có vui không khổ, thế thì sự dự bị cho cả đời chẳng phải là rất đầy đủ lắm sao!
Hiện nay, có người biết mà lại không tu là tại sao? Ôi! Biết rồi! Hoặc là do ở nhà không có chỗ tĩnh tu, hoặc do không thể ăn chay, hoặc do sự việc phiền lụy tâm tư nhọc nhằn. Đâu biết rằng, niệm Phật chính là phải ở chỗ ồn náo để rèn luyện, chẳng câu nệ đi đứng nằm ngồi. Ở nơi huyên náo mà có thể nhất tâm không loạn động thì một tiếng niệm Phật ấy còn hơn niệm nhiều tiếng ở nơi yên tịnh.
Đó gọi là: Tâm thanh tịnh thì cõi nước thanh tịnh.
Nếu niệm Phật lại còn trường trai thì cố nhiên quá tốt, nhưng chỉ có bậc xuất gia mới được.
Nếu người tại gia mà có tâm xuất thế cũng cần phải cầu tốt đẹp mọi bề. Song cứ gây sự khốn khó cho người, bắt buộc phải trường trai thì chẳng phải là điều thích hợp dùng để khuyên bảo mọi người.
Nếu sáng sớm khi thức dậy chí thành niệm Phật thì đã có thể tiêu diệt tội lỗi trong hiện đời, lúc mạng chung lại được siêu sanh Tịnh độ.
Còn như số lượng của việc niệm Phật thì người rảnh rang niệm càng nhiều càng tốt. Nếu người bận việc mà phát tâm Vô thượng Bồ đề cũng phải xếp vào đây.
Gượng ép việc mà người không thể làm được, cũng chẳng phải là điều thích hợp để khuyên bảo đời. Bởi vì, trọn ngày tuy bận rộn nhưng lẽ nào lại không có chút thời giờ rãnh rỗi? Sao không bớt thời gian uống trà, nói chuyện phiếm để thâu nhiếp tâm tư mà niệm Phật?
Người học nhằn về sức lực, cũng có thể nhờ danh hiệu Phật mà tích chứa sức mạnh. Việc ấy có lợi ích không tổn hại, còn có điều nào hơn đây nữa? Huống chi, chẳng những được hiệu nghiệm lúc mạng chung, mà còn thấy được công năng nơi hiện tại. Kinh nói: “Nếu người thọ trì danh hiệu Phật thì hiện đời được mười loại công đức:
1. Ngày đêm thường được tất cả chư Thiên, Thần tướng đại lực, cùng các quyến thuộc ẩn hình bảo hộ.
2. Thường được 25 vị đại Bồ Tát như ngài Quán Thế Âm và tất cả các Bồ Tát thường theo bảo hộ.
3. Thường được chư Phật hộ niệm cả ngày đêm, Phật A Di Đà thường phóng ánh sáng nhiếp thọ người này.
4. Tất cả ác quỷ, hoặc dạ xoa, la sát đều không thể hại, tất cả rắn độc, thuốc độc đều không thể xâm phạm.
5. Không bị mọi tai nạn nước lửa, giặc cướp, gươm đao, ngục tù, xiềng xích, chết đột ngột, điên cuồng mất mạng.
6. Những tội nghiệp đã làm trước kia thảy đều tiêu diệt. Những oan mạng đã bị giết chết ngày xưa đều được giải thoát không còn kết thù oán.
7. Đêm nằm nghỉ an ổn, hoặc mộng thấy sắc thân thắng diệu của Phật A Di Đà.
8. Tâm thường hoan hỷ, nhan sắc tươi sáng, khí lực đầy đủ, việc làm có kết quả tốt đẹp.
9. Thường được tất cả mọi người ở đời cung kính, cúng dường, lễ bái cũng như kính Phật.
10. Khi lâm chung tâm không sợ hãi, chánh niệm hiện diện, được thấy Phật A Di Đà và các Thánh chúng tay bưng đài vàng tiếp dẫn vãng sanh về Cực Lạc, cùng tận kiếp vị lai hưởng thọ sự vui mầu nhiệm.
Đức Phật khẩn thiết ngăn cấm mọi người nói dối, nhất định Ngài sẽ e không nói dối lừa gạt mọi người.
Người đời nói dối, nếu không phải là để được lợi thì cũng là để tránh hại. Đức Phật chẳng mong cầu gì ở thế gian thì nào có tìm kiếm điều lợi gì? Đức Phật xem sự sanh tử như dao cắt hư không thì sao lại lẩn tránh tai hại? Thế nên, việc nói dối đối với Đức Phật chỉ là vô dụng.
Nếu tin Phật không nói dối, nên xem kỹ lời khuyên bảo về bốn phần tu tập vãng sanh Tịnh độ sau; đồng thời nên mượn đây để khuyên bảo kẻ khác, độ mình độ người công đức vô lượng.
Chớ nên để sách này trên gác cao, cho là lời nói không căn cứ, cô phụ tâm lão bà này. Giả sử người không có duyên với Phật chẳng tin, cũng mong chuyển đến người khác để lưu thông pháp này, lần lượt chỉ dạy dẫn dắt lẫn nhau, khiến cho ai nấy đều bước lên con đường giác ngộ, người người cùng ra khỏi bến mê. Đó là sự mong đợi của tôi ở nơi các vị!
1. KHUYÊN PHÁT TÂM NIỆM PHẬT
Chư Thiện nhân! Trên đời có muôn ngàn đường lối, tại sao lại chỉ khuyên người niệm Phật?
Bởi lẽ, tâm niệm của con người quan hệ trọng đại, dẫn dắt hồn phách, tạo sanh thân mạng, đều là do tâm ý. Niệm thiện sanh thiên đường, niệm ác vào địa ngục, niệm ma thì thành ma, niệm Phật thì thành Phật. Thế nên, khuyên bảo mọi người niệm Phật.
Trong mười phương ba đời có trăm ngàn muôn ức Phật, sao chỉ khuyên người niệm Phật A Di Đà?
Bởi vì, Phật A Di Đà từng phát bốn mươi tám nguyện, mỗi nguyện đều độ chúng sanh. Lại do Phật A Di Đà và chúng sanh ở Ta Bà có duyên; không luận là tăng tục, nam, nữ, ai có thể niệm Phật thì đều được Phật thâu nhận. Thế nên, chuyên tâm trì danh thì được tiếp dẫn vãng sanh về cõi kia. Cho dù người ác nhưng biết chí tâm sám hối, trì danh hiệu Phật ắt có thể còn nghiệp mà được vãng sanh. Do đó khuyên bảo mọi người niệm Phật A Di Đà.
Người nay đều hiểu rõ niệm Phật là tốt, chỉ vì nhiều đời nhiều kiếp tham sân si ái trồng nghiệp quá sâu nên khó phát tâm.
Chư Thiện nhân! Nên biết thế giới Ta Bà khổ não rất nhiều. Ông xem người đời có kẻ rất nghèo nàn hèn hạ, có người gặp nhiều tai nạn bệnh tật, có kẻ lẻ loi cô độc, có người gặp vợ chẳng hiền, còn hung dữ. Mọi người đều có cảnh khổ của riêng mình, mọi người đều có khổ tâm của riêng mình, những nổi khổ ấy vốn không đợi phải nói.
Ngay cả như người giàu có khỏe mạnh, gia đình quây quần hòa thuận, các thứ đầy đủ, mọi điều như ý, thế thì họ thật chẳng có đau khổ rồi! Nhưng mạng sống lại có giới hạn thì biết làm sao? Vả lại, chưa nói đến việc đoản mạng, dù cho ông sống đến trăm tuổi nhưng khi đại hạn tới cũng khó tránh khỏi cái chết. Đến lúc ấy chỉ còn cách duy nhất là nhắm mắt vô quan tài, muôn việc đều dứt. Vẻ hào hoa thuở trước, giờ đây ở nơi nào? Nói đến đây thì vẫn là khổ. Nếu người khi còn sống làm việc ác, lúc chết rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, theo nghiệp chịu quả báo, mãi đến khi trả hết nghiệp ác mới được chuyển làm thân người.
Cho dù người khi còn sống làm lành, chẳng qua cũng chỉ là gieo trồng một vài nhân lành phước báo, còn e oan nghiệt của đời trước nặng nề phải đền trả xong nợ cũ, thế thì đời sau phải chịu khổ rơi vào ba đường ác. Giả sử đời trước không có tội nghiệp nặng, đời sau liền được phước báo. Vả lại chưa nói đến phước báo chẳng toàn vẹn mà người hưởng phước thường thường cũng có đau khổ. Dẫu rằng vui sướng mười phần nhưng khi hưởng hết giàu sang thì vẫn nghèo hèn; huống chi một khi hưởng giàu sang ắt dễ dàng tạo nghiệp, chẳng bảo đảm là không rơi vào trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Đừng nói sự giàu sang ở thế gian, dù cho làm việc lành rất lớn được sanh lên cõi trời nhưng khi hưởng hết phước trời vẫn phải đọa lạc. Rốt cuộc vẫn là đau khổ!
Bởi vì trong ba cõi có nói khổ này, thế nên Đức Phật từ bi nói một quyển kinh A Di Đà dạy người niệm Phật được vãng sanh thế giới Cực Lạc, rời hẳn mọi đau khổ, mãi mãi thọ hưởng các điều vui. Đó là lời từ kim khẩu của Phật nói ra.
Đức Phật ngăn cấm nói dối, lẽ nào Ngài lại dối gạt người? Chỉ là có nhiều hạng người khác nhau nên nguyên nhân không phát tâm niệm Phật cũng sai biệt:
* Có người không biết sự lợi ích của niệm Phật nên không niệm.
* Có người không có lòng tin nên không niệm.
* Có người do tham trước sự vui sướng ở trước mắt nên không niệm.
* Có người vì gặp nghiệp điều chướng ngại nên không niệm.
Có nhiều nguyên nhân không giống nhau. Đâu biết rằng một tiếng Phật nầy, ai cũng niệm được và ai cũng nên niệm.
Nếu muốn cả thiên hạ bỏ việc sĩ, nông, công, thương, mọi kỹ nghệ để niệm Phật, đó là sự trở ngại cho mọi người, chẳng phải là điều thích hợp để khuyên bảo. Bởi lẽ, pháp Trì danh đối với tất cả việc làm đều không ngăn ngại, đã chẳng phế bỏ nghề nghiệp lại không trở ngại sự sanh nhai, đồng thời chẳng phạm luật pháp mà còn có thể tránh khỏi nỗi khổ luân hồi nơi địa ngục. Đâu không phải là việc có lợi không hại, nhất cử mà lưỡng đắc sao!
Ngay cả như người rảnh rang chính phải nên niệm Phật. Hoặc gia đình có tài sản ruộng vườn, không nhọc nhằn lo kinh doanh; hoặc có phụ, huynh, tử, đệ để nương tựa, tự thân an nhàn vô sự, những người như thế là do sự tích lũy tu hành từ đời trước mà có được, không phải mọi người đều được như vậy, thế nên cần phải ở ngay đây tu hành thêm nữa. Nếu bỏ thời gian trôi suông, luống qua một đời thì rất đáng tiếc!
Người bận rộn chính phải nên niệm Phật. Dù không được như người vô sự sáu thời khóa tụng, cũng phải nên tranh thủ thời giờ trong lúc bận rộn. Văn Long Thơ Tịnh Độ nói: “Mỗi ngày sáng sớm chí tâm thực hành pháp Thập niệm, tâm chuyên nhất, nguyện thiết tha thì cũng được vãng sanh”. Nếu không y theo pháp môn này, tuy gắng gượng dường như lăng xăng cả đời nhưng rốt cuộc trở thành không.
Người giàu sang chính phải nên niệm Phật. Dù cho giàu sang lâu dài nhưng thân không bền chắc thì biết làm sao? Tại sao chẳng ở nơi hoàn cảnh mọi thứ đầy đủ mà phát tâm niệm Phật?
Người bần cùng chính phải nên niệm Phật. Bởi đời trước không tu nên đời nay nghèo khổ, đời nay lại không tu sau khi chết giống như đã rơi xuống giếng, bao giờ mới được thoát ra? Huống chi, pháp môn niệm Phật này hoàn toàn chẳng làm lỡ việc tìm cầu cơm áo của ông. Có sự thuận tiện như thế, tại sao lại chẳng tu tập?
Người thiếu niên chính phải nên niệm Phật. Thừa lúc tinh thần mạnh mẽ mà cầu Vô thượng Bồ Đề; tích lũy ngày tháng, công lao chẳng qua suông. Huống chi mạng sống của con người chẳng đồng nhau, phần nhiều thường bị chết yểu. Nếu biết khắc phục thầm tu, nhờ Phật hộ trì mà hưởng thượng thọ. Khi ấy xem lại những người yểu mạng mới tin sự dụng công của mình là không sai lầm.
Người già suy chính phải nên niệm Phật. Đã trải qua bao nhiêu năm tháng, hoặc sự việc vẫn chưa xong thì rốt cuộc cũng chẳng xong. Sao chẳng lấy thời gian hữu hạn gấp rút cầu sanh Tịnh độ? Đó thật là có thể tỏ rõ được điều mà người khác không thể tỏ rõ.
Người nữ có con chính phải nên niệm Phật. Thường nói có con thì muôn việc đầy đủ, còn nói rằng con cháu tự có phước của nó. Những người ấy chính nên an tâm học Phật, nhưng họ lại si ái chẳng bỏ, tự cam chịu trọn đời làm trâu ngựa, hoàn toàn chẳng nghĩ đã hao phí bao nhiêu tâm huyết, rốt cuộc đối với chính mình không có dính dáng một điều gì. Khi sanh tử đến dù cho có con cực kỳ hiếu thảo cũng chẳng thay thế được.
Người cô độc không vợ không chồng chính phải nên niệm Phật. Họ không thiếu nợ người nên người không đến đòi, người ta cũng không thiếu họ nên không có việc hoàn trả nợ. Một thân đơn chiếc, chẳng lo cưới vợ cho con trai, khỏi phiền lấy chồng cho con gái. Sao không nhân đó mà chuyên tâm nơi Tây Phương, vượt ra khỏi vòng sanh tử?
Phàm ít một phần ái luyến là ít một phần ràng buộc; ít một phần ràng buộc là ít một phần nghiệp chướng; nhợt nhạt đối với duyên đời thì sâu đậm trong duyên Phật. Thế nên, ai được như hạng người nầy, sống không lo âu chết chẳng lo ngại, thật là người nên niệm Phật hạng nhất trong nhân gian, ra công ít mà hiệu quả gấp bội.
Người có thê thiếp ân ái chính phải nên niệm Phật. Người xưa nói: “Vợ chồng giống như chim chung rừng, lúc đại hạn đến đều tự bay". Lại nói: “Cốt nhục ân tình yêu thương, khó hẹn đầu bạc xum vầy, sao bằng đồng tu Cực Lạc, sau nầy nắm tay về đài sen”. Làm bạn Phật trong vô lượng kiếp, so với ân ái hữu hạn đâu chẳng phải là rất tốt hơn sao?
Người bị cốt nhục oán ghét chính phải nên niệm Phật. Oan gia tụ hội, tuy là người thân mà chẳng phải thân, không sớm cởi mở thì càng buộc càng chặt. Nếu ông thường niệm Di Đà, hiện đời liền được giải thoát.
Người phụ nữ chính phải nên niệm Phật. Do phụ nữ vốn là thân đang đọa lạc trong ngũ lậu, đang lo lắng không được thoát khỏi. Chẳng phải dễ dàng gặp được pháp môn niệm Phật này mà sao còn không gấp rút tu hành, xa rời nơi nẻo khổ? Huống chi, trong bốn mươi tám nguyện của Phật A Di Đà, nguyện thứ 35 nói rằng: “Nếu khi tôi thành Phật, trong vô lượng thế giới phương, nếu có người nữ nghe danh hiệu Tôi, tin tưởng ưa thích, phát tâm Bồ đề, chán ghét thân nữ, sau khi mạng chung nếu người ấy còn làm thân nữ thì Tôi không thành Chánh giác”. Do đó phụ nữ chuyên tu Tịnh độ tất có thể thoát khỏi thân nữ, chứng quả Bồ đề, nhưng không thể niệm Phật mà mê hoặc nơi tà kiến.
Người tàn tật chính phải nên niệm Phật. Thân thể không đầy đủ, đã khó sánh với người thường, nếu lại đọa lạc thì ắt phải rơi vào ba đường ác càng đau khổ hơn.
Người có bệnh tật chính phải nên niệm Phật. Người cường tráng còn đề phòng bị chết đột ngột, huống chi bệnh tật là đang cận kề cái chết. Dù không chết nhưng trọn ngày bệnh khổ triền miên thì giống như sống trong địa ngục, gấp rút tu hành còn e không kịp!
Người gặp tai nạn chính phải nên niệm Phật. Nghiệp đời trước chín mùi, đời nay khó mà trốn tránh, hoàn toàn phải nhờ vào sức mạnh của Phật để tránh khỏi tai ương này.
Người tốt chính phải nên niệm Phật. Người tốt Phật hộ niệm cùng đắc lực. Nếu chỉ làm lành mà không niệm Phật, so với người khác không làm lành tuy cảm thấy hơn người kia nhưng chẳng qua đời này đời sau chỉ hưởng một vài phước suông, phước hết vẫn phải đọa lạc. Chẳng bằng làm lành lại thêm niệm Phật, vãng sanh Cực Lạc lên thẳng Thượng phẩm, mãi mãi không còn đọa lạc.
Người ác chính phải nên niệm Phật. Làm ác mắc tội người đời đều biết, chỉ vì chưa từng kiểm điểm đó thôi. Nay ông canh năm thức dậy, suy xét mỗi việc mỗi việc, nếu quả thật là ác thì gấp rút cầu sám hối, sửa ác làm lành một lòng niệm Phật. Đức Phật đại từ bi, không có ai mà Ngài không tế độ.
Lại kiểm xét thường ngày không có việc ác nào chẳng tạo, hoặc những việc đã qua trở thành chướng ngại lớn, không thể nào cứu vãn; hoặc cảnh hiện tại như lỡ leo lên lưng cọp khó xuống, đành phải trái với lương tâm; hoặc làm gái, làm thầy kiện mưu tính của cải sanh mạng của nhiều người; hoặc kẻ đồ tể, người chài lưới hại ức vạn sanh linh. Nếu theo nhân mà luận quả thì sẽ bị quả báo thống khổ trong nhiều kiếp không thể cứu vãn, nhưng quyết không nên vứt bỏ mình mà chỉ mưu toan ở hiện tại, bị lỗi lầm lại còn thêm lỗi lầm.
Nên biết, Đức Phật mở một môn niệm Phật chính là do thương xót những chúng sanh phải chịu quả báo này, giải trừ cực khổ, dẫn dắt họ về Cực Lạc.
Tuy ông tạo hắc nghiệp lớn ấy mà có thể gặp pháp môn niệm Phật vãng sanh, đó chính là duyên lành vô cùng rộng lớn trong nhiều đời. Khi quả báo đau khổ chưa đến quyết ý mạnh mẽ niệm Phật, nắm chặt một niệm này, thành tựu nguyện lực, quyết định vãng sanh. Nên tìm bậc Thiện tri thức khai thị giảng luận để tăng tiến lòng tin.
Thử xem sư Hùng Tuấn, Trương Thiện Hòa trước kia tức là tấm gương cực ác mà được vãng sanh. Thừa sớm mà tu hành, chớ nên nghi ngờ! chớ nên nghi ngờ! Ngoài một môn niệm Phật này ra, không còn pháp cứu độ thẳng tắt nào khác.
Người tu tập định Không, chính phải nên niệm Phật. Có một hạng người ái trước thiền định yên tĩnh, cho là một niệm không sanh, buông bỏ rồi lại buông bỏ. Hoặc được cảnh không trong một hai ngày, liền bảo rằng đó tức là Đại định Kim Cang, chấp chặt không bỏ. Như thế đã không phù hợp với Tông môn lại chẳng biết cứu xét giáo pháp Quán tâm. Đâu biết rằng, dù trải qua tám muôn kiếp rốt cuộc vẫn là rơi vào không ngơ, chẳng bằng sớm chiều niệm Phật hồi hướng Tây Phương, hoàn toàn chẳng trở ngại việc vãng sanh, vô cùng ổn thỏa. Như thế đâu không phải là rất tốt hay sao?
Người tụng kinh chú chính phải nên niệm Phật. Chỉ cần thành tâm trì tụng, không được xem là việc làm lấy lệ. Niệm Phật, tụng kinh đều phải hồi hướng Tây Phương, nhất định được vãng sanh.
Người tham thiền chính phải nên niệm Phật. Tham thiền đại ngộ nhìn thấu sanh tử, đã biết được Tự tánh Di Đà, song sự thực hành và hiểu biết phù hợp nhau mới gọi là Tổ. Cho nên, Nhị Tổ còn bảo: “Ta tự điều phục tâm”, Lục Tổ còn nói: “Ngộ thời tự độ”, chính là phải huân tu miên mật, quyết không thể tự phụ nơi kiến giải điên cuồng chê bai Tịnh độ. Đừng nói khi sanh tử đến không thể làm chủ, ngay cả việc có thể tự do nơi sanh tử mà nếu còn có một mảy mai ý niệm buộc ràng cũng khó tránh khỏi nghiệp nhân trong ba đường. Lúc ấm cảnh hiện ra, bỗng liền đi theo nó, vẫn như cũ mà vào luân hồi. Đáng tiếc! Đáng tiếc! Thật đáng tiếc! Trăm sai, ngàn sai, lại muôn sai. Sao bằng niệm Phật cầu vãng sanh, muôn người tu muôn người vãng sanh.
Người giảng kinh giáo chính phải nên niệm Phật. Ngàn kinh muôn luận tuy chỉ dạy pháp môn tu hành không đồng, nhưng nói chung cần phải đoạn trừ kiến hoặc tư hoặc mới được thoát khỏi luân hồi, song luận bàn không phải dễ dàng. Các tông Tánh, Tướng, Không, Mật ở Tây Trúc hãy để sang một bên không bàn tới, ngay đến ba nhà Thiên Thai, Hiền Thủ, Duy Thức ở Trung Hoa, đều lấy việc đoạn trừ kiến tư hoặc làm vị thứ vượt ra sanh tử. Vị thứ đoạn trừ kiến tư hoặc này, ở nơi Thanh Văn đã là Tứ quả La Hán, ở nơi Viên thừa đã là Tương tợ, Phần chứng. Từ khi Phật Pháp từ phương Đông truyền sang đến nay, có mấy ai đạt đến chỗ đó? Vả lại, trong kinh luận phần nhiều khen ngợi vãng sanh. Phải nên dũng mãnh niệm Phật, y theo giáo lý mà thực hành!
Ni cô, đạo cô chính phải nên niệm Phật. Hiện ở trên đất Phật, đạo tràng thanh tịnh, sớm chiều chí thành niệm Phật, vì chính mình tu giải thoát, vì người đời làm mẫu mực. Như thế chân thật cầu vãng sanh Tịnh độ, so với công đức của người khác còn hơn vô lượng. Tại sao? Vì phụ nữ ở đời thường tin tưởng sự hóa đạo của các vị này, nên có thể dùng con đường chân chánh niệm Phật mà khuyên bảo mọi người, không chỉ tự độ mà còn có thể độ người, công đức ấy thật là to lớn! Ngay cả sự bố thí cúng dường của người ngoài không cầu mà cũng tự đến. Nếu lấy niệm Phật làm lý do để hóa duyên và bảo mọi người gởi giấy tiền vàng mã cầu hiện tại sống lâu, sau khi chết trở thành tiền để dùng nơi âm phủ. Dùng những tà thuyết lừa gạt mọi người, như thế chẳng những làm lầm người khác mà còn làm lầm chính mình.
Những việc nói trên đều là tuân theo di giáo của Phật tổ, chẳng phải bày đặt không căn cứ. Cúi mong những người thấy nghe ai nấy đều tự cảnh tỉnh!
Nên biết. Ta Bà thật là khổ, Tây Phương thật là vui. Ta Bà đau khổ luân hồi chẳng dứt, Tây Phương an vui kiếp số không cùng.
Nhất định đừng nói khổ mà không biết khổ, nói khổ thì dễ dàng, chịu khổ thì thật là khó khăn. Một vài điều khổ nho nhỏ đã cảm thấy khó chịu rồi, huống chi những nổi khổ cùng cực.
Không thể nghe vui mà không tin là vui, lời Phật không tin thì lời ai đáng tin? Người trung tín ở thế gian nói một câu mà mọi người còn không nghi, huống chi lời Phật nói.
Lành thay! Lành thay!
Gấp sớm quay đầu,
Phát tâm niệm Phật.
II. KHUYÊN THẬT TÂM NIỆM PHẬT
Các vị Thiện nhân! Nay đã phát tâm niệm Phật, cần phải thật tâm mà niệm, không nên hữu danh vô thật.
Nói chung, người không có căn lành quyết không thể niệm Phật, vì thế người xưa nói: “Nghe Phật Pháp khó, được lòng tin chân thật càng khó”. Nay có thể phát tâm niệm Phật, căn lành này phải cố gắng làm tăng trưởng trong từng giờ từng khắc, không nên chính mình tự lừa dối mình.
Còn như niệm Phật mà thông suốt cả Tông Giáo, Sự Lý viên dung, đã không chấp Lý bỏ Sự, cũng không ở ngoài Sự mà thấy Lý. Những người này đối với các thuyết Sự nhất tâm, lý nhất tâm rõ ràng không nghi, quyết sẽ lên Thượng phẩm Thượng sanh, đài vàng tiếp dẫn, hoàn toàn chẳng cần người khác khuyên bảo khen ngợi. Tôi cũng không cần phải nói rườm rà.
Nay chỉ đối với người niệm Phật ở nơi Sự, phân làm ba hạng:
Hạng thứ nhất:
Lòng tin chân thật thiết tha, chân chân thật thật, nhất tâm niệm Phật.
Tuy cùng mặc áo, ăn cơm, làm việc, buôn bán bình thường nhưng chỉ tin một việc này, đi cũng A Di Đà, ngồi cũng A Di Đà, dù bận rộn như tên bắn cũng không rời A Di Đà, tinh tấn chẳng lùi. Hôm nay cũng như thế, ngày mai cũng như thế, năm nay cũng như thế, năm sau cũng như thế.
Hạng người này, Đức Phật nhất định hộ niệm, lúc mạng chung người ấy nhất định vãng sanh thế giới Cực Lạc.
Hạng thứ hai
Hoặc tâm không chuyên nhất, họ cũng biết sự lợi ích của niệm Phật nhưng tục niệm nặng nề, chánh niệm, cạn mỏng, vừa mới niệm Phật thì trong tâm lại nghĩ việc khác, một nóng mười lạnh, niệm một ngày lại bỏ mười ngày.
Niệm Phật giống như hạng người này, dù niệm đến già cũng không được gì, chẳng qua chỉ là gieo trồng căn lành mà thôi.
Đời sau có duyên chạm đến điểm căn lành này thì bắt đầu mới chân thật tu hành một phen mới mong có được thành tựu.
Hạng thứ ba:
Miệng niệm, tâm không niệm. Người này vốn chẳng biết sự lợi ích của niệm Phật mà chỉ hâm mộ danh tu hành.
Hôm nay ở trong hội Phật này đi theo một người niệm một ngày, ngày mai ở trong hội Phật kia đi theo người niệm một ngày, tuy là có danh niệm Phật một ngày nhưng kỳ thật chỉ là qua suông. Thời gian nói chuyện phiếm thì nhiều, thời giờ niệm Phật thì ít. Ở trong Phật đường vốn đã có tham sân si ái, ra khỏi Phật đường tất tránh không khỏi việc tham sân si ái.
Người này so với hạng thứ hai kém hơn nhiều.
Ba hạng người nói trên, hạng thứ nhất rất ít, hạng thứ ba cũng không nhiều lắm, chỉ có hạng thứ hai mọi người dễ phạm vào. Do chúng sanh cõi Ta Bà bị vật dục che lấp, vọng niệm khó trừ cho nên mới như thế.
Thử nghĩ, lúc làm tất cả việc đời, nếu có thể chuyên tâm nơi đây còn không phân tâm nơi kia. Thậm chí mắt chẳng biết sắc, tai chẳng biết tiếng, thân chẳng biết sự xúc phạm, làm suốt đêm ngày, đó chính là khuôn mẫu của sự dụng tâm chân thật. Niệm Phật cần phải như thế mới có thể đắc lực.
Khổ nỗi chỉ dựa vào cách niệm tán loạn lười biếng ấy của ông thì tuy gieo được một chút căn lành, nhưng e cội ác sâu dày, căn lành cạn mỏng, dù cho một đời không có ác nghiệp, đâu bảo đảm được đời sau ông không làm ác.
Do điều ác che lấp việc lành nên tuy gieo trồng căn lành nhưng khó mà phát sanh. Hơn nữa, chẳng biết mấy đời mấy kiếp mới được thoát khỏi. Đâu chẳng phải rất là thống khổ sao?
Phải nên gấp rút phát khởi tâm khẩn thiết chân thật, phát khởi sức lực dũng mãnh, duyên đời có thể buông bỏ thì buông bỏ, mạng người vô thường quyết đừng lưu luyến mà tự làm lầm mình.
Dù có điều chưa thể buông bỏ, cũng chẳng ngại ông niệm Phật. Ví như, ông có một việc khẩn thiết ở nơi lòng, tuy làm việc khác nhưng vẫn không sao quên được việc khẩn thiết ấy.
Có thể niệm Phật như thế thì tự nhiên không có tạp niệm; cũng không đến nỗi một ngày nóng mười ngày lạnh, đó là vì tâm không chân thật khẩn thiết.
Còn có người tâm qua chân thật khẩn thiết lại bị ma nhiễu loạn, chẳng được tự do. Công đức lợi ích của niệm Phật họ cũng biết thật sự, rất tin tưởng; phương pháp niệm Phật họ cũng nghe nhiều thấy rộng, nhưng công phú niệm Phật lại không thể thực hành đầy đủ.
Họ nói với người tâm phải chuyên nhất, nhưng chính mình lại tạp niệm không dứt.
Họ nói với người mạnh mẽ tinh tấn, nhưng chính mình lại thường thường lười biếng.
Họ nói với người tâm sanh tử khẩn thiết, nhưng chính mình lại nhàn rỗi lơ là.
Họ nói với người nhiều thứ phương tiện, nhưng chính mình lại vì người quên mình.
Đó là vì lý do gì?
Bởi vì người này kiếp trước hoặc đời nay từng gieo trồng căn lành, cho nên trong tâm sáng tỏ, tương đối có thể hiểu biết chút ít.
Lại do thuở xưa nghiệp nặng cho nên bị ma nhiễu loạn. Có ma bên trong, có ma bên ngoài. Ma bên trong là trong tâm khi tỉnh lúc mê, tất cả tham sân si ái, tâm này vừa lìa thì tâm kia lại khởi. Ma bên ngoài là gặp cảnh khó khăn đủ mọi chướng duyên bức hại thân tâm, chẳng được an ổn.
Nếu không may gặp ma sự thì nên đối trước Phật phát nguyện, siêng năng cầu sám hối, tiêu trừ lỗi lầm trước kia. Người tu hành xưa nay đều gặp việc này, song quan trọng ở chỗ tâm niệm Phật chẳng nhân ma sự mà thối lui. Lập chí kiên định, trăm khó không sờn, mặc cho mọi thứ chướng duyên một câu Phật hiệu này quyết chẳng rời tâm ta.
Sức ma tuy mạnh, dựa vào vạn đức hồng danh này chống cự với nó, chẳng tính lợi hại sống chết chỉ lo chuyên niệm, niệm sáu chữ, niệm bốn chữ, niệm lớn, niệm nhỏ, niệm rõ, niệm thầm, niệm lúc hành đạo, niệm khi lễ bái, đi đứng nằm ngồi cũng niệm, khi vui niệm, lúc buồn cũng niệm, sáng tỏ niệm, hôn trầm cũng niệm. Niệm đến mủi lòng thương cảm, niệm đến lửa tắt tro tàn, niệm đến quỷ thần khâm phục, niệm đến chư Thiên hoan hỷ, niệm đến ma quỷ đầu hàng.
Một câu Phật hiệu làm tiêu nghiệp chướng trong muôn kiếp ngàn đời; một câu Phật hiệu là nhân duyên phát khởi bốn ân ba cõi.
Công phu niệm Phật bền bỉ mãi giống như ép mè, tiếng chày giã càng thêm mạnh mẽ cho đến lúc ra dầu; thuyền khi gặp sóng to, tiếng mái chèo càng thêm kiến quyết; vạt nước sôi ở phía sau, ao sen ở phía trước, tuy có ngàn vạn người ngăn trở ta niệm Phật, thề không thối lui, lâu ngày dài tháng tất được lòng từ bi của Phật âm thầm trợ giúp, chướng duyên tiêu tan, thanh tịnh duyên thành tựu. Phật chẳng phụ lòng người, ắt làm mãn nguyện chúng sanh.
Các vị Thiện nhân! Người nghiệp chướng nặng nề còn như thế thì người nghiệp chướng cạn mỏng tất có thể biết được. Người có nghiệp chướng mà còn như thế thì người không nghiệp chướng ắt cũng có thể biết rõ.
Lành thay! Lành thay!
Mọi người nên gắng sức,
Thật tâm mà niệm Phật.
III. KHUYÊN CẦU SANH TỊNH ĐỘ
Các vị Thiện nhân! Nay đã thật tâm niệm Phật thì phải phát nguyện cầu sanh Tịnh độ, không thể chỉ mong cầu phước báo. Người đời nghe câu nói này chưa khỏi ngạc nhiên kinh lạ. Họ nghĩ tu hành vốn là mong cầu phước, niệm Phật được phước chính là việc vừa lòng thỏa ý, tại sao lại không muốn phước báo?
Nếu nói Tịnh độ, lẽ nào bọn phàm phu chúng ta có thể vãng sanh? Huống chi công hạnh cạn mỏng làm gì được vãng sanh?
Các vị thiện nhân! Những tư tưởng ấy rất sai lầm, phải biết phước báo có lúc hết.
Thử xem người đời, hoặc ông bà giàu có, con cháu nghèo hèn, hoặc lúc trẻ giàu có, đến già nghèo hèn, đâu không phải là phước báo có khi hết. Không chỉ vậy, đời nay tu hành đời thứ hai hưởng phước, đời thứ hai không tu đời thứ ba lại chịu khổ. Hoặc có súc sanh lúc quả báo hết mới được thân người, vừa được làm người bị phạm lỗi lầm lại rơi xuống loài súc sanh. Lên xuống bất định cho nên gọi là nổi chìm trong biển khổ.
Không chỉ như thế, hoặc người có tài sản nhưng không con; hoặc có con mà không có tài sản; hoặc được sống lâu nhưng lại lẻ loi nghèo khổ; hoặc thông minh nhưng chết sớm; hoặc giàu có mà ngu dốt; hoặc sang trọng mà bị tai ương; hoặc tự thân ít bệnh mà quyến thuộc điêu linh; hoặc gia đình tạm an, thân mình bệnh tật. Có cái này lại thiếu cái kia, cho nên gọi cõi này là thế giới không hoàn mỹ. Ông cho rằng phước báo là cái vừa lòng thích ý hay sao?
Nếu sanh về Tây Phương thì không như thế. Hoa sen hóa sanh, thân thể thanh khiết, tướng mạo đoan chánh, trong tâm đầy đủ trí tuệ không có phiền não, y phục và thức ăn tự nhiên hóa hiện, không bệnh không già, theo Phật tự tại tiêu diêu an dưỡng. Tuổi thọ của con người ở đó lại vô lượng, từ đây tiến thẳng đến chỗ thành Phật đạo không còn đọa lạc. Ngoài ra biết bao niềm vui vẻ nói không thể hết. Những điều trên là do chính Đức Phật nói trong kinh Di Đà và các kinh điển Đại thừa.
Do đây mà xét, sự giàu sang ở thế gian trong chớp mắt liền trở thành không; niềm vui vẻ nơi Tây Phương vô cùng vô tận. Sao không gấp rút phát nguyện cầu vãng sanh?
Nếu nói ta là phàm phu e không thể vãng sanh, nên biết Đức Phật Như Lai chính vì bọn phàm phu chúng ta nghiệp chướng sâu dày, trí tuệ cạn mỏng, nếu tu pháp môn khác đều là ra khỏi ba cõi theo chiều dọc, e trong một đời không thể thoát khỏi sanh tử. Thế nên đặc biệt mở ra một pháp môn niệm Phật, mong người vãng sanh để mãn tâm nguyện độ hết chúng sanh của Ngài. Tại sao ông lại tự vứt bỏ mình, chẳng suy tư để phấn phát, nỡ cô phụ tấm lòng từ bi của Chư Phật như thế?
Nếu cho rằng công hạnh cạn mỏng, nên biết Vạn đức Hồng danh không có điều thiện nào mà chẳng thâu nhiếp, không có điều ác nào mà chẳng tiêu diệt. Đây chính là công hạnh lớn cùng cực, sâu cùng cực, rộng cùng cực, viên mãn cùng cực. Cho nên niệm Phật một tiếng có thể diệt rừ vô lượng tội nặng trong tám mươi ức kiếp; không thể xem niệm Phật là việc tầm thường, chẳng có gì đặc biệt.
Phải biết người niệm Phật hoàn toàn nương vào sự nhiếp thọ nơi nguyện lực đại bi của Phật A Di Đà. Ban đầu Phật A Di Đà có bốn mươi tám nguyện, mỗi nguyện mỗi nguyện đều là vì cứu độ mọi người. Nguyện thứ 18 nói rằng: “ Khi Tôi thành Phật, chư Thiên nhân dân trong vô lượng thế giới khắp mười phương, chí tâm tin tưởng ưa thích, muốn sanh về nước Tôi, niệm danh hiệu Tôi mười lần ắt liền vãng sanh, chỉ trừ những kẻ phạm tội ngũ nghịch, chê bai chánh pháp. Nếu không được như nguyện này, Tôi quyết không thành Phật”.
Do Đức Phật có đại nguyện này nên khi nhất tâm xưng niệm danh hiệu Phật A Di Đà thì trong ao thất bảo ở Tây Phương liền mọc một đóa hoa sen, nêu tên người ấy, ngày sau thác sanh trong đó, lúc lâm chung Phật A Di Đà cùng hai vị Bồ Tát Quan Ấm Thế Chí hiện thân tiếp dẫn.
Từ xưa đến nay, người được vãng sanh không thể tính hết. Hoặc có người dự biết trước ngày giờ lâm chung và đến lúc ấy tự nói thấy Phật Bồ Tát liền an nhiên mà qua đời. Hoặc có những người bên cạnh đồng thấy áng sáng lành, cùng nghe mùi hương lạ và tiếng nhạc du dương. Hoàn toàn chẳng phải không có chứng tích, những việc ấy đều có ghi trong các truyện vãng sanh.
Hiện nay người niệm Phật chân thật khẩn thiết rất ít, cho nên vãng sanh không nhiều. Mọi người ít thấy điềm lành vãng sanh, do đó không tin sâu rộng, trăm dặm có một người. Người trong cả trăm dặm ngàn dặm được vãng sanh này đâu chỉ là phàm phu? Mười năm có một người, năm năm có một người, những người vãng sanh trong mười năm, năm năm này đâu chỉ là kẻ phàm phu? Những người vãng sanh này lẽ nào đều có công hạnh trong ba A tăng kỳ kiếp hay sao? Chẳng qua chỉ là họ có thể dụng tâm chân thật khẩn thiết mà thôi!
Trong kinh A Di Đà nói rõ:
“Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe nói về Phật A Di Đà liền chấp trì danh hiệu hoặc một ngày cho đến bảy ngày nhất tâm không loạn động, liền vãng sanh về thế giới Cực Lạc”.
Đó đều là do đại lực đại nguyện của Phật A Di Đà. Ví như một chiếc thuyền lớn, chẳng luận là vật gì chỉ cần để lên thuyền thì được đến bờ bên kia. Cho nên người xưa nói: “Học đạo các môn khác như kiến bò lên non cao, niệm Phật cầu vãng sanh tợ đi thuyền thuận nước”. Đi thuyền thuận nước lại gặp gió xuôi, đâu chẳng phải đã nhanh chóng còn thêm nhanh chóng, đó chính là đạo lý nhờ vào nguyện lực của Phật.
Các vị Thiện nhân! Thuận nước, thuận gió là việc sau khi đã lên thuyền. Nếu ông chẳng chịu lên thuyền thì biết làm thế nào? Cho nên chính mình cần phải có nguyện lực chuyên thiết.
Hiện nay người niệm Phật hoặc vì bệnh khổ mà phát tâm; hoặc vì bảo hộ gia đình; hoặc vì hiện tại tiêu trừ tai nạn, kéo dài tuổi thọ; hoặc vì vọng cầu giàu sang ở đời sau, ít có ai vì việc lớn sanh tử mà cầu vãng sanh Tịnh độ.
Như người đi sang phương Nam hay qua phía Bắc, phải có phương hướng dự định. Dự định sang phương Nam, khi ra khỏi cửa quyết chẳng đi về phía Bắc. Nay ông không phát nguyện cầu sanh Tịnh độ, đến lúc lâm chung làm sao được vãng sanh?
Đó là nói người không phát nguyện cầu vãng sanh. Lại còn có người phát nguyện nhưng không chuyên thiết, nên miệng cũng nói nguyện sanh Tây Phương, trong lòng lại luôn tham đắm vật dục. Tuy ngẫu nhiên phát nguyện cầu sanh nhưng hoàn toàn chẳng thể trọn đời như một ngày, được sanh thì tốt không vãng sanh thì thôi, hoàn toàn chẳng có công phu chi thiết thật, như thế đâu khác gì không phát nguyện.
Than ôi! Chúng sanh trong thế giới ác trược tham quyến phồn hoa, cam tâm sa đọa, chẳng cầu giải thoát, thật không biết phải làm sao?
Nói chung, pháp môn niệm Phật chẳng thể nghĩ bàn, sự vui vẻ ở Tây Phương không có gì so sánh được. Niệm Phật cầu vãng sanh chính là phù hợp với tâm Phật. Nguyện sanh thì vãng sanh, không nguyện thì không vãng sanh. Nguyện không chuyên thiết thì cũng như không nguyện. Chẳng phải Phật không độ, chỉ vì ông không quyết chí.
Nếu đem pháp môn chẳng thể nghĩ bàn này mà tìm cầu phước báo nhỏ bé ở thế gian, ví như lấy hạt minh châu bắn chim sẽ. Thật là đáng tiếc thay!
Lành thay! Lành thay!
Chân thành phát nguyện.
Cầu sanh Tịnh độ.
IV. KHUYÊN TU CHÁNH HẠNH VÀ TRỢ HẠNH
Các vị Thiện nhân! Nay đã cầu sanh Tịnh Độ, phải tu hai hạnh chánh và trợ để lúc mạng chung được vãng sanh, chẳng những quyết định không nghi mà còn tăng cao phẩm vị.
Tu chánh hạnh tuy có nhiều môn nhưng nói chung chú trọng ở một pháp Trì danh, bởi Trì danh dễ mà công hiệu cũng dễ. Bậc cao đức ngày xưa ở trong chánh hạnh Trì danh mở ra ba môn Tín – Hạnh – Nguyện. Ở phần trước đã sơ lược trình bày đầy đủ, nơi đây lại dẫn bốn điều, mong người có chí tham khảo để thực hành.
1. Dốc lòng tin lời Phật:
Ông nghĩ rằng từ vô thỉ đến nay luân hồi trong sáu nẻo không thể giải thoát, đời nay sao lại may mắn phát tâm xuất thế này? Lại còn may mắn được nghe pháp niệm Phật vãng sanh, cực kỳ dễ dàng, cực kỳ thắng tắt mà còn do dự không quyết định, bệnh này do lòng tin Phật chưa chân thành tha thiết nên mới như vậy.
Phải biết trí tuệ, thiền định, giới luật, kiến thức, sức mạnh thần thông, từ bi khổ hạnh, còn có ai hơn Phật nữa chăng? Thế thì pháp mà Phật nói quyết định không sai trái, quyết định chẳng làm lầm lạc người. Do đó gọi lời Phật là lời nói chân thật, là lời nói không lừa dối.
Đức Phật nói, người cực ác lúc sắp lâm chung thành tựu mười niệm cũng được vãng sanh. Mọi việc làm trong cả đời của ông chưa hẳn đến nỗi xếp vào hạng cực ác, thường ngày trì danh lại hơn mười niệm. Nếu chẳng được vãng sanh tức là Đức Phật làm lầm lạc người, dẫn người đi sai đường, lẽ nào lại có việc đó?
Nay ông chỉ cần tin chắc thật, niệm niệm chuyên thiết, ngày ngày chẳng kể, lần hồi đến lúc lâm chung chánh niệm cầu vãng sanh, hoàn toàn chẳng điên đảo thì nhất định được vãng sanh không nghi. Ví như trồng dưa quyết định được dưa, trồng đậu quyết định được đậu, lại như dùng bùi nhùi lấy lửa, đá nam châm dẫn kim, chỉ cần cơ cảm hợp nhau quyết định được ứng nghiệm, tự mình quyết đừng phát sanh sự chướng ngại mà không thể tiến tới trước.
Nếu nghi ngờ sâu nặng, tuy nghe nói như thế nhưng rốt cuộc vẫn cảm thấy hồ nghi. Đó là do nghiệp chướng mạnh mẽ, phải thường để khởi chánh niệm, lại thêm sớm chiều sám hối, lâu ngày dài tháng tự nhiên có thể hiển bày trí tuệ. Tin chắc không nghi thì việc niệm Phật cũng mười phần đắc lực.
Đây là điều trọng yếu thứ nhất mở đầu để phát khởi niềm tin nơi chánh hạnh.
2. Gần gũi bậc Thiện trí thức:
Niệm Phật tuy là việc rất dễ dàng nhưng niệm không đắc lực thì cảm thấy không có mảy may lợi ích. Khi gặp cảnh duyên chẳng thuận liền phát sanh sự thối lui lười biếng. Hoặc nghe các pháp Thiền Quán, lại suy nghĩ muốn Tham thiền tập Quán thay đổi pháp môn.
Nếu không gặp thầy lành bạn tốt cảnh sách bình luận xét định thì nhất định sai lầm không ít. Thế nên, tu hành tuy chính mình cần phải dụng công nhưng hoàn toàn nhờ vào lực của bậc Thiện tri thức. Trong kinh nói: “Bậc Thiện tri thức là nhân duyên hoàn toàn để được đạo. Nếu như tự mình ứng dụng công phu tu sai lầm thì mình nhờ Thiện tri thức chỉ điểm trở về chân chánh; tự mình công phu lười biếng thì nhờ Thiện tri thức cảnh giác sách tấn. Những điều mình không biết thì nhờ Thiện tri thức nói rõ; những điều mình đã biết phải nhờ Thiện tri thức ấn chứng”. Nếu người thông hiểu văn nghĩa thời nên nghiên cứu kinh giáo, tăng trưởng lòng tin Tịnh độ, cũng phải cùng với Thiện tri thức luận rõ, tìm xét một cách thiết thực mới tránh khỏi vướng mắc vào sự hiểu biết mà tự lầm lạc.
Pháp sư Tĩnh Am nói:
“Tài nghệ nhỏ ở thế gian còn không thể không có thầy bạn, huống gì niệm Phật là pháp môn vượt thoát sanh tử. Nếu không có Thiện tri thức thì biết từ đâu mà khai phát? Ai dẫn dắt? Một niệm bất giác liền bị đọa lạc, sai lầm không nhỏ. Đến lúc lâm chung, bậc Thiện tri thức lại càng thêm quan trọng”.
Hòa thượng Thiện Đạo nói:
“Phàm tất cả người mạng chung muốn vãng sanh Tịnh độ thì cần phải không được sợ chết. Thường nghĩ thân này nhiều đau khổ, bất thanh tịnh, nghiệp ác trùng trùng xen tạp. Nếu được bỏ thân hình nhơ nhớp này, siêu sanh Tịnh độ thì thọ hưởng vô lượng niềm vui, giải thoát con đường khổ đau sanh tử. Như vậy mới vừa ý, như cởi bỏ chiếc áo nhơ xấu được thay vào y phục quý đẹp. Chỉ nên buông bỏ thân tâm đừng sanh lòng lưu luyến.
Hễ gặp lúc có bệnh thì nghĩ nhớ về vô thường, nhất tâm niệm Phật đợi cái chết đến.
Dặn dò người nhà và người lo bệnh vì tôi mà niệm Phật, không được nói việc tạp nhạp hằng ngày, sắp mạng chung thân thuộc không được khóc lóc rơi lệ và phát ra lời than thở ảo não, hoặc loạn tâm thần mất đi chánh niệm, chỉ nên đồng thanh niệm Phật trợ giúp vãng sanh, đợi khi hơi ấm hết rồi, lâu sau mới có thể bi ai than khóc.
Vừa có mảy may tâm luyến tiếc như thế liền trở thành chướng ngại chẳng được giải thoát. Nếu được người hiểu rõ Tịnh độ thường đến sách tấn thì rất là may mắn.
Tôi thường thấy người đời lúc bình thường niệm Phật cầu sanh Tây Phương, nhưng đến lúc lâm chung lại sợ chết, hoàn toàn chẳng nói đến việc vãng sanh giải thoát. Chết là việc trọng đại tự mình cần phải gắng sức!”.
Xem Hòa thượng Thiện Đạo khai thị như thế, có thể biết đây là mấu chốt trọng yếu. Trước phải gần gũi bậc Thiện tri thức, mới mong lúc lâm chung được sức mạnh tương trợ.
Đây là điều trọng yếu thứ hai cảnh sách huân tu nơi chánh hạnh.
3. Thường thêm tinh tấn:
Tinh tấn có nhiều dạng, như công khóa mỗi ngày và pháp Thập niệm sẽ nêu ở phần sau.
Mỗi ngày hạn định bao nhiêu cầu Phật hiệu, đó là tùy theo sự trù tính trong hoàn cảnh bận hay rãnh của mỗi người. Lập định khóa trình suốt đời này, mỗi ngày cũng không để gián đoạn, đó gọi là thường hằng tinh tấn.
Gặp lúc thanh nhàn, hoặc mỗi ngày một đêm, cho đến bảy ngày, hai mươi mốt ngày, bốn mươi chín ngày, hạn định thời gian chuyên niệm để mong nhanh chóng chứng đắc tam muội, đó gọi là mạnh mẽ tinh tấn.
Phương pháp niệm Phật không luận là một người hay nhiều người niệm, ngồi xếp bằng hay kinh hành niệm, trì thầm hay niệm ra tiếng, đều phải nhất tâm nắm chặt danh hiệu Phật, mỗi chữ mỗi chữ rõ ràng, vừa cảm thấy lờ mờ liền gấp rút để khởi sự tỉnh giấc soi chiếu. Hoặc rơi vào vô ký, hoặc trôi theo vọng tưởng, lần lượt tỉnh giấc, lần lượt để khởi, đem một câu Phật hiệu này huân vào áp bức ý căn, đoạn dứt hôn trầm tạp niệm, đó là con đường chân chánh của pháp niệm Phật.
Không thể quá gấp, gấp thì khó được lâu dài; không thể quá hưỡn, trì hưỡn thì dễ rời rạc. Lại không thể trông mong nhập định, hoàn toàn chẳng để khởi ý niệm.
Nếu buông bỏ không niệm nơi miệng rất dễ rơi vào chỗ hôn trầm nhẹ. Bởi vì niệm Phật quan trọng ở nơi nhất tâm không loạn động, lúc sắp lâm chung hoàn toàn nhờ vào niệm này mà vào thẳng thai sen. Người niệm Phật không thể không biết. Đến khi đạt tới chỗ nhất tâm cùng cực thì chẳng mong Thiền định hiện tiền mà cũng tự hiện, đây là khi công phu thuần thục, hoàn toàn khác xa với người buông bỏ không niệm nơi miệng rơi vào chỗ hôn trầm nhẹ. Nên nghiền ngẫm suy tư kỹ điều này!
Còn như Thể cứu, niệm tức là vô niệm thì không ngại vô niệm mà niệm. Một niệm này tức là Tam đế: Không, Giả, Trung; tức là bốn pháp giới Sự Lý; tức là hai môn quán Duy thức, Duy tâm; tức là tâm mầu nhiệm Niết Bàn, Thật tướng Vô tướng. Đó chính là pháp niệm Lý nhất tâm của bậc thượng căn, nhưng cũng không rời nhất tâm, nắm chặt câu Phật hiệu, mỗi chữ mỗi chữ rõ ràng mà niệm.
Đây là điều trọng yếu thứ ba của phép tắc Trì danh nơi chánh hạnh.
4. Phát nguyện chuyên cần, nhớ nghĩ thiết tha:
Lấy công đức niệm Phật này cầu sanh Tịnh độ, đó là nguyện. Nhưng phải luôn luôn khẩn thiết nguyện cầu; đối với tất cả việc lành hồi hướng; đối với tất cả việc ác sám hối hồi hướng. Tùy lúc tùy việc đều nguyện về Tây Phương thì nhân duyên Tịnh độ thuần thục, lúc lâm chung vãng sanh, cũng như xe nhẹ đường quen không có chút gì trở ngại.
Còn như nhớ tưởng Phật Di Đà, càng là sự thiết yếu của pháp niệm Phật.
Chương Đại Thế Chí trong kinh Lăng Nghiêm nói: “Nhớ Phật, niệm Phật, hiện tại tương lai nhất định thấy Phật”. Nhớ nghĩ như việc khẩn thiết ràng buộc trong lòng; hoặc nhớ nghĩ sự trang nghiêm về y báo và chánh báo của Phật Di Đà, quán tưởng Phật Bồ Tát, Pháp thân, Báo thân, Hóa thân và các tướng bạch hào, duỗi tay, ánh sáng tròn đầy, Hóa Phật, hoa sen; hoặc nghĩ nhớ công đức, thệ nguyện từ bi của Phật Di Đà thương xót chúng ta biết bao, cứu vớt tất cả chúng sanh.
Nghĩ tưởng thiết tha, nhớ mãi không quên, ở trong Trì danh chẳng ngại chuyển đổi lần lượt, nhớ niệm Phật, tinh thần dung hội nơi đó, đây chính là nhất tâm không loạn động.
Nhất định đừng bảo rằng, ý niệm xen lẫn mà tự phát sanh nghi ngờ lo ngại. Bởi nhất tâm nghĩa là chuyên chú nơi một cảnh, ví như những kẻ mưu tài hiếu sắc, tinh thần hồn phách muôn thứ tính toán đều qui nơi một việc, ắt mong tới tay rồi mới thôi, như thế đâu chẳng phải nhất tâm rồi sao? Thế nên người niệm Phật trong lúc vội vàng vẫn thường không quên Phật, lâu dần trở thành thuận thục, tự nhiên thường nghĩ nhớ, có thể ngăn chặn tất cả ý niệm ác, thành tựu tất cả công đức của nhân thanh thanh tịnh.
Bậc Cao đức ngày xưa có nói bài kệ:
“Lâm chung không thể quán và niệm
Chỉ sanh khởi ý biết có Phật,
Người này hơi đứt liền vãng sanh
Kinh Đại Pháp Cổ nói như thế”.
Bởi vì lúc lâm chung không thể quán niệm, chỉ biết được trong lòng có Phật liền như ý mà vãng sanh, huống chi nhớ niệm không quên. Đó là điều trọng yếu thứ tư nhớ nguyện chuyên thiết nơi chánh hạnh.
Có thể đầy đủ bốn chánh hạnh nói trên thì việc vãng sanh đã quyết định không còn nghi ngờ. Song, còn phải tu rộng rãi sáu trợ hạnh mới được lợi ích thù thắng.
Cõi Ta Bà như biển khổ, niệm Phật như ngồi trên thuyền, vãng sanh Tịnh độ như đến bờ bên kia, trợ hạng như cánh buồm, mái chèo, tiền lộ phí. Có cánh buồm, mái chèo, tiền lộ phí thì thuyền này một khi đi sẽ không gì trở ngài, tiến thẳng đến bờ bên kia.
Những gì là trợ hạnh?
1. Lễ kính Tam Bảo:
Năm vóc chuyên cần, tu rộng rãi về sự cúng dường, dù là việc bổn phận của người tu hành.
Người đời niệm Phật phần nhiều lười biếng, không chỉ hằng ngày chẳng thường lễ bái, thậm chí gặp Phật cũng không lạy, còn như tất cả sự cúng dường phần nhiều thiếu sót.
Lý do chẳng qua là vì miệng niệm thì dễ, thân lễ thì khó; nói suông thì dễ, ra sức thực hành thì khó. Chẳng biết rằng, việc khó làm mà có thể làm được, điều đó mới đáng quý.
Tuy nói tu hành ở bên trong, chẳng phải ở bên ngoài nhưng đáng vẻ cung kính ở bên ngoài cũng không thể thiếu. Vả lại, ở ngay nơi bên ngoài có thể chứng tỏ bên trong, cho nên người xưa nói: “Người tu hành chân thật xem hình vẽ tượng gỗ đồng với Phật thật, thương như cha mẹ, kính như quân vương, sớm chiều yết kiến, hết lòng thành kính, lạy xuống như núi đổ, đứng lên tợ mây thăng, ra thì chấp tay vái chào. Người mà chấp tay vái chào thì dù xa trăm ngàn dặm nhưng cũng như thường ở trước mặt”.
Khi ăn lúc uống trước phải nên cúng dường. Trong Văn Long Thơ Tịnh độ nói: “Cúng Phật, trai tăng, dâng hương, hiến hoa, treo phan, xây tháp, các việc sùng phụng Tam Bảo đều có thể hồi hướng Tây Phương”. Huống gì người cầu vãng sanh Tịnh độ, đã là đệ tử Tam Bảo nếu không kính trọng Tam Bảo thì tâm cầu vãng sanh ấy ắt không chân thật khẩn thiết. Thế nên mọi người phải dốc hết tâm lực, quyết đừng lười biếng lơ là.
2. Sám hối:
Sám là ăn năn lỗi đã qua, hối là chừa bỏ những lỗi lầm về sau. Người tu hành lấy sám hối làm chính yếu. Bồ Tát Phổ Hiền còn có lời nguyện về sám hối, huống gì kẻ phàm phu!
Do từ vô lượng kiếp đến nay, ba nghiệp thân miệng ý gây ra những lỗi lầm sâu nặng, đều có thể trở thành nhiều sự chướng ngại nên gọi là nghiệp chướng. Nếu không sám hối thì nghiệp chướng không tiêu trừ, ví như áo nhơ cần phải giặt giũ, ví như gương dính bụi cần phải lau chùi. Nhơ hết thì áo sạch, bụi hết thì gương sáng, nghiệp chướng không còn thì thân tâm thanh tịnh.
3. Ngăn ác làm lành:
Trong Văn Long hoàn toàn, lại lễ Phật niệm Phật, đọc tụng kinh điển Đại thừa, hiểu Đệ nhất nghĩa, lấy đó hồi hướng Tây Phương tất lên Thượng phẩm Thượng sanh”.
Nói “trai” nghĩa là không ăn thịt, không uống rượu, không ăn ngũ tân.
Nói “giới” nghĩa là không sát sanh, trộm cướp, tà dâm tức là ba nghiệp của thân; nói dối, nói lời thêu dệt, nói lưỡi đôi chiều, nói lời hung ác là bốn nghiệp của miệng; tham dục, sân hận, tà kiến là ba nghiệp của ý. Có thể giữ gìn không phạm đó là mười điều lành, nếu phạm không giữ gìn đó là mười điều ác.
Giữ bốn giới trước, thêm giới không uống rượu, đó là năm giới, Người giữ năm giới mà tu Tịnh độ cũng không mất phần vãng sanh Trung phẩm. Nếu không thể giữ năm giới thì phải giữ gìn giới sát. Sát sanh là điều đứng đầu trong năm giới. Không sát sanh là đại thiện, sát sanh là đại ác. Đại sư Liên Trì nói:
Xin khuyên người đời đã là niệm Phật thì phải y theo lời Phật dạy, phải tích đức tu phước, phải hiếu thuận với cha mẹ, phải trung thành phụng sự quân vương, anh em phải yêu thương lẫn nhau, vợ chồng phải quý kính nhau. Phải chí thành thật thà giữ chữ tín, phải nhu hòa nhẫn nhục, phải công bình chánh trực, phải khéo vun bồi âm đức, phải từ bi thương xót tất cả, không sát hại sanh mạng, không lăng nhục người dưới, không áp bức dân thường.
Nếu có tâm không tốt sanh khởi liền gắng sức niệm Phật, nhất định phải niệm cho thối lui tâm không tốt này. Như thế mới là người niệm Phật chân chánh, nhất định được vãng sanh.
4. Cắt bỏ tình ái:
Người đời đối với người cốt nhục phần nhiều thường ái luyến. Lại xem tài sản như tánh mạng, cũng đều tham đắm không quên.
Lòng trược thế bên đây nặng nề thì tâm Tịnh độ bên kia tự nhiên nhẹ mỏng. Đến lúc mạng chung thần hồn ắt đi về chỗ nặng, ví như một cây to nghiêng nặng về bên nào thì sau này lúc ngã đỗ sẽ tự nhiên ngã đỗ về bên ấy. Đó là lẽ tất nhiên.
Từ trước đến nay vợ con cốt nhục đều là có duyên thì tụ hội, duyên hết thì ly tan. Sau khi ly tan, người này và kẻ kia đều không nhận ra nhau. Như ông từ nhiều đời đến nay, vợ con cốt nhục không ít nhưng hiện giờ ở đâu? Ông vẫn còn thương yêu họ chăng? Nghĩ đến đây không thể không lạnh nhạt. Trong đó lại có duyên ác tụ hội, quyến thuộc tức là oan gia, bất giác âm thầm bị hại, đâu không phải là thương yêu sai lầm rồi sao?
Còn như các thứ tài sản và mọi điều ham thích, chớp mắt liền trở thành không, càng phải nên nhìn thấu đáo.
5. Cởi bỏ oan kết:
Phàm oán thù chưa hết không nên kết, như các việc sát sanh, trộm cướp, tà dâm và lòng tham lam sân hận đều là nhân kết thành oán thù. Có thể cấm ngăn thì không kết, không kết thì không có oán thù, còn đã kết thì nên cởi mở.
Như quyến thuộc mà trở thành oán thù, người ngoài bỗng nhiên chống đối mình, cho đến chó cắn rắn mổ chẳng phải là không có nguyên nhân, đều do oan trái từ trước, cần phải hoan hỷ chịu đựng cởi mở với chúng. Quyết không thể bên kia qua bên đây lại, càng kết càng sâu.
Tuy Tịnh độ là pháp môn vượt thoát theo chiều ngang, nhưng nếu có thể quyết tâm cầu vãng sanh thì dù cho kẻ oán thù lớn nhất cũng không thể ngăn trở ta vãng sanh. Nhưng cứu xét kỹ thì chẳng bằng sớm nên cởi mở thì sẽ cảm thấy tâm không ngăn ngại.
Lại phải biết từ nhiều đời nhiều kiếp đến nay, oán thù không ít, nhân duyên chưa gặp, đâu thể mỗi mỗi đều cởi mở được hết. Cần phải nhờ vào sự phát nguyện ở trước Phật, nguyện dùng công đức niệm Phật này làm lợi ích khắp cả oan gia oán thù. Nếu khi ta thành Phật thì độ những chúng sanh này trước. Dùng tâm từ bi mà tiêu trừ lòng oán hận cũ của những người kia, lại thêm nguyện lực thì thật có lợi ích, tự nhiên hóa hận thù thành ân đức.
6. Gắng sức mạnh mẽ:
Hiện nay người tu Tịnh độ cũng có người chẳng bằng ta, cũng có người hơn ta. Người không bằng ta quyết không nên so sánh với họ, nói ta hơn họ như thế thì không có tiến bộ. Cần phải so sánh với người hơn ta, nghĩ rằng ta với họ cùng niệm Phật như nhau, tại sao họ tinh tấn? Tại sao ta lại lười biếng? Vì sao họ chuyên nhất? Vì sao ta lại tán loạn? Kia đã trượng phu ta đây cũng vậy. Nếu không gắng sức mạnh mẽ, mắt nhìn họ đã vượt lên Cực Lạc, còn ta vẫn như cũ nổi chìm trong biển khổ.
Hiện nay gọi là đạo hữu bạn bè, nói cười thân thiết nhưng chớp mắt đã phân chia thánh phàm, cách xa như trời với vực. Lẽ nào lại chẳng hổ thẹn sao? Lẽ nào lại chẳng đau xót sao? Suy xét như thế tự nhiên mạnh mẽ tiến bộ, một đời giải quyết xong xuôi không đợi đến đời sau.
Người tu hành hiện nay có kẻ phát nguyện đời sau tiếp tục tu hành. Theo họ nói, tự lường xét đời nay công hạnh cạn mỏng, đời sau giả thêm công hạnh nữa mới mong thành tựu. Như thế thật là rất sai lầm! Trong kinh nói: “Một khi mất thân người, muôn kiếp khó được lại”, dù cho được thân người nhưng có thể bảo đảm còn biết tu hành chăng?
Friday, 13. March 2009, 03:20:21
Ðảnh lễ
o0o
Mở đầu phương pháp sám hối Niệm Phật, đệ tử chúng con xin an trụ trong hồng danh Nam mô A Di Ðà Phật, để vận dụng năng lực hộ niệm của sáu phương Chư Phật, vận dụng oai lực tuyệt đối, siêu việt và tối thắng của Bản Nguyện A Di Ðà mà quy y và đảnh lễ hết thảy Tam Bảo..
Quy y tất cả PHẬT ÐÀ khắp cả mười phương, cùng tận hư không giới.
Quy y tất cả PHẬT PHÁP khắp cả mười phương, cùng tận hư không giới.
Quy y tất cả BỒ TÁT THÁNH HIỀN TĂNG khắp cả mười phương, cùng tận hư không giới.
Nam mô Ta Bà giáo chủ, thiên bách ức hóa thân, THÍCH CA MÂU NI PHẬT, vị bổn sư chỉ dạy pháp môn Niệm Phật.
Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi A Di Ðà Phật, vị đạo sư tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc.
Nam mô Vô lượng Thọ kinh, Phật thuyết A Di Ðà kinh, Quán Vô lượng Thọ kinh – ba bộ kinh dạy chỉ rõ ràng pháp môn thành Phật dễ dàng, vắn tắt, nhiệm mầu và rốt ráo, dành cho tất cả chúng sanh thời mạt pháp.[/
Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới vạn ức tử kim thân, đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn QUÁN THẾ ÂM Bồ tát.
Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới vô biên quang trí thân, đại hùng đại lực, đẠi thẾ CHÍ Bồ tát
Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới phước trí nhị nghiêm thân, THANH TỊNH ÐẠI HẢI CHÚNG BỒ TÁT.
Nam mô Lư Sơn đạo tràng, khai sáng Niệm Phật pháp môn, sơ tổ HUỆ VIỄN đại sư Bồ tát.
Nam mô Quang Minh đạo tràng, hoằng dương Niệm Phật pháp môn, nhị tổ THIỆN ÐẠO đại sư Bồ tát.
Nam mô Hộ Giới Hộ Giáo Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, liệt vị Thiện Thần Bồ tát Ma ha tát.
PHẨM THỨ NHẤT
NIỆM PHẬT PHẢI VÌ THOÁT SANH TỬ LUÂN HỒI
Ðức bổn sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn vì thương xót tất cả chúng sanh mà hiện ra nơi đời ác trược, với bốn mươi chín năm thuyết pháp, mục đích mở bày và chỉ rõ Tri Kiến Phật cho chúng sanh và để rồi khiến cho chúng sanh tỏ ngộ và thể nhập vào Tri Kiến Phật, Giáo nghĩa tuy nhiều hơn số cát sông Hằng, nhưng tất cả năm thừa tám giáo đều không ra ngoài pháp môn Niệm Phật.
Do bản nguyện lực của đức A Di Ðà, do năng lực hộ niệm của sáu phương chư Phật, cùng với gia trì lực của chư vị Ðại địa Bồ tát; đệ tử chúng con được gặp duyên lành dẫn dắt vào Chân Lý Tối Thượng bằng cửa ngõ Niệm Phật. Như mùa hạ thì phải mặt áo vải, như mùa đông phải mặc áo bông, sự tu hành cũng thế, nghĩa là không thể trái với thời tiết và cơ duyên được. Dù đức Ðạt Ma tổ sư tái hiện ngay lúc nầy, nếu muốn hợp thời cơ để cứu độ chúng sanh mau được giải thoát, thì cũng không có pháp nào hơn pháp môn Niệm Phật cả. Vì thế cho nên thuyết pháp mà không phù hợp với căn cơ và trình độ, thì chắc chắn chúng sanh bị chìm trôi trong biển khổ vậy.
Ðệ tử chúng con vốn là phàm phu vô trí, nên phải một mực y theo lời Phật dạy, chẳng dám tự chuyên, vì thế mà xưa nay chúng con đều chuyên niệm danh hiệu Ðức A Di Ðà.
Theo lời Phật dạy là thế nào ?
Trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Thế Tôn có lời huyền ký rằng: Ðời tương lai, kinh đạo diệt hết, ta dùng lòng từ bi thương xót riêng lưu trụ kinh nầy trong khoảng một trăm năm. Nếu có chúng sanh nào gặp được kinh nầy tùy ý sở nguyện đều được đắc độ.
Nơi kinh Ðại Tập, đức Thế Tôn dạy rằng: Trong thời mạt pháp có ức ức người tu hành, mà ít có kẻ nào đắc đạo, chỉ nương nơi pháp môn Niệm Phật mà thoát luân hồi.
Ngài Thiên Như thiền sư sau khi đắc đạo cũng đã khuyên dạy rằng: “Mạt pháp về sau, các kinh diệt hết, chỉ còn lại bốn chữ A Di Ðà Phật để cứu độ chúng sanh. Nếu kẻ nào không tin, tất sẽ bị đọa địa ngục”.
Bởi vì đời mạt pháp về sau, khi các kinh đều ẩn diệt, chúng sanh căn cơ đã yếu kém, ngoài câu niệm Phật thì không biết pháp môn nào khác để tu trì, Nếu không tin câu niệm Phật mà tu hành, tất phải bị luân hồi. Và trong nẻo luân hồi thì việc lành khó tạo, còn điều ác thì dễ làm, cho nên sớm muộn gì cũng bị đọa địa ngục.
Ấn Quang pháp sư, một bậc cao tăng cận đại ở Trung Hoa cũng đã dạy rằng: Thời mạt pháp đời nay, chúng sanh nghiệp nặng tâm tạp, nếu ngoài môn niệm Phật mà tu các nghiệp lành khác, nơi phần gieo trí huệ phước đức căn lành thì có – nhưng nơi phần liễu thoát luân hồi ngay trong hiện thế thì không. Tuy có một vài vị cao đức, hiện những kỳ tích phi thường, nhưng đó là những bậc Bồ tát nương theo bản nguyện mà làm mô phạm để dẫn dắt chúng sanh đời mạt pháp như kinh Lăng Nghiêm đã nói. Nhưng các vị ấy cũng chỉ vừa theo trình độ chúng sanh mà thị hiện ngộ đạo, chứ không phải chứng đạo. Chỉ riêng pháp môn Niệm Phật, tuy ít có người tu chứng được Niệm Phật tam muội như khi xưa, nhưng có thể nương theo nguyện lực của mình và Bản Nguyện của Phật A Di Ðà mà đới nghiệp vãng sanh về cõi Tây Phương Cực Lạc. Khi được về cõi ấy rồi thì không còn luân hồi, không còn bị thối chuyển, lần lần tu tập cho đến khi chứng quả vị Vô Sanh.
Những lời huyền ký như trên, cho chúng con thấy pháp môn Niệm Phật rất thích hợp với nhân duyên, thời tiết và trình độ căn cơ của chúng sanh đời nay. Vì thế đức Như Lai mới dùng nguyện lực bi mẫn, lưu trụ kinh VÔ LƯỢNG THỌ để khuyến hóa về môn Niệm Phật. Ngoài ra còn có chư Bồ Tát và tổ sư cũng khởi lòng hoằng nguyện thương xót, tùy theo thời cơ mà chỉ dạy pháp môn Niệm Phật để cứu vớt chúng sanh.
Ðệ tư chúng con vì vô minh khuất lấp, vì thiếu suy nghĩ chính chắn, vì tâm mong cầu quá sôi nổi và cạn cợt, vì dục vọng ngăn che, nên đã gây nhiều cái thấy biết lệch lạc và để rồi, chúng con đã hành trì pháp môn Niệm Phật không phù hợp với bản ý của đức Bổn sư và xa cách với Bản Nguyện Cứu Ðộ của đức A Di Ðà.
Ðệ tử chúng con đi chùa thấy người khác niệm Phật, thì cũng bắt chước niệm theo, hoàn toàn không có chủ định.
Hoặc có người niệm Phật nguyện cho tai qua nạn khỏi và cầu cho gia đình bình yên, đời sống làm ăn mua bán ngày thêm thịnh vượng và sung túc.
Hoặc có kẻ gặp cảnh đời không vừa ý bèn sinh ra buồn rầu phẫn chí, nên đã niệm Phật cầu mong sao cho kiếp sau đừng gặp phải các cảnh ấy nữa, cũng như mong mọi việc đều thuận lợi nếp sống vinh hoa xinh tốt.
Lại có những người cảm thấy trần gian chẳng có điều gì hứng thú, dù cho giàu sang quyền qúy cũng còn lo lắng khổ não, cho nên họ hy vọng dùng công đức niệm Phật để kiếp sau sinh lên cõi Trời, sống lâu, nhàn vui, tự tại.
Lại có những người nghĩ mình tội chướng đã nhiều, trong một kiếp nầy dễ gì giải thoát, nên đã niệm Phật cầu cho kiếp sau chuyển nữ thành nam, để xuất gia tu hành, làm bậc cao tăng ngộ đạo. cũng có nhiều người nổ lực niệm Phật để đàn áp vọng tưởng, và chế ngự phiền não, với mục đích gần gũi là thanh lọc tâm tư để đời sống được thanh tịnh.
Nếu niệm Phật với những thái độ và mục đích như vậy đều là sai lầm, vì lẽ trái nghịch với bản hoài của Phật Thích Ca và quay lưng trước Bản Nguyện Tiếp Ðộ của Phật A Di Ðà. Ðây là một tội lỗi lớn lao nhất. Thật vậy, chúng con vẫn hiểu rằng không có tội lỗi nào to lớn và nặng nề cho bằng cái tội hành trì trái nghịch với di huấn của đức Bổn Sư, để rồi phụ rẫy công ơn tiếp độ của đức Từ Phụ A Di Ðà.
Ðệ tử chúng con ngày nay nhờ sự chiếu soi và dẫn dắt của ánh hào quang chư Phật, chúng con mới biết được tội lỗi của mình. Cho nên chúng con xin thành tâm cúi đầu gieo năm bộ phận của cơ thể xuống sát đất, khẩn cầu sám hối:
Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật, vị bổn sư chỉ dạy pháp môn Niệm Phật.(3 lạy)
Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi A Di Ðà PHẬT, vị đạo sư tiếp dẫn vãng sanh Cực lạc. (3 lạy)
Như vậy, kể từ hôm nay, đệ tử chúng con phải niệm Phật như thế nào mới phù hợp với bản ý của đức Phật Thích Ca, cùng Bản Nguyện của đức Phật A Di Ðà ?
Ðức Thế Tôn thấy rõ pháp hữu vi đều vô thường, và tất cả chúng sanh vẫn sẳn đủ đức tướng, trí tuệ như Như Lai, nhưng do vì mê mờ bản tâm, nên đã tạo ra vô số nghiệp hoặc, rồi cứ mãi mãi chịu chìm đắm trong vòng Sống Chết, Luân Hồi. Dù cho dược sanh lên cõi Trời, khi hưởng hết phước báo rồi thì cũng phải bị sa đoạ. Vì thế, bản ý của đức Thế Tôn là: Muốn cho chúng sanh do nơi pháp môn Niệm Phật mà sớm thoát khỏi khổ luân hồi.
Chư Phật trong nhiều a tăng kỳ kiếp huân tu phước huệ, cho nên, nếu kẻ nào xưng niệm hồng danh của Như Lai sẽ được vô lượng vô biên công đức. Lại nữa, đức A Di Ðà Phật đã lập ra lời thệ nguyện vĩ đại: Nếu chúng sanh nào niệm được danh hiệu của ngài cầu về Cực Lạc, thì kẻ ấy khi mạng chung sẽ được tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương và chứng lên ngôi Bất Thoái chuyển. Ðem công đức vô lượng của sự Niệm Phật, mà để mong cầu những phước lợi nhỏ nhen ở cõi người cõi trời, chứ không nguyện cầu vãng sanh và giải thoát thì có khác chi trẻ thơ đem hạt châu ma ni vô gía mà đổi lấy viên kẹo để ăn? Như thế thật là uổng phí và không xứng đáng chút nào.
Hơn hết, nguyện lực của Phật thì rất vĩ đại, cho nên người nào nghiệp chướng dù có nặng nề đến đâu chăng nữa, mà đem cả tấm lòng chân thật để chuyên cần xưng niệm danh hiệu Phật thì ngay trong một đời nầy cũng được tiếp dẫn vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Còn như mong cầu đời sau làm bậc cao tăng ngộ đạo, là một hành động thiếu trí tuệ và đức tin, làm sao bảo đảm bằng hiện đời sanh về Tây Phương thành bậc Bồ tát ở ngôi Bất Thối Chuyển? Cho nên, bản ý của đức Thế Tôn là muốn cho tất cả chúng sanh niệm Phật để thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi, và sự giải thoát ấy lại có thể thực hiện ngay trong cùng một kiếp sống.
Nhưng tại sao cần phải thoát vòng sống chết luân hồi?
Là vì ở trong nẻo luân hồi, đệ tử chúng con xác thật đã từng chịu nhiều nỗi thống khổ lớn lao. Nếu người học Phật mà không để cái tâm như thật quán sát nỗi thống khổ ấy thì cho dù học Phật nhiều đến đâu cũng không đạt được kết quả tốt, bởi vì không có cái tâm lo sợ, cái tâm mong cầu thoát ly khỏi những ảo ảnh cuộc đời. Kinh dạy: nếu tâm lo sợ khó sanh, tất lòng thành khó phát. Ðức Thế Tôn khi xưa thuyết pháp Tứ Diệu Ðế cho năm người nhóm ông Kiều Trần Như, trước tiên đã nói về KHỔ ÐẾ, vẫn không ngoài cái ý nầy:
Trong KHỔ ÐẾ, tức là ý nghĩa chân thật về sự khổ, đức Thế Tôn đã thuyết minh tám điều. Tuy nỗi khổ của kiếp người vô cùng vô tận, mà tám điều nầy vẫn giữ phần cương lãnh. Ðó là: nỗi khổ khi sanh ra, nỗi khổ khi về già, nỗi khổ trong cơn đau yếu, nỗi khổ quằn quại khi sắp lâm chung, nỗi khổ chua xót khi xa cách người thân yêu, nỗi khổ khó nhẫn khi chung đụng với kẻ mà mình oán ghét, nỗi khổ khi mong cầu không toại ý, và nỗi khổ về năm ấm hừng thạnh.
Chúng sanh hết kiếp nầy sang kiếp khác cứ sống chết xoay vần, xuống lên trong sáu nẻo. Ðó là cõi Trời cõi Người, cõi a tu la, cõi Bàng sanh, cõi Ngạ quỷ và cõi Ðịa ngục. Bát khổ tuy ở các loài khác cũng có ít nhiều, nhưng nó là trọng tâm của nỗi khổ ở cõi Người. Còn cõi Trời tuy vui sướng hơn nhân gian nhưng cũng còn có tướng ngũ suy và những điều bất như ý. Cõi A tu la bị sự khổ vì gây gỗ tranh đua, cõi Bàng sanh như loài trâu, bò, lừa, ngựa thì bị sự khổ chở kéo nặng nề, loài dê lợn vịt gà thì chịu sự khổ về banh da xẻ thịt. Các loài khác chịu sự khổ về ngu tối, nhơ nhớp, ăn nuốt lẫn nhau. Ở cõi Ngạ quỷ thì chúng sanh có thân thể hôi hám, xấu xa, bụng lớn như cái trống, cuống họng nhỏ như cây kim, miệng phực ra lửa,chịu đói khát trong nghìn muôn kiếp. còn cõi địa ngục thì vạc dầu, cột lửa, hầm băng gía, núi gươm đao; sự thống khổ không thể nào mô tả cho hết được.
Bốn cõi A tu la, Ngạ quỹ, Bàng sanh và Ðịa ngục, trong kinh gọi là tứ ác thú. Từ cõi A tu la theo chiều xuống, nổi khổ ở mỗi cõi cứ tuần tự gấp bội hơn lên. Trong sáu cõi, chúng sanh sống chết xoay vần hết nơi nầy đến nơi kia, như bánh xe chuyển lăn không có đầu mối. Sanh lên cõi Trời và Người thì rất khó và rất ít, còn đọa xuống từ ác thú thì rất dễ và rất nhiều.
Khi còn tại thế, một hôm Ðức Phật dùng móng tay vít lên một chút đất, rồi hỏi A Nan: Ðất ở móng tay ta sánh với đất của miền đại địa thì cái nào nhiều hơn? Ngài A Nan đáp rằng: Bạch Thế Tôn, đất của miền đại địa thì nhiều hơn đất ở móng tay vô lượng phần, không thể thí dụ. Phật bảo: Cũng như thế, A Nan, chúng sanh được lên cõi Trời cõi Người như đất ở móng tay, còn đọa xuống ác thú thì như đất của miền đại địa.
Thí dụ trên, quả thật là một tiếng chuông mai để cho bọn đệ tử chúng con xét suy mà tỉnh ngộ.
Tóm lại, ba cõi đều vô thường, các pháp hữu vi thì chẳng có chi là vui thú. Người niệm Phật phải cầu sanh về Tây Phương để thoát khỏi vòng sống chết luân hồi, lần lần tu chứng đến cảnh Thường, Lạc, Ngã, Tịnh của Niết Bàn, chứ không nên mong cầu sự phước lạc hư dối ở thế gian.
Niệm Phật như thế mới phù hợp với mục đích giải thoát, với tâm từ bi cứu khổ ban vui của đức Thế Tôn. Và muốn được như vậy, chúng con phải thường xuyên giám sát và suy tư về tám nỗi khổ của kiếp người, cho đến nỗi khổ vô tận vô biên trong sáu cõi.
Nếu chẳng quán sát như thế, thì tâm cầu mong giải thoát sẽ khó phát sanh, ý nguyện về Tây Phương sẽ không tha thiết; làm thế nào để ngày kia bước lên bờ giác ngộ và dùng con thuyền bát nhã đẻ độ khắp biển mê ?
Xưa kia đức Phật đã than rằng: Trong đời mạt pháp, các đệ tử của ta chỉ đeo đuổi theo bên ngoài, ít có ai quan niệm đến vấn đề Sanh Tử.
Không tha thiết đến sự liễu thoát Sanh Tử là vì thiếu Trí Giác, do bởi không thiết thực quán xét nỗi khổ trong khiếp sống luân hồi, những người ấy chẳng những phụ ơn Phật mà cũng ruồng bỏ cả chính mình, thật đáng tiếc thương và đau xót thay !
Ðệ tử chúng con, nhờ giáo huấn của đức Bổn Sư, nhờ Ơn Lành thường giăng bủa của đức Từ Phụ, nhờ sự khai thị rõ ràng của Thiện Tri Thức, hôm nay mới biết được mục đích quan trọng và chân chánh của pháp môn Niệm Phật là Niệm Phật thì phải vì thoát Sanh Tử Luân Hồi.
Với tấm lòng tri ân tha thiết và chân thành, chúng con xin đem cả tính mạng mà quy y và đảnh lễ:
Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Ðại Từ Ðại Bi A Di Ðà Phật, vị đạo sư tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc.
Nam mô Cứu Khổ Cứu Nạn Ðại Từ Ðại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Ðại Hùng Ðại Lực Ðại Thế Chí Bồ Tát.
Nam mô Liên Trì Hải Hội Thanh Tịnh Ðại Hải chúng Bồ Tát.
PHẨM THỨ HAI
NIỆM PHẬT PHẢI PHÁT TÂM VÔ THƯỢNG BỒ ÐỀ TÂM
Bản hoài đích thật của đức Thế Tôn là muốn cho tất cả chúng sanh đều thoát vòng sanh tử, đều được giác ngộ như Ngài cho nên, người niệm Phật cần phải phát bồ đề tâm tức là phát khởi cái tâm chí mong cầu quả vị Phật Ðà, quả vị ấy là cứu cánh tối thượng, không còn có gì hơn, siêu việt cả hàng Thanh Văn, Duyên Giác; nên phát tâm như vậy còn gọi là phát vô thượng bồ đề tâm. Tâm nầy gồm có hai loại chủng tử chính yếu, là Từ Bi và Trí Tuệ, thường hay phát xuất công năng độ thoát mình và cứu vớt tất cả chúng sanh.
Kinh dạy rằng: Bồ Ðề tâm làm nhân, Ðại Bi làm căn bản, phương tiện Trí Tuệ làm cứu cánh.
Ví như người đi xa thì trước tiên phải nhận định mục tiêu sẽ đến và phải ý thức chủ đích cuộc hành trình bởi lý do nào và sau cùng thì phải dùng phương tiện nào để khởi tiến.
Người học Phật cũng phải như thế nghĩa là, trước tiên phải lấy cái quả vị Vô Thượng Bồ Ðề làm mục tiêu rốt ráo, lấy lòng đại bi lợi mình lợi người làm chủ đích thực hành, kế đó, tùy sở thích và căn cơ mà lựa chọn pháp môn để tu tập. Phương tiện còn là trí tuệ quyền biến tùy cơ nghi, áp dụng tất cả hạnh thuận nghịch trong khi hành Bồ tát đạo. Cho nên, Bồ đề tâm là mục tiêu cần phải nhận định rõ ràng trước khi hành trì.
Kinh HOA NGHIÊM dạy rằng: Nếu quên mất tâm Bồ đề mà tu hành các thiện pháp, đó là ma nghiệp.
Thật vậy, nếu dụng công khổ nhọc mà quên sót mục tiêu cầu thành Phật để lợi mình và lợi người, thì bao nhiêu các hạnh lành chỉ đem đến kết quả hưởng phước báo nhơn thiên, chung cuộc vẫn bị chìm mê quanh quẩn trong nẽo luân hồi, chịu vô biên nỗi khổ. Như vậy chẳng là nghiệp ma thì còn gọi là gì? Thế thì, phát lòng vô thượng Bồ đề để lợi ích cho chính mính và cho chúng sanh, là điểm phát tâm rất cần yếu.
Pháp môn Niệm Phật thuộc về pháp đại thừa, nếu phát Bồ đề tâm mà niệm Phật thì TÂM và PHÁP đều được toàn vẹn, sẽ đi đến quả viên giác kiêm cả tự lợi và lợi tha.
Muốn phát Bồ đề tâm, người niệm Phật cần phải quán sát để phát tâm một cách thiết thực và hành động đúng theo tâm nguyện ấy trong suốt cuộc đời mình. Ðệ tử chúng con lâu nay phần nhiều chỉ tu theo hình thức mà ít chú trọng đến chỗ khai tâm thành thử lửa tam độc là tham sân si vẫn cháy hừng, không hưởng được hương vị thanh lương giải thoát như đức Phật dạy.
Muốn cho Bồ đề tâm phát sinh một cách thiết thực, cần nên suy tư quán sát để phát tâm theo sáu điểm như sau:
Ðiểm thứ nhất: GIÁC NGỘ TÂM
Chúng sanh thường chấp sắc thân nầy là Ta. Thường chấp cái tâm thức có hiểu biết có buồn giận thương vui nầy là Ta. Nhưng thật ra, sắc thân nầy là giả dối, ngày kia khi chết đi, nò sẽ tan về với đất bụi, cho nên sắc thân tứ đại nầy không phải là Ta. Tâm thức cũng thế, nó chỉ là cái thể tổng hợp về cái biết của sáu trần là sắc thanh hương vị xúc pháp. Cái biết của ta khi thì có khi thì không – hình ảnh nầy tiêu hoại thì hình ảnh khác hiện ra, tùy theo trần cảnh mà thay đổi luôn luôn, hư giả không thật. Cho nên, tâm thức nầy không phải là Ta.
Cổ đức đã bảo: Thân như bọt tụ, tâm như gió. Huyễn hiện vô căn, không tánh thật.
Nếu giác ngộ thân tâm như huyễn thì sẽ không còn chấp trước, lần lần sẽ đi vào cảnh giới nhơn không, chẳng còn Ngã Tướng. Cái Ta của ta đã là không, thì cái ta của người khác cũng là không nên chẳng còn Nhơn Tướng. Cái Ta của ta đã là không, thì tất cả cái Ta của vô số chúng sanh cũng là không, nên không còn Chúng sanh Tướng. Cái Ta đã là không, nên không có bản ngã bền lâu, nên không thật có ai chứng đắc, không có ai thọ nhận, nên không có Thọ Giả Tướng.
Nhơn đã không thì Pháp cũng không, vì sự cảnh luôn luôn đổi thay sanh diệt, không có tự thể. Ðây lại cần nên nhận rõ: chẳng phải các pháp khi hoại diệt mới thành không, mà chính vì nó hư huyễn nên đương thể tức là không? Cả Nhơn cũng thế. Khi giác ngộ là cả Nhơnvà Pháp đều không, thì giữ lòng thanh tịnh và trong sáng, không chấp trước mà niệm Phật. Dùng lòng giác ngộ như thế mà hành đạo, mới gọi là phát Bồ đề Tâm.
Điểm thứ hai: Bình đẳng tâm
Trong khế kinh, đức Phật đã dạy rằng:Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, là cha mẹ đời quá khứ của ta và là chư Phật đời vị lai.
Chư Phật thấy chúng sanh là Phật nên dùng tâm bình đẳng đại bi mà cứu độ. là đệ tử của Phật, chúng con phải tuân theo lời dạy của đức Thế Tôn. Cho nên đối với chúng sanh phải có tâm bình đẳng và tôn trọng. Tôn trọng và thừa sự chúng sanh là tôn trọng và thừa sự đức Như Lai, làm cho chúng sanh hoan hỷ tức là làm cho chư Phật hoan hỷ. Kinh HOA NGHIÊM phẩm Phổ Hiền đã dạy như thế. Khi dùng lòng bình đẳng tôn kính mà tu niệm thì chúng con sẽ dứt được cái nghiệp chướng phân biệt và khinh mạn, rồi nhờ đó mà sẽ dứt trừ được mọi thứ phiền não để nẩy sinh các đức lành. Dùng lòng bình đẳng như thế mà hành đạo thì gọi là phát vô thượng Bồ đề tâm.
Điểm thứ ba: TỪ BI TÂM
Ðệ tử chúng con cùng tất cả chúng sanh đều sẳn đủ công đức và tướng hảo cùng trí tuệ của Như Lai do vì mê mờ chân tánh và dấy khởi hoặc nghiệp nên phải bị luân hồi, chịu vô biên sự thống khổ. Nay đã rõ như thế chúng con cần phải dứt trừ tâm phân biệt yêu ghét, mà khởi lòng cảm hối từ bi, để tìm phương tiện độ mình cứu người, để cùng nhau được an vui thoát khổ. Cũng nên nhận rõ rằng Từ Bi khác với Ái Kiến. Ái kiến là lòng thương yêu còn chấp luyến trên hình thức, trên tình cảm và tâm phân biệt, cho nên kết quả là bị sợi dây tình ái buộc ràng.
Từ bi là lòng xót thương cứu độ mà không phân biệt chấp trước, và xa lià mọi hình tướng. Tâm từ bi thể hiện dưới nhiều mặt, nên kết quả được an vui giải thoát và phước huệ càng tăng thêm.
Muốn cho tâm từ bi được thêm rộng lớn thì phải xét từ nổi khổ của chính mình mà cảm thông đến các nổi khổ khó khăn khó chịu của kẻ khác, tự nhiên sanh ra lòng xót thương cứu vớt, niệm từ bi của Bồ đề tâm từ đó sẽ phát ra.
Trong kinh HOA NGHIÊM, Ngài PHỔ HIỀN Bồ tát đã khai khị rằng: Bồ tát quán sát chúng sanh không nơi nương tựa mà khởi đại bi, quán sát chúng sanh tánh chẳng điều thuận mà khởi đại bi, quán sát chúng sanh nghèo khổ không căn lành mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh ngủ say trong đêm dài vô minh mà khởi đại bi, quán sát chúng sanh làm những điều ác mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh đã bị ràng buộc mà thích lao mình vào chỗ ràng buộc mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh chìm đắm trong biển sanh tử mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh vương mang tật khổ lâu dài mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh không ưa thích pháp lành mà khởi đại bi. Quán sát chúng sanh xa mất Phật Pháp mà khởi đại bi...
Ðã phát đại bi tâm thì tất phải phát vô thượng Bồ đề tâm, thề nguyền cứu độ. Vậy thì lòng đại từ bi là lòng đại bồ đề phải dung thông nhau. Cho nên, phát từ bi tâm tức là phát vô thượng bồ đề tâm. Dùng lòng đại bi như thế mà niệm Phật và sống đạo mới gọi là phát Bồ đề tâm.
Ðiểm thứ tư: HOAN HỶ TÂM
Ðã có xót thương thì phải thể hiện lòng xót thương áy qua tâm hoan hỷ, hoan hỷ gồm có hai thứ: Tùy hỷ và hỷ xả.
Tùy hỷ là khi thấy trên từ chư Phật và thánh nhân, dưới cho đến các loại chúng sanh có làm được công đức gì dù lớn dù nhỏ, đều cũng vui mừng theo. Và khi thấy ai được sự phước lợi, hưng thạnh, thành công, an ổn cũng sanh ra ý niệm vui vẻ, mừng giùm cho họ.
Hỷ xả là dù có chúng sanh làm những điều tội ác, vong ân, khinh hủy hiểm độc, tổn hại cho mình, đều cũng an nhẫn, vui vẻ mà bỏ qua.
Lòng tùy hỷ sẽ trừ được các chướng ngại của sự ganh ghét nhỏ nhen. Lòng hỷ xã sẽ giải trừ được chướng ngại của sự hận thù báo phục. Bởi vì tâm hoan hỷ không ngoài sự giác ngộ mà thể hiện, nên đó chính là lòng bồ đề.
Dùng lòng hoan hỷ như thế mà niệm Phật, mới gọi là phát bồ đề tâm
Ðiểm thứ năm: SÁM NGUYỆN TÂM
Trong kiếp sống luân hồi dằng dặc lâu xa, mọi loài chúng sanh thường đổi thay hình dạng và làm quyến thuộc lẫn nhau. Nhưng vì đệ tử chúng con mê mờ lầm lạc, từ vô thủy cho đến ngày nay, do tâm chấp ngã chỉ muốn lợi mình, nên đã từng làm tổn hại chúng sanh, tạo ra vô lượng vô biên ác nghiệp Thậm chí đến chư Phật và thánh nhân, vì tâm đại bi mà hiện ra nơi đời để thuyết pháp cứu độ tất cả các loài, trong ấy có cả chúng con vậy mà đối với ngôi Tam Bảo, chúng con đã từng sanh lòng vong ân hủy phá.
Ngày nay biết được lỗi lầm của mình, đệ tử chúng con vô cùng hổ thẹn và ăn năn, xin chí thành sám hối cả ba nghiệp thân khẩu ý.
Ngay cả đức Di Lặc Bồ tát dù đã chứng ngôi vị Bất Thoái, vì muốn mau đắc quả Phật mà mỗi ngày còn lễ sám sáu thời. Vậy chúng con xin đem thân nghiệp kính lễ Tam Bảo, khẩu nghiệp tỏ bày tội lỗi cầu mong được tiêu trừ, và đem ý nghiệp thành khẩn ăn năn, thề không tái phạm.
Sau khi sám hối, chúng con xin dứt hẳn tâm nhơ và hạnh ác, không còn cho tiếp tục tái phạm nữa, để đi đến chỗ tâm và cảnh đều KHÔNG, đó mới thật là sám hối chân chánh. Lại phải phát nguyện rằng: Nguyện hưng long ngôi Tam Bảo, nguyện độ khắp chúng sanh, nguyện hoằng truyền pháp môn Niệm Phật – để chuộc lại lỗi xưa và đền đáp bốn ơn nặng, đó là ơn Tam Bảo, ơn cha mẹ, ơn sư trưởng cùng thiện hữu trí thức, cuối cùng là ơn của tất cả chúng sanh.
Điểm thứ sáu: BẤT THOÁI TÂM
Dù đã sám hối, phát nguyện tu hành nhưng nghiệp hoặc và ma chướng không dễ gì dứt, và sự lập bồi công đức không dễ gì thành tựu. Mà con đường hồ đề đi đến quả viên giác xa vời vợi lại đầy cam go chướng ngại. Ngài XÁ LỢI PHẤT trong tiền kiếp chứng đến ngôi lục trụ, phát đại bồ đề tâm tu hạnh bố thí. Nhưng khi chịu khổ để khoét một con mắt cho người ngoại đạo, bị họ không dùng, liệng xuống đất rồi nhổ nước dãi, lấy chân chà đạp lên trên. Ngài liền thối thất đại thừa tâm.
Như vậy, muốn giữ vững tâm nguyện, là điều không phải dễ dàng. Ðệ tử chúng con nếu muốn đạo tâm không thối chuyển thì phải lập thệ nguyện thật kiên cố.
Ðệ tử chúng con thề rằng: thân nầy dẫu chịu vô lượng sự nhọc nhằn khổ nhục, hoặc bị đánh giết cho đến thiêu đốt nát tan thành tro bụi, cũng không vì thế mà phạm vào điều ác, mà thối thất trên bước tu hành. Dùng lòng bất thoái chuyển như thế mà niệm Phật, mới gọi là phát vô thượng Bồ Ðề tâm.
Ðó là sáu yếu điểm bắt buộc phải có của người phát vô thượng bồ đề tâm. Nếu không dựa vào sáu điểm ấy để lập chí tu hành thì dù nói phát tâm, cũng chỉ là nói suông mà thôi, không thể nào đi đến Phật quả. Trước mắt chúng con chỉ có hai con đường: luân hồi và giải thoát. Ðường giải thoát tuy có lắm nỗi gian nan, nhưng mỗi bước đều đi lần lần đến chỗ sáng suốt an vui. Ðường luân hồi dù được tạm hưởng phước báo nhơn thiên, nhưng kết cuộc phải chuyển đến cảnh tam đồ, ác đạo, sự khổ vô biên không biết đến kiếp nào mới ra khỏi.
Vì vậy, mà đệ tử chúng con quyết chí niệm Phật suốt đời, nguyện vì hết thảy chúng sanh mà phát vô thượng bồ đề tâm mà hoàn thành Phật Ðạo. Bởi lẽ muốn sớm chứng đắc Phật quả, muốn thành tựu bồ đề tâm nguyện, mà chúng con phải dốc lòng cầu vãng sanh cực lạc cũng như phải niệm Phật chuyên cần.
NHỮNG HUẤN THỊ VỀ BỒ ĐỀ TÂM
Kinh HOA NGHIÊM có dạy rằng: Nầy thiện nam tử! Bậc Bồ tát phát lòng vô thượng bồ đề là: khởi lòng đại bi cứu độ tất cả chúng sanh khởi lòng cúng dường chư Phật, cứu cánh thừa sự. Khởi lòng khắp cầu chánh pháp tất cả không sẻn tiếc. Khởi lòng thú hướng rộng lớn cầu Nhất Thiết Trí. Khởi lòng đại từ vô lượng khắp nhiếp tất cả chúng sanh. Khởi lòng không bỏ rời các loài hữu tình, mặc áo giáp kiên thệ để cầu bát nhã ba la mật. Khởi lòng không siểm dối vì cầu được trí Như Thật. Khởi lòng thật hành y như lời nói, để tu đạo Bồ tát. Khởi lòng không dối đối với chư Phật vì gìn giữ thệ nguyện lớn của tất cả Như Lai. Khởi lòng nguyện cầu Nhất Thiết Trí cùng tận kiếp vị lai giáo hóa chúng sanh không ngừng nghỉ. Bồ tát dùng những công đức Bồ đề tâm nhiều như vi trần số cõi Phật như thế nên được sanh vào nhà Như Lai.
Nầy thiện nam tử! Như ngươi học bắn trước hết phải tập thế đứng, rồi sau mới học đến cách bắn. Cũng thế, Bồ tát muốn học đạo Nhất Thiết Trí của Như Lai, trước hết phải an trụ nơi Bồ đề tâm, rồi sau mới tu hành tất cả Phật Pháp. Thiện nam tử! Ví như vương tử tuy hãy còn thơ ấu song tất cả đại thần đều phải kính lễ. Cũng thế, Bồ tát tuy mới phát Bồ đề tâm tu bồ tát hạnh, nhưng tất cả bậc kỳ cựu hàng nhị thừa đều phải nể vì kính trọng.
Thiện nam tử! Như thái tử tuy đối với quần thần chưa được tự tại, song đã có đầy đủ tướng trạng của vua, mà các bầy tôi không thể sánh bằng, bởi nhờ chỗ xuất sanh tôn quý. Cũng thế, Bồ tát tuy đối với các nghiệp phiền não chưa được tự tại, song đã đầy đủ tướng trạng Bồ đề, hàng nhị thừa không thể sánh bằng, bởi nhờ chủng tánh đứng vào bậc nhất.
Thiện nam tử! Như người máy bằng gỗ nếu không có mấu chốt thì các thân phần rời rạc chẳng thể hoạt động. Cũng thế Bồ tát nếu thiếu Bồ đề tâm thì các hạnh lành đều bị phân tán, không thể thành tực tất cả Phật Pháp.
Thiện nam tử! Như chất kim cương thì tất cả mọi vật không thể phá hoại, trái lại có thể phá hoại tất cả vật khác, song thể tánh của nó vẫn không tổn giảm. Bồ đề tâm của Bồ tát cũng thế, khắp ba đời trong vô số kiếp giáo hóa chúng sanh, tu các khổ hạnh, việc hàng nhị thừa không thể làm mà Bồ tát đều làm đuợc, song kết cuộc vẫn chẳng chán mỏi giảm hư.
PHỔ HIỀN Bồ tát dạy rằng: Thiện nam tử! Bồ tát vì điều phục giáo hóa tất cả chúng sanh nên phát Bồ đề tâm. Vì trừ diệt khổ tụ cho tất cả chúng sanh nên phát bồ đề tâm. Vì đem cho tất cả chúng sanh sự an vui đầy đủ nên phát bồ đề tâm. Vì dứt trừ sự ngu tối cho tất cả chúng sanh nên phát bồ đề tâm. Vì đem lại Phật Trí cho tất cả chúng sanh nên phát bồ đề tâm. Vì tùy thuận lời dạy của Như Lai khiến chư Phật hoan hỷ nên phát bồ đề tâm. Vì muốn thấy sắc thân và tướng hảo của tất cả chúng sanh nên phát bồ đề tâm. Vì cung kính cúng dường tất cả chư Phật nên phát bồ đề tâm. Vì muốn nhập vào trí tuệ rộng lớn của tất cả chư Phật nên phát bồ đề tâm. Vì muốn hiển hiện các Ðức, Lực, Vô Úy của chư Phật nên phát bồ đề tâm.
Ðệ tử chúng con vẫn nhận thức tất rõ rằng: nẻo luân hồi có quá nhiều chướng nạn, nếu chưa chứng quả Vô Sanh thì khi chuyển sang kiếp sống khác ắt dễ bị hôn mê sa đọa.
Cho nên, muốn bảo đảm cái tâm vô thượng bồ đề không bị thối thất và để dễ dàng thành mãn chí nguyện độ sanh, chúng con phải gấp rút thanh toán vấn đề Sống Chết bằng cách cầu vãng sanh cõi Cực Lạc.
Như vậy, nhờ sự giáo huấn của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, nhờ oai lực vĩ đại của bản nguyện A Di Ðà, mà từ nay chúng con đã biết rõ Niệm Phật thì phải phát vô thượng Bồ đề tâm.
Với tấm lòng tri ân tha thiết và chân thành, đệ tử chúng con xin đem cả tánh mạng mà quy y và đảnh lễ:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Ðại từ Ðại bi A Di Ðà Phật vị đạo sư tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc.
Nam mô Cứu khổ cứu nạn Ðại từ đại bi Quán Thế Âm Bồ tát.
Nam mô Ðại hùng Ðại lực Ðại thế chí Bồ tát.
Nam mô Thanh Tịnh Ðại Hải Chúng Bồ tát.
Showing posts 1 -
10 of 76.