Skip navigation.

Personal Space

Kiếm tiền bằng website của chính mình - Adbrite

Kiếm tiền bằng website của chính mình
Kiếm tiền bằng cách đặt banner quảng cáo của Adbrite
Đăng ký:

để đăng ký bạn hãy click vào đây: adbrite.com

Ở trang của Adbrite, mục "Publisher" bạn klick vào liên kết: "Sign up now"

Sẽ hiện ra cho bạn form để bạn điền thông tin đang ký:

* Username: Tên truy cập
* Password: Mật khẩu
* Confirm password: Điền lại mật khẩu
* First name: Tên
* Last name: Họ
* Email: Địa chỉ email
* Phone: Số điện thoại
* Address: Địa chỉ
* City: Thành phố
* Country: chọn quốc gia là Vietnam
* State/Province: Tỉnh
* Zip/Postal Code: Số hiệu Bưu điện
* Minimum Check Amount: Số tiền tối thiểu để họ gửi séc cho bạn, ví dụ: 30$, 50$, tùy bạn
* Make checks payable to: ghi Họ tên của bạn (người nhận séc)
* Tax ID: Ghi mã số công ty nơi bạn làm việc hoặc số bảo hiểm xã hội của bạn. Những số này chỉ có các nước phương tây họ có, người việt nam mình không có thì bạn để trống nếu đang ký đựoc thì tốt, nếu không đăng ký được thì bạn điền số gì đó, ví dụ: số CMND,...
* Type the text in the image below: Điền vào ô này mã số mà bạn nhìn thấy trong hình ở bên dưới
* I accept the above terms and conditions: đánh dấu vào ô vuông ở đầu mục này.
* Click vào button:

Sell ad space Step 1 of 6
What types of ads do you want to sell?

* Chọn thể loại quảng cáo: hoặc bạn có thể chon cả 2.
* Click vào button:

Sell ad space Step 2 of 6
Describe your site

* Name of your site: Tên website
* Site URL: Địa chỉ website
* Description of site: Chủ đề website
* Brag away: Mục này tôi không biết là gì, nếu bạn không biết thì cứ để trống
* Name of ad zone: Đặt tên cho mục quảng cáo là gì thì tùy bạn
* Click vào button:

Sell ad space Step 3 of 6
Tag Your Site

Mục này có 3 cột, ở 2 cột đầu bạn điền các từ khóa website của bạn, cột thứ 3: What kind of people visit your site? những đối tượng nào thường truy cập vào website của bạn: ví dụ: men (mọi người)

* Demographics: What kind of people do you think make up the majority of your visitors?: Mục này điền chi tiết những đối tượng nào truy cạp vào website của bạn, nếu bạn không biết thì cứ để chế độ mặc định: All (tất cả)
* Choose a category : chọn thể loại website của bạn.
* Click vào button:

Sell ad space Step 4 of 6
Ad Specs

* Text ad specs: đặt thông số nội dung của banner quảng cáo gồm bao nhiêu ký tự,bạn có thể để nguyên chế độ mặc định
* Create your house ad that will appears in this zone if there are no paid ads to display: Điền nội dung mà bạn muốn, khi không có banner quảng cáo nào thì trên website của bạn sẽ hiện lên nội dung bạn ghi ở đây.
* Click vào button:

Sell ad space Step 5 of 6
Set Pricing

Đặt giá quảng cáo trên website của bạn, bạn cũng có thể để chế độ mặc định cho Adbrite tự đánh giá cho bạn.

Click vào button:
Sell ad space Step 6 of 6
Get HTML Code

Lấy mã code cho banner quảng cáo

* Vertical: chọn banner dọc
* Horizontal: banner ngang
* Copy & Paste on Your Site: bạn copy đoạn code trong ô dưới mục này và dán vào trang web của bạn

Thế là xong! Chúc bạn kiếm được nhiều tiền.

Chú ý: trong vòng 24 h thì các banner quảng cáo phải xuất hiện tren websiter của bạn, nếu không thấy có, hoặc có ít thì bạn nên thử bổ xung thêm nhiều từ khóa.

UFO VÀ SỰ SỐNG NGOÀI TRÁI ĐẤT

UFO VÀ SỰ SỐNG NGOÀI TRÁI ĐẤT
Tác giả: Đặng Vũ Tuấn Sơn


bullet

Các báo cáo về việc xuất hiện UFO trên thế giới
bullet

Con người đã chống lại sự xuất hiện của đĩa bay như thế nào?
bullet

Các đặc trưng chủ yếu sau đây của đĩa bay
bullet

Tìm hiểu nguyên lí bay của đĩa bay
bullet

Các bằng chững cho thấy đã có sự xuất hiện của UFO trên Trái Đất
bullet

Sự tin cậy của những chứng cứ thu thập được
bullet

Trí tuệ ngoài Trái Đất
bullet

Các loại người ngoài Trái Đất



Các dẫn chứng dưới đây được tham khảo chủ yéu trong 2 cuốn sách “Từ vũ trụ đến người trời” và “UFO – Vật thể lạ ngoàI Trái Đất”



Sự sống luôn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, tất nhiên. Trên thế giới mà chúng ta đang sống, loài người là sinh vật thượng đẳng thống trị các loài sinh vật khác. Nhưng đã từ lâu, chính bản thân loài người luôn đặt ra sự hoài nghi về việc tồn tại một sinh vật cao cấp hơn mình. Đó từng là các đấng thần linh, ma quỷ và giờ đây là các loài sinh vật "đến từ vũ trụ". Điều này không phải không có cơ sở. Với những gì con người đã thấy được ngày nay thì chúng ta hoàn toàn có thể tin vào sự tồn tại của một hoặc nhiều những nền văn minh khác phát triển hơn nền văn minh mà chúng ta đang có.


Trong vũ trụ có vô số các dải thiên hà, một trong số đó là thiên hà Milkiway của chúng ta. Thiên hà của chúng ta lại có vô số các hệ sao và hành tinh với tổng bán kính lên tới gần 100 ngàn năm ánh sáng. Trái Đất mà chúng ta đang sống chỉ là một hành tinh trong số 9 hành tinh của Thái Dương hệ. Chúng ta quay quanh một ngôi sao nằm gần dìa của thiên hà Milkiway. Ngoài Mặt Trời, thiên hà của chúng ta còn có hàng tỷ ngôi sao khác trong đó có rất nhiều các sao cúng có cấu tạo giống Mặt Trời và quanh đó cũng có các hành tinh giống như Trái Đất. Vì vậy, rất nhiều khả năng còn có rất nhiều các hành tinh có sự sống như trái đất của chúng ta.


Năm 1600, tại quảng trường Hoa La Mã_ Italia, Jordano Bruno- một nhà triết học, thiên văn học đầy tài năng đã bị thiêu sống chỉ vì đã đứng lên bảo vệ cho hệ nhật tâm Copernics. Hơn thế nữa, ông còn nói rằng trong vũ trụ có rất nhiều các ngôi sao như hệ Mặt Trời và như vậy nhất định sự sống là phổ biến trong vũ trụ.
Đó có lẽ là lần đầu tiên có một người đã đưa ra ý tưởng về cái mà chúng ta ngày nay gọi là Sự sống ngoài Trái Đất.Ngày nay, đã có nhiều tổ chức trên thế giới đi vào nghiên cứu vấn đề này. Cho đến nay, những nghiên cứu đó không phải là không có kết quả, những gì họ tìm được tuy chưa đưa ra được một bằng chứng chính xác nào nhưng đã phần nào cho chúng ta những hi vọng về việc tìm kiếm nền văn minh ngoài Trái Đất.
Những bằng chứng đầu tiên và có lẽ là phổ biến nhất khi người ta nhắc tới người ngoài hành tinh là những chiếc phi thuyền của người ngoài hành tinh mà ta thường gọi là "đĩa bay". Vậy đĩa bay là gì?

Trước hết, chúng ta hày thử tìm hiểu một khái niệm rộng hơn, đó là khái niệm UFO.
Tháng 6 năm 1947, một thương gia Mý lái máy bay riêng của mình đi qua vúng Eadleyni thủ đô Washington đã nhìn thấy 9 vật lạ bay thành hàng, hình thù chúng như hai chiếc đĩa café úp miệng vào nhau. Trong khi tự bay về phía trước chúng còn tự vận động cực nhanh xung quanh trục trung tâm của mỗi chiếc, thế là đĩa bay có từ bấy giờ.
Chúng ta thường gộp đĩa bay với UFO vào nhau. Kì thực đĩa bay chỉ là một bộ phận trong khái niệm UFO.
UFO: Unidentified Flying Object - vật thể bay chưa hiểu rõ.
Phân tích từ những gì quan sát được, UFO được chia làm 3 loại:
1- Những hiện tượng tự nhiên chưa hiểu rõ, ví dụ như tinh thể trôi, vòng xoáy khí lớn trong không gian vũ trụ.
2- Các thiết bị bí mật của con người trên Trái Đất chế tạo ra và phóng vào khoảng không.
3- Phi thuyền của người hành tinh khác, thường gọi là đĩa bay.
Ngày nay đĩa bay được nói tới không nhất thiết là hình đĩa. Năm 1970, trong một hội nghị nghiên cứu các hiện tượng vũ trụ do Mỹ và các nước trung nam châu Mỹ tổ chức tại thành phố Shaopaolo Brazin đã trưng bày 132 bức ảnh chụp đĩa bay, chúng được chia làm 12 loại.
Trong số các đĩa bay, loại nhỏ nhất có đường kính chỉ 30cm, loại lớn nhất có đường kính có thể đạt tới 600m.
Năm 1969, một số chuyên gia người Mỹ tiến hành điều tra 12000 trường hợp đĩa bay. Kết quả cho thấy đại đa số các trường hợp gọi là "đĩa bay" là do bị ngộ nhận vì một nguyeen nhân nào đó. Trong số đó có cái là mảnh vụn cuả vệ tinh nhân tạo bị đốt cháy khi quay trở lại tầng khí quyển, có cái là máy bay hoặc khí cầu, có cái là đám mây, sét hình cầu hoặc hiện tượng khúc xạ ánh sáng, có khi chỉ là bầy côn trùng, có cái là mục tiêu giả rađa, còn có cái do ảo giác, do tâm li hoặc do cố ý bịa ra. Chỉ có 2% trong số đó là có khả năng đến từ hành tinh khác.
Mấy chục năm nay, mọi người tranh cãi nhau không ngừng, rất nhiều nhà khoa học không tin có đĩa bay tồn tại. Họ cho rằng tất cả mọi chuyện nhìn thấy chẳng qua là do giác quan sai lầm tạo ra. Sự tồn tại của các đĩa bay UFO vẫn chưa được khoa học chứng minh.

Như vậy chúng ta đã hiểu cơ bản thế nào là UFO hay đĩa bay. Bây giờ chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu các vấn đề cụ thể hơn về việc này.





Các báo cáo về việc xuất hiện UFO trên thế giới:


Dưới đây là các báo cáo về việc xuất hiện UFO được ghi nhận lại trên thế giới trong vài chục năm gần đây. Đến nay chưa có một bằng chứng nào đủ thuyết phục cho các báo cáo này. Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, đó vẫn tạm thời được coi là các chứng cứ quan trọng nhất cho phép chúng ta có cơ sở để tin vào sự xuất hiện của người ngoài hành tinh.
* Dưới đây là một số hiện tượng UFO đã được loài người biết tới:

1- Tháng 7 năm 1938, hàng nghìn người đã nhìn thấy đĩa bay bay theo đường gấp khúc với tốc độ rất cao trên bầu trời NewYork. Những người chứng kiến kể lại cảnh tượng đĩa bay "Phát sáng rực rỡ, am thanh réo rắt , trong nháy mắt nó đã bay đến đường chân trời mất hút."
Có người còn nói rằng đã nhìn thấy đĩa bay hạ cánh và một người da xanh từ trong đó bước ra.

2- Tinh sương 28 tháng 11 năm 1954, chừng khoảng 2 giờ sáng, lái xe có tên Wallsaleys và phụ lái điều khiển xe tải chạy từ thủ đô của Venezuela là Caracat đến thành phố Peidan. Khi đi khỏi thủ đô chừng 6-7 phút đến một nơi thì phát hiện bên đường có một vật thể kì quái phát sáng nhấp nháy hình bán nguyệt.
"Ôi , kia là cái gì vậy?". Cả hai vội nhảy xuống xe đi về phía vật sáng. Chỉ thấy một người đàn ông bé nhỏ từ trong vật đó bước ra, đi về phía họ. Wallsaleys tóm gọn lấy người đó. Người đó chỉ cao chừng 1,5m, nặng khoảng 16 kg nhưng có sức mạnh kinh hồn. Người nhỏ bé hất ngã Wallsaleys ra xa 5m rồi thừa cơ bỏ trốn vào trong vật lạ bay đi mất.



3- Đêm khuya chừng 11 giờ ngày 16 tháng 2 năm 1958, Lawei- nhân viên bảo vệ của siêu thị lớn nhất Thoniz bang Nethuata Hoa Kì phát hiện ra "một vật thể lạ và hai người ngoài hành tinh". Tối hôm đó, Lawei sau khi xem TV, đi tuần tra trên bãi cỏ quanh siêu thị như thường ngày. Bất ngờ, Lawei phát hiện trên bãi cỏ có một vật thể đang dậu rất kì lạ. Vật thể có hình dáng như một chiếc nắp ấm trà đặt trên mặt đất, bên ngoài màu trắng bạc, cao chừng 2m, một khuôn của sổ nhỏ sáng màu vàng cam.Lawei rất sợ vì đây là lần đầu tiên trong đời thấy vật thể kì quái đó. Nhưng tính hiếu kì thôi thúc anh có đủ can đảm để tiếp cận vật thể. Khi đến cách nó chừng 8m, anh cảm thấy tim đập rối loạn, chân tay nhức nhối không dám bước tiếp nữa. Từ cửa sổ , Lawei nghe những tiếng "ù,ù" phát ra, dưới ánh đèn màu vàng cam , Lawei phát hiện ra một loạt các máy móc thiết bị và một màn hình đang phát sáng. Tiếp đó Lawei phát hiện ra hai người cao chừng 1,6m , mặc quần áo rộng màu xanh, cầm đồ gì đó của siêu thị đi về phía anh. Anh nghĩ đó là kẻ trôm, nhưng nhìn kĩ lại, anh thấy họ không hề có mũi mồm, trên mặt có một khe hở như là con mắt. Ở vị trí trên miệng có một vòi nhỏ màu xanh chui vào trong quần áo. Đúng lúc Lawei đang co rúm vì sợ hãi thì một người có 4 ngón tay nhỏ và dài chàm vào vai anh và đẩy anh ra xa khỏi vật thể chừng 10m. Sau đó cả hai người lạ đi vào trong vật thể. Ánh sáng vàng cam nhạt dần rồi tắt hẳn, vật thể rời khỏi mặt đất và bay lênmất hút.
Sau lần đó, Lawei phát hiện nơi bãi cỏ có vật thể lạ đậu lại có một hình tròn đường kính cỡ 5,28 m, cỏ nơi đó bị xém chết hết. Lawei cho rằng "người ngoài hành tinh" đẩy anh ra xa là để anh không bị thương bởi ánh sáng mạnh.

4- Ngày 28 tháng 6 năm 1947, Canes Anaer - nhà doanh nghiệp trẻ người Mĩ lên máy bay cá nhân về nơi ở. Khi máy bay đang bay trên bầu trời vùng núi Elecas, phía trước bỗng nhiên xuất hiện cảnh tượng kì lạ. Có mấy vật thể sáng đang bay thành đội hình. "Ái chà, đây là cái gì vậy? Biên đội máy bay ư?" Anaer bắt đầu nghĩ như vậy. Nhưng nhìn kĩ lại, các vật thể này có hình dáng hoàn toàn không giống máy bay, chúng trông như hai chiếc đĩa café úp miệng vào nhau, tốc độ chừng 2000km/h, nháy mắt đã biến đâu mất.
Sau khi báo đăng tin này, xã họi Mĩ xôn xao cả lên. Điều kì lạ là có người không ngừng gọi điện tới nói rằng họ nhìn thấy đĩa bay tương tự như thế. Trong vòng 10 ngày, 33 bang của nước Mĩ có người nhìn thấy vật thể tương tự.



5- 8giờ tối ngày 1 tháng 7 năm 1954, một máy bay chở khách của nước Anh bay từ NewYork trở về London. Khi nó bay còn cách bầu trời vịnh Puse thuộc quần đảo Labulatuer 360 km, cơ trưởng Jihob bỗng nhìn thấy phía trái có rất nhiều vật thể màu đen, bay theo đội hình cánh cung. Lúc bấy giờ độ cao của máy bay là 6500 bộ. Các vật thể đó luôn giữ một khoảng cách nhất định với máy bay chừng 8km. Nhân viên phục vụ và đông đảo hành khách đều nhìn thấy hiện tượng này. Phó cơ trưởng Lybad dùng vô tuyến hỏi sân bay Kesi "đường bay này có phải đang có chuyến nào khác?"
Trả lời: "Chẳng có chuyến nào cả"
______" Lẽ nào đó là đĩa bay?"
Mọi người kinh ngạc nhỏ to tranh luận. Các vật thể này xếp hàng rất kì quặc, giữa là vật thể lớn , xung quanh có 6 vật thể nhỏ hơn bay bảo vệ cho vật thể chính. Điều kì lạ hơn nữa là vật thể lớn ấy không ngừng co dãn, lúc to lúc nhỏ không ổn định. Còn các vật thể nhỏ do có kích thước nhỏ, lại ở quá xa nên không rõ là có co dãn hay không.
Lúc đó, Mặt Trời đã chìm khuất đường chân trời, song bầu trời vẫn sáng rõ, độ nhìn rất tốt, bên dưới là các tầng mây mỏng.
Lybad báo cáo tình hình với với sân bay về các vật thể bay cổ quái. Sân bay lập tức cho máy bay đến thăm dò. Nhưng máy bay chưa kịp cất cánh thì các vật thể đó đột ngột tăng tốc độ, vọt ra xa và mất hút trong nháy mắt. Từ khi cơ trưởng Jihob nhìn thấy chúng tới khi biến mất khoảng chừng 18 phút.
Chuyến bay cuối cùng đã về tới London. Phóng viên thời sự đổ xô tới, phỏng vấn tổ lái và mọi hành khách. Tin tức này đăng tải trên hầu hất các số báo trong ngày tại London. Khi trả lời phóng viên "London kí sự báo", cơ trưởng đã trả lời như sau:
"Hình dáng không ngừng thay đổi, chỉ xét riêng điều này thôi vật thể không thể là kim loại. Nhìn từ góc độ bay, cách bay đó không giống như đội hình biên chế. Nói một cách hình tượng, giống như đàn chim 6 con bay vây quanh chim mẹ. Nhưng điều có thể khẳng định chắc chắn là chung không phải loài chim. Trên đời này chưa có loài chim nào bay ởt độ cao 6500bộ với tốc độ lớn như vậy cả. Vậy những vật thể bay đó là gì? Chẳng ai dám chắc được, nhưng đáp án tích cực nhất có thể nghĩ tới là : đó là khách đến từ ngoài quả đất.

6- Ba giờ sáng ngày 26 tháng 5 năm 1973, ông Babina 41 tuổi trên đường lái xe về nhà. Ông là nhân viên thư viện công cộng ở bang Shaopaolo Brazin. Hôm đó trời rất xấu, mưa rả rích, ông lái xe với tốc độ 90km/h. Để giảm bớt sự vắng vẻ trên đường ông bật radio. Khi xe đến gần một quả đồi đột nhiên radio im bặt. Babina điều chỉnh tụ xoay mãi không được, cùng lúc đó tốc độ xe giảm dần, Babina đổi số muốn tăng ga.
Đúng lúc đó ông phát hiện ra trong xe có một vầng sáng hình tròn đường kính khoảng 20cm. Vầng sáng đó di chuyển dần qua hòm dụng cụ , ghế ngồi, một vali xách tay đã khoá (bên trong là các tài liệu cá nhân.), đỉnh xe và đôi chân ông.Khi vầng sáng lướt qua hòm dụng cụ , Babina bỗng nhận thấy mình có thể nhìn thấy hộp số trong buồng lái. Babina vô cùng ngạc nhiên, trăng sao có thể chiếu sáng đến kì quặc vậy. Ông nhớ ra bên ngoài trời mưa, bầu trời mây đen mù mịt, sao có thể có trăng được.
Trong khi ông đang nghĩ như vậy thì bỗng nhiên phát hiện ra một vầng sáng màu xanh rất rõ chiếu thẳng tới từ đỉnh đồi mà ông đang muốn tới. Nguồn ánh sáng nhanh chóng đến gần ông, cáng gần càng sáng rõ hơn. Ông cho rằng đó là một xe tải chở hàng đang đi thẳng về phía ông. Ông vội vàng nép xe sang bên đường , bật đèn sáng nhằm tránh xảy ra tai nạn. Nhưng chiếc "xe tải" bất chấp tất cả lao thẳng về phía ông. Không còn cách nào khác, Babina bỏ kính ra, nép thân vào trong xe, tay ôm lấy đầu.
Ông làm một lúc lâu như vậy trong xe và cảm thấy chiếc xe kia không đi qua, ông liền bò dậy xem. Chính lúc đó, ông nhìn thấy ở phía ngoài cách ông chừng 15m, có một vật thể đang lơ lửng cách mặt đát chừng 10m. Babina cho rằng đó hẳn là một chiếc trực thăng đàng muốn hạ cánh. Ông bắt đầu cảm thấy ngột ngạt khó thở. Ông muốn hít thật sâu, bèn mở cửa xe ra ngoài. Nhưng ở bên ngoài vẫn ngột ngạt khiến người ta khó thở.
Ông ngẩng đầu lên nhìn nghe được âm thanh vù vù. Lúc bấy giờ Babina mới chột dạ, cái mà ông nhìn thấy không phải là máy bay trực thăng mà là một quái vật chưa từng nhìn thấy trong đời. Quái vật đó trông như hai chiếc mâm úp lại với nhau, dày chừng 7m, rộng 11m, bề mặt màu xám đen. Babina chỉ còn cách nhìn kĩ nó hơn. Bên trong vật thể đó sáng một cách khác thường nhưng lại không nhìn thấy nguồn sáng. Babina vẫn cảm thấy ngột ngạt và khó thở. Ông cảm thấy có một màn vải trong suốt bao vây lấy vật thểđó từ phải qua trái, sau khi bao kín hoàn toàn, sự ngột ngạt khó thở đó biến mất. Cũng từ lúc đó ông nhìn thấy một ống từ vật thể đó tiếp xuống đất.
Babina bỗng nhiên ý thức được sự nguy hiểm đối với mình, kinh hoàng chạy về phía rừng cây. Được khoảng 30m, ông cảm thấy có vật gì giữ lấy ông, như một sợi dây cao su. Ông cố gạt tay, cố hết sức thoát khỏi vật đó nhưng sự thật thì có vật nào đâu.
Babina quay người lại, thấy sau lưng còn có xe của mình. Vật thể kì quái có một vầng hào quang hình ống từ dưới đáy phát ra, đường kính khoảng 20cm. Khi luồng sáng đó bập vào xe ông, ông nhìn thấy các bộ phận trong xe của mình như hộp số, ghế ngồi. Do căng thẳng, sau đó ông ngất đi.
Một giờ sau, hai thanh niên đi qua thấy xe của Babina vẫn bật đèn, cửa trước mở còn Babina thì nằm trên vũng nước mưa. Họ nghĩ đây là một vụ mưu sát nên baốch cảnh sát
Cảnh sát đến hiện trường thấy Babina vẫn bất tỉnh nằm giữa vũng nước mưa. Họ thấy trong xe của Babina có một tấm bản đồ đường oto Bắc Brazin, vali của Babina bị mở tung, giáy tờ bị vung vãi trong xe. Tuy nhiên không có đồ đạc nào bị mất, xe ông cũng không hư hại gì.
Chiều hôm ấy, khi ở trong bậnh viện, Babina thấy lưng hơi ngứa ngáy. Sang ngày hôm sau, nơi ngứa xuất hiện các vết chàm không theo trật tự nào cả nhưng cũng không rõ là đau.
Các bác sĩ sau khi kiểm tra kĩ khẳng định tình trạng tâm lí và khả năng thích ứng hoàn cảnh của Babina vẫn bình thường. Qua một loạt các phân tích và cả điện tâm đồ không thấy điều gì khác lạ ở các vết chàm. Tiếp đó, các tổ chức thôi miên tiến hành thí nghiệm thôi miên với Babina và kết quả cho phép khẳng định tính chân thực của những gì Babina kể lại.





Con người đã chống lại sự xuất hiện của đĩa bay như thế nào?

1- Ngày 7 tháng 1 năm 1948, một vật thể bay bỗng bay vào bầu trời căn cứ không quân Caman bang Kesta. Nhân viên trực ban sân bay không có cách nào giải thích đó là vật thể gì. Chỉ huy sân bay lập tức lệnh cho thượng uý không quân Manter lái máy bay đuổi theo. Máy bay ngày một gần vật thể đó, Manter báo cáo: "Có một vật bằng kim loại rất lớn". Trong khi người chỉ huy còn chưa kịp ra lệnh tiếp thì máy bay bất ngờ rơi, thượng uý Manter hi sinh. Cái chết của thượng uý Manter là một bi kịch đầu tiên trong lịch sử nghiên cứu đĩa bay của loài người.
5 năm sau, một máy bay DC-6 bay từ quần đảo Willker đến Los Angeles, chỉ huy mặt đất sau khi nhận được cấp báo của kíp bay là bầu trời xuất hiện một vật thể lạ thì mất liên lạc. Sáng sớm hôm sau nhân viên cứu hộ tìm thấy các mảnh của máy bay và 20 thi thể. Ít lâu sau, hai phi công lái máy bay phản lực F-89 truy kích một vật thể bay trên bầu trời hồ Subilew biên giới giữa Mĩ và Canada. Từ màn hình theo dõi có thể thấy máy bay đang đuổi theo vật thể lạ nhưng rồi không thấy máy bay nữa. Quân đội lập tức cho canô thăm dò nhưng không thấy dấu vết gì của cả máy bay và người lái.

2- Giữa đêm 9 tháng 7 năm 1982, Kelin, viên sĩ quan trực ban sân bay Washington bỗng phát hiện một điểm sáng kì lạ trên màn hình rada, mỗi lúc một lớn dần. Ông báo về với trung tâm quản lí bay. Viên chỉ huy chuyển lệnh tới bộ tư lệnh không quân:"Đĩa bay xuất hiện trên bầu trời Washington". Hai phút sau, hai máy bay tiêm kích bay lên bầu trời đêm. Trên bầu trời các phi công nhìn thấy rõ các đĩa bay xếp thành hàng lượn trên bầu trời nhà quốc hội Hoa Kì. Các phi công cho máy bay lao thẳng vào nhưng bỗng nhiên các vật thể lạ chuyển hướng rồi tăng tốc. các máy bay do hết nhiên liệu buộc phải hạ cánh xuống sân bay.
Tháng 8 năm 1976, một báo cáo cho lầu 5 góc từ Iran gửi về : hai chiếc tiêm kích F-4 gặp phải một tốp đĩa bay. Một trong số các đĩa bay đó tách ra và lao thẳng về phía họ. Các phi công quyết định sử dụng tên lửa không đối không chuẩn bị bắn hạ. Khi tên lửa chuẩn bị phóng , hệ thống bắn điện tử bỗng nhiên bị trục trặc. Các phi công vội cho máy bay quay lại về sân bay, rất may là vật thể đó không đuổi theo. Sau chuyện đó các phi công kể lại rằng cho đên khi họ ngắm bắn thì hệ thống phóng của tên lửa vẫn hoạt động bình thường.
Một phi công Liên Xô (cũ) đã từng được giải thưởng công huân nổi tiếng, huân chương sao đỏ, huân chương hồng kì, huân chương hạng nhất chiến tranh vệ quốc. Ngày 16 tháng 6 năm 1948, Igo bay thử nghiệm loại máy bay phản lực mới của Liên Xô. Khi mới bay lên không lâu, bỗng nhiên Igo phát hiên một vật thể bay đang lao về phía anh, vật thể lạ đó không ngừng phát ra một luồng ánh sáng hình búa. Anh lập tức báo cáo về căn cứ không quân. Ở căn cứ cũng đã phát hiện ra vật thể bay này và cho rada theo dõi, đọng thời cho phép Igo ép vật thể này hạ cánh, nếu nó không chịu thì được bắn. Khi máy bay còn cách vật thể chừng 10km, vật thể bỗng tăng tốc độ và phát ra một luồng sáng hình quạt về phía máy bay. Igo bị loá mắt bởi luồng sáng đó đồng thời anh nhận thấy hệ thống điều khiển của máy bay đã mất khả năng kiểm soát bình thường. Igo vô cùng sợ hãi vì biết mình đang rơi vào vòng nguy hiểm, đành phải cố gắng cho máy bay quay về sân bay.

Ngày 20 tháng 12 năm 1951, 3 máy bay thanh kiếm cất cánh từ sân bay không quân bang Elecas bên bờ Thái Bình Dương. Thượng uý Sicater chỉ huy, ngoài ra còn có Poter và Haiter cùng bay với anh thành biên đội. Khi các máy bay của họ đạt độ cao 6000m, đèn tín hiệu vô tuyến điện bật sáng, từ cự li 200km, đài rada mặt đất thông báo: một vật thể đang bay qua bầu trời căn cứ theo hướng đông nam- tây bắc, bất cứ máy bay nào trong khu vực đó đều được phép tiêu diệt. Sicater lệnh cho đồng đội chuẩn bị chiến đấu, triển khai đội hình, chiếm lĩnh độ cao 33000 thước Anh. Một lúc sau, Poter hét lên:Ở phương vị 50 xuất hiện mục tiêu.
Lúc này phía dưới ba máy bay xuất hiện một chấm đen, nó nhanh chóng biến đổi lớn, xem ra muốn bay lên trước mũi các máy bay.
"Các anh em, bay lại gần phía tôi", Sicater hét lên, dường như rất kích động.
Ba máy bay thanh kiếm tăng tốc độ, xông vào đón đầu 1000m. Nhân viên chỉ huy mặt đất nghe tiếng của Haiter "lệnh rất khó thực hiện" Tiếp đó lại là tiếng Haiter "Máy chụp ảnh"
Sau đó không còn nghe thấy gì nữa. Hai phút sau, 3 chiếc máy bay bốc cháy và nổ tung trên bầu trời. Nhân viên mặt đất nói rằng đã nhìn thấy một chấm đen lướt qua 3 chiếc máy bay rồi biến mất rất nhanh.

Những báo cáo như vậy về UFO trong thập kỉ 50 có rất nhiều. Có trường hợp phóng tên lửa vào nhưng bị UFO nuốt chửng, có trường hợp bị UFO phóng ra luồng sáng làm UFO nổ tung trên bầu trời. Nhiều hội nghị của các nước có quân sự và kĩ thuật vũ trụ phát triển như Liên Xô, Mĩ, Anh, Pháp đã họp để tìm cách nghiên cứu và đối phó với UFO nếu như chúng có ý định tấn công loài người. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một kết quả nào, loài người dường như vẫn hoàn toàn bó tay trước những bí ẩn của UFO





Qua các nghiên cứu về các hiện tượng đĩa bay nhìn thấy , đến nay con người có thể rút ra các đặc trưng chủ yếu sau đây của đĩa bay: đặc trưng màu sắc , đặc trưng âm thanh và đặc trưng về hiệu ứng từ.


1- Đặc trưng màu sắc:
Qua phân tích, các trường hợp đĩa bay thường có mấy màu chính như sau: màu trắng bạc, màu trắng tro, màu đen tro, màu đen.
Những màu này thường gặp ở những vật liệu nhiễm từ có trên Trái Đất. Đặc điểm cảu vầng sáng và các vòng sáng quang đĩa bay là màu vàng quýt, màu vàng, màu hồng, màu xanh đậm.., có lúc màu sắc biến đổi. Các nhà nghiên cứu cho rằng chúng có liên quan đến kết cấu động lực của đĩa bay (chủ yếu là từ động lực) Tốc độ bay không giống nhau, số lần điện li và thành phần điện li không khí xung quanh cũng không giống nhau nên màu sắc khác nhau. Các phần tử khí điện li thành các ion có tính chất khác nhau nên có màu sắc khác nhau.


2- Đặc trưng thanh âm:
Trong các hiện tượng phát ra âm thanh, có trường hợp không phát ra âm thanh, có trường hợp có âm thanh nhưng rất nhỏ. Tất cả những điều này cũng chỉ ra rằng các đĩa bay có nguyên lí bay khác nhau. Đối với các đĩa bay có phát âm thanh thì âm thanh của chúng rất phức tạp. Qua nhiều lần đĩa bay phát âm thanh xuất hiện avf qua nghiên cứu quả thật thấy rằng nhiều điac bay có thể phát ra một loại âm thanh đặc biệt , nghe như tiếng vù vù. Nói đơn giản có thể thấy rằng có hai loại đĩa bay là đĩa bay có âm thanh và đĩa bay không có âm thanh. Loại không có âm thanh có phải là tuyệt đối không thì còn phải nghiên cứu thêm nữa. Ví dụ một cái biến áp được chế tạo tinh xảo sẽ phát ra một âm thanh hoàn toàn khác với một biến áp được chế tạo theo công nghệ cũ. Một đĩa bay có thể phát ra một âm thanh rất phức tạp và kì quái. Trên thực tế âm thanh nghe được thường chỉ là tiếng hút gió hoặc tiếng cọ xát của động cơ với không khí xung quanh. Trong các âm thanh đã nghe được, âm thanh vù vù là phổ biến nhất. Có người nói rằng đã gặp đĩa bay nói rằng âm thanh của nó giống như âm thanh của đàn ong mật, cũng có người nói rằng nó giống âm thanh của cái biến thế.
Trong nhiều trường hợp, người quan sát còn nghe thấy đĩa bay phát ra những tiếng giống như tiếng nổ. Nếu quả thực đay là những thông tin chính xác thì việc nghiên cứu âm thanh của đĩa bay sẽ giúp mở thêm một hướng mới cho việc tìm kiếm những nền văn minh ngoài Trái Đất.

3- Đặc trưng hiệu ứng từ:
Trong rất nhiều vụ đĩa bay xuất hiện có những hiện tượng liên quan đến hiệu ứng từ trường. Ví dụ như : sự nhiễu từ, vô tuyến điện liên lạc bị ngắt, sóng phát thanh bị gián đoạn, các thiết bị điện ngừng hoạt động..., những hiện tượng này đều liên quan đến hiệu ứng từ của đĩa bay.Trong quá trình thăm dò hiệu ứng từ của đĩa bay, một điều sai lầm chủ yếu mà con người đã mắc phải là dựa vào những lí luận duy vật máy móc, không xem trường của đĩa bay là một loại trường đặc biệt và hết sức phức tạp. Ông Amixi, một chuyên gia về UFO của Pháp trong tác phẩm "Vật nàh trời bí ẩn" đã chỉ ra rằng: Đại bộ phận điac bay có cự li gần đều có thể chứng thực được từ trường thay đổi. Những hiện tượng tê liệt, cảm giác điện giật, nhiệt độ tăng cao hay các vật thể kim loại bị va quệt mạnh, tất cả những điều đó xảy ra khi đĩa bay xuất hiện đều có thể do vòng quay của từ trường phổ hoá bằng tần số thấp.
Loại từ trường đó mạnh đến nỗi có thể tạo nên một vòng từ bảo vệ quanh đĩa bay đến mức con người không thể tấn công bằng các vũ khí cơ học như các loại đạn hay tên lửa.
Những người nghiên cứu UFO cho rằng từ trường của đĩa bay là một loại từ trường tổng hợp. Họ cho rằng các lực từ trong đĩa bay liên kết chặt chẽ với nhau. Hiện thời qua nhiều nghiên cứu về hiện tượng từ của đĩa bay thì chưa thu được kết quả khả quan nào đáng kể. Hầu hết những người nghiên cứu đĩa bay chỉ dứng trên góc độ phiến diện để nhìn nhận mà không xem xét việc từ trường của đĩa bay là một tập hợp phức tạp của điện-từ trường, nguồn trường phản trọng lực , các tập hợp hợp năng lương của nguồn phóng xạ và nguồn điện li mạnh. Các nghiên cứu còn cho rằng trong đĩa bay có thể xảy ra hiện tượng bão từ. Khi các nguồn từ trên kết lại thành một tập hợp, các lớp từ chồng chéo lên nhau trên từ trường của Trái Đất khi chúng xuất hiện sẽ có tác dụng tương đương một trận bão từ quy mô nhỏ.
Nhiều ý kiến cho rằng thực sự cần nghiên cứu sâu vào vấn đề từ của đĩa bay vì đây chính là cơ sở để xác nhận về khả năng tồn tại của các nền văn minh chúng ta chưa biết và đưa lại một bước tiến mới về khoa học công nghệ đến nay loài người vẫn chưa biết.



Tìm hiểu nguyên lí bay của đĩa bay


Trong đại đa số báo cáo đã nhìn thấy đĩa bay, miêu tả đĩa bay bay, có thể thấy phương thức bay của nó là vô cùng đặc biệt, hoàn toàn khác với phương thức bay thông thường của máy bay: tự dưng xuất hiện, nhanh chóng thay đổi vị trí, lên xuống thẳng đứng, tốc độ cao và thay đổi nhanh, đổi hướng tuỳ ý, phát ra sóng điện từ...
Cách bay của các đĩa bay như vậy chứng tỏ một công nghệ vô cùng tiên tiến, khoa học kĩ thuật của loài người hiện nay không thể đạt tới. Từ các nghiên cứu về các hiện tượng nhìn thấy đĩa bay, có một số phỏng đoán sau đây:

1-Dùng ý nghĩ để dịch chuyển:
Tư duy của con người vượt ra ngoài giới hạn của không gian và thời gian. Bộ não của con người có thể phát lệnh trực tiếp làm cho vật thể giải thể trước, sau đó lại thông qua các kẽ hở của các phân tử vật cản mà đem các phần giải thể ghép lại với nhau như cũ và dùng cách đó để tạo ra sự chuyền tải có thể đột phá cản trở không gian.

2-Dùng vật thể phân giải:
Đem vật thể phân giải thành các hạt cơ bản rồi dùng tốc độ ánh sáng chuyền tải, dùng mã số thông tin tín hiệu, nhập vào phân tử, tập hợp thành vật thể ban đầu.

3- Dùng lực điện từ
Lợi dụng điện từ siêu truyền dẫn để tạo thành từ trường mạnh và cao áp, động thời làm nảy sinh hiện tượng ion hoá không khí xung quanh, mượn phản lực của nó để vận động.

4- Dùng trọng lực:
Nếu như trình độ khoa học kĩ thuật đĩa bay đã nắm chắc được việc lợi dụng trọng lực, có thể tự do lựa chọn trường trọng lực của một tinh cầu nào đó để tác dụng vào nó, các trường trọng lực khác đều không có, chỉ còn lại sự tồn tại trường trọng lực của tinh cầu này, thì rất dễ chịu sức hút của tinh cầu kia mà bay đi.

5- Dùng trường thống nhất mà vận động
Một số chuyên gia UFO đã dựa vào thuyết trường thống nhất của Einstein để chỉ rõ, trường điện từ và lực hấp dẫn của vũ trụ có quan hệ mật thiết với nhau, cả hai cùng biến đổi và hút đẩy lẫn nhau. Trường điện từ chung tác động và đem các trường điện từ, trường trọng lực, lực hạt nhân mạnh, lực hạt nhân yếu tác dụngqua lại với nhau, và tập hợp với trường nhân tạo trong kết cấu của tàu vũ trụ, làm cho nó biến động hài hoà, có thể làm cho tàu vận động với tốc độ lớn từ điểm này đến điểm kia, trong khoảnh khắc có thể đến được vị rí cách xa đến hàng ngàn năm ánh sang



Các bằng chững cho thấy đã có sự xuất hiện của UFO trên Trái Đất
Dưới đây là một số báo cáo về việc xuất hiện của UFO của nhiều quốc gia trên thế giới. Tạm thời nó là những bằng chững quan trong để khẳng định sự có mặt của đĩa bay và những người ngoài hành tinh trên Trái Đất.

1-Dấu vêt lưu lại ở mặt đất: đây là những dấu vết hình tròn, hình cầu, hình tam giác hoặc hình bán nguyệt do bị sức ép hoặc bị thiêu đốt. Có rất nhiều dấu vêt lưu lại trong một thời gian dài, trong thời gian đó cỏ không mọc lại được.

18h ngày 3 tháng 8 năm 1954, một vật thể trong suốt hạ cánh xuống gần sân bay Madagasca. Nó dừng lại hai phút trên mặt đất đoạn đầu đường băng đá lởm chởm. Mới đầu nó bị bảy người gồm một chủ nhiệm kĩ thuật, ba phi công và ba kĩ sư của hãng hàng không Pháp phát hiện. Những người này phát lệnh báo động, thế là tất cả mọi người có mặt ở sân bay, kể cả các hành khách cũng nhìn thấy vật thể trong suốt bay thẳng đứng lên. Nơi vật thể hạ cánh xuống, đá trên mặt đất trong phạm vi 10m hoàn toàn bị nghiền thành bột.

Tháng 6 năm 1968, một người gần thành phố Milama (Achentina) tận mắt nhìn thấy mọt UFO rất kì lạ: chiếc phi thuyền dường như bị trói bởi một cột sáng, dừng ở trên không cách mặt đất chừng 50cm. Khi anh ta đến gần, phi thuyền đã nhanh chóng bay đi. Theo chỉ dẫn của người này, cảnh sát đã tiến hành điều tra. Kết quả cho thấy đất ở nơi đó bị đốt cháy bởi một nguồn nhiệt năng rất mạnh.

Ngày 1 tháng 7 năm 1968 rất nhiều người bao gồm cả bác sĩ, kĩ sư và cảnh sát tận mắt nhìn thấy một phi thuyền hạ cánh xuống cạnh bệnh viện Botukatu bang Shaopaolo- Brazin. Sau mấy phút, phi thuyền bay đi, nơi mặt đất lưu lại một vết hình tam giác đều cạnh chừng 7m.

Sáng sớm ngày 14 tháng 7 năm 1970, nhiều người tận mắt nhìn thấy một vật thể phát sáng dừng lại 15phút cạnh cảng biển Manmothe bang NewYork. Trên mặt đất nơi đó phát hiện hai vòng tròn đường kính 6m và 4m, cỏ bị đè nát. Ngoài mỗi vòng tròn còn có ba dấu hình epip nhỏ tạo thành tam giác đều. Có một số rãnh thẳng (có lẽ do vật thể di động trên mặt đất tạo nên) nối từ hai vòng tròn, đến điểm cuối cùng là bơè đê của con đập nước tưới. Cảnh sát đã tiến hành nhiều điều tra nhưng chưa đưa ra được một kết luận.

2-Thực vật bị đốt cháy: đến 90% các trường hợp UFO hạ cánh thực vật bị đốt cháy mà kết quả là của sự phóng xạ. Nói chung thực vật những nơi đó rất khó phát triển trở lại. 25% trong số đó không thể khôi phục lại như trước.

Ngày 16 tháng 9 năm 1965 một UFO đậu xuống gần thủ đô BôTha của Nam Phi, chính phủ Nam Phi rất chú ý đến sự việc này, cho tổ chức một tổ chuyên gia gồm quân đội và viên chức để đièu tra. Về điều này, trung tá J.B.Boly, tư lệnh cảnh sát Bôtha đã nói rõ: "Chuyện này không thể xem nhẹ, tính bí mật rất cao. Hiện đang tiến hành một cuộc điều tra." Nhưng rồi cuối cùng kết quả cuộc điều tra cũng rơi vào tuyệt mật.

18h30 ngày 7 tháng 10 năm 1966, có 16 người nhìn thấy một UFOhạ cánh xuống ven hồ India đảo Michian bang Mixixipi, các động cơ và thiết bj kĩ thuật trong khu vực ngừng hoạt động và sau khi vật thể lạ bay đi trên mặt đất xuất hiện một dấu vêt hình tròn. Cây cỏ trong phạm vi đó bị đốt cháy.

3- Nguồn nước bị ô nhiễm.
Các UFO khi tiến vào các vúng có nhiều nước, nhất là biển khi bay đi thường khiến nguòn nước nơi đó bị ô nhiễm mà 65% trong số đó là nước bị ô nhiễm do phóng xạ hoặc các loại hoá chất.

Mùa hè năm 1961, một UFO đổ bộ xuống hồ Latuga thuộc Liên Xô cũ., một nhà ngiên cứu vật lí thiên văn viện khoa học đã nghiên cứu phân tích. UFO lao tới với tôc độ rất nhanh thẳng vào mặt nước đóng băng của hồ Latuga. Lớp băng hồ Latuga bị đào sâu xuống tới 1m. Mặt băng bị vỡ ra thành đường tròn đường kính chừng 100m. Phi thuyền chui sâu vào nước hồ, sau khoảng 1h mới bay vọt lên. Nơi băng bị phi thuyền đâm vỡ, lớp nước bề mặt biến thành màu xanh, có tính phóng xạ. Về sau, ở miệng hố hình tròn còn phát hiện có hạt titan.

4-Ảnh hưởng tới các cơ thể sống
Người và cả động vật khi tiếp xúc với các vật thể bay lạ (UFO) đều cảm thấy khó chịu trong người. Tuy nhiên không có trường hợp nào bị chết. Hầu hết sự khó chịu này là do kết quả của sự phóng xạ.

Tháng 8 năm 1968, một người tàn tật ở bẹnh viện Mentula (achentina) nhìn qua cửa sổ thấy có một phi thuyền hạ cánh xuống gần cửa bệnh viện. Mấy giây sau, phi thuyền bay lên phóng ra hoa lửa dạng phóng xạ. Mặt người này bị thương, ngất đi 20s. Cơ quan tình báo không quân và uỷ ban nguyên tử Achentina bí mật tiến hành điều tra vụ này, phát hiện nơi đĩa bay dừng có một vòng tròn lớn đường kính 50cm, đất bị đổi màu tro, độ phóng xạ rất cao. Các chuyên gia xác nhận, nhân chứng trên bị thương là do bị tác dụng của phóng xạ. Tuy chỉ là vêt thương ngoài da nhưng có ảnh hưởng dến hoạt động của các cơ quan tim mạch nên phải rất lâu sau mới khỏi hoàn toàn.

5-Làm ngừng mọi hoạt động điện từ.
Rất nhiều các hoạt động điện từ do các UFO tạo nên khi xuất hiện. Các hiện tượng đó hiện nay vẫn chưa giải thích được. Trong nhiều trường hợp, nơi đĩa bay xuất hiện, đèn điện ngừng chiếu sáng, các động cơ đều ngừng hoạt động. Thậm chí có cả các tình huống, các vật kim loại gần nơi đĩa bay xuất hiện bị nhiễm từ một cách kì lạ mà đến nay vẫn chưa giải thích được





Sự tin cậy của những chứng cứ thu thập được
Sự đánh giá mức độ của tính tin cậy và xác thực của những chứng kiến có liên quan đến sự hiện diện của UFO hay người ngoài quả đất, tạo thành giai đoạn đầu tiên của mọi nghiên cứu. Từ sự việc, một sự chứng kiến là kết quả của hai thao tác bằng miệng: một phần, sự quan sát của sự việc hay sự kiện, phần khác, sự kể chuyện bằng viết hay lời của những sự việc hay sự kiện đó. Như vậy, sự kể lại cảu một sự việc càng trung thành với sự chứng kiến của sự việc đó khi sự chứng kiến càng đáng tin cậy. Sự đánh giá của hệ số tin cậy đó đặt ra việc đưa vào thực thi một phương pháp phân tích hợp lí cần thiết thực hiện với sự tham gia của nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau như tâm lí học, tâm lí bệnh học, thiên văn học, khí tượng học, lí học, hoá học, sinh học....


Ví dụ, muốn biết nếu nhân chứng đó có ý đồ thấy một người hành tinh khác hay một vật thể lạ không phải là nạn nhân của một sự hoảng loạn hay sợ hãi của mình, người điều tra cần nghiên cứu tính tình nngười đó, quá khứ tâm lí, các thói quen suy nghĩ của người đó...Nói tóm lại, muốn kiểm tra một sự việc, cần đưa nhân chứng vào một cuộc kiểm tra cá nhân- điều mà không phải dễ dàng tiến hành, có chú ý đến sự nghi ngờ của những người bị đưa vào một cuộc sát hạch như vậy. Như vậy những người bị đau thần kinh niên hay là nạn nhân của sự mê tín sẽ tự nhiên thiếu tin cậy hơn những người bình thường.
Trái lại, sự xác nhận của một người mà quá khứ trí óc là hoàn toàn bình thường sẽ đạt được một hệ số tin cậy cao hơn nhiều.
Câu hỏi kiểm tra những sự chứng kiến với UFO hay người ngoài hành tinh đặt ra một vấn đề là kiểm tra những sự việc quan sát được và báo cáo của tác giả những chứng kiến đó.
Ngoài ra , để xác nhận sự đánh giá đúng đắn mức độ chính xác những sự việc chứng kiến, cần nhắc lại rằng sự quan sát các sự việc được chứng kiến không khi nào khôi phục 100% những việc kể lại.
Nói chung, những nhân chứng không thể nhớ tất cả những gì họ đã thấy ở thời điểm xảy ra sự kiện. Tuy nhiên, mức độ của sự chính xác một sự kiện là một hàm số của trí nhớ tôt hay kém của nhân chứng. Dẫu sao, nhân chứng cũng không thể nhớ lại hoàn toàn chính xác những gì họ đã quan sát, hoặc họ đã quên kể lại một vài chi tiết, hoặc họ đã thêm vào vài chi tiết tưởng tượng. Điều này là cơ bản vì tương lai của UFO còn phụ thuộc cuối cùng vào sự trung thực của những chứng kiến khác nhau đưa lại cho những người có nhiệm vụ nghiên cứu sự đúng đắn khoa học của vấn đề này.
Người ta không thể lẫn lộn một hiện tượng ngoại cảm- Ngoại cảm học là sự nghiên cứu những hiện tượng ngoài những cảm giác, tức là tất cả những gì có liên quan đến hiệu ứng ngoài ý thức của con người.
Cũng chắc rằng nhiều sự kiện đước báo cáo về UFO trên thực tế có thể quy về hiện tượng ngoài cảm, có nghĩa là các hiện tượng mà các hiệu ứng được tạo ra và thực hiện ngoài ý thức của cá nhân đồng thời là tác giả và nhân chứng.
Như thế, người ta đôi khi có thể nhận như một UFO một biểu hiện mà duy nhất có thể liệt vào cho sự vô ý thức ngoại cảm của một cá nhân hay một nhóm cá nhân.
Ngược lại , sự quan sát của một cá nhân đối với một vật thể lạ có thể tác động đến tinh thần và gây ra hiện tượng ngoại cảm. Điều này đã xảy ra trong trường hợp của bác sĩ X nhận thấy 2 đĩa bay tiến đến phía ông. Sau đó nhân chứng trở thành đối tượng của hiện tượng mê tín.
Hiện tượng như vậy đã dến với những thanh niên ở Wooler- Canada năm 1968 sau khi đã thấy một UFO ở gần thì họ trở thành đối tượng của một loạt các hiện tượng ngoại cảm. Theo một số người thấy thì có sự di chuyển rối loạn của các vật thể không có sự điều khiển của bàn tay con người. Chúng bị một ý chí vô hình nào đó chi phối: các cửa kính vỡ lung tung, các tấm bảng bị dỡ khỏi tường, các vật tự nhiên di chuyển từ chỗ này đến chỗ khác.
Trong nhiều trường hợp rất khó để tham dự vào những quan sát thực tế kể cả có sự có ý thức hay vô ý thức của nhân chứng. Một số nhân chứng đã khẳng định đã kể lại những sự việc chỉ thấy trong tưởng tượng của họ.
Trên nhiều nước, nhiều người tự nguyện đến với các cuộc điều tra để thử phân tích sâu sắc một cách có phương pháp sự thật của trí tưởng tượng.
Tổng thể của tất cả những kiểm tra đó, tạo ra một chất liệu đầu tiên mà các nhà khoa học khai thác mỗi ngày một tiến bộ và sớm cho biết những UFO, người ngoài hành tinh thực chất là cái gì và muốn gì ở chúng ta.



Trí tuệ ngoài Trái Đất

Trong vũ trụ chỉ có những hành tinh ở thể rắn và không phát sáng mới có khả năng tồn tại sự sống mà đỉnh cao là sự xuất hiện con người.Các thiên thể không phát sáng tồn tại quanh các sao phát sáng là hiện tượng phổ biến trong thế giới các vì sao.
Cứ lấy khoảng không gian bán kính 17 năm ánh sáng quanh Mặt Trời đã có 60 sao ánh sáng , trong đó có 32 sao tồn tại độc lập, 22 sao đôi nghĩa là 11 cặp sao, 2 nhóm sao ba và 10 sao không phát sáng (có thể nhiều hơn). Chỉ có những sao phát sáng ổn định như Mặt Trời thì các hành tinh quay quanh nó mới có khả năng tồn tại sự sống. Mặc dầu với những dấu hiệu chặt chẽ và những hạn chế như đã phân tích ở trên, cũng phải thấy rằng rất nhiều khả năng các sao trên có tồn tại sự sống thậm chí cả nền văn minh.


Như vậy trong số 150 tỷ sao của thiên hà chúng ta, phải có đến vài tỷ sao đủ điều kiện hình thành sự sống, trong đó chắc hẳn phải có hành tinh tồn tại nền văn minh. Năm 1960, các nàh thiên văn thế giới đã tiến hành kế hoạch nghiên cứu Ozma. Họ dùng kính viễn vọng vô tuyến đường kính 26m chĩa về phía 2 sao phát sáng cách Mặt Trời 10,8 và11,8 năm ánh sáng. Các nhà thiên văn đã dùng hơn 400giờ quan sát hai sao này với hivọng có thể tìm thấy một dấu hiệu của nền văn minh phát đến Trái Đất. Đây là sáng kiến đầu tiên của nhân loại với hi vọng tìm thấy một sự sống ngoài Trái Đất.
Năm 1978, các nhà thiên văn dadũng giàn kính viễn vọng vô tuyến đường kính 300m quan sát 200 sao phát sáng kiểu Mặt Trời cách Trái Đất 80 năm ánh sáng với hi vọng tìm được một dấu hiệu của nền văn minh ngoài vũ trụ. Nhờ kính viễn vọng vô tuyến có thể quan sát được những khoảng vũ trụ không thể thấy bằng kính viễn vọng bình thường, mọi điều kiện thời tiết như mây, mưa, tuyết... đều không cản trở được tầm nhìn của kính này.
Trong suốt mấy chục năm qua, các cuộc quan sát như vậy được tổ chức rất nhiều lần nhưng đến nay vẫn chưa mang lại một kết quả nào. Có thể tín hiệu từ các nền văn minh khác phát đến chúng ta còn quá yếu ớt, cần có những kính viễn vọng vô tuyến hoàn hảo hơn, nhạy cảm hơn mà hiện nay loài người chưa chế tạo được để nhận những tín hiệu yếu ớt này.
Con người đã dùng kính viễn vọng vô tuyến ở đài thiên văn Aresibo để phát một thông điệp ghi bằng mã các đặc điểm của hệ Mặt Trời, cấu trúc ADN, một phân tử gen di truyền và một hình người. Cụm sao nơi tín hiệu này sẽ truyền đến là một nhóm sao già hơn 100ngàn sao nên có nhiều khả năng tồn tại một nền văn minh có trình độ khoa học kĩ thuật đủ để trả lời các tín hiệu này. Thông điệp được truyền đi với tốc độ ánh sáng, và với khoảng cách từ Trái Đất đến cụm sao nói trên, con người Trái Đất cần đợi ít nhất là 50 ngàn năm để có câu trả lời.
Những sao được chọn để quan sát là loại sao có tuổi bằng hệ Mặt Trời (hơn 5 tỷ năm) hoặc già hơn để sự sống đủ khả năng phát triển đến mức cao ít nhất là bằng trình độ khoa học kĩ thuật của loài người trên Trái Đất. Trong những năm 2000-2001, NASA đã cho tiến hành đề án mang tên HRMS (Hight Revolution Microwave Survey) gồm hai giai đoạn. Giai đoạn đầu sử dụng những kính viễn vọng vô tuyến cỡ lớn (đường kính 42-300m) và một máy thu có 2 tỷ kênh. Chương trình quan sát chỉ giới hạn trong 1000 hệ sao thuộc loại Mặt Trời. Giai đoạn hai được mở rộng ra khắp bầu trời, dùng một ăng ten đường kính 34m. Kinh phí hàng năm cho công trình này là 10triệu USD. Nhiều nhà khoa học cho rằng công trình này quá lãng phí và nan giải. Họ đề nghị xúc tiến việc phát hiện những hành tinh ngoài hệ Mặt Trời. Sau hơn một năm hoạt động, thượng nghị viện Mĩ đã quyết định rằng NASA phải ngừng cấp kinh phí cho chương trình nghiên cứu HRMS. Nhưng sau đó, các nhà khoa học hoạt động trong chương trình này đã tìm thêm được một phần kinh phí để tiếp tục nghiên cứu.
Vậy thì những cơ sở nào cho phép khẳng định sự sống tồn tại trong vũ trụ? Số lượng các nền văn minh trong thiên hà theo Drake phụ thuộc vào các yếu tố:


1-Tỉ số sinh sản của sao trong thiên hà
2-Số sao loại Mặt Trời có khả năng có hành tinh
3-Số hành tinh trong những hệ sao trên có môi trường thích hợp với môi trường sống của sinh vật. Hành tinh có nhiệt độ ôn hoà, khối lượng đủ lớn.
4-Phần những hành tinh có khả năng có sinh vật trong đó sự sống được phát triển thực sự. Thành phần khí quyển là quan trọng.
5-Phần những hành tinh trong đó có nền văn minh phát triển.
6-Phần những xã hội văn minh có khả năng giao tiếp với những nền văn minh khác
7-Tuổi thọ của nền văn minh đó

Các yếu tố trên không xác định nên số lượng các hành tinh có khả năng tồn tại sự sống nằm giữa 1 và 10tỷ. Có ý kiến cho rằng nếu con số có thể lớn đến thế thì Trái Đất đã bị những nền văn minh phát triển hơn xâm chiếm từ lâu. Cũng có ý kiến cho rằng sự sống nảy nở cùng một lúc cách đây 4 tỷ năm trong tất cả các thiên hà khác, nhất là trên những hành tinh có điều kiện về lí hoá thích hợp cho sinh vật. Tuy nhiên quá trình phát triển của nề văn minh là khác nhau nên có thể trình độ khoa học kĩ thuật là khác nhau.



Các loại người ngoài Trái Đất:

Qua một số lớn chứng kiến đã thu thập được, theo tổng hợp của tất cả các kiểm tra có xem xét từ trước tới nay, có thể phân biệt được những người ngoài Trái Đất đã được biết thành 4 loại sau đây:

*Những người lùn
*Những người Mông gôn
*Những người có móng nhọn
*Những người bay

1-Người lùn
Dáng vóc của những người này thay đổi từ 0,90m đến 1,35m. Họ có một cái đầu lớn so với sự nhỏ bé của cơ thể. Trán của họ to và dô ra. Họ không có tai hay ít nhất là tai của họ nhỏ đến mức không thể trông thấy được.
Sự cố định của thigiạc và vành mắt của họ hình như tỏ ra một sự không có cảm giác hoàn toàn với ánh sáng. Mũi của họ giống như mũi người thường, ngoài ra trong một số trường hợp, các nhân chứng cho rằng mũi của họ được cấu tạo bởi hai vạch trên mặt của họ. Miệng của họ xuất hiện như một chỗ hở có môi hoặc như một cái lỗ hoàn toàn tròn và nhăn lạ lùng. Hàm của họ teo đến tối thiểu, có hình dáng nhọn.
Còn về tay, tay của họ rất dài. Họ có cổ ngắn hay dường như không có theo những chứng kiến khác nhau. Trái lại, vai của họ rộng và rất khoẻ.
Về cách ăn mặc, các nhân chứng miêu tả lại họ thường mặc bộ áo liền quần kim loại hoặc là một bộ đồ lặn.
Hình như một nhóm cá thể thuộc giống người này đã được quan sat: giống người dị dạng. Những người này hình như không có tất cả sự đối xứng hai bên. Phần bên trái cơ thể họ hình như lớn hơn phần bên phải.

2-Người Mông gôn
Vóc người thay đổi từ 1,2 đến 1,8 met. Nói chung, các bộ phận khác nhau của cơ thể họ cân đối nhau. Người ta không nhận được ở họ một sự dị dạng nào rõ ràng. Hình thái của họ về mọi phương diệ dường như hoàn toàn giống như người bình thường. Theo những chứng kiến, họ có nước da sẫm, bị cháy mạnh.
Một chứng kiến quan trọng là của ông Marius Denilde. Sau khi đã quan sát một con người nư thế bước ra từ một thiết bị đậu gần nhà ông ngày 10 tháng10 năm 1954, ông đã tả: "Con người mà tôi có thể quan sát mang một cái mũ mềm , trong suốt. Dưới cái mũ mặc dù trời tối tôi có thể thấy mặt nó, tai và cả tóc của nó".
"Con người đó có dạng người châu Á, một nét mặt rõ ràng Mông gôn. Cằm của nó khẻo, gò má cao dô lên, những lông mi đen, mắt nâu và nhọn. Nó có nước da mờ, cháy.".
Những người loại này mặc bộ áo liền quần đúc, giống như bộ áo quần du hành vũ trụ.
Theo tổng hợp thì chính loại người này là loại được trông thấy nhiều nhất trong số các loại người vũ trụ.

3-Người có móng nhọn
Những người này thực tế không thấy lại nữa từ làn sóng đầu tiên về những người ngoài hành tinh những năm 1950. Người ta thấy giống người này ở Nam Mĩ, đặc biệt ở Venezuela.
Nói chung, những nhân chứng mô tả họ hoàn toàn trần trụi, không mặc quần áo gì cả và có vóc dáng thay đổi từ 0,60 đến 2,10m. Những con mắt của họ có màu da cam trên nền vàng.Tay họ đặc biệt dài, không cân xứng với thân hình, có những móng nhọn ở tay.
Ngày 28 tháng 11 năm 1958, những người ngoài ngoài quả đất loại này đã được quan sát bởi những người làm đường ở Caracas, sau khi một đĩa bay sáng khổng lồ đổ bộ. Các nhân chứng thấy đó là một người lùn có tóc, đặc biệt nhiều lông. Người ngoài Trái Đất đi về phía những người làm đường. Một trong hai người làm đường nhảy chồm lên mình người này để bắt lấy nó. Một cuộc chiến giữa người Trái Đất và người vũ trụ. Cuối cùng, người lùn đánh ngã được người làm đường rồi bỏ chạy về nơi chiếc phi thuyền đang đậu.
Ở đó có những người lạ khác bước ra để cứu giúp bạn mình. Sau đó họ biến mất trên vật thể đã đưa họ đến. Người làm đường phát hiện ra rằng trên tay của người lùn kia có nhiều móng tay nhọn và các ngón tay của nó có màng.
Những đề tài như vậy còn được báo hiệu ở Mĩ latin, đặc biệt ngày 10 tháng 12 năm 1954 ở Chico và sau đó là ngày 16 tháng 12 năm 1954 ở San-Carlos
So sánh với hai loài người trên, hình như loài người thứ ba này là loài hiếu chiến, có vẻ như chúng có thù hận gì với loài người. Tuy nhiên từ năm 1954 không còn có một lần nào xuất hiện loại người này nữa.

4-Người bay
Ngày 22 tháng 2 năm 1922, lúc 15h. Ông Wiliam C.Lamz đang đi săn trong rừng. Tự nhiên lúc đó, sau khi nghe một tiếng kêu đanh, ông thấy một vật thể hình cầu đổ bộ cách ông 20m. Một vài giây sau, ông thấy một người vũ trụ cao khoảng 24m bay về phía vật thể.
Ngày 18/6/1958 ở Houston khoảng 14h30, ông Houards Phillips và các cô Hida Walker và Judeys Meyers trong lúc dạo chơi trong vườn của họ ở 11 East Third Street đột nhiên thấy một người đội mũ bay trước mặt họ.
Ngày 11/1/1967 ở Peint Pleasaut Virgime- mĩ, cô Mae Daniel ra khỏi nhà để đi học thì bỗng nhiên, ở phía bên phải, cô thấy một loại máy bay nhỏ đang bay trên đường ngay trên các cây. Khi vật thể đến gần, cô cho rằng đó là một người có trang bị cánh trên lưng.
Ngày 26/8/1967, tại Maturin, Venezuela, ông Salki Macharechi theo dõi một vật thể bay. Trước hết ông nghĩ đó là một con cò hoang. Vật thể này hạ xuống một cái cầu. Nhân chứng lúc này nhận thấy đó là một người lùn cao khoảng 1m và có những con mắt rất lớn.
Ngày 1/10/1967 tại Dunkan- Oklahoma, khoảng 22h, những xe ô tô đang chạy trên quốc lộ 7 về hướng đông. Bỗng nhiên họ nhận thấy 3 cá thể lạ trên lề đường. Những cá thể đó mang một áo xanh liền quần bóng láng. Mặt họ giống như người thường nhưng có những lỗ tai rất lớn. Khi xe đến gần, họ bay lên và biến mất.

Vua Quang trung và chiếc áo bào bí ẩn

VUA QUANG TRUNG
VÀ CHIẾC HOÀNG BÀO BÍ ẨN

HỒ VĂN QUANG

Hơn hai thế kỷ qua, nhiều sử gia, nhiều học giả đã từng tốn nhiều công sức trong việc nghiên cứu của mình, nhằm tìm hiểu đâu chính là sự thật về lần vĩnh biệt của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ vua Quang Trung, vị Ðại Ðế đã làm rạng rỡ cho cơ đồ Việt Nam! Chuyện tức tưởi bước vào cõi vĩnh hằng không phải chỉ dành riêng với cá nhân ông ta mà còn là sự uất ức chung cho cả dân tộc Việt Nam ta. Do đó, vấn đề bàn cãi đâu là nguyên do chính đáng nhất của nó vẫn còn bao trùm bởi chiếc màn dày đặc của sự bí mật. Nếu ai đó đưa ra cân trả lời để kết luận "Nhà vua chết vì bệnh." thì chúng ta khỏi nói thêm nữa... Hiện tại, người viết bài này chỉ biết kiểm nghiệm lại những gì có trong tài liệu sưu tầm được, để gọi là phần nào đó, ghi góp thêm cho cách giải đáp "thắc mắc" thôi.

Chuyện "Chiếc áo ấm" mà Càn Long (vua Thanh) cẩn tặng vua Quang Trung để mặc lúc ngự hàn, là một nghi vấn nằm trong những nghi vấn khác mang tính: "khó tin nhưng có thật", vì chỉ có nó mới có thể nói lên cả một kế hoạch lâu dài của các nhà "lý số" Tàu dưới triều Càn Long quyết hại chết vua ta, để trừ mọi hậu hoạn nơi bờ cõi phương Nam của họ.

Sách "Ngụy Tây Liệt Truyện" của bộ sử ký "Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện", quyển 30 trang 42, các sử quan triều Nguyễn ghi như sau:

"...Một hôm về chiều, Quang Trung đang ngồi, bỗng xây xẩm tối tăm, thấy một ông già đầu bạc từ trên trời xuống, mặc áo trắng, cầm gậy sắt mắng rằng: Ông cha ngươi sống ở đất của Chúa, đời đời làm dân của Chúa, Ngươi sao dám phạm đến lăng tẩm?

Rồi lấy gậy đánh vào trán, Quang Trung mê man ngã xuống, bất tỉnh nhân sự, lâu lắm. Lúc tỉnh dậy nhà vua đem việc ấy nói với quan trung thư Trần Văn Kỷ. Từ đó bịnh chuyển nặng mới triệu quan trấn thủ Nghệ An Trần Quang Diệu về bàn bạc để dời đô ra đó. Thương nghị chưa xong thì Thế Tổ ta đã lấy lại được Gia Ðịnh, chiếm Bình Thuận, Bình Khang, Diên Khánh, thanh thế chấn động.

Quang Trung nghe được lo buồn, bịnh ngày càng kịch liệt..."

Ðọc những trang sử này, chúng ta có thể hiểu được ý chính của các sử quan triều Nguyễn, họ muốn dựng lên một huyền thoại, nhằm thóa mạ vua Quang Trung. Dụng ý chính ở đây là để ghép tội, và chứng minh rằng vua Tây Sơn là người:

* Vô đạo và tàn bạo
* Tiếm đoạt thành Phú Xuân, xâm phạm lăng tẩm các Chúa Nguyễn nên bị tổ tiên các Chúa Nguyễn trừng phạt
* Vì đang bệnh mà vua Quang Trung còn phải lo lắng thêm việc con cháu Chúa Nguyễn phục thù, đang chiến thắng tại nhiều nơi, lấn chiếm dần các phần đất phía Nam... và lãnh thổ Tây Sơn ngày một thu hẹp lại. Do đó, nhất định bệnh tình nhà vua ngày một nặng thêm, và rồi nhất định phải chết.

Dầu có nói gì chăng nữa, họ cũng không thể che giấu hành vi trả thù, một sự trả thù dã man, tàn bạo đối với một triều đại từng làm cho họ xích bích xang bang, sống trong tan tác, cơ hồ như bị hủy diệt luôn. Cho nên khi chiến thắng rồi, họ quên bẵng thời điểm lịch sử 1792 (năm vua Quang Trung mất), tình thế chiến trường đem ra so sánh, binh đội phe Nguyễn Ánh chỉ là một nhóm người nhỏ lẻ tẻ, ô hợp, chưa đủ khả năng chống chọi với đại binh Tây Sơn.

Sách "Ðại Nam Thực Lục Chính Biên", là bộ sách sử tuy được cả triều Nguyễn ca tụng, nhưng phần "Ðệ Nhất Kỷ" cũng phải ghi:

"Tháng 3 năm Nhâm Tý (1792) nhân khi gió Nồm thổi, Nguyễn vương sai tướng là Nguyễn Văn Trương cùng Nguyễn Văn Thành đem chiến thuyền từ cửa Cần Giờ ra đốt phá thủy trại Tây Sơn ở của Thị Nại (Quy Nhơn) rồi rút lui về. Khi lui về Nam, Nguyễn Ánh có ý định chiếm Phan Rang, Phan Rí... nhưng cuối cùng Nguyễn Ánh thấy chống không nổi, phải cho rút quân về lại Gia Ðịnh".

Như vậy, giai đoạn từ mùa hè 1792 trở về trước, Nguyễn Ánh đã không thể có mặt trên đất miền Trung, mà phải lo cố thủ Gia Ðịnh, có nghĩa là triều đại Tây Sơn vẫn còn cai quản phần đất từ Gia Ðịnh trở ra Bắc và chính lúc bình yên trên phần đất cai quản của mình như thế này, vua Quang Trung bị bệnh, rồi sau đó băng hà. Không giống như nội dung đoạn sử trên mô tả:

* Về tính huyền thoại huyễn hoặc: bị ông tiên nào đó đánh cho một gậy để phải lâm bệnh
* Về mặt thực tế cụ thể: như lo âu mất đất và bị thua trên chiến trường...

Chính hai lý do này đã khiến vua Quang Trung buồn phiền, rồi bệnh nặng mà băng hà?

Thực ra, từ năm 1787 trở đi, vua Quang Trung bận rộn rất nhiều về chuyện nội trị, phần khác cần đối phó loạn lạc tại Bắc Hà! Riêng phía Nam, cũng có chuyện cần cấp giải quyết, vì sự cai quản non kém của Ðông Ðịnh Vương Nguyễn Lữ, tạo điều kiện thuận lợi để Nguyễn Ánh chiếm lại Gia Ðịnh. Và cũng nhờ vào sự bận rộn này mà bắt đầu từ năm 1787 cho đến năm 1792, Nguyễn Ánh mới có cơ hội chiếm lại rồi củng cố thành Gia Ðịnh. Mãi tới tháng 5 năm 1790, Nguyễn Ánh cho Lê Văn Câu (có sách ghi là Lê Văn Quân, một đại công thần, có thứ bậc trên cả Võ Tánh, Nguyễn Văn Thành) đem quân ra đánh chiếm Bình Thuận. Chưa đầy một tháng sau đó, Tây Sơn phản công, quân lính Câu tan tác, phải cấp báo về Gia Ðịnh xin Nguyễn Ánh cho viện binh. Ánh không chấp thuận trong tình thế nguy cấp này, Nguyễn Văn Câu đành rút chạy về Phan Rí, quân binh Tây Sơn tiếp tục truy kích, Câu phải chạy thẳng về Gia Ðịnh...

Trước một bại tướng từng sống chết với mình, Nguyễn Ánh không những không tìm cách che chở, bảo bọc, mà còn tỏ ra không thương tiếc, nhất định nghị tội, bãi chức... Quá uất ức, Câu đành uống thuốc độc, kết liễu đời mình. Thương thay cho một vị đại tướng tìm lầm chúa thờ!

Trở lại cái chết của vua Quang Trung, chúng ta không nhìn nội dung trên ở khía cạnh mạ lỵ cá nhân, mà trên sự kiện nguyên do cái chết. Từ đó chúng ta cũng có thể kết luận họ đã xác nhận vua Quang Trung chết vì bệnh.

Ðọc sử Việt Nam, có rất nhiều cách giải thích khác về cái chết của vị anh hùng dân tộc của chúng ta, nhưng không mấy hấp dẫn. Do đó, người viết phải tìm thấy thêm trong "Ðại Thanh Thực Lục" và "Ðông Hoa Toàn Lục" (Sử Trung Quốc) ghi rằng:"Năm Càn Long thứ 58 (vào tháng 1 năm 1793), Quách Thế Huân khấu báo lên Càn Long là An Nam quốc vương Quang Trung đã chết vì bệnh".Càn Long, hơi giật mình rồi như đang suy nghiệm một điều gì có thể đúng với dự tính trước đó của ông ta... Phải chăng, vua Thanh đã biết trước được một chuyện gì chăng về cái phải xảy ra với vua Quang Trung? Theo hắn ta phải sớm hơn... (vì khoảng sáu tháng sau ngày vua Quang Trung băng hà, Càn Long mới biết tin). Tại Bắc kinh, trước lúc đó, Vũ Văn Dũng được tin mật, vị trưởng đoàn sứ thần này xỉu đi... Khi tỉnh lại, liền gấp rút từ tạ vua Thanh mà trở về Phú Xuân ngay. Chính sự đau đớn này, Vũ Văn Dũng đã làm bài thơ (Tập san sử địa số 9, Sai Gòn 1968, trang 154):

"Bố y phấn tích ngũ niên phong
Mai cổ thi vi tự bất đồng
Thiên vị Ngô Hoàng tăng nhất kỷ
Bất ư Ðường, Tống thuyết anh hùng".

Tạm dịch:

Năm năm dựng nghiệp tự thân nông
Thời trước thời sau có mấy ông?
Có thương, trời cho mươi năm nữa,
Anh hùng Ðường, Tống khó so công!

Vua Quang Trung mất vào mùa Thu 1792, nửa năm sau Mãn Thanh mới biết, và cho người sang báo tang. Sự chậm trễ này không phải do Quách Thế Trung, mà chính do sự sắp đặt của hoàng triều Phú Xuân muốn làm vậy. Trong "Ðông Hoa Toàn Lục", quyển 117, trang 5s, đã ghi lại ý trách móc của Càn Long:

"Quốc Vương Nguyễn Quang Bình đã mất ở Nghệ An vào tháng 9 năm ngoái. Vua Càn Long liền quở trách người đưa tin như thế là quá chậm, chắc bây giờ đã tống táng rồi".

Sự việc rõ ràng bên trong có dụng ý riêng, vì không phải báo về cái chết của Nguyễn Quang Bình chậm, mà còn sai chỗ nữa (Phú Xuân chứ không phải Nghệ An). Mặt khác, Phú Xuân còn cho làm mộ giả của vua bên Hồ Tây để đón sứ thần Mãn Thanh sang phúng điếu. Sứ Thanh đến, muốn vào thăm Phú Xuân, triều thần Tây Sơn nhất định không cho, còn tìm mọi cách đánh lạc hướng như dẫn họ lên tận Sơn Tây, khi sứ Thanh phát hiện, triều thần Tây Sơn mới chịu dẫn họ trở lại, nhưng chỉ dừng ở Thăng Long mà thôi.

Những việc nhà Thanh làm rất mâu thuẫn và bí mật, nhất là việc đòi phải vào đến tận Phú Xuân xem xét... Năm 1789, chính Thành Lâm không chịu vào Phú Xuân để phong vương cho vua Quang Trung (lần đầu sau khi Phạm Công Trị đóng vua Quang Trung giả), mà chỉ tại Thăng Long, viện lý do không được trái lệ thường (Các triều đại trước mỗi khi Trung Hoa cho sứ sang nước ta làm lễ phong vương, đều thực hiện tại Thăng Long theo qui lệ của các vua Trung Hoa), nhưng lần này lại đòi vào tận Phú Xuân để điếu tang. Tại sao triều thần Tây Sơn không cho Thành lâm vào Phú Xuân? Cũng như vua Quang Trung luôn cho người giả mình để tiếp xúc với nhà Thanh? Tất cả mọi nghi vấn như thế này chỉ có vua Quang Trung và các cận thần của ông ta mới biết! Ngày nay, chúng ta sao có thể suy đoán rằng: triều thần Tây sơn sợ các thầy địa lý Tàu ếm bùa ếm ngãi nơi mộ vua Quang Trung!(?). Giai đoạn xã hội lúc đó, chuyện xảy ra như thế này không phải là không có. Triều thần Tây Sơn làm sao lường trước chuyện rửa nhục "thất trận Xuân Kỷ Dậu"? (Vào cuối năm 1788, Tôn Sĩ Nghị ngày nào cũng cấp báo tin thắng trận, vua Càn Long vô cùng mừng rỡ, tiệc mừng được liên tiếp tổ chức, ba quân luôn được cất nhắc thăng thưởng (tăng thêm một tháng lương cho đội quân viễn chinh dùng để ăn tết trên xứ Nam). Chính Càn Long đã chọn ngày mồng 5 Tết làm ngày "Hội mừng công, bình định đương An Nam", các Ðại thần, các Ðại học sĩ, các Văn nhân, quan chức phải tề tựu về kinh đô (Bắc Kinh) cùng nhau xướng họa, bình phẩm, gọi là chúc mừng thọ nhân buổi đầu năm lên vua. Thực ra, đây là việc mừng chiến thắng bình định phương Nam. Nhưng, ngày mồng 5 đã làm họ ê chề đau đớn, vì họ không có thắng lợi, mà ngược lại đã bị vua Quang Trung xóa sổ 29 vạn quân xâm lược tinh nhuệ ngay trên đất Thăng Long! Tàn quân Thanh khi chạy về lại nước mình, chỉ còn vỏn vẹn 5.500 người mà đa số đều bị sứt tay gãy gọng! Thật đột ngột, thật bất ngờ, và cũng thật đau đớn nữa... Trước tin này, Càn Long vẫn bình tĩnh, ra lệnh chiêu an Tôn Sĩ Nghị, ghép tội cho Lê Chiêu Thống... Sự thật thế nào cũng phải phơi bày, nên về sau, Càn Long biết được lỗi lầm do Tôn Sĩ Nghị gây nên, mới xuống chiếu nghiêm trị, bãi chức họ Tôn, cho Phúc Khang An thay thế làm lưỡng Quảng Tổng Ðốc, cầm giữ 50 vạn quân để bảo vệ biên giới tiếp giáp với An Nam. Trước tình hình như thế này, vua Quang Trung nhất định không thể khinh xuất, đã phải cùng triều thần nghị bàn quyết định dùng ngoại giao để giải quyết cuộc chiến đầy thầm lặng này.

Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện, quyển 30, trang 36s, ghi lại bức thư của Thang Hùng Nghiệp (quan đạo Tả Giang) viết cho vua Quang Trung như sau:

"Lê Duy Kỳ đã trốn ra khỏi nước, thiên triều không ủng hộ cho y làm vua nước Nam nữa. Vậy trong khi chưa có người đến gõ cửa quan xin thụ phong, thì "Người" nên đến sớm để được đặc ân...".

Cơ hội hòa hoãn với Thanh triều coi như đã nắm chắc trong tay, vua Quang Trung liền cho đòi Ngô Thời Nhiệm vào chầu, giao cho nhiệm vụ thảo thư trả lời vua Thanh.

Cũng trong sách này, quyển 30, trang 136b, 37a, có viết lại lời Phúc An Khang nói về tình hình sau vụ Xuân Kỷ Dậu:

"...đã chính thấy mắt Nghị trơ trọi một mình chạy về. Sau đó, tai hại được nghe thanh thế của vua Quang Trung nên trong bụng không khỏi rụt rè, lo sợ... bèn nói nhỏ với viên thuộc quan rằng: Nam - Bắc thôi việc binh đao đó là phúc của sinh dân, mà là điều may mắn cho quân ở ngoài bờ cõi. Ta nghe nói viên quan coi việc giấy tờ của nước Nam tên là Ngô Thì Nhậm, bao nhiêu thư từ, từ trước đến nay đều do tay y mà ra. Vậy ngươi nên viết thư trả lời, bảo y chuyên tâm chủ trương việc giảng hòa, gấp rút viết tờ biểu tạ tội đưa sang, ta sẽ ở trong giúp đỡ cho, việc ấy thế nào cũng xong..."

Vua Quang Trung xuống chỉ bảo Hồ Hổ hầu làm chính sứ sang Trung Hoa, trực tiếp gặp Thang Hùng Nghiệp. Nội dung tờ biểu đã nói lên được tính nhún nhường, kèm theo sự giải thích rõ ràng lý do phế bỏ Lê Chiêu Thống. Riêng việc va chạm với binh đội thiên triều, thì đây chẳng qua là cách đối xử quá vụng về của Tôn Sĩ Nghị mà thôi. Trong đoạn chót, nội dung thư, tỏ ra cứng rắn, không chịu lép vế, có đoạn rất đanh thép, mỉa mai, hăm dọa (Sách vừa dẫn cùng trang):

"...Tôn Sĩ Nghị lấy địa vị đại thần ở biên cương, lại vì tiền hay vì gái mà đem tờ biểu chương của thần xé ném xuống đất, làm nhục sứ giả, ý muốn động binh dấy quân, không biết việc đó quả do Ðại Hoàng Ðế sai khiến hay do Tôn Sĩ Nghị? Thử hỏi vì một người đàn bà sai khiến mong lập công ở biên cương mà cầu lợi lớn có đáng mặt quân tử không?..."

Trong phần cuối thư Ngô Thời Nhiệm còn nhấn mạnh:

"...nay đường đường là triều đình thiên tử, lại đi so hơn thua với một nước rợ nhỏ, ắt là muốn cùng khốn binh sĩ, lạm dụng vũ lực hầu sướng khoái cái lòng tham lam tàn bạo, thì chắc lòng dạ của Thánh Thượng cũng không nhẫn. Còn nếu như cứ chiến tranh kéo dài, tính thế đến nỗi nào thì thật không phải do thần muốn, mà thần cũng không dám nói trước rồi tình thế sẽ đi đến đâu..."

Ðọc xong thơ, Thang Hùng Nghiệp run sợ, nhưng vẫn cố giữ thái độ thật ôn hòa, bình tĩnh nói với Hồ Hổ hầu rằng:

"...nay không phải là lúc hai nước đánh nhau, sao lại hành sự toàn một giọng giận dữ? Nói như thế là để cần phong vương hay muốn gây rối can qua chăng?..."

Ðối với chuyện này, Thang Hùng Nghiệp thật dở khóc dở cười, không biết phải làm thế nào, thủ tiêu ngay lá thơ thì không dám mà trình lên Càn Long thì lại càng không dám hơn. Sự việc mà đổ bể, Thang Hùng Nghiệp sẽ mất hết lòng tin của Càn Long đối với Y. Do vậy, từ đó về sau, mọi giao thiệp với Ðại Nam đều về một tay Phúc Khang An bưng bít lo liệu.

Chuyện ngoai giao giữa hai nước kể từ đó mỗi ngày một mật thiết hơn. Tháng 11 năm 1789, khi đọc tờ biểu của Tôn Vĩnh Thanh, nói về kết quả công việc Thành Lâm sang Thăng Long phong vương cho Nguyễn Quang Bình, Càn Long chỉ thị ngay cho Tôn Vĩnh Thanh (Ðại Thanh Thực Lục, quyển 1342, trang 17a):

"Trẫm xét Thành Lâm sang Thăng Long tuyên phong, tất chắc mục kích được quốc vương và phong thổ nước ấy, Trẫm muốn đích thân xét hỏi viên quan ấy sẽ được rõ ràng hơn là lời tâu của Tôn Vĩnh Thanh, phải cho ngay Thành Lâm tiến kinh, để Trẫm hỏi..."

Sứ Thanh - Thành Lâm, trong chuyến sang nước Nam phong vương, vua Càn Long có gởi tặng vua Quang Trung một chiếc áo choàng màu, trên đó thêu 7 chữ:

"Xa Tâm Chiết Trục Ða Ðiền Thử"

Và kèm theo một bài thơ trong đó có câu:

"Phát Dị Nam Bang Y Dữ Quan" (Mũ áo không khác gì người nước Nam).

Lúc đó không ai có thể hiểu được nội dung "7 đại tự" thêu trong chiếc áo, mang ý gì... Năm 1792, sau khi vua Quang Trung băng hà, Càn Long lại làm thêm một bài thơ khác nhắc lại, ở câu thứ 7 với 7 chữ:

"Thất Tự Bất Năng Bãi Ai Thuật"

(ý nói: 7 chữ không dứt được niềm xót xa của Trẫm)

Và câu:"Trung Thu Thượng Ức Y Quan Túc"

(Trong mùa Thu trước Trẫm nhớ Quốc vương đã có áo mão đoan trang), và thêm câu:

"Hoài Nghi Kham Tiếu Ðại Kim Nhân"

(Hoài nghi và đáng cười việc triều trước bắt phải làm việc cống người vàng để thay thế).

Cái ái ngại và lo lắng nhất khi vua Quang Trung còn tại vị, là Càn Long vẫn cứ đòi gặp cho bằng được con người bằng xương bằng thịt của Nguyễn Quang Bình? Chuyện bí mật vẫn chưa ai có thể khám phá ra vua Thanh có hàm ý gì trong "chiếc áo tặng"? Nội dung lời thơ? Tại sao "7 chữ" đó lại không nói hết được nỗi xót xa?... Tặng "chiếc áo" chắc có lý do "đặc biệt" bên trong, nên Càn Long mới nhắc đi nhắc lại mãi?... Phải chăng triều Minh đòi vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) cống "người vàng", thì triều Thanh đòi vua Quang Trung cống "người thật"? Vua Càn Long cho vẽ truyền thần Quang Trung (Phạm Công Trị 1790) có mưu mô gì? Có thể Càn Long đã biết người được vẽ hình không phải là Quang Trung thật? Ngược lại, Quang Trung giả xin một bức chân dung của Càn Long thì lại không được?... (bài biểu của sứ đoàn nước Nam nộp cho Phúc Khang An để trình lên Càn Long: "Nay hạ thần muốn xin một bức chân dung của Hoàng Ðế để mang về nước, kính cẩn cung phụng ở điện Kính Thiên").

Trên thực tế, Mãn Thanh, không hề đặt điều kiện tiền bạc cho sự bang giao giữa 2 nước. Không những bãi bỏ lệ cống người vàng mà còn chịu chi phí rộng rãi, nồng hậu mọi khoản tiếp đón cho cả đoàn sứ thần nước Nam cả chuyến đi lẫn chuyến về. Nhất định không thể sai lầm khi có nhận định rằng ở đằng sau bộ mặt dễ thương đầy vẻ hiếu hòa kia, sẽ có một âm mưu gì thật đáng sợ? Trả thù? Càn Long đang ráo riết thi hành một kế hoạch, và chưa có cơ hội bộc lộ ra bên ngoài?...

Mùa Thu 1792, vua Quang Trung băng hà, triều thần Tây Sơn mới có thể khám phá ra được ý nghĩa của "7 đại tự" kim tuyến thêu trong "chiếc áo" tai ác kia!Theo cách chiết tự và diễn nghĩa từ 7 chữ "Xa Tâm Chiết Trục Ða Ðiền Thử" đã có ý nói rõ: Nguyễn Huệ chết vào năm Tý. Vì chữ "Xa" và chữ "Tâm" đem ghép lại là chữ "Huệ"; "Chiết Trục" là gẫy trục; "Thử" là chuột mà chuột là "Tý", hay năm Tý... Như thế, phải chăng từ năm 1790 trở về trước, Càn Long đã đoán được số mạng của vua Quang Trung sẽ mất vào năm Tý? Chúng ta có thể đưa ra hai cách suy nghĩ để lý giải lập luận này:

1).- Càn Long là một vị vua giỏi nhất, thông minh nhất của Thanh Triều, như thế về thuật số, bấm độn, tính quẻ, ông ta không thể không tinh thông.

2).- Chính Càn Long là người có âm mưu và dự mưu giết cá nhân vua Quang Trung từ lâu, và đã dùng thuật số ếm vào chiếc áo bào, hay gài độc vào 7 đại tự kim tuyến để vua Quang Trung khi mặc vào sẽ bị chất độc khuếch tán từ từ.

Cho đến hôm nay, đối với việc ra đi của vua Quang Trung vẫn còn là chuyện bí mật, chưa một ai có thể giải đáp được những câu hỏi: "Tại sao nhà vua lại chết vào lúc tuổi đời đang sung mãn (đang đi vào độ tuổi 40), công danh, thắng lợi cứ dồn dập ập đến? Nhà vua đã chết vì bệnh? Hay chết vì bị đầu độc, bị ếm bùa ngãi của Càn Long? Và cũng có thể chết vì bức chân dung của Phạm Công Trị vẽ bằng một loại mực có pha hóa chất cực độc cộng thêm việc dùng bùa chú ếm vào chân dung đó? Hay chết vì những hoạt động tình báo của đối phương? (kẻ thù gài điệp viên vào cạnh bệ rồng? Cũng có thể là sự trả thù của con cháu nhà Lê? Của Nguyễn Ánh? Và cũng có thể là do đoàn sứ bộ của Thành Lâm (Thành Lâm là một người rất giỏi thuật số hồi ấy)? Sau cùng cũng có thể là sự ám hại từ phía Nguyễn Nhạc?..." Tất cả những câu hỏi trên đều phát xuất từ các giả thuyết của một vấn đề: "Cái chết của vua Quang Trung". Rốt cuộc, những nhà nghiên cứu chỉ có thể kết luận:

"Ông ta chết vì bệnh"!

Thật đơn giản, bị bệnh mà không chữa trị đúng cách, dĩ nhiên chỉ có chết! Không thể có một ai bài bác nổi lập luận này!

Tình hình chính trị xã hội ở giai đoạn cuối thế kỷ 18 của nước ta thật quá nhiều biến động. Sự xôn xao không những xảy ra ngay trong cung đình mà ngay cả trong dân gian... Bởi vậy theo sau một vấn đề chính thường được gài thêm những chuyện phụ, nhằm tô vẽ cho sự phát triển giáo phái "Thần quyền" của những kẻ lãnh đạo phong kiến...

Làm sao ngày nay chúng ta không thể không hoài nghi về các tài liệu để lại? Cũng cùng trong một thời gian lịch sử, lại mang nội dung trái ngược nhau?

Chúng ta có thể tin tưởng ngày chết của một người phải đúng vào ngày giỗ hàng năm do con cháu dựng ra để tưởng niệm. Nhưng, cũng có thể vì một lý do an nguy nào đó, mà con cháu nhất định chọn ngày khác, trùng với ngày qui tiên của người trưởng tộc của họ? Ðây cũng là cách giải quyết mang tính tục lệ của người Việt Nam chúng ta. Ngày vĩnh biệt của vua Quang Trung có thể rơi vào tình trạng này lắm...

Trong phạm vi bài báo, chúng tôi không thể viết hết mọi chi tiết về chiếc "Hoàng Bào" của vua Quang Trung (do vua Càn Long tặng) được, xin độc giả tìm đọc thêm trong sách "Trí Thức Việt Nam Cuối Thế Kỷ 18" do tôi tự xuất bản.

HỒ VĂN QUANG
Ðặc san QUANG TRUNG Xuân Canh Thìn 2000

Nguyễn Huệ - Nguyễn Ánh cuộc trùng phùng

CUỘC TRÙNG PHÙNG

"NGUYỄN HUỆ - NGUYỄN ÁNH"

MAY MẮN HAY BẤT HẠNH CỦA LỊCH SỬ ?


NGUYỄN VĂN SA.


Lịch sử là một chuỗi sự kiện phản ảnh quá trình tiến hóa để tồn tại của dân tộc trên nhiều lãnh vực.

Đặc biệt, không ít những sự kiện còn in đậm dấu ấn của những nhân vật đã góp phần chi phối mạnh mẽ đến sự thịnh suy của đất nước. Nhưng sau những thăng trầm, đâu phải lúc nào hậu thế cũng đánh giá đúng tầm vóc lịch sử cùng bản chất đời thường vốn sẵn của họ?

Do đâu vẫn còn đó trong từng trang được gọi là chính sử đôi điều đáng tiếc, nếu không bắt nguồn từ những con người trót được mệnh danh là những nhà viết sử !


SỬ GIA & SỰ KIỆN

Đã gọi là sự kiện lịch sử tất tự thân không thể có sự đổi thay, song diễn dịch chúng như thế nào điều ấy vẫn còn tùy thuộc vào quan điểm của những nhà viết sử.

Nếu nhà viết sử là công cụ của triều đại, nội dung sự kiện sẽ được nhào nặn theo chiều hướng thuận lợi cho dòng họ hay thế lực đương quyền. Họ chính thực là công thần của dòng họ vua chúa hoặc thể lực ấy chứ chưa phải là một sử gia đúng nghĩa.

Nếu viết sử chỉ để miêu tả hiện thực, người viết sử sẽ chẳng hơn kém gì một nhân viên văn thư ghi chép nhật ký hành chính, đáng trân trọng chăng về tính cần mẫn ở vị trí của một công bộc mà thôi.

Một sử gia đích thực thì khác, ngoài lòng yêu nước còn phải hội đủ những tố chất lẫn ý thức trách nhiệm khác nữa: trí phán đoán, tính khách quan, sự dũng cảm và lòng chính trực… Không chỉ chép đúng, sử gia còn phải lý giải được tính muôn mặt của mỗi sự kiện nhằm thuyết phục tầng lớp thống trị cùng lúc dẫn dụ được quãng đại quần chúng nhìn nhận vấn đề theo một ý nghĩa tích cực nhất.

Chuyện kể về Đổng Hồ nhà Tấn (Đông Chu Liệt Quốc):

"Di Cao tức Tấn Linh công vô đạo, mưu giết tướng quốc Triệu Thuẫn. Thuẫn bỏ trốn, gặp cháu là Triệu Xuyên can hãy đợi chớ đi. Liền đó, Xuyên đến Đào Viên cùng giáp sĩ giết vua. Thuẫn vốn trung nghĩa, không lấy thế làm hài lòng. Một hôm sang sử quán thấy bản thảo chép việc cũ - "Thu At Sửu, Triệu Thuẫn giết vua Di Cao ở Đào Viên" ! Thuẫn kinh hãi bảo -"Thái sử lầm rồi ! Ta đã chạy xa kinh thành hai trăm dặm khi sự thể xẩy ra, sao đổ lỗi cho ta?". Đổng Hồ nói - "Làm tướng quốc chưa ra khỏi địa giới nước nhà đã xẩy ra chuyện giết vua, lúc về lại không trị tội kẻ nghịch thần. Bảo việc này không do ngài chủ mưu thì ai tin ?". Thuẫn hỏi chữa kịp không, Hồ thưa - "Đã gọi là tín sử thì có thế nào phải chép thế đó, nên đầu tôi có thể cắt chứ không thể chữa được". Thuẫn thở dài - "Thế mới biết quyền chép sử trọng hơn quyền tướng quốc. Tiếc thay, ta chưa ra khỏi địa giới để phải chịu tiếng muôn đời !".

Đáng khen thay họ Đổng, nhưng liệu ông ta có dám quyết trong trường hợp Triệu Thuẫn là một tướng quốc bất nhẫn và việc giết một hôn quân vô đạo có hàm ý vị quốc hay tham vọng cá nhân ?

Đổng Hồ có làm sáng tỏ sự cố ấy theo tinh thần một sử gia hay chỉ hoàn thành nhiệm vụ của một viên quan chép sử ?

Phải chăng cũng bắt nguồn từ một nguyên nhân như thế mà hằng trăm năm sau, khi ấn tượng hãi hùng về những trang sử tắm máu cuối đời hai triều Lý-Trần ít nhiều phai nhạt, hậu thế mới thừa nhận tài chỉnh trị vô song của thái sư Trần Thủ Độ lẫn tính cách mạng qua những cải cách của Hồ Quý Ly, thay vì cả hai phải chịu tiếng gian hùng hay tiếm ngôi ?

Thật đáng sợ hệ quả của ý niệm "giang sơn là riêng của một dòng họ" hay "vua là con trời, dân là con đỏ" đã ăn sâu vào tiềm thức người dân qua các thời đại phong kiến. Từ đó, nẩy sinh một sự đánh giá thiên lệch về người lẫn sự kiện chỉ thuần dựa trên cảm tính và sự tồn tại bền lâu hoặc ngắn ngủi của kẻ thắng người bại, sau các cuộc mưu đồ "được vua thua giặc" ?

Thử hỏi nếu cuộc chính biến êm đềm cuối triều tiền Lê và biến cố nhằm giành ngôi báu từ Lý sang Trần (1) kéo dài chỉ với một đời Lý Công Uẩn hoặc Trần Cảnh, liệu Lý và Trần có được xem là chính thống ?

Tính chính thống do đấy vẫn còn tùy thuộc vào quá trình chứng thực sau cuộc thay ngôi đổi chủ. Liệu kẻ xưng hùng hay tiếm ngôi có củng cố được một hệ thống cầm quyền vững chắc, lập những kỳ tích ổn định và xây dựng đất nước cụ thể như triều Lý mang lại sự thịnh trị cho nhân dân hoặc nhà Trần ba lần đại phá Mông Nguyên cứu nguy dân tộc, sau khi loại bỏ hậu duệ của các tiên triều thường vốn yếu hèn và biến chất ?

Sự thành bại về mặt an sinh quả là một yếu tố quyết định. Nói cách khác công và tội của những nhân vật lịch sử, lắm lúc cần phải được thẩm xét một cách nghiêm túc và công bằng hơn.

MỘT TRƯỜNG HỢP LỊCH SỬ KHÁC THƯỜNG

Trong tinh thần ấy, chúng ta thử lần lại một trường hợp lịch sử khác thường về Thái tổ Võ hoàng đế Nguyễn Huệ và Thế tổ Cao hoàng đế Nguyễn Phúc Anh (2) nhằm tự hỏi : liệu sự đánh giá từ trước đến nay về sự nghiệp của hai nhân vật này có hoàn toàn đầy đủ và chân xác ?

Bởi tinh thần thượng tôn pháp luật vốn không cho phép bất cứ ai viện dẫn như một sự hồi tố công lao của chính mình nhằm biện minh cho những hành vi phạm pháp đương thì, thì trái lại sẽ bất công quá chăng nếu chúng ta chỉ thuần dựa vào một đối sách bất cập (3) mang tính tình thế, rồi phủ nhận toàn bộ thành quả của một nhân vật gần như tượng trưng cho cả một triều đại. Nhất là ngay đang khi tại vị, nhân vật trong cuộc này đã ý thức nhằm sửa sai (4) những di căn trót bắt nguồn từ một sự chọn lựa trong quá khứ ?

Đấy là chưa loại trừ dã tâm "giăng bẫy" của thực dân phương Tây qua chiêu bài chi viện khí tài, tận dụng sự mâu thuẫn nội bộ tại các quốc gia nhược tiểu hòng khống chế và bảo hộ, chiếm lĩnh và bành trướng thuộc địa.

Để đi đến một nhận định khách quan về trường hợp lịch sử khác thường này, tưởng chúng ta cần phải gạt sang bên từng luận điểm một chiều của các tay chép sử dù thuộc trường phái này hay trường phái kia. Như những câu chuyện hoang đường ghi trong Đai Nam Chính biện Liệt truyện của dòng họ Nguyễn Gia Miên chẳng hạn, nhằm xuyên tạc ý định dời đô ra Nghệ An cũng như "nghi vấn" về cái chết bất thần của Nguyễn Huệ (5) khi đang còn rất trẻ. Ngược lại với nhà Nguyễn cũng thế, chúng ta hãy cho lắng xuống bao mối bất bình (nếu có) về tham vọng "khôi phục nghiệp chúa bằng mọi giá" cùng cách hành xử cạn tình của Nguyễn Anh đối với vua tôi Tây Sơn sau ngày toàn thắng.

Chúng ta cũng khoan xét tới yêu cầu nặng mang tính đấu tranh giai cấp vốn là một yếu tố chính trị hiện thực, phụng sự cho một thời kỳ cách mạng "bài Phong đả Thực" của dân tộc vào những thập niên đầu thế kỷ 20. Ngõ hầu có được một cái nhìn đạt lý hơn về sự trùng phùng của hai con người "Huệ và Anh" mà lằn ranh phân định giữa sự bất hạnh và may mắn quá đỗi mong manh.

Một khía cạnh tế nhị khác, rằng lòng yêu nước đâu chỉ để độc quyền xưng tụng các bậc cái thế, những chiến tích lẫy lừng, sự hùng vĩ hay các kỳ quan… Lòng yêu nước còn phải được thể hiện chung cho những phần lãnh thổ đìu hiu, từng nỗi đau chiến bại lẫn vô vàn tình huống bi thương khác nữa. Có như thế mới lý giải được phần nào giá trị của những vinh nhục, giải phóng được phần nào từng nỗi oan khuất đầy tính bi kịch của tiên nhân.

Và đây sơ lược tình hình chính trị đất nước trước ngày Nguyễn Huệ và Nguyễn Anh chào đời.

Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê dựng ra Bắc triều ở Thăng Long (triều Mạc). Năm 1533, Nguyễn Kim tìm con cháu nhà Lê lập nên Nam triều tại Thanh Hóa (nhà Lê trung hưng).

Kim mất, rể là Trịnh Kiểm nắm quyền củng cố vai trò chúa Trịnh (đàng Ngoài) lấn át nhà Lê và vô hiệu hóa vai trò nhà Mạc kể từ 1592 (6).

Con của Kim là Nguyễn Hoàng nhận rõ mối hiểm họa từ phía Trịnh, xin vào trấn Hóa Châu (1558) tạo dần một thế lực mới tức chúa Nguyễn (đàng Trong) lần lượt mở mang bờ cõi đến tận cực Nam tức Cà Mau ngày nay.

Từ đó Trịnh và Nguyễn lấy sông Gianh (Quảng Bình) làm giới tuyến, mở đầu một thời kỳ phân tranh lâu dài nhất trong lịch sử (1558-1786).

Năm 1655, quân Nguyễn lần đầu tiên chủ động tấn công quân Trịnh chiếm Nghệ An. Sau liệu không giữ được bèn rút về mang theo những di dân, trong số có tổ tiên họ Hồ vào ở vùng phía trên đèo An Khê lập nên ấp Tây Sơn.

Giữa thế kỷ 18, một người là Hồ Phi Phúc theo vợ về sống tại Kiên Mỹ (Bình Định). Họ sinh hạ được ba con (đời thứ tư) đấy chính là ba anh em nhà Tây Sơn : Nhạc, Huệ và Lữ.

Lớn lên cả ba chuyển sang họ Nguyễn (họ nhà chúa ?) hẳn để thuận thời và xóa bỏ mặc cảm cách biệt với cư dân bản địa, hầu hết vốn là con cháu của những di dân thân thuộc nhà Nguyễn thuở đầu Nam tiến ?

Việc đổi họ phải chăng còn manh nha từ một ý tưởng mang tính chiến lược cho cuộc dấy nghĩa sau này của nhà Tây Sơn ?

Nguyễn Huệ sinh năm 1753 trong một môi trường dân giả, chín năm sau Nguyễn Anh chào đời (1762) thuộc dòng dõi quyền quí : lịch sử đã có một cuộc trùng phùng, bất hạnh hay may mắn ?

Không như tuổi thơ hồn nhiên của Nguyễn Huệ, ngay từ khi còn bé Nguyễn Anh đã mồ côi cha (7). Anh em mất sớm, chỉ mình Nguyễn Anh sống sót trong sự bất an do tự thâm cung nhà chúa đầy dẫy những cuộc tranh chấp quyền bính.

Năm 1771, Nguyễn Huệ 18 tuổi là một trong những thủ lĩnh nòng cốt của phong trào Tây Sơn do Nhạc khởi xướng. Việc góp phần diệt Trương Phúc Loan của Nguyễn Huệ không đơn thuần loại bỏ một tên tham quan nhà Nguyễn, đấy còn là một hành động giúp Nguyễn Anh gián tiếp trả được mối gia thù và thoát khỏi một sự thanh trừng nội bộ rất có thể xẩy ra bất cứ lúc nào.

Nguyễn Huệ vô tình có là vị ân nhân đầu đời của Nguyễn Anh ?

Năm 1774 quân Trịnh tấn công Phú Xuân, cùng lúc Tây Sơn đánh Quảng Nam khiến chúa Nguyễn Phúc Thuần phải giao trọng trách lại cho Đông cung Nguyễn Phúc Dương để lánh vào Gia Định (mang theo Nguyễn Anh).

Trịnh lại vượt Hải Vân, quân Tây Sơn yếu thế đành rút về Quy Nhơn. Nhằm hoãn binh, Nhạc dâng thư tình nguyện làm quân tiền khu cho Trịnh đánh Nguyễn. Trịnh mừng, sai Nguyễn hữu Chỉnh mang ấn kiếm vào phong Nhạc chức Tráng Tiết Tây Sơn Hiệu Trưởng trước khi cho quân lui về Thuận Hóa (1775).

Năm 1777 Nguyễn Huệ xuôi Nam chiếm Trấn Biên, Gia Định, Vĩnh Long… làm chủ tình hình đàng Trong thì Nguyễn Anh đúng tuổi 15 thoát xuống An Giang nằm gai nếm mật (Thuần và Dương bị Tây Sơn giết).

Nhạc xưng đế (Thái Đức, 1778) phong Nguyễn Huệ làm Tiết Chế thống lĩnh quân Tây Sơn.

Phía nhà Nguyễn, Nguyễn Anh (18 tuổi) nghiễm nhiên kế vị ngôi chúa quy tụ lực lượng phản công tái chiếm Gia Định, Bình Thuận và xưng vương (1780).

Năm 1782 tại cửa biển Cần Giờ, thủy binh cùa Nguyễn Anh có tàu đồng đại bác (Pháp, Bồ đào Nha) yểm trợ, chạm trán để rồi thua tan tác trước lực lượng thuyền chiến của anh em Nguyễn Huệ từ Qui Nhơn vào.

Nguyễn Ánh trốn ra Phú Quốc, sai người sang Xiêm cầu viện : từ đấy, cả hai Nguyễn Huệ và Nguyễn Anh thực sự trở thành đối thủ không đội trời chung của nhau ?

Mỉa mai thay, qua việc truy bức chúa Nguyễn đến phải tử vong: ai đã chính thức mở lối cho Nguyễn Anh khởi đầu vương nghiệp (1780) nếu không là Nguyễn Huệ ?

Cuối 1782 bộ tướng của nhà Nguyễn tái chiếm Gia Định, rước Nguyễn Anh từ Phú Quốc về đến đầu năm sau Nguyễn Huệ cầm binh trở vào, quân Nguyễn bị tiêu diệt. Nguyễn Anh lại ra Phú Quốc, cho con đầu là hoàng tử Cảnh làm con tin theo Bá đa Lộc (giám mục Pháp) sang Pháp cầu viện.

Năm 1784, Nguyễn Anh (22 tuổi) được vua Xiêm giúp 300 thuyền và 3 vạn binh kéo về Gia Định hãm thành, bị thảm bại trước Nguyễn Huệ ở Rạch Gầm - Xoài Mút (1785). Nguyễn Anh lại sang Xiêm, vua Xiêm muốn giúp một lần nữa nhưng do bầy tôi (8) can ngăn Nguyễn Anh đành từ chối và lang bạt ở vùng Hà Tiên đến phải xin cơm nhà dân.

Năm 1786 Nguyễn Huệ đánh Phú Xuân, ngoài Võ văn Nhậm và Nguyễn văn Lộc còn có Nguyễn hữu Chỉnh cùng đi.

Chỉnh vốn là tay giảo hoạt, trước thờ Hoàng đình Bảo (tôn phò Trịnh Sâm nên bị kiêu binh giết) nay trốn vào Nam quy thuận Tây Sơn. Chỉnh nhân cơ hội thuyết phục Nguyễn Huệ lấy danh nghĩa "diệt Trịnh phò Lê" tiến thẳng ra Bắc.

Nguyễn Huệ bèn giao Lữ giữ Phú Xuân và cử Chỉnh mang thủy binh đi trước, đích thân cùng Nhậm kéo bộ binh theo sau, hẹn sẽ hội quân ở Vị Hoàng tiến ra Thăng Long.

Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ nhất (6- 6 Bính Ngọ tức 1-7-1786).

Trịnh Khải cho quân nghinh chiến nhưng thua. Thành Sơn Nam mất, Trịnh Khải trốn lên Sơn Tây đến Hạ Lôi thì bị bắt và tự vẩn.

Nguyễn Huệ vào Thăng Long (21.7.1786) chính thức xóa sổ họ Trịnh, thống nhất đàng Trong với đàng Ngoài.

Hôm sau yết kiến Lê Hiển Tông tại cung Vạn Thọ, Nguyễn Huệ được vua phong làm Nguyên soái Uy quốc công và gả Ngọc Hân công chúa. Ngày 17 tháng 7 Bính Ngọ (10.8.1786) Hiển Tông băng, hoàng tôn Lê Duy Kỳ nối ngôi tức Lê Chiêu Thống.

Sợ rằng Nguyễn Huệ một phương lừng lẫy khó kềm, Nhạc từ Qui Nhơn cấp tốc mang 500 quân tín cẩn ra. Nguyễn Huệ biết ý, đón dâng tờ trình rồi giữa đêm 17.tháng 7 nhuận (9-9-1786) cùng Nhạc về Nam bỏ mặc Chỉnh.

Chỉnh hoảng hốt chạy theo, xin được trấn giữ Nghệ An cùng Nguyễn Duệ và Nguyễn hoàng Đức. Võ văn Nhậm (rể Nhạc) đóng ở Đông Hải trông chừng mặt Bắc.

Nhạc phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương (cai quản từ Thuận Hóa trở ra) và Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương Trấn Biên (Bình Thuận trở vào) riêng Nhạc tự phong Trung Ương Hoàng Đế đóng tại Qui Nhơn.

Ở đàng Ngoài, Lê Chiêu Thống vừa yên vị thì Trịnh Bồng đã tự xưng. Chỉnh được mật gọi, ra đuổi Bồng rồi mặc sức thao túng. Hay tin, Nguyễn Huệ lệnh Võ văn Nhậm ra giết Chỉnh (Chiêu Thống hoảng sợ bỏ trốn sau khi sai người cầu viện nhà Thanh). Xong việc, Võ văn Nhậm lại tự tung tự tác mưu lập Lê Duy Cẩn, bị Ngô văn Sở cáo biến vào Phú Xuân.

Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai (tháng 4 Mậu Thân, khoảng tháng 5.1788) chỉ trong 10 ngày giết Nhậm, chừng non tháng thì quay về giao đàng Ngoài cho Sở cùng Ngô thời Nhiệm (danh sĩ Bắc Hà) lo việc.

Nguyễn Anh lợi dụng thời cơ, từ Gia Định phản công khiến Lữ phải rút.

Tháng 10 năm Mậu Thân (1788) Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn sĩ Nghị dẫn đại quân nhà Thanh, chia làm ba đạo tiến sang.

Để hợp nhất lòng dân, Nguyễn Huệ tức khắc làm lễ cáo trời đất lên ngôi hoàng đế niên hiệu Quang Trung (22.12.1788 tức 25.11 Mậu Thân tại núi Bân, Phú Xuân) và ngay trong ngày thống lĩnh đại binh thủy bộ lên đường.

Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ ba ngày 22.12.1788 (vây Hà Hồi, đánh Ngọc Hồi chiếm Yên Quyết và Khương Thượng…khiến Tôn sĩ Nghị lên ngựa bỏ chạy không kịp thắng yên cương) dẹp tan 20 vạn quân Thanh, tiến vào Thăng Long ngày 5 tháng giêng Kỷ Dậu ((30.1.1789) ở tuổi 36.

Nguyễn Anh bấy giờ đã 27 tuổi vẫn miệt mài củng cố binh bị với sự hổ trợ của Pháp (9) đợi cơ hội phục thù.

Tháng 2 năm Kỷ Dậu, vua Quang Trung về Phú Xuân sau khi sai sứ sang xin hoà hiếu với nhà Thanh, cấp lương thực và phóng thích tù binh để tránh hiểm họa bị phục thù.

Tháng 6 năm 1790 cử Trần quang Diệu dẹp loạn Lê Duy Chỉ vốn liên kết với thổ dân Vạn Tượng, Xiêm…toan chiếm Nghệ An. Năm 1791 khuất phục vua Ai Lao buộc phải triều cống và vua Miến Điện phải thông hiếu.

Mùa xuân Nhâm Tý (1792) được tin Nguyễn Anh sắp đánh Quy Nhơn, Nguyễn Huệ liền chuẩn bị binh mã chinh Nam nhưng tháng 7 Nhâm Tý (15.9.1792) Nguyễn Huệ bị bệnh và mất ở tuổi 40.

Nguyễn Quang Toản nối ngôi tức Cảnh Thịnh mới 13 tuổi, việc triều chính vào tay cậu ruột là thái sư Bùi đắc Tuyên. Tuyên lợi dụng củng cố quyền lực, tạo băng đảng gây chia rẽ và hãm hại nhiều trung thần.

Năm 1793 quân Nguyễn Anh chiếm Phú Yên và đánh Quy Nhơn, Nhạc cầu cứu. Quân từ Phú Xuân kịp thời vào được Nhạc mở cửa thành đón, tướng của Cảnh Thịnh bất ngờ ra lệnh giải giáp quân đội của Nhạc, chiếm giữ các kho tàng khiến Nhạc tức uất thổ huyết chết (con của Nhạc là Nguyễn Bảo cũng bị giáng cho ăn lộc một huyện).

Tây Sơn vì thế mỗi ngày mỗi suy yếu, trong lúc Nguyễn Anh liên tục "thua trận này bày trận khác" chủ động tập kích. Mùa thu (1793) Nguyễn Anh rút vào Diên Khánh đào hào đắp lũy xây tổng hành dinh, cất trại lập xưởng đóng thuyền chiến gần cửa biển Nha Trang rồi giao Nguyễn văn Thành trấn giữ.

Năm 1794 quân Tây Sơn vào vây, Nguyễn Anh đem đại binh giải cứu khiến Trần quang Diệu tạm rút. Năm sau Diệu quay lại, Nguyễn Anh lại từ Gia Định ra. Thế trận hai bên cứ vậy giằng co mãi cho đến khi Phú Xuân có biến (Bùi đắc Tuyên bị các tướng Tây Sơn giết) Trần quang Diệu được triệu về.

Năm 1797, Nguyễn Ánh toan tái chiếm Quy Nhơn song lượng sức không được dong buồm thẳng ra Quảng Nam, cuối cùng cũng phải quây về Gia Định vì không đủ lương thực.

Năm 1799, Nguyễn Ánh đánh Quy Nhơn đổi tên thành Bình Định giao Võ Tánh và Ngô Tùng Châu giữ. Năm sau quân Tây Sơn vào, thành Bình Định thất thủ và Võ Tánh tự đốt mình.

Thay vì giải vây Bình Định, Nguyễn Anh quyết định mang quân ra tấn công Phú Xuân (1801) làm chủ Thuận Hóa, các nơi khác do đấy cũng dần lọt vào tay Nguyễn Anh.

Cảnh Thịnh bỏ chạy, Nguyễn Ánh thu ấn truyền quốc và đào mả Thái tồ Võ hoàng đế Nguyễn Huệ nghiền xương, bỏ đầu lâu giam ngục.

Tháng 7 Nhâm Tuất (1802) Nguyễn Anh lên ngôi hoàng đế đặt niện hiệu Gia Long, quốc hiệu là Nam Việt (mãi năm 1804 nhà Thanh mới sai sứ sang ban quốc hiệu Việt Nam).

Nguyễn Anh tiếp tục đem quân đánh chiếm Nghệ An và Thanh Hóa… rồi ra Bắc, vua tôi Tây Sơn lần lượt bị bắt và bị hành hình : nhà Tây Sơn bị tận diệt.

Nguyễn Anh tóm thu thiên hạ, bình định đất nước đến năm 1820 thì mất (56 tuổi).


NGUYỄN HUỆ - NGUYỄN ÁNH

SỰ ĐỐI ĐẦU BẤT HẠNH

Xuất thân là dân ngụ cư áo vải, Nguyễn Huệ cùng anh dấy nghĩa năm muời tám tuổ. Sinh thời dẫu không qua một trường lớp đào tạo chính quy nào nhưng ngoài tài dụng binh và thuật dùng người (10) Nguyễn Huệ đầy lòng nhân chứ không khinh mạn hoặc bạo sát như Lưu Bang hay Hạng Vũ thời Hán Sở.

Linh hoạt và quyền biến, Nguyễn Huệ thừa thắng mang quân từ Phú Xuân thẳng ra Bắc (lần thứ nhất, 1786) diệt Trịnh. Nhưng Nguyễn Huệ vẫn thận trọng không tiếp thu ngay Bắc Hà vì ý thức rõ tình hình chính trị bấy giờ chưa đủ độ chín muồi (11) cho phép Nguyện Huệ hiện thực hóa giấc mộng đế vương.

Việc Nguyễn Huệ bất ngờ thả nổi Chỉnh cũng là một cách vừa thử thách "lòng trung" của y vừa để thăm dò dư luận qua phản ứng của các thế lực sở tại đối với tay phản thần nhà Trịnh này.

Tiếc thay, tuổi trẻ của anh em Nguyễn Huệ lẫn tập đoàn dưới trướng hầu như thiếu sự đầu tư và tiếp cận với những nguyên tắc kỹ trị cùng truyền thống an dân. Chỉ riêng sự thiếu lòng tin vào em mình của Nhạc (12) đã gián tiếp đẩy cuộc dấy nghĩa của họ vào tình huống bế tắc rồi suy vong chỉ trong một thời gian ngắn ngủi sau ngày Nguyễn Huệ mất.

Còn đáng tiếc và sinh bất phùng thời chăng cùng với Nguyễn Huệ, xuất hiện một Nguyễn Anh không kém trí dũng vốn được phò trợ bởi môt lực lượng văn võ hùng hậu, xuất thân từ dòng tộc quan lại sĩ phu thâm niên nhà chúa ?

Chuyện kể, nêu bật tính cách kỳ phùng của hai con người siêu hạng :

Năm 1783 trong một trận thủy chiến tại Gia Định, Nguyễn hoàng Đức bị Tây sơn bắt. Nguyễn Huệ thu dùng nhưng tối ngủ Đức lại nằm mê mắng chưởi quân Tây sơn. Thuộc hạ muốn giết, vậy nhưng Nguyễn Huệ cười không bắt tội còn hậu đãi cho theo đánh Bắc thành. Sau Nguyễn hoàng Đức trốn về lại với Nguyễn Anh vẫn được Nguyễn Anh tín cẩn phong làm Tổng trấn Bắc thành (1809) chứng tỏ Nguyễn Anh chẳng phải tay vừa !

Nguyễn Anh ngỡ may mắn sinh ra là con cháu nhà chúa, nhưng vừa chào đời gia đình đã chịu sự hãm hại bởi bọn quyền thần. Không là kẻ chính thức được nối dõi, Nguyễn Ánh vẫn là mối hiểm nguy tiềm ẩn "đối tượng chính trị" nhiều hứa hẹn sẽ là đích ngắm, cần phải loại trừ nếu Trương Phúc Loan còn sống.

Ay thế, cậu bé qúy tộc và cô độc ấy vẫn từng ngày lớn lên giữa bao mối đe dọa như một điều kỳ diệu và khó tin.

Thử hình dung tuổi niên thiếu của Nguyễn Anh theo chân chúa lưu lạc. Chúa bị giết, một thân một mình giữa rừng quan tướng vàng thau khó lường (tướng nhà chúa, tướng cừu thù trong gia tộc, tướng sơn lâm mãi võ chiêu mộ bao phen trên đường bại vong, tướng địch quy hàng…). Phải là người trí lực song toàn, Nguyễn Ánh mới chế ngự và duy trì được một lực lượng binh tướng "vạn lý trường chinh" và trung dũng sau nhiều phen tan tác đến thế !

Nguyễn Ánh là ai theo cách giải thích của người xưa, nếu không là kẻ có chân mệnh ?


QUANG TRUNG & GIA LONG

SỰ AN BÀI MAY MẮN CỦA LỊCH SỬ ?


KHÔNG CÓ NGUYỄN HUỆ, DỄ GÌ NGUYỄN ÁNH SẼ LÀ VƯƠNG ?

Thuở đầu đời, Nguyễn Huệ lẫn Nguyễn Ánh hầu như không có dấu hiệu tự thân mưu cầu và chủ động (13) tóm thâu thiên hạ.

Chính sự quay cuồng của những sự kiện mang tính "thời thế tạo anh hùng" đã đẩy đưa cả hai vào vai trò "anh hùng tạo thời thế" để rồi trở thành đối thủ của nhau. Từng trang sử máu lửa vào thời kỳ ấy vô hình chung chứng nghiệm, phải chăng để giúp Nguyễn Anh hội đủ bản lĩnh trị vì bá tánh, thời thế đã sinh ra non một thập niên trước một Nguyễn Huệ anh hùng làm đối trọng, huấn nhục để tôi luyện Nguyễn Anh ?

Nguyễn Huệ chết trẻ song đã kịp thời dẹp thù trong giặc ngoài, thống nhất bờ cõi tạo thế thuận lợi để Nguyễn Anh nối tiếp sự nghiệp trị quốc an dân… điều mà anh em và con cháu Nguyễn Huệ khó hoàn tất do sự bất khả trong khâu "tu thân, tề gia" (14)?

Thật vậy, không có phong trào nổi dậy Tây Sơn mà Nguyễn Huệ đã vươn lên vị trí lãnh đạo chủ chốt, tính mạng Nguyễn Anh bấy giờ chẳng khác nào chuông treo chỉ mành trước một Trương Phúc Loan đầy tham vọng và bạo tàn. Ngoài ra sự xuất hiện của Nguyễn Huệ trong cuộc thư hùng Nam Bắc, vô tình đẩy Nguyễn Anh chệch ra khỏi tầm ngắm của nhà Trịnh, phần nào giúp "kẻ thừa tự cuối cùng" (15) sau này của dòng họ chúa Nguyễn hội đủ từng khoảng thời gian để trưởng thành, khắc phục nghịch cảnh và tích lũy kinh nghiệm tác chiến.

Và nếu không có Nguyễn Huệ thì dẫu chỉ giữ hư vị, nhà Lê (trung hưng) vẫn tiếp tục tồn tại với ưu thế chính trị nghiêng về phủ Liêu (chúa Trịnh). Liệu Nguyễn Anh có được cơ hội để vẫy vùng ?

Nguyễn Huệ không trực tiếp diệt nhà Lê (trung hưng) nhưng bằng việc cầu viện nhà Thanh trong lúc Nguyễn Huệ (rể Hiển Tông) chưa thực sự là mối đe dọa, Chiêu Thống đã tự hủy danh nghĩa và gián tiếp khai tử vị thế chính thống vốn sẵn của mình (16). Nguyễn Anh nhờ vậy mới mạnh dạn xưng vương hay xưng đế sau này, thu phục nhân tâm mọi miền nhất là giới sĩ phu đất Bắc ít nhiều vẫn còn hoài niệm quá khứ (17)…

Nếu thiếu vắng Nguyễn Huệ sau ngày Chiêu Thống cầu viện, lãnh thổ nước Nam ắt khó được bảo toàn. Nguyễn Anh (thay vì Huệ) sẽ phải đối đầu với quân Thanh cùng nhiều thế lực khác, kể cả bạo loạn có thể dấy lên khắp nơi dưới danh nghĩa phục Lê kiểu Nguyễn Kim và Trịnh Kiểm.

Nhưng nếu Nguyễn Huệ tiếp tục tại thế sau năm 1792, Nguyễn Anh hẳn khó là đối thủ ngang tầm và cuộc chiến hẳn sẽ triền miên với sự trợ giúp của lân bang (Xiêm, Pháp) về phía Nguyễn Anh cũng như sự dòm ngó của nhà Thanh trong vị thế một "ngư ông đắc lợi" mỗi khi sự phân hóa quyền lực mỗi ngày mỗi trầm trọng hơn giữa anh em nhà Tây Sơn.

Nguyễn Huệ mất sớm để lại cho muôn dân sự tiếc nuối về dự tính mở mang bờ cõi ngược lên phía Bắc, qua việc cầu hôn công chúa nhà Thanh : liệu sự nuối tiếc ấy có đầy hoang tưởng ?

Với dân số và quân số cùng diện tích rất ư khiêm tốn sánh với Trung Quốc, do đâu Nguyễn Huệ và nhân dân ta đánh bại 20 vạn quân Thanh chỉ trong một thời gian ngắn, nếu không vì tinh thần dân tộc bị tổn thương và kẻ ngoại xâm thiếu chính nghĩa?

Giả dụ Nguyễn Huệ còn sống và thực hiện hoài bảo, nói cách khác hoán đổi vị trí cho nhau… lẽ nào quân dân ta có chính nghĩa ? Nhân dân Trung Quốc liệu sẽ không mặc cảm bị xúc phạm bởi mất trắng Lưỡng Quảng (18) về tay người áo vải phương Nam đã hơn một lần làm bẽ mặt triều đình của họ ?

Sẽ khó lường xiết bao nếu tái diễn một cuộc so gươm ngay trên xứ người giữa vị anh hùng chưa một lần nếm mùi chiến bại "Quang Trung" và hoàng đế vũ dũng Càn Long ?

Dân tộc ta dễ gì tránh khỏi từng trận đòn thù hẳn còn khủng khiếp bội phần so với bao cuộc tràn quân xâm lược của họ trước đây ?

Ay là chưa xét đến vị thế của Ngọc Hân sẽ thế nào nếu vua Thanh chấp thuận lời cầu hôn của Nguyễn Huệ ? Dân ta sẽ chịu khuất phục để cho nàng công chúa tài hoa đất Bắc độ nào, vị Bắc Cung hoàng hậu đáng yêu bấy giờ bị phế truất ?

Ngược lại, triều đình "Đại Thanh" liệu có chịu được sĩ nhục khi công chúa của họ… kém thế ?

THIẾU SỰ KẾ THỪA CỦA NGUYỄN ÁNH : ĐẠI NGHIỆP NHẤT THỐNG

GIANG SAN CỦA NGUYỄN HUỆ DỄ GÌ BỀN VỮNG ?

Bằng những chiến thắng thần tốc "tạo nền" cho một chính sách ngoại giao mềm dẻo thời hậu chiến, thiên tài quân sự Nguyễn Huệ đã khéo khuất phục kẻ thù từ binh tướng đến vua quan.

Triều đình nhà Thanh chẳng đã trân trọng dành một sự đón tiếp "có một không hai" vị anh hùng áo vải cờ đào trời Nam (19) dẫu "thừa hiểu" đấy là vua Quang Trung… giả (1790) ?

Nhưng về đối nội, chưa tròn ba thập niên do đâu vương triều Tây Sơn nhanh chóng sụp đổ ?

Trước hết do Nguyễn Nhạc quá đa nghi, tính cách "nổi loạn" buổi đầu của Nhạc chỉ trên tầm một viên "biện lại" ngang tàng hay "trại chủ Lương Sơn" hào hiệp, chứ chưa thể đạt đến tầm vóc của một bậc khai sáng.

Nhạc cũng không lường được tay phản thần đàng Ngoài là Chỉnh vốn cơ trí nên đã mặc Chỉnh sát cánh cùng Nguyễn Huệ trong lần ra Phú Xuân, mở màn cho một cuộc chinh Bắc thần kỳ của em mình sau đó.

Tham vọng của Nhạc chừng như chỉ gói trọn trong một phần lãnh thổ, một không gian quyền lực thuộc đàng Trong mà thôi. Lữ thì tính khí hiền hòa, không tha thiết lắm trong việc mưu bá đồ vương và lại chết sớm (1787).

Duy chỉ mình Nguyễn Huệ thừa chí lớn và dám mạo hiểm dấn thân, tuy nhiên sai lầm nghiêm trọng dẫn đến sự sụp đổ nhanh chóng của nhà Tây Sơn cũng chưa hẳn mới bắt nguồn từ khi Nguyễn Huệ mất đi.

Chính sự tự thỏa mãn quá sớm với những gì vừa chiếm lĩnh được vốn đã vượt sức mình, Nhạc đã xé nhỏ từng phần lãnh thổ chưa thực sự ổn định để cát cứ. Sự vội vã phi chiến lược này đã gián tiếp làm phân rã nội bộ từ gia tộc đến binh tướng và nhân dân từng vùng, từng miền theo cách "chúa ai nấy thờ" của anh em Tây Sơn.

Tóm lại từ một hành động phản kháng có tính địa phương, biện Nhạc dấy lên một phong trào cứu khổ phò nguy hạn hẹp chỉ giữa hai tầng lớp : quan lại thống trị nhà chúa (Nguyễn) và quần chúng bị bóc lột.

Nguyễn Huệ sau đó mới là người trực tiếp biến sự tranh chấp quyền lợi giai cấp thành một lực lượng có chính nghĩa bao trùm "dẹp giặc trong, chống thù ngoài" kết dính toàn dân thành một khối, cứu nguy đất nước.

Sau trận đại thắng quân Xiêm, Nguyễn Huệ đã chớp thời cơ và triệt để phát huy sức mạnh, công khai tuyên chiến với toàn bộ hệ thống phong kiến đàng Trong lẫn đàng Ngoài : ranh giới sông Gianh mặc nhiên bị xóa bỏ.

Để rồi với cuộc tử chiến làm rạng danh non sông tiêu diệt sạch 20 vạn quân Thanh năm 1789, Nguyễn Huệ nghiễm nhiên trở thành vị Đệ Nhất Anh Hùng của chính dân tộc mình.

Đối thủ thực sự của Nguyễn Huệ trên chiến trường chưa hẳn là… Nguyễn Anh.

Tiếc thay dưới trướng Nguyễn Huệ, quan quân ít kẻ xuất thân là khoa bảng cũng như hội đủ năng lực kinh bang tế thế. Do bị thôi thúc bởi sự căm thù ngoại xâm cùng lũ tham quan nhà Nguyễn nên họ đã đứng lên. Nghĩa khí và can trường có thừa song chưa kịp kinh qua một quá trình tổ chức và điều kiện huấn luyện đủ để trở thành một lực lượng chiến đấu chuyên nghiệp.

Quân Tây Sơn (gốc Kinh lẫn Thượng…) có thể sử dụng nhanh trong mỗi chiến dịch chứ khó duy trì bền.

Bên trong triều đình Tây Sơn lại thiếu vắng những "quan văn chính thống" nổi trội, ngoài một Nguyễn Thiếp quân sư. Riêng Ngô thời Nhiệm vốn là cựu binh của xứ Ngoài, được ủy thác có giới hạn về sứ mệnh tham mưu và đối ngoại chứ chưa thực sự được "toàn quyền" gách vác trọng trách của triều đình, giữa lúc quanh Ngô thời Nhiệm là một rừng hảo hán phương Nam.

Cánh võ biền gồm vô số những tay hào kiệt nặng mang tinh thần nghĩa hiệp hơn là ý thức sâu sắc về quan điểm chính trị về lâu về dài. Thái độ khoan dung của Trần Quang Diệu đối với tướng sĩ của Võ Tánh (nhà Nguyễn) là một điển hình : Mùa hạ 1800, quân Tây Sơn hãm thành Bình Định, tướng giữ thành là Võ Tánh liệu bề không chống nổi bèn lên đài cao tự châm lửa đốt. Trước khi chết, Tánh gởi thư cho tướng Tây Sơn "…trong thành lương hết không thể giữ được nữa, tướng quân thua trận đáng chết là ta nhưng quân lính vô tội, chớ nên giết hại…"… Diệu vào thành trông thấy thương chảy nước mắt lấy lễ thu chôn, tướng sĩ của Tánh không bị Diệu giết một ai và được tự do ra về…

Lẽ ra Nguyễn Anh phải biết, quan quân của Nguyễn Ánh phải nhớ mà nương tay sau này khi đánh bại Tây Sơn .

Xưa có người (Ngũ Viên) vì thù cha mà quất roi vào thây Sở Bình Vương hay Dự Nhượng (Tần) trả hận cho chủ cũ không thành mà cố xin Tương Tử chiếc áo ông ta đang mặc để đâm cho thỏa mãn ước nguyện...

Đấy là cách hành xử của kẻ bầy tôi kém thế vốn đã bị đời chê trách.

Nay qua sự xúc phạm hài cốt và hành hình dã man thân nhân cùng tướng tá của Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh càng để lộ nỗi ức chế triền miên về sự bất lực của mình trước bóng dáng lớn lao của một đối thủ trong quá trình đối mặt.

Nguyễn Anh tự đánh mất ít nhiều tác phong của một bậc đế vương, đi ngược tinh thần đạo lý "nghĩa tử nghĩa tận" của người Á đông. Chẳng những tự gây thương tổn mình, Nguyễn Ánh còn làm thương tổn bao thế hệ con tim vốn luôn ngưỡng vọng vị anh hùng áo vải đất Tây Sơn.

Nguyễn Ánh cũng gián tiếp tự chọn cho mình vị thế đối nghịch với toàn dân qua việc cầu viện ngọai bang (Xiêm, Pháp).

Tuy nhiên muốn hay không vẫn phải thừa nhận Nguyễn Anh cũng là một bậc anh tài. Ngoài sự kiên gan và tinh thần dám chịu mọi khổ nhục, Nguyễn Ánh còn khéo tận dụng và triển khai từng thành quả của chính đối thủ (Nguyễn Huệ) để tóm thu thiên hạ về tay mình cùng ổn định đất nước.

Xét về một khía cạnh khác, sao có thể trách được trong một tình thế thắng bại chưa thực sự nghiêng về ai. Ngoài tâm trạng bất an, Nguyễn Anh còn bị chi phối bởi nhiều áp lực vô hình từ tập đoàn quan tướng phong kiến quanh mình. Biện pháp bất nhẫn Nguyễn Anh áp dụng với kẻ thù ắt nhằm vuốt ve và "mua đứt" sự dốc lòng của thuộc hạ vốn phải ăn sương nằm đất bao năm theo khuông phò ? Ai cấm họ không ngầm đòi hỏi Nguyễn Anh, bằng mọi giá phải bảo toàn cùng xác lập vai trò khanh tướng vốn đã cận kề đối với họ? Ai trong số họ không nuôi giấc mộng một ngày trở về cố hương, dọn mình đón đợi ơn mưa móc của Nguyễn Anh ?

Nhưng dư âm của những trận chiến vũ bão ngày trước của quân tướng Tây Sơn luôn ám ảnh, Nguyễn Anh dễ gì thuyết phục và trấn an được họ nếu nhẹ tay với bầy tôi trung dũng còn đó của Nguyễn Huệ ?

Vả lại sự thắng thế của Nguyễn Anh phần nào còn dựa vào âm hưởng của quá trình mở cõi bởi các tiên chúa nhà Nguyễn, khát vọng thanh bình muôn thuở của nhân dân sau hằng trăm năm binh biến… Trong cảnh huống ấy, không chỉ Nguyễn Huệ hay Nguyễn Anh mà bất cứ nhân vật nào dám nhận lãnh vai trò "thế thiên hành đạo" tất nhiên nhận được sự cổ vũ của nhân dân.

Đâu phải chợt dưng thiên hạ nghiêng về Nguyễn Anh nếu Nguyễn Huệ không sớm bị tước đoạt tuổi trời ? Thiếu bóng minh chủ (Nguyễn Huệ) quân Tây Sơn như rắn mất đầu đánh mất thế chủ động, bao phen sau này bị dồn vào tình thế gần như trở nên cường đạo (20) và mất dần chính nghĩa.

Nguyễn Huệ, vị chiến tướng lừng lững nằm xuống giữa lúc áo bào còn "vắt ngang lưng ngựa" và thắng lợi cuối cùng thuộc về Nguyễn Anh sau khi không có Nguyễn Huệ, tất cả cũng đã … cát bụi trở về !

Vẫn biết không thể lấy sự thắng bại để luận anh hùng, nhưng nếu tự thân thiếu ý chí hay không thừa hưởng cái chất anh hùng cha truyền con nối, Nguyễn Anh làm sao hiện thực hóa được khát vọng "trị quốc, bình thiên hạ" của mình ?

Thời thế xưa nay hiếm dung cùng lúc lắm hào kiệt "trời sinh Du, sao còn sinh Lượng ?" (21)Riêng với Nguyễn Huệ và Nguyễn Anh thì chưa hẳn. Mỗi người mỗi danh phận, mỗi khí phách và trọn vẹn cuộc đời đã hoàn thành "một nửa sứ mạng lịch sử vinh danh lẫn đau đớn" của mình, sau những gì nhận được hoặc mất đi tưởng như nghịch lý.

Bao nhiêu biến cố xoay vần chừng thuận theo vận nước, một sự định phận tại… thiên thư. Vâng, biết đâu sự trùng phùng giữa "Nguyễn Huệ và Nguyễn Anh" đấy chẳng là điều may mắn thay vì bất hạnh của dân tộc : đất nước đã sinh Huệ, lẽ nào thiếu Anh !

Đâu đó bên kia đời, hẳn cả hai - Thái tổ Võ hoàng đế Nguyễn Huệ và Thế tổ Cao hoàng đế Nguyễn Anh khó lòng khước từ một sự tri ơn dẫu toàn tâm hay chừng mực, dẫu công khai hay thầm lặng của hậu thế ?

Chú thích:

(1) việc thí vua Lê Long Đỉnh năm (1009) và Trần Thủ Độ ép Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh (1225)

(2) thay vì tôn xưng theo đế hiệu như trên,chúng ta vẫn quen gọi hai vì vua này theo niên hiệu là Quang Trung và Gia Long.

(3) ám chỉ việc cầu viện ngoại bang (Xiêm,Pháp) nhằm khôi phục ngôi chúa của Ánh.

(4) Sau khi lên ngôi, Anh ban hành luật pháp nghiêm minh; không sử dụng các quan tướng Pháp đã hổ trợ Anh trước đây vào những vai trò quan trọng (chỉ ban thưởng chức tước,phẩm hàm tượng trưng,hậu đãi về vật chất, đặt tên Việt hay gả vợ cho mà thôi). Trước sự xâm nhập của một tôn giáo mới (TCG) vốn là hệ lụy của việc cầu viện ngoại bang (Pháp) Anh phản ứng tự vệ bằng cách sửa sai như : quảng bá mạnh mẽ hơn tư tưởng Phật giáo và Nho giáo trong quần chúng,xây dựng nhiều đền chùa khắp nơi trên toàn quốc…

(5) Các sử gia triều Nguyễn phúc (hay còn gọi là Nguyễn Gia Miên) cho rằng Nguyễn Huệ chiếm Phú Xuân là "mạo phạm đất vua và lăng tẩm liệt thánh" của nhà Nguyễn nên đã mơ thấy một lão trượng dùng gậy đánh mắng nên sinh ra sợ hãi muốn dời đô ra Nghệ An song kết cuộc vẫn phải bất đắ kỳ tử. (Đại Nam Chính biên liệt truyện). Một "nghi vấn" khác càng không thể chấp nhận cho rằng Ngọc Hân công chúa đã đầu độc chồng (Nguyễn Huệ). Thử hỏi, nhà Lê bấy giờ còn có ai (?) và Nguyễn Huệ mất thì Bắc Cung hoàng hậu sẽ nương tựa vào ai, được gì và mất gì (?) nhất là bà đang có con còn rất nhỏ.

(6) mãi đến đời chúa Trịnh Tùng, nhà Mạc bị đánh đuổi khỏi Thăng Long, chạy lên hùng cứ vùng Cao Bằng cho đến 1677 mới thực sự bị tuyệt diệt.

(7) cha của Anh là Nguyễn Phúc Luân (con thứ nhì của Nguyễn Phúc Khoát) lẽ ra được nối ngôi theo di chiếu nhưng do Trương Phúc Loan muốn chuyên quyền đã tìm cách sát hại năm 1765 để lập em Luân là Nguyễn Phúc Thuần còn nhỏ (thứ 16) nhằm tiện bề thao túng.

(8) năm 1785,vua Xiêm muốn giúp Ngyễn Anh đánh lấy lại Gia Định lần thứ hai. Nguyễn văn Thành tâu "lính Xiêm tàn ngược không nên nhờ, nếu nhờ sẽ có sự lo về sau" Anh bèn thôi.

(9) Anh cầu viện Pháp qua sự trung gian của giám mục Bá đa Lộc (gởi hoàng tử Cảnh làm con tin) là một sai lầm khó bào chữa bởi đã gây hệ lụy cho nhiều đời sau.

(10) việc Huệ khéo dùng người: sử dụng nhân sĩ đất Bắc (Ngô thì Nhậm) ; bầy tôi của chúa Trịnh (Nguyễn Hữu Chỉnh) ; tướng của Anh bị bắt (Nguyễn Hoàng Đức) … tận dụng thông tin từ Chỉnh để tiến quân ra Bắc (lần 1) ; nghe theo kế sách của quân sư Nguyễn Thiếp, khen ngợi chiến thuật lui quân của Ngô thì Nhiệm khi quân Thanh vừa tiến sang...

(11) lòng người oán Trịnh nhưng vẫn hướng về nhà Lê và tưởng nhớ Nguyễn Kim là người có công phò lập nhà Lê (trung hưng).

(12) Nhạc ra Bắc, Huệ hiểu ý, đón dâng tờ trình và nộp binh phù cho anh.

(13) cả hai đều ở vị thế "nhân vật… hạng hai": Huệ đằng sau anh mình tức Nhạc và Anh thực sự không phải là kẻ chính thức được nối nghiệp Chúa (của Nguyễn Phúc Thuần).

(14) Nội bộ Tây Sơn về sau càng chia rẻ. Năm 1793, Cảnh Thịnh (Quang Toản con Huệ) vào cứu viện Quy Nhơn lại tịch thu ấn tín của vua Thái Đức (Nhạc) tướng Ngô văn Sở can không được, Nhạc uất ức thổ huyết chết. Cảnh Thịnh còn phế thái tử Nguyễn Bảo (con của Nhạc…)

(15) Nguyễn Phúc Thuần tử vong và Đông cung Nguyễn Phúc Dương cũng bị Tây Sơn bắt.

(16) Chiêu Thống theo đám tàn quân nhà Thanh chạy sang lưu vong ở Trung Quốc, chết ở đấy vào năm 28 tuổi (1792)

(17) khuynh hướng sùng bái chế độ quân chủ phong kiến và nhà Lê trung hưng do Nguyễn Kim phụng lập nên tâm lý ít nhiều hướng dần về Nguyễn.

(18) thực ra chỉ là phần lãnh thổ 6 châu thuộc Hưng Hóa và 3 động thuộc Tuyên Quang của nước ta trước kia bị bọn thổ tỵ nhà Thanh xâm chiếm sáp nhập vào hai tỉnh (Quảng Đông, Quảng Tây) của Trung Quốc mà thôi. Vả lại, Phúc An Khang đã thay triều đình nhà Thanh lấy cớ cương giới đã định mà khước từ rồi.

(19) đóng giả vua Quang Trung là Phạm văn Trị, anh họ bà vợ đầu của Huệ (Nguyễn Huệ có 3 vợ : bà Phạm thị mất sớm (mẹ Quang Thùy, Quang Bàn) bà Bùi thị (Chánh cung hoàng hậu, mẹ Quang Toản, Quang Thiệu, Quang Khanh) và Lê Ngọc Hân công chúa (Bắc cung hoàng hậu, mới có con nhỏ)

(20) con của Nhạc và con của Huệ đều là kẻ bất tài, chia rẽ và hãm hại lẫn nhau… lắm lần thua trận, quân của Toản còn cướp bóc của dân (Phú Xuân).

(21) lời Chu Du than (thời Tam Quốc)

TRUYỀN THUYẾT VỀ NHÀ TÂY SƠN

DI TÍCH VÀ TRUYỀN THUYẾT VỀ

NHÀ TÂY SƠN

Quách Tấn



Những truyền thuyết dưới đây là tôi nghe nội tổ và song thân cùng các vị phụ lão ở Bình khê kể lại. Gia đình tôi ở ấp Tây Sơn hạ (Bình khê hiện thời) đã chín đời. Trong nhà trước đây có hai bộ sử chép tay về nhà Tây Sơn (Tây Sơn dã sử), một của người Bình Định viết, một ở Bắc đưa vào. Thời Pháp thuộc cụ Hoàng Yến làm tri huyện Bình khê mượn xem rồi tịch thu mất (tịch thu là vì đồ quốc cấm). Cho nên những gì tôi viết ra đây là viết thuộc lòng, nghe sao viết vậy mà thôi.

“Ðành chẳng công đâu may khỏi tội
Bao nhiêu chữ đó bấy nhiêu tâm”
(Sào Nam)

DI TÍCH

Tây Sơn là dãy núi phía Tây tỉnh Bình Định thuộc hệ thống Trường sơn. Nằm trọn trong phần đất ba quận Vĩnh thạnh, Cam túc, Bình khê hiện tại. Tây Sơn làm ranh giới cho tỉnh Bình Định ở phía đông và Pleiku, Kontum ở phía tây.

Dãy núi An lão và Kim sơn cũng thuộc hệ thống Trường sơn, cũng nằm phía tây tỉnh Bình Định (ở phía bắc) và cũng dính liền với dãy Tây Sơn (ở phía nam) nhưng không mang danh Tây Sơn. Bởi vì cổ nhân lấy tỉnh lỵ làm điểm đứng ngắm. Tỉnh lỵ Bình Định trước kia là thành Ðồ Bàn ở Nam an, Bắc thuận (An nhơn), thời gần đây là thành Bình Định ở An ngãi, Liêm trực (An nhơn), và hiện nay là Qui Nhơn. Ðứng trong ba nơi này mà trông thì dãy Tây Sơn nằm hẳn về chính tây, còn hai dãy Kim sơn và An lão nằm về tây bắc. Tên Tây Sơn đã có từ lâu.

Vì núi mệnh danh là Tây Sơn, nên các vùng sơn cước, bình nguyên ở chung quanh cũng gọi là vùng Tây Sơn. Trước kia gọi là Ấp Tây Sơn.

Ấp Tây Sơn gồm có ba phần:

1. Tây Sơn Thượng gồm toàn cõi An khê thuộc quận An túc hiện nay, lấy đèo An khê làm ranh giới.

2. Tây Sơn Trung gồm phần đất đai thuộc quận Vĩnh thạnh hiện nay, tức từ đèo An khê đến địa đầu Hữu giang, Tả giang.

3. Tây Sơn Hạ gồm đất đai từ Hữu giang, Tả giang đến An chính, tức là phần đất quận Bình khê hiện nay.

Ấp Tây Sơn xưa kia thuộc huyện Tuy viễn (đất Ðồ Bàn sau khi trở thành đất Việt Nam thì chia làm ba huyện: Bồng sơn, Phù ly, Tuy viễn). Tên ấp bị bỏ từ đời Gia Long.

CÁC NGỌN NÚI CÓ LIÊN HỆ MẬT THIẾT ÐẾN NHÀ TÂY SƠN

Ở bắc ngạn sông Côn có hòn Trung sơn, nằm trong địa phận thôn Phú lạc (chánh quán của Tây Sơn tam kiệt).

Ở nam ngạn sông Côn có những núi:

Núi HOÀNG ÐẾ, núi HIỂN HÁCH ở quận An túc Ðèo An khê.

Núi Ông Bình, núi Ông Nhạc ở phía đông đèo An khê.

Núi Tâm phúc, núi Lãnh lương, hòn Hoành sơn, hòn Ấn, hòn Kiếm nằm dọc theo quốc lộ 19, từ núi Ông Nhạc xuống đến thôn Trinh tường, xã Bình tường, quận Bình khê.

Từ Tiên thuận trở xuống, dọc theo con sông Côn, đến Hữu giang, Phú lạc núi vẫn nối liền nhau, quanh co khúc khuỷu. Nổi danh nhất là hòn TRUNG SƠN. Hòn Trung sơn thuộc thôn Phú lạc, quê hương của tam kiệt nhà Tây Sơn và anh hùng Mai Xuân Thưởng. Núi không lấy làm cao (422 thước) nhưng trông rất khôi hùng. Trông gần thì mập mạp hung hăng như con bò đực sung sức lúc nào cũng sẵn sàng để chiến đấu. Nên người địa phương thường gọi là hòn SUNG. Lưng núi có nhiều chỗ nổi từng vồng từng ụ, như bị đánh sưng. Nên nhiều người gọi là hòn SƯNG thay vì hòn Sung. Núi còn có tên nữa là ÐỘC XỈ SƠN và ÐỘC NHŨ SƠN, vì ở xa, nếu đứng xiên một phía mà trông thì giống như một chiếc răng nanh dựng ngược, còn đứng trước mặt mà ngó thì tương tợ một nấm vú vun (. Do đó núi lại có tên nữa là BÚT SƠN. HÒN SUNG là tổ sơn trong vùng hữu ngạn. Mặt hướng về đông nam và lấy dãy Sơn Triều sơn ở Cầu Gành, thuộc An nhơn làm Tiền án (2), và long mạch chạy xuống hướng đông đến hòn Mạ Thiên sơn tục gọi là hòn Mò O ở giữa An nhơn và Phù cát, thì hồi cố (3). Phía trước mặt và hai bên tả hữu,gò đống nổi đầy, cuồn cuộn nhấp nhô như sóng biển. Và những ngọn núi chung quanh đều xây mặt về triều củng, như các vị đại thần đứng chầu một đấng anh quân. Còn gò đống kia là quân lính dàn hầu. Ðến viếng Hòn Sung, một du khách có để lại mấy câu rằng:

Hòn Sung tuy thấp mà cao
Trời cho làm chốn anh hào lập thân
Kìa ai áo vải cứu dân
Kìa ai ba thước gươm thần chống Tây
Chuyện đời rủi rủi may may
Hòn Sung cây trải đá xây bao sờn

Trên đỉnh hòn Sung có một vùng đá hình chữ nhật, bằng phẳng, bên cạnh có hai tảng đá vuông vức chồng lên nhau. Người ta bảo đó là "Mả mẹ chàng Lía". Truyền rằng mẹ chàng Lía lâm chung tại hòn Chớp Vàng thôn Phú phong. Lía muốn đưa hài cốt đến táng nơi hòn Sung cách đến 5 cây số về hướng bắc, bèn lên đỉnh núi, đầu đội quan tài mẹ, một tay vịn, một tay nắm chiếc mâm đồng ngắm phía hòn Sung mà vút mạnh. Chiếc mâm vụt bay. Liá liền nhảy theo đứng trên mâm, rồi lấy thế nhảy vọt đến hòn Sung. An táng mẹ xong, lía rinh đá khối xây mộ, và chồng hai tảng đá bên mồ để ngồi khóc mẹ.

Do đó người địa phương còn gọi hòn Sung là hòn "Mả Mẹ Chàng Lía". Sau lưng và phía tả phía hữu của hòn Sung, có nhiều ngọn núi không cao nhưng hiểm trở. Như hòn HÀNH SƠN tục gọi là Dốc Dài nối liền hòn Sung và hòn VINH ÐO tức hòn Dồ ở Hữu giang. Nhưng đặc sắc hơn hết là hòn ÐÁ DÀN, tên chữ là DƯƠNG THẠCH SƠN.

Hòn ÐÁ DÀN ở phía bắc hòn Sung, cạnh hòn Sống. Trên núi, đá chồng chất, lớp dựng lên lớp giăng ra. Do đó núi mệnh danh là ÐÁ DÀN (dàn bày ra). Dưới chân và trên triền núi, cây cối rậm rạp. Nhưng trên đỉnh lại chỉ có bụi còi. Ðỉnh núi bằng phẳng và chạy dài như một con đường quan lộ. Có lối đi từ chân núi lên đỉnh rồi chạy qua hòn Sống, ra đèo Bồ Bồ..., theo đường tắt ra vùng Kim sơn. Chính nghĩa quân Cần Vương đã dùng con đường này để liên lạc với các mật khu trong hai vùng Bắc Nam.

Trong dãy núi phía sau lưng hòn Sung, có ngọn suối gọi là SUỐI ÐÁ vì khô quanh năm và trong lòng ngổn ngang là đá, thiên hình vạn trạng, chơm chởm, chập chồng. Ði vào trong sâu, có nhiều hang hố ẩn núp được kín đáo, và muốn vào suối phải qua nhiều lớp gò nổng. Thật có thế "một người chống được cả trăm". Nơi đó là một trong những mật khu của nghĩa quân Cần Vương, do em ruột Mai anh hùng là Mai Xuân Quang trấn giữ.

Những núi non của dãy Tây Sơn ở phía hữu ngạn sông Côn đại khái là thế. Còn bên tả ngạn, thì núi non cũng trùng trùng điệp điệp. Cùng theo một chiều, lớp chạy lên trên An khê, lớp chạy thẳng vào biên giới Phú yên, lớp chạy xiên xiên xuống hướng đông nam, từ Ðịnh quang xuống Thượng giang, Tả giang, Trình tường, Phú phong; thành từng giây dài, chằng chịt, liên miên... chằng chịt.

Ðèo AN KHÊ mở lối giao thông giữa Bình Định và vùng Tây Nguyên. Tên An khê mới thông dụng từ thời Pháp thuộc. Trước kia gọi là đèo VĨNH VIỄN.(3) Ðèo An khê cao đến 740 thước và dài trên 10 cây số, chạy từ đông lên tây. Ðường đi rất hiểm trở. Ngày xưa khi Quốc lộ số 19 chưa mở, hành khách phải chịu lắm nỗi gay go. Dọc đèo có nhiều nơi dốc ngược, đá mọc lởm chởm. Có khúc phải dăng hai chân mà leo mới khỏi té. Nơi này tục gọi là dốc CHÀNG HẢNG. Dưới dốc Chàng hảng về phía đông có một cái nghẹo, nơi nghẹo có một cây khế rất sai. Hành khách lên đèo mỏi mệt, thường dừng chân nơi gốc khế để nghỉ ngơi và giải khát. Nghẹo ấy tục gọi là Nghẹo CÂY KHẾ. Cách nghẹo Cây Khế chừng một khỏang có hai cây cổ thụ sống trên vài trăm năm, thân cao tàn cả, một cây KÉ, một cây CẦY. Ðó cũng là hai trạm nghỉ chân rất được hành khách lưu luyến. Trên đỉnh đèo có đồn Thượng an do người Pháp cất.

Thời chiến tranh Việt Pháp (1945-1954), nơi đồn này đã xảy ra nhiều trận kịch chiến. Và trước ngày ký Hiệp định Genève, quân Pháp ở trong đồn đã bị nghĩa quân tiêu diệt gần hết. Tiếp đó đồn An khê ở phía tây đèo, cũng bị bao vây. Thực dân Pháp và các nhà tư bản Việt Nam ở thị trấn An khê phải tản cư bằng máy bay.

Trước đây gần 200 năm, đèo An khê là con đường lên xuống của binh mã nhà Tây Sơn. Hùng khí vẫn còn ngùn ngụt. Chung quanh đèo, núi non chồng chất. Ở vùng An khê (tức quận An túc hiện giờ) có núi HIỂN HÁCH tục gọi là Hảnh Hót và Ðại Nam Nhất Thống Chí chép là HINH HỐT là một danh sơn có nhiều danh mộc, và chung quanh có nhiều ngọn núi qui triều. Núi vùng An khê liên tiếp với vùng Cao nguyên.

Phía đông đèo An khê, thuộc Tây Sơn Trung, núi cũng cao chớm chở như vùng Tây Sơn Thượng, tức vùng An túc. Ngọn núi có danh nhất là hòn ÔNG BÌNH. Hòn ÔNG BÌNH nằm phía tây thôn Thượng giang. Tuy cao chỉ có 793 thước, song trông rất kỳ vĩ, và có vẻ bí hiểm. Cây cối sầm uất, ngó mịt mờ thăm thẳm như không có đường lưu thông. Nhưng sự thật thì có nhiều đường lối ra vào. Nơi triền phía bắc, có đường đèo đi từ Ðồng hào ở ngả đông, lên Trạm Gò, Cửu an ở ngả tây. Ðèo này gọi là đèo VẠN TUẾ, tuy ngắn song dốc và đá mọc lởm chởm, nên rất khó đi. Ở triền phía nam, có con đường mòn chạy theo hướng đông nam để đến đèo An khê. Ðó là con đường lịch sử (sẽ nói rõ ở đoạn sau). Ðối trĩ cùng hòn Ông Bình, xiên xiên về hướng đông nam có hòn ÔNG NHẠC cao và rậm không kém hòn Ông Bình. Khí thế cũng rất hùng hiểm.

Từ hòn Ông Nhạc, núi chạy lớp thì vào thẳng trong Nam, lớp thì chạy xiên xiên xuống hướng đông nam. Danh sơn đều nằm trong dãy đông nam. Trước hết là hònTÂM PHÚC, tục gọi là hòn BÀ PHÙ. Hòn Tâm Phúc không cao, hình giống như chiếc nón lá úp sấp. Núi có nhiều cây cổ thụ và nhiều thú rừng, nhất là heo. Ðây là một hòn núi cấm, không ai được vào đốn củi, săn thú. Nhưng không cấm cũng ít ai dám vào, vì truyền rằng núi rất linh thiêng. Bà Thiên-Y A-Na thường tới lui, hào quang sáng chói. Thường ngày lúc mặt trời gần lặn, người ở gần núi thường nghe tiếng ụt heo inh ỏi. Người ta bảo rằng đó là tiếng của những kẻ bộ hạ ở nuôi heo cho bà Thiên Y. Vì núi có bà Thiên Y tới lui nên mới mệnh danh là hòn Bà Phù, tức là hòn núi của bà có Phù Phép.

Gần hòn Bà Phù có hòn MÀN LĂNG. Hai núi đối trĩ nhau. Thầy địa gọi hòn Màn Lăng là hòn Nhật, hòn Bà Phù là hòn Nguyệt. Giữa hòn Màn Lăng và hòn Bà Phù có một thung lũng bằng phẳng và kín đáo, tục gọi là Hóc Yến. Qua khỏi Hóc Yến đến núi ÐÔNG PHONG tục gọi là hòn LÃNH LƯƠNG. Những ngọn núi thượng dẫn liên hệ mật thiết với nhau, chẳng những về phương diện địa lý vì cùng một sơn mạch; mà còn liên hệ về mặt lịch sử, lịch sử nhà Tây Sơn.

.

TRUYỀN THUYẾT

Nhà Tây Sơn trước khi khởi nghiệp đã dùng dãy núi Tây Sơn làm căn cứ quân sự. Và đạo quân tiên phong gồm hầu hết người Thượng.Truyền rằng: Tất cả các bộ lạc ở vùng Tây Sơn đều theo tam kiệt. Chỉ có người Thượng Xà Ðàng ở vùng An khê không phục. Ðể cho họ tin rằng mình là người của Trời sai xuống trị thiên hạ, Nguyễn Nhạc dùng giỏ bội gánh nước.

Họ Nguyễn lấy một đôi giỏ bội mới, dùng giấy bổi quét dầu trong phất ở phía trong lòng giỏ. Rồi mỗi buổi sớm gánh đôi giỏ xuống khe múc nước về. Người Thượng đứng xa trông thấy nước không chảy ra các lỗ giỏ, đều cho Nguyễn Nhạc là kỳ nhân. Nhưng viên chúa đảng cho rằng có phù phép, chớ không phải chơn mạng đế vương.

Nhân trên núi Hiển Hách có bầy ngựa rừng, hễ thấy bóng người liền chạy trốn. Người chúa đảng bảo Nguyễn Nhạc nếu gọi được bầy ngựa ấy chạy đến thì mới thật là người Trời. Nguyễn Nhạc về nhà mua một con ngựa cái tơ thật tốt, dạy dỗ thật khôn hễ nghe tiếng hú thì chạy đến. Ðoạn đem thả ngựa vào núi cho theo bầy ngựa rừng. Ngựa rừng xúm lại "ve vãn" và luôn luôn kèm bên chân. Nguyễn Nhạc cất tiếng hú, ngựa cái chạy đến. Bầy ngựa rừng cũng chạy theo, nhưng vừa thấy bóng người thì quày trở lui, song chạy một đoạn xa xa, ngoảnh lại trông, thấy ngựa cái vẫn đứng với người một cách thân mật, thì dừng lại đứng ngó. Nguyễn Nhạc lấy cỏ bỏ cho ngựa cái ăn, rồi bỏ ra về. Bầy ngựa rừng liền kéo đến ăn cỏ. Hôm sau Nguyễn Nhạc lại đến hú và lấy cỏ cho ngựa ăn. Bầy ngựa rừng thấy người không có ý làm hại giống nòi, lần lần làm quen...

Nguyễn Nhạc bèn đến tìm chúa Xà Ðàng, hẹn ngày và nơi gọi ngựa.Ðến kỳ hẹn, Nguyễn Nhạc cùng chúa Xà Ðàng và một ít bộ hạ đến núi Hiển Hách. Nguyễn Nhạc đứng giữa hai tảng đá dựng cao lút đầu người, và bảo chúa Xà Ðàng cùng bộ hạ núp phía sau, im hơi lặng tiếng. Ðoạn cất tiếng hú. Nghe tiếng chủ hú, ngựa cái từ trong rừng sâu chạy ra. Bầy ngựa rừng chạy theo sau. Nguyễn Nhạc lấy cỏ cho ăn. Ðã quen người quen lệ, bầy ngựa rừng không chút sợ hãi. Nguyễn Nhạc vuốt ve ngựa cái rồi từ từ đến gần bầy ngựa, vuốt mỏ vuốt lưng, hết con này đến con khác. Vì thấy ngựa cái đứng yên để vuốt ve, bầy ngựa rừng cũng vững tâm ăn cỏ...

Người Thượng Xà Ðàng thấy Nguyễn Nhạc "gọi" được bầy ngựa rừng thì tin rằng là "Người Trời", nên thần phục và chịu theo đánh giặc. Những người Thượng cũng như người Kinh, tuyển mộ được bao nhiêu đều đem về hòn Ông Bình và Ông Nhạc để tập luyện. Dinh trại đều cất trong hai núi này. Nguyễn Nhạc trấn thủ một núi, Nguyễn Huệ trấn thủ một. Vì vậy nên hai ngọn núi này mang tên hai vị chỉ huy: Ông Nhạc, Ông Bình. Bình là tên chữ Nguyễn Huệ (Nguyễn Quang Bình). Ðối với Nguyễn Huệ, người địa phương ít hay gọi tên húy. Lúc nhỏ thì thường gọi là "chú Ba Thơm" (hoa Huệ có hương), lớn lên lại thường hay gọi tên chữ "Ông Bình". Tên Nguyễn Quang Bình tuy đã đặt từ trước, nhưng mãi sau khi lên ngôi cửu ngũ lấy niên hiệu Quang Trung, đánh đuổi quân Mãn Thanh rồi mới thấy xuất hiện trong sử sách. Sau khi vua Quang Trung thăng hà, miếu hiệu Thái tổ Vũ Hoàng đế, thì hòn Ông Bình được tôn xưng là hòn Thái tổ. Còn hòn Ông Nhạc thì người sau đọc trại là Ông Nhược.

Nhà Tây Sơn cử binh đánh nhà Nguyễn năm Tân Mão (177. Trước khi cử sự, binh đóng ở hòn Ông Nhạc đều dồn qua hòn Ông Bình. Rồi đại binh kéo đến đèo An khê làm lễ tế cờ khởi nghĩa. Lễ tế cờ cử hành gần nơi cây Cầy và cây Ké. Cho nên tục ngữ có câu "Cây Ké phất cờ, cây Cầy khỉ cổ".(4)

Truyền rằng: Ðại binh kéo đến đèo An khê khi xuống vừa khỏi nghẹo Cây Khế, thì một con rắn thân lớn bằng cột nhà, sắc đen nhánh như hạt huyền, thời nhân gọi là Ô Long, từ trên cây Ké bò xuống, nằm chận ngang đường đi. Binh mã sợ không dám đến. Nguyễn Nhạc liền xuống ngựa, tuốt gươm đến chém, lấy máu đề cờ. Nhớ chuyện Hán Cao Tổ chém rắn khởi nghĩa, tướng sĩ tin là điềm lành nên nức lòng phấn chí. Tế cờ xong liền tiến binh. Binh đến núi Bà Phù thì trời tối. Nguyễn Nhạc bèn dừng lại nghỉ. Ðêm đến mở yến tiệc thết đãi tướng sĩ tại thung lũng dưới chân Bà Phù. Sáng hôm sau mới tiếp tục tiến phát.

Nhân việc đồn binh được yên ổn, và yến ẩm vui vầy, Nguyễn Nhạc mới đặt tên hòn Bà Phù là hòn Tâm Phúc, và người đương thời gọi thung lũng là Hóc Yến. Trước khi xuất binh, Nguyễn Nhạc đã sai Nguyễn Lữ đi vận tải lương thực đến chân núi Ðồng phong. Khi binh xuống đến Ðồng phong thì lương thực cũng vừa tải đến. Nguyễn Nhạc cho đóng binh lại để phát lương và nghỉ ngơi để chuẩn bị tinh thần chiến đấu. Tướng sĩ được lãnh lương thực tại Ðồng phong nên gọi núi Ðồng phong là hòn LÃNH LƯƠNG.

Từ hòn Ông Nhạc đến hòn Lãnh lương, núi chạy dọc, xiên xiên xuống hướng đông nam. Nhưng đến địa đầu thôn Trinh tường, núi lại quay ngang ra hướng bắc, thành hòn HOÀNH SƠN, tức là NÚI NGANG, nằm theo hướng tây nam - đông bắc. Núi Ông Bình ngó ngay xuống Hoành sơn và làm hậu tẩm cho Hoành sơn vậy. Hòn HOÀNH SƠN không cao (361 thước), nhưng dài và rộng. Phía tây và phía nam, dòng suối Ðồng tre và chi lưu ôm sát bên chân. Ðường quốc lộ 19 chạy dài ở phía bắc. Trước mặt, đồng Trinh tường tiếp đồng Phú phong, và bên chân một con đường hương lộ chạy từ bắc vào nam, hợp cùng quốc lộ 19 và hai nhánh suối Ðồng tre, thành một chữ NHẬT làm ranh giới cho núi. Mộ của Nguyễn Phi Phúc, thân sinh của Tây Sơn tam kiệt, nằm trong hòn núi này (Hoành sơn).

Truyền rằng: Niên hiệu Cảnh Hưng triều Lê (1740-1786), trong khoảng Ðịnh vương Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777) trị vì miền Nam, có một thầy địa lý Trung hoa, tục gọi là thầy địa Tàu, thường ngày cứ đi đi lại lại trong vùng Tây Sơn. Nguyễn Nhạc theo rình xem. Một hôm thấy thầy địa đến Hoành sơn, dùng hai cây trúc cành lá xanh tốt và giống in nhau, đem cắm nơi triền phía đông, một cây ngoài bắc, một cây trong nam, rồi bỏ mà đi thẳng. Biết rằng vùng Tây Sơn là một đại địa, và thầy địa Tàu không tìm ra huyệt tinh nên tìm cách để thử huyệt khí, Nguyễn Nhạc bèn lưu ý đến nơi trồng hai cây trúc và ngày ngày đến thăm chừng. Cách mấy hôm sau, cây trúc phía bắc sống và tươi tốt như lúc mới trồng. Ðó là chứng ứng cho biết rằng long huyệt nằm ở đó. Nguyễn Nhạc hết sức mừng, bèn nhổ cây khô đem cắm vào chỗ cây sống, và đem cây sống đến cắm chỗ cây khô.

Mười hôm sau, tính đúng 100 ngày từ khi trồng trúc, thầy địa Tàu đến. Thấy hai cây trúc đều chết cả hai, thầy địa nhún vai trề môi, bỏ đi không thèm trở lại nữa. Bởi thầy cho rằng đó chỉ là "giả cuộc" mà thôi. Nguyễn Nhạc bèn về bốc mộ ông thân sinh đem táng nơi chân trúc phía bắc. Lại có người bảo rằng: Thầy địa lý Tàu vốn quen thân với Nguyễn Nhạc. Lúc đến vùng Tây Sơn "tìm long điểm huyệt", thường tá túc nơi nhà họ Nguyễn, và chính Nguyễn Nhạc là người dẫn lộ cho thầy Tàu. Ði khắp cả vùng Tây Sơn, thầy địa chỉ chú ý đến hòn Hoành sơn. Thầy đi qua đi lại không biết mấy lần, hết đặt địa bàn ở chỗ này thì đem đặt ở chỗ khác, ngắm nghía, tính toán, có vẻ đắc ý lắm. Ðoạn thầy bỏ đi đâu mất biệt. Hơn một năm sau thầy trở lại và cũng ghé nghỉ ngơi nhà Nguyễn Nhạc. Lần này ngoài chiếc địa bàn, thầy còn mang theo một chiếc trắp nhỏ, bọc trong một chiếc khăn điều.

Ðoán biết rằng thầy Tàu đã tìm được "huyệt mả đại phát" nơi Hoành sơn nên về Tàu hốt cốt tiền nhân đem qua chôn, Nguyễn Nhạc bèn tìm cách đánh đổi. Nhưng làm sao đánh đổi được, vì thầy Tàu không khi nào rời chiếc trắp ra, thậm chí cả những lúc "đi sông đi bãi"? Nguyễn Nhạc đóng một chiếc trắp giống hệt chiếc trắp của thầy địa, và hốt cốt ông thân sinh đựng vào, rồi đem dấu sẵn nơi chân Hoành sơn...

Ðến ngày đã chọn, thầy Tàu lén mang chiếc trắp cùng địa bàn đi lên Hoành sơn. Vừa đến chân núi thì một con cọp tàu cau to lớn ở trong bụi, gầm lên một tiếng, nhảy ra vồ. Thầy Tàu hết hồn, quăng trắp và địa bàn mà chạy. Hồi lâu không thấy cọp đuổi theo, liền quay trở lại chỗ cũ. Thấy chiếc trắp và địa bàn còn nằm lăn lóc đó, thầy mừng như chết đi sống lại, vội trực chỉ lên nơi long huyệt đã tìm ra. Chôn cất xong yên thầy hớn hở trở về Trung quốc, không ngờ rằng chiếc trắp thầy chôn vốn đựng di hài Nguyễn Phi Phúc, và con cọp kia chỉ có lớp ngoài mà thôi.

Hai thuyết không biết thuyết nào đúng. Hai bên chỉ khác nhau ở chi tiết. Cả hai đều đồng một điểm chính là mộ Nguyễn Phi Phúc chôn ở Hoành sơn. Song không ai biết đích xác ở chỗ nào. Chỉ nghe truyền rằng mộ gối đầu lên dãy núi phía tây nam ( và lấy hòn Hương sơn ở Kiên thạnh (Bình khê) làm nội án, hòn Mò O (An nhơn) làm ngoại án. Hai hòn này nằm xiên xiên hướng đông bắc hòn Hoành sơn. Vì có mộ của Nguyễn Phi Phúc, nên hòn Hoành sơn được tôn xưng là THIẾU TỔ.

Sát chân núi Ngang phía đông, khoảng giữa, nổi lên một trảng đất lum lum. Trong khoảng này dáng núi lại hơi cong cong. Ðứng phía trước trông vào thì giống một ghế bành vĩ đại, mà lưng và tay dựa là núi, và mặt ghế là trảng đất. Trên trảng nằm song song hai nấm mộ bằng đá, hình chữ nhật. Vua Gia long ngờ rằng đó là phần mộ của ông bà Nguyễn Phi Phúc , song thân ba vua Tây Sơn, nên truyền quan địa phương khai quật. Nhưng hài cốt không thấy đâu cả, mà chỉ thấy bốn chum dầu phụng đã lưng, trong mỗi chum có một ngọn đèn chong chóng đang cháy.

Ai cũng biết bốn chum dầu ấy do nhà Tây Sơn chôn, song không ai đoán ra mục đích. Và tất cả mọi người đều biết di hài của ông bà Nguyễn Phi Phúc táng tại Hoành sơn, nhưng cũng không có người nào biết được nơi chôn. Vua quan nhà Nguyễn ra công tìm kiếm, nhưng dấu tích vẫn mờ mịt khói mây. Nơi trảng đất dưới chân Hoành sơn, hiện nay vẫn còn ít nhiều di tích. Những khách phương xa đến viếng cảnh, không biết rõ câu chuyện, đều lầm tưởng là mộ Nguyễn Phi Phúc bị đào.

Có người bảo rằng ngọc cốt của vua Thái Ðức Nguyễn Nhạc cũng táng trong vùng Hoành sơn. Ðó là bằng theo chuyện "bạch mã hiện hình" mà ức đoán. Nguyên vua Thái Ðức có một con chiến mã: Thân vóc cao lớn như ngựa Bắc thảo, lông trắng như tuyết, đuôi và kỳ mao mịn như tơ. Nhà vua yêu quí rất mực. Sau khi nhà vua băng hà, con bạch mã sổ chuồng chạy mất, quan quân tìm kiếm không ra. Cách ít lâu, chiều chiều người trong vùng Hoành sơn thường trông thấy bóng ngựa trắng, khi thì đi thơ thẩn dưới chân núi, khi thì lên trên đỉnh đứng hí não nùng. Mọi người đều tin rằng đó là con bạch mã, hoặc là hồn thiêng con bạch mã của vua Thái Đức. Vì tôn trọng nhà vua, người trong ấp Tây Sơn không một ai nuôi ngựa trắng. Nhưng sau khi hai nấm mộ giả nơi trảng đất dưới chân núi bị nhà Nguyễn phá hủy, thì bóng ngựa vắng biệt trong một thời gian khá lâu. Mãi đến khi nhà anh hùng Mai Xuân Thưởng dấy nghĩa Cần Vương (1885-1887) thì bạch mã xuất hiện trở lại. Người địa phương cho là "ngựa thần" nên hết lòng kính sợ.

Vì sao thấy "ngựa trắng hiện hình" lại đoán rằng lăng mộ vua Thái Ðức táng nơi núi Ngang? Là vì ngựa vốn là giống vật rất khôn và có nghĩa. Nhiều con, chủ chết, bỏ ăn bỏ uống ra mả nằm chết theo. Lắm con không chết theo, nhưng thỉnh thoảng tìm đến thăm mả chủ, và cất tiếng hí thê lương. Nếu ngọc cốt của nhà vua không an táng nơi Hoành sơn thì sao con ngựa - hay hồn ngựa - của nhà vua lại tìm đến.

Ðó là ức đoán, chớ từ xưa đến nay không ai biết rõ nơi chôn cất vua Thái Ðức, mặc dù vẫn truyền rằng di thể được long trọng đưa về cố hương. Còn về việc người Bình khê, nhất là người Phú lạc, Trinh tường, không nuôi ngựa trắng thì trước kia hoàn toàn do lòng tôn trọng vua Tây Sơn, sau này một phần lớn do lòng mê tín: sợ thần Bạch Mã.

Nghe đồn rằng: Thời Pháp thuộc, tại Ðồng vụ (thuộc Trinh tường) có người mua được một con ngựa bạch toàn sắc, đem về nuôi không được bao lâu thì tự nhiên ngã đùng ra chết. Người ta tin là bị thần Bạch Mã vật. Do đó lòng kiêng cữ nuôi ngựa trắng của người địa phương gia tăng.

Ðó là những chuyện ngày xưa. Từ ngày đất nước nổi binh đao, không biết ngựa trắng có còn xuất hiện nơi Hoành sơn và người vùng Hoành sơn có còn sợ thần Bạch Mã? Dù có hay không có, những huyền thoại kể trên thêm vào những di tích lịch sử, làm tăng phẩm giá cho Hoành sơn.

Năm Tân Sửu (196, nhân dân Bình khê lại dời trung cốt Mai anh hùng đến an táng. Lăng tẩm trang nghiêm hùng tráng làm tăng khí sắc của sông núi bội phần. Khách du quan đến Bình Định, tưởng không nên quên núi Ngang vậy. Các thầy địa lý Việt Nam cũng như Trung hoa đều công nhận đất Hoành sơn là đại địa, vì có nào bút nào nghiên, nào ấn nào kiếm, nào cổ nào chung, ở bên tả bên hữu. Trước mặt trên ba nổng gò, đá mọc giăng hàng giống như những toán quân đứng chầu chực. Và xa xa có hổ phục long bàn.

Không phải ngoa ngôn: Bút đó là hòn Trung sơn ở bên Phú lạc, xa trông phảng phất như ngòi bút chép mây. Nghiên đó là hòn Hội sơn tục gọi là hòn Dũng, trong địa phận Trinh tường về phía nam, đứng đối trí cùng hòn Trung sơn ở phía bắc. Cũng như hòn Hoành sơn và hòn Trung sơn, hòn Hội sơn không cao lắm (491 m) nhưng trông đồ sộ, uy nghiêm. Trên núi có một vũng nước vừa rộng vừa sâu, quanh năm không bao giờ cạn. Người địa phương lên vỡ đất làm ruộng, đất tốt không kém dưới đồng bằng. Vì núi có vũng nước nên đám bình dân, gọi núi là hòn Vũng thay vì hòn Dũng. Còn đám hàn mặc thì coi vũng nước là nghiên mực của trời, nên đặt cho núi một tên nữa là NGHIÊN SƠN tức HÒN NGHIÊN vậy. Lên chơi hòn Nghiên, Ðịnh Phong có mấy câu cảm hứng:

“Trên non có nước
Gắng bước mà lên
Nước non còn nợ chớ quên
Lòng trong với nước gan bền cùng non
Trời Tây mây kéo hoàng hôn
Biển Ðông thấp thoáng sóng dồn bình minh
Nghiên son mài ráng lung linh
Bút tuôn hàng nhạn chép tình nước non...”

Hòn NGHIÊN và hòn BÚT nằm bên hữu và bên tả hòn Hoành sơn, trông thật cân đối. Khách thơ ví von Hoành sơn như bức bình phong, còn hai hòn BÚT NGHIÊN là hai trụ ba biểu đứng hai bên, hơi lấn ra phía trước một ít. Sát bên chân hòn Hoành sơn lại có hai hòn núi nhỏ đứng song song, giống hệt bộ chuông trống nho nhỏ để trước chiếc án thờ. Ðó là HÒN MỘT và HÒN GIẢI. Cổ nhân gọi hòn Một là CHUNG SƠN tức hòn Chuông, hòn Giải là CỔ SƠN tức hòn Trống.

Cổ nhân đặt tên không phải dựa vào vị trí, nhưng dựa hình dạng. Hòn Một trông phảng phất qủa chuông đồng. Còn hòn Giải thì đứng ở phía bắc trông vào thì dáng tròn tròn như cái trống. Nhưng đứng phía đông mà ngó lại thấy hơi vuông vuông như một chiếc ấn. Vì vậy hòn Giải còn có tên nữa là ẤN SƠN tức hòn Ấn. Ðặt cho hòn Giải tên Ấn sơn chẳng phải vì hình dáng mà còn vì ở phía đông, nơi vùng Gò Sặt (Trinh tường) có một hòn núi thấp và dài gọi là hòn KIẾM SƠN tức hòn Kiếm. Có Kiếm thì phải có Ấn mới đủ đôi.

Truyền rằng: Sau khi chiếm được long huyệt ở Hoành sơn thì ba anh em Nguyễn Nhạc vùng phát tướng. Gương mặt trông sáng rỡ, và việc học hành - võ cũng như văn - tiến bộ lạ thường. Thầy học là cụ Giáo Hiến - một người miền Ngoài, giỏi văn lẫn võ, lại rành khoa tướng số - trước kia vốn đã có biệt nhãn cùng ba anh em họ Nguyễn, nay thấy thần sắc, biết vận trời đã đến, bèn đem câu sấm "Tây khởi nghĩa, Bắc thu công" ra khuyên Nguyễn Nhạc vè lo mưu đồ đại sự. Vâng lời thầy, ba anh em trở về Kiên thành lo chiêu mộ hào kiệt.

Vùng đất Tây Sơn xưa kia núi rừng rậm rạp, chuyện thần linh qủy dữ lan tràn khắp đó đây. Ðể quy tụ lòng dân, Nguyễn Nhạc bèn lợi dụng óc mê tín của quần chúng. Hòn Trung sơn ở Phú lạc tuy ở gần thôn xóm, nhưng ít ai dám lên vì sợ "mả mẹ chàng Lía", và nhất là sợ cọp. Thỉnh thoảng Nguyễn Nhạc cho người tâm phúc lên núi, nủa đêm nổi trống nổi chiêng. Người chung quanh vùng kẻ cho rằng hồn chàng Lía về cúng mẹ, người lại bảo đó là quỉ thần mở hội vui. Kẻ bàn người tán, không mấy lúc tiếng bay tận ngàn xa, một thành mười, mười thành trăm... Hòn Trung sơn từ xưa đã có tiếng càng thêm nổi tiếng.

Một hôm, nhà Nguyễn Nhạc có kỵ. Khách khứa đông đúc. Cỗ bàn vừa ăn xong thì trời đã khuya. Những người ở xa đều phải nghỉ lại, còn người trong xóm thì lục tục ra về. Bỗng trên Trung sơn, tiếng trống chiêng vang dội, và trong bóng cây trên đỉnh, ánh lửa lập loè. Ai nấy đều kinh dị. Nguyễn Nhạc rủ người lên xem thử "quỉ thần làm trò gì". Phần đông đều e ngại. Chỉ bốn năm tay lực sĩ xin theo.

Nai nịt gọn gàng, chân vũ hài, tay trường kiếm, đoàn người lần bước lên đỉnh Trung sơn. Khi gần đến đỉnh, trong ánh lửa mập mờ hiện ra một ông lão râu ba chòm bạc phếu, đầu đội mũ cánh chuồn, mình khoác áo đại bào, chân đi hia..., bộ dạng giống hệt một ông lão văn trong các vở tuồng hát bội. Ai nấy ớn lạnh vì sợ, và không ai bảo ai, mọi người đều dừng lại một lượt. Ông lão cất tiếng bảo: Trong anh em có ai là Nguyễn Nhạc chăng? Nếu có thì hãy lại gần đây nghe lệnh. Còn các người khác hãy đứng yên. Nguyễn Nhạc run sợ bước ra, đến quì trước mặt ông lão. Ông lão phất tay áo, lấy ra một tờ chiếu rồi đọc lớn: Ngọc Hoàng sắc mạng Nguyễn Nhạc vi Quốc vương.

Ðoạn trao tờ chiếu cho Nguyễn Nhạc rồi quay bước đi vào trong bóng tối. Từ ấy tiếng đồn khắp nơi, và ngôi Quốc vương của Nguyễn Nhạc nằm vững trong tâm trí quần chúng. Trong đám sĩ phu, trừ cụ giáo Hiến, không mấy ai biết đó là kế của Nguyễn Nhạc.

Chưa lấy làm đủ, Nguyễn Nhạc còn tìm một thanh bảo kiếm và đúc một quả ấn vàng, rồi đem dấu trong vùng núi Trinh tường.

Một hôm cùng bộ hạ ở An khê về, đến Hoành sơn thì ngựa của Nguyễn Nhạc lồng lên, rồi thẳng cổ chạy nước đại. Nhưng không chạy trẽ ra hướng bắc để qua sông về Kiên thành, lại chạy vào hướng đông nam. Ðến chân núi phía trong gò Sặt, cương ngựa bị đứt, Nguyễn Nhạc té nhào, trặc chân không đứng dậy nổi. Ðám tùy tùng chạy đến xoa bóp hồi lâu mới đỡ. Khi đứng dậy để lên ngựa trở về, Nguyễn Nhạc chợt thấy chuôi kiếm ló ra nơi vách đá trên sườn núi. Sai người lên lấy thì là một thanh kiếm xưa lưỡi sáng như nước. Ai nấy đều mừng là "của trời ban".

Về nhà Nguyễn Nhạc nói cùng hai em và thuộc hạ: Ngọc Hoàng đã sắc phong ta làm Quốc vương, lẽ tất nhiên là phải ban ấn kiếm. Nay kiếm đã có rồi, ta phải đi tìm ấn. Ðoạn tổ chức ngay lễ cầu đảo tại chân núi Hoành sơn. Cầu đảo ba đêm ngày. Ðêm làm lễ, ngày cho người đi tìm khắp nơi. Ðã hai ngày liền, hàng trăm người chia nhau đi khắp các núi khe quanh Hoành sơn, mà không có kết qủa. Ðêm thứ ba, lúc nửa đêm chiêng trống hành lễ vừa dứt, thì một vòi lửa như pháo thăng thiên bay xẹt từ hòn Một đến hòn Giải thì rơi xuống. Tiếp đó một tiếng nổ nhỏ như tiếng pháo tre, rồi một tiếng nổ lớn có phần dữ dội làm chấn động cả vùng. Ai nấy đều thất kinh. Sáng sớm Nguyễn Nhạc đem người đến hòn giải xem, thì thấy sườn phía nam có một vùng như bị sét đánh lở và nám đen. Trèo lên xem thì một quả ấn vàng nằm trong kẽ đá tại nơi bị lở. Ai nấy đều tin là "ấn trời ban".

Sau khi dụ được người Thượng các sóc theo mình, Nguyễn Nhạc dùng rừng Mộ điểu làm căn cứ quân sự. Dinh trại đóng trên núi. Ðể lấy lương thực nuôi quân, cho phá rừng làm ruộng. Công việc khai khẩn, tiếp đến công việc canh tác và thu hoạch đều do cô Hầu đảm đương.

Khi Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng đế ở Ðồ Bàn, cô Hầu vẫn ở nhà khai thác đồng lúa. Do đó đồng mệnh danh là đồng Cô Hầu. Và ngọn núi coi như là nơi phát tích nhà Tây Sơn nên được tôn xưng là núi HOÀNG ÐẾ. Khi mới khởi sự, binh lính của nhà Tây Sơn phần đông đều là người Thượng. Những người Thượng mộ được ở vùng An khê (An túc hiện thời) trước hết đều dồn về căn cứ Mộ Ðiểu tập luyện trong ít lâu rồi mới đưa xuống núi Ông Bình, Ông Nhạc ở dưới đèo An khê để khép vào hàng ngũ và huấn luyện thêm.

Truyền rằng: Một hôm Nguyễn Huệ vâng lệnh anh chỉ huy một đạo tân binh từ Mộ điểu xuống An bình. Gần đến chân phía tây đèo An khê thì đạo binh vùng thối lui: Một cặp rắn mun cực kỳ to lớn nằm chận giữa đường, cổ cất cao như cột nhà cháy và miệng hả to như hai chậu máu tươi. Mọi người đều kinh hồn và cho là một điềm xấu. Nguyễn Huệ liền xuống ngựa, chấp tay khấn: Nếu anh em chúng tôi có thể dựng được nghiệp lớn thì xin Xà Thần tránh đường cho quân đi. Bằng mạng số chúng tôi không ra gì thì chỉ xin cắn chết tôi mà tha cho quân lính được sống về cùng vợ cùng con. Vừa khấn xong thì cặp rắn quay đầu xuống, song song đi trước dẫn đường cho đạo binh. Tới thôn Thượng an thì dừng lại. Một con vào bụi rậm ngậm ra một thanh long đao, cán đen như mun, lưỡi bén như nước. Rồi cả hai ngậm ngang thanh đao, song song bò đến dâng cho Nguyễn Huệ. Ðoạn biến mất. Thanh đao Nguyễn Huệ dùng đánh giặc là thanh đao của thần rắn dâng. Ðể tỏ lòng tri ân, Nguyễn Huệ lập miếu thờ thần rắn tại nơi dâng đao. Miếu ấy hiện nay vẫn còn và tục gọi là Miếu Xà.

Nhưng miếu hiện thời không phải là miếu ngày trước. Vì miếu xưa đã lâu đời bị sập đổ. Trong một khoảng thời gian khá lâu dấu tích đã bị mất hẳn. Nhưng rồi cọp thường ra ngồi rình nơi sân miếu, hành khách qua lại bị hao khá nhiều. Ðể tránh hổ hoạn, người địa phương bèn lập lại miếu thờ, hầu mong thần rắn phù hộ.

Lại có người bảo rằng: Miếu xà là nơi thờ con rắn mà Nguyễn Nhạc đã chém lấy máu đề cờ khi cử lễ xuất binh đánh chúa Nguyễn. Con rắn Nguyễn Nhạc chém đó cũng loại rắn mun. Chuyện Nguyễn Nhạc chém rắn lấy máu đề cờ thường nghe các phụ lão ở miệt dưới đèo An khê kể. Chuyện rắn mun dâng long đao cho Nguyễn Huệ thường nghe các phụ lão ở vùng phía tây đèo An khê và những người buôn Thượng kể.

Một bên thì lấy cây Cầy cây Ké ở đèo An Khê, là nơi Nguyễn Nhạc tế cờ trước khi xuất binh, và câu "Cây Ké phất cờ, cây Cầy khỉ cổ" của địa phương làm bằng. Một bên thì chỉ "Miếu Xà" làm chứng. Chuyện tuy không có sách vở chép để, song có bằng chứng rõ ràng. Như vậy tin cũng khó mà không tin cũng khó.

Những câu chuyện huyền thoại thường đều xây dựng trên sự thật. Chuyện "chém rắn đề cờ", chuyện "rắn thần dâng đao", một là chuyện có thật, nhưng "có ít xít ra nhiều"; hai là những con rắn thần kia do nhà Tây Sơn "đẻ ra". Những câu chuyện "Ngọc Hoàng ban sắc", "Ngọc Hoàng ban ấn kiếm", đã kể ở các mục trước, có thể chứng minh cho thuyết "rắn do người đẻ".

Mà những bậc đại tài như Tây Sơn tam kiệt thì chỉ hai bàn tay trắng còn gây được sự nghiệp nghìn thu, huống hồ chỉ "đẻ" ra những linh vật. Và trong khoảng nước non từ đồng cô Hầu, núi Hoàng đế đến đèo An khê còn nhiều chuyện hư hư thực thực về nhà Tây Sơn.

“Còn non còn nước còn người
Còn duyên bút mực còn lời nước non”.



Quách Tấn

Làng Hành Thiện

Đất khoa bảng truyền thống. * Quê hương của cố Tổng Bí thư Trường Chinh

Từ huyện lỵ (mới) huyện Xuân Trường, Nam Định đi qua giáo phận Bùi Chu, mất khoảng mười phút xe ô tô là đến làng Hành Thiện. Hành Thiện là ngôi làng cổ thuộc hành lang phủ Thiên Trường, cái tên Hành Thiện có từ đời Lê Trung Hưng thứ nhất, năm 1454.

Hành Thiện, tạm giải nghĩa là nơi chỉ làm những điều lành, điều thiện. Bản đồ làng Hành Thiện mang hình một con cá chép: đầu hướng Nam, đuôi hướng Bắc, bụng hướng Tây, lưng hướng Đông. Nơi đầu cá có miếu thờ thần Tam giáp, người có công đầu tạo lập làng. Nơi bụng cá là chợ Hành Thiện, một cái chợ quê rất đông đúc. Khu dân cư ở từ mang cá đến rốn cá, được chia thành 14 khúc, mỗi khúc cách nhau 60 mét. Chiều sâu của khúc dài nhất là 600 mét, khúc ngắn nhất là 200 mét. Mỗi khúc gọi là một dong. Dong dài được chia làm hai xóm, dong ngắn là một xóm. Từ rốn cá đến đuôi cá là ưng điền (ruộng gieo mạ) và nghĩa trang nhân dân của làng. Đuôi và vây sau của "con cá" có ngôi chùa Keo, xây dựng năm 1588. Theo xã chí của làng thì Hành Thiện xưa là vườn kim quất của vua Trần. Chạy dọc từ đầu tới đuôi Cá, sâu chuỗi 14 nãm là một con đường trục của làng lát gạch nghiêng. Đã hàng trăm năm con đường này hình thành nên hai dãy nhà hai bên như một đường phố, có các cửa hàng cửa hiệu buôn bán sầm uất.

Theo cách nhìn của các nhà tử vi thì hình dáng của làng Hành Thiện ở thế cá hoá rồng. Phía ''bụng cá'' giáp làng Ngọc Tiên có hình giống một nghiên mực; phía "lưng cá'' giáp làng Hương Phúc có mảnh đất giống cái ngòi bút. Đầu cá Thành Hoàng ngự, làng sẽ giữ được bản sắc thuần phong. Đuôi cá Nguyễn Minh Không vừa là Thiền sư vừa là thi nhân ngự. Vậy luận theo Phong Thủy và Kinh Dịch thì Hành Thiện là đất phát tiết cho cả chính khách và thi nhân.

Từ xa xưa vùng này đã có câu ngạn ngữ ''Đông Cổ Am, Nam Hành Thiện'' ngụ ý: làng Cổ Am thuộc tỉnh Hải Dương xứ Đông xưa (nay là Vĩnh Bảo - Hải Phòng) cùng với làng. Hành Thiện của Nam Định có nhiều người học hành đỗ đạt cao. Tại làng Hành Thiện còn có câu ''Trai học hành, gái canh cửi'' để nói rằng cái đáng trọng nhất của con trai Hành Thiện là chuyện đèn sách; cái đáng yêu nhất của con gái Hành Thiện là chuyện kéo tơ, dệt vải. Con gái canh cửi thường trắng nõn nà, khéo tay, chăm chỉ. Đọc thơ Sóng Hồng (bút danh của đồng chí Trường Chinh) ta cũng đủ thấy cái không khí của Hành Thiện:

Trăng xuống làm gương em chải tóc
Làm đèn anh học suốt đêm dài

Chẳng hiểu các thầy địa lý chủ quan và khách quan đến đâu nhưng bao đời nay không ai về thăm Hành Thiện lại không thừa nhận: Hành Thiện là một làng địa linh nhân kiệt, khoa danh vang lừng khắp nước. Thời Nho học, làng Hành Thiện có 419 người đỗ đạt. Trong đó: 7 đại khoa (3 tiến sĩ, 4 phó bảng), 97 cử nhân, 315 tú tài. Người khai khoa cho làng là cụ Nguyễn Thiện Sĩ sinh năm 1501. Năm 1522 đỗ cử nhân. Người có bằng cấp cao nhất trong làng là cụ Đặng Xuân Bảng (ông nội của đồng chí Trường Chinh) sinh năm 1828; năm 1856 đỗ Tam giáp tiến sĩ đệ nhất danh. Làng có 4 người làm quan Thượng thư; 4 người làm quan Tuần phủ; 4 người làm quan Tổng đốc; 23 người làm quan giúp việc triều đình; 69 người làm quan Tri phủ, Tri huyện; còn lai số người đỗ đạt trên đi làm thầy giáo, thầy thuốc ở khắp nơi.

Thời học chữ Pháp, làng có 51 người đỗ đạt từ tú tài đến cử nhân, trong đó có Đặng Xuân Khu (đồng chí Trường Chinh) tốt nghiệp cao đẳng Thương mại Đông Dương. Tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin trước ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, làng Hành Thiện có 3 người: Đặng Xuân Khu, Đặng Xuân Thiều, Nguyễn Thế Rục.

Thời hiện đại, làng Hành Thiện vẫn là ngôi làng có nhiều người học hành giỏi giang thi cử đỗ đạt nhiều nhất so với mọi ngôi làng trong tỉnh Nam Định. Cụ thể là: 88 người được Nhà nước phong hàm giáo sư, tiến sĩ, phó tiến sĩ và trên 600 người có bằng cử nhân. Trong khi đó dân số của làng chỉ có trên 6000 người. Vậy nên thời hiện đại vẫn có câu ngạn ngữ ''Đậu phụ Thủy Nhai, tú tài Hành Thiện''. Làng Thủy Nhai, cách Hành Thiện không xa là một làng thiên chúa giáo rất có tài làm đậu phụ. Còn Hành Thiện, dường như gia đình nào cũng có người đỗ Tú tài.

Làng có 4 tướng lĩnh quân đội là Đặng Quốc Bảo, Đặng Kinh, Đặng Quân Thụy, Nguyễn Sĩ Quốc; 2 Anh hùng Lực lượng vũ trang là Phạm Gia Triệu, Nguyễn Đăng Kính. Hàm Bộ trưởng có Đặng Hồi Xuân, Đặng Vũ Chư. Tương hàm giáo sư có: Đặng Vũ Khiêu, Đặng Xuân Kỳ, Đặng Vũ Minh. Nhà văn Đặng Vũ Khiêu là Anh hùng Lao động.

Làng có 2 gia đình được tặng thưởng bằng có công với nước: cụ Đặng Xuân Viện (thân phụ đồng chí Trường Chinh), cụ Đặng Ngọc Định (thân phụ đồng chí Đặng Xuân Thiều, Đặng Quốc Bảo).

Làng có 2 người được Giải thưởng Hồ Chí Minh là ông Đặng Vũ Hỷ (thân phụ đồng chí Đặng Vũ Minh) và ông Đặng Vũ Khiêu.

Làng Hành Thiện còn là nơi phát tích sinh hạ ra 2 hoa hậu báo Tiền phong. Hoa hậu Nguyễn Diệu Hoa là cháu gọi ông Đặng Vũ Minh bằng cậu. Hoa hậu Nguyễn Thu Thủy, con bà Đặng Thị Bính; bà Bính con ông Đốc Hỷ, cũng là người có danh trong làng.

Thật may mắn cho cách mạng và Đảng Cộng sản Việt Nam có một lãnh tụ được sinh ra trong cái làng quý phái sang trọng ấy - đồng chí Trường Chinh. Nói cho hết nhẽ thì đồng chí Trường Chinh là sản phẩm cao quý của một ngôi làng cao quý; trái lại chính gia tộc của ông có tác động trở lại góp phần vào sự thăng hoa cường vượng của làng.

Gia tộc đồng chí Trường Chinh có gốc gác họ Trần, thuộc chi Hưng Trí Vương, con trai thứ 4 của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Có một sự trùng hợp là Hưng Đạo vương và đồng chí Trường Chinh trùng ngày mất tính theo lịch âm. Hưng Đạo vương mất 20-8-1300; đồng chí Trường Chinh mất 20-8-1988. Ông nội đồng chí Trường Chinh là cụ Tam giáp tiến sĩ đệ nhất danh Đặng Xuân Bảng - một nhà văn hoá trứ danh mà thành phố Nam Định sắp sửa lấy tên cụ đặt cho một đường phố. Có lẽ không cần nhiều lời, chỉ cần điểm tên các tác phẩm, công trình của cụ đã đủ khiến chúng ta hết lòng khâm phục và kính trọng, đó là: "Độc sử bị khảo'' (3 tập); "Thiện Đình Văn, Thiện Đình Thi''; ''Khâm định tập văn trích yếu'' (Ngữ ngôn); "Huấn tử quốc âm ca'' (Văn - triết); "Cư gia huấn tắc giới'' (Giáo dục); ''Cổ kim thiện ác kính'' (2 tập); ''Thánh tổ hàn thực diễn ca'' (Sử); ''Bắc sử thông giám'', ''Nam sử tiên lãm" (Sử); ''Sử học bị kháo" (4 tập); "Việt sử cương mục tiết yếu'' (8 tập); "Cổ nhân ngôn hành'' (triết); "Nam phương danh vật bị khảo'' (Sinh vật); ''Huấn tục ca'' (Giáo dục); ''Tuyên Quang phủ (Văn - dân tộc học); ''Như tuyên thi tập'' (Thơ).. .

Cụ Đặng Xuân Viện (thân phụ đồng chí Trường Chinh), cũng là người học cao hiểu rộng. Cụ không gặp may mắn trên đường lều chõng thi cử, nhưng bù lại, cụ có thiên hướng văn chương, nghệ thuật không thua kém những văn nhân nghệ sĩ đương thời. Cụ là một trong những cây bút chính trong nhóm ''Nam Việt đồng thiên hội''. Cụ biên soạn bộ ''Minh đô sử" (gồm 100 quyển đóng thành sách) do ông Lê Trọng Hàm, người Hội Khê đứng đại biểu và đề tựa. Năm 1946 ông cho tái bán tác phẩm ''Nói có sách'' (thuộc loại dân tộc và ngôn ngữ học trong bộ ''Minh đô sử). Ngoài công trình đồ sộ trên, có thể kế hàng loạt tác phẩm của ông: ''Thiên đình xã chí'' (Sử - địa 4 tập, 1934); ''Vô danh anh hùng'' (Sử); "Hữu danh anh hùng'' (Sử); ''Hán văn sơ học tiếp giải'' (Nhà in Việt Dân - 1941); ''Nghi lễ phổ thông'' (Nam Phong số 146, 150 năm 1930); ''Nhuận hồ'' - tức Hồ Quý Ly - (tiếu sử Nam Phong số 151, năm 1930); ''Nguyễn Tựu tiên sinh truyện'' (Nam Phong số 152, năm 1930); "Truyện Thần nữ Vân Cát'' (Nam Phong số 137 năm 1929); ''Lịch sử Nguyễn Hữu Cầu'' (Nam Phong số 137 năm 1929); "Lịch sử Tây Sơn'' (Nam Phong số 135 năm 1929); ''Ngô Vương Quyền'' (Nam Phong số 161 năm 1931); ''Trần - Nguyên chiến kỷ'' (Nam Phong số 167 năm 1931); ''Truyện Đức Dương Khổng Lộ'' (Nam Phong số 141 năm 1929); ''Tây đô thắng tích'' (Nam Phong số 160 năm 1931); “Nam Định địa dư nhân vật khảo'' (Nam Phong số 164 năm 193); ''Nam kỳ địa chí" (Nam Phong số 162 năm 1931); ''Mấy tay tuần lại nước Tàu đô hộ ta xưa'' (Nam Phong số 165 năm 1931)...

Sinh ra và lớn lên trong một gia tộc có truyền thống yêu nước, lại được tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin từ rất sớm, đồng chí Trường Chinh đã có ý thức rất cao trong việc thừa kế tinh hoa chính trị văn hoá của ông cha.

Ngay từ thuở ấu thơ ông đã làm quen với Tứ thư, Ngũ kinh, làm quen với thơ Đường, thơ Tống, hiểu sâu văn hoá và sử học nước nhà. Nho giáo là nếp sống, là đạo lý nhiều đời của gia tộc nhưng Trường Chinh không tiếp thu nho giáo một cách thụ động. Ông nhìn rõ mặt hạn chế của nho giáo (bởi đó là hệ tý tưởng chính thống của chế độ phong kiến lỗi thời) và lên án nó, đồng thời những hợp lý của nho giáo như tinh thần hiếu học, như thái độ trọng nghĩa khinh tài, giữ cuộc sống thanh đạm, liêm khiết thì ông coi đó là những mặt tốt để góp phần lưu giữ truyền thống và bản sắc văn hoá Việt Nam. Trên con đường cứu nước, ông nhìn ra sự bất lực của ông cha do không có một đường lối đúng đắn soi đường. Sinh ra trọng gia đình quý tộc, nhưng ông hoà nhập rất tự nhiên vào giai cấp vô sản là vì thế.

Mặc dù làm lãnh tụ bận trăm công ngàn việc, ông vẫn viết nhiều công trình tác phẩm, có thể kể như: ''Vấn đề dân càỵ'' (viết chung với đồng chí Võ Nguyên Giáp); "Kháng chiến nhất định thắng lợi''; ''Chiến tranh Thái Bình Dương và cách mạng giải phóng dân tộc Đông Dương''; ''Cách mạng Tháng Tám'' (1946); "Kháng chiến nhất định thắng lợi'' (1947); "Chủ nghĩa Mác với vấn đề văn hoá Việt Nam'' (1948); ''Bàn về Cách mạng Việt Nam (1951). Đặc biệt phải nói đến công trình ''Đề cương văn hoá Việt Nam'' được xem là kim chỉ nam cho công cuộc xây dựng văn hoá Việt Nam trong thời đại mới. Ông còn viết hàng trăm bài dưới dạng tiểu luận, luận bàn và định hướng văn hoá văn nghệ; hàng vài trăm bài báo luận bàn trên nhiều lĩnh vực của xã hội. Ông từng làm chủ bút báo Cờ giải phóng. Trong thời kỳ mặt trận bình dân, ông đã phụ trách các tờ báo tiếng Pháp như Le Travaill, Rassemblement, En Avant và báo Tin tức.

Hai tuyển tập thơ Sóng Hồng tập1, tập 2 đúng như ông khiêm nhường thừa nhận trong lời nói đầu của tuyến tập ‘Tiếc rằng thơ tôi chưa được như điều tôi mong muốn.. . Đó là do nãng khiếu thơ và công phu trau dồi nghệ thuật của tôi chưa đủ"... "Có khi việc đáng nên thơ, nhưng công tác sự vụ đã lôi cuốn đi, cho nên đã không thành thơ. Cũng vì tôi là một cán bộ cách mạng biết làm thơ chứ không phải là một nhà thơ. Những bài thơ tôi làm cốt để phục vụ tuyên truyền cách mạng hoặc để ghi lại một số tình cảm sâu sắc của đời mình''.

Cho dù thế thì ở tất cả mọi công trình, tác phẩm, bài viết, người đọc tinh tường vẫn nhận ra ông không chỉ là một lãnh tụ xuất sắc mà còn là một nhân cách văn hoá lớn, đậm đà bản sắc Việt Nam.

Mỗi lần tôi về thăm Hành Thiện, khi nhắc đến ông, nhân dân lại nói về tác phong giản dị nhưng sâu sắc, tôn trọng và tự trọng ở ông.

Ngôi nhà lưu niệm Trường Chinh ở quê Hành Thiện, vẫn là ngôi nhà gỗ cổ, lợp ngói từ thuở ông mới sinh ra; đồ vật lưu giữ chẳng có gì ngoài một tủ sách chữ nho và quốc ngữ, một bàn thờ với hoành phi câu đối, một số bức ảnh - nó chẳng khác gì ngôi nhà của một nhà giáo xưa ở nông thôn; vậy mà hàng ngày vẫn có những đoàn khách từ khắp nơi về đây thăm thú, thắp hương tưởng niệm tỏ lòng biết ơn vị lãnh tụ và nhà văn hoá lớn của dân tộc.

Lê Hoài Nam (Báo Văn nghệ)

Những cuộc đổi họ lớn trong lịch sử

1. Từ họ Lý ra họ Nguyễn

Đầu năm 1226 (tháng 12 năm Ất Dậu), Trần Thủ Độ tổ chức đảo chánh lật đổ nhà Lý, đưa Trần Cảnh lên ngôi tức Trần Thái Tông (trị vì 1226-1258), lập ra nhà Trần (1226-1400).

Nguyên Trần Thủ Độ ép vua Lý Huệ Tông (trị vì 1211-1224) nhường ngôi cho người con gái mới sáu tuổi là Chiêu Thánh công chúa tháng Mười năm giáp thân (cuối 1224), tức Lý Chiêu Hoàng (trị vì 124-1225). Lý Huệ Tông lên làm thái thượng hoàng, xuất gia đi tu tại chùa Chân Giáo, pháp danh là Huệ Quang thiền sư. Trần Thủ Độ sắp đặt cho con cháu của mình là Trần Cảnh, mới tám tuổi, cưới Lý Chiêu Hoàng. Chiêu Hoàng lại nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh tức Trần Thái Tông.

Để củng cố nhà Trần, Trần Thủ Độ kiếm cách tiêu diệt tất cả con cháu nhà Lý. Việc đầu tiên là Trần Thủ Độ bức tử thượng hoàng Lý Huệ Tông. Một hôm ngang qua chùa Chân Giáo gặp thiền sư Huệ Quang đang nhổ cỏ trong vườn, Trần Thủ Độ nói rằng: "Nhổ cỏ phải nhổ hết rễ cái". Nghe thế thầy Huệ Quang trả lời: "Lời nhà ngươi nói ta hiểu rồi". Sau đó, Trần Thủ Độ cho người mời thầy Huệ Quang vào triều bàn việc. Huệ Quang biết ý, vào sau chùa thắt cổ tự vận. (1)

Trần Thủ Độ ra lệnh đem gả các cung nhân và con gái họ Lý cho các tù trưởng các bộ tộc ít người ở các vùng núi xa xôi miền biên viễn. Tháng tư năm nhâm thìn (1232), nhân việc ban chữ húy về tiên tổ họ Trần, ông nội của Trần Thái Tông tên là Trần Lý, nên Trần Thủ Độ đưa ra biện pháp quyết liệt là buộc con cháu họ Lý phải đổi thành họ Nguyễn.

Gần cuối năm nhâm thìn (1232), tôn thất nhà Lý tập trung làm lễ tế tổ tiên ở thôn Thái Đường, xã Hoa Lâm (nay thuộc Bắc Ninh). Trần Thủ Độ cho làm nhà tế lễ bằng tre lá trên một cái hầm, khi con cháu nhà Lý tập trung hành lễ, Trần Thủ Độ ra lệnh chôn sống hết con cháu nhà Lý để dứt điểm một vấn đề làm cho Trần Thủ Độ lo lắng bấy lâu nay. Sau cuộc thanh trừng khủng khiếp này, con cháu nhà Lý không còn dám về Bắc Ninh làm lễ tế hàng năm, và họ thay tên đổi họ sống lẫn khuất trong dân gian để tránh bị tiêu diệt. (2)

Đặc biệt hoàng tử Lý Long Tường, con trai thứ của Lý Anh Tông đã bỏ nước ra đi năm 1226, cùng đoàn tùy tùng khoảng 40 người vượt biên sang lập nghiệp ở Triều Tiên hay Cao Ly tức Korea. Tám trăm năm sau, con cháu của hoàng tử này đã về Việt Nam thăm lại đất tổ. (3)

Một câu hỏi cần được đặt ra là tại sao triều đình nhà Trần buộc họ Lý đổi thành họ Nguyễn mà không qua họ khác ?. Điều này rất khó trả lời vì không có tài liệu cụ thể, chỉ biết được rằng họ Nguyễn là một dòng họ ít người bên Trung Hoa, và ngược lại họ Nguyễn có nhiều và có sớm ở nước ta. (4) Phải chăng Trần Thủ Độ muốn cho họ Lý hòa lẫn trong số đông người Việt rải rác khắp nước ?
2. Họ Trần qua họ Trình

Để quân Minh chóng rút về nước, cuối năm 1427, Lê Lợi chấp nhận giải pháp hòa bình trong danh dự cho cả hai bên: trước đây quân Minh xâm lăng nước ta dưới chiêu bài "phù Trần diệt Hồ", nay Lê Lợi đồng ý đưa Trần Cao lên ngôi, xem như quân Minh viễn chinh đã đạt được mục đích ban đầu là đưa người họ Trần trở lại ngôi báu, nay rút về nước trong vinh quang. (5)

Sau khi quân Minh về nước, Trần Cao biết thân phận mình, bỏ trốn về châu Ngọc Ma (Nghệ An), nhưng bi bắt lại, và uống thuốc độc chết. Lê Lợi lên ngôi vua, tức Lê Thái Tổ (trị vì 1428-1433).

Lê Thái Tổ được nước không do một cuộc đảo chánh cung đình mà do công lao chiến đấu của chính ông và gia đình, nên ông ít có thái độ kỳ thị với họ Trần là họ cầm quyền trước đó. Ông có một sách lược rất khôn khéo là ban quốc tính rộng rãi cho các công thần. Ngay khi vừa lên ngôi năm 1428, Lê Thái Tổ ra sắc chỉ cho ghi chép công trạng của những người đã theo vua khởi nghĩa, ban chức tước và quốc tính (họ của nhà vua) cho 221 người. Đây là đợt ban quốc tính nhiều nhất trong lịch sử nước ta, đến nỗi vua Tự Đức đã lên tiếng chê rằng "... cho quốc tính nhiều quá như thế nầy thì nhàm lắm". (6)

Việc làm nầy của Lê Thái Tổ bề ngoài xem ra là một đặc ân, nhưng thật sự là một thủ đoạn chính trị ràng buộc các công thần bằng cách đồng hóa các quan vào họ nhà vua để dễ kiểm soát nhằm tránh hậu hoạn. Lê Thái Tổ là một người rất đa nghi. Những công thần đã cùng ông dày công đóng góp cho công cuộc giải phóng đất nước mà có bất cứ một biểu hiện nào khả nghi tức thì bị Lê Thái Tổ tiêu diệt ngay.

Nạn nhân đầu tiên là Lê Hãn tức Trần Nguyên Hãn. Trần Nguyên Hãn dòng dõi Trần Nguyên Đán, lập nhiều chiến công thời kháng Minh, được phong Hữu tướng quốc và họ Lê năm 1428, sau khi Lê Thái Tổ cầm quyền. Lê Hãn cho rằng "nhà vua có tướng như Việt Vương Câu Tiễn, không thể cùng hưởng yên vui sung sướng được", nên ông bắt chước Trương Lương, xin rút lui về hưu dưỡng. "Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng", khi Lê Hãn về ấp Sơn Đông (Sơn Tây ngày nay) hưu dưỡng, ông vẫn bị gièm pha là mưu toan làm phản. Lê Thái Tổ ra lệnh cho người đến bắt. Khi thuyền đến bến sông Sơn Đông, Lê Hãn tự trầm mình qua đời (7) Dĩ nhiên việc trầm mình nầy cũng là một dấu hỏi lớn không bao giờ được trả lời.

Sau Lê Hãn đến Lê Văn Xảo tức Phạm Văn Xảo, bị Lê Thái Tổ nghe lời gièm pha ra lệnh phải chết và tịch thu nhà cửa cuối năm 1430. Dưới triều con của Lê Thái Tổ là Lê Thái Tông (trị vì 1434-1442), thêm ba vị đại công thần bị giết là Lê Nhân Chú (1434), Lê Sát (1437), và Lê Ngân (1437). Ngoài ra còn có Lê Khả và Lê Khắc Phục bị triệt hạ vào năm 1451 thời vua Lê Nhân Tông (trị vì 1443-1459).

Sau khi Lê Nghi Dân bị các tướng lãnh phản đảo chánh và lật đổ năm 1460, Lê Thánh Tông (trị vì 1460-1497) được sử sách đánh giá là một minh quân, nhưng lại đi vào vết xe của nhà Trần. Vừa cầm quyền được hai tháng, Lê Thánh Tông hạ chiếu ra lệnh đổi tên những họ nào đã phạm vào chữ huý của Cung Từ hoàng thái hậu. Bà nầy tên huý là Phạm Ngọc Trần, người làng Quần Lai, huyện Lội Dương (Thanh Hóa), vợ của Lê Thái Tổ, mẹ của Lê Thái Tông, tức bà nội của Lê Thánh Tông. Nhà vua cho rằng bà nội của mình tên Trần nên yết thị cho dân chúng khắp nước, nơi nào có họ "Trần" đều phải đổi chép thành chữ "Trình". (8)

Tại sao thời Lê Thái Tổ, rồi đến Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông, các vua không kỵ huý bà Cung Từ mà Lê Thánh Tông lại kỵ huý ? Phải chăng sau những biến động của triều đình kể từ khi Lê Thái Tông bất đắc kỳ tử năm 1442, và Lê Nhân Tông bị Lê Nghi Dân lật đổ và bắt giết năm 1459, Lê Thánh Tông đã dùng cách kỵ huý (như Trần Thủ Độ trước đây) để tách ảnh hưởng của họ Trần, hoặc để ngầm đe dọa con cháu họ Trần đừng kiếm cách lợi dụng tình hình để phục hồi triều đại cũ.

Dầu sao, Lê Thánh Tông chưa đi đến chỗ quyết liệt như Trần Thủ Độ, nghĩa là Lê Thánh Tông vẫn chưa tận diệt họ Trần, và để cho những người họ Trần giữ những chức quan nhỏ như trong đoàn sứ thần gởi sang nhà Minh năm nhâm ngọ (1462) có Trần Bàn, hoặc trong viện Khâm hình của triều đình lúc đó có Trần Phong, nhưng không thấy có nhân vật nào họ Trần giữ chức vụ quan trọng mãi đến thời kỳ loạn lạc sau khi Mạc Đăng Dung đảo chánh (1527) mới thấy vài nhân vật họ Trần xuất hiện trở lại trên sân khấu chính trị nước ta.
3. Họ Mạc đổi thành nhiều họ

Mạc Đăng Dung thuộc dòng dõi Mạc Đỉnh Chi, đỗ cử nhân võ và làm đô chỉ huy sứ năm 1508 (mậu thìn), nhờ thời thế dần dần được các vua nhà Lê tin dùng, thăng dần lên chức thái phó tiết chế các doanh quân thủy bộ, tước Nhân Quốc Công triều vua Lê Chiêu Tông (trị vì 1516-1522). Quyền hành càng ngày càng lớn, Mạc Đăng Dung lấn ép vua Lê và cuối cùng đảo chánh lật đổ vua Lê Cung Hoàng (trị vì 1522-1527), tự mình lên làm vua tức Mạc Thái Tổ (trị vì 1527-1530) lập ra nhà Mạc.

Nhà Mạc cầm quyền từ thời Mạc Thái Tổ đến thời Mạc Mậu Hợp (trị vì 1562-1592), truyền được năm đời trong 65 năm. Trong lịch sử, họ Mạc bị lên án về các lỗi lầm sau đây:

*

Tổ chức đảo chánh lật đổ nhà Lê, không trung quân (1527).
*

Đầu hàng nhà Minh và cắt đất chia cho nhà Minh (1540).

Trước hết, bất cứ một cuộc đảo chánh nào cũng đều có phản ứng cả. Từ Lê Hoàn, Trần Thủ Độ đến Lê Quý Ly, tất cả đều bị những cựu quan bảo thủ của triều trước, mất quyền lợi đứng lên phản đối. Mạc Đăng Dung cũng nằm trong trường hợp đó.

Thứ đến, chúng ta cần chú ý: ai là người đã lên án gắt gao họ Mạc ? Câu trả lời rất rõ ràng là các sử quan nhà Lê trung hưng là những người đầu tiên lên án họ Mạc. Việc nầy rất dễ hiểu vì nhà Mạc dẹp nhà Lê, nay trung hưng được thì nhà Lê kết tội nhà Mạc. Sau đó là các sử quan nhà Nguyễn vì nhà Nguyễn không muốn ai lật đổ ngôi báu của mình nên lên án tất cả những ai đã tổ chức đảo chánh cung đình.

Nhưng "ở đời muôn sự của chung", một triều đại (chính quyền) yếu đuối, kém khả năng cần được thay thế bằng một triều đại (chính quyền) khác hữu hiệu hơn để cai trị nước, đó là lẽ tự nhiên, nên việc đảo chánh của Mạc Đăng Dung không đáng bị lên án như các sách vở trước đây đã làm.

Việc đầu hàng nhà Minh và cắt đất xin hàng cần được xét lại trong hoàn cảnh lúc bấy giờ. Sau khi nhà Lê mất ngôi, hai vị cựu thần nhà Lê là Trịnh Ngung và Trịnh Ngang chạy qua nhà Minh tố cáo hành động của Mạc Đăng Dung và xin nhà Minh đưa quân qua hỏi tội họ Mạc năm 1529 (kỷ sửu). (9)

Năm 1533 (quý tỵ), Nguyễn Kim tìm được con của Lê Chiêu Tông là Lê Duy Ninh, lập lên làm vua là Lê Trang Tông (trị vì 1533-1648) trong lúc đang lưu vong tại Ai Lao. Lê Trang Tông sai Trịnh Duy Liễu cùng hơn mười người đi đường biển từ Chiêm Thành theo thuyền buôn Quảng Đông tới Trung Hoa xin thỉnh cầu nhà Minh xuất quân đánh nhà Mạc. Năm 1536 (bính thân), một lần nữa Lê Trang Tông sai Trịnh Viên yêu cầu nhà Minh đánh họ Mạc.

Hành động của vua Lê, kêu gọi người nước ngoài về đánh nước mình, trong đó có ý kiến cố vấn của Nguyễn Kim, không bị một sử gia nào lên án. Việc làm nầy đưa đến kết quả cụ thể là nhà Minh cử Cừu Loan làm tổng đốc, Mao Bá Ôn làm tán lý quân vụ đem binh mã sang ải Nam Quan năm 1540. Ngược lại, trong thế yếu, muốn tránh một cuộc chiến mà mình nắm chắc phần thất bại, đồng thời dân Việt sẽ một lần nữa bị đặt dưới ách thống trị trực tiếp của ngoại nhân như thời Mộc Thạnh, Trương Phụ, Mạc Thái Tổ, lúc đó đã lên làm thái thượng hoàng, đành chấp nhận đầu hàng và chấp nhận hy sinh danh dự cá nhân, lên ải Nam Quan (Lạng Sơn) chịu nhục. Nhờ sự nhẫn nhục của Mạc Thái Tổ, nước ta trên danh nghĩa là lệ thuộc Trung Hoa, nhưng trong thực tế vẫn độc lập một phương, vua Mạc vẫn cai trị đất đai từ Lạng Sơn trở xuống, đâu có viên tướng Tàu nào bén mảng sang cai trị. Ai cũng bảo Mạc Đăng Dung đầu hàng nhà Minh vì quyền lợi gia đình họ Mạc, nhưng giả thiết, một giả thiết không bao giờ có thể quay lại được, Mạc Đăng Dung chống cự quân Minh như họ Hồ, nước ta bị tái đô hộ, thì nhân dân ta còn khổ biết bao nhiêu nữa. Đàng nầy, Mạc Đăng Dung một mình chịu nhục cho trăm họ bình yên. Người ta ưa ca tụng Hàn Tín khi nghèo khổ đã lòn trôn tên bán thịt chợ Hoài Âm (Trung Hoa) như là một gương nhẫn nhục đáng noi theo, nhưng chẳng một ai chịu chia xẻ với nỗi nhẫn nhục vĩ đại của Mạc Đăng Dung. Mạc Đăng Dung rất buồn tủi về sự kiện Nam Quan (Lạng Sơn) nên về nhà chưa được một năm, ông nhuốm bệnh từ trần năm 1541.

Cuối cùng việc cắt đất nghe ra khá to lớn, nhưng đó chỉ là năm động của những sắc tộc ít người nằm ở vùng biên giới Hoa Việt: Ty Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, và La Phù thuộc châu Vĩnh An, ở Yên Quảng. Chúng ta cần chú ý là những sắc tộc ít người sinh sống trong các động dọc biên giới Hoa Việt không nhất định về theo chính quyền Trung Hoa hay Đại Việt, mà chỉ bên nào mạnh thì họ triều cống để được yên thân. Do đó, việc cắt đất nầy chỉ có tính cách giấy tờ chứ trên thực tế là bên nào mạnh họ theo.

Trong khi đó, sau khi trở về Thăng Long, năm 1596 vua Lê Thế Tông (trị vì 1573-1599) cử người đem hình dạng hai quả ấn của nhà Mạc và vua Lê lên Nam Quan cho đại diện nhà Minh khám xét, nhưng quan nhà Minh không chịu, bắt vua Lê phải thân hành đến gặp. Vua Lê phải chấp hành, nhưng khi đến nơi đợi lâu quá không được gặp quan nhà Minh, vua Lê đành trở về, rối năm sau (1597) lên một lần nữa mới được hội kiến. (10) Sự kiện nầy chẳng khá gì hơn việc Mạc Đăng Dung lên Nam Quan năm 1540.

Vì quá ham lên án nhà Mạc, sử sách lơ là những công trạng đáng nhớ của nhà Mạc. Sau khi Trịnh Tùng chiếm lại Thăng Long, nhà Mạc chạy lên Cao Bằng, rồi chạy sang Trung Hoa. Trước khi từ trần năm 1594, đại tướng nhà Mạc là Mạc Ngọc Liễn để thư lại dặn vua Mạc Kính Cung: "... Họ Lê lại trung hưng, đó là số trời. Còn như dân ta là người vô tội, sao lại nỡ để cho dân mắc vào vòng mũi tên hòn đạn lâu mãi như vậy! Chúng ta nên lánh ở nước khác, cốt phải cẩn thận giữ gìn, đừng lại cố sức chiến đấu với họ nữa. Lại dứt khoát chớ có đón rước người Minh kéo sang nước ta để đến nỗi dân ta phải lần than khốn khổ ..." (11)

Đây không phải lời nói suông trong cảnh trà dư tửu hậu, nhưng đây là tâm huyết của một con người sắp nằm xuống trong cơn hoạn nạn cùng cực vì mất nước. Suốt trong lịch sử Việt Nam, chúng ta thường được nghe những lời nói của Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Đặng Dung, hào hùng như vó ngựa tổ tiên, nhưng ít khi được đọc những dặn dò như Mạc Ngọc Liễn, nhân bản, đầy tình tự dân tộc không khác gì lời ru êm ái trong những câu ca dao mộc mạc.

Điểm quan trọng nhất là con cháu nhà Mạc đã không kêu nài van xin người Minh đem quan sang đánh nước ta giống như nhà Lê đã làm. Họ chỉ yêu cầu nhà Minh can thiệp cho họ về sinh sống đất Cao Bằng. Chính họ đã góp công phát triển Cao Bằng, tạo thế đoàn kết kinh thượng và biến Cao Bằng thành một vùng biên giới vững chắc để chống lại Trung Hoa. Công trạng nầy tuy không rực rỡ như đường về phương nam của chúa Nguyễn, nhưng sử sách cũng không thể quên tuyên dương họ Mạc.

Khi Trịnh Tùng chiếm được Thăng Long, trung hưng nhà Lê (1593), con cháu họ Mạc tẩu tán khắp nước, một số lên Cao Bằng, một số chạy vào Thanh Hóa, Nghệ An ẩn trốn, và một số vào Nam theo chúa Nguyễn. Con cháu họ Mạc đổi ra rất nhiều họ khác nhau. Sách Thế phả ghi rõ là con của Mạc Đăng Doanh, em của Mạc Kính Điển là Mạc Cảnh Huống vào Nam theo Nguyễn Hoàng, sau con là Mạc Cảnh Vinh đổi là Nguyễn Hữu Vinh. (12) Không những chỉ một họ Nguyễn, mà chắc chắn còn nhiều họ khác nữa. Trước đây, những họ nầy không lên tiếng vì một mặt sợ các chính quyền quân chủ trả thù, và một mặt việc sử sách lên án triều đại nhà Mạc ít nhiều gây những ưu phiền cho con cháu họ nhà nầy. Hy vọng sẽ có một ngày nào đó, con cháu những họ nầy thấy rõ rằng nhà Mạc không đáng bị lên án như người ta đã làm xưa nay, bỏ qua những ưu phiền không đáng, sẽ lên tiếng để tìm về gốc gác ông bà mình.

Qua ba cuộc đổi họ trên đây, lý do chính đưa đến việc đổi họ là do tiên tổ các họ nầy đã lên nắm chính quyền, lập triều đại, sau bị truất phế và bị nghi ngờ nên con cháu bị bắt buộc phải đổi họ. Ngược lại, trong lịch sử nước ta, có một dòng họ lớn từ thời Ngô Quyền lập quốc cho đến nay không thay đổi mà mỗi ngày một phát triển, hưng thịnh. Đó là họ Nguyễn Phúc ở Gia Miêu ngoại trang, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
4. Một họ lớn không thay đổi

Theo Thế phả, "Đức Định Quốc Công huý là Nguyễn Bặc, thân phụ và thân mẫu của ngài không được rõ, ngài được xem là thuỷ tổ của dòng họ Nguyễn Phúc." (13)

Nguyễn Bặc (924-979) là bạn chí thân từ thuở hàn vi và là cận thần của Đinh Bộ Lĩnh tức Đinh Tiên Hoàng (trị vì 968-979). Khi Đinh Tiên Hoàng lên ngôi vua, Nguyễn Bặc được phong Định Quốc Công, đứng đầu các công thần. Năm 979, Đinh Tiên Hoàng bị ám sát, Nguyễn Bặc bắt giết ngay kẻ thích khách là Đỗ Thích, và tôn phò con của Đinh Tiên Hoàng là Vệ Vương Đinh Tuệ. Lê Hoàn có ý làm phản nhà Đinh, Nguyễn Bặc chống đồi, cầm quân đánh Lê Hoàn, nhưng bị Lê Hoàn bắt giết.

Theo sách Thế phả, tức sách gia phả của dòng họ nầy, từ thời Nguyễn Bặc cho đến ngày nay, thời nào họ Nguyễn ở Gia Miêu ngoại trang (Thanh Hóa) cũng đều có người giữ những địa vị cao trong các triều đại, và thường được phong tước công. Chỉ có một thay đổi nhỏ so với lúc ban đầu là họ nầy lót thêm chữ "Phúc" vào thế kỷ 16. Tương truyền rằng khi sắp sinh, vợ của Nguyễn Hoàng nằm mộng thấy thần nhân cho một tờ giấy viết đầy chữ "Phúc". Có người đề nghị bà lấy chữ "Phúc" đặt tên cho con, thì bà trả lời rằng: "Nếu đặt tên cho con thì chỉ một người được hưởng phúc, chi bằng lấy chữ "Phúc" đặt làm chữ lót thì mọi người đều được hưởng phúc". Bà liền đặt tên con là Nguyễn Phúc Nguyên (1563-1635, cầm quyền 1613-1635). Từ đó, họ Nguyễn ở Gia Miêu ngoại trang đổi thành họ Nguyễn Phúc. (14)

Dù có người nghĩ rằng các tác giả Thế phả đương nhiên tâng bốc tổ tiên mình, nhưng không ai có thể phủ nhận những khuôn mặt lớn trong quá trình lịch sử dân tộc như Nguyễn Bặc, Nguyễn Nộn (?-1229), Nguyễn Kim (1468-1545), Nguyễn Hoàng (1525-1613), Nguyễn Phúc Tần (1620-1687, cầm quyền 1648-1687) ...

Thời điểm cực thịnh của họ Nguyễn Phúc là việc llên ngôi năm 1802 của Nguyễn Phúc Ánh tức vua Gia Long (trị vì 1802-1819), đóng đô tại Phú Xuân, cai trị một đất nước rộng lớn nhất so với các triều đại trước, từ Lạng Sơn đến Cà Mau. Các vua Nguyễn rất đông con nên ngoài việc lập Tôn nhân phủ (15) như các triều đại trước để quản lý người trong hoàng gia, vua Minh Mạng (trị vì 1820-1840) còn làm một bài đế hệ thi và mười bài phiên hệ làm chữ lót cho con cháu Nguyễn Phúc để phân định thứ bậc các hệ phái từ con cháu của Gia Long trở xuống.

Năm 1945, vua Bảo Đại (trị vì 1925-1945) thoái vị tại Huế, chấm dứt chế độ quân chủ tại nước ta, nhưng họ Nguyễn Phúc, vốn rất đông người từ thời các vua Nguyễn, vẫn cứ phát triển vững vàng, và có nhiều nhân vật nổi tiếng trong khắp các lãnh vực chính trị, quân sự, văn hóa, học thuật, kinh tế, khoa học ... chẳng những ở trong nước mà cả trên thế giới.
CHÚ THÍCH :

1.

Quốc sử quán triều Nguyễn, Việt sử thông giám cương mục, gọi tắt là Cương mục, bản dịch của Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1957, tr. 448-449.
2.

Cương mục, bản dịch, tr. 456.
3.

Nguyệt san Làng Văn, Toronto, Canada, số 125, tháng 1-1995, tr. 17.
4.

Chỉ cần xem lịch sử danh nhân Trung Hoa, chúng ta thấy rất ít người họ Nguyễn; trong các từ điển danh nhân Việt Nam, họ Nguyễn rất nhiều. Ngày nay, mở danh bạ điện thoại, chúng ta thấy họ Nguyễn chiếm khoảng gần 50%.
5.

Thổ quan châu Ngọc Ma (Nghệ An), tên là Hồ Ông, tự xưng là cháu ba đời vua Trần Nghệ Tông (trị vì 1370-1372). Cuối năm bính ngọ (1426), để đáp ứng ý muốn của người Minh trong các cuộc thương thuyết, Lê Lợi cho đón Hồ Ông về, đổi tên là Trần Cao, đặt lên làm vua, lấy niên hiệu là Thiên Khánh. (Cương mục, bản dịch tr. 803-804)
6.

Cương mục, bản dịch tr. 864-865.
7.

Cương mục, bản dịch tr. 880.
8.

Cương mục, bản dịch tr. 1013.
9.

Cương mục, bản dịch tr. 1327.
10.

Cương mục, bản dịch tr. 1418-1419.
11.

Cương mục, bản dịch tr. 1411.
12.

Nguyễn Phúc tộc thế phả, Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc tộc, Nxb. Thuận Hóa 1995, tr. 126. Gọi tắt Thế phả.
13.

Thế phả, tr. 21.
14.

Thế phả, tr. 113. Chú ý: Chữ "Phúc" còn được đọc là "Phước".
15.

Sau năm 1954, Tôn nhân phủ đổi thành Hội đồng Nguyễn Phúc tộc.



Giáo sư Trần Gia Phụng

Thánh vật ở Sông Tô Lịch

Thánh vật ở Sông Tô Lịch
Cty liên doanh XD VIC trúng thầu gói thầu 07 dự án cải tạo hệ thống thoát nước HN. Công việc cụ thể là nạo vét và kè đá dọc bờ sông Tô Lịch. Tác giả bài viết này là ông Nguyễn Hùng Cường đội trưởng đội XD số 12 trực tiếp chỉ huy thi công đoạn sông qua làng An Phú, P Nghĩa Đô, Q Cầu Giấy. Và mọi việc kỳ bí và đáng sợ bắt đầu từ đây.Có thể là sự trùng hợp ngẫu nhiên nhưng cũng có thể là chuyện tâm linh chúng ta chưa giải thích được.

Trước khi thi công, với tư cách chỉ huy công trường tôi có mời ông Phạm Ngọc Anh kỹ sư thủy lợi làm chuyên viên kỹ thuật. Ngay ngày đầu tiên khi khảo sát thực địa, ông Anh phát hiện một ngôi Đền rất lớn ở bờ sông phía An Phú. Đó là ngôi Đền Quán Đời có từ thời Lý. Ông Anh nói luôn: "cậu không nên nhận thi công đoạn sông này. Nguy hiểm lắm". Rất ân hận, tôi đã không nghe theo lời khuyên này.

Ngày 15/8/2001 tôi vừa làm lễ trong đền Quán Đời, vừa cho máy xúc, máy ủi xuống bờ sông khơi công. Vừa thắp được mấy nén hương thì tự nhiên lửa trong nắm hương cứ bùng bùng cháy rực, đồng thời ngự tôi đau buốt. Mãi mới dập được lửa, cắm lên bát hương thì công trường báo có sự cố. Vái vội mấy vái, tôi chạy ra ngoài. Thì ra ngoài công trường sau khi đắp đe bơm nước ra, anh em phát hiện rất nhiều cọc gỗ lim đóng theo những hàng ngắn, bố chí rất lạ. Cũng là vô sự, vô sách, tôi chỉ huy cho máy nhổ cọc lên. Máy vừa nhổ được 2 chiếc cọc, thì tự nhiên như có một lực gì đẩy, chiếc máy xúc tự trôi xuống sông, không có cách gì giữ được. Đồng thời đê ngăn nước vỡ, nước tràn vào ngập kín chiếc máy xúc. Cũng gần như cùng lúc ấy có tiếng người hét lên. Trong đống bùn mà máy xúc đã xúc lên bờ có lẫn rất nhiều xương người, xương thú vật, rất nhiều đồ gốm, đồ sắt, đồ dùng như bát đĩa, dao, liềm, kim khâu, tiền đồng, tiền cổ. Biết là gặp chuyện lớn, tôi cho dừng thi công, yêu cầu công nhân gom tất cả đồ cổ, xương người lại và báo với Bảo tàng HN. Ông Phạm Kim Ngọc GĐ Bảo tàng HN và nhiều nhà khoa học đã đến hiện trường thu nhặt cổ vật màng về bảo tàng. Tối hôm đó, anh Hùng, người lái máy xúc nhổ cọc, đang khoẻ mạnh vừa về đến nhà chợt lên cơn động kinh, mắt trợn, miệng sủi bọt mép, người cứ quay tròn như gà bị cắt tiết. Cả nhà anh Hùng biết có sự lạ, sắm lễ ra bờ sông vừa khóc vừa lễ. Thật sợ, vừa lễ xong, đót vàng mã được một nửa thì điện thoại ở nhà báo tin anh Hùng đã tỉnh lại.
Không biết làm cách nào, nghe bạn bè mách, tôi phóng xe đi Hải Phòng mời 1 thầy pháp nổi tiếng về trừ tà. Vừa nói chuyện với thầy, tự nhiên thầy trừng mắt: "Này, chỗ ấy âm khí nặng nề, sức tôi không trừ được". Năn nỉ mãi thầy mới đi về HN mà cũng chỉ dám làm lễ cầu an ở bờ sôngvà ngay đêm đó về HP.
Mấy ngày sau, Bảo tàng HN tổ chức 1 hội thảo khoa học, hội tụ rất nhiềucác nhà khoa học cả về sử học, bảo tàng, tâm linh... Kết luận của giáo sư Trần Quốc Vượng được chất nhận: đây là trận đồ bát quái yểm trấn giữ cửa thành Đại La từ thế kỷ IX. GS cũng đề cập đến lực lượng âm binh tại đây và dặn tôi phảỉ cẩn thận kẻo ảnh hướng đến sức khoẻ và tính mạng công nhân.

Tôi cùng anh em công nhânthu nhặt hết tất cả xương người liệm vào tiểu và chôn ở bờ sông, hàng ngày cắt cử người hương khói. Nhưng công việc không tiến triển được. Cứ đắp đe lên, lại võ. Anh em công nhânở công trường thì luôn luôn mơ thấy ma quỷ và thường gặp tai nạn lao động. Vét được chút bùn nào lên thì cũng thấy xương người, có khi cả đầu lâu. Chúng tôi liệm hết vàotiểu đêm chôn gần đó.

Một mặt tích cực đổi mới kỹ thuật thi công, mặt khác tôi vẫn tiếp tục mời thầy cúng trừ tà giải hạn. Nhưng tất cả các thầy bắc, nam đều bất lực. Công nhân toàn nằm mơ thấy những người mặc áo the, khăn xếp đánh đuổi không cho nằm. Nhiều người đã bỏ việc không dám ở lại. Anh Thương quê ở Nghệ An là công nhân xây lắp ngủ ở lán công trường, đêm nào cũng mơ thấy 1 bà cụ hiện lên nắm tóc đuổi đi và nói "Đây không phải chỗ kiếm ăn của mày, về quê mà sống". Anh Thưởng không chịu bỏ đi, còn khuyên nhiều công nhân ở lại làm. Được 3 hôm vợ anh làm cấp dưỡng cho công nhân bị bỏng độ 3 toàn thân. Sợ quá anh đưa vợ đi bệnh viện và bỏ việc luôn.
Đến tháng 11/2001 nhờ tích cực vận động tôi đã mời được thượng toạ Thích Viên Thành ở chùa Hương về làm lễ cúng cho tôi ở hiện trường. Vừa đến hiện trường thầy đẫ ngồi xuống nhắm mắt niệm phật. Niệm 1 lúc thầy đứng lên nói. Đây là trận đồ trấn yểm rất nguy hiểm. Vì các đệ tử thầy sẽ lập đàn tràng hoá giải. Sau đó thầy lập đàn tràng ở bờ sông hoá giải trấn yểm. Lễ xong thầy Thích Viên Thành nói với mọi người, "mặc dù thầy đã cố hoá giải nhưng anh em phải cẩn thận, còn anh Cường thì phải chịu nhiều hậu quả, gia đình, anh em con cháu cũng gặp hoạ. Rồi buồn buồn thầy nói: vì cáiđand tràng này tính mạng thầy cũng khó giữ", Ba tháng sau thầy Thích Viên Thành hoá. Các đệ tử nói trước khi mất thầy còn nói thầy mất vì trận đồ yểm ở sông Tô Lịch.

Nhưng công việc cũng không tiến triẻn được. Đê đắp lên là võ, kè thép không vỡ thì nước sói từ dưới lên. Đặt đá xuống thì đá chìm ngỉm. Để kiểm tra địa tầng tìm kiếm biện pháp thi công mới tôi thuê 1 dàn khoan thăm dò đến khoan mấy mũi. Dàn khoan dựng ở giữa sông, đội khoan hạ mũi khoan. Lạ thay cứ hạ mũi khoan xuống 1 đoạn là mũi khoan gãy. Ba lần như vậy họ lẳng lặng tháo dàn khoan điu mất, không cần đòi tiền. Công nhân thì vẫn hoang mang vô cùng. Anh Hoàn quê ở Ninh Bình làm đốc công, có hôm vừa dẫm chân lên đầu cột gỗ thì ở quê nhắn lên bố anh ốm thập tử nhất sinh phai cấp cứu. Anh Nguyễn Văn Nông, thủ kho là người tích cực trong việc thu lượm các haòi cốt và di vật thì mẹ bị tai biến mạch mãu lão. Sau khi thày Thích Viên Thành làm lề hoá giải yểm trừ, anh Trần Văn Lợi người Bắc Giang xông sáo nhất nhẩy xuống lòng sông vét bùn. Vừa lên bờ tắm rửa xong thì nghe tin nhà ở quê bị cháy rụi, một đứa cháu rất thân với anh đột nhiên chết.
Các công nhân sợ hãi nghỉ việc cả. Chiều chiều đứng bên bờ sông hoang vắng lòng tôi bỗng chua xót. Tôi có tội gì đâu mà thánh thần hại tôi đến nỗi này...

Thấm thoắt đã cuối năm , trời trở rét , chỉ còn anh em than thiết với tôi là ở lại làm . Tôi đóng cọc thép sâu tới 4 m rồi làm cữ thép chắn nước : Lạ thay cứ bơm sạch nước thì cữ lại vỡ . Lúc này một số báo chí đã nói tới những sự kỳ lạ xung quanh coong trình sông Tô Lịch đoạn qua làng An Phú này . Bảo tàng Hà Nội , rồi viện tâm lý , các nhà ngoại cảm cận tâm lý đều đã tổ chức các cuộc họp tại công trình .Kết luận cuối cùng là …không giải thích được .Phía các nhà sử học khảo cổ học thì giải thích đây là di tích namừ trong quần thể chính của Tây thành Đại La. ( có thể là Ngọ môn ).Nhiều người còn yêu cầu khôi phục di tích này ,phía các nhà tâm linh ,dịch học thì nói đây là một trận đồ trấn yểm tà ma,không cho phép xâm phạm kinh thành , vì là trận đồ nên đã giam giữ rất nhiều ma mãnh, những bộ xương người mà tôi đào được rất có thể là xương người bị tế sống chôn lúc làm lễ trấn yểm .Cũng theo họ tôi đã động đến trận đồ , phá hủ nó , giải thoát cho bao nhiêu tà ma nên nó ám vào làm hại những người có mặt lúc đó, mặt khác thánh thần cũng oán giận việc làm của chúng tôi nên ra tay trừng phạt . Chuyện thánh thần ma quỷ thì không ai nhìn thấy , nhưng những sự rủi ro mà chúng tôi phải chịu đựng thì quả là đáng sợ .

Có một hôm đóng cữ mới , bơm nước cạn chuẩn bị để kè bờ thì phát hiện có thêm một cọc gỗ . Dùng máy xúc nhổ mãi không được , tôi giao nhiệm vụ cho anh Thủy ( Người Ninh Bình )xuống chặt cụt đi để lấy chỗ làm . Ngay đêm hôm đó anh bị cảm nặng sốt cao phải đưa vào bệnh viện . Nhưng kinh khủng hơn sáng hôm sau điện thoại từ gia đình anh điện lên mẹ anh bị tai nạn giao thông chấn thương sọ não .Đến chiều thì tin lên đứa con anh đang học lớp 7 bước từ trên hè xuống sân ngã gãy xương đùi , mặc dù từ hè và sân chỉ chênh nhau 30 cm . Đến sáng hôm sau thì mẹ anh bị đứt mạch máu não. Đang sốt hừ hừ anh Thủy cũng phải vùng dạy chạy vào đền làm lễ mới bỏ về . Sau này tôi mới biết nhà anh còn gặp nhiều chuyện không may nữa, phải cúng lễ rất nhiều anh mới sống sót được.
Nhưng bỏ không làm nữa cũng không được, đã đổ hết vốn liếng vào đây rồi bỏ đi thì không chỉ chết một mình tôi mà còn chết cả nhà , cả họ.Xin nhắc là công ty VIC trúng thầu nhưng làm từng đoạn, các đội nhậ khoán lại, phải tự bỏ tiền ra làm rồi thanh toán sau. Mặc dù tôi đã báo cáo lãnh đạo công ty nhiều lần, báo chí cũng đã nói đến chuyện này nhưng ông Nguyễn Quang Hưng- Giám đốc công ty vẫn không quan tâm giúp đỡ, ngược lại ông còn nhạo báng chê trách chúng tôi không biết làm việc . Vì vốn liếng , vì sĩ diện của một kỹ sư xây dựng tôi bàn với anh em thân tín quyết tâm làm đến cùng. May thay có ông Nguyễn Trương Tiểu.Chủ tịch Hội đồng Quản trị VIC ủng hộ tôi rất nhiều trong công việc ( hiện nay ông Tiểu đang làm Phó tổng giám đốc Tổng công ty xây dựng Hà Nội ). Được sự giúp đỡ của ông , tôi đã mời được thầy Mão, một thày tứ phủ nổi tiếng, nhà ở Vĩnh Tuy-Hà Nội, đến làm lễ tại công trường .Nhiều lần tôi và ông Tiểu đến mời ông Mão và cuối cùng đến 6/2002 ông Mão nhận lời lập đàn tràng giải trận đồ bát quái cho tôi.Đàn lớn lắm , có đủ cờ phướn , hương án , lễ mặn ,hoa quả có đỉ . Trong danh sách chủ lễ có toàn bộ ban giám đốc công ty VIC, nhưng ông Hưng không đến dự.Cúng lễ hai ngày, hai đêm , hàng trăm người đến xem ầm ĩ một khúc sông.Cúng xong ông Mão nói với tôi :"Cậu đào khúc sông này là cậu khổ rồi.Bây giờ cậu có thể làm xong việc, nhưng nhà cậu sẽ gặp nhiều tai vạ lớn , cậu sẽ mất tất cả những gì quý giá nhất , anh em cậu sẽ tán gia bại sản , gặp nhiều sự oan khuất .Tôi làm lễ cho cậu cũng sẽ bị trả giá .Mặc dù không chết nhưng e rằng khó được như trước ".
Ngay sau khi ông Mão lễ xong , chúng tôi cùng về đến nhà ,thì ông Mão ngất đi . Từ lúc đó trong gần nửa tháng người nhà ông Mão đưa ông đi khắp các bệnh viện , không bác sĩ nào biết ông mắc bệnh gì , còn ông Mão thì lúc mê lúc tỉnh , lúc thì kêu khó chịu trong người, lúc thì kêu đau đầu...

...Cứ như vậy mãi sau ông mới khỏi , nhưng từ đó sức khỏe yếu hẳn đi .Trước đây tôi không tin là thầy Thích Viên Thành chết vì tai họa sông Tô Lịch , nhưng từ khi chứng kiến ông Mão ốm thì tôi tin rằng thầy Thích Viên Thành chết vì ma sông Tô Lịch thật. Nhưng lạ nhất là từ lúc lập đàn tràng lần thứ 2 do ông Mão chủ lễ,công việc có suôn sẻ hơn. Cữ dựng lên không bị phá nữa , kè đập cũng không bị sụtlở , chúng tôi làm được gần 150m dài , quá 1/3 đoạn sông tôi nhận .Đến đây thì tôi kiệt sức , vốn liếng vay mượn khắp nơi rồi không thể vay mượn thêm được nữa.Tôi quyết định ngừng công việc tại đây .
Nhưng tai họa thì không dừng lại , vào đúng ngày tôi hết sạch tiền , định cho anh em nghỉ việc thì tự nhiên một anh công nhân lên cơn động kinh ngay tại công trường , miệng sùi bọt mép ,mất hoàn toàn ý thức . Lúc tan cơn co giật anh vẫn mê sảng mồm lảm nhảm : Trả tao đây , trả tao đây . Ngay hôm sau tôi được tiếp một người quen mớitừ Lào về . Đó là anh Tuấn một cán bộ ở Ủy ban dân tộc Trung ương . Năm trước , trong lúc chúng tôi đào trong trận đồ bát quái anh có đến thăm và chọn trong các đồ cổ xúc ở dưới sông lên , xin một cái bát hoa cúc đời Lý Anh mang về bày ở trong nhà .Từ ngày ấy gia đình lục đục, làm ăn thất bại .Vừa rồi anh có đi công tác sang Lào , có một ông thầy cúng vừa nhìn thấy anh đã hốt hoảng :" Anh có cầm vật gi của người âm không ?".Anh trả lời : "Không có ạ".Ông thầy cúng lắc đầu :" Anh phải nhớ lại thật kỹ đi,tôi tháy sau lưng anh có rất nhiều người âm đang đòi anh cái gì đáy , hình như là bát ăn cơm thì phải . Anh lấy của họ ở dưới sông làm họ không có cái bát ăn cơm. Anh phải trả họ ngay không thì gay go đấy ."
Anh Tuấn nhớ lại chuyện cái bát sợ quá phải bỏ dở chuyến công tác , quay về Hà Nội sắm lễ vật làm lễ tạ tội và trả cái bát vào lòng sông đúng chỗ tôi đã múc lên .Hôm đó là ngày 24/7/2002.
Chuyện còn rất dài, tai họa còn rất nhiều . Ba ngày sau đó , bố đẻ tôi đột ngột ra đi và nhiều chuyện nữa đã xảy ra tôi sẽ kể chi tiết sau .Bởi ngay đến hôm nay gia đình tôi vẫn còn phải chịu nhiều oan khuất ...

Như số báo trước đã kể , thầy tứ phủ Phạm Văn Mão sau khi lập đàn tràng đã hóa giải được trận đồ bát quái công trình kè sông Tô Lịch , đoạn qua đền Quán Đôi, nhưng đổi lại gia đình tôi và cả anh em tôi sẽ bị đại nạn, mất tất cả. Đúng như vậy , ngay sau đó công việc trên sông đoạn này bỗng nhiên thuận lợi , chẳng mấy chốc tôi đã làm xong khoảng 150m chiều dài kè sông. Đến lúc xảy ra sự kiện anh Tuấn bị người âm đuổi theo,trả lại bát hoa cúc xuống lòng sông.Bố đẻ tôi ở quê là người đàn ông trẻ khỏe hơn tuổi 70 của mình,ông vẫn làm việc và lao động như mọi tráng niên. Sau khi anh Tuấn trả cái bát về sông đúng 3 hôm , ngày 27/7/2002 bố tôi đi chơi về đang ngồi uống nước ở nhà đột nhiên đứt mạch máu não và chết ngay sau 6 tiếng đồng hồ cấp cứu. Đây là mất mát lớn nhất của cuộc đời tôi.Biết là mọi sự nguy hiểm đang rình rập, ngay sau khi đám hiếu bố tôi kết thúc,tôi ra ngay công trình, đào toàn bộ tám hài cốt moi từ dưới sông đang chôn tạm dọc bờ sông lên rửa ráy sạch sẽ , xếp vào tiểu đẹp và làm lễ trọng, đưa toàn bộ lên nghĩa trang Bất Bạt an táng cho mát mẻ vong linh người chết .Trong đau khổ mất cha,trước đàn lễ tôi vừa khóc vừa khấn rất to nhiều người nghe thấy " Tín chủ xin các vong hồn tha thứ cho sự xúc phạm vào nơi yên nghỉ của các vong, nhưng tín chủ cũng chỉ là người làm thuê thừa lệnh cấp trên mà làm, nay con đã sức cùng lực kiệt, người thì chết , người thì ốm ,tiền thì hết , nếu các vong có bắt tội thì bắt tội ông Nguyễn Quang Hưng giám đốc công ty VIC và ông Nguyễn Trọng Doanh Giám đốc dự án . Xin các vong nhẹ đỡ trừng phạt con" Tôi cũng nói thêm , trong suốt thời gian xảy ra chuyện ở đoạn sông Tô Lịch này, hai ông Hưng và Doanh lúc nào cũng tỏ vẻ không tin và không hề có sự hỗ trợ giúp đỡ nào,thậm chí còn nhạo báng và gây thêm khó khăn cho công việc thi công của tôi .
Và cũng thật đáng sợ , chỉ 2 ngày sau , sau khi tôi an táng toàn bộ 8 hài cốt ở nghĩa trang Bất Bạt , trong chuyến công tác ở Quảng Bình xe ô tô chở ông Nguyễn Quang Hưng cùng một số cán bộ công ty đã bị tai nạn. Chiếc xe Toyota bị phá hủy hoàn toàn .Ông Nguyễn Quang Hưng bị chấn thương nặng, bị gãy 3 cái xương sườn , nhiều cán bộ đi cùng cũng bị vạ lây. Vẫn chưa hết ,sau đó khoảng một tháng ,văn phòng Ban quản lý dự án do ông Nguyễn Trọng Doanh trực tiếp phụ trách đặt tại Yên Sở-Hà Nội bỗng bốc cháy dữ dội .Ngôi nhà 2 tầng đặt văn phòng dự án và văn phong một số công tytham gia thi công dự án bị thiêu rụi hoàn toàn.
Sau khi làm xong 150m trên chiều dài 360m tôi nhận thi công, do các sự việc ghê gớm xảy ra và cũng do sức cùng lực kiệt ,tiền vốn không còn ,tôi xin thanh lý hợp đồng .Lạnh lùng không có chút nhân đạo , không thương xót .Công ty VIC thanh lý hợp đồng mà không hỗ trợ một xu nhỏ .Tôi bị lỗ 500 triệu đồng vì công trình này.Quay trở về Nghệ Antôi đi cầu khấn mọi nơi,nơi nào cũng báo cho tôi biết là tôi đang bị đại nạn. Cũng nói thêm khi thi công công trình ngoài cổ vật moi ở trận đồ bát quái tôi đã nộp cho Bảo tàng Hà Nội, các công nhân có moi được nhiều bát đĩa, cốc chén cổ.Tôi có giữ lại mấy cái lành lặn .Trong đó có một chiếc tước màu đen mà nói như GS Trần Quốc Vượng,đó là một đồ cổ rất quý hiếm .Khi về đến Nghệ An do hết tiền ,tôi định bán chiếc tước đó .Khách mua từ Hà Nội vào,sau một ngày trả giá đã thỏa thuận mua chiếc tước ấy với giá 10.000USD .Thỏa thuận xong khách quya lại khách sạn lấy tiền để trả tôi,trong lúc chiếc tước vẫn để trên bàn .Khách mang tiền đến ,chưa kịp đếm thì thật là kinh hãi,chiếc tước không ai đụng tay vào tự nhiên vỡ đôi rồi vỡ vụn .Khách co giò bỏ chạy.Ngay sau đó tôi cũng sợ hãi quá mang nốt mấy cái đồ còn lại ra Hà Nội gặp GS Trần Quốc Vượngvà cho hết ông .GS Trần Quốc Vượng lúc đó vừa lấy vợ mới đang rất vui vẻ ,ông cứ cười tôi về sự yếu bóng vía .Ông giải thích cho tôi là đồ ngâm lâu dưới nước ,khi đưa ra ngoài không khí nước bốc hơi làm cho gốm bở ra rất dễ vỡ.Chuyện cái tước không có gì liên quan đến tâm linh.Tôi thì quá sợ nên không dám giữ một món đồ nào nữa.Tôi không ngờ đó là lần gặp gỡ cuối cùng của tôi với GS Trần Quốc Vượng vì chỉ ít lâu sau ông mất đột ngột.Trong thâm tâm tôi có cảm giác mấy món đồtừ trận đồ trấn yểm đã làm hại ông .Tôi cũng nhớ ông xin mấy món đồ khi ông đến công trình .Từ đó 4 năm qua .Tôi từ một tỷ phú trước khi làm công trình kè sông đã trở nên một kẻ tay trắng phải phiêu dạt lên biên cương,sang Lào để kiếm ăn.Có lúc tưởng như không còn mái nhà , không còn gia đình để về.Ong anh trai thứ hai của tôi , người tham gia công trình cùng tôi gặp những sự trớ trêu cay đắng trong hạnh phúc gia đình đến mức đôi lúc ông đã có những ý định tiêu cực.Đến năm 2006 vừa qua ông gây tai nạn giao thông làm chết người và vướng vào vòng lao lý.Ông anh thứ 3 người cho tôi vay tiền để làm kè sông Tô Lịch cũng là người làm ăn phát tài sau đó gặp nhiều sự rủi ro phá sản toàn bộ .Cô em gái của tôi Nguyễn Thị Bạch Hợp công tác tại Sài Gòn thì đang vướng phải một sự oan khuất chỉ vì mong tận tâm tận lực với công ty PJICO mà đang phải ra tòa và lúc tôi viết những dòng này tòa đã tuyên tạm hoãn xử lần 2
Trích từ báo Bảo vệ pháp luật 07-04-2007

Về vụ trấn yểm trên sông Tô Lịch

Về vụ trấn yểm trên sông Tô Lịch
14.04.2007 - 12:00
Hiện tượng trấn yểm sông Tô Lịch gây xôn xao dư luận của Hà Nội và cả nước về những kỳ bí đang xẩy ra vào đầu thế kỷ 21 - Khi mà KHKT đang phát triển như vũ bão.
Tóm lược sự việc như sau :Vào ngày 27/9/2001, đội thi công số 12 -Thuộc Công ty xây dựng VIC ,trong khi nạo vét sông Tô Lịch,thuộc địa phận làng An Phú - Phường Nghĩa Đô - Quận Cầu giấy - HÀ NỘI đã phát hiện được di vật cổ rất lạ và huyền bí. Đó là 7 cây gỗ được chôn đứng dưới lòng sông, tạo thành một đa giác đều,tại đó có các bộ hài cốt bị đóng đinh bả vai, táng giữa các cọc gỗ đó. Ngoài ra còn phát hiện được tấm gỗ Vàng tâm có hình Bát quái, một số đồ Gốm, xương Voi, Ngựa, dao, tiền đồng.
Sau khi đã rút những cọc gỗ đó lên, lấy các bộ hài cốt đem lên Bát Bạt -Hà tây ( là nơi nghĩa trang chôn cất chung của TP.Hà nội ), thấy có rất nhiều hiện tượng kỳ lạ xẩy ra. Nào là các việc chuẩn bị tiến hành thi công bị rối tung lên, máy xúc KOMATSU tự nhiên lao xuống sông;. Nào là một số người đang làm việc tự nhiên ngã lăn ra đất, chân tay co rúm, cứng đờ, lưỡi thè ra ngoài và trở nên hoàn toàn mất tư thức trong nhiều giờ;. Địa tầng của cả khu vực thi công tự nhiên biến đổi, không giống như khảo sát ban đầu; Thử đưa la bàn vào khu vực đó thấy kim la bàn quay tít.
Một năm sau sự việc trên,có hàng loạt sự kiên ngẫu nhiên xẩy ra ,gây kinh hoàng cho toàn đội xây dựng số 12,là đội đă trực tiếp thi công khu vực trên. Bản thân, gia đình, anh em của những người công nhân trực tiếp ngụp lặn vớt hài cốt, nhổ cọc đóng dưới lòng sông liên tục bị các tai nạn thảm khốc như chết, bệnh tật, tai nạn. Sự việc lên đến đỉnh cao khi có tới 43 người thợ bỏ không dám tiếp tục làm việc tại công trường nữa. Trong số đó nhiều người không nói rõ lý do, cũng không đòi hỏi vật chất mà đáng ra họ được hưởng.
Ngày 9/10/2001 những người thợ đã mời một thày theo đạo Tứ phủ đến giải thích, theo nhận định của Thày thì đây là một đạo Bùa Bát quái trận đồ được chôn yểm lâu đời để trấn yểm Long mạch của khu vực này. Sau đó các công nhân lại tiếp tục mời Thượng tọa Thích Viên Thành tới. Thượng tọa Thích Viên Thành đã cho 5 đệ tử lập đàn tràng, làm lễ Hàn lại Long mạch: Chỉ hơn 1 tháng sau, Thượng tọa Thích Viên Thành đã bị bệnh chết.
Các nhà khoa học đã có những đánh giá sơ bộ, song cho đến nay vẫn chưa có kết luận nào khả dĩ có thể lý giải và khắc phục các sự việc trên.
Giáo sư Trần Quốc Vượng có kết luận như sau :" Trước đây, cổng Hoàng thành ngoài lính còn có Thần chấn giữ 4 cửa (Thăng Long Tứ trấn ) và có yểm bùa hay còn làm lễ Hiến Sinh. Như vậy đây là cổng thành phía Tây của La thành. Thông qua tính tương đối thống nhất giữa niên đại của Tiền và đa số đồ gốm cho thấy niên đại của địa điểm này trong khoảng thế kỷ 11 cho đến 14, thuộc vào thời Lý -Trần Việt Nam hay thời Tống của Trung Quốc.
Sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa hiện tượng sông Tô bị lở do đổi dòng và mắt nhà Vua bị đau, đã tạo ra một lễ trấn yểm, trong đó có những bộ xương người cùng những hiện vật khác chăng.( Ở đây GS Trần Quốc Vượng muốn nhắc đến sự tích Ông Dầu bà Dầu trong chuyện cổ tích Việt nam - Người viết ). Đó là một phần của những gì đã đăng tải trên tờ báo. Gần đây, một người bạn của tác giả có cho biết : Đài truyền hình có phát tin người ta đã chuẩn bị khôi phục lại hiên trạng di vật như lúc ban đầu.
Người viết bài này lại có ý kiến khác hẳn: Theo thiển ý của người viết, đây là một hiện tượng chấn yểm nhằm cắt và bế Long Mạch, chận đường của Khí. Ai đã chấn yểm vị trí này và mục đích sự chấn yểm này để làm gì ?. Theo thiển ý của người viết : Đây là tác phẩm của Cao Biền, Tiết độ sứ của TQ vào thế kỷ 8 -Tức là trước thời nhà Lý khoảng 200 năm. Sudoku's Blog
Người viết xin được chứng minh như sau : Trước hết nói về ý kiến của GS Trần Quốc Vượng; người viết cũng đồng ý rằng đây là một sự chấn yểm sông Tô lịch, song không chỉ căn cứ vào niên đại của một số đồ gốm nhặt được mà cho rằng sự việc xẩy ra vào thời Lý - Trần. Nếu theo Truyền thuyết " Tại sao sông Tô lịch và sông Thiên Phù hẹp lại " hay truyền thuyết " sự tích Ông Dầu bà Dầu ", tác giả của sự việc trên là các vị Vua nhà Lý, nhằm trấn yểm sự Báo thù của Ông bà Dầu, thì không có sự việc sông Tô Lịch và Thiên Phù cứ ngày càng hẹp lại,đến nay chỉ còn là một con sông nhỏ xíu, làm nhiệm vụ thải nước bẩn cho Hà Nội. Ta nhớ rằng theo sử sách sông Tô lịch ngày xưa rất rộng, trên bến, dưới thuyền, là trục Giao thông chính thủa ấy. Mặt khác thời Lý Trần có rất nhiều nhà Phong Thủy Việt nam tài giỏi như : Thiền sư Định không làng Cổ pháp (Sư thọ 79 tuổi -Năm Bính tư 808 ), Sư La chân Nhân (852 -936 ), Sư Vạn Hạnh..
Dĩ nhiên các vị sư đó không thể nào để cho các Vua Lý chấn yểm sông Tô Lịch và Thiên Phù, để đến nỗi sông Tô Lịch và Thiên Phù cứ ngày càng hẹp lại và Ngôi báu Vua Lý chẳng bao lâu về tay nhà Trần. Dòng họ Lý bị tuyệt diệt đến nỗi chỉ có người nào đổi qua họ Nguyễn mới thoát khỏi.
Bây giờ ta xét sự việc dưới một góc độ khác qua các sự kiện Lịch sử và các truyền thuyết còn lưu lại trong dân gian.
Theo Việt sử lược : Thành Đại La được xây dựng vào thế kỷ 7 có tên là Tống Bình. Năm thứ 2 niên hiệu Trường khánh (Nhâm Dần -822 ), Vua Mục Tông nhà Đường dùng Nguyên Hỷ làm quan đô hộ. Nguyên Hỷ thấy cửa thành có dòng nước ngược sợ rằng dân ở thành có ý đồ phản nghịch, liền sai Thầy bói gieo 1 quẻ. Thầy bói nói rằng : Sức ông không đủ để bồi đắp thành lớn, 50 năm sau, có một người họ Cao đóng đô tại đây mà xây dựng Vương phủ .
Tới đời vua Đường Y Tôn (841 -873 ), Cao Biền được cử sang đất Việt làm Tiết Độ sứ. Cao Biền là một con người đa hiệu: Vừa là một vị Tướng,vừa là một nhà Phù thủy, một Đạo sĩ, cũng là một nhà Phong thủy có tài. La Thành được Cao Biền chữa, chỉnh đốn lại cho hợp Phong Thủy vào các năm : 866, 867, 868. Theo truyền thuyết, khi Cao Biền xây dựng lại thành Đại La, thì khu vực thi công có hiện tượng sụp lở đất. Cao Biền liền tiến hành chấn yểm Thần sông Tô lịch và một số điểm khác như đền thờ Thần Bạch mã, núi Tản Viên. Sau đó công viêc xây dựng mới có thể hoàn tất.
Tới đây, ta nhớ lại một truyền thuyết khác của dân tộc Việt nam. Đó là " Truyền thuyết Thành Cổ Loa " Tương truyền rằng khi xây dựng thành Cổ loa, An Dương Vương cũng xây mãi mà thành vẫn bị đổ. Khi đó Rùa Thần hiện ra chỉ cách cho xây và cho một cái móng chân, lúc đó thành Cổ loa mới có thể xây dựng xong".
Về mặt địa lý, La thành và Thành Cổ loa cách nhau không xa ( Theo đường chim bay chỉ vài chục km ).
Tới đây, ta buộc phải tự đặt câu hỏi : Có sự trùng hợp giữa hiện tượng sụp đất của Thành Cổ loa, sự sụp đất của thành Đại la và sự sụp lở đất không thể khắc phục được trên công trình nạo vét sông Tô Lịch ?.
Qua hai truyền thuyết trên, bỏ qua các sự việc có tính chất dị đoan, chúng ta phải chấp nhận một sự thực là: Vùng đất từ đầu nguồn sông Tô Lịch kéo dài đến Cổ Loa - Đông Anh HÀ NỘI là một vùng đất có địa tầng địa chất không ổn định. Ta cũng cần phải nhớ rằng : Núi Tản viên nằm ở hướng Tây Hà Nội. Mặt khác phía Tây và Tây Bắc của La Thành là một vùng núi non trùng điệp của các tỉnh HÒA BÌNH, SƠN LA, LAI CHÂU...Theo định nghĩa của môn Phong Thủy, Long Mạch xuất phát từ những rặng núi cao. Núi mà từ đó khởi nguồn Long mạch gọi là Tổ sơn. Ngoài ra Long mạch còn xuất phát từ những khu vực khác gọi là Thiếu sơn. Ta cũng biết rằng thiên khí từ trên trời luôn có tính chất giáng xuống, các đỉnh núi cao là những antena tiếp thu sinh khí. Từ những sự việc trên, ta cảm nhận được rằng có một Long mạch rất lớn bắt nguồn từ núi Tản Viên và các rặng núi phía Tây, Tây bắc của Thành Đại la kéo dài qua thành Đại La theo dọc sông Tô Lịch (khí thường đi theo nước ), chạy qua khu vực Hồ Tây bây giờ (Hồ Tây trước kia là một khúc của dòng sông Hồng ), sau đó sang tới tận địa phận Cổ Loa -Đông Anh - HÀ NỘI và còn theo hướng Đông, Đông Bắc đi tiếp .
Chính vì có Long mạch này mà Cao Biền phải vô cùng bận tâm, khổ trí nhằm tiêu diệt hoặc chấn yểm. Có rất nhiều tryền thuyết về Cao Biền liên quan đến các khu vực khác nhau của Long mạch này. Ta có thể kể ra đây những hoạt động của Cao Biền liên quan đến các khu vực của Long mạch này : Đầu tiên là truyền thuyết Cao Biền chấn yểm núi Tản Viên, hắn đã sử dụng đến 8 vạn cái tháp bằng đất nung để chấn yểm núi Tản viên. Tới gần đây người ta còn đào được những cái Tháp đất nung đó tại khu vực Hà nội. Tiếp theo là truyền thuyết Cao Biền dùng hơn 4 tấn sắt, đồng...chôn để chấn yểm đền Bạch Mã là nơi vị thần sông Tô Lịch trú ngụ. Cao Biền còn nhiều lần dựng đàn tràng, dùng 4 thứ kim loại : sắt, đồng, vàng, bạc chấn yểm nhiều nơi trên bờ sông Tô Lịch. Theo sử sách, Cao Biền đã đặt Bùa chấn yểm tới 19 nơi dọc theo sông Tô Lịch.
Thời bấy giờ nước Nam có nhiều vị đại sư tài ba lỗi lạc, hiểu biết rất giỏi về Nho,Y, Lý số và thuật Phong Thủy đã hóa giải sự trấn yểm của Cao Biền bằng phép Huyền môn. Các đại sư thường tụ tập tại ngôi đền SƠN TINH THỦY TINH ở núi Ba vì, hay ở đền BẠCH MÃ, dùng những hiểu biết về Phong Thủy để chấn áp bùa phép của Cao Biền.
Trở lại, đạo bùa tìm thấy trên lòng sông Tô Lịch, có rất nhiều lý do để có thể kết luận rằng : Đó là tác phẩm của Cao Biền, chứ không phải là của các nhà vua Lý. Tác phẩm đó là của Cao Biền đời nhà Đường, thuộc về thế kỷ 9, tức là trước thời các nhà Lý khoảng 200 năm (Lý thái Tổ -Năm 1010 ). Nếu xét về niên đại của cổ vật tìm thấy, thì trong khoảng 200 năm các cổ vật trên cũng không có sự thay đổi nhiều. Cũng không loại trừ trường hợp các cổ vật ở trên đất liền rớt xuống lòng sông thời gian sau khi Cao Biền trấn yểm.
Bây giờ ta lại xét đến mục đích của Cao Biền khi trấn yểm sông Tô Lịch. Cho tới tận giờ phút này, khi các bạn và tôi đang ngồi bên máy vi tính,người ta vẫn sử dụng các thủ thuật : Châm cứu, điện chẩn, xoa bóp, bấm huyệt ... để chữa bệnh. Tất cả các thủ thuật đó đều dựa trên lý thuyết về hệ thống kinh mạch, huyệt, lạc trong cơ thể con người. Người ta xác định được hàng ngàn vị trí Huyệt đạo trong cơ thể con người. Tùy theo từng trường hợp khi châm cứu, người ta dùng kim tam lăng để châm vào các huyệt khác nhau, với thời gian và độ nông sâu khác nhau. Trong dân gian còn lưu truyền các biện pháp bấm, điểm huyệt có thể làm cho một bộ phận nào đó của cơ thể không còn khả năng cử động, hoặc nặng hơn là bộ phận đó không còn sử dụng được. Ta vẫn biết rằng :THIÊN ĐỊA NHÂN là hợp nhất. Mọi vật thể từ Vi mô cho đến Vĩ mô đều phải tuân theo những quy luật chung của sự tương tác vũ trụ. Phải nói dài dòng như vậy để có thể tạm kết luận rằng, trên Trái đất này cũng phải có những đường kinh mạch, huyệt, lạc như trong cơ thể con người. Trái đất này là một cơ thể sống chứ không phải là một cục đất chết như nhiều người vẫn nghĩ. Ta cũng có thể suy ra một hệ quả rằng :Tại một điểm nào đó, người ta có thể dùng một thủ thuật nào đó, có thể ngăn, bế hoặc chặn đường đi của một Long mạch như Cao Biền đã làm. Thủ thuật này người xưa gọi là trấn yểm.
Bây giờ ta tạm thời đưa ra các nhận định như sau :
1. Đạo Bùa trấn yểm trên dòng sông Tô Lịch là của Cao Biền -Tiết độ sứ của nhà Đường, dùng để chấn yểm long mạch, khi tiến hành xây dựng thành Đại La vào thế kỷ 9. Đó là 1 trong 19 nơi mà Cao Biền đã thực hiện trấn yểm.Đạo Bùa đó hoàn toàn không phải do các Vua thời nhà Lý chấn yểm trong Truyền thuyết Ông Dầu, bà Dầu khoảng 200 năm sau khi Cao Biền thực hiện chấn yểm.
2. Chấp nhận có một Long mạch rất lớn xuất phát từ phía Tây của thành Đại La (Các dãy núi thuộc các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, và gần nhất là dãy núi Tản Viên); Long mạch này đi qua thành Đại La, cụ thể theo dọc sông Tô Lịch, qua khu vực Hồ Tây, kéo dài sang Cổ Loa - Đông Anh - HÀ NỘI; Long mạch này còn kéo dài tới dãy Yên Tử và theo hướng Đông Bắc tới tận Quảng Ninh. Đây chỉ là nhánh Thanh Long của đồng bằng Bắc Bộ. Nhánh Bạch Hổ khi có điều kiện tôi xin chứng minh tiếp.
3. Cao Biền đã thực hiện biện pháp trấn yểm Long mạch, nhằm bế dòng khí của Long mạch này. Thủ thuật trấn yểm tương tự như thuật điểm huyệt trong đông y học.
Đến đây, ta lại tiếp tục đặt ra câu hỏi :
1. Tại sao có hiện tượng kỳ lạ và bí ẩn đã xẩy ra cho các công nhân trong đội xây dựng số 12. Bản chất hiện tượng đó như thế nào ?
2. Tại sao sau khi Cao Biền trấn yểm sông Tô Lịch, kể từ đó tới tận ngày hôm nay, trong lịch sử ta không còn nghe có vụ sụt lở đất nào khác ngoại trừ trường hợp trên sông Tô Lịch đã nêu ở trên sau khi người ta đã rút các cọc trấn yểm lên.
3. Hậu quả của việc rút bùa trấn yểm lên sẽ như thế nào đối với khu vực dọc theo sông Tô Lịch nói riêng và cả khu vực HÀ NỘI, các vùng phụ cận nói chung. Hậu quả sẽ như thế nào đối với Long mạch đi qua thành Đại la ?
4. Biện pháp khắc phục sự việc trên như thế nào ?. Người ta có thể hàn lại Long mạch như Thượng Tọa Thích Viên Thành đã thực hiện hay không ?. Trường hợp khôi phục lại Bùa chấn yểm đó xấu hay tốt ?.
Người viết bài này xin mạo muội lý giải các câu hỏi trên. Vì tình yêu đối với HÀ NỘI, quê hương của người viết, vì trách nhiệm một người Việt nam đối với quê hương rất mong được cùng các bạn trao đổi, hầu tìm ra những giải pháp khắc phục hiện tượng kể trên. Đó là trách nhiệm chung của chúng ta không chỉ phải của riêng ai.
Người viết xin được lần lượt lý giải các vấn đề trên như sau :
1. Tại sao có hiện tượng kỳ lạ và bí ẩn xảy ra cho các Công nhân trong đội xây dựng số 12
-Bản chất của hiện tượng đó như thế nào ?.
Trong thuật Phong Thủy, Khí là một hiện tượng rất khó giải thích, nhưng nó là một khái niệm cơ bản của thuật Phong Thủy. Nhận định đúng về Khí là chìa khóa mở vào lý thuyết cốt yếu của Phong Thủy. Theo quan niệm Á đông, Khí ẩn tàng làm động lực cho Trời đất vạn vật. Khí không những hội tụ trong các vật thể hữu hình mà còn tản mát vô hình sau khi vật thể tan rã để tạo thành những thể rất Linh thiêng gọi là Linh Khí của Vũ trụ. Người xưa có câu : Tụ là hình tán là Khí. Ngày nay Khoa học phát hiện được một vài dạng của Khí, gọi là Plasma sinh học.các dạng đó có thể đo, đếm được. Trong Đông Y học người ta phát hiện Hệ thống Kinh , Mạch, Huyệt là đường vận hành của Khí từ rất xa xưa. Người ta phát hiện rằng : Khí vận hành trong Kinh, Lạc như một dòng nước, chỗ đi ra gọi là Tĩnh, trôi trảy gọi là Huỳnh, dồn lại gọi là Du, đi qua gọi là Kinh, nhập lại gọi là Hợp. Đường Kinh không đơn giản là một ống dẫn vật chất nào đó. Đường Kinh là một chùm ống dẫn Khí Ngũ hành xuyên suốt các cơ quan, bộ phận của một Tạc tượng. Ngoài ra người xưa còn biết rất sâu về bản chất của Khí, có một lý thuyết về Thời châm vô cùng chính xác là Tí Ngọ lưu trú và Linh Quy bát pháp. Đó là trên cơ thể con người,còn trong Phong Thủy ,người ta quan niệm rằng Nguyên Khí trong lòng đất, tương tự như hệ thống mạch, huyệt trong Đông Y. Nguyên Khí được xem là gắn bó với nước, nước giúp Khí di chuyển, nước đi thì Nguyên Khí cũng đi, nước ngừng thì Nguyên khí cũng ngừng. Sinh Khí tụ mạnh nhất là nơi giao hội của nước ( nơi các dòng sông hội tụ chẳng hạn ). Người viết chỉ nêu ra một số quan niệm về Khí, dùng cho việc chứng minh luận điểm của mình, còn Lý thuyết về Khí thì vô cùng, vô tận. Mặt khác, có thể tìm hiểu cơ chế của mối quan hệ giữa hài cốt người chết đối với người thân thích còn sống như thế nào ?. Theo Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương: Trước hết vì trong mối quan hệ này không có sự tiếp xúc xác thịt trực tiếp giữa hài cốt người chết và thân xác người còn sống, nên tất yếu phải có phần sóng vô hình của cả đôi bên tham gia vào. Đó có thể là một hiện tượng cộng hưởng sóng mang tính chất huyết thống, dòng họ. Do tần số đôi bên có thể khác nhau nhiều, nên trong lý thuyết về Nhạc, loại cộng hưởng này mang tên cộng hưởng Harmonic (Tần số này là bội số của Tần số kia). Đó là cơ chế cộng hưởng Harmonic hình thái huyết thống.
Trở lại câu chuyện trên dòng sông Tô Lịch: Người viết cho rằng : Long mạch đã nói ở phần trên bị Cao Biền trấn yểm đúng Huyệt vị, đã bị ngăn chặn lại tại nơi có đạo Bùa chấn yểm. Hậu quả của đạo Bùa này làm cho Nguyên Khí không thể tiếp tục đi theo hành trình vốn có của nó, làm cho vùng đất dọc theo Long mạch sau khi bị chấn yểm trở nên cứng hơn, ổn định hơn. Bằng chứng là về sau này ta không còn nghe được sự việc sụt lở đất tương tự như thế nữa. Ta có thể hình dung hơi thô thiển là Long Mạch giống như một mạch máu, bị cột lại một đầu, không cho dẫn máu tới các vùng sau đó được nữa. Các bộ phận cơ thể đằng sau chỗ bị cột vì không có máu nuôi nên dần dần bị khô, teo đi. Ta cũng để ý một điều rằng :Thành phố Hà nội ngày nay có rất nhiều hồ nước con đang tồn tại như hồ Tây, hồ Gươm, hồ Bảy mẫu, hồ Ha Le ...Mặt khác sông Tô Lịch và Thiên Phù dần dần bị hẹp đi và giờ đây chỉ còn là con mương nhỏ dẩn nước thải cho TP.HÀ NỘI. Ở đây có một câu hỏi thú vị là : Nếu như Cao Biền ( vốn được coi là tổ sư của Phong Thủy ) đã quyết tâm trấn yểm tiêu diệt dòng sông Tô Lịch thì sao cho đến tận bây giờ sông Tô Lịch vẫn còn tồn tại ( mặc dù chỉ là con mương nhỏ ). Theo người viết,nếu Cao Biền trấn yểm đúng thì ngày nay ta chỉ còn nghe đến tên của nó qua lịch sử. Đến đây người viết khẳng định :Cao Biền có sự sai lầm trong việc chấn yểm. Nguyên nhân sự sai lầm của Cao Biền chính là sự hiểu biết vô cùng chính xác của các vị Vua Hùng - Tổ tiên của người Việt chúng ta trong thuật Phong Thủy nói riêng và trong Thuyết Âm Dương, Ngũ Hành nói chung. Vì tiên đoán được các sự việc sẽ xẩy ra, sau khi mất nước, các Vua Hùng đã cố ý làm sai lạc một phần của Thuyết Âm Dương Ngũ Hành. Người viết xin chứng minh vấn đề này ở phần sau.
Bây giờ ta đi vào trả lời câu hỏi nguyên nhân của sự việc xẩy ra cho công nhân đội xây dựng số 12. Theo người viết như sau : Tại chỗ có đạo Bùa, Nguyên Khí bị bế lại lâu năm, khi tháo gỡ đạo Bùa, giống như tháo bỏ chỗ bị cột trong mạch máu, Nguyên khí bị thoát ra ngoài tại vị trí chấn yểm và lan tỏa ra xung quanh. Ta chưa xét đến sự tốt xấu của dòng Khí đó với cơ thể con người. Chỉ biết một điều rằng : Chính dòng Khí đó làm mất cân bằng cục bộ môi trường xung quanh chỗ đường Khí được giải phóng. Chính vì vậy những người Công nhân đang làm việc tại khu vực đó bị các hiện tượng kỳ lạ đã nêu ở phần đầu. Khi cơ thể con người bị mất cân bằng về Khí dẫn đến hiện tượng mất khả năng hoạt động Thần kinh. Như vậy cũng chẳng có gì khó hiểu khi các công nhân đội xây dựng só 12 gặp phải. Ngoài ra do ảnh hưởng của Quy luật " Đồng thanh tương ứng - Đồng Khí tương cầu ", hay là hiện tượng cộng hưởng Harmonic mà Thân nhân, dòng họ của những người công nhân đội xây dựng số 12 phạm phải , mặc dù họ không trực tiếp có mặt trên công trường. Đó là hiện tượng cũng dễ hiểu.
Có điều nguy cơ tiềm ẩn ở đây là : Nơi dòng Khí thoát ra sẽ ảnh hưởng như thế nào đối với TP.HÀ NỘI ?. Đây là một vấn đề quan trong cần có sự nghiên cứu nghiêm túc.
2. Trả lời cho câu hỏi : Tại sao sau khi có sự chấn yểm của Cao biền,vùng đất dọc theo Long mạch kể từ chỗ bị trấn yểm trở nên cứng và ổn định hơn và từ đó về sau này ta không còn nghe có các vụ sụt lở đất ở khu vực dọc theo Long mạch tương tự nữa,ngoại trừ trường hợp đã xẩy ra trên sông Tô Lịch, khi đạo Bùa trấn yểm đã được nhổ lên ?.
Tiếp tục phát triển tính nhất quán của phần trên : Khi đường Khí của Long mạch đã bị bế lại, nguyên Khí không thể tới được các vùng đất ở sau chỗ trấn yểm được nữa, và Nguyên Khí luôn có nước đi cùng nên lượng nước tới các vùng đó cũng bị giảm đi. Kết quả là vùng đất sau chỗ bị trấn yểm cứng lên, và kết cấu của Địa tầng, địa chất cũng trở nên ổn định hơn. Khi một vùng đất đã có địa tầng địa, chất ổn định thì tất yếu dẫn đến các vụ sụt lở đất khi xây dựng các công trình tự nhiên mất đi. Đó là một sự việc không có gì là bí ẩn trong nghệ thuật xây dựng hiện nay. Tại công trình nạo vét sông Tô Lịch, khi đạo Bùa chấn yểm bị nhổ lên, lập tức Nguyên khí bị phong tỏa ùa thoát ra ngoài với một tốc độ và lưu lượng vô cùng lớn, làm cho đất, đá của cả khu vực nhão ra như bùn, trở nên mất ổn định cục bộ. Ở đây ta cũng cần lưu ý rằng : Khi Nguyên khí thâm nhập vào lòng đất quá nhiều thì không chỉ đất, cát mà thậm chí cả đá hay các vật thể rắn khác đều trở thành bùn nhão, bởi tính chất của Nguyên khí khác với tính chất của nước. Ta cũng để ý rằng nơi nào mà nguyên khí ít ỏi hoặc không có vùng đó sẽ trở nên khô cằn, cây cối không thể phát triển được. Đó là trường hợp của các sa mạc, hoang mạc trên trái đất. Tại núi Ngự bình ở Huế cũng có trường hợp tương tự. Rất nhiều lần người ta tổ chức trồng cây trên núi Ngự bình song đều thất bại.
Như vậy, ta có thể kết luận rằng : Trong quá trình xây dựng Thành Đại la, Cao Biền gặp một vùng đất có kết cấu không ổn định nên đã thực hiên việc trấn yểm kể trên với mục đích làm cho đất cứng và ổn định hơn trước. Biện pháp thực hiện là dùng thủ pháp điểm huyệt đất tương tự như thủ thuật châm cứu, điểm huyệt trong đông Y. Ở đây còn có ý nghĩa sâu xa là trấn yểm các Long mạch, các huyệt phát Đế Vương của đất Việt. Tuy nhiên vì có sự sai lầm về độ số hướng Tây nên sự trấn yểm không được trọn vẹn. Bằng chứng là Sông Tô Lịch vẫn còn tồn tại và chỉ thời gian ngắn sau này nước Việt dã giành được độc lập. Một dải Long mạch đã nói ở trên vẫn phát sinh ra những con người nổi tiếng, những vùng đất địa linh nhân kiệt như chùa Dâu, núi Yên tử, Đền Kiếp Bạc ...Một nguyên nhân nữa sau này, đã phá hoại sự linh thiêng của Long mạch là các việc san lấp của người Pháp, cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Không biết vô tình hay hữu ý, khi xây dựng TP.HÀ NỘI, người Pháp đã cho lấp mất khúc sông Tô Lịch, nơi đổ ra sông Hồng - Nay là các phố Hàng Buồm, Hàng Bạc, Cầu Gỗ... Và Nhà thờ lớn HÀ NỘI hiện nay đặt trên nền của Tháp Báo Ân ngày xưa...
Một dân tộc đã được thiên nhiên ưu đãi về Địa linh về Sinh khí phải suy nghĩ như thế nào về trách nhiệm bảo vệ và khai thác sức mạnh tâm sinh khí đó. Chúng ta cần phải có các chương trình đào tạo các bậc anh hùng, hào kiệt, những bậc hiền tài cho Đất nước, những vĩ nhân cho thế hệ mai sau. Ngày trước các bậc Thánh Đế, Minh Vương coi đó là trách nhiệm lớn nhất đối với non sông, đất nước.
3. Tôi xin tiếp tục lý giải câu hỏi thứ 3 :Hậu quả của việc rút bỏ Đạo Bùa đối với khu vực dọc theo sông Tô lịch nói riêng và cả HÀ NỘI nói chung.Số phận của Long mạch sẽ như thế nào ?Đây là một câu hỏi hết sức khó vì tính chất phức tạp của nó.Người viết xin mạo muội lý giải và rất mong được các bậc hiền tài trong và ngoài Diễn đàn góp ý,bổ khuyết hầu có thể tìm ra biện pháp tốt nhất khắc phục được hậu quả của Lịch sử.Tôi coi đây là trách nhiệm của tất cả mọi người chúng ta .
Trước hết,ta xem xét hậu quả của việc Trấn yểm của Cao biền và những sự việc sẽ xẩy ra khi rút bỏ đạo Bùa đối với khu vực sông Tô lịch và các vùng phụ cận.Hiện nay,tôi không có tài liệu nào chính thức về các biện pháp Trấn yểm đất của bộ môn Phong thủy.Chỉ biết rằng từ xa xưa đã có các hiện tượng trấn yểm của Mã viện ( Trụ đồng Mã viện );các hiện tượng trấn yểm của Cao biền;các biện pháp dùng Bia đá để trấn yểm nhà,các tấm Bài ếm ở quanh khu vực Thất sơn (Cái ếm ở Bài Bài ,thuộc làng Nhơn hưng -Tịnh biên -Châu đốc ,cây ếm ở núi Nước )...
Để có thể hiểu rõ tính chất và hậu quả của việc trấn yểm,ta cần phải biết rõ lý thuyết trấn yểm và từ đó mới có thể khắc phục được tác hại của nó.Từ xưa,việc trấn yểm được coi là Thuật bí truyền của các thày Địa lý ,không được tiết lộ ra ngoài,sợ lộ Thiên cơ.Do vậy mà lý thuyết về sự trấn yểm đến tận giờ phút này vẫn được coi là một cái gì đó huyền bí,ma thuật,không có tài liệu nào được truyền ra.Tuy nhiên theo nguyên lý Thiên -Địa -Nhân là một,ta có thể dùng Lý thuyết của Đông Y để tìm hiểu vấn đề này.Mặt khác,Thuyết Âm Dương,Ngũ hành với cơ sở là Hà đồ,Lạc thư là một công thức siêu Vũ trụ có thể lý giải tất cả các vấn đề từ Vi mô tới Vĩ mô,nó là Công thức Tổng quát của Vũ trụ mà khoa học ngày nay đang ao ước ,tìm kiếm.Tôi sẽ xin trở lại vấn đề này khi có dịp.Bây giờ ta trở lại Lý thuyết của Đông Y về Kinh,Mạch,Huyệt,Lạc là một sự ứng dụng rất cụ thể và phong phú của Thuyết Âm Dương,Ngũ hành.Lý thuyết của Đông Y về Kinh,Mạch,Huyệt ,Lạc rất phức tạp và có từ rất lâu đời,cuốn sách đầu tiên có thể là cuốn Hoàng đế nội kinh,có thời điểm khoảng 5000 năm.Tôi chỉ xin dẫn giải những gì cần thiết để chứng minh cho luận điểm của mình.
HỆ THỐNG KINH, MẠCH, HUYỆT, LẠC.
1/HUYỆT : Là nơi tập trung Khí huyết của Tạng phủ.Là nơi tập trung các cơ năng hoạt động của Tạng phủ.Mỗi Tạng phủ có các đường Kinh,Mạch,Lạc nằm ở những nơi cố định.Những Huyệt lớn gọi là Khổng Huyệt.Những Huyệt bình thường gọi là Huyệt. Kinh, Mạch, Huyệt, Lạc làm nhiệm vụ dẫn cơ năng Tạng phủ từ trên xuống dưới,từ ngoài vào trong,từ dưới lên trên,từ trong ra ngoài,trong toàn bộ cơ thể con người.Trong cơ thể có một mạch Nhâm,một mạch Đốc,12 đường Kinh chính,cộng thành 14 Huyệt Kinh.có 365 đường Kinh Lạc và 666 đường Kỳ Huyệt.Hệ thống Kinh,Mạch,Huyệt ,Lạc tiếp nhận Thiên khí,Địa khí,Thời khí,có tính chất Âm Dương Ngũ hành.Nhờ hệ thống trên,ta có thể tìm đến các chỗ đường Khí bị tắc mà đả thông cho thuận.Mỗi loại Bệnh tật đều có một số Huyệt liên quan để ta có thể kích thích khi có bệnh.
2/Kinh :Là các đường dẫn Khí từ Huyệt nọ tới Huyệt kia.Các đường đó đi lắt léo,chồng chất qua rất nhiều chỗ;liên đới với các đường Kinh khác theo tính chất Âm Dương ,Ngũ hành,liên vận đến cả với Trời đất mà biến động sự sống,tinh thần con người,vì vậy mà gọi là Kinh.
3/Mạch :Nó là các Nguồn Mạch có Gốc chính đi ra.Nó đi khắp nơi,phân chia ra nhiều chỗ cần thiết,đến tận cùng của mọi nơi và sau lại trở về với chính Gốc.
4/Lạc: Nó là các đường của Kỳ huyệt , nhiều hơn Kinh, Mạch, nhỏ hơn nhiều. Nó đi ngang, tắt ,chằng chịt, chi chít, khó tìm hơn. Nó giúp cho con người điều hòa Tâm sinh lý rất tốt, nó thường hay xuất hiện theo chu kỳ, dùng để định Tâm, an Lạc. Có lẽ vì vậy mà người ta dùng chữ An lạc?
Các đường Kinh lại chia ra các đường Kinh nội và ngoại.
*Nội kinh là phần kinh của 14 đường Kinh,Mạch chính,quan hệ với Tạng phủ,chuyển dần sang các chi nhánh,Kinh Cân Âm và Kinh Cân Dương.Nội Kinh liên quan đến các tương quan,phản xạ,phát sinh Ngoại giao cảm,giữa Linh hồn,Vía,Phách và thể xác.
* Ngoại Kinh :Là những kỳ huyệt để bổ xung cho các Kinh chính ,khi cần thiết dùng cho lúc nguy cấp.Ví dụ cụ thể như :có người đã bị chết lâm sàng,tiêm,chích thuốc theo Tây Y không được,nhưng dùng Đông Y có khi chỉ cần bấm,day,châm,cứu Huyệt thì bệnh nhân có thể sống lại được.Có rất nhiều kỳ Huyệt mà tùy trường hợp có thể hút Linh hồn của người mới chết ,trở về nhập vào cơ thể.Ngoại Kinh bao gồm cả nội quan thân thể.Có nhiều Kỳ huyệt nhạy bén,rất công hiệu,có thể cứu mệnh con người,trong nhiều trường hợp nguy cấp .Đời thường từ xưa đã từng chữa bệnh cứu người bằng phương pháp này,song họ vẫn cho đó là Thần bí.
Tóm lại có 2 Mạch chính là Nhâm,Đốc ;12 đường Kinh chính,15 đường Mạch Lạc,và vô số Huyệt.
Xin nói thêm về Huyệt :Có các Huyệt hợp và các huyệt Giao hội, đó là các giao hội với các Kinh Dương và âm.Có các loại Huyệt là Du huyệt,Mộ huyệt,Nguyên huyệt,Lạc huyệt,Khích huyệt..
Trong Võ thuật còn truyền lại các Huyệt Thần đạo Võ thuật.Theo người viết được biết :Có 36 Huyệt đạo Kinh, nếu vô tình hay hữu ý tác động vào thì bất cứ Huyệt nào trong số 36 Huyệt này đều có thể gây ra chết người .Các Huyệt đó rất nguy hiểm nên còn gọi là tử Huyệt. Ngoài ra còn có 72 Huyệt đạo Kinh phụ. Nếu tác động vào bất cứ Huyệt nào trong số những Huyệt này đều có thể gây tàn phế , tật nguyền, rất khó chữa trị. Đây là yếu hại Huyệt hay còn gọi là Nạn Kinh. Người viết chỉ sơ qua vài nét về Thần đạo Võ thuật cho dễ hiểu thêm về tầm quan trọng của Huyệt với Linh hồn và cơ thể con người. Khi tác động vào tử Huyệt ,các yếu hại Huyệt chính là bất ngờ dùng lực phá hủy hệ thống Kinh , Mạch, làm tan rã các kết nối giữa Linh hồn và cơ thể con người.Các hệ thống khác như Kinh, Mạch, Huyệt, Lạc,gắn kết lục phủ , ngũ tạng của cơ thể lập tức bị rối loạn,mạnh thì dẫn đến tử vong ,nhẹ thì dẫn đến tàn phế,tật nguyền, rất khó chữa trị. Thần đạo Võ thuật gọi là Huyệt đạo kinh có liên hệ đến các Luân xa.
Theo nguyên lý "Con người là tiểu Vũ trụ "thì Âm Dương ,Ngũ hành được phản ánh trong Đông Y rất rõ rệt.Các đường Kinh thứ nhất :Can -Đởm,Tâm -Tiểu trường,Tỳ -Vị,Phế -Đại trường,Thận -Bàng quang là năm cặp đại diện cho Ngụ hành.Ngòai ra còn hai đường Kinh bổ xung là Kinh Tâm bào và Kinh Tam tiêu.Tổng cộng 12 Kinh gọi là đường Kinh chính.Hai đường Kinh Tâm bào và Tam tiêu không có thành phần riêng của mình nên phải lấy từ các thành phần khác làm thành phần của mình.
Mặt khác Kinh Tam tiêu được xem là Cha của các đường Kinh Dương,còn Kinh Tâm bào được xem là Mẹ của các đường Kinh Âm.
Kinh Tâm bào có nhiệm vụ đặc biệt là bảo vệ Kinh Tâm.
Kinh Tam tiêu có nhiệm vụ đặc biệt là làm sứ giả của Mệnh Môn Hỏa.Mang Mệnh Môn Hỏa đến các vùng Thượng tiêu,Trung tiêu,Hạ tiêu.
Các đường Kinh được chia ra làm hai nhánh :Nhánh trái thuộc Dương (đối ứng với Bán cầu não Phải ),nhánh phải thuộc Âm ( đối ứng với Bán cầu não trái ).
Từ đó các Huyệt được chia ra :Huyệt phía trái thuộc Dương,Huyệt phía Phải thuộc Âm.
Từ Lý thuyết về Đông Y như trên ta theo nguyên lý Thiên -Địa -Nhân hợp nhất rút ra Lý thuyết trong Phong thủy áp dụng cho Long ,mạch như sau:
Thuyết Phong thủy với cả hai phần Âm và Dương trạch quan niệm con người có quan hệ hữu cơ với Trời ,Đất, cả khi sống và cả sau khi chết (Huyệt mộ có thể ảnh hưởng đến nhiều đời con cháu sau này ).
1/Về Thiên :Chấp nhận có Sinh khí giáng xuống (gọi là Dương giáng ) trên các đỉnh núi cao.Thừa nhận ảnh hưởng của các Vì Sao ảnh hưởng đến con người.Sự tương tác của các lực vũ trụ ảnh hưởng theo thời gian,với con người khác nhau.Ảnh hưởng theo chu kỳ của 9 hành tinh trong Hệ Mặt trời,được đại diện bởi Cửu tinh đồ xoay chuyển theo Quỹ đạo của HÀ ĐỒ (không như quan niệm của cổ văn chữ Hán từ trước đến nay là theo quỹ đạo LẠC THƯ -Khi có điều kiện người viết xin trở lại vấn đề này).Phải chăng 9 Sao và Hạn (La hầu,Thổ tú,Thủy diệu,Thái bạch,Thái dương,Vân hớn,Kế đô,Thái âm,Mộc đức và Tam kheo,Ngũ hộ,Thiên tinh,Toán tận,Thiên la,Địa võng,Diêm vương,Huỳnh tuyền )ảnh hưởng tuần hòan theo chu kỳ sinh học của con người là Đại lượng đo lường ảnh hưởng sự tương tác của 9 hành tinh trong Hệ Mặt trời đối với con người.Còn Cửu tinh đồ là đại lương đặc trưng của sự tương tác các hành tinh trong Hệ Mặt trời với từng cuộc đất.
Ngòai ra còn ảnh hưởng của hệ Nhị Thập Bát tú tới từng cuộc đất.
2/Về Địa :Chấp nhận có Sinh khí (Còn gọi là Long )chảy theo các mạch nước,tụ lại,và THĂNG lên (bởi lẽ Âm thăng,Dương giáng ).Ta thử suy luận một chút về danh từ THĂNG LONG :Đó là khí Âm thăng lên -THĂNG LONG.ĐÂY MớI THỰC LÀ Ý NGHĨA CỦA DANH TỪ THĂNG LONG (chứ không như người ta đồn đại Vua Lý Công Uẩn thấy Rồng bay lên và đặt tên kinh đô là THĂNG LONG ).Ta cũng nói thêm rằng Khí làm cho Kinh đô THĂNG LONG phát triển mạnh mẽ về sau này là Khí Âm -Địa khí .
3/Về Nhân :Có thể xác định được Âm phần,Dương phần,Họa,Phúc,Mệnh,Thân của từng con người.
Bây giờ xin các bạn nhìn lên Bản đồ Việt nam phần Bắc bộ.
Các bạn hãy đánh dấu vào các địa danh sau :Trước hết là các dãy núi cao vút của các tỉnh Lai châu,Sơn la,Hòa bình,tới dãy Tam đảo ,dọc theo sông Tô lịch ngày xưa,đi tiếp tới Cổ loa,kéo dài đến sông Đuống,sông Thái bình,ra tới Quảng ninh và chìm xuống Vịnh Hạ long.Ta nối tất cả các điểm trên thành một đường.Đường cong đó chính là nhánh Thanh long của đồng bằng Bắc bộ.Theo phân tích ở phần trên ta biết rằng Thanh long thuộc Dương.Đây cũng chính là một Long mạch có hành Khí Dương .Các Huyệt nằm trên nhánh Thanh long đều có hành khí Dương.
Bây giờ ta tiếp tục đánh dấu những địa danh sau :Xuất phát cũng từ những dặng núi cao chót vót của các tỉnh Lai châu,Sơn la,Hòa bình ,đi tới dẵy núi Ba vì,qua cầu Hàm Rồng,theo sông Lam và dẵy núi Hồng lĩnh đổ ra biển.Nối các địa danh đó lại thì đường cong đó chính là nhánh Bạch Hổ của Đồng bằng Bắc bộ.Nhánh Bạch hổ thuộc Âm,do vậy Long mạch này có hành khí Âm.Các Huyệt nằm trên nhánh Bạch hổ đều có hành khí Âm
Đến đây ta đã có thể hình dung được hai nhành Thanh long, Bạch hổ của Đồng bằng Bắc bộ. Nhánh Thanh long sau sự Trấn yểm của Cao biền và sau này là sự san ủi của người Pháp đã bị bế Khí rất nhiều.Tuy nhiên do sự sai lầm của Cao biền về độ số của cung Đoài nên sự trấn yểm đó không hoàn thiện.Theo các cổ thư chữ Hán ,cung Đoài có độ số là 7 -ứng với phương Tây .Đây là độ số của Lạc thư.Chính vì vậy mà Cao biền mới Trấn yểm 7 cây cọc,theo đúng độ số của phương Tây.Tuy nhiên ,theo hiểu biết của người viết và kết hợp với một số kinh nghiệm của một số tiền bối về Phong thủy ở vùng đất Phong châu ngày xưa (nay là tỉnh Phú thọ -Kinh đô của các Thời đại Hùng vương ) thì độ số của phương Tây không phải là như vậy.Theo người viết,trong các vấn đề về Phong thủy thực hiện trên trái đất này phải dựa vào Hà đồ và độ số của Hậu thịên Bát quái mới chính xác.Khi đặt độ số của Hậu thiên Bát quái lên Hà đồ ta có một vòng tương sinh theo chiều thuận kim đồng hồ .Theo chiều từ phương Bắc,Đông Bắc,Đông,Đông nam,...tới Tây,tây bắc và trở lại về Bắc ta có các độ số như sau :1-8-3-2-7-4-9-6.
Ta vẩn biết rằng :1 -là hành Dương Thủy.
6 -Là hành Âm Thủy.
8 -Là hành Âm Mộc.
3 -là hành Dương Mộc.
2 -là hành âm Hỏa.
7 -là hành Dương Hỏa.
5 - là hành Dương Thổ.
10 -là hành Âm Thổ.
4 -là hành Âm Kim.
9 -là hành Dương Kim.
Theo chiều thuận kim đồng hồ ta có các hành tương sinh với nhau như sau :Thủy (6-1 )sinh Mộc (8-3 )sinh Hỏa (2-7 )sinh Thổ (10-5 )sinh Kim (4-9 ) và lại trở về hành Thủy.Tôi không đi sâu vào việc chứng minh Lý thuyết trên vì nó khác với tất cả các cổ văn chử Hán từ xưa cho đến tận ngày hôm nay.Điều quan trọng là nếu Cao biền ngày xưa biết được điều này,thì giờ đây có thể chúng ta chỉ còn nghe danh sông Tô lịch trong Huyền sử.
Trở lại vấn đề trên sông Tô lịch,sau khi Cao biền Trấn,yểm dòng sông cứ càng ngày càng nhỏ lại,kết hợp với sự san lấp của người Pháp sau này,dòng sông Tô,trước chảy ra sông Hồng ở cửa Hà khẩu,nay bị chặn lại từ khúc Thụy khê ra tới sông Hồng.Kể từ đó sông Tô lịch phải đổi dòng chẩy ngược lại.Hiện nay sông Tô lịch chỉ còn chẩy từ khu vực Phường NGHĨA ĐÔ -QUẬN CẦU GIẤY -HÀ NỘI,theo thuận dòng chẩy (Ta nhớ lại sự kiện trước Thành Luy lâu có dòng Nghịch thủy ) chẩy ra sông Nhuệ và cuối cùng mới đổ ra lại sông Hồng.Như vậy hiện nay,dòng chẩy của sông Tô lịch đi theo nhánh Bạch hổ đã nêu trên (Thay vì chẩy theo nhánh Thanh long như ngày xa xưa ).Nhánh Thanh long thuộc Dương khí,đã bị ngăn,bế phần lớn nên từ khi đó cho tới nay chỉ có rất ít anh hùng hào kiệt được sinh ra ở khu vực dọc theo đường đi của nó.Ngược lại ,nhánh bạch hổ từ xưa cho đến nay ta chưa nghe có vụ trấn yểm nào được thực hiện,ngòai trường hợp cũng do Cao biền chê là vùng đất Thanh hóa,Nghệ an có một con rồng (Long mạch )nhưng bị què nên không tiến hành trấn yểm.Hai nhánh Thanh long và Bạch hổ có cùng nguồn xuất phát từ Tổ sơn,nay nhánh Thanh long bị chặn lại một phần lớn nên gần như toàn bộ Nguyên khí được dẫn theo đường nhánh Bạch hổ.Theo nhận xét của người viết,kể từ đó về sau này,Thành Đại la bị mất Dương khí nên chẳng bao lâu bị xóa bỏ và thay vào đó là Thành Thăng long được xây dựng dựa trên khí Âm của nhánh Bạch hổ.Ta cũng để ý thấy một điều rất rõ ràng rằng :Trải qua hơn một ngàn năm từ khi có sự Trấn yểm của Cao biền,các vị Vua,tướng tài giỏi,các bậc hiền tài của Đất nước đều có nguồn gốc từ các vùng đất thuộc nhánh Bạch hổ mà ra.Các bạn có thể kiểm chứng điều này qua Lịch sử.
Tới câu hỏi cuối cùng trong bài viết này,người viết tự nhận thấy vượt quá khả năng của mình nên rất mong đợi sự đóng góp của các Cao nhân,tiền bối trong và ngoài nước, ngõ hầu có thể cứu lấy một dòng Nguyên khí của Đất nước.Các câu hỏi đó là :Sau khi rút đạo Bùa Trấn yểm của Cao biền lên,Nguyên khí bị thoát ra sẽ ảnh hưởng như thế nào đối với Thủ đô HÀ NỘI nói riêng và Đất nước này nói chung ???Có thể hàn lại Long mạch như Thượng tọa THÍCH VIÊN THÀNH đã làm không ?Khi Long mạch đã được phục hồi sẽ xẩy ra hiện tượng gì tiếp theo ?Có thể lại xẩy ra hiện tượng sụt lở đất như ngày xưa không ?
Còn rất nhiều câu hỏi tiếp theo chủ đề này.Người viết xin tạm dừng ở đây và mong mỏi sự đóng góp của tất cả những người có lòng thương yêu Quê hương xứ sở,thương yêu Đất THĂNG LONG ngàn năm văn vật,là món quà có ý nghĩa mừng Sinh nhật 1000 năm THĂNG LONG -HÀ NỘI.
Trong bài viết,tôi có sử dụng một số Tài liệu của Gíáo sư NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG, ĐOÀN VĂN THÔNG, Ẩn sĩ PHƯỢNG -Nghệ an , Ẩn sĩ Lý Thiên Hương -Đức thọ Hà tĩnh và một số tài liệu của các Ẩn sĩ tỉnh PHÚ THỌ -Xin trân trọng cảm ơn
Tôi đã xác minh lại nguồn tin này;Theo Thượng tọa Thích HUỆ Xướng -Chùa Giác Lâm _Quận Tân bình -TP.HCM :Thượng tọa THÍCH VIÊN THÀNH đã viên tịch khoảng hơn một tháng sau khi làm lễ cúng HÀN LONG MẠCH tại sông Tô lịch,nguyên nhân chết theo Y học là xuất huyết não.Thượng tọa THÍCH VIÊN THÀNH là chủ trì chùa Hương.
Giải thích thêm: Mỗi một Huyệt vị có thời gian đóng và mở riêng của nó -Tức là thời gian ứng nghiệm.Khi muốn tác động vào một Huyệt vị nào đó cần phải đúng thời gian đóng hoặc mở của nó mới có tác dụng.Khi dùng thủ thuật Trấn (đè lên )Yểm (Chôn xuống )cho thay đổi kết cấu của cả một vùng đất để có thể xây dựng cả một Kinh thành thì sự hiểu biết phải vô cùng chính xác.Tiếc rằng kinh nghiệm này không được phổ biến rộng rãi nên thất truyền lần lần . Mà đó cũng là một điều may mắn cho Nhân loại vì nếu ai cũng có thể làm được thì Trái đất chúng ta sẽ đi về đâu?Tuy nhiên trong Lịch sử cũng chỉ ra rằng có rất nhiều ngưởi có khả năng đó.Bạn có thể tham khảo trong các truyền thuyết Lịch sử -Tất nhiên vì chỉ có những người Trấn yểm mới biết,những sự việc được ghi nhận là do kể lại nên mất tính chất trung thực .Tuy nhiên ,không thiếu dẫn chứng trong lịch sử nhắc đi nhắc lại vấn đề đó.
Tôi xin nêu thêm một vấn đề quan trọng có liên quan đến sự Trấn hoặc yểm sau này.Đó là hành Khí của khu vực bị Trấn yểm và độ số của nó.Theo nhận xét của riêng người viết,khu vực đó thuộc phía Tây của La thành nên có hành Khí là Dương kim và độ số của nó là 9.Như vậy ta cũng thấy rằng khi tiến hành trấn yểm,Cao biền cũng biết rất rõ điều đó ,chỉ có sai lầm về độ số của phương Tây .Theo sách cổ chữ Hán đến tận ngày hôm nay,phương Tây thuộc Kim và có độ số theo Lạc thư là 7.Đó là sai lầm cơ bản của cổ thư chữ Hán và tất nhiên khi ứng dụng thì Cao biền sẽ sai theo.Theo người viết được biết,tại một số vùng của đất Phong châu ngày xưa,các nhà Phong thủy vẫn áp dụng tính độ số khi ứng dụng những việc cụ thể trong Phong thủy theo Hà dồ và số của Hậu thiên Bát quái.Như vậy theo người viết,phương Tây có hành Khí Dương Kim và độ số là 9 mới chính xác.Lạc thư và độ số Tiên thiên Bát quái chỉ áp dụng cho những vấn đề có tầm vóc Vĩ mô như khi tính toán các dải Ngân hà,Thiên hà, có tầm vóc Vũ trụ.Để có thể trấn được khu vực bị hở của Long mạch,theo thiển ý của người viết,nên dùng hình thức Trấn -Tức là đè lên vùng bị hở theo đúng quy luật Âm dương Ngũ hành.Ta có thể dựng một cây cầu Sắt có 9 nhịp hay 9 cột sắt,hoặc có cái gì đó có biểu tượng cho số 9 đè lên khu vực đã rút đạo Bùa .Theo những tin tức gần đây nhất,sự phát sinh các việc kỳ lạ như đã nêu ở trên,cũng chỉ gói gọn như những việc đã xẩy ra.Như vây ta thấy rằng Long mạch không còn thoát Khí ra nữa.Nguyên nhân là Khu vực đó qua thời gian bị phong tỏa, bế Khí quá lâu (Gần 1200 năm ),luồng Nguyên khí đã có sự thay đổi,cũng không loại trừ đã có sự trấn,yểm lại của một số nhà Phong thủy tài ba giấu mặt.Tôi từng chứng kiến một vài lần khai mở những Huyệt đạo bị Trấn yểm của các nhà Phong thủy Việt nam ẩn danh.Ta cũng nhận thấy rằng (không biết có phải do trùng hợp hay không ):Kể từ ngày đạo Bùa được Khai mở,vùng dọc theo nhánh Thanh long đã phát triển rất mạnh mẽ.Từ rất lâu đời,các vùng này là khu vực Nông thôn lạc hậu,nay đã vươn mình trở thành hàng loạt khu chế xuất hiện đại.
Minh Tuyết (Theo Vietscience)
Bài báo của tác giả này viết lại toàn bô câu chuyên của tác giả đã đăng trên báo " bảo vệ pháp luật". Số ra từ ngày 21/03

trich tu sup0ta' Blog

Văn hoá rượu vang

Văn hoá rượu vang
Trong một bộ phim của Juzo Itami ,có cảnh hai ông hành khất lục tung thùng rácmột nhà hàng Pháp ở Tokio và caĩ nhau ỏm tỏi về tính cách một chai Montrace còn sót vài giọt.
Trong tình yêu ,biết uống rượu vang còn hay hơn biết làm thơ bởi để cho tim đập mạnh và mắt long lanh thì thơ phải chịu thua rượu vang nhiều phần .Trong quan hệ làm ăn, một vài kiến thức sơ đẳng về rượu vang có thể được việc hơn là những hiểu biết về kiến trúc phục hưng hay chế độ đinh điền thời Tokugawa.
Chọn và nếm rượu
Nguyên tắc cơ bản khi chọn rượu vang là ăn đồ vùng nào ,miền nào ,xứ nào thì lựa rượu của vùng ,miền ,xứ đó .Ăn thịt đỏ gọi rượu đỏ ,thịt trắng (bê,gà ,cá ) gọi rượu trắng .Tuy vậy, rượu thực ra thường đi với nước sốt hay món chính của bữa ăn .
Ly uống rượu vang phải có chân để rượu khỏi bị tay người cầm ly hâm nóng ,miêng ly hình hoa tuylip để giữ hương và ly không màu cũng không vẽ vời cẩn khắc để định sắc .Cách nếm rượu vang là cầm ly lên soi màu áo của rượu rồi quay nhẹ một vài vòng để kiểm tra dấu rượu bám vào thành ly bên trong .Sau đó sẽ đưa lên mũi ngửi trước khi ngậm một ngụm.Giữ ngụm này lại trong miệng một vài giây,chiêu qua chiêu lại trước khi nuốt .NHững động tác này ,nếu không là người sành điệu thì chỉ nếm qua quýt rồi gục gặc rằng ngon.Muốn phân biệt được rượu có khối,có hình ,hay rượu mảnh mai,dài trong miệng,có slip hay là chân ngắn phải qua một quá trình dài tích luỹ kinh nghiệm.
Phânloại rượu Rượu vang thường được phânloại theo các giống nho như Cabernet,Sauvignon, Chardonnay,Gammay,hay Chiraz...nơi trồng và nhà sản xuất.Cứ suy từ nhãn ,càng nhiều chi tiết ở trên thì rượu càng ngon,thí dụ một chai rượu Château Saint pierre (nhà sản xuất) ,1986(năm thu hoạch nho ), Saint Julien (vùng sản xuất ) sẽ xịn hơn một chai rượu chỉ có tên vùng hay tên của giống nho.Một định kiến sai lầm là rượu nho càng cũ thì càng ngon.Năm thì có năm hay,có năm dở,rượu có loại lý tưởng lúc vừa ủ ,có loại cần đến 10 năm mới ngon.Hoa hậu của các loại rượu nho là Champagne.Đây là loại rượu có bọt ,uống lạnh ở 6-9 độ trong ly sáo cao và thon hoặc trong cúp rộng và dẹt ,gọi là Marie Antoinette (tục truyền là được bà hoàng này lancer theo hình ngực của chính bà).Có người uống cay,có người thích uống bọt và dùng ngón tay út để nguậy .Đã là dân chơi thì phải nguậy bằng thứ tăm đặc biệt làm bằng bạc viền vàng ,của nhà kim hoàn Cartier ,giá 150 USD/cái.
Rượu vang được sản xuât bằng cách ủ nho cho lên men tự nhiên ,không qua chưng cất.Theo thần thoại Hy lạp,người bảo trợ cho rượu vang là Bacchus,vị thần này đã dẫn dắt loài người vào cuộc vui bất tận nơi địa đàng .
Chai rượu vang lâu đời nhất là Imperia Tokay ,sản xuất năm 1646.Chai rượu vang đắt nhất là Château Lafite -1797 được bán với giá 131.250 USD.Sành vang nhất là chuyên gia nếm rượu Robert Parker ,người đã thử 200.000 chai vang.Lưỡi của ông được bảo hiểm 1 triệu USD.
khi uống rượu vang thì miệng cốc phải đủ lớn để chứa lọt cả mũi, vì vừa uống vừa ngửi mới đúng điệu.
Bàn một tí về chất lượng vang các vùng. Tôi đã từng hỏi khá nhiều người Pháp xem loại rượu vang Pháp nào ngon nhất, và mỗi người trả lời một khác. Ngay cả mấy senior officer của Alcatel và Matra Marconi, những nhân vật rất sành điệu trong tiệc tùng ăn uống cũng ko thống nhất được câu trả lời. Tóm lại là tuỳ thuộc khẩu vị từng người, cho nên ko phải cứ vang Bordeux là ngon. Còn về giá trị trên thị trường thì tuỳ thuộc vào château nào sản xuất. Mấy ông bạn Pháp có nêu tên được một vài château nổi tiếng nhưng tôi nghiệm ra là ở VN ko có cơ hội kiếm được loại rượu ấy nên thôi ko buồn nhớ. Thật ra, ở Pháp rất phổ biến các loại vang rất rẻ, gọi là vin de table, tức là các loại rượu vang uống gần như nước trên các bàn tiệc bình dân, cũng đóng chai cẩn thận nhưng rẻ như bèo. Tôi xem chất lượng mấy chai vang ở VN thì khá giống mấy loại này, thế mới biết dân ta ăn chơi, 1 chai vang 1.5 đô ở Pháp về VN thành ra 10 đô, mà vẫn được quí trọng "vang Booc đô đấy nhé". Trong thị trường vang Việt nam, bạn chỉ cần kiếm được chai Boóc đô năm 95, 12.5%, château gì đấy là có thể vênh váo rồi. Chi tiết thêm thì có thể chú ý đến đáy chai lõm thì giá trị hơn đáy bằng, nút chai có dập tên nhà sản xuất ko vv... Thực ra mấy cái mẹo này là học vẹt lại của các xếp nhà mình, trong lúc trà dư tửu hậu truyền miệng. Các xếp ấy thậm chí còn biết cách nhả khói thuốc vào chai Black rồi đốt cho nó cháy từ từ thành vòng lửa màu xanh trong chai, vui đáo để. Thôi ko đầu độc các đ/c nữa vậy.
Nhân tiện, WR có bài nào về cách uống cognac và whisky ko, post lên đây luôn cho mọi người biết với. Hình như cognac và whisky cũng yêu cầu loại cốc uống rượu đặc biệt thì phải. Mình chỉ biết cognac dùng sau bữa tiệc, khi hút xì gà và uống cafe, cốc thì phải là loại có đế, thắt miệng, thân phình, rót rượu vào phải vừa đủ sao cho khi đặt nghiêng cốc trên bàn, lăn lòng vòng vẫn ko làm đổ rượu ra ngoài. Úi giời, lại lan man nữa rồi, thôi chờ bài của WR vậy
đúng là chưa đọc bao giờ có khác,bài này người Việt nhà ta viết.Truelie viết thế chứng tỏ có sự hiểu biết về rượu vang và lại còn rượu cognac,whiski gì gì nữa chứ,WR không biết nhiều được như thế đâu.WR bổ sung thêm mấy loại vùng rượu nổi tiếng của Pháp nhé.
rượu vang trắng nổi tiếng vin của vùng Bordeaux (như Graves,Chablis , Sauterne...)
rượu vang đỏ ,nồng độ đậm nhẹ nổi tiếng vin vùng Bordeau ,Rhône hay Bourgueil (như St-emilion,St-estèphe,Tavel...)
rượu vang có nồng độ đậm nổi tiếng vin của vùng Bourgogne hay Côte du Rhône(như Chambertin ,Clos-Vougeot....)
Rượu vang có độ cồn nặng thì nổi tiếng là vin của Bordeau như sauterne ,champagne ngọt chẳng hạn.
Nhiệt độ của rượu Nhiệt độ giữ rượu cũng đóng vai trò rất quan trọng khi thưởng thức rượu là ngon hay không.
Rượu vang thì phải được bảo quản ở nhiệt độ thích hợp ,ví như rượu vang trắng hay đỏ tươi vùng Bourgogne ,Côte du Rhin thì được giữ ở nhiệt độ 10-12 độ,.
Rượu vang vùng Alsace các loại rượu có nồng độ nặng của vùng Bordeau thì được giữ ở nhiệt độ là 5 độ.
Champagne thì thường xuyên ở 0 độ
Rượu vang Bordeau thì được uống ngon nhất khi được giữ ở nhiệt độ 18-20 độ .
quan trọng là không được đưa rượu vang đỏ lại gần nguồn nóng.
-Lich su ruou vang: Truoc het, xin nhac lai la ruou vang ko phai la san pham sang tao cua con nguoi. Rat tinh co khi luu tru nho sau khi thu hoac trong thung de hung dich qua chay ra, sau mot thoi gian nguoi ta thu duoc mot loai dich co con, khi uong co vi ngot, cay tao cam giac hung phan.
Cho den tan bay gio, thuc su nguoi ta van chua xac dinh duoc san pham co con dau tien duoc san xuat boi con nguoi la bia hay ruou vang nho. Tuy nhien, theo mot so nghien cuu (bang cach xac dinh C14) nguoi ta da chung minh duoc viec trong nho o dien rong da co mat tren trai dat cach day khoang 7000-5000 nam truoc Cong nguyen. Nhu vay, ruou nho cung co the ra doi trong khoang thoi gian do. Uoc tinh Bia cung co mat vao khoang 5000 nam truoc Cong nguyen (Hy vong se co dip noi ve Bia, cung co nhung tieu chi nhat dinh de thuong thuc bia, chu ko phai chi don gian nhu bay gio dau).
-Nguon goc cua tu "vang"(VIN): thuc ra tu "vang" (Vin) la di tu tu "vigne" (tuc la nho). Vi the, truoc day khi noi den vang, tuc la chi "cac san pham len men, khong qua chung cat di tu dich qua nho nguyen chat(tuc la khong bo sung them bat ky chat gi ke ca duong va axit)".
Viec tuan theo chinh xac dinh nghia nay giup cho viec phan loai ruou vang va danh gia chat luong ruou. Nhung dan dan, hien nay tren the gioi, nguoi ta da chap nhan dung tu "vang" cho tat ca cac san pham len men khong qua chung cat tu dich qua (noi chung). Nghia la co the san xuat vang tu bat ky loai qua gi co kha nang cho dich (tao, dua, dau...) va cung co the la dich qua pha loang hay ngam duong. Con ve ten goi, nhu the se phai bo sung them ten loai qua vao sau chu vang, con khi chi dung tu vang , ta co the hieu do la chi vang nho. Trong phan nay, minh se chuyeu noi den ruou vang chinh thong, tuc la vang san xuat tu nho theo phuong phap cu (tu dich qua nguyen chat).
- Co bao nhieu loai vang?: Cai nay thi minh cung khong biet. Nhung co rat nhieu cach phan loai ruou. Co the phan theo vung dia ly, sau do la theo dac tinh vung trong nho, loai nho, nguoi san xuat (chateau do) va cung co the phan biet theo dac tinh cua san pham (mau sac, do con, do duong, do axit (hay con goi la do chua)...), hoac theo mot tieu chi chung dua theo cac tieu chuan dua ra boi mot hoi dong tham dinh, duoc thong nhat tren mot vung rong lon.
Vi du nhu theo luat dinh cua Chau Au, nguoi ta phan ruou vang thanh hai loai chinh:
vang ban an (vin de table), la loai co the uong nhieu (nhung ko den muc nhu nuoc la dau) boi do con khong cao, gia khong dat. Loai nay khong co tieu chi nhat dinh trong qua trinh trong nho va san xuat vang. Vi the, chat luong thuoc loai trung binh.
vang co chat luong phan theo vung xac dinh (vin de pays, Qualit預roduits dans des R駩ons D鴥rmin饳- VQPRD), la loai vang duoc danh gia chat luong tuy theo dac tinh cua vung san xuat. Loai nay la loai co tieng tam, duoc tham dinh theo cac tieu chi de ra. Thuoc loai nay, con co the chia tiep thanh:
. vang chat luong cao co ten goi theo vung (AOVDQS)
. vang chat luong cao co nguon goc duoc kiem soat (AOC)
Nhung loai vang co tieng thuong la thuoc loai VQPRD, boi le trong suot qua trinh san xuat, luon co mot hoi dong cac chuyen gia den kiem tra va danh gia cac yeu to:
. chat luong dat cua vung trong nho
. dieu kien thoi tiet trong suot qua trinh trong
. ham luong cac chat trong nho tai thoi diem thu hoach (do duong, do con, kich thuoc, mau qua, tinh trang qua...)
. qua trinh len men chinh (dieu kien)
. qua trinh tang tru (len men phu)
. dieu kien chiet chai
...
Tu do ho moi quyet dinh cap cong nhan cho loai ruou dem ban ra se thuoc loai gi. Chi can mot yeu to nho thoi trong ca qua trinh cung co the loai vang nam do bi xuong cap, khong duoc mang mac AOC hay VQPRD nua.
mot thuc te khac nua la, khong phai ruou vang ngon duoc san xuat hang nam. Boi theo tieu chi cua viec san xuat ruou vang ngon, de trong nho cho san xuat, nguoi ta khong duoc phep bon phan de cai tao dat, ma phai de dat tu tro ve trang thai can bang, du dinh duong mot cach tu nhien (khoang 2-3 nam). Vi the, de san xuat loai vang co mac, nguoi ta chi cho mot so vung nao do (co dieu kien dia ly thuan loi) cai quyen duoc san xuat ruou vang co mac.
Doi voi vang ban an, viec san xuat don gian hon rat nhieu. Khong can tuan theo mot tieu chi gi cu the. Ngoai ra, vang ban an cung co the la ket qua cua mot vu nho khong dat yeu cau cho viec san xuat vang co mac.
Ngoai viec phan loai ruou theo cac tieu chi nhu tren, con phan loai theo:
. do con, do duong va do chua: vang kho (gan nhu khong con duong, do con cao, khoang trn 16do), vang ngot (do duong cao, do con thap 8-9 do), vang nua kho (do con 12-14 do)...
. mau sac: vang trang (mau vang nhat sang), vang do, va vang hong . cach thuc thuong thuc: vang khai vi (co tac dung kich thich an ngon, dung truoc bua an), vang dung trong bua an voi tung mon an thich hop, va vang dung trong dessert (co tac dung kich thich tieu hoa)...
Tat ca nhung cach thuc phan loai ruou vang, cung chinh la cac tieu chi duoc quan tam khi thuong thuc va danh gia mot loai ruou vang.
- Qua trinh san xuat ruou vang: Duoc tinh ngay tu giai doan trong nho (cai nay minh se khong nde cap den cu the vi cung hoi phuc tap).
* Sau do den qua trinh che bien qua de thu duoc dich. Giai doan nay kha quan trong, boi cach thuc che bien doi voi nhung loai vang khac nhau la khac nhau. Vi du: vang trang thi se phai tach ba sau khi ep roi xu ly de tay mau, trong khi vang do lai phai len men ca ba. Truoc day, viec che bien rat thu cong, dieu nay ban co the nhin thay tren phim anh, sau moi vu nho, nguoi ta lam nhung cai be go that to, roi cho phu nu trong lanh dung vao do nhay mua (:smile:). Con bay gio da co rat nhieu thiet bi hien dai, cho phep tach hat, cuong mot cach de dang voi so luong lon.
* Tiep do la qua trinh len men, giai doan bien doi duong cua nho thanh con duoi tac dung cua nam men, va tieu hao bot axit cua qua. Dieu quan trong cua giai doan nay la nhiet do len men, dieu kien thong thoang, kha nang tranh nhiem tap, va tat nhien loai nam men su dung cung gop phan vao viec quyet dinh chat luong cam quan cua ruou vang sau nay.
* Sau len men chinh, nguoi ta thu duoc hon hop ruou va nam men. Hon hop nay duoc dem di loc. Ruou trong thu duoc se dem di tang tru (hay con goi la qua trinh len men phu). Qua trinh tang tru con la qua trinh hoan thien chat luong ruou (lang can not nhung phan tu gay duc ruou, lam tang them chat thom, lam giam do chua, va len men not luong duong con du thua de tang do con...), duoc tien hanh trong mot khoang thoi gian nhat dinh, o nhiet do nhat dinh tuy theo loai ruou dinh san xuat. Nhung thoi gian toi thieu cung phai la 1 nam, va nhiet do phai duoi 15 do. Thuong thi trong qua trinh nay phai tranh anh sang va khong khi (de tranh qua trinh oxyhoa lam bien doi mau va do trong cua ruou). Ruou duoc tang tru trong thung go soi nham chiet tach tanin de ket tua cac chat gay duc va gay dang (tu vo nho), dong thoi tao them chat mau va chat thom cho vang. Nhung dieu kien do dam bao cho viec hinh cac chat thom o dang lien ket (ton tai lau duoc trong ruou chu khong phai o dang be mat), tao duoc hau vi (do em cua ruou). Sau qua trinh nay, chat luong ruou vang thay doi han ve mau sac, do trong, mui thom...
* Cuoi cung, ruou duoc dem loc lan cuoi va chiet chat, dong nut, dan mac. Cac tieu chi ve chai, nut va cach trinh bay nhan mac cung duoc dua ra mot cach cu the va cac nha san xuat deu phai tuan theo.
* Tu luc dua ra thi truong den luc tieu thu (uong), ruou vang van phai duoc bao quan trong dieu kien nhiet do thap va tranh anh sang, tranh bi dao lon nham dam bao duoc cac tinh chat cam quan.
- Cach thuong thuc ruou vang:
* Thoi diem: Ly tuong nhat la truoc bua an trua va truoc bua toi. O thoi diem do, cac giac quan de bi kich thich va nhay cam nhat. Con neu dung vang theo tinh chat dung kem voi thuc an, thi tat nhien ban co the uong bat cu luc nao, chi can tuan theo cac chi dan ve mon an tuong ung la duoc.
* Khong gian: Co ca mot nghe thuat ve cach bai tri ban an, nhung lam ban ve van de nay thi hoi mat nhieu thoi gian. Nhung day khong phai la dac diem rieng chi doi voi cach thuong thuc ruou vang, ma con doi voi nghe thuat am thuc noi chung, vi thi giac co vai tro chu dao trong viec nam bat nhung thong tin dau tien ve doi tuong ma minh sap su dung.
Tuy nhien, de thuong thuc ruou vang duoc dam bao, can co mot phong du rong, thoang, nhiet do trung binh va co anh sang tot.
* Cac giac quan dung den khi thuong thuc ruou vang: Co 4 giac quan tham gia vao viec danh gia mot loai ruou:
. truoc het do la khuu giac (boi le van co nhung nguoi mu danh gia ruou rat gioi). Do chinh la khi nguoi ta cam ly va xoay nhe nhang de mui thom cua vang thoat ra nhe nhang nhung khong xoc. Doi voi vang chat luong binh thuong, khong can xoay hay lac, mui thom van thoat ra nhung rat nhanh bay het. Ruou vang ngon khong duoc thoar ra mui con nhieu.
. thi giac chiem vai tro thu 2, sau khi ngui mui, nguoi thuong thuc se cam nghieng ly ruou, soi len anh sang de danh gia mau, do trong, do sang (tieu chi nay rat quan trong, no lien quan toi do duc cua ruou, kha nang loc va loai bo cac tap chat cua vang trong qua trinh tang tru) va ca kha nang thoat bot (tat nhien, co the co bot thoat ra, nhung khong nhieu nhu bia, nen phai chu y quan sat, vang tot la vang khong co bot thoat ra).
. tiep den la thinh giac, cai nay thuoc ve mat hoi tinh te, boi khi rot ruou, va de ly ruou tren ban, nguoi nhay cam co the nghe thay tieng bot khi thoat ra
. cuoi cung nguoi thuong thuc se dung den vi giac de cam nhan ve ca mui va vi co mat trong vang (do cay, do ngot, do chua... va ca cac vi la (neu co)). Luoi la mot bo phan kha nhay cam, o nhung vi tri va vung khac nhau tren luoi, se co tac dung cam nhan nhung vi khac nhau.
Vi du nhu dau luoi de cam nhan vi ngot, vung xung quanh ria luoi de cam nhan vi man va chua, o cuoi luoi la de cam nhan vi dang.
Vi the, khi uong mot ngum nho ruou, nguoi ta khong nuot ngay, ma tu tu nuot de co the cam nhan duoc het tat ca nhung vi co mat trong san pham. Mieng khong nen mo khi nuot ruou. Doi voi loai vang ngon, sau khi uong, hau vi se rat tot. Ruou mang lai cam giac cay em ai, chu khong nong co va xoc. Dieu nay phu thuoc rat nhieu vao qua trinh tang tru (thoi gian, nhiet do)
Thong thuong, nguoi ta rot ra khoang 1/2 ly ruou. Truoc do, ruou co the duoc mo san (vai gio, vi co loai ruou do dieu kien tang tru lau trong dieu kien thieu khong khi nen can co thoi gian can bang truoc khi uong) hoac mo truoc khi dung. Doi loai vang "gia" (co tuoi cao), cam giac sau khi uong se la mat nhe nhang, nhung rat dam da, co vi ngot o cuong hong (nhung khong phai theo kieu ngot cua duong, ma la ngot cua con) cho du do con cao nhung se khong bao gio cam thay bi nong co. Cam giac do lam nguoi dung se thay co kha nang uong duoc nhieu va thay hung phan. Trong khi ruou vang non, co the lam nguoi uong thay bi kich thich, nong co va mat ngay tu nhung hum dau tien.
- Ly dung trong thuong thuc ruou vang: Moi loai vang khac nhau se co loai ly rieng. Vi du:
* vang Bordeaux: thuong dung loai ly lon nhat, co hinh oval, chan do cao va manh.
* vang Bourgognes: dung loai ly co than rong, the tich lon, chan do manh nhung thap hon so voi ly dung cho vang Bordeaux. Loai ly nay kha dep.
* vang vung Loires: dung ly tron, kich thuong nho vua phai.
* vang vung Alsace: la ly tron, chan do xoan va cao. Loai nay thuong co chan de cham khac va co mau sac.
* doi voi vang bot (Champagne): loai ly dung thich hop la hinh ong dai, hoac hinh hoa tulip dai.
Ben canh ly, con rat nhieu dung cu ho tro khac de tang muc do tinh te khi thuong thuc 1 loai ruou vang. Vi muc do cau ky nhu the, nen khac voi bia (do uong cua tang lop binh dan), vang luon duoc coi la san pham phuc vu tang lop quy toc.
- Hinh thuc chai ruou vang co quyet dinh chat luong?: Xin noi la co ban la khong. Tuy nhien, dieu nay cung rat de hieu neu noi chai cang cau ky thi cang ngon la dung. Boi le, gia thanh chai ruou se quyet dinh muc do cau ky do. Thuong nhung loai ruou ngon noi tieng, voi gia thanh cao cung se co hinh thuc cau ky hon. Co nhung Chateaux va hang noi tieng se thiet ke rieng mot loai chai, tren do cham noi ten hang va hinh chum nho de khang dinh su doc quyen san pham va tham chi ca ngay san xuat (tuc lan ngay dong chai de xuat xuong). Viec co ca ngay san xuat cu the tren chai co muc dich khang dinh la hang khong bao gio dung lai chai. Ngoai van de kinh te du da, con la do mot ly do khac do la an toan san xuat. Boi le, trong qua trinh chiet chat va dong nut lie, phai dung den ap suat, viec nay lam anh huong toi do ben cua chai. Vi the, neu dung lai chai se co the gay ra mot so su co nguy hiem(no chai, vo chai...).
- Nut chai co vai tro the nao doi voi chat luong ruou?: Nut chai cung la mot phan rat tinh te cua ruou vang. Thuong duoc lam bang lie, de co do dan hoi, du kin khong cho khong khi lot vao va nhiem tap cac thu khac, nhung cung du mem de co the rut ra de dang khi mo chai. Thuong nut chai truoc khi dung cung phai trai qua mot so giai doan che bien de tranh gay hong ruou trong qua trinh tang tru. Doi voi nhieu loai vang, nguoi ta cung in hinh chum nho va ten hang len tren nut chai.
- Benh cua vang: Thuc ra vang cung de bi nhiem benh lam. Benh tuc la kha nang lam hong ruou. Nhung de dang va de hieu nhat la benh nhiem vi khuan axetic, lam vang bien thanh dam. Vi the, o Chau Au, nguoi ta hay an dam co mau do, la dam duoc che bien tu vang hong do. (O Vn dam duoc san xuat tu gao, nen mau vang trang).
- Mot viec nua, khi thuong thuc ruou vang, nguoi ta thuong dung kem voi phomat. Moi loai vang lai phu hop voi 1 loai phomat. Hien tai, moi ngay, o Phap, nguoi ta san xuat 300-400 loai phomat, trong do noi tieng la Cammebert, Roquer fort (mui rat thoi), Compt鮮.chu nguoi ta khong dung den loai Bo cuoi (La vache qui riz) nhu o nha minh dau.
- Nhung gi o tren la nhung hieu biet nho be cua minh ve ruou vang. Con bay gio thi la mot so y kien ca nhan cua minh:
* Binh thuong, khi mua mot loai ruou vang, ban co the sanh gia bang mat thuong cac dac diem ve hinh thuc qua dang chai, nhan mac va ca do trong nua. Khi kiem tra do trong bang mat thuong, ban doc nguoc chai, soi ve phia anh sang, se thay co rat nhieu bot tam di len, nhung neu co bot hoac nhung hat nho nhu bui di xuong (phia co chai), do chinh la can vang do. Thuong thi vang ngon phai khong co can.
* Chat luong co phu thuoc vao gia ca? Cai nay thi chac chan roi. Vi de lam mot loai vang ngon dau co de dang. Va hien nhien la voi muc song cua nguoi Viet Nam thi de duoc thuong thuc mot loai ruou vang thuc thu co mac thi la dieu hoi kho khan. Tuy nhien, doi voi nhung loai vang ban an, hay vang co mac AOC, gia ca cung khong den noi qua cao va chat luong thi cung co the goi la duoc roi.
* Chat luong co phu thuoc thoi gian va nhiet do bao quan?Cai nay thi cung hien nhien dung luon. Minh co the khang dinh thoi gian cang dai thi chat luong vang cang tang cao. Dieu nay chi khong dung khi sau thoi gian tang tru, chat luong giam khong phai la do van de thoi gian ma la do cac dieu kien bao quan khac khong duoc dam bao (vi du nhu chai bi ho, nhiet do cao, nhiem tap...). Neu cac dieu kien khac dam bao thi thoi gian chinh la dieu kien de hoan thien mot loai vang. Ve nhiet do, thi khong phai cang thap cang tot, ma thong thuong co mot khoang nhat dinh, thuong la 4-15 do, dieu quan trong phai thoang mat, on dinh, tranh hien tuong lam vang bi dao tron. O nhiet do thap, vang moi em , o nhiet do cao, cac chat thom trong vang se bay hoi theo con het.
* Tinh hinh ruou vang o Viet Nam?
. Truoc het xin noi ve ruou vang co nguon goc nuoc ngoai o VN, dung la nhu cac ban thay, o Vn minh khong co ruou vang ngon dau. Dieu dau tien la vi ly do kinh te. Gia cua vang ngon thi cao, hon nua, ngay ca o ben Tay, binh thuong dan cung chi dung loai vang ban an thoi, vi ho dung hang ngay ma (loai vai USD/chai). Tuy nhien, chat luong hay chinh xac ra cai cam nhan cua moi nguoi la khac nhau nen cung voi cai gia do, co the loai nay doi voi nguoi nay ngon, nhung doi voi nguoi khac thi khong hop, do la do gout cua tung nguoi. Nhung voi cai gia do, biet cach chon noi san xuat thi chat luong cung duoc lam. Ngoai ra, con mot ly do giai thich tai sao Vn khong co ruou vang nhap khau ngon, do la do dieu kien bao quan qua do. Binh thuong, chai ruou vang ngay ca khi duoc dem di tieu thu cung van phai tranh anh sang va de o nhiet do thap. Con o nha minh thi dem bay ngay ra ngoai cua hang, vua nong vua sang thi du co la ruou vang ngon may thi chi sau vai thang cung cho thanh vang hong thoi.
O VN, cho toi gio, da so moi nguoi chi biet toi Bordeaux, nhung phai noi that la Bordeaux la mac xoang o ben Phap. Nguoi ta chuong ruou san xuat tai Bourgogne, Roussillon hay Alsace hon. Du cung chi la vang ban an cugn loai nhung cam giac khi uong van ngon hon.
Ngoai ra, cac ban co nhac den Champagne. Thuc ra Champagne duoc coi la vang bot, nhung nguoi ta co the xep no rieng thanh mot loai ruou boi dieu kien san xuat co hoi khac mot chut. Do la trong qua trinh tang tru, nguoi ta van de lai 1 it nam men, cho ruou vao chai, dat nghieng tren gia, bao quan o nhiet do thap trong khoang 2 nam nham len men tao CO2. Truoc khi dem ban, nguoi ta thay nut that nhanh (de loai bo can tren nut). Loai nay thuong co gaz (la do CO2 sinh ra trong qua trinh do). Nhung de don gian, hien nay khi luong CO2 sinh ra khong dat yeu cau, nguoi ta co the tien hanh nap CO2 "cuong buc" mot cach nhan tao. Nhung loai vang nay co gaz khong ben va cung chi hay ap dung o nhung nuoc nhu VN thoi. )
. Con noi ve viec san xuat ruou vang o VN: cung kha phat trien nhung chu yeu tieu thu o vung nong thon boi van de chat luong chua cao va gia thanh cung vua phai. Thuc ra chua co quy trinh san xuat nao dat yeu cau ky thuat va cong nghe nhu cua nuoc ngoai. Hau het la vang san xuat tu nguon dich qua khac nhau (tao meo, man, dau...) nen chat luong khong thuc su dam bao cho mot loai vang tinh te. Truoc day vai nam, co 1 cong ty cua Phap dau tu vao san xuat, nhung sau do khong ton tai duoc vi gia thanh san pham hoi cao (khoang 50000 VND). Con hien tai, co hai cong ty lon co san pham thuoc loai "duoc", la Vang Da lat va Vang Bien Hoa. Nhung neu la nguoi da tung uong vang nuoc ngoai va thich gout cua vang nuoc ngoai thi minh cung khuyen la khong can thu hai loai nay, vi do ngot con cao, do con van hoi soc, va mui thom khong duoc tu nhien lam. Tuy nhien, mot tin hieu dang mung la Vang Da lat cung da tim duoc doi tac nuoc ngoai de xuat khau san pham trong thoi gian toi.
O VN, chi co Ninh Thuan duoc danh gia la vung trong nho tiem nang dung cho san xuat vang. Nhung cac nha san xuat VN thi don gian va nang dong hon nhieu, thuong thi nguoi ta van ra cho thu mua so luong lon qua ma cung khong can ban khoan ve nguon goc va chat luong (do duong, do axit...) roi sau do dem ve che bien voi cac loai qua khac (de giam gia thanh ay ma).
- Con ve Cognac va Wishky, do la loai khac, nguoi ta khong xep vao vang boi cach che bien khac nhau (co qua qua trinh chung cat). Minh hy vong se co dieu kien som co bai ve hai sanpham do. Ngoai ra, cung xin noi them la Sake(neu cac ban quan tam, minh cung da co bai noi ve Sake roi, se som post len), cung duoc coi la ruou vang, boi no khong qua qua trinh chung cat, nhung nguyen lieu san xuat la gao. O Vn, cung co mot so noi san xuat vang gao, nhung khong phai la sake (mui khac nhau). Ngoai ra, viec hoi ve ruou vang ma moi nguoi tra loi khac nhau la binh thuong thoi boi no la mot nghe thuat, kha phuc tap, khong phai de dang de hieu biet het.
Hy vong la cac ban khong bi nham chan khi doc bai viet qua dai nay. Mong se co dip trao doi them mot so hieu biet ve cac san pham co con nay trong thoi gian toi, )

Monday 26 June 2006 - 02:23PM (ICT)