nguon goc cua am lich
Friday, 23. March 2007, 11:44:42
Hầu như dân ở các nước Việt, Hàn, Nhật, và Trung quốc nơi khai sinh ra khoa lịch số, đều biết nhiều hay nghe nói về âm lịch, dù có đang dùng Dương lịch như một tiêu chuẩn chung cho cả thế giới hiện nay. Thích hay không thì ít nhất đa số cũng đều chấp nhận chuyện ăn mừng tết Nguyên đán theo truyền thống dựa vào Âm lịch.
Bởi vậy nên phần đông các cuốn lịch in ra trong các nước nói trên đều có phần ghi chú thêm ngày "Ta" đi kèm. Riêng đối với người Việt thì hình như nhà nào cũng thích có cuốn lịch thuộc loại tam tông miếu để treo tường, ngay cả trong những gia đình sống ở hải ngọai. Mục đích chính không phải vì thích coi theo ngày ta, mà nguyên nhân có lẽ là do từ tôn giáo và tín ngưỡng, biết ngày nào rằm hay mùng một để ăn chay (theo Phật giáo). Chỉ có một thiểu số ít hơn là dùng âm lịch thường xuyên để nghiên cứu hay áp dụng vào các bộ môn khoa học huyền bí, như lấy số tử vi hay coi ngày lành tháng tốt cho chuyện làm đám cưới hỏi, khai trương công việc làm ăn ...
Hiện nay nghề làm lịch số của Trung quốc không còn giữ được bí mật theo kiểu cha truyền con nối như xưa, vì nhờ vào phương tiện in ấn dồi dào từ sách vở ghi chép còn sót lại để nghiên cứu. Hơn nữa, Âm lịch cũng không còn thực dụng, vì hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới đang chính thức dùng Dương lịch. Dù vậy, hậu quả của việc bảo vệ bí mật trong mấy ngàn năm trước đây, cũng đã vô tình đánh mất đi cơ hội dành cho những thế hệ về sau này của Trung quốc, nghiên cứu và tìm ra vận hành của Thái dương hệ, trước Âu châu ít nhất là vài trăm năm!
Nếu tình cờ mỗi năm một lần, chúng ta thấy xuất hiện một từ quen thuộc gọi theo tên âm lịch của năm đó, như năm nay 2002 là Nhâm-Ngọ, hay năm tới 2003 là Quý-Mùi, thì dám chắc ai cũng đã ít nhất một lần thắc mắc, bằng cách nào và dựa vào đâu, các nhà lịch số Trung hoa phát minh ra những từ ngữ trên? Nói rõ hơn là mười (10) Thiên Can và mười hai (12) Ðịa Chi. Xin nhắclại ở đây, 10 Can gồm: Giáp, Ất, Bính, Ðinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.
Bài viết này sẽ dựa trên một vài dữ kiện kiểm chứng được của khoa học, để truy tìm lại phương pháp làm lịch mà các Chiêm tinh gia Trung hoa thời xưa có thể đã xử dụng. Bằng với tinh thần tôn trọng sự thật và học hỏi, người viết xin minh xác là những gì được trình bày sau đây có thể chưa được chính xác đúng hoàn tòan như đã xảy ra. Nhưng hy vọng sẽ là những ý tưởng khởi đầu, hay nếu có thể được, coi như là một đề nghị nghiên cứu thêm cho những vị có nhiều năng khiếu tự nhiên giỏi về các bộ môn Tử vi Lý số, để cùng làm sáng tỏ những gì đã bị hiểu nhầm là khoa học huyền bí.
Nội dung chính của bài viết này sẽ trình bày và giải thích tại sao, chỉ bằng mắt thường quan sát với phương tiện ghi chép còn thô sơ, các chiêm tinh gia Trung hoa đã tính được ra Thiên can, Ðịa chi và Lục Tuần Hoa Gíap, hay khái niệm về vận hành 60 năm trong âm lịch. Phần cuối của bài viết sẽ giải thích một vài điều thắcmắc về những bí ẩn của khoa Tửvi Ðẩu số.
Nguồn gốc Lịch số
Âm lịch (lunar calendar) hay việc soạn thảo lịch số dựa vào vận hành của mặt trăng không phải bắt đầu từ Trung hoa như nhiều người lầm tưởng. Theo dữ kiện có được từ các nhà khảo cổ với bằng chứng rõ rệt, thì nền văn minh Sumerian, phát triển bên cạnh con sông Tigris cách đây hơn 6000 năm (khoảng từ năm 5000-4000 BC, để sau này thành trung tâm của xứ ngàn lẻ một đêm, hay ngày nay còn gọilà Baghdad, thủ đô của Iraq) đã biết làm lịch dựa vào vận hành của mặt trăng. Ðế quốc Lamã ngay trong thời trước Julius Cesar ( 40 BC ) cũng dùng loại Âm lịch này. Chọn mặt trăng để làm lịch có thể bởi hai lýdo: Dễ nhìn vì ánh trăng ban đêm không nóng gay gắt và khó nhìn như mặt trời ban ngày. Thay đổi hình dạng thường xuyên từ khuyết tới tròn dễ thấy hơn là mặt trời hầu như ít khi thayđổi. Tuy nhiên, còn một lý do khá quan trọng khác ít người nghĩ đến, là do yếu tố thiên nhiên. Xứ Aicập (Egypt) nằm ngay trên đường Phân cực Hoàng đạo (Tropic of Cancer, khoảng 23°27 từ xíchđạo) nên đa số nhiều người đã thấy được hiện tượng mặt trời chiếu thẳng trên đỉnh đầu. Nghĩa là trong khoảng từ 20 tháng 3 đến 20 tháng 9, nếu cắm một cái cọc thật thẳng đứng, sẽ thấy bóng của cây cọc nhập trùng ngay dưới gốc của nó vào lúc 12 giờ trưa, ít nhất là trong vài ngày (Chỉ những nước nằm giữa đường xích đạo và Bắc bán cầu trong khoảng Vĩ tuyến từ 0 - 23°27 mới thấyđược hiện tượng trên. Ngược lại, trong vùng Nam Bán cầu thì khoảng từ 20 tháng 9 đến 20 tháng 3). Nhờ quan sát hiện tượng đó, dân Aicập cách đây khoảng hơn 4000 năm đã tính ra gần đúng số ngày trong năm (365 thay vì 355 như Âmlịch), và cũng chính là lý do họ chọn làm lịch theo mặt trời, lưu truyền Dương lịch cho đến bây giờ!
Các thủ đô của Trung hoa như Trường An hay Bắc kinh, vì nằm trong vùng ôn đới cách xa trên đường Phân cực (Tropic of Cancer) nên không thấy được hiện tượng nói trên, cũng như không có ấn tượng nhiều về mặt trời, và cũng là lý do dể hiểu tại sao họ đã dùng mặt trăng để làm lịch.
Theo đúng như trong sử Trung hoa ghi lại thì khoa Lịch số đã có từ thời Hoàng Ðế, cách đây hơn 4000 năm, do các chiêm tinh gia soạn ra (nghĩa nguyên thuỷ là nhà thiên văn hay chuyên gia coi sao trên trời, không phải bị biến nghĩa ra thành "thầy bói toán" như về sau này!) chiêm tinh gia biên soạn lịch số để định chuẩn thời gian cho việc hành chánh và cai trị của triều đình Vua quan, nhưng đồng thời cũng giúp rất nhiều cho nghề nông trong việc tiên đóan thời tiết hay thu hoạch mùa màng. Chắc chắn trong giai đoạn đầu khi mới có cho đến khoảng sau thời Hán Cao tổ, âm lịch cũng không tránh khỏi nhiều sai lầm, nhất là rất đơn sơ và chưa có Thiên can hay Ðịa chi như sau này. Bằng chứng là trong thời kỳ phát triển của Chu Dịch (1150 - 500 BC) cũng chưa nghe nói đến. Phải đến thời "TamQuốc" của Khổng Minh (Gia cát Lượng) vào khoảng 200-300 AD thì mớicó văn tự rõ rệt nói về các Thiên Can, đồng thời xuất hiện các khoa lý số như Kỳ Môn Ðộn Giáp, Thái ất Thần toán, hay Lục Nhâm Ðại Ðộn v.v. Hầu hết các sử gia Trung quốc đều công nhận là chỉ vào thời kỳ của Nhà Hán, sau mấy trăm năm chiến tranh liên miên từ thời Ðông chu Liệtquốc, nền văn minh Trung hoa mới thật sự khởi sắc và đi lên trong Thiên niên kỷ đầu tiên (0 -1000 AD).
Theo chínhsử ghilại, những nghiêncứu và phátminh của Trunghoa thậtsự đã bắtđầu từ thời Tần thủy Hoàng, khi vị Hoàngđế tàigiỏi nhưng tànbạo này, cóthể độngviên hay chiêudụ được nhiều đạosĩ (coinhư là khoahọcgia theo tiêuchuẩn thờiđó), trongviệc thámhiểm, đi tìmkiếm các kỳhoa dượcthảo để luyệnthuốc trườngsinh bấttử cho ông. Dưới nhậnxét bìnhthường thì chorằng đólà việclàm xaxỉ, hoangtưởng và mêmuội. Nhưng trong lãnhvực nghiêncứu khoahọc ngàynay, Tần Thủy Hoàng rất xứngđáng được coinhư đã cócông sánglập một cơcấu kiểu Hànlâm Viện khoahọc đầutiên cho nhânlọai! Những chiphí trong việc chiêuđãi hay thưởngcông cho các đạosĩ thờiđó, dưới cáinhìn thiếu hiểubiết cholà phungphí, nhưng sovới tỷlệ ngânsách dànhriêng cho khảocứu khoahọc ngàynay thì chẳng có nghĩalý gìcả, dùlà của một nước đang pháttriển! Chính nhờ làmviệc và sốngchung tậpthể vớinhau đó, đã vôtình tạora môitrường tốtđẹp cho những sángkiến mới, thiđua họchỏi, traođổi kiếnthức giữa các đạosĩ với nhàvua, và cóthể đãlà cơsở đónggóp cho nhiều phátminh quantrọng về khoahọc và kỹthuật saunày của Trungquốc. Hoá chất Lưuhuỳnh dùng để làm thuốcsúng, thanđá, thủyngân, chì, namchâm có từtính, cách luyệnthép, bàntính (abacus), v.v. cóthể đã được bắtđầu nghiêncứu hay tìmra trong thờikỳ này. Thídụ về những huyềnthoại phùphép mà KhổngMinh xửdụng, là do những phảnứng đặcbiệt từ các hoáchất độchại như lưuhuỳnh, thuỷngân hay các loài dượcthảo trộnchung vớinhau khi bị đốtcháy. Kếtqủa là làmcho đốiphương bị gâymê, mấttrí hay mạngvong trong những vùng gọi là bátqúai trậnđồ. Nhưng một trong những thànhquả tốtđẹp hơnhết chínhlà bộmôn xem thiênvăn khítượng bắtđầu xuấthiện được nhiềungười biếtđến. Nhờvậy mà khoalịchsố đã được hiệuchỉnh, thayđổi đúnghơn chotới bâygiờ!
Phươngpháp soạn Âmlịch
Cóthể chiara làm hai giaiđọan pháttriển chính choviệc soạnthảo âmlịch.
Giaiđoạn I: Kéodài khoảng gần 2000 năm từ thời Hoàngđế cho đến thời Khổngtử. Trong giaiđoạn này chỉcó ngày, tháng và năm. Chưacó chiara giờ cũng như chưacó thiêncan và địachi. Côngviệc soạnlịch vào thời sơkhai này rấtlà dễhiểu, khôngcógì phứctạp như nhiều người thường lầmtưởng. Những chiêmtinhgia thờiđó chỉ dựavào khoảngcách giữa hai tuầntrăng tròn để tính số ngày cho một tháng. Khoảngcách của một năm thì được định bằng thờiđiểm vào lúc Trăng trònnhất, khoảng ngày rằm tháng 8 (sau này thànhra tết Trungthu), và mộtphần dựavào thờitiết thayđổi của 4 mùa.
Khókhăn duynhất lúc banđầu là cứ cáchkhoảngchừng hai năm thì tháng có trăng trònnhất bị kéodài thêm một tháng. Ðólà những thángnhuận, và cáchgiảiquyết thựctế đơngiản lúcbấygiờ là thêm nguyên một tháng vào những nămnhuận. Còn làmsao họ biếtđược nămnào nhuận là do phỏngchừng và dựavào kinhnghiệm riêng của những đời trước theo kiểu chatruyền connối. Chính cáchlàm theolối thuậntiện nhưtrên, nên âmlịch thường bị thànhkiến cholà thiếu chínhxác! Cóthể trong thờikỳ này, thángnhuận chỉ được thêmvào trong tháng trước tháng có trăng trònnhất là tết Trungthu(?) Chỉ saunày khi bắtđầu ănmừng ngày tết Nguyênđán và để không bị sai ngày quá xa, nên những nhàsoạnlịch phải chiara cho đều, thêm thángnhuận vào các tháng khác.
Ngoàira có vài chitiết cầnđược đểý là hệthống Âmlịch dựavào thiêncan và địachi chỉ có phânbiệt tốiđa là 60 năm, nên nếu muốn viết lịchsử, họ thường dùng năm caitrị của Vua hay triềuđại làmchuẩn. Thídụ như trong sách thường viết là năm thứ mấy đời Vua nàođó gặp thiêntai bãolụt v.v. Lâudần trởthành thóiquen dùngluôn cho đến khi bị ảnhhưởng của nền vănminh Tâyphương thayđổi.
Về giờgiấc, lịchsố ở thời kỳ đầu cũng chưa chiara 12 giờ như saunày. Ðể định giờ, họ dùng cách nói phỏngchừng theo vịtrí của mặttrời, mà mãi cho đến bâygiờ, nôngdân ít học ở các vùngquê vẫncòn dùng, như khi nói mặttrời vừa lên quá ngọncây (khoảng 8 đến 9 giờ sáng mùahạ), hay mặttrời đứngbóng giữatrưa khoảng 12 giờ v.v.
Nhữnggì vừa trìnhbày cóthể kiểmchứng bằng bộsách Chudịch đã được soạnra khoảng từ thời nhàChu (1150 BC) chođến thời Khổngtử (550 BC). Cụthể là việc lậpquẻ Dịch. Trong bộ ChuDịch chínhbản chỉ ghi cách lậpquẻ duynhất là dùng cỏ Thi, còngọi là phépbói cỏ Thi, mà không dùngđến giờ nào như Khổng Minh dùng để bấmđộn saunày. Các lờibàn của 64 quẻ trong bộ ChuDịch nguyênthuỷ hoàntoàn khôngcó nóirõ về giờgiấc.
Giai Ðoạn II: Từ thời Khổngtử cho tới nhàÐường khoảng chừng 1000 năm. Thờikỳ này vănminh TrungHoa bắtđầu khởisắc đilên. Các Ðạosĩ hay Chiêmtinhgia làmviệc có phươngpháp và khoahọc hơn. Nhờvậy, họ đã tìmra hay khámphá được chukỳ vậnchuyển của các hànhtinh trong TháiDươnghệ, và từđó âmlịch mới được thayđổi để thêmvào Thiêncan, Ðịachi, Lụctuần Hoagiáp (hay chukỳ 60 năm). Trướckhi đisâu vào chitiết, và để quý đọcgiả dễ theodõi vấnđề hơn, ngườiviết xin nhắclại mộtvài dữkiện cănbản nhưsau:
Trong những đêm tốt trời không mây, nếu dùng mắtthường chúngta cóthể đếm được cả vài trăm ngôisao là chuyệnthường. Tuynhiên, tấtcả đều thấy gầnnhư cốđịnh không thayđổi theo nămtháng, vì không phụthuộc vào một hệthống vệtinh như Tháidươnghệ, hoặcgiả có chukỳ dichuyển quálớn đến cả ngànvạn năm. Cònlại, trừ trườnghợp đặcbiệt như saochổi (Comet) và saobăng (Asteroid), chúngta chỉ thấy được những hànhtinh thuộc Tháidươnghệ dichuyển màthôi. Trong tám (8) hànhtinh chính, trừ mặttrời và mặttrăng, mắtthường của chúngta chỉ thấy được có năm(5) hànhtinh. Ðólà Thủytinh(Mercury), Kimtinh(Venus), Hỏatinh(Mars), Mộctinh(Jupiter), và chót là Thổtinh(Saturn). Ba(3) hànhtinh khôngthấy được bằng mắt thường là Diêmvươngtinh (Uranus), Hảivươngtinh (Neptune) và Thiênvươngtinh(Pluto). Khôngbiết cóphải là trùnghợp ngẫunhiên của tạohóa, hay sắpđặt khéoléo của conngười, trong 8 quái (Bátquái hay 8 hành?) của Dịchlý, các "Khoahọcgia" thờiđó chỉ thấy được có 5 quái: Ðịa, Sơn, Thủy, Lôi, và Hỏa, nên phátminh ra Ngũhành (Ngườiviết đã trìnhbày trong bài "Những khámphá mới về Dịchlý và Ngũhành" cáchđây hơn hai năm.)
Ðể tìmhiểu về 5 hànhtinh thấyđược chuyểnđộng như thếnào, các Chiêmtinhgia thờiđó đã dùng một phươngpháp đơngiản nhưng rất khoahọc, là ghichép lại vịtrí của các hànhtinh sau một thời khoảng nhấtđịnh. Thờiđiểm tốtnhất để xem thiênvăn là mỗitháng mộtlần vào cuối hay đầutháng, lúc trăng hoàntoàn bị chemất (đêm 29, 30 hay 1). Muốn địnhrõ vịtrí của cácsao, cólẽ họ cũng biết dùng theo phươngpháp chấm tọađộ, nhưng kém chínhxác rất nhiều. Dùng sao Bắcđẩu làmchuẩn và theo đồhình Bátquái, họ cóthể định phươngvị (hay khẩuđộ) của một sao, và kếđến là cũng theo lối ướcchừng độcao của mặttrời để định khoảngcách từ đườngchântrời. Thídụ như để địnhvị ngôisao ở 220 độ từ hướng Bắc (theo chiều kimđồnghồ) và 25 độ cách chântrời nằm ngang, họ cóthể nói là nằm ở giữa cung Khôn (hướng Tây-Nam) cách chântrời khoảng một gangtay chẳnghạn. Vềsau đểđược chínhxác hơn, cóthể các chiêmtinhgia đã dùngđến các tên của quẻdịch để phânchia thành 64 cung trên vòngtròn. Ðó chínhlà lýdo tạisao các nhànghiêncứu vềsau cóthể hiểulầm vì bị nạn "tamsao thấtbổn", nên tưởng là môn lịchsố có nguồngốc từ Dịchlý màra.
Dù bằng cáchnào thì cũng nhờ kháiniệm tuầnhoàn và chukỳ âmdương của Dịchlý, chiêmtinhgia thờiđó cóthể tinchắc là các vìsao đều chuyểnđộng theo một chukỳ nhấtđịnh nàođó. Nếukhông thì cólẽ họ khôngbỏ thìgiờ quálâu cho cả một đờingười để tìmra gầnđúng chukỳ của 5 hànhtinh trong Tháidươnghệ, trước Âuchâu cả hơn ngànnăm!
Kếtquả côngtrình nghiêncứu và ghichép vịtrí sao của các Chiêmtinhgia Trunghoa nóitrên chothấy là cứ mỗi 60 năm thì cả 5 hànhtinh đều quaytrởvề lại gần vịtrí cũ! Ðặcbiệt hơnhết, là vào khoảng cuối năm QuýHợi và đầu năm GiápTý thì cả 5 hànhtinh đều hộitụ lại, và nằm sát vớinhau chung một hướng. Xin nhắclại đây để tránh hiểunhầm, nhờ tìnhcờ ngẫunhiên quansát thấy hiệntượng 5 sao tụhội về một chỗ trướckhi phântán ra, nên cóthể các nhàlịchsố chorằng đólà khởiđiểm đầutiên cho chukỳ 60 năm, và họ đặttên cho năm có hiệntượng đólà GiápTý, đứngđầu trong bảng lụctuần hoagiáp.
Sauđây là bảng tómlược số vòng chukỳ quay quanh mặttrời của 5 hànhtinh, dựa theo thờigian một (1) năm của tráiđất làmchuẩn:
Thờigian tínhtheo Tráiđất làmchuẩn Chukỳ 1 vòng
____________________________________________________________________
Ngày (Năm ) Số Chukỳ Số Chukỳ Số Chukỳ
trong trong trong
12 Năm 30 Năm 60 Năm ____________________________________________________________________
TráiÐất-Earth 365.3 (1.00) 12.000 30.000 60.00
ThủyTinh-Mercury 88.0 (0.241) 49.814 124.534 249.06
KimTinh-Venus 224.7 (0.615) 19.508 48.772 97.54
HỏaTinh-Mars 687.0 (1.881) 6.381 15.951 31.90
MộcTinh- Jupiter 4331.8 (11.858) 1.012 2.530 5.060
ThổTinh-Saturn 10760.0 (29.455) 0.407 1.018 2.037
___________________________________________________________________
Dựavào bảng tínhtoán chukỳ ởtrên chothấy có mộtvài chitiết cần chúý: Sau khoảngchừng 20 năm thì các sao tụvề tại một vịtrí khác, và phải sau gần 60 năm của tráiđất, thì cả bốn(4) sao Thủytinh, Hỏatinh, Mộctinh, và Thổtinh mới quayvề gần đúng vịtrí đầutiên hay xêxích mộtchút. Khoảngcách saisố sau 60 năm là từ 10 đến 30 cung độ (arc), do các sốlẻ thứnhất của số chukỳ trong 60 năm đều nằm trong giớihạn của 0 - 0.1 hay 0.9 - 1.0 theo vòngtròn (360 độ) của mặttrời. Ðốivới người quansát các hànhtinh đứng từ vịtrí trên tráiđất và ở một gốcđộ chéo, thì chắc sẽ nhìnthấy khoảngcách hay độ xêxích nhỏ hơn rấtnhiều, hoặc cóthể không thấyđược độ saibiệt bằng mắtthường! Riêng trườnghợp của Kimtinh (Venus) tuy nằm gầnnhư đốidiện với vịtrí cũ (sốlẻ 0.54), nhưng chukỳ quay chungquanh mặttrời chỉcó chừnghơn 7 tháng, nên chỉ cầnthêm khoảng 4 tháng (cũng còn trong 1 năm của tráiđất) là quayvòng trởlại để hộitụ cùng các sao.
Nhưvậy, với mộtvài bằngchứng ởtrên cóthể tạm kếtluận rằng: Chuyện các chiêmtinhgia Trunghoa cách đây hơn 1000 năm đã tìmra chukỳ gầnđúng của 5 hànhtinh là sựthật hiểnnhiên rất dễhiểu theo khoahọc. Hìnhvẽ thứ hai sauđây cũng để minhchứng cụthể chothấy vịtrí của 5 hànhtinh vào tháng 2 năm 1984 (dươnglịch, âmlịch là 30 tháng Chạp năm QuýHợi, gần tết Nguyênđán) theo cáchtính đúng qũyđạo chínhxác của khoahọc ngàynay.
Tuynhiên cũng xin lưuý và nhấnmạnh một lần nữa là do sựtrùnghợp ngẫunhiên đưađến, khôngphải cứ 60 năm là các sao phải tụ về ở cùng một phươngvị giốngnhư vậy. Lýdo là vì các saisố khoảng 0.06 cho Mộctinh và 0.037 cho Thổtinh như đã nói, nên phươngvị của các sao tụhội lại cũng thayđổi xêxích mộtchút sau khoảng 60 năm. Muốn các sao tụ hội về cùng phươngvị gần giống như cũ phải mất khoảng 1600 năm, hay gần 27 lần của chukỳ 60 năm! Nhưng dù vậy cũng chỉ gần đúng màthôi. Nghĩalà trong thựctế khônghề có sựtrùngnhập lại giốngyhệt như cũ được!
Nhânđây cũng nên nhắc đến một sựkiện lịchsử có ảnhhưởng rấtnhiều đến vậnmệnh của cả nước Việtnam. Dobởi các vuachúa Trunghoa thời bấygiờ vì quátin vào lậpthuyết của các chiêmtinhgia, chorằng mộtkhi các tinhtú đều chầuvề một phương nào thì nơiđó tụhội được nhiều linhkhí, nghĩalà có "Thánnhnhân" hay bậc đếvương sinhra đời! Bởivậy nên tínhra trong khoảng 400 năm ( 400 - 800 AD) vào thời nhàÐường, các Sao đều chầu về phươngNam (gần giốngnhư hìnhvẽ trên), làmcho họ phải losợ. Từ nguyênnhân đó, mới có việc saiphái đạosĩ Cao Biền làm Tháithú để tìmcách trấnyểm phươngNam. Ngoàira sau này họ cũng thường gởi các "Giánđiệp" giảdạng độilốt tusĩ hay thầyÐịalý và thầythuốcbắc để dòtìm nhântài của Việtnam. Mộtkhi pháthiệnđược nơi nào có "thầnđồng" hay thiếuniên giỏichữ là họ tìm đến để thửtài và tìmhiểu. Nếu đúng thì bằng nhiều cách như dụdỗ, muachuộc nếu chamẹ nghèo, xin cholàm connuôi để "dạydỗ và huấnluyện chữ nghĩa v.v. Ðólà lýdo tạisao trong những câuchuyện kể về các vị thầnđồng Nhohọc của Việtnam thờixưa, thường nói tới việc có những người "kháchlạ" tìmđến để ra câuđối và thửtài thôngminh!
Nếu nhữnggì nóitrên đúngtheo thuyết của các chiêmtinhgia Trunghoa, thì trongsố những đứatrẻ sinh năm 1984-85 ở Việtnam sẽ chora nhiều thiêntài xuấtchúng ngoạihạng trong tươnglai (!?) Ðúng hay sai thì chưabiết, nhưng ứngnghiệm vào các quốcgia thuộc vùng ÐôngnamA¨ thịnhvượng giầucó hơn trong vòng 20 nămqua, và dĩnhiên kếtqủa là sẽ chora nhiều trẻem thầnđồng nhờ được nuôidưỡng huấnluyện và giáodục trong môitrường tốt hơn!
Nóichung với cáchtính phỏngchừng và đơngiản dựavào ba sao là: Hỏatinh (Mars) có chukỳ gần 2 năm, Mộctinh (Jupiter) có chukỳ khoảng 12 năm, và Thổtinh có chukỳ gần 30 năm, các nhà làm Lịchsố đã tìmra mẫusốchung gầnđúng là 60 năm để cả basao tụhội lại gầnnhau, và có cùngchung một cung, hay cùng phươngvị theo bátquái (mỗicung khoảng 45°.)
Ðiều cầnbiết thêm ởđây chínhlà chukỳ gần 2 năm của sao Hỏa (Mars), nghĩalà cáchkhoảng một năm thì các chiêmtinhgia thấy saoHỏa nằm ở vịtrí hướng đốingược lại. Do hiệntượng trên trùnghợp với lýthuyết về Dịch hay luật âmdương, nên cóthể các nhàlịchsố tinrằng thờigian cũng giốngnhư vậy là cứ một năm Dương một năm Âm thayđổi đềunhau!
Mộctinh (Jupiter) là sao quantrọng nhất có chukỳ gần đúng 12 năm. Quantrọng theo các nhà Lịchsố thời bấygiờ cóthể từ hai lýdo. Thứnhất, đó là sao duynhất để phânbiệt và chuẩnđịnh sựkhácbiệt của các năm. Thổtinh (Saturn) vì xa và khóthấy hơn, nhấtlà chukỳ đầutiên quá lâu và có tới gần 30 năm không chínhxác bằng Mộctinh. Riêng Hỏatinh thì lại càng không chínhxác vì chukỳ quá ngắn chỉcó khoảng gần 2 năm. Thứhai, dựa vào kinhnghiệm tíchlũy từ quansát và thựcnghịêm của các chiêmtinhgia theolối chatruyền connối cóthể đã kéodài trong vài trăm năm, sau Mặttrời và Mặttrăng, Mộctinh có ảnhhưởng nhiềunhất đốivới conngười và Tráiđất (sẽ giảithích thêm ở mục TửVi). Chínhvìvậy, họ đã dùng chukỳ 12 năm của Mộctinh để đặt tên cho 12 năm, còngọi là Thậpnhị Ðịachi. Dámchắc mớiđầu chỉ cótên bằng consố 1, 2, 3, 4,...12. (Nếu đểý thì thấy các sốlẻ 1, 3, 5...thuộc số Dương, số chẳn 2, 4, 6... là số Âm, phùhợp với Dịchlý đã nói ởtrên). Còn tạisao saunày lại có tên của 12 con vật là Tý, Sửu, Dần...v.v, thì lại thuộc mộtvài lýdo khác không nằm trong phạmvi bàiviết này, nên xin miễnbàn ở đây. Nóichung, yếutố quantrọng là nhờvào quansát thựcnghịêm, một phươngpháp thôngdụng trong nghiêncứu khoahọc.
Saucùng, cólẽ các chiêmtinhgia cũng chỉ thấy có sao Thổtinh là có chukỳ lâunhất trong 5 hànhtinh, nên theo trìnhđộ hiểubiết thời bấygiờ, họ chorằng đó là vịthần chính của nhà Trời ảnhhưởng đến mọisự sắpđặt và thayđổi của "Thượngđế", nên gọi là ThiênCan (?). Nhưng tạisao là 10 mà không là 5, vì 5 nhân 12 mới bằng 60? Hỏivậy là xemthường khảnăng về Toán của chiêmtinhgia! Nếu chỉ dùng 5 số Thiêncan ghép với 12 Ðịachi sẽ bị trởngại ngay, nhấtlà không giảiquyết được nguyên tắc ÂmDương, một năm Dương và một năm Âm điliền vớinhau như đã giảithích về chukỳ của saoHỏa ở trên. Ðể giảitỏa vấnnạn đó, các chiêmtinhgia buộc phảidùng gấpđôi consố 5 lên thành 10, tuy vẫn duytrì 5 đặctính Ngũhành của Thiêncan. Bởivậy chonên bâygiờ chúngta mới có hai Can đi liền với nhau có cùngchung một Hành (theo thuyết Ngũhành), và có một Dương và một Âm. Thídụ như Giáp với Ất (hành Mộc), Bính với Ðinh (Hỏa), Mậu với Kỷ (Thổ), Canh với Tân (Kim) và Nhâm với Quý (Thủy).
Ngoàira, do ảnhhưởng của thuyết Ngũhành, việc đặt hay gọitên 5 hànhtinh theo Ngũhành là hoàntòan dựavào màusắc khi nhìn bằng mắt thường, và khôngcó liênhệ gì với đặctính vậtlý. Theo lýthuyết của Ngũhành về màusắc, gọi là Mộctinh vì có sắc xanh. Hỏatinh vì có sắc đỏ như lửa. Thổtinh vì có sắc vàng, Kimtinh (Venus) vì có sắc trắng do có độsáng mạnh, và Thủytinh (Mercury) có sắc đen vì quágần mặttrời nên không thấyđược sánglắm!
Tómlại hệthống Âmlịch dựavào các hànhtinh chính sau: Mặttrời để định Giờ và Ngày, Mặttrăng dùng cho Tháng, Mộctinh (Jupiter) dùng cho Năm hay 12 Ðịachi, và sau cùng Thổtinh (Saturn) và Hoảtinh (Mars) dùng để định Thiêncan (Âm hoặc Dương) và Ðại Chukỳ 60 năm hay LụcTuần HoaGiáp. Ghinhận thêm ởđây là theo ămlịch, mỗi tháng chiara làm 3 tuần, có khoảng từ 9 đến 10 ngày, gồm: Thượng, Trung, và Hạ tuần. Vềsaunày thì các nhàsoạnlịch tính và thêmvào các ngày đặcbiệt như Ðạihàn, Tiểuhàn, Lậpđông, Hạchí v.v
Những Bí ẩn của khoaTửvi
Trong suốt hơn một ngàn năm, bộmôn Tửvi đượccoi nhưlà khoahọc huyềnbí bởi tấtcả các yếutố ansao và giảiđóan đều dựatheo một vài côngthức địnhtrước, mà khôngcó sựgiảithích hay chứngminh lýdo tạisao. Dù tin hay khôngtin, thựctế chothấy khoatửvi cũng đãđược lưutruyền trong dânchúng khálâu, và ítnhất cũng đãcó mộtsố người chấpnhận, nghĩrằng cóthể dùngđể đoánđược phầnnào vậnmệnh tươnglai của conngười! Ðiều đáng ngạcnhiên là nếu đúngtheo dữkiện chothấy, khoaTửvi hiệntại này chỉ còn có Việtnam là đất dụngvõ, dù có nguồngốc từ Trunghoa. Ngaycả các sách viếtvề Tửvi ở TrungHoa cũng có nhiều, nhưng họ khôngthích xài Tửvi mà lại chọn các môn khác thôngdụng hơn như TửBình (gọitắt là Báttự có 8 chữ, lấy số theo hàng Can và Chi của Năm, Tháng, Ngày và Giờ). Một lýdo cóthể giảithích là vì saunày họ đã khámphá và thấyđược rằng, vậnhành của các sao khôngđược chínhxác như đã tintưởng lúcbanđầu!
Những gì được ngườiviết pháthiện và trìnhbày sauđây chothấy vài đặctính khoahọc của bộmôn Tửvi. Trần Ðoàn (được coi như ôngTổ sángchế ra Tửvi) hay các vị thầy tiềnbối của ông vào khoảng thời nhàÐường, cóthể đã tiếnxa hơn và biết khánhiều về vậnhành của các hànhtinh. Nhưng tiếcrằng vì các điềukiện thựctế chủquan về vănhóa xãhội thời bấygiờ, nên họ đã dấukín và giữkín bímật tốiđa, nhấtlà khôngmuốn giảithích hay viếtsách đểlại lưutruyền cho hậuthế.
Cung Anmệnh: Theo quanniệm về triếtlý nhânsinh của Khổnggiáo chịu ảnhhưởng ítnhiều đạo Lão, mỗingười sinhra đềucó một sốphận được anbài trước gọilà thiênmệnh. Các nhàlýsố hay tửvigia Trunghoa dựavào lýthuyết trên nên tinrằng, khi một đứabé vừa sinhra đời là chịu ảnhhưởng địnhđoạt cho sốphận bởi các tinhtú hiệndiện trêntrời ngay thờiđiểm đó. Câuvăn nổitiếng thườngnghe là "...sinhra đời dưới một ngôisao..." phảnánh niềmtin trên. Nói cách khác, khi một đứatrẻ sinhra đời tại một địađiểm nào trên tráiđất, sẽ chịuảnhhưởng của tấtcả các tinhtú chiếuvào ngay tại thờiđiểm đó, và địnhđoạt sốmệnh luôn cả đời cho đứabé vừa sinh!
Khôngphải tựnhiên mà các Tửvigia (TVG) bàyđặt ra cách anmệnh trong Tửvi nhưsau: Khởi từ cung Dần (hay tháng Giêng) đếm theo chiềuthuận (kimđồnghồ) đến thángsinh, rồi từđó lại đếm ngược chotới giờsinh để an cungmệnh. Dựavào triếtlý sốphận cùng cách an cungmệnh chothấy, các TVG thờiđó đã khámphá rađược hai đặctính vậnhành của tráiđất và mặttrời, một đúng và một sai!
Thứnhất, đúng là họ đã biết tráiđất tự xoay vòngquanh lấy chínhnó theo chiềungược với kimđồnghồ! Tròchơi lồngđèn xoay (còn gọi là đènkéoquân hay đèncù) rất thịnhhành vào thời nhàÐường, chothấy các TVG lúc bấygiờ cóthể đã có kháiniệm về tráiđất tròn và xoay. Nhưng như đã viết ởtrên, họ đã giữ làm bímật giatruyền, và nhấtlà sợ nguyhiểm cho chính bảnthân và giađình do quanniệm "Thiêncơ bất khảlậu" hoặc vì những người cầmquyền như VuaChúa khôngtin (giốngnhư trườnghợp của Gallileo). Một lýdo khác là ngaychính các TVG cũng không hiểu và không giảithích được hiệntượng tạisao conngười không bị rơi rangoài nếu tráiđất xoaytròn! Thêmvào, các hiệntượng thiênnhiên như nhậtthực hay nguyệtthực, đã tạo cơhội để các TVG hiểu ánhsáng từ mặttrăng là do từ ánhsáng mặttrời chiếuvào và thỉnhthoảng lại bị tráiđất che (cho trườnghợp nguyệtthực). Cóthể với cáchsuyluận tầmthường và đơngiản theo lối chứngminh "phảnđề" là: Nếu Tráiđất nằm yên không xoay, thì dựavào quansát hàngngày chothấy mặttrời, mặttrăng, năm (5) hànhtinh và đasố các tinhtú thấyđược, phải "chạy" xungquanh tráiđất mỗingày mộtlần! Ðiềunày chothấy hoàntòan vôlý vì nhờ các hiệntượng nhậtthực và nguyệtthực. Cụthể như nhờ có hiệntượng nhậtthực toànphần giữa banngày, các TVG đã thấy được các ngôisao và các hànhtinh hiệnra, dù trong chốclát. Nghĩalà không phải vào banngày, các tinhtú chạy xuống dưới đất rồi đến tối mới hiệnlên!
Thứhai, các TVG đã hiểusai khi khámphá ra và tinrằng mặttrời quay chungquanh tráiđất mỗi năm mộtlần theo chiềuthuận kimđồnghồ! Nhưng thậtlà maymắn cho khoaTửvi, cái sai về lýthuyết lại trởthành đúng trên thựctế! Lýdo là nhờ luậttươngđối về chuyểnđộng. Nghĩalà nếu các TVG đang đứng trên tráiđất nhìn mặttrời, trongkhi tráiđất dichuyển xungquanh mặttrời theo chiều ngược kim đồnghồ, thì cũng giốngnhư các TVG đứng trên tráiđất nằm yên, và nhìn mặttrời dichuyển xungquanh tráiđất theo chiềuthuận kimđồnghồ!.
Những bằngchứng trên chothấy khi an cungmệnh, các TVG đã theo gầnđúng nguyêntắc vậnhành của tráiđất và mặttrời, xácđịnh vịtrí tươngđối lúc đứabé sinhra đời trong tháidươnghệ. Tuynhiên, xin được nhấnmạnh và giảithích rõ ở đây thêm một chút để tránh sựhiểulầm. Ðúngra, phầnnào là do ảnhhưởng thểxác của ngườimẹ, do tínhditruyền hay phùhợp với môitrường vào thờiđiểm đó, nên "chuyểnbụng" mà sinhra đứabé, hơnlà do cơthể đứabé sinhra chịu ảnhhưởng của các hànhtinh!
Vòng Tửvi và ThiênPhủ: Coinhư quantrọng nhất cho lásố tửvi nên dựavào tấtcả bốn yếutố là Năm, Tháng, Ngày và Giờ sinh. Nghĩalà chịuảnhhưởng của Mặttrời, Mặttrăng và năm hànhtinh. Theo nhậnxét của ngườiviết thì cóthể saukhi định vịtrí của đứatrẻ khi mớisinh rađời dựavào tháng và giờ, các TVG còn dựavào hai yếutố saucùng là vịtrí của các hànhtinh hay thiêncan, và vịtrí của Mặttrăng hay ngàysinh. Nhưng làmsao họ biết sao Tửvi phải được an ởđâu dựavào ngàysinh (?), và đây vẫncòn là một bíẩn cần được nghiêncứu thêm. Câutrảlời tạmthời là cóthể các TVG đã dựavào quansát thựcnghiệm hìnhdạng và khuônmặt của hàng trăm (hay vài ngàn) đứatrẻ trong một thờigian kéodài cả mấy trămnăm. KhoaTướngsố cũng cóthể nhờđó mà phátsinh ra. Nênnhớ là ngàynay các nhà coi Tửvi chuyênnghiệp cũng cần phải dựavào hìnhdạng hay tướngmạo để "điềuchỉnh" và kiểmchứng lại trướckhi bàntới lásố của ngườinào.
Vòng Tháituế: Trongsố những người Việt nổitiếng mộtthời nghiêncứu về khoaTửvi, cóthể TVG Thiênlương (bút hiệu) là người đã khámphá ra những yếutố quantrọng đặcbiệt nhất về vòng an sao Tháituế. Vòng Tháituế theo quanniệm của nhóm nghiêncứu TVG ThiênLương, có ảnhhưởng nhiều đến tháiđộ sống và cách ứngxử của conngười đốivới xãhội. Tạisao vòng Tháituế lại đóng một vaitrò chính trong khoa Tửvi? Câu trảlời làvì đã dựavào sao Mộctinh (Jupiter). Các chiêmtinhgia từxưa đã quansát và biết chukỳ đặcbiệt duynhất gần 12 năm của Mộctinh trong Tháidươnghệ. Nhưng yếutố chính quantrọng ởđây là họ đã cảmnhận được ảnhhưởng của Mộctinh đốivới các sinhvật đang sống trên tráiđất, nhấtlà conngười theo từng năm (bởivậy nên SaoTháituế baogiờ cũng an theo nămsinh, nghĩa là sinh năm nào thì an Tháituế ở ngay cung đó).
Theo dữkiện khoahọc tìmthấy được, Mộctinh (Jupiter) hay saoTháituế có hai đặctính nổibật nhất trong Tháidươnghệ. Thứnhất là Hànhtinh lớn thứhai chỉ nhỏ hơn Mặttrời, với đườngbánkính trungbình khoảngchừng 70 ngàn câysố (km), gấp 11.2 lần Tráiđất. Dođó, lựchấpdẫn (gravity) của Mộctinh lên Tráiđất rấtlà đángkể (chỉ sau Mặttrăng quágần với Tráiđất). Thứhai, và đây mới chínhlà điều đángnói, ảnhhưởng từtrường của Mộctinh mạnh nhiều hơn khoảng 10 lần của Tráiđất. Yếutố sóngtừtrường như các pháthiện gầnđây chothấy, ảnhhưởng rấtnhiều trên nãobộ của conngười nhất là cho các trẻem! Thídụ cụthể là cáchđây mấynăm, đã xảyra hiệntượng mộtsố các trẻem Nhật bị óimửa và bấttỉnh vì coi một chươngtrình truyềnhình! Hay giới yhọc càng ngày càng có khuynhướng tin và côngnhận các loạisóng từtrường, từ các dụngcụ điệntử hay các đườngdâyđiện caothế, cóthể gây nguyhại cho nãobộ conngười nếu hấpthu quánhiều!
Trởlại chuyện tửvi, theo lýgiiải của phái TVG Thiênlương nếu ngườinào anmệnh tại cung có sao Tuếphá, xungchiếu với cung thiêndi có sao Tháituế, thì ngườiđó thườnghay bấtmãn chốngđối, sinhbất phùngthời, v.v. Ðể kiểmchứng hiệntượng trên, ngườiviết chọn một lásố thídụ đểcho cung mệnh cóđược sao tuếphá: Người tuổi Canh-Thìn (1940), sinh tháng 9, giờ Tý, mệnh an ở cung tuất. Sauđó, dùng cách định vịtrí của các hànhtinh vào thờiđiểm nóitrên, thì thấy rằng vịtrí trên mặtđất vào giờ đó đốidiện thẳng với sao Mộctinh, và ở vịtrí gầnnhất.
người sinh tháng 9 giờ Tý và người sinh tháng ba giờ Ngọ đều anmệnh tại cung Thìn và có cùng sao Tuếphá tại mệnh. Khácbiệt duy nhất của hai trườnghợp trên là chỉ có người sinh tháng 9 mới chịu ảnhhưởng hoàntoàn của Tuếphá, trongkhi người sinh tháng 3 thì ngượclại không ảnhhưởng tínào vì nhờ mặttrời che hoàntòan! Một yếutố cóthể là do ảnhhưởng của sóngtừtrường quánhiều từ mộctinh, nên nãobộ của đứabé lớnlên sẽ có khuynhhướng pháttriển nhiều, thuộc loại thôngminhhơnngười, và thường đưađến trườnghợp chốngđối những chuyện chướngtai gaimắt, nên dễ đưađến bấtmãn vì không hùatheo với người được (trườnghợp của CaoBá Quát trong lịchsử). Mặtkhác cóthể do thiếu giáodục và hướngdẫn, dễ kết bèđảng với kẻxấu (Kiếp,Không, SátPhá Tham hãmđịa) thành tay đạotặc gianhùng v.v. Nênnhớ là những tay đạotặc gianhùng có tiếngtăm phầnđông đều thuộcloại thôngminh hơnngười rấtnhiều!
Hai hànhtinh gần mặttrời nhất cũng cóthể làm cơsở để an một sốsao trong Tửvi. Kimtinh (Venus) có chukỳ 0.61 và quaytrởlại vịtrí cũ (khoảng chừng 5 vòng) cho mỗi 3 năm tròn của tráiđất, nên có một sốsao trong Tửvi chỉ an theo ba (3) nhóm gồm: Thìn Tuất Sửu Mùi (Tứ mộ), hay Dần Thân Tỵ Hợi và Tý Ngọ Mão Dậu. Ðặcbiệt Thủytinh (Mercury) quay quanh mặttrời quá mau, cứ mỗi batháng làm 1 vòng, trongkhi tráiđất cứ ba tháng lại dichuyển một phầntư (1/4) vòng chungquanh mặttrời, nên theo vịtrí tươngđối của người đứng quansát từ mặtđất sẽ thấy như Thủytinh chỉ dichuyển trong 4 vịtrí chiađều trên vòngtròn (vì tầm nhìn quansát bị giánđoạn khôngliêntục do vịtrí của Thủytinh quágần mặttrời). Phảichăng vìvậy mà sao Thiên Mã và mộtsố sao khác chỉ an trong 4 cung thuộc trong 3 nhóm trên(?)
Những gì vừađược trìnhbày chothấy mặcdù khoaTửvi đẩusố khôngđược hoànhảo và còn nhiều nghivấn theo tiêuchuẩn khoahọc hiệnđại, nhưng dámchắcrằng đó chínhlà biểutượng cho tinhhoa của nền vănminh Ðôngphương, một thời rạngrỡ đã qua trong thiênniênkỷ đầutiên của nhânloại, và hyvọng sẽ có ngàytrởlại trong vinhquang của thiênniênkỷ thứba này.
Nguyễn Cường
Tham Khảo:
1) Nguyễn Ðăng Thục, Lịch Sử Triết Học Ðông Phương, Xuân Thu,1990 Inlại.
2) Encarta 98 Encyclopedia, Microsoft, 1998 Edition
3) Encyclopedia of History, Global Software Publishing, N. A., Inc., 1998
4) Sào Nam Phan Bội Châu, Chu Dịch, Khai Trí, 1969.
5) Ngô Tất Tố, Kinh Dịch Toàn Bộ, Ðại Nam, 1973.
Bởi vậy nên phần đông các cuốn lịch in ra trong các nước nói trên đều có phần ghi chú thêm ngày "Ta" đi kèm. Riêng đối với người Việt thì hình như nhà nào cũng thích có cuốn lịch thuộc loại tam tông miếu để treo tường, ngay cả trong những gia đình sống ở hải ngọai. Mục đích chính không phải vì thích coi theo ngày ta, mà nguyên nhân có lẽ là do từ tôn giáo và tín ngưỡng, biết ngày nào rằm hay mùng một để ăn chay (theo Phật giáo). Chỉ có một thiểu số ít hơn là dùng âm lịch thường xuyên để nghiên cứu hay áp dụng vào các bộ môn khoa học huyền bí, như lấy số tử vi hay coi ngày lành tháng tốt cho chuyện làm đám cưới hỏi, khai trương công việc làm ăn ...
Hiện nay nghề làm lịch số của Trung quốc không còn giữ được bí mật theo kiểu cha truyền con nối như xưa, vì nhờ vào phương tiện in ấn dồi dào từ sách vở ghi chép còn sót lại để nghiên cứu. Hơn nữa, Âm lịch cũng không còn thực dụng, vì hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới đang chính thức dùng Dương lịch. Dù vậy, hậu quả của việc bảo vệ bí mật trong mấy ngàn năm trước đây, cũng đã vô tình đánh mất đi cơ hội dành cho những thế hệ về sau này của Trung quốc, nghiên cứu và tìm ra vận hành của Thái dương hệ, trước Âu châu ít nhất là vài trăm năm!
Nếu tình cờ mỗi năm một lần, chúng ta thấy xuất hiện một từ quen thuộc gọi theo tên âm lịch của năm đó, như năm nay 2002 là Nhâm-Ngọ, hay năm tới 2003 là Quý-Mùi, thì dám chắc ai cũng đã ít nhất một lần thắc mắc, bằng cách nào và dựa vào đâu, các nhà lịch số Trung hoa phát minh ra những từ ngữ trên? Nói rõ hơn là mười (10) Thiên Can và mười hai (12) Ðịa Chi. Xin nhắclại ở đây, 10 Can gồm: Giáp, Ất, Bính, Ðinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.
Bài viết này sẽ dựa trên một vài dữ kiện kiểm chứng được của khoa học, để truy tìm lại phương pháp làm lịch mà các Chiêm tinh gia Trung hoa thời xưa có thể đã xử dụng. Bằng với tinh thần tôn trọng sự thật và học hỏi, người viết xin minh xác là những gì được trình bày sau đây có thể chưa được chính xác đúng hoàn tòan như đã xảy ra. Nhưng hy vọng sẽ là những ý tưởng khởi đầu, hay nếu có thể được, coi như là một đề nghị nghiên cứu thêm cho những vị có nhiều năng khiếu tự nhiên giỏi về các bộ môn Tử vi Lý số, để cùng làm sáng tỏ những gì đã bị hiểu nhầm là khoa học huyền bí.
Nội dung chính của bài viết này sẽ trình bày và giải thích tại sao, chỉ bằng mắt thường quan sát với phương tiện ghi chép còn thô sơ, các chiêm tinh gia Trung hoa đã tính được ra Thiên can, Ðịa chi và Lục Tuần Hoa Gíap, hay khái niệm về vận hành 60 năm trong âm lịch. Phần cuối của bài viết sẽ giải thích một vài điều thắcmắc về những bí ẩn của khoa Tửvi Ðẩu số.
Nguồn gốc Lịch số
Âm lịch (lunar calendar) hay việc soạn thảo lịch số dựa vào vận hành của mặt trăng không phải bắt đầu từ Trung hoa như nhiều người lầm tưởng. Theo dữ kiện có được từ các nhà khảo cổ với bằng chứng rõ rệt, thì nền văn minh Sumerian, phát triển bên cạnh con sông Tigris cách đây hơn 6000 năm (khoảng từ năm 5000-4000 BC, để sau này thành trung tâm của xứ ngàn lẻ một đêm, hay ngày nay còn gọilà Baghdad, thủ đô của Iraq) đã biết làm lịch dựa vào vận hành của mặt trăng. Ðế quốc Lamã ngay trong thời trước Julius Cesar ( 40 BC ) cũng dùng loại Âm lịch này. Chọn mặt trăng để làm lịch có thể bởi hai lýdo: Dễ nhìn vì ánh trăng ban đêm không nóng gay gắt và khó nhìn như mặt trời ban ngày. Thay đổi hình dạng thường xuyên từ khuyết tới tròn dễ thấy hơn là mặt trời hầu như ít khi thayđổi. Tuy nhiên, còn một lý do khá quan trọng khác ít người nghĩ đến, là do yếu tố thiên nhiên. Xứ Aicập (Egypt) nằm ngay trên đường Phân cực Hoàng đạo (Tropic of Cancer, khoảng 23°27 từ xíchđạo) nên đa số nhiều người đã thấy được hiện tượng mặt trời chiếu thẳng trên đỉnh đầu. Nghĩa là trong khoảng từ 20 tháng 3 đến 20 tháng 9, nếu cắm một cái cọc thật thẳng đứng, sẽ thấy bóng của cây cọc nhập trùng ngay dưới gốc của nó vào lúc 12 giờ trưa, ít nhất là trong vài ngày (Chỉ những nước nằm giữa đường xích đạo và Bắc bán cầu trong khoảng Vĩ tuyến từ 0 - 23°27 mới thấyđược hiện tượng trên. Ngược lại, trong vùng Nam Bán cầu thì khoảng từ 20 tháng 9 đến 20 tháng 3). Nhờ quan sát hiện tượng đó, dân Aicập cách đây khoảng hơn 4000 năm đã tính ra gần đúng số ngày trong năm (365 thay vì 355 như Âmlịch), và cũng chính là lý do họ chọn làm lịch theo mặt trời, lưu truyền Dương lịch cho đến bây giờ!
Các thủ đô của Trung hoa như Trường An hay Bắc kinh, vì nằm trong vùng ôn đới cách xa trên đường Phân cực (Tropic of Cancer) nên không thấy được hiện tượng nói trên, cũng như không có ấn tượng nhiều về mặt trời, và cũng là lý do dể hiểu tại sao họ đã dùng mặt trăng để làm lịch.
Theo đúng như trong sử Trung hoa ghi lại thì khoa Lịch số đã có từ thời Hoàng Ðế, cách đây hơn 4000 năm, do các chiêm tinh gia soạn ra (nghĩa nguyên thuỷ là nhà thiên văn hay chuyên gia coi sao trên trời, không phải bị biến nghĩa ra thành "thầy bói toán" như về sau này!) chiêm tinh gia biên soạn lịch số để định chuẩn thời gian cho việc hành chánh và cai trị của triều đình Vua quan, nhưng đồng thời cũng giúp rất nhiều cho nghề nông trong việc tiên đóan thời tiết hay thu hoạch mùa màng. Chắc chắn trong giai đoạn đầu khi mới có cho đến khoảng sau thời Hán Cao tổ, âm lịch cũng không tránh khỏi nhiều sai lầm, nhất là rất đơn sơ và chưa có Thiên can hay Ðịa chi như sau này. Bằng chứng là trong thời kỳ phát triển của Chu Dịch (1150 - 500 BC) cũng chưa nghe nói đến. Phải đến thời "TamQuốc" của Khổng Minh (Gia cát Lượng) vào khoảng 200-300 AD thì mớicó văn tự rõ rệt nói về các Thiên Can, đồng thời xuất hiện các khoa lý số như Kỳ Môn Ðộn Giáp, Thái ất Thần toán, hay Lục Nhâm Ðại Ðộn v.v. Hầu hết các sử gia Trung quốc đều công nhận là chỉ vào thời kỳ của Nhà Hán, sau mấy trăm năm chiến tranh liên miên từ thời Ðông chu Liệtquốc, nền văn minh Trung hoa mới thật sự khởi sắc và đi lên trong Thiên niên kỷ đầu tiên (0 -1000 AD).
Theo chínhsử ghilại, những nghiêncứu và phátminh của Trunghoa thậtsự đã bắtđầu từ thời Tần thủy Hoàng, khi vị Hoàngđế tàigiỏi nhưng tànbạo này, cóthể độngviên hay chiêudụ được nhiều đạosĩ (coinhư là khoahọcgia theo tiêuchuẩn thờiđó), trongviệc thámhiểm, đi tìmkiếm các kỳhoa dượcthảo để luyệnthuốc trườngsinh bấttử cho ông. Dưới nhậnxét bìnhthường thì chorằng đólà việclàm xaxỉ, hoangtưởng và mêmuội. Nhưng trong lãnhvực nghiêncứu khoahọc ngàynay, Tần Thủy Hoàng rất xứngđáng được coinhư đã cócông sánglập một cơcấu kiểu Hànlâm Viện khoahọc đầutiên cho nhânlọai! Những chiphí trong việc chiêuđãi hay thưởngcông cho các đạosĩ thờiđó, dưới cáinhìn thiếu hiểubiết cholà phungphí, nhưng sovới tỷlệ ngânsách dànhriêng cho khảocứu khoahọc ngàynay thì chẳng có nghĩalý gìcả, dùlà của một nước đang pháttriển! Chính nhờ làmviệc và sốngchung tậpthể vớinhau đó, đã vôtình tạora môitrường tốtđẹp cho những sángkiến mới, thiđua họchỏi, traođổi kiếnthức giữa các đạosĩ với nhàvua, và cóthể đãlà cơsở đónggóp cho nhiều phátminh quantrọng về khoahọc và kỹthuật saunày của Trungquốc. Hoá chất Lưuhuỳnh dùng để làm thuốcsúng, thanđá, thủyngân, chì, namchâm có từtính, cách luyệnthép, bàntính (abacus), v.v. cóthể đã được bắtđầu nghiêncứu hay tìmra trong thờikỳ này. Thídụ về những huyềnthoại phùphép mà KhổngMinh xửdụng, là do những phảnứng đặcbiệt từ các hoáchất độchại như lưuhuỳnh, thuỷngân hay các loài dượcthảo trộnchung vớinhau khi bị đốtcháy. Kếtqủa là làmcho đốiphương bị gâymê, mấttrí hay mạngvong trong những vùng gọi là bátqúai trậnđồ. Nhưng một trong những thànhquả tốtđẹp hơnhết chínhlà bộmôn xem thiênvăn khítượng bắtđầu xuấthiện được nhiềungười biếtđến. Nhờvậy mà khoalịchsố đã được hiệuchỉnh, thayđổi đúnghơn chotới bâygiờ!
Phươngpháp soạn Âmlịch
Cóthể chiara làm hai giaiđọan pháttriển chính choviệc soạnthảo âmlịch.
Giaiđoạn I: Kéodài khoảng gần 2000 năm từ thời Hoàngđế cho đến thời Khổngtử. Trong giaiđoạn này chỉcó ngày, tháng và năm. Chưacó chiara giờ cũng như chưacó thiêncan và địachi. Côngviệc soạnlịch vào thời sơkhai này rấtlà dễhiểu, khôngcógì phứctạp như nhiều người thường lầmtưởng. Những chiêmtinhgia thờiđó chỉ dựavào khoảngcách giữa hai tuầntrăng tròn để tính số ngày cho một tháng. Khoảngcách của một năm thì được định bằng thờiđiểm vào lúc Trăng trònnhất, khoảng ngày rằm tháng 8 (sau này thànhra tết Trungthu), và mộtphần dựavào thờitiết thayđổi của 4 mùa.
Khókhăn duynhất lúc banđầu là cứ cáchkhoảngchừng hai năm thì tháng có trăng trònnhất bị kéodài thêm một tháng. Ðólà những thángnhuận, và cáchgiảiquyết thựctế đơngiản lúcbấygiờ là thêm nguyên một tháng vào những nămnhuận. Còn làmsao họ biếtđược nămnào nhuận là do phỏngchừng và dựavào kinhnghiệm riêng của những đời trước theo kiểu chatruyền connối. Chính cáchlàm theolối thuậntiện nhưtrên, nên âmlịch thường bị thànhkiến cholà thiếu chínhxác! Cóthể trong thờikỳ này, thángnhuận chỉ được thêmvào trong tháng trước tháng có trăng trònnhất là tết Trungthu(?) Chỉ saunày khi bắtđầu ănmừng ngày tết Nguyênđán và để không bị sai ngày quá xa, nên những nhàsoạnlịch phải chiara cho đều, thêm thángnhuận vào các tháng khác.
Ngoàira có vài chitiết cầnđược đểý là hệthống Âmlịch dựavào thiêncan và địachi chỉ có phânbiệt tốiđa là 60 năm, nên nếu muốn viết lịchsử, họ thường dùng năm caitrị của Vua hay triềuđại làmchuẩn. Thídụ như trong sách thường viết là năm thứ mấy đời Vua nàođó gặp thiêntai bãolụt v.v. Lâudần trởthành thóiquen dùngluôn cho đến khi bị ảnhhưởng của nền vănminh Tâyphương thayđổi.
Về giờgiấc, lịchsố ở thời kỳ đầu cũng chưa chiara 12 giờ như saunày. Ðể định giờ, họ dùng cách nói phỏngchừng theo vịtrí của mặttrời, mà mãi cho đến bâygiờ, nôngdân ít học ở các vùngquê vẫncòn dùng, như khi nói mặttrời vừa lên quá ngọncây (khoảng 8 đến 9 giờ sáng mùahạ), hay mặttrời đứngbóng giữatrưa khoảng 12 giờ v.v.
Nhữnggì vừa trìnhbày cóthể kiểmchứng bằng bộsách Chudịch đã được soạnra khoảng từ thời nhàChu (1150 BC) chođến thời Khổngtử (550 BC). Cụthể là việc lậpquẻ Dịch. Trong bộ ChuDịch chínhbản chỉ ghi cách lậpquẻ duynhất là dùng cỏ Thi, còngọi là phépbói cỏ Thi, mà không dùngđến giờ nào như Khổng Minh dùng để bấmđộn saunày. Các lờibàn của 64 quẻ trong bộ ChuDịch nguyênthuỷ hoàntoàn khôngcó nóirõ về giờgiấc.
Giai Ðoạn II: Từ thời Khổngtử cho tới nhàÐường khoảng chừng 1000 năm. Thờikỳ này vănminh TrungHoa bắtđầu khởisắc đilên. Các Ðạosĩ hay Chiêmtinhgia làmviệc có phươngpháp và khoahọc hơn. Nhờvậy, họ đã tìmra hay khámphá được chukỳ vậnchuyển của các hànhtinh trong TháiDươnghệ, và từđó âmlịch mới được thayđổi để thêmvào Thiêncan, Ðịachi, Lụctuần Hoagiáp (hay chukỳ 60 năm). Trướckhi đisâu vào chitiết, và để quý đọcgiả dễ theodõi vấnđề hơn, ngườiviết xin nhắclại mộtvài dữkiện cănbản nhưsau:
Trong những đêm tốt trời không mây, nếu dùng mắtthường chúngta cóthể đếm được cả vài trăm ngôisao là chuyệnthường. Tuynhiên, tấtcả đều thấy gầnnhư cốđịnh không thayđổi theo nămtháng, vì không phụthuộc vào một hệthống vệtinh như Tháidươnghệ, hoặcgiả có chukỳ dichuyển quálớn đến cả ngànvạn năm. Cònlại, trừ trườnghợp đặcbiệt như saochổi (Comet) và saobăng (Asteroid), chúngta chỉ thấy được những hànhtinh thuộc Tháidươnghệ dichuyển màthôi. Trong tám (8) hànhtinh chính, trừ mặttrời và mặttrăng, mắtthường của chúngta chỉ thấy được có năm(5) hànhtinh. Ðólà Thủytinh(Mercury), Kimtinh(Venus), Hỏatinh(Mars), Mộctinh(Jupiter), và chót là Thổtinh(Saturn). Ba(3) hànhtinh khôngthấy được bằng mắt thường là Diêmvươngtinh (Uranus), Hảivươngtinh (Neptune) và Thiênvươngtinh(Pluto). Khôngbiết cóphải là trùnghợp ngẫunhiên của tạohóa, hay sắpđặt khéoléo của conngười, trong 8 quái (Bátquái hay 8 hành?) của Dịchlý, các "Khoahọcgia" thờiđó chỉ thấy được có 5 quái: Ðịa, Sơn, Thủy, Lôi, và Hỏa, nên phátminh ra Ngũhành (Ngườiviết đã trìnhbày trong bài "Những khámphá mới về Dịchlý và Ngũhành" cáchđây hơn hai năm.)
Ðể tìmhiểu về 5 hànhtinh thấyđược chuyểnđộng như thếnào, các Chiêmtinhgia thờiđó đã dùng một phươngpháp đơngiản nhưng rất khoahọc, là ghichép lại vịtrí của các hànhtinh sau một thời khoảng nhấtđịnh. Thờiđiểm tốtnhất để xem thiênvăn là mỗitháng mộtlần vào cuối hay đầutháng, lúc trăng hoàntoàn bị chemất (đêm 29, 30 hay 1). Muốn địnhrõ vịtrí của cácsao, cólẽ họ cũng biết dùng theo phươngpháp chấm tọađộ, nhưng kém chínhxác rất nhiều. Dùng sao Bắcđẩu làmchuẩn và theo đồhình Bátquái, họ cóthể định phươngvị (hay khẩuđộ) của một sao, và kếđến là cũng theo lối ướcchừng độcao của mặttrời để định khoảngcách từ đườngchântrời. Thídụ như để địnhvị ngôisao ở 220 độ từ hướng Bắc (theo chiều kimđồnghồ) và 25 độ cách chântrời nằm ngang, họ cóthể nói là nằm ở giữa cung Khôn (hướng Tây-Nam) cách chântrời khoảng một gangtay chẳnghạn. Vềsau đểđược chínhxác hơn, cóthể các chiêmtinhgia đã dùngđến các tên của quẻdịch để phânchia thành 64 cung trên vòngtròn. Ðó chínhlà lýdo tạisao các nhànghiêncứu vềsau cóthể hiểulầm vì bị nạn "tamsao thấtbổn", nên tưởng là môn lịchsố có nguồngốc từ Dịchlý màra.
Dù bằng cáchnào thì cũng nhờ kháiniệm tuầnhoàn và chukỳ âmdương của Dịchlý, chiêmtinhgia thờiđó cóthể tinchắc là các vìsao đều chuyểnđộng theo một chukỳ nhấtđịnh nàođó. Nếukhông thì cólẽ họ khôngbỏ thìgiờ quálâu cho cả một đờingười để tìmra gầnđúng chukỳ của 5 hànhtinh trong Tháidươnghệ, trước Âuchâu cả hơn ngànnăm!
Kếtquả côngtrình nghiêncứu và ghichép vịtrí sao của các Chiêmtinhgia Trunghoa nóitrên chothấy là cứ mỗi 60 năm thì cả 5 hànhtinh đều quaytrởvề lại gần vịtrí cũ! Ðặcbiệt hơnhết, là vào khoảng cuối năm QuýHợi và đầu năm GiápTý thì cả 5 hànhtinh đều hộitụ lại, và nằm sát vớinhau chung một hướng. Xin nhắclại đây để tránh hiểunhầm, nhờ tìnhcờ ngẫunhiên quansát thấy hiệntượng 5 sao tụhội về một chỗ trướckhi phântán ra, nên cóthể các nhàlịchsố chorằng đólà khởiđiểm đầutiên cho chukỳ 60 năm, và họ đặttên cho năm có hiệntượng đólà GiápTý, đứngđầu trong bảng lụctuần hoagiáp.
Sauđây là bảng tómlược số vòng chukỳ quay quanh mặttrời của 5 hànhtinh, dựa theo thờigian một (1) năm của tráiđất làmchuẩn:
Thờigian tínhtheo Tráiđất làmchuẩn Chukỳ 1 vòng
____________________________________________________________________
Ngày (Năm ) Số Chukỳ Số Chukỳ Số Chukỳ
trong trong trong
12 Năm 30 Năm 60 Năm ____________________________________________________________________
TráiÐất-Earth 365.3 (1.00) 12.000 30.000 60.00
ThủyTinh-Mercury 88.0 (0.241) 49.814 124.534 249.06
KimTinh-Venus 224.7 (0.615) 19.508 48.772 97.54
HỏaTinh-Mars 687.0 (1.881) 6.381 15.951 31.90
MộcTinh- Jupiter 4331.8 (11.858) 1.012 2.530 5.060
ThổTinh-Saturn 10760.0 (29.455) 0.407 1.018 2.037
___________________________________________________________________
Dựavào bảng tínhtoán chukỳ ởtrên chothấy có mộtvài chitiết cần chúý: Sau khoảngchừng 20 năm thì các sao tụvề tại một vịtrí khác, và phải sau gần 60 năm của tráiđất, thì cả bốn(4) sao Thủytinh, Hỏatinh, Mộctinh, và Thổtinh mới quayvề gần đúng vịtrí đầutiên hay xêxích mộtchút. Khoảngcách saisố sau 60 năm là từ 10 đến 30 cung độ (arc), do các sốlẻ thứnhất của số chukỳ trong 60 năm đều nằm trong giớihạn của 0 - 0.1 hay 0.9 - 1.0 theo vòngtròn (360 độ) của mặttrời. Ðốivới người quansát các hànhtinh đứng từ vịtrí trên tráiđất và ở một gốcđộ chéo, thì chắc sẽ nhìnthấy khoảngcách hay độ xêxích nhỏ hơn rấtnhiều, hoặc cóthể không thấyđược độ saibiệt bằng mắtthường! Riêng trườnghợp của Kimtinh (Venus) tuy nằm gầnnhư đốidiện với vịtrí cũ (sốlẻ 0.54), nhưng chukỳ quay chungquanh mặttrời chỉcó chừnghơn 7 tháng, nên chỉ cầnthêm khoảng 4 tháng (cũng còn trong 1 năm của tráiđất) là quayvòng trởlại để hộitụ cùng các sao.
Nhưvậy, với mộtvài bằngchứng ởtrên cóthể tạm kếtluận rằng: Chuyện các chiêmtinhgia Trunghoa cách đây hơn 1000 năm đã tìmra chukỳ gầnđúng của 5 hànhtinh là sựthật hiểnnhiên rất dễhiểu theo khoahọc. Hìnhvẽ thứ hai sauđây cũng để minhchứng cụthể chothấy vịtrí của 5 hànhtinh vào tháng 2 năm 1984 (dươnglịch, âmlịch là 30 tháng Chạp năm QuýHợi, gần tết Nguyênđán) theo cáchtính đúng qũyđạo chínhxác của khoahọc ngàynay.
Tuynhiên cũng xin lưuý và nhấnmạnh một lần nữa là do sựtrùnghợp ngẫunhiên đưađến, khôngphải cứ 60 năm là các sao phải tụ về ở cùng một phươngvị giốngnhư vậy. Lýdo là vì các saisố khoảng 0.06 cho Mộctinh và 0.037 cho Thổtinh như đã nói, nên phươngvị của các sao tụhội lại cũng thayđổi xêxích mộtchút sau khoảng 60 năm. Muốn các sao tụ hội về cùng phươngvị gần giống như cũ phải mất khoảng 1600 năm, hay gần 27 lần của chukỳ 60 năm! Nhưng dù vậy cũng chỉ gần đúng màthôi. Nghĩalà trong thựctế khônghề có sựtrùngnhập lại giốngyhệt như cũ được!
Nhânđây cũng nên nhắc đến một sựkiện lịchsử có ảnhhưởng rấtnhiều đến vậnmệnh của cả nước Việtnam. Dobởi các vuachúa Trunghoa thời bấygiờ vì quátin vào lậpthuyết của các chiêmtinhgia, chorằng mộtkhi các tinhtú đều chầuvề một phương nào thì nơiđó tụhội được nhiều linhkhí, nghĩalà có "Thánnhnhân" hay bậc đếvương sinhra đời! Bởivậy nên tínhra trong khoảng 400 năm ( 400 - 800 AD) vào thời nhàÐường, các Sao đều chầu về phươngNam (gần giốngnhư hìnhvẽ trên), làmcho họ phải losợ. Từ nguyênnhân đó, mới có việc saiphái đạosĩ Cao Biền làm Tháithú để tìmcách trấnyểm phươngNam. Ngoàira sau này họ cũng thường gởi các "Giánđiệp" giảdạng độilốt tusĩ hay thầyÐịalý và thầythuốcbắc để dòtìm nhântài của Việtnam. Mộtkhi pháthiệnđược nơi nào có "thầnđồng" hay thiếuniên giỏichữ là họ tìm đến để thửtài và tìmhiểu. Nếu đúng thì bằng nhiều cách như dụdỗ, muachuộc nếu chamẹ nghèo, xin cholàm connuôi để "dạydỗ và huấnluyện chữ nghĩa v.v. Ðólà lýdo tạisao trong những câuchuyện kể về các vị thầnđồng Nhohọc của Việtnam thờixưa, thường nói tới việc có những người "kháchlạ" tìmđến để ra câuđối và thửtài thôngminh!
Nếu nhữnggì nóitrên đúngtheo thuyết của các chiêmtinhgia Trunghoa, thì trongsố những đứatrẻ sinh năm 1984-85 ở Việtnam sẽ chora nhiều thiêntài xuấtchúng ngoạihạng trong tươnglai (!?) Ðúng hay sai thì chưabiết, nhưng ứngnghiệm vào các quốcgia thuộc vùng ÐôngnamA¨ thịnhvượng giầucó hơn trong vòng 20 nămqua, và dĩnhiên kếtqủa là sẽ chora nhiều trẻem thầnđồng nhờ được nuôidưỡng huấnluyện và giáodục trong môitrường tốt hơn!
Nóichung với cáchtính phỏngchừng và đơngiản dựavào ba sao là: Hỏatinh (Mars) có chukỳ gần 2 năm, Mộctinh (Jupiter) có chukỳ khoảng 12 năm, và Thổtinh có chukỳ gần 30 năm, các nhà làm Lịchsố đã tìmra mẫusốchung gầnđúng là 60 năm để cả basao tụhội lại gầnnhau, và có cùngchung một cung, hay cùng phươngvị theo bátquái (mỗicung khoảng 45°.)
Ðiều cầnbiết thêm ởđây chínhlà chukỳ gần 2 năm của sao Hỏa (Mars), nghĩalà cáchkhoảng một năm thì các chiêmtinhgia thấy saoHỏa nằm ở vịtrí hướng đốingược lại. Do hiệntượng trên trùnghợp với lýthuyết về Dịch hay luật âmdương, nên cóthể các nhàlịchsố tinrằng thờigian cũng giốngnhư vậy là cứ một năm Dương một năm Âm thayđổi đềunhau!
Mộctinh (Jupiter) là sao quantrọng nhất có chukỳ gần đúng 12 năm. Quantrọng theo các nhà Lịchsố thời bấygiờ cóthể từ hai lýdo. Thứnhất, đó là sao duynhất để phânbiệt và chuẩnđịnh sựkhácbiệt của các năm. Thổtinh (Saturn) vì xa và khóthấy hơn, nhấtlà chukỳ đầutiên quá lâu và có tới gần 30 năm không chínhxác bằng Mộctinh. Riêng Hỏatinh thì lại càng không chínhxác vì chukỳ quá ngắn chỉcó khoảng gần 2 năm. Thứhai, dựa vào kinhnghiệm tíchlũy từ quansát và thựcnghịêm của các chiêmtinhgia theolối chatruyền connối cóthể đã kéodài trong vài trăm năm, sau Mặttrời và Mặttrăng, Mộctinh có ảnhhưởng nhiềunhất đốivới conngười và Tráiđất (sẽ giảithích thêm ở mục TửVi). Chínhvìvậy, họ đã dùng chukỳ 12 năm của Mộctinh để đặt tên cho 12 năm, còngọi là Thậpnhị Ðịachi. Dámchắc mớiđầu chỉ cótên bằng consố 1, 2, 3, 4,...12. (Nếu đểý thì thấy các sốlẻ 1, 3, 5...thuộc số Dương, số chẳn 2, 4, 6... là số Âm, phùhợp với Dịchlý đã nói ởtrên). Còn tạisao saunày lại có tên của 12 con vật là Tý, Sửu, Dần...v.v, thì lại thuộc mộtvài lýdo khác không nằm trong phạmvi bàiviết này, nên xin miễnbàn ở đây. Nóichung, yếutố quantrọng là nhờvào quansát thựcnghịêm, một phươngpháp thôngdụng trong nghiêncứu khoahọc.
Saucùng, cólẽ các chiêmtinhgia cũng chỉ thấy có sao Thổtinh là có chukỳ lâunhất trong 5 hànhtinh, nên theo trìnhđộ hiểubiết thời bấygiờ, họ chorằng đó là vịthần chính của nhà Trời ảnhhưởng đến mọisự sắpđặt và thayđổi của "Thượngđế", nên gọi là ThiênCan (?). Nhưng tạisao là 10 mà không là 5, vì 5 nhân 12 mới bằng 60? Hỏivậy là xemthường khảnăng về Toán của chiêmtinhgia! Nếu chỉ dùng 5 số Thiêncan ghép với 12 Ðịachi sẽ bị trởngại ngay, nhấtlà không giảiquyết được nguyên tắc ÂmDương, một năm Dương và một năm Âm điliền vớinhau như đã giảithích về chukỳ của saoHỏa ở trên. Ðể giảitỏa vấnnạn đó, các chiêmtinhgia buộc phảidùng gấpđôi consố 5 lên thành 10, tuy vẫn duytrì 5 đặctính Ngũhành của Thiêncan. Bởivậy chonên bâygiờ chúngta mới có hai Can đi liền với nhau có cùngchung một Hành (theo thuyết Ngũhành), và có một Dương và một Âm. Thídụ như Giáp với Ất (hành Mộc), Bính với Ðinh (Hỏa), Mậu với Kỷ (Thổ), Canh với Tân (Kim) và Nhâm với Quý (Thủy).
Ngoàira, do ảnhhưởng của thuyết Ngũhành, việc đặt hay gọitên 5 hànhtinh theo Ngũhành là hoàntòan dựavào màusắc khi nhìn bằng mắt thường, và khôngcó liênhệ gì với đặctính vậtlý. Theo lýthuyết của Ngũhành về màusắc, gọi là Mộctinh vì có sắc xanh. Hỏatinh vì có sắc đỏ như lửa. Thổtinh vì có sắc vàng, Kimtinh (Venus) vì có sắc trắng do có độsáng mạnh, và Thủytinh (Mercury) có sắc đen vì quágần mặttrời nên không thấyđược sánglắm!
Tómlại hệthống Âmlịch dựavào các hànhtinh chính sau: Mặttrời để định Giờ và Ngày, Mặttrăng dùng cho Tháng, Mộctinh (Jupiter) dùng cho Năm hay 12 Ðịachi, và sau cùng Thổtinh (Saturn) và Hoảtinh (Mars) dùng để định Thiêncan (Âm hoặc Dương) và Ðại Chukỳ 60 năm hay LụcTuần HoaGiáp. Ghinhận thêm ởđây là theo ămlịch, mỗi tháng chiara làm 3 tuần, có khoảng từ 9 đến 10 ngày, gồm: Thượng, Trung, và Hạ tuần. Vềsaunày thì các nhàsoạnlịch tính và thêmvào các ngày đặcbiệt như Ðạihàn, Tiểuhàn, Lậpđông, Hạchí v.v
Những Bí ẩn của khoaTửvi
Trong suốt hơn một ngàn năm, bộmôn Tửvi đượccoi nhưlà khoahọc huyềnbí bởi tấtcả các yếutố ansao và giảiđóan đều dựatheo một vài côngthức địnhtrước, mà khôngcó sựgiảithích hay chứngminh lýdo tạisao. Dù tin hay khôngtin, thựctế chothấy khoatửvi cũng đãđược lưutruyền trong dânchúng khálâu, và ítnhất cũng đãcó mộtsố người chấpnhận, nghĩrằng cóthể dùngđể đoánđược phầnnào vậnmệnh tươnglai của conngười! Ðiều đáng ngạcnhiên là nếu đúngtheo dữkiện chothấy, khoaTửvi hiệntại này chỉ còn có Việtnam là đất dụngvõ, dù có nguồngốc từ Trunghoa. Ngaycả các sách viếtvề Tửvi ở TrungHoa cũng có nhiều, nhưng họ khôngthích xài Tửvi mà lại chọn các môn khác thôngdụng hơn như TửBình (gọitắt là Báttự có 8 chữ, lấy số theo hàng Can và Chi của Năm, Tháng, Ngày và Giờ). Một lýdo cóthể giảithích là vì saunày họ đã khámphá và thấyđược rằng, vậnhành của các sao khôngđược chínhxác như đã tintưởng lúcbanđầu!
Những gì được ngườiviết pháthiện và trìnhbày sauđây chothấy vài đặctính khoahọc của bộmôn Tửvi. Trần Ðoàn (được coi như ôngTổ sángchế ra Tửvi) hay các vị thầy tiềnbối của ông vào khoảng thời nhàÐường, cóthể đã tiếnxa hơn và biết khánhiều về vậnhành của các hànhtinh. Nhưng tiếcrằng vì các điềukiện thựctế chủquan về vănhóa xãhội thời bấygiờ, nên họ đã dấukín và giữkín bímật tốiđa, nhấtlà khôngmuốn giảithích hay viếtsách đểlại lưutruyền cho hậuthế.
Cung Anmệnh: Theo quanniệm về triếtlý nhânsinh của Khổnggiáo chịu ảnhhưởng ítnhiều đạo Lão, mỗingười sinhra đềucó một sốphận được anbài trước gọilà thiênmệnh. Các nhàlýsố hay tửvigia Trunghoa dựavào lýthuyết trên nên tinrằng, khi một đứabé vừa sinhra đời là chịu ảnhhưởng địnhđoạt cho sốphận bởi các tinhtú hiệndiện trêntrời ngay thờiđiểm đó. Câuvăn nổitiếng thườngnghe là "...sinhra đời dưới một ngôisao..." phảnánh niềmtin trên. Nói cách khác, khi một đứatrẻ sinhra đời tại một địađiểm nào trên tráiđất, sẽ chịuảnhhưởng của tấtcả các tinhtú chiếuvào ngay tại thờiđiểm đó, và địnhđoạt sốmệnh luôn cả đời cho đứabé vừa sinh!
Khôngphải tựnhiên mà các Tửvigia (TVG) bàyđặt ra cách anmệnh trong Tửvi nhưsau: Khởi từ cung Dần (hay tháng Giêng) đếm theo chiềuthuận (kimđồnghồ) đến thángsinh, rồi từđó lại đếm ngược chotới giờsinh để an cungmệnh. Dựavào triếtlý sốphận cùng cách an cungmệnh chothấy, các TVG thờiđó đã khámphá rađược hai đặctính vậnhành của tráiđất và mặttrời, một đúng và một sai!
Thứnhất, đúng là họ đã biết tráiđất tự xoay vòngquanh lấy chínhnó theo chiềungược với kimđồnghồ! Tròchơi lồngđèn xoay (còn gọi là đènkéoquân hay đèncù) rất thịnhhành vào thời nhàÐường, chothấy các TVG lúc bấygiờ cóthể đã có kháiniệm về tráiđất tròn và xoay. Nhưng như đã viết ởtrên, họ đã giữ làm bímật giatruyền, và nhấtlà sợ nguyhiểm cho chính bảnthân và giađình do quanniệm "Thiêncơ bất khảlậu" hoặc vì những người cầmquyền như VuaChúa khôngtin (giốngnhư trườnghợp của Gallileo). Một lýdo khác là ngaychính các TVG cũng không hiểu và không giảithích được hiệntượng tạisao conngười không bị rơi rangoài nếu tráiđất xoaytròn! Thêmvào, các hiệntượng thiênnhiên như nhậtthực hay nguyệtthực, đã tạo cơhội để các TVG hiểu ánhsáng từ mặttrăng là do từ ánhsáng mặttrời chiếuvào và thỉnhthoảng lại bị tráiđất che (cho trườnghợp nguyệtthực). Cóthể với cáchsuyluận tầmthường và đơngiản theo lối chứngminh "phảnđề" là: Nếu Tráiđất nằm yên không xoay, thì dựavào quansát hàngngày chothấy mặttrời, mặttrăng, năm (5) hànhtinh và đasố các tinhtú thấyđược, phải "chạy" xungquanh tráiđất mỗingày mộtlần! Ðiềunày chothấy hoàntòan vôlý vì nhờ các hiệntượng nhậtthực và nguyệtthực. Cụthể như nhờ có hiệntượng nhậtthực toànphần giữa banngày, các TVG đã thấy được các ngôisao và các hànhtinh hiệnra, dù trong chốclát. Nghĩalà không phải vào banngày, các tinhtú chạy xuống dưới đất rồi đến tối mới hiệnlên!
Thứhai, các TVG đã hiểusai khi khámphá ra và tinrằng mặttrời quay chungquanh tráiđất mỗi năm mộtlần theo chiềuthuận kimđồnghồ! Nhưng thậtlà maymắn cho khoaTửvi, cái sai về lýthuyết lại trởthành đúng trên thựctế! Lýdo là nhờ luậttươngđối về chuyểnđộng. Nghĩalà nếu các TVG đang đứng trên tráiđất nhìn mặttrời, trongkhi tráiđất dichuyển xungquanh mặttrời theo chiều ngược kim đồnghồ, thì cũng giốngnhư các TVG đứng trên tráiđất nằm yên, và nhìn mặttrời dichuyển xungquanh tráiđất theo chiềuthuận kimđồnghồ!.
Những bằngchứng trên chothấy khi an cungmệnh, các TVG đã theo gầnđúng nguyêntắc vậnhành của tráiđất và mặttrời, xácđịnh vịtrí tươngđối lúc đứabé sinhra đời trong tháidươnghệ. Tuynhiên, xin được nhấnmạnh và giảithích rõ ở đây thêm một chút để tránh sựhiểulầm. Ðúngra, phầnnào là do ảnhhưởng thểxác của ngườimẹ, do tínhditruyền hay phùhợp với môitrường vào thờiđiểm đó, nên "chuyểnbụng" mà sinhra đứabé, hơnlà do cơthể đứabé sinhra chịu ảnhhưởng của các hànhtinh!
Vòng Tửvi và ThiênPhủ: Coinhư quantrọng nhất cho lásố tửvi nên dựavào tấtcả bốn yếutố là Năm, Tháng, Ngày và Giờ sinh. Nghĩalà chịuảnhhưởng của Mặttrời, Mặttrăng và năm hànhtinh. Theo nhậnxét của ngườiviết thì cóthể saukhi định vịtrí của đứatrẻ khi mớisinh rađời dựavào tháng và giờ, các TVG còn dựavào hai yếutố saucùng là vịtrí của các hànhtinh hay thiêncan, và vịtrí của Mặttrăng hay ngàysinh. Nhưng làmsao họ biết sao Tửvi phải được an ởđâu dựavào ngàysinh (?), và đây vẫncòn là một bíẩn cần được nghiêncứu thêm. Câutrảlời tạmthời là cóthể các TVG đã dựavào quansát thựcnghiệm hìnhdạng và khuônmặt của hàng trăm (hay vài ngàn) đứatrẻ trong một thờigian kéodài cả mấy trămnăm. KhoaTướngsố cũng cóthể nhờđó mà phátsinh ra. Nênnhớ là ngàynay các nhà coi Tửvi chuyênnghiệp cũng cần phải dựavào hìnhdạng hay tướngmạo để "điềuchỉnh" và kiểmchứng lại trướckhi bàntới lásố của ngườinào.
Vòng Tháituế: Trongsố những người Việt nổitiếng mộtthời nghiêncứu về khoaTửvi, cóthể TVG Thiênlương (bút hiệu) là người đã khámphá ra những yếutố quantrọng đặcbiệt nhất về vòng an sao Tháituế. Vòng Tháituế theo quanniệm của nhóm nghiêncứu TVG ThiênLương, có ảnhhưởng nhiều đến tháiđộ sống và cách ứngxử của conngười đốivới xãhội. Tạisao vòng Tháituế lại đóng một vaitrò chính trong khoa Tửvi? Câu trảlời làvì đã dựavào sao Mộctinh (Jupiter). Các chiêmtinhgia từxưa đã quansát và biết chukỳ đặcbiệt duynhất gần 12 năm của Mộctinh trong Tháidươnghệ. Nhưng yếutố chính quantrọng ởđây là họ đã cảmnhận được ảnhhưởng của Mộctinh đốivới các sinhvật đang sống trên tráiđất, nhấtlà conngười theo từng năm (bởivậy nên SaoTháituế baogiờ cũng an theo nămsinh, nghĩa là sinh năm nào thì an Tháituế ở ngay cung đó).
Theo dữkiện khoahọc tìmthấy được, Mộctinh (Jupiter) hay saoTháituế có hai đặctính nổibật nhất trong Tháidươnghệ. Thứnhất là Hànhtinh lớn thứhai chỉ nhỏ hơn Mặttrời, với đườngbánkính trungbình khoảngchừng 70 ngàn câysố (km), gấp 11.2 lần Tráiđất. Dođó, lựchấpdẫn (gravity) của Mộctinh lên Tráiđất rấtlà đángkể (chỉ sau Mặttrăng quágần với Tráiđất). Thứhai, và đây mới chínhlà điều đángnói, ảnhhưởng từtrường của Mộctinh mạnh nhiều hơn khoảng 10 lần của Tráiđất. Yếutố sóngtừtrường như các pháthiện gầnđây chothấy, ảnhhưởng rấtnhiều trên nãobộ của conngười nhất là cho các trẻem! Thídụ cụthể là cáchđây mấynăm, đã xảyra hiệntượng mộtsố các trẻem Nhật bị óimửa và bấttỉnh vì coi một chươngtrình truyềnhình! Hay giới yhọc càng ngày càng có khuynhướng tin và côngnhận các loạisóng từtrường, từ các dụngcụ điệntử hay các đườngdâyđiện caothế, cóthể gây nguyhại cho nãobộ conngười nếu hấpthu quánhiều!
Trởlại chuyện tửvi, theo lýgiiải của phái TVG Thiênlương nếu ngườinào anmệnh tại cung có sao Tuếphá, xungchiếu với cung thiêndi có sao Tháituế, thì ngườiđó thườnghay bấtmãn chốngđối, sinhbất phùngthời, v.v. Ðể kiểmchứng hiệntượng trên, ngườiviết chọn một lásố thídụ đểcho cung mệnh cóđược sao tuếphá: Người tuổi Canh-Thìn (1940), sinh tháng 9, giờ Tý, mệnh an ở cung tuất. Sauđó, dùng cách định vịtrí của các hànhtinh vào thờiđiểm nóitrên, thì thấy rằng vịtrí trên mặtđất vào giờ đó đốidiện thẳng với sao Mộctinh, và ở vịtrí gầnnhất.
người sinh tháng 9 giờ Tý và người sinh tháng ba giờ Ngọ đều anmệnh tại cung Thìn và có cùng sao Tuếphá tại mệnh. Khácbiệt duy nhất của hai trườnghợp trên là chỉ có người sinh tháng 9 mới chịu ảnhhưởng hoàntoàn của Tuếphá, trongkhi người sinh tháng 3 thì ngượclại không ảnhhưởng tínào vì nhờ mặttrời che hoàntòan! Một yếutố cóthể là do ảnhhưởng của sóngtừtrường quánhiều từ mộctinh, nên nãobộ của đứabé lớnlên sẽ có khuynhhướng pháttriển nhiều, thuộc loại thôngminhhơnngười, và thường đưađến trườnghợp chốngđối những chuyện chướngtai gaimắt, nên dễ đưađến bấtmãn vì không hùatheo với người được (trườnghợp của CaoBá Quát trong lịchsử). Mặtkhác cóthể do thiếu giáodục và hướngdẫn, dễ kết bèđảng với kẻxấu (Kiếp,Không, SátPhá Tham hãmđịa) thành tay đạotặc gianhùng v.v. Nênnhớ là những tay đạotặc gianhùng có tiếngtăm phầnđông đều thuộcloại thôngminh hơnngười rấtnhiều!
Hai hànhtinh gần mặttrời nhất cũng cóthể làm cơsở để an một sốsao trong Tửvi. Kimtinh (Venus) có chukỳ 0.61 và quaytrởlại vịtrí cũ (khoảng chừng 5 vòng) cho mỗi 3 năm tròn của tráiđất, nên có một sốsao trong Tửvi chỉ an theo ba (3) nhóm gồm: Thìn Tuất Sửu Mùi (Tứ mộ), hay Dần Thân Tỵ Hợi và Tý Ngọ Mão Dậu. Ðặcbiệt Thủytinh (Mercury) quay quanh mặttrời quá mau, cứ mỗi batháng làm 1 vòng, trongkhi tráiđất cứ ba tháng lại dichuyển một phầntư (1/4) vòng chungquanh mặttrời, nên theo vịtrí tươngđối của người đứng quansát từ mặtđất sẽ thấy như Thủytinh chỉ dichuyển trong 4 vịtrí chiađều trên vòngtròn (vì tầm nhìn quansát bị giánđoạn khôngliêntục do vịtrí của Thủytinh quágần mặttrời). Phảichăng vìvậy mà sao Thiên Mã và mộtsố sao khác chỉ an trong 4 cung thuộc trong 3 nhóm trên(?)
Những gì vừađược trìnhbày chothấy mặcdù khoaTửvi đẩusố khôngđược hoànhảo và còn nhiều nghivấn theo tiêuchuẩn khoahọc hiệnđại, nhưng dámchắcrằng đó chínhlà biểutượng cho tinhhoa của nền vănminh Ðôngphương, một thời rạngrỡ đã qua trong thiênniênkỷ đầutiên của nhânloại, và hyvọng sẽ có ngàytrởlại trong vinhquang của thiênniênkỷ thứba này.
Nguyễn Cường
Tham Khảo:
1) Nguyễn Ðăng Thục, Lịch Sử Triết Học Ðông Phương, Xuân Thu,1990 Inlại.
2) Encarta 98 Encyclopedia, Microsoft, 1998 Edition
3) Encyclopedia of History, Global Software Publishing, N. A., Inc., 1998
4) Sào Nam Phan Bội Châu, Chu Dịch, Khai Trí, 1969.
5) Ngô Tất Tố, Kinh Dịch Toàn Bộ, Ðại Nam, 1973.














