Nguyễn Sinh

Nhật Ký- Chuyên đề Thời sự, Chuyện Tào lao, Ăn & Chơi

15-16-17:THẾ GIỚI ĐANG BỐC MÙI

15. Thế giới đang bốc mùi


Hồi còn trẻ tôi thường nghĩ: làm người thì phải có lý tưởng, phải tin vào một cái gì đó và phải biết ước mơ….

Hàng triệu thanh niên cũng nghĩ như tôi vậy.

Nhưng thật tội nghiệp cho thế hệ thanh niên ngày nay khi những điều tốt đẹp đã tàn héo, khi lịch sử tự chứng minh rằng lý tưởng chỉ là cái mớ giẻ rách. Lịch sử tự vạch mặt chỉ tên mình là bọn đầu trộm đuôi cướp, tự vạch áo cho người xem cái lưng ghẻ lở bốc mùi của mình. Và hiện nay cái mùi ấy là mùi đặc trưng của thế giới. Từ Hoa Kỳ đến Iraq, Palestine, Israel, từ Anh đến Pakistan, Myanma, Thái Lan, Philippines… Chưa bao giờ nhân loại hỗn loạn, phức tạp, điên đảo và nhảm nhí như thời đại này.

Nhưng có lẽ chỉ có chừng một phần ba nhân loại ngửi thấy cái mùi khăm khẳm ấy, chính vì thế mà những người hành nghề chính trị trên khắp thế giới mới phát tài phát lộc. Mặt hàng kinh doanh của họ là sự dối trá, lừa bịp. Và khách hàng của họ là hàng tỷ người hiền lành, tốt bụng nhưng nhẹ dạ cả tin trên khắp mặt đất, từ Somalie cho tới Hiệp Chúng quốc Hoa Kỳ.

Tôi muốn gào khóc, quỳ lạy van xin cái khối nhân loại đồ sộ và tội nghiệp này rằng hãy dừng lại. Đừng tin ai, đừng trung thành với ai, đừng hy sinh vì cái gì cả. Rằng cả lũ chúng ta đang bị lừa.

Mọi người phải ý thức rằng mình chỉ là một cá nhân rất nhỏ bé, vô cùng yếu đuối vô cùng mong manh trước các thế lực khủng khiếp đang ngự trị trên hành tinh này. Rằng mình không làm gì được chúng đâu. Rằng mình phải cam chịu. Phải sống chung với chúng. Phải làm tôi tớ cho chúng cũng giống như hàng ngàn năm qua, tổ tiên chúng ta cũng đã làm tôi tớ cho chúng.

Đó là số phận đã được an bài. Không có cuộc cách mạng nào thay đổi được số phận đó. Và hơn thế nữa, đó không chỉ là số phận mà còn là QUY LUẬT TẤT YẾU, VÌNH CỬU VÀ BẤT BIẾN của xã hội loài người.

Khi nghe tôi trình bày những tư tưởng này Dã Nhân nheo mắt nhìn tôi một cách chế giiễu. Ông ta nói:

"Ngươi đã biết rằng đó là quy luật, là tình thế không thể đảo ngược được sao còn than thở? Như thế có khác nào ngươi than thở tại sao hết mùa Xuân lại tới mùa Hạ, hết mùa Thu lại tới mùa Đông? Ngươi hãy nhìn ngoài phố kia. Người ta vẫn đi lại, vẫn nói cười. Người ta vẫn sống, vẫn yêu nhau, vẫn ghét nhau, vẫn nhớ nhung nhau… Và trên khắp thế giới mọi người đều như thế. Dù họ biết hay không biết rằng mình đang bị móc túi đang bị lừa đảo thì họ vẫn sống, thậm chí có người vẫn rất hạnh phúc."

Tôi rất ghét cái kiểu nheo mắt chế giễu của Dã Nhân nên cãi lại quyết liệt:

"Nhưng ở những nước chậm tiến, số người bất hạnh nhiều hơn bội phần. Hàng tỷ người sống dưới mức nghèo khổ. Hàng tỷ người sống như súc vật. Đó là vì họ không biết mình đang bị móc túi, đang bị lừa đảo. Và không một ai giúp họ biết được điều đó cả. Những người chết đói ở Congo không hề biết rằng ông Tổng thống Mobutu đã ăn cướp của họ 80 tỷ đô la. Những đám dân đen cùng khổ trong những khu ổ chuột ở Jakarta, những người nông phu chân lấm tay bùn ở Philippines không hề biết rằng những vĩ nhân của họ là Suharto, Ferdinand Marcos đã phỗng tay trên của họ hàng trăm tỷ đô la. Đó là chưa kể Campuchia, Myanma, Việt Nam… Những đám dân cùng khổ ấy họ vẫn sống, vẫn ăn, vẫn thở, thậm chí vẫn yêu nhau, vẫn sinh con đẻ cái… nhưng thầy có thể dửng dưng trước những bất công như vậy không?"

"Dửng dưng hay không dửng dưng thì cũng chẳng làm được gì. Giả dụ như ngươi là một siêu nhân có thể trong một đêm lật đổ được chính quyền và đứng ra cầm quyền, lập một chính phủ mới, một nhà nước mới. Rồi chuyện gì sẽ xảy ra? Lại vẫn lừa đảo, tham nhũng, ăn cắp, nói dối… Vì sao? Vì đó là bản chất của mọi nhà nước. Kể cả nước Mỹ. Ngươi không tin sao? Vậy thì hãy cùng ta xem bộ phim này.

Tên phim: FAHRENHEIT 9/11
Thể loại: Phim tài liệu.
Đạo diễn: Michael Moore.
Giải thưởng: Cành Cọ Vàng tại Liên hoan Phim Cannes (Pháp) năm 2004

Diễn tiến các trường đoạn chính của phim như sau:

"Đài truyền hình Mỹ tuyên bố Gore đã vượt qua Bush về số phiếu bầu. Chỉ còn lại bang Florida là chưa kiểm phiếu nhưng chính Florida là bang ủng hộ Gore nên chắc chắn là Gore sẽ đắc cử Tổng thống Hoa Kỳ."

"Nhưng sau đó thì người ta tuyên bố Bush thắng cử. Điều này chứng tỏ rằng bầu cử ở Mỹ chỉ là chuyện hình thức, thực ra các Tổng thống đều đã được các tập đoàn tư bản quyết định sẵn từ trước rồi."

Dã Nhân bình luận thêm trong lúc xem phim: “Trên thực tế, những tập đoàn tư bản Mỹ không chỉ quyết định ai sẽ là Tổng thống mà còn có quyền giết bất cứ Tổng thống nào không vâng lời họ. Đó là trường hợp Tổng thống Kennedy bị ám sát ngày 22 tháng 11 năm 1963 tại Dalas, sau đó, vào ngày 6/6/1968 em trai ông là Robert Kennedy khi đang vận động tranh cử Tổng thống cũng bị bắn chết tại Los Angeles vì ‘người ta’ thấy rõ rằng ông này rất có khả năng đắc cử.”

xem phim tiếp:

"Trước khi làm Tổng thống, Bush từng là sĩ quan cận vệ. Lúc ấy ông ta có một người bạn thân là James Bath là sĩ quan cùng đơn vị. Về sau này, gia đình Bin Laden thuê James Bath làm quản lý tài chánh cho các công ty của họ tại Hoa Kỳ. James Bath đã bí mật giúp đỡ tài chính cho Bush trong suốt quá trình hoạt động chính trị và tranh cử. Chính vì thế mà sau khi đắc cử Tổng thống, Bush cho người dùng bút đen xóa những chứng cứ về mối quan hệ giữa ông với James Bath. (Những chỗ tẩy xóa này được chiếu trên màn ảnh)."

"Khi Bin Laden cho máy bay đâm vào hai toà nhà WTC tại New York thì Tổng thống Bush đang viếng thăm một trường mẫu giáo và đang ngồi nghe một học sinh kể chuyện cổ tích. Lát sau cận vệ vào báo chiếc máy bay thứ hai đâm vào toà nhà thứ hai. Bush chỉ nhíu mày và lại tiếp tục nghe, như thể là ông ta đã biết trước những việc đó.

Ngày 13/9 tức là hai ngày sau vụ tấn công, Tổng thống Bush đến toà đại sứ Ảrập Saudi (quê hương của Bin Laden) ăn cơm trưa với ông đại sứ. Lời bình luận trong phim nói rằng: “Bush đến để trấn an ông đại sứ rằng chúng tôi đã thu xếp mọi thứ, ông đại sứ cứ yên tâm” "

"Ngay hôm sau vụ tấn công, tất cả các phi trường tại Mỹ đều bị đóng cửa và các máy bay đều bị cấm cất cánh. Nhưng vẫn có 12 chiếc máy bay chở toàn bộ gia đình Bin Laden rời khỏi nước Mỹ. Lời bình luận trong phim: “Cuộc di tản này nhằm tránh cho gia đình Bin Laden khỏi bị FBI thẩm vấn. Cùng lúc, tại Ảrập Saudi, gia đình những kẻ khủng bố trong vụ 11 tháng 9 cũng được chính quyền bảo vệ, không cho tiếp xúc với báo chí.”"

"Gia đình Bin Laden đã đầu tư 860 tỷ USD vào công nghệ chế tạo vũ khí tại Mỹ, bằng 7% nền kinh tế Mỹ."

"Bush ngăn cản quốc hội điều tra về vụ 11/9 và lập một uỷ ban điều tra riêng."

"Gia đình Bush ngoài dầu hoả còn đầu tư vào công nghệ chế tạo vũ khí hiện đại với công ty mang tên Carlyde."

"Một bà mẹ có con trai chết tại Iraq nói: Hàng ngày chúng ta phải đối mặt với sự ngu dốt."

"Một đoạn phim dài chừng một phút chiếu cảnh ca sĩ Britney Spears ủng hộ Tổng thống Bush. Việc này chứng tỏ vẫn còn rất nhiều người không biết rằng thế giới đang bốc mùi."

"Phần lớn những lính Mỹ bị đưa sang chiến trường Iraq và Afghanistan đều là con em nhà lao động nghèo, thất nghiệp, nhất là người da màu. Một đoạn phim ghi lại hình ảnh và lời nói của các thanh niên Mỹ khi tiếp xúc với những người đi tuyển mộ lính. Họ là những người thất nghiệp và không còn sự chọn lựa nào khác ngoài chiến trường Iraq và Afghanistan."

"Đạo diễn Michael Moore đích thân đến trước cửa Thượng viện Hoa Kỳ để phỏng vấn các thượng nghị sĩ. Tất cả các vị này không ai có con em đi chiến đấu tại Iraq. Một số thượng nghị sĩ chạy trốn khỏi cuộc phỏng vấn."

Dã Nhân bình luận trong lúc xem phim:

"Sản xuất vũ khí và dầu mỏ là hai nền công nghiệp hàng đầu của Mỹ. Giới tài phiệt Mỹ trở nên giàu có nhờ vào hai nền công nghiệp khổng lồ này. Vì thế họ phải mở các cuộc chiến tranh để chiếm lấy các mỏ dầu và bán vũ khí".

"Vũ khí được bán cho chính phủ Mỹ."

"Chính phủ Mỹ dùng tiền của ngân sách, tức là tiền thuế của nhân dân để mua vũ khí."

"Vậy thì ai hưởng lợi? Trả lời: Các công ty chế tạo vũ khí hưởng lợi, các quan chức chính phủ hưởng lợi từ ‘huê hồng’ khi ký các hợp đồng mua bán vũ khí hàng trăm tỷ đô la."

"Ai bị thiệt hại? Trả lời: Nhân dân Mỹ bị thiệt hại vì tiền đóng thuế của họ bị chảy vào túi một nhóm người. Vì con em của họ phải chết cho các hợp đồng mua bán vũ khí ấy."

"Có ai bị thiệt hại nữa không? Trả lời: Có. Đó là nhân dân Việt Nam, nhân dân Iraq, nhân dân Afghanistan. Họ đã phải chịu cảnh tan thương chết chóc vì chiến tranh.

Và còn một sự thật hết sức quan trọng nữa là: Trong bất cứ cuộc chiến tranh nào mà chính phủ Mỹ tiến hành, nước Mỹ có thể thắng hoặc thua nhưng các công ty chế tạo vũ khí của Mỹ và các quan chức chính phủ có liên quan thì LUÔN LUÔN THẮNG vì mục tiêu của họ là BÁN ĐƯỢC HÀNG còn chiến cuộc kết thúc thế nào không quan trọng. Đôi khi họ còn muốn kéo dài chiến tranh để tiêu thụ được nhiều vũ khí hơn."

Tôi thấy Dã Nhân đang trổ tài hùng biện nên muốn chọc tức ông ta một chút. Tôi nói:

"Một bộ phim vạch trần những sự thật ghê gớm như vậy mà chính phủ Mỹ vẫn cho ra đời chứng tỏ nước Mỹ cũng rất tôn trọng dân chủ chứ?

Dã Nhân quay nhìn tôi như nhìn một con quái vật:

"Ái chà chà! Ngươi làm ta ngạc nhiên đấy. Thế mà lâu nay ta vẫn tưởng ngươi là một thằng thông minh. Ngươi không thấy là toàn bộ nội dung phim nhằm chứng minh rằng nhân dân Mỹ đã bị lừa à? Bầu cử cũng lừa mà chiến tranh cũng lừa.

Vậy thì tại sao nó cho công bố phim này? Vì nó quá mạnh. Nó đếch sợ dư luận. Nó ngồi xổm trên dư luận mà ỉa. Tổng thống của nó mà nó còn giết cả ba bốn ông đủ thấy nó mạnh cỡ nào, nó coi thường dư luận cỡ nào. Và sau khi phim này được công bố và nhận giải thưởng Cannes thì Tổng thống Bush vẫn tái đắc cử nhiệm kỳ 2. Vì sao? Vì kết quả bầu cử đã được quyết định sẵn rồi. Bây giờ thì ngươi đã hiểu chưa?"

"Bạch thầy, con hiểu."

16. Những cộng tác viên của tôi


Có một dạo tôi làm trưởng ban Văn-Xã của báo Tuổi Trẻ. Đó là nơi tôi đã đăng những sáng tác đầu tiên của hầu hết những nhà văn, nhà thơ quen thuộc ngày nay như Đỗ Trung Quân, Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Đông Thức, Đoàn Thạch Biền, Lê Thị Kim, Bùi Chí Vinh… và cả những tác phẩm của các cây bút miền Bắc như Trúc Chi, Bùi Việt Phong, Lệ Bình, Hoàng Đình Quan…

Có người cho đến giờ vẫn là bạn thân của tôi, có những mối quan hệ mờ nhạt dần sau “vụ Nổi loạn.”

Có kẻ sợ liên luỵ. Có người quay mặt đi. Tôi thương hại họ, vì họ cứ tưởng xử sự như vậy là họ được lợi, thực sự họ đang sống và viết như những thằng bồi bút hạng bét với mớ chữ nghĩa vụn vặt, mớ kiến thức lem nhem và với tầm nhìn của một con ếch ngồi đáy giếng.

Dẫu sao tôi cũng cám ơn báo Tuổi Trẻ trong những ngày đầu giải phóng đã “tạo điều kiện” cho tôi lặn lội vào các nông trường, xông pha vào những nơi rừng sâu nước độc cùng với các bạn thanh niên xung phong TPHCM và đi cùng với Mặt trận 479 sang tận Campuchia trong chiến dịch truy quét bọn Pol Pot.

Tôi đã trải qua những đêm đốt lửa bên dòng kinh, đã thao thức với bầy sóc bay tuyệt đẹp những đêm trăng huyền thoại trong rừng Đắc Nông, đã hát trên lưng đàn voi băng qua các buôn làng heo hút… đó là những vốn sống quý báu mà tôi vẫn thường dùng trong các tác phẩm của mình.

Tôi đã sống nhiều chế độ, nhiều cảnh đời, đã sống hết những gì mình có thể sống được, đã làm Việt cộng, làm “lính nguỵ”, đã lặn lội nơi rừng sâu nước độc, bưng biền, đồng khô cỏ cháy, đã lang thang trên mọi nẻo hành tinh… tôi cần gì những bon chen vụn vặt bần tiện của cái xứ xở mà bồi bút nhiều như sâu bọ.

Nhìn lại quá khứ, thấm thía câu nói của Phạm Lãi khi từ bỏ Câu Tiễn đi ở ẩn:

"Khi người ta chung một mối lo thì người ta thương nhau. Khi người ta chung một mối lợi thì người ta hại nhau."

Sau giải phóng, những “mối lợi” ấy nhiều quá nên người ta hại nhau là chuyện thường. Người hại tôi nhiều nhất là ông nhà văn Vô Hạnh mà tôi đã nói trong chương “Trí thức nằm vùng” ở phần đầu sách này. Về sau ông làm lành với tôi, một lần gặp tôi ở Nhà xuất bản Văn Nghệ, ông chạy đến tay bắt mặt mừng. Tôi tha thứ cho ông. Nhưng tôi nản quá. Cảm giác sau cái bắt tay là sự chán chường, nó giống như mình vừa gặp một điều nhảm nhí, vớ vẩn. Nó giống như tro tàn. Mối quan hệ giữa người và người mà đến như thế thì tội nghiệp cho phẩm giá con người quá.





Cũng may tôi đã gặp Kim Lê. Cô sớm nổi tiếng với những bài thơ tình xuất thần, nhất là những bài cô viết về cỏ, về chim sẻ…

Tôi mang ơn cô rất nhiều về những gì mà cô đã dành cho tôi trong những ngày đầu giải phóng. Lúc ấy cả nước không có gạo ăn. Mọi người đều phải ăn bo bo hoặc bột mì. Những chiều cuối tuần Kim Lê thường rủ tôi đi thăm nội. Bà sống một mình trong cái nhà nhỏ ngoại ô thành phố. Bà thường dọn sẵn bữa chiều đợi chúng tôi bên ngọn đèn dầu. Ba người quây quần quanh mâm cơm. Tôi mở nắp vung và ngạc nhiên khi nhìn thấy cơm trắng trong nồi. Đã hơn một năm rồi tôi không nhìn thấy cơm. Và gần như trong đầu tôi đã mất ý niệm về hạt cơm. Nhưng bây giờ, nó chợt hiện ra như trong cổ tích. Nó đẹp như một vòng nguyệt quế trắng tinh và thơm ngát. Tôi cầm chén cơm mà những ngón tay run lên vì tôi đang phải kìm chế sự thèm khát.

"Em không phải ăn bột mì?"

"Gia đình em buôn bán nên vẫn thường có gạo."

Một con thằn lằn nhỏ từ trong kẹt cửa bò ra, mon men đến gần bàn chân nhăn nheo của nội. Bà cụ nói:

"Những lúc các con không về, nội chơi với con thằn lằn này. Tôi nghiệp, nó chỉ xin một hạt cơm thôi.

Buổi tối Kim Lê ngủ lại với bà. Tôi đạp xe lóc cóc trở về. Hôm sau Kim Lê hẹn tôi ở Viện Khoa học nơi cô làm việc. Lê từ trong thang máy bước ra, ôm chiếc cặp da trước ngực."

"Nhắm mắt! Đưa tay ra!"

Tôi làm theo. Và Lê đặt trên tay tôi hai gói giấy khá nặng.

"Gì vậy?” Tôi hỏi.

Lê cười khúc khích và bỏ chạy. Mất hút trong thang máy. Đó là hai gói quà quý giá nhất thời đó. Gói lớn là gạo, gói nhỏ là đường. Đường! Bạn biết không? Thiếu nó bạn sẽ hóa điên. Vì tôi đã một lần hóa điên như thế. Cơn thèm mọc ra trăm cái mỏ. Mổ trong não. Rỉa lá gan. Tay chân rã rời. Choáng váng. Trong nhà này, cái gì có thể có đường? Không kẹo, không sữa, không trái cây. Thử tìm một chút mật trong hoa?

Tôi chạy ra ban công, ở đó có mấy cái hoa dâm bụt. Mở tung cái hoa ra. Mút cái nhuỵ. Đắng nghét. Lũ ong đã nhanh chân hơn mình rồi. Suy nghĩ xem còn cái gì nữa? Đúng rồi. Thuốc tây! Có thể mình vẫn còn những viên thuốc bọc đường. Lục tung ngăn tủ. May quá, còn được 5 viên thuốc gì màu đỏ. Bỏ vô miệng. Ngậm. Đắng nghét. Nhổ ra không kịp.

Có những buổi chiều sau giờ làm việc, chúng tôi ngồi bên bờ sông Sài Gòn. Lê đọc những bài thơ mới làm cho tôi nghe. Đó là những tác phẩm xuất thần, tác phẩm để đời của Lê, là những bông hoa đẹp trong văn học Việt Nam.

Chim sẻ như lá cây
Rụng mà không rớt
Bầu trời trước nhà tôi bé đủ nhìn
Cớ gì mà chim kêu rối rít
Cho lòng tôi cũng rối như chim
(trích “Hoà âm chim sẻ")

Khi mái tóc tôi lần đầu biết bay
Mọi loài cỏ đều biến thành con gái
Trong mối tình tôi lần đầu vụng dại
Có hương vị cỏ gừng
Lần đầu xoe đôi mắt
Gặp cỏ gà rưng rưng
(trích “Tôi và cỏ”)

Tiếc cho Lê đã bỏ con đường hồn nhiên của mình để dẫn thơ vào một lối khác. Những tập thơ sau này của cô không làm tôi rung động.

Lúc chia tay, tôi ôm Lê dưới một vòm hoa giấy đỏ rực. Lê rúc vào người tôi. Và kêu lên. Em sẽ nhớ anh lắm.

Bây giờ thì những chuyện ấy đã xa vời.

Chúng mình đều đã già rồi phải không Lê?

17. Những chiếc lá rơi vào bụi hồng

Những chiếc lá đâm chồi không ai hay
Già cỗi giữa thinh không
Và chết trong những ngọn gió

Tác phẩm của tôi như những chiếc lá rụng
Rơi vào bụi hồng
Những chiếc lá rụng không ai nhặt
Tự gom lại giữa vòng xoáy
Có người bật lên que diêm
Nhóm thành ngọn lửa

Ngọn lửa nhỏ không dùng để làm gì
Vẫn có thể đốt lên điếu thuốc
Giữa cuộc đời mênh mông

Ngọn lửa nhỏ ấy đang cháy trong ngôi nhà xinh xắn yên tĩnh tại thành phố Lake Forest bang California Hoa Kỳ.

Một vùng thiên nhiên trầm mặc. Sáng sớm thường se lạnh. Tôi đi bộ dọc theo bờ suối. Một bên là rừng, một bên là con đường nhỏ dành cho tôi và những con thỏ nhỏ xíu. Những con thỏ còn ngái ngủ, bước ra khỏi bụi gai. Đàn sáo đen đi tìm những bông cỏ dại. Một chai huýt-ki uống dang dở bỏ lại bên chiếc cầu gỗ.

Các phương tiện truyền thông của Mỹ nói đây là mùa Hè mát nhất tại Mỹ trong vòng mười năm qua. Dường như thiên nhiên đang ủng hộ tôi, ban tặng tôi những buổi sáng tuyệt đẹp. Mới tuần trước, mưa tầm tã ở Wichita. Ngày 5 tháng 7 tôi đến phi trường Dallas mưa vẫn đuổi theo. Và sương mù dày đặc. Nhưng khi đến Cali thì gặp nắng. Mà trời vẫn lạnh. Buổi sáng xanh. Bình yên. Ngọn gió vẫn thanh thản. Và con thỏ rừng vẫn đứng lặng thinh bên những bụi gai.

Có lẽ khi người Mỹ chưa đến vùng đất này thì loài thỏ rừng đã xây tổ ấm trong những bụi gai, và chúng vẫn ra đứng bên bờ suối mỗi buổi sáng. Chúng vẫn chậm chạp và lặng lẽ. Chúng làm cho buổi sáng ngưng đọng lại, cho ký ức tôi ngưng đọng lại.

Hôm qua tôi đi San José tìm Phượng theo địa chỉ mà cô đã cho tôi cách đây mười năm. Nhưng đó chỉ là một trạm sửa chữa của hãng Hitachi. Phượng đã thất lạc. Phượng chỉ còn là hình bóng quá khứ. Một chiếc váy sặc sỡ hoa trên nền đỏ chói. Trong gió biển lồng lộng, chiếc váy tung lên như cánh diều. Phượng bước trong một vũ điệu man dại. Tóc bay như cánh chim. Môi đỏ chót. Chúng tôi ngồi trong một cái quán cua biển cạnh mé nước. Phượng gọi thật nhiều món ăn.

"Hôm nay em đãi anh."

"Vì sao?"

"Vì là sinh nhật của em."

Tôi không biết điều đó. Bữa tiệc sinh nhật chỉ có hai người. Một cú điện thoại rủ đi Vũng Tàu. Một chuyến xe đò vội vàng. Đến khách sạn Phượng thay đồ. Và chọn cái váy sặc sỡ. Em mỏng lét, nhưng người ta nói ngực em là ngực sừng trâu. Vì đầu vú nghểnh lên như sừng trâu. Tôi thấy đẹp. Phượng lộng lẫy. Và hoang dã như một cô gái người Hawaii.

Buổi chiều đầu tuần êm ả trong quán cua vắng người. Ăn và mút ngón tay.

"Sao em cười hoài vậy?"

"Em sắp xa anh rồi."

"Đi đâu?"

"Đi vượt biên."

Đó là một buổi chiều của năm 1978. Lúc ấy Phượng là phóng viên báo Sài Gòn giải phóng. Và chúng tôi mới quen nhau 3 tháng. Phượng ở khu tập thể Bạch Kim đường Chữ Thập Đỏ. Một sáng chủ nhật nào đó tôi đến chơi và Phượng cũng mặc cái váy sặc sỡ này. Cô ngồi trên chiếc ghế bành rộng và tôi ngồi bệt trên sàn gạch, ngay dưới chân cô. Phượng xoa đầu tôi như đứa trẻ. Tôi nhắm mắt và cắn cái gấu quần của cô như một con chó con. Rồi Phượng cúi xuống, ngực chạm trên tóc tôi. Phượng đã ôm tôi như một người mẹ. Và mọi thứ diễn ra tự nhiên, dịu dàng, nhẹ, chậm và âu yếm.

Buổi chiều trong quán cua tôi mới biết Phượng đang ở với cha và một người mẹ kế. Phượng không thích cảnh ấy và ra đi.

"Em bỏ anh sao?"

"Vì anh đã có gia đình rồi."

Buổi tối chúng tôi ngồi trên kè đá. Chỉ có những vì sao. Ngoài ra là đen kịt. Biển cũng đen. Cả những ngọn sóng cũng chỉ ánh lên một chút lân tinh mờ ảo. Tôi nói:

"Biển thật đáng sợ."

"Nhưng em vẫn phải đi. Người ta thường chọn những đêm tối đen như vậy để ra đi."

Tôi thương Phượng xót cả lòng. Nước mắt chảy trong bóng tối. Nhưng Phượng thì cười. Đàn ông gì mà yếu đuối vậy.

"Thôi, mình về khách sạn."

Nhưng chúng tôi không ngủ. Phượng bảo tôi đệm đàn cho cô hát. Trên đời này không có người nào hát hay như Phượng. Đó là chất giọng của Bạch Yến. Khi còn là sinh viên tôi đã suýt ngất xỉu khi lần đầu tiên nghe Bạch Yến hát bài "Đêm đông" trên đài BBC. Tiếng hát ấy có năng lực đánh thức tất cả sao trên trời và làm bừng sáng địa ngục.

Phượng đứng bên cửa sổ nhìn ra biển.

Tiếng hát bất tận. Không cần MC. Nối tiếp nhau, thanh thoát, lạnh giá và lộng lẫy. Tiếng hát đã truyền cảm hứng cho cây đàn. Chúng tôi biểu diễn quên thời gian, quên cả chính mình. Cho đến khi nghe có vài tiếng lao xao bên ngoài.

Tôi mở cửa phòng và nhìn thấy một đám đông.

"Anh chị cứ tiếp tục đi."

"Chúng tôi đang nghe."

"Chúng tôi đã đứng đây cả tiếng đồng hồ."

Phượng ra chào các fans hâm mộ và nói cám ơn.

Sáng hôm sau tôi đòi ở lại tiễn Phượng lên tàu nhưng không được. Vì người ta muốn bảo mật tuyệt đối.

Đó là lần cuối cùng tôi gặp Phượng.

Trong tác phẩm Người tình cũ (nxb Văn Nghệ ấn hành năm 1988) tôi có viết một chương về giọng hát của Phượng:

Trích một đoạn ngắn:

“Khách ngồi quanh các gốc cây, trên ghế đá, trên cỏ. Thức ăn nhẹ, Buche de Noel, rượu nho, cà phê, rượu mạnh.

Tiếng dương cầm và vĩ cầm sánh đôi nhau đùa giỡn trong khu vườn đầy ánh sáng. Ca sĩ Thuý Vân hát liên tiếp ba bài Giáng sinh. Những người kế tiếp đều là ca sĩ nhà nghề. Những bản tình ca xen kẽ với nhạc Giáng sinh cứ nối nhau không dứt.

Gần hai giờ sáng, những tách cà phê đã cạn và rượu chỉ còn sánh một chút dưới đáy ly, hai người nhạc sĩ không đàn nữa. Cây piano đã đóng nắp lại, cây violon cũng được cất trong hộp, bạn bè ngủ gà ngủ gật.

Chủ nhà kêu lên:

"Trời ơi sao lại ngủ, đêm nay phải thức! Phải hát!

Hai chàng nhạc sĩ thu mình trong chiếc ghế mây. Họ uống cà phê đậm và lơ đãng nhìn ngắm bầu trời.

Giờ này mọi người đều muốn quay về thế giới riêng của mình. Chính Phượng cũng muốn như thế. Chủ nhà khẩn khoản:

"Nhưng Phượng phải hát một bài mới được.

Phượng bỏ dép ra, hai bàn chân trần giẫm lên cỏ uớt. Tôi ngồi cạnh đôi dép da, vừa hút thuốc lá vừa quan sát nó.

Bỗng nhiên chung quanh im lặng lạ thường. Trong cái im lặng ấy Phượng hát. Giống như đóa hoa tình cờ nở giữa rong rêu, giống như con chim lạ ở đâu bay về đậu trên mái đình cổ kính và hót.

Phượng hát bài “Ngậm ngùi”. Sao đêm Giáng sinh mà em hát bài “Ngậm ngùi”? Tiếng hát lạnh chạy suốt qua những lồng ngực, qua những đôi mắt ngái ngủ. Hai chàng nhạc sĩ rụng rời khi tiếng hát lạnh buốt ấy dạt đến. Chúa đã sai người con gái này xuống để hát thánh ca, sao các người ngồi im đó? Hai nhạc sĩ mặc khải được giọng nói của thiên thần từ trên trời và hiểu rằng mình sẽ bị ném vào hoả ngục nếu không chạy đến cây đàn của mình.

Và họ chạy đến như kẻ tôi tớ của Chúa. Phượng hát trong nền nhạc lộng lẫy và dân thành Bêlem bồng bế nhau tới trước hang đá. Tôi biến thành con lừa nhỏ nằm hiền lành bên đôi xăng đan và gặm nó giữa hai hàm răng rất to của mình.

Những cô ca sĩ chuyên nghiệp ngạc nhiên trước giọng hát của Phượng, sợ hãi đứng nép vào gốc cây, những cô gái xinh đẹp rực rỡ kia nhạt nhoà hết son phấn và biến thành cô thôn nữ hiền lành tay cầm lễ vật đi theo sau ngựa của ba vua, băng qua sa mạc mênh mông và đến đây. Nhưng Phượng thì vẫn giản dị, đứng hát như cô gái Digan bên đống lửa."




Nhưng Người tình cũ không phải là một chuyện tình. Đó là tác phẩm viết về phong trào sinh viên các đô thị miền Nam trước 1975.

Năm 1988 sau khi cuốn sách ra mắt độc giả, Ban Tuyên huấn Thành uỷ kết luận: Cuốn sách đã có một cái nhìn đen tối về cách mạng. Cơ quan này cũng kết luận về tác phẩm Kẻ tử đạo cuối cùng của tôi bằng một câu gọn lỏn: một cuốn sách chống cộng.

Năm 1990 Nhà xuất bản Văn Học in cuốn Hoa dại lang thang. Cuốn sách viết về sự cấu kết của những ông chủ doanh nghiệp giàu có và giới cầm quyền cộng sản để khuynh đảo thị trường và trục lợi. Trong bối cảnh đó nhân vật chính nổi lên. Đó là một thằng Hề. Hề vốn là một trí thức trẻ đi theo kháng chiến. Sau giải phóng hắn làm bí thư xã. Nhưng hắn chán ghét cái công việc đó và bỏ đi làm hề trong một gánh xiếc.

Nhân vật thứ hai là Phượng, một cô gái trẻ, con nhà giàu. Phượng sống dữ dội, phóng túng.

Tình yêu đã dẫn thằng Hề và Phượng lang bạt khắp nơi, chọc phá và chế giễu bọn quan lại mới.




Về tác phẩm Vua Mèo (Nxb Trẻ 1989), Giáo sư Hoàng Thiệu Khang lại nhìn ở một góc độ triết học và thẩm mỹ khác:

“Cái bản nhiên tuyệt mỹ hiển nhiên chưa là hiện thực; nó chỉ mới là cái hướng, cái khát vọng, nên đó cũng sẽ là cái nửa thật, nửa hư. Ta hiểu vì sao Ðào Hiếu đã dựng lên một hiện thực trực tiếp của tác phẩm hư-hư-thực-thực.

Lọ Lem sống hồn nhiên như cỏ cây, như mây, như gió, như sóng biển, muốn dữ dội thì dữ dội, muốn hiền hoà thì hiền hoà, khi vui thì cười, khi buồn thì khóc... Bằng cái thẩm mỹ tự nhiên ấy. Lọ Lem “sống” trong đời thật.

Vua Mèo đi xa hơn, ông đã vượt qua những cản ngăn để về với cái chất bản nhiên người. Vua Mèo không biết đến lòng hận thù.

Vậy là, với Vua Mèo, cô đơn là một phương thức để thấu thị cuộc đời, chứ không là bản chất của cái bản nhiên... Hai con người bản nhiên ấy chưa được cuộc đời hôm nay dung nạp hết, ta hiểu vì sao họ sẽ về với nhau nơi hòn đảo xa hơn...”


Phản ứng của Bùi Chí Vinh về chương 16 (đã đăng trên TaLaWas)
23.2.2008
Bùi Chí Vinh
Vài lời cần nói cho rõ trong phần các cộng tác viên của tự truyện "Lạc đường" do Đào Hiếu viết

Tôi không có ý kiến gì về cuốn tự truyện Lạc Đường của Đào Hiếu. Mỗi người đều có quyền tiết lộ một phần đời của mình theo cách riêng của họ. Trong giang hồ gọi là “hồn ai nấy giữ”. Đào Hiếu có quyền viết tự truyện để phán xét người khác thì tất nhiên người khác, nếu có khả năng cầm bút, cũng có quyền bút chiến bằng tự truyện của họ. Nhưng đó là chuyện sau này không liên quan đến tôi.

Chuyện liên quan đến tôi là phần nói về các cộng tác viên trong tự truyện của Đào Hiếu, đã đăng trên mạng Talawas. Trong đó Đào Hiếu khẳng định Nguyễn Nhật Ánh, Đỗ Trung Quân, Đoàn Thạch Biền, Nguyễn Đông Thức, Lê Thị Kim, Bùi Chí Vinh… là những cộng tác viên từng viết bài gửi báo Tuổi Trẻ mà Đào Hiếu phụ trách biên tập. Trên thực tế, chỉ có Ánh, Quân, Biền, Thức, Kim… là cộng tác viên. Bởi trang văn nghệ báo Tuổi Trẻ ngày đầu giải phóng, ngay lúc mới thành lập, do tôi và anh Hoàng Nghĩa tức “Đôi Nạng Xứ Dừa” cùng phụ trách thơ truyện và khi đó thì Đào Hiếu tức “Biên Hồ” còn ở Ban Thiếu nhi Thành đoàn. Sau khi Hoàng Nghĩa chuyển qua công tác khác thì Đào Hiếu mới bổ sung phụ trách truyện và tôi vẫn phụ trách thơ. Những chuyện tầm ruồng này mà “sai một li đi một dặm” thì tội nghiệp cho một thằng rửa tay gác kiếm khinh bạc cuộc đời như tôi lắm.

Nằm trong chăn mới biết chăn có rận. Tôi và Đào Hiếu đều biết những con rận là ai và hầu như cùng dựa lưng chịu mọi tai ương đổ xuống để bắt rận, cuối cùng mạnh ai nấy đều rời bỏ Thành đoàn. Nói lên chuyện này để ông anh tôi là Đào Hiếu biết. Rằng khi cùng chung chịu trách nhiệm trang mục thời kỳ 1976 – 1977, chúng ta cùng từng đoạt giải thưởng Văn học Thành phố đầu tiên sau giải phóng, với Đào Hiếu là truyện dài Giữa cơn lốc và với tôi là tập thơ Hạnh phúc có thật. Chúng ta cùng chịu hoạn nạn, lẽ nào bây giờ trong tự truyện Đào Hiếu lại đem người bạn trẻ mà anh xem là “tài hoa” của mình thành “trái độn” cộng tác viên cho anh dương danh hay sao?

Tôi đã suy nghĩ suốt một đêm để viết lên bài đính chính một chi tiết tưởng rằng không đáng kể này nhưng hoàn toàn làm tổn thương và xúc phạm đến một người cầm bút trọng nghĩa khinh tài, dám làm dám nói và rất ghét những kẻ đội trên đạp dưới. Tôi nghĩ rằng một chi tiết nhỏ sơ suất như thế cũng đủ làm giảm giá trị nhân cách người viết. Tự Đào Hiếu hiểu điều này hơn tôi hết. Đáng tiếc thay!

18-19: LỜI THÚ TỘI CỦA MỘT SÁT THỦ13-14: CHÚT QUÀ TẶNG CỦA MÙA ĐÔNG

Comments

hunganh1 Wednesday, March 5, 2008 2:32:18 PM

chao!co dip di can tho chua? toi co loi moi. ok?

ngsinh Wednesday, March 5, 2008 5:50:50 PM

Van~ chua em oi. Chac' phai qua mua` he`. Thanks
February 2012
M T W T F S S
January 2012March 2012
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29