Sunday, 20. May 2007, 18:30:21
Một đoạn kinh Koran
THẾ GIỚI HỒI GIÁO ( PHẦN 8 )
LÀNG XÃ
Các thôn làng Hồi giáo giống với những thị trấn nhỏ hơn là làng quê. Chúng thường nằm rải rác bao quanh các thành phố và các thị trấn lớn giống như các điện tử xoay quanh hạt nhân nguyên tử vậy.
Các ngôi nhà trong làng thường quy tụ lại một chỗ, nằm kề sát nhau chứ không phân tán trên những lô đất riêng biệt. Đa số các ngôi nhà đều có một mảnh sân nhỏ để nuôi gia cầm và làm kho chứa đồ. Mảnh sân này cũng là nơi nấu ăn, làm việc, nơi sinh hoạt gia đình và để trẻ con chơi đùa. Và toàn bộ ngôi nhà được quây lại bằng những bức tường vây kín bốn bề.
Các làng xóm Hồi giáo luôn có một chỗ ở dành riêng cho khách của làng đến chơi hay chỉ đơn giản ghé qua, làng nào có điều kiện còn cho xây cả những căn phòng trải thảm trong nhà để làm nơi cho khách giải trí nữa.
Trong các làng xóm, thánh đường Hồi giáo thường sẽ kiêm luôn chức năng là trường học cho trẻ em, mặc dù ngày nay giáo dục thế tục đã thay thế cho giáo dục thánh đường, nhưng điều đó thường chỉ có nghĩa là các giáo viên sẽ giảng dạy ở trường học thay cho các giáo sĩ hay các vị seikh. Thánh đường cũng là nơi hội họp của dân làng để giải quyết những sự việc nảy sinh trong cộng đồng nhỏ của họ. Tuy vậy, nhiều làng thường tổ chức hội họp ngay dưới bóng cây ngoài trời.
Mặc dù trong hầu hết các nước Hồi giáo ngày nay đã có nhiều người dân nông thôn được học hành cao hơn, nhưng cuộc sống làng xã vẫn không thay đổi gì nhiều sau nhiều thế kỷ. Dân làng thường nghèo hơn dân thành phố, những tiện nghi hiện đại của thành phố hầu như không có trong các làng xóm.
GIA ĐÌNH
Gia đình và ngôi nhà trong xã hội Hồi giáo là một thế giới cực kỳ riêng tư. Các ngôi nhà ở thành phố đều có vẻ co thủ, hướng vào bên trong. Các bức tường quay ra đường phố hầu như không có cửa sổ, trừ một cánh cổng dẫn vào sân trong. Các căn phòng trong ngôi nhà phổ biến quay vào sân trong, còn những bức tường màu trắng ở bên ngoài che giấu đi các hàng hiên và những khu vườn bên trong được trang trí tùy theo thẩm mĩ và tình hình tài chính của từng nhà. Ngay cả những ngôi nhà hiện đại cũng vẫn giữ vẻ riêng tư và co thủ này.
Trong một ngôi nhà người ta có thể đi từ phòng này sang phòng khác qua những lối đi có mái che, và đã có thời đó là không gian duy nhất mà những người phụ nữ được tự do đi lại. Trong nhiều ngôi làng, những ngôi nhà vẫn còn được xây dựng với một kiểu cách cô lập rất cao, phòng này quay mặt vào phòng khác, với các đường hành lang bên trong mà người ngoài chỉ có thể nhìn thấy được từ bên trên.
Gia đình là trung tâm cuộc sống cá nhân của người Hồi giáo. Gia đình là tất cả những người thân thuộc cùng sống chung dưới một mái nhà. Đời sống gia đình Hồi giáo tuân theo chế độ gia trưởng chặt chẽ và dựa trên cơ sở của gia đình mở rộng (đại gia đình) – nghĩa là có ba hay thậm chí bốn thế hệ cùng sống chung với nhau. Những thành viên có thu nhập trong gia đình phải có bổn phận lo lắng cho những người già và trẻ em không tự xoay xở được. Các thành viên có ý thức rất mạnh mẽ về một gia đình ổn định.
Ở các vùng nông thôn, quy mô của các gia đình vẫn rất lớn vì hầu như toàn bộ các thành viên của gia đình mở rộng cùng sống chung với nhau. Trong một xã hội Hồi giáo thì hầu như không có ai sống một mình cả. Ông bà, các bà góa, những người đã ly dị tất cả đều được gia đình cưu mang. Vì thế một gia đình có trên mười người là chuyện bình thường. Tuy vậy, ở những vùng đô thị, nơi chịu ảnh hưởng nhiều hơn của văn hóa phương Tây, quy mô của gia đình đang ngày càng giảm đi, đơn vị gia đình thường là các gia đình hạt nhân – tức chỉ gồm vợ chồng và con cái.
Gia đình trong xã hội Hồi giáo là một tổ chức rất chặt chẽ. Mọi thành viên đều có một ý thức trách nhiệm rất mạnh mẽ với gia đình mình, gồm cả gia đình hạt nhân cũng như gia đình mở rộng (đại gia đình). Có một trật tự nghiêm ngặt điều chỉnh cuộc sống gia đình. Mỗi thành viên gia đình có một vai trò riêng và một trách nhiệm riêng đựa theo tuổi tác và giới tính của mình. Thứ bậc theo tuổi tác là đặc điểm cơ bản trong gia đình. Người lớn tuổi hơn luôn phải được kính trọng. Ngay từ lúc còn bé, trẻ con đã được dạy phải tuyệt đối vâng lời cha chú, và ngay cả khi chúng đã trưởng thành và có gia đình con cái riêng thì cũng vậy. Sau khi người cha chết, người anh cả, vì là người đàn ông lớn tuổi nhất, trở thành người có quyền lớn nhất trong gia đình và được hưởng phần thừa kế nhiều hơn.
Có một luật lệ bất thành văn là những người già cả trong gia đình phải được chăm sóc sau khi họ không còn làm việc được nữa, và do đó các cha mẹ khi về già sẽ sống với con cái. Trong gia đình mở rộng, sự tôn kính là tùy theo tuổi tác, người già cả phải được kính trọng nhất. Một người ông nội già cả sẽ tiếp tục cư xử như người có quyền hành tối cao trong mọi vấn đề của gia đình ngay cả khi những quyết định hàng ngày thuộc về các thế hệ trẻ hơn. Khi người già bước vào phòng thì những người trẻ hơn phải đứng dậy chào hỏi. Y kiến của người già phải được coi trọng. Họ thường là những người hòa giải các xung đột trong gia đình.
Kính trọng và chăm lo cho người già là một phần quan trọng của việc thể hiện đức tin của một người Hồi giáo. Kinh Koran nói: “Đấng Cứu nạn của ngươi tuyên bố rằng ngươi thờ phụng không ai khác ngoài Ngài, và rằng ngươi phải tử tế với cha mẹ. Dù có ai trong cha mẹ ngươi sống được đến già cùng ngươi hay không thì ngươi cũng đừng nói điều gì xúc phạm hay làm họ tức giận, mà hãy nói với họ bằng những lời tôn kính. Và vì lòng nhân từ, hãy cúi mình trước họ mà nói: Allah trên trời! Hãy ban cho họ sự Nhân từ của người, như họ đã chăm sóc âu yếm với con khi con còn bé”.
Trong gia đình Hồi giáo, đàn ông giữ địa vị thống trị. Gia trưởng là người cha nuôi sống gia đình. Ông ta là người có tiếng nói tối hậu trong mọi vấn đề. Người mẹ nuôi nấng con cái và chăm sóc các công việc nhà, nấu nướng giặt giũ. Đàn ông nhìn chung lãnh những trách nhiệm phải tiếp xúc với người ngoài, như đi chợ mua thực phẩm và vật dụng cho gia đình.
Các ông chồng không chia sẻ với vợ những công việc hàng ngày bên trong gia đình. Mỗi ngày, anh ta đi làm và trở về vào buổi tối khi cơm nước đã sẵn sàng. Mọi người trong gia đình chấp nhận như vậy và hàng xóm cũng coi đó là chuyện bình thường. Lúc rảnh rỗi, anh ta thường ra ngoài đàn đúm với đám đàn ông. Vợ anh ta được coi như con dâu của cả gia đình, và công việc nội trợ của cô không chỉ là với chồng con mà là với cả gia đình chồng nói chung. Tuy vậy, tại các thành phố hiện đại ngày nay, lối sống gia đình truyền thống như thế đang thay đổi. Người đàn ông bắt đầu chia xẻ công việc gia đình với phụ nữ, nhưng thường chỉ là trong việc chăm sóc dạy dỗ con cái.
Ở các xã hội Hồi giáo, thông thường người ta có tên nhưng không có họ, và để xác định một người, thì tên người đó phải có phần tham chiếu tên của người cha. Mặc dù vậy nhưng mọi người ai cũng biết rõ tổ tiên ông bà của mình. Tất cả những người cùng chung một huyết thống đều cùng hưởng niềm vinh dự hay cùng chịu nỗi ô nhục do một cá nhân trong dòng tộc gây ra.
Quan hệ họ hàng cũng có sự phân biệt rõ ràng. Các anh em trai bên nội có danh xưng riêng và bên ngoại có danh xưng riêng. Như thế mỗi một quan hệ họ hàng đều được được định danh và được nhận biết rõ ràng.
Vì hôn nhân ở các xã hội Hồi giáo thường mang ý nghĩa liên kết giữa hai gia tộc nên các gia đình Hồi giáo đều có những quy định có tính chất nghi thức trong quan hệ với bố mẹ vợ hay bố mẹ chồng. Khiếm nhã với bố mẹ vợ hay chồng là điều không thể tha thứ – vì thế cái đề tài được ưa thích về bà mẹ vợ trong những câu chuyện cười của các xã hội khác ở đây sẽ bị coi là rất vô vị và thậm chí là bất lịch sự.
ĐỊA VỊ CỦA PHỤ NỮ
Theo truyền thống, nền văn hóa Hồi giáo dành địa vị ưu tiên cho đàn ông, người phụ nữ chỉ giữ vị trí phụ thuộc. Cô ta phải vâng lời chồng, lời cha, và hầu hết mọi chuyện mà cô ta làm đều phải được họ cho phép. Điều đó trong một chừng mực lớn có liên quan đến giáo lý Hồi giáo, vì kinh Koran công nhận địa vị vượt trội của người đàn ông và chấp nhận chế độ đa thê. Từ nhiều đời nay, phụ nữ đã được nuôi dạy để phục tùng sự thống trị của đàn ông, không chỉ với người cha hay chồng họ, mà cả anh em trai và anh em rể. Vì thế không có gì khó hiểu khi người phụ nữ Hồi giáo thường bị thế giới không Hồi giáo nhìn nhận như những cá nhân bị đè nén áp bức, chẳng khác gì tài sản của thế giới đàn ông.
TRONG GIA ĐÌNH
Phụ nữ không được coi như những người có thể kiếm sống độc lập. Điều này giải thích truyền thống coi trọng con trai hơn con gái. Sinh một đứa con trai có nghĩa là sẽ có một nguồn thu nhập về sau và có người giúp đỡ cho lúc về già. Còn sinh một bé gái thì rốt cuộc rồi nó cũng sẽ đi về nhà chồng.
Có một sự phân công lao động nghiêm ngặt theo giới tính: đàn ông là những người mang lại thu nhập cho gia đình, còn đàn bà làm công việc nội trợ trong nhà. Những bổn phận của một người phụ nữ là chuẩn bị bữa ăn cho gia đình, chăm sóc súc vật, chăm sóc vườn rau, lấy nước, dọn dẹp và sửa sang nhà cửa, và chế biến, cất trữ nông sản dùng trong nhà. Chỉ có rất ít phụ nữ đi làm trong các nhà máy hay văn phòng, và tiền công của họ thường thấp hơn đàn ông chừng 20-30 phần trăm.
Danh dự của gia đình – được đánh giá rất cao trong xã hội Hồi giáo – phụ thuộc rất nhiều vào những hành vi cư xử của những người phụ nữ, đặc biệt là các chị em gái và con gái, vì vậy đàn ông canh chừng những người phụ nữ của họ rất cẩn thận. Người phụ nữ bắt buộc phải tỏ ra đoan trang, thùy mị và thận trọng. Mọi biểu hiện thiếu đứng đắn, dù nhỏ nhất, đều không thể tha thứ, nhất là khi bị nhiều người khác biết, vì nó có thể phá hoại không thể cứu vãn danh dự của gia đình. Vì thế nếu một phụ nữ trong gia đình bị phát hiện phạm tội, thì những người đàn ông sẽ nổi xung lên và trừng phạt người phụ nữ kia ngay lập tức.
Những phụ nữ nào còn độc thân khi đã ngoài hai mươi sẽ ít có cơ hội lấy được chồng trừ phi phải lấy những người đàn ông đã ly dị hay góa vợ. Những phụ nữ như vậy bị coi là kém cỏi, họ phải sống ở nhà chăm sóc cho cha mẹ già. Mặc dù không bị luật pháp cấm sống độc thân, nhưng người phụ nữ không thể làm được điều đó vì sức ép của xã hội và gia đình. Cô gái nào không lấy chồng sẽ bị coi là một gánh nặng đối với kinh tế gia đình. Vì thế cho nên người phụ nữ rất dễ cảm thấy đau buồn tủi hổ về việc không lấy được chồng.
Người phụ nữ sẽ có được một địa vị vững chắc trong gia đình nhà chồng khi cô ta sinh ra được những đứa con trai, vì thế nên các bà vợ yêu và thích con trai hơn, thường chăm sóc chúng lâu hơn so với con gái. Quan hệ giữa mẹ và con trai cũng ấm áp và thân tình hơn trong khi với cha chúng thì khá xa cách.
Tài sản trong gia đình thường được chia cho các con trai, nhưng con gái cũng nhận được một phần làm của hồi môn. Các góa phụ cũng có phần, họ thường được chia 1/8 tài sản của chồng, được gia đình bên chồng lo cho một phòng để ở và được bao bọc. Bà ta cũng được giữ lại nữ trang của mình và có thể đem cho con gái hay con dâu tùy ý.
NGOÀI XÃ HỘI
Các nước Hồi giáo đều là những nước trong đó đàn ông giữ địa vị thống trị. Ngay từ bé, con trai và con gái đã được đối xử khác nhau. Ở trường học, con gái và con trai học riêng, và cho dù ở những lớp chung cho cả trai và gái thì chúng vẫn phải ngồi riêng ra.
Phụ nữ là đối tượng của những câu thúc ép buộc của xã hội, họ có một hình ảnh thấp trong công chúng và vị trí của họ được coi dứt khoát là ở gia đình, ở trong nhà và phải phụ thuộc vào người đàn ông. Ở một số nước, khi một phụ nữ muốn làm chứng minh thư thì luật pháp yêu cầu cô ta phải được sự cho phép của cha hay chồng, tức là chỉ người đàn ông mới có thể trao quyền công dân cho vợ và con mình.
Giáo lý đạo Hồi có quan điểm rõ ràng về vai trò của phụ nữ thể hiện trong những luật lệ liên quan đến hôn nhân và gia đình. Và trong hầu hết trường hợp, phụ nữ luôn bị phân biệt đối xử. Ví dụ, luật Sunni về thừa kế cho con trai phần thừa kế gấp đôi con gái. Cũng như vậy trong trường hợp ly dị, một người đàn ông Hồi giáo có thể ly dị vợ rất dễ dàng, anh ta chỉ cần nói ba lần câu “Tôi bỏ bà” trước mặt một người làm chứng là xong, còn người phụ nữ chỉ có thể ly dị nếu chồng cô ta đồng ý. Trước tòa án, phụ nữ cũng được quyền bào chữa, nhưng theo luật Hồi giáo, nhưng lời bào chữa của một người đàn ông có giá trị bằng hai người phụ nữ, như thế muốn chống lại một nhân chứng là đàn ông thì phải có ít nhất hai nhân chứng là phụ nữ. Một người đàn ông giết vợ, chị em gái hay thậm chí cả mẹ mình có thể không bị kết tội nếu anh ta chứng minh được rằng người phụ nữ đó phạm tội ngoại tình.
CƠ HỘI GIÁO DỤC, VIỆC LÀM
Địa vị thấp kém của phụ nữ còn thể hiện trong thụ hưởng giáo dục. Ở các vùng nông thôn của đa số các nước Hồi giáo thường chỉ có 10% số trẻ em nữ được đến trường. Ngay tại các thành phố và thị trấn thì tỷ lệ học sinh nữ so với học sinh nam cũng rất thấp. Học hành không được coi là điều cần thiết cho con gái, bởi vì mục tiêu quan trọng nhất của người phụ nữ là lấy được chồng, nếu “học nhiều quá” sẽ chỉ gây rắc rối cho cô gái vì sẽ khiến cho cô ta sinh ra nhiều tham vọng mà không thể thỏa mãn được, cũng như làm cho cô ta thành một người phối ngẫu kém hấp dẫn. Học hành “không cần thiết” với phụ nữ còn là vì những việc làm cần trình độ giáo dục thường chỉ dành cho đàn ông.
Mặc dù ở nhiều nước, luật pháp hiện đại tuyên bố nam nữ bình đẳng, phụ nữ đã được đi bầu, được quyền làm ăn kinh doanh, nhưng những sức ép truyền thống đã ngăn cản hầu hết phụ nữ để họ có thể tranh thủ được lợi ích từ địa vị luật pháp này. Phụ nữ vẫn hiếm khi được đi ra ngoài nơi công cộng một mình, nhất là ở các vùng nông thôn. Tuy vậy, ở các thành phố lớn, con số phụ nữ đi làm ngoài gia đình và có thu nhập đang tăng dần lên, dù tiền lương của họ thấp hơn của đàn ông nhiều. Phụ nữ ở các nước Hồi giáo hiện nay làm việc nhiều trong các ngành y tế và giáo dục. Số phụ nữ tham gia công việc chính quyền vẫn còn rất ít.
GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ
Cuộc đấu tranh khó khăn nhất cho quyền của phụ nữ ở các nước Hồi giáo hiện nay là vẫn còn là đấu tranh với những luật lệ trong gia đình. Trong nhiều nước các chính phủ đã cố gắng để đem lại địa vị bình đẳng cho phụ nữ, nhưng những người Hồi giáo cực đoan thường coi những thay đổi như thế là Tây phương hóa lối sống gia đình. Chẳng hạn, phụ nữ đã được quyền nuôi con và quyền hưởng của hồi môn, nhưng luật tục vẫn đảm bảo cho người đàn ông quyền ưu tiên đối với vấn đề li dị và việc có cho phụ nữ ra ngoài đi làm hay không.
Những cố gắng nhằm giải phóng phụ nữ thường trở thành đối tượng công kích của các thế lực bảo thủ trong xã hội. Việc khuyến khích giáo dục không phân biệt nam nữ, bỏ mạng che mặt và cổ súy việc ăn mặc theo kiểu Tây phương nhằm cải thiện địa vị của phụ nữ khiến các phần tử tôn giáo và bảo thủ của xã hội tức giận là một nguyên nhân gây nên các cuộc nổi loạn rộng lớn ở nhiều nước.
Tuy nhiên, địa vị của phụ nữ ở các xã hội Hồi giáo cũng rất phức tạp tùy theo từng nước. Pakistan, chẳng hạn, là một quốc gia Hồi giáo mà phụ nữ bị buộc phải che mạng khi ra ngoài đường. Nhưng năm 1988 lại có một phụ nữ, bà Benazir Bhutto, được bầu làm thủ tướng, một chức vụ quyền thế nhất trong nước. Và hãng Hàng không Quốc tế Pakistan cũng sử dụng nhiều nữ phi công hơn bất cứ hãng hàng không nào khác trên thế giới.
PHONG TỤC CHE MẠNG
Địa vị thấp kém của người phụ nữ trong các xã hội Hồi giáo thể hiện dưới hình thức cực đoan nhất trong tập tục che mạng. Người phụ nữ đeo mạng che mặt sống trong sự phân biệt đối xử, hầu như bị tách biệt hoàn toàn với thế giới của đàn ông. Cô phải ăn mặc sao cho không ai được thấy mặt cô, chỉ trừ những người thân trong gia đình. Cô không bao giờ được hiện diện cùng với những người đàn ông trừ khi với một nhóm có người chồng và những người anh em trong nhà của cô. Cô không bao giờ được ra khỏi nhà mà không có người đi kèm, và luôn phải chiếc áo dài lụng thụng che kín từ đầu đến chân.
Che mạng biểu hiện cho một lối sống hơn là một trang phục. Những khác biệt trong kiểu cách, nhất là về diện tích phần mặt hở ra, là tùy thuộc vào đẳng cấp xã hội và vào thái độ của xã hội đối với người phụ nữ cũng như thái độ của người phụ nữ về bản thân mình hơn là vào bất kỳ thứ gì khác. Một số phụ nữ cấp tiến có thể cắt tóc ngắn và không mặc áo thụng hay đeo mạng che mặt. Nhưng ngay cả họ cũng thường quàng một chiếc khăn qua đầu, có lẽ họ coi việc phụ nữ mà không che thứ gì trên đầu là chuyện hết sức chướng tai gai mắt. Benazir Bhutto chẳng hạn, là một phụ nữ cấp tiến, nhưng bà ta không bao giờ xuất hiện trước công chúng mà trên đầu lại không choàng một chiếc khăn. Ở Thổ Nhĩ Kỳ và một số nước Hồi giáo thế tục hóa khác, luật pháp có thể cấm phụ nữ che mạng. Tuy vậy tập quán vẫn còn sức mạnh, phụ nữ hầu như không ai không trùm một chiếc khăn đội đầu. Ở thành phố, những người phụ nữ che mạng thường xuất thân từ các gia đình trung lưu, vì trong những gia đình như thế, việc người phụ nữ không đi làm được coi là một sự quảng cáo tốt đẹp cho địa vị xã hội của gia đình họ.
Ở nông thôn, phụ nữ được ăn mặc tự do hơn các chị em của họ ở thành phố. Vì phải làm việc ngoài đồng sát cánh với nam giới trong gia đình nên họ được giải phóng khỏi những bộ quần áo lùng thùng vướng víu, nhưng họ vẫn phải giữ khoảng cách với những nam giới khác. Như vậy, ở các vùng nông thôn hẻo lánh, việc che mạng ít quan trọng hơn, nhưng người lạ hiếm khi nhìn thấy mặt những người phụ nữ trong làng.
Hiện nay, ở các nước Hồi giáo, khoảng phân nửa phụ nữ ở các thành phố lớn không che mạng khi đi ra ngoài nhà, và xu hướng này đang ngày càng tăng. Nhưng họ thường hay bị những người Hồi giáo nệ cổ chỉ trích, ở một số nước họ thậm chí còn bị tấn công.
HÔN NHÂN
Trong các xã hội Hồi giáo, hôn nhân thường mang ý nghĩa là một sự liên kết giữa hai gia đình nhiều hơn là một sự ràng buộc về tình cảm và xã hội giữa hai cá nhân trai gái. Đa số các cuộc kết hôn là do gia đình hai bên xếp đặt, các chàng trai và cô gái đến tuổi vâng lệnh kết hôn theo lựa chọn của cha mẹ họ. Nhiều cuộc hôn nhân được xếp đặt từ lúc hai người còn là những đứa trẻ. Ở nhiều nơi, hôn nhân thậm chí còn được thu xếp thậm chí từ trước khi các đương sự được sinh ra. Ở các nước Arập, hôn nhân giữa những anh em họ, đặc biệt là về bên cha, rất được ủng hộ vì được xem như củng cố cho mối ràng buộc gia đình đã chặt chẽ lại càng chặt chẽ thêm.
Vì luật Hồi giáo cấm những người đàn ông và phụ nữ không cùng một gia đình động chạm đến nhau, vì thế nên các chàng trai hầu như không có cơ hội nào để nhìn thấy các cô gái trong một gia đình nào đó. Chính vì thế cả cô dâu và chú rể gần như không biết nhau trước khi có các cuộc thương lượng hôn nhân giữa hai gia đình, và hai bên trai gái cũng không hề nhìn thấy nhau mãi cho đến ngày tổ chức đám cưới. Có những quy tắc đạo đức nghiêm ngặt về trinh tiết với những thanh niên trai gái chưa lập gia đình.
Ngày nay, nam nữ có nhiều điều kiện hơn để lựa chọn bạn tình để kết hôn, nhưng vẫn phải được cha mẹ hai bên chấp thuận. Những người Hồi giáo có giáo dục hơn ngày càng có khuynh hướng muốn tự lựa chọn bạn đời cho mình. Hiện nay, dù hôn nhân do gia đình xếp đặt vẫn còn phổ biến ở nhiều quốc gia Hồi giáo, nhưng các cặp trai gái được quyền bày tỏ sự đồng ý hay không với sự xếp đặt của cha mẹ trước khi cử hành lễ đính hôn chính thức, và nếu có sự phản đối nào thì nhiều bậc cha mẹ hiện nay sẽ tôn trọng ý muốn của con cái. Tuy vậy, những người trẻ tuổi vẫn được dạy dỗ để quan niệm về tình yêu như một thứ gì đó có thể nẩy nở và phát triển trong hôn nhân, chứ không phải là một điều kiện tiên quyết cho nó.
Tuổi kết hôn cho nam giới thường từ mười tám đến hai mươi, còn nữ thì từ mười sáu đến mười tám. Khi cha mẹ cho rằng con cái đã sẵn sàng để kết hôn, họ sẽ tìm một người họ hàng để đóng vai người làm mối. Nhưng ngày nay, người trung gian này không còn cần thiết như trước nữa, mà thường hai gia đình sẽ trực tiếp thương lượng với nhau.
Cô con gái giống như một thứ tài sản để bán với giá cao. Ông bà mối sẽ thương lượng về tài chính, một công việc có thể phải kéo dài mất nhiều tháng trời mới xong. Nhà trai nộp cho nhà gái tài vật “thách cưới” là để đền bù cho việc nhà gái mất đi một thành viên đáng giá. Trong những cuộc hôn nhân đồng tộc, giá thách cưới (thường là giá cắt cổ) được bỏ đi vì cô con gái không đi mất khỏi gia tộc.
Của hồi môn cũng là một phần không thể thiếu trong đám cưới. Theo truyền thống, địa vị xã hội của gia đình càng cao thì của hồi môn càng có giá trị và càng long trọng hơn, nhưng với hầu hết các bậc cha mẹ thì món hồi môn này chính là lần chi tiêu tốn kém nhất trong cuộc đời họ.
Bởi vì hôn nhân rất có ý nghĩa với gia tộc hai bên chứ không chỉ với hai đương sự, nên đám cưới thường là một nghi thức đầy không khí lễ hội, có âm nhạc, nhảy múa, tiệc tùng và thường kéo dài nhiều ngày trời. Nhưng ngày nay, nhất là ở các thành phố lớn với nếp sống hiện đại thì nhiều người chọn cách tổ chức những đám cưới giản dị hơn là những buổi tiệc tùng cầu kỳ kéo dài cả tuần lễ với những nghi thức nghiêm ngặt. Nghi thức có mặt người thứ ba trong lúc động phòng để chứng nhận trinh tiết của cô dâu và chứng thực cho cuộc hôn nhân cũng hầu như không còn được thực hiện nữa.
Khi đi lấy chồng, cô dâu sẽ về sống trong gia đình nhà chồng, nơi cô có thể là một người lạ đối với tất cả người bên nhà chồng, với láng giềng và làng xóm của họ. Ở đó cô sẽ sống dưới sự giám sát của bà mẹ chồng, mối quan hệ căng thẳng giữa hai nhân vật này thường là tâm điểm của những khó khăn rắc rối trong cuộc sống hôn nhân.
Cô phải giữ đạo dâu con. Ở những nơi lối sống đại gia đình còn phổ biến, nhiều thế hệ cùng sống chung dưới một mái nhà, thì cô không chỉ chăm sóc phục vụ chồng mà còn phải chăm sóc phục vụ tất cả những thành viên bên gia đình nhà chồng nữa. Và cô phải giữ đạo làm vợ, phải giữ gìn trinh tiết. Nếu phạm tội ngoại tình, cô sẽ bị xử phạt rất nặng, có thể bị đuổi ra khỏi gia đình nhà chồng mà không được mang theo một tài sản gì. Ở những nước Hồi giáo chính thống, ngoại tình thậm chí có thể bị xử tội chết theo luật Hồi giáo.
Luật Hồi giáo cho phép chế độ đa thê. Theo tục lệ Hồi giáo, một người đàn ông có thể lấy đến bốn vợ với điều kiện phải cư xử với các bà vợ bình đẳng như nhau. Anh ta có thể cố lấy nhiều vợ để chứng tỏ rằng anh ta là một người Hồi giáo chân chính. Tuy vậy, tình hình đã thay đổi khi càng nhiều phụ nữ Hồi giáo ngày nay, nhất là ở các thành phố, ít chấp nhận chế độ đa thê như trước.
Một nhân tố không khuyến khích chế độ đa thê trong các xã hội Hồi giáo ngày nay là vấn đề tài chính. Đám cưới là một nghi lễ rất tốn kém, và thậm chí còn tốn kém hơn nữa vì những quà tặng theo tập quán cho gia đình cô dâu. Chi phí cưới xin tăng lên đi cùng với sự suy thoái kinh tế và công ăn việc làm giảm sút, vì thế những người trẻ tuổi sẽ cưới vợ lấy chồng muộn hơn trước.
Luật Hồi giáo cũng cho phép việc ly hôn, nhưng giữa đàn ông và đàn bà có sự phân biệt. Người chồng muốn ly hôn thì chỉ cần nói với vợ trước mặt một người làm chứng câu “Tôi ly dị bà” ba lần là có thể bỏ vợ. Người vợ thì khác, bà ta phải ra trước một tòa án Hồi giáo để trình bày những lý do để ly dị. Chuyện này dù nghe có vẻ đơn giản, nhưng ly hôn không phải là việc thường hay xảy ra. Ly hôn thường bị cộng đồng coi như một vết nhơ với những người liên quan. Ngoài ra, nghĩa vụ cấp dưỡng cho vợ sau ly hôn, cũng theo luật Hồi giáo, và những khó khăn trong việc kiếm một người vợ mới, một nhân vật không thể thiếu để coi sóc nhà cửa, đã khiến cho đa số đàn ông không thích thú gì với chuyện ly hôn.
TRẺ EM
Với người Hồi giáo, con cái là quà tặng của Thượng đế và rất được người ta trông đợi sau đám cưới. Vì bệnh viện còn ít, nên hầu hết phụ nữ sinh nở tại nhà, có một bà mụ hay một phụ nữ trong nhà phụ giúp.
Đứa trẻ ra đời là cả một sự vui mừng lớn lao của các gia đình Hồi giáo, đặc biệt nếu nó là con trai. Lễ ăn mừng có thể kéo dài nhiều ngày liền; người ta chơi nhạc, đánh trống và phân phát đồ ăn cho người nghèo.
Vào ngày thứ ba đứa trẻ được đặt tên, tên thường là do người chú hay bác bên cha chọn đặt. Với những gia đình thành thị thì thường chính cha mẹ chọn tên cho con. Vị mullah (giáo sĩ) thoạt đầu ghé vào tai đứa trẻ thì thầm “Allahu Akbar” (Thượng đế vĩ đại), rồi thì thầm cho nó nghe tên mình. Ông ta cũng nói cho đứa bé biết về cha ông của nó và kêu gọi nó lớn lên sẽ trở thành một người Hồi giáo thánh thiện, biết giữ gìn danh dự của gia đình. Với người dân du mục, mà cuộc sống có nhiều điều bất trắc hơn, thì ông chú hay bác đặt tên cho đứa trẻ sẽ đảm nhiệm một vai trò giống như “cha đỡ đầu”. Người này sẽ chịu trách nhiệm về đứa trẻ nếu cha nó chẳng may chết sớm. Tất cả trẻ con được nuôi dạy trong khu phụ nữ. Bà mẹ cho con bú sữa đến khi sinh đứa tiếp theo hoặc đến khi đứa bé đã đủ lớn.
Một gia đình đông đúc được trông mong ở các vùng nông thôn vì sẽ có nhiều lao động hơn. Trẻ em giúp cha mẹ chăm sóc các em nhỏ và giúp công việc đồng áng. Các bậc cha mẹ rất hãnh diện vì con cái họ và họ nuôi nấng dạy dỗ chúng trong một bầu không khí yêu thương. Con gái được dạy phải kiên nhẫn, dễ thương, khiêm tốn, và được việc. Con trai được dạy để bảo vệ những người phụ nữ trong nhà và nêu cao danh dự gia đình. Trẻ em cũng thu lượm được những kỹ năng cần thiết cho cuộc sống nông thôn hay thành thị từ cha mẹ, ông bà, và những anh chị khác của chúng. Ở các thành phố, bọn con trai có thể học cách giải quyết công việc làm ăn của gia đình hay lái xe mô tô trong khi các chị em gái của chúng học cách sử dụng các dụng cụ nấu nướng hiện đại. Ở nông thôn, bọn con trai học cách sử dụng hay sửa chữa cái máy bơm chạy xăng, con gái học làm bếp và chăm sóc em út.
Sinh được con trai có một ý nghĩa quan trọng lớn lao vì con trai sẽ là người nối dõi gia tộc. Nó sẽ được uốn nắn, dạy dỗ ngay từ khi còn bé và người ta trông mong nó sẽ giữ được tiếng thơm và danh dự cho gia đình. Các bé gái tuy không bị xử tệ, nhưng chúng chỉ là nhân vật phụ, phải xếp sau con trai. Các bé trai không phải làm nhiều việc lặt vặt như các chị em gái. Và nếu chúng có làm điều gì xấu thì cũng sẽ được khoan thứ, trong khi hành vi xấu của chị em gái sẽ bị quở mắng. Con trai thường được dạy theo một kiểu người nào đó ngay từ bé để giúp hình thành nhân cách và hành vi khi chúng lớn lên.
Lên 5 hay 6 tuổi, cậu con trai thường được đưa đến thánh đường để học kinh Coran. Cậu phải nắm vững cách viết chữ Ảrập, sau đó học từng từ, từng câu rồi cả chương kinh. Con gái cũng phải học kinh Koran, nhưng cô bé phải che mặt bằng một tấm mạng mỏng trong khi cầm hoặc đọc kinh.
Một buổi tiệc được tổ chức khi cậu bé học xong sách Kinh. Trong bộ đồ mới, cậu đọc một đoạn Kinh đã học trong sự hãnh diện của vị giáo sĩ và cha mẹ. Một buổi lễ được tổ chức để đánh dấu sự trưởng thành của cậu con trai, thường trong khoảng 13 đến 15 tuổi. Sau buổi lễ này, cậu bắt đầu được đối xử như một người đàn ông, cậu được phép đội khăn hay đội mũ và người nhà để cậu được quyền tự lo cho mình. Nếu ở nông thôn thì cậu phải bắt đầu phụ việc cho cha trên cánh đồng. Cậu con trai ở các bộ tộc du mục phải học cưỡi ngựa, bắn súng và học canh chừng đàn gia súc.
( Còn tiếp theo–phần 8 đến cuối trang 73– Nguyễn Sinh )