Skip navigation.

Log in | Sign up

Nguyễn Sinh

Nhật Ký- Chuyên đề Thời sự, Chuyện Tào lao, Ăn & Chơi

Posts tagged with "Khảo Cứu"

VIẾT TIẾP CÂU CHUYỆN NGÔ ĐÌNH DIỆM

(Nhân Hưng) Mỗi khi nhắc đến gia đình họ Ngô là phải nhắc đến vợ chồng ông bà Ngô Đình Nhu – Trần Lệ Xuân. Tuy là những người đứng sau rèm “chấp chính”, nhưng ông Ngô Đình Nhu và bà Trần Lệ Xuân lại có nhiều quyền thế, và có thể nói có khi hơn cả Tổng thống Ngô Đình Diệm. Mấy anh chị em ruột nhà Ngô thì nay ai cũng đã về “Nước Chúa”, chỉ còn lại bà quả phụ Ngô Đình Nhu – Trần Lệ Xuân. Vậy bà quả phụ một thời lẫy lừng hiện nay sống như thế nào? Xin tiết lộ một vài chi tiết về cuộc sống hiện nay của con người một thời “làm mưa làm gió” trên đất trời phương Nam.
Ngày hai anh em ông Diệm – Nhu bị hạ sát thì Trần Lệ Xuân đang ở đất Mỹ để “giải độc” cho chế độ nhà Ngô. Bà Trần Lệ Xuân cùng trưởng nữ là Ngô Đình Lệ Thủy đã tới nhà thờ để dự lễ cầu hồn cho những người thân. Nỗi đau tang gia chưa nguôi thì bà Lệ Xuân được tin mẹ chồng là bà Ngô Đình Khả (Phạm Thị Thân) hơn 90 tuổi đã tạ thế tại Huế. Bà Ngô Đình Nhu cùng các con không được về nước chịu tang mẹ chồng và bà nội. Cả Giám mục Ngô Đình Thục và ông Ngô Đình Luyện cũng không được về nước chịu tang thân mẫu. Ba năm sau những biến cố ấy thì trưởng nữ của bà, cô Ngô Đình Lệ Thủy cũng qua đời do tai nạn giao thông tại Paris, Pháp
Bà Nhu và Lệ Thủy
Bà Trần Lệ Xuân cùng các con nhỏ chuyển về sinh sống tại La Mã, nơi Giám mục Ngô Đình Thục đang tạm sống tại đó. Ngày 13/12/1984, mấy mẹ con bà Ngô Đình Nhu lại nhận được tin Giám mục Ngô Đình Thục đã từ trần tại Mỹ sau mấy năm bị khủng hoảng tinh thần.
Khi còn ở Việt Nam, hay lúc sống lưu vong, Giám mục Ngô Đình Thục lúc nào cũng thương yêu mẹ con bà Trần Lệ Xuân. Do vậy, với gia đình bà, GM Ngô Đình Thục không chỉ là người thân ruột thịt mà còn là ân nhân của bà nơi đất khách. Nghe nói, nhà cửa của mấy mẹ con bà Ngô Đình Nhu ở La Mã đều do ông Ngô Đình Thục chu cấp, và còn tài trợ cả tiền bạc cho ba đứa con bà Nhu ăn học đến nơi đến chốn.
Khi được tin GM Ngô Đình Thục qua đời, mấy mẹ con bà Nhu định sang Mỹ phục tang, nhưng không biết vì lý do gì hay có chuyện xích mích trong gia đình họ Ngô, nên ông Ngô Đình Luyện em út trong gia đình họ Ngô, không cho mẹ con bà Nhu sang Mỹ dự tang lễ.
Gần hai năm sau, ngày 28/7/1986, bà Lệ Xuân nhận được điện thoại của người em ruột là ông Trần Văn Khiêm báo tin song thân là ông bà Trần Văn Chương đã qua đời nhưng không rõ nguyên nhân. Sau đó lại được tin Trần Văn Khiêm bị cảnh sát Mỹ bắt giữ do có liên quan đến cái chết của song thân. Cha mẹ qua đời bà cũng không thể qua Mỹ chịu tang.
Đến năm 1990, người em út của ông Ngô Đình Diệm là ông Ngô Đình Luyện cũng qua đời tại Paris vì bệnh. Mẹ con bà Nhu cũng không sang dự tang, vì trước đó giữa bà Nhu và ông Luyện đã có sự xích mích.
Cuộc đời bà Trần Lệ Xuân, từng chứng kiến 10 cái tang (đều bất đắc kỳ tử), từng khóc hết nước mắt nhưng không một lần được tham dự tang lễ, âu cũng là một chữ Lệ!
Cho tới nay có nhiều người nghe tin đồn: Bà Nhu đã lấy chồng, hoặc đã qua đời từ lâu rồi. Tất cả chỉ là tin đồn. Vào tháng 3/2002, luật sư Trương Phú Thứ có sang Paris chơi và đã đến thăm bà quả phụ Ngô Đình Nhu. Khi về lại Mỹ, luật sư Trương Phú Thứ đã viết một bài khá dài về cuộc gặp gỡ với bà quả phụ Ngô Đình Nhu.
Bà Ngô Đình Nhu ngày nay ra sao?
Luật sư Trương Phú Thứ cho biết, bà Nhu ở một mình trong căn nhà của một tòa nhà mới xây gần tháp Eiffel (thủ đô Paris). Bà Nhu là chủ sở hữu 2 căn ở trên tầng lầu thứ 11 của tòa nhà cao tầng ở khu vực có địa thế rất đẹp và đắt tiền nhất thủ đô Paris. Bà Nhu ở một cái, và cái thứ hai cho thuê để lấy tiền sinh sống. Đó là lợi tức duy nhất của bà, cũng đủ sống và không cần nhờ vả đến các con. Bà sống ẩn dật, đi về lẻ loi thầm lặng đến nỗi một khuôn mặt quen thuộc của cộng đồng người Việt ở Paris là cựu trung tướng quân đội Sài Gòn, ông Trần Văn Trung vẫn tưởng bà Nhu sống ở Italia.
Bà Nhu tuy đã ngoài 80, nhưng vẫn khỏe mạnh. Bà đi đứng nhanh nhẹn, lưng thẳng, đôi mắt to và sáng. Căn nhà của bà Nhu khá tầm thường với hai phòng ngủ và một phòng khách. Trên tường phòng khách của bà treo vài khung hình lớn của ông Diệm, GM Ngô Đình Thục, ông Ngô Đình Nhu, có cả ảnh trưởng nữ Ngô Đình Lệ Thủy, và nhiều người thân tộc đã quá vãng.
Bà phân trần quanh chuyện một người Pháp giàu có, từng mang biếu cho Giám mục Ngô Đình Thục một món tiền lớn, rồi ông Thục đã cho bà để mua một căn trong tòa nhà cao tầng này, và sau đó bà dành dụm mua thêm được một căn nữa. Sự thật không phải như vậy. Bà Nhu trực tiếp nhận được một số tiền rất lớn từ một ân nhân ẩn danh. Có tiền trong tay, bà đã nhờ một cựu bộ trưởng thời Chính phủ De Gaulle giúp mua liền một lúc hai căn này.
Bà Nhu cho biết: “Mấy thanh niên Việt mới bơ vơ đến Pháp tạm trú ở căn thứ hai và tôi không lấy tiền thuê mướn hay bất cứ chi phí điện nước nào cả.” Một thời gian sau, những thanh niên này đã được thân nhân hay vì nhu cầu công việc ra đi tạo lập đời sống thì bà Nhu cho một nhà ngoại giao Nhật Bản thuê mướn cho đến ngày nay. Bà cũng cho biết: Vị ân nhân tặng bà Nhu số tiền kếch sù đó là bà Capici, một người Italia, từng lọt vào danh sách những người phụ nữ giàu nhất thế giới. Bà Nhu chưa được một lần gặp mặt vị ân nhân này và mãi đến bốn năm sau khi bà Capici tạ thế bà Nhu mới được biết tên cũng như thanh thế và sự nghiệp của người đã gia ân cho mình.
Trên bức tường ngăn phòng khách và nhà bếp có treo tấm hình đen trắng ngôi nhà của ông bà Nhu ở Đà Lạt. Bà Nhu hiện nay không có ý định về thăm quê hương Việt Nam. Khi nói về những người con thì bà Nhu có vẻ bằng lòng với chút hãnh diện.
Người con trai lớn là Ngô Đình Trác tốt nghiệp kỹ sư canh nông, năm nay cũng đã 55 tuổi, lấy vợ người Italia và đã có 4 con, 3 trai, 1 gái. Bà Nhu khoe là những đứa cháu nội, con trai của ông Trác, ai cũng “cao một mét tám, to lớn và đẹp trai lắm”. Vợ ông Trác thuộc dòng dõi quý tộc rất giàu có. Ông Trác rất đam mê công việc trồng trọt chăn nuôi và đã chế tạo được nhiều dụng cụ nông cơ thích hợp cho việc canh tác những thửa đất nhỏ. Gia đình ông Trác sở hữu một biệt thự to và rất đẹp trong nội thành La Mã. Ngôi biệt thự này có cách cấu trúc và dáng dấp như một tu viện. Bà Nhu đã ở đây nhiều năm nên rất nhiều người lầm tưởng rằng bà Nhu đã tá túc ở một tu viện Công giáo trong khoảng thời gian dài.
Người con trai thứ hai là Ngô Đình Quỳnh cũng đã trên 50 tuổi, tốt nghiệp Trường ESEC (Ecole Superrieur de I’Economie et du Commerce) chứ không phải Trường HEC (Hautes Etudes Commerciales) như rất nhiều báo chí đưa tin. ESEC là trường tư đào tạo các chuyên gia kinh tế và tài chính, có học trình chặt chẽ và học phí rất cao. Sinh viên được nhận vào học trường này phải vượt qua những cuộc thi cử cam go và sau khi tốt nghiệp được các cơ quan kinh tế và tài chính trên toàn thế giới trọng vọng. Khi Ngô Đình Quỳnh học trường này bà Nhu đã không đủ khả năng trả học phí nên phải làm giấy xin nợ tiền bạc. Hiện ông Quỳnh làm đại diện thương mại cho một công ty Hoa Kỳ ở Bruselles, thủ đô nước Bỉ. Ông Quỳnh không lập gia đình. Bà Nhu cười nói: “Ông Quỳnh giống bác ruột”, hàm ý sống độc thân như ông Ngô Đình Diệm.

Cô con gái út Ngô Đình Lệ Quyên có bằng tiến sĩ Luật từ Trường đại học Roma. Lệ Quyên là một luật sư ngành Công pháp rất nổi tiếng nhưng chỉ được mời thỉnh giảng và tham luận ở Phân khoa Luật của Đại học Roma mà thôi. Lý do đơn giản là Lệ Quyên không chịu nhập quốc tịch Italia. Luật pháp Italia không cho phép những người không có quốc tịch được quyền giảng dạy một cách chính thức trong học trình. Lệ Quyên thường xuyên được mời dự các hội nghị quốc tế và có nhiều bài tham luận xuất sắc khiến các “cây đại thụ” của ngành Công pháp thế giới phải ngưỡng mộ. Lệ Quyên có chồng người Italia nhưng đứa con trai 7 tuổi lại chính thức mang họ mẹ trên giấy tờ hộ tịch. Bà Nhu đã hãnh diện nói tên cháu bé là Ngô Đình Sơn, niềm tự hào dòng họ là sự giữ gốc rễ dân tộc.
Mỗi buổi sáng sớm, bất kể thời tiết, bà Nhu đều xuống đường đi bộ chừng độ 10 phút đến nhà thờ Saint dự thánh lễ hàng ngày. Thông thường sau thánh lễ, bà ở lại giúp dọn dẹp nhà thờ và xếp đặt, trưng bày hoa nến.
Vào các ngày chủ nhật, bà phụ trách dạy lớp giáo lý cho các trẻ nhỏ. Bà Nhu hầu như rất ít đi mua sắm. Một bà bạn người Nhật đã lo cho bà về cái mặc rồi. Nói đến quần áo, bà có vẻ đăm chiêu: “Ở Sài Gòn nóng quá nên tôi mặc áo dài hở cổ. Tổng thống không bằng lòng.”
Chiếc áo dài hở cổ được đặt tên là “kiểu áo bà Nhu” đã một thời là “mốt” của các thiếu nữ Sài Gòn và cũng là một đề tài xôn xao của những người vô công rồi nghề. Bà Nhu kể chuyện trước kia phải đại diện chính phủ tiếp đón phu nhân các vị quốc khách mà chẳng có đến một món trang sức nên thấy thiếu sót. Nhân có bà vợ một ông bộ trưởng muốn bán mấy món đồ trang sức làm bằng đá đỏ (rubi), bà Nhu có trình và xin ông Diệm số tiền 6 ngàn đồng bạc Việt Nam để mua lại (6 ngàn thời đó bằng 6 triệu đồng bây giờ). Tổng thống nghe lời giãi bày cũng hợp lý nhưng yêu cầu người bán phải viết một tờ giấy biên nhận với đầy đủ lai lịch của những món đồ trang sức này. Bà Nhu nói đó là lần duy nhất ông Diệm cho tiền và cũng chẳng còn nhớ những đồ trang sức đó bây giờ thất lạc nơi đâu.
Luật sư Thứ cũng kể lại: “Bà Nhu có những phân tích, lượng giá vấn đề một cách chi tiết và hợp lý đồng thời đưa ra những kết luận làm người nghe dễ dàng bị thuyết phục.” Điều này chứng tỏ tuy sống khép mình trong một căn phòng nhỏ bé nhưng bà vẫn theo dõi thời cuộc một cách cẩn thận.
Bà Nhu cũng kể lại, vào mùa xuân năm 1975, hệ thống truyền thanh NBC của Mỹ có xin phỏng vấn trong 30 phút. Lý do bà chấp nhận lời yêu cầu của NBC và đòi 10 ngàn USD thù lao với hai vé máy bay khứ hồi hạng nhất Paris – Washington DC , lúc đó Lệ Quyên còn nhỏ và muốn đi gặp ông bà ngoại. Vì không có tiền trang trải cho chuyến đi nhưng vì thương con nên bà bằng lòng trả lời cuộc phỏng vấn để có tiền đưa con gái đi gặp ông bà Trần Văn Chương ở thủ đô Hoa Kỳ. Đối với một tổ hợp truyền thông to lớn như NBC thì những điều kiện đó thật quá nhỏ bé và họ đã vội vàng thực hiện cuộc phỏng vấn.
Đó là lần duy nhất bà đi Mỹ và cũng là lần duy nhất bà tiếp xúc với giới truyền thông quốc tế sau năm 1963. Ngoài ra, bà chưa từng gặp gỡ hoặc tiếp xúc với báo giới Việt ngữ dưới bất cứ hình thức nào.
Bà quả phụ Ngô Đình Nhu (Trần Lệ Xuân) đang viết dở dang một cuốn hồi ký bằng tiếng Pháp, và do chính bà dịch sang tiếng Italia, Anh và Việt Nam. Bà cho biết, chỉ sau khi bà tạ thế các con của bà mới đem ấn hành.

THƯ CALI (Phần cuối)

Nhân lễ Độc Lập nước Mỹ 4-7
HOA KỲ TRONG MẮT AI (phần 3)
By: Mường Giang

CALIFORNIA, MIỀN ĐẤT ẤM :
Tính tới nay đã có hơn ba triệu người Việt Nam đã và đang định cư tại Hoa Kỳ. Một số lớn tập trung tại các thành phố lớn của Tiểu Bang nắng ấm California như San Francisco, San Jose, Los Angeleve và nhiều nhất tại thủ phủ Little Sài Gòn, thuộc Orange Countỵ Đây là miền đất tượng trưng của Dân tộc Việt Nam hiền lành nhân ái, có văn minh văn hiến tình người, không phải chỉ một Sài Gòn thu nhỏ, mà hàm chứa tất cả tinh hoa Người và Đất của mọi miền đất nước thân thương. Trong đó, San Jose ở miền Bắc California có nhiều người Việt sinh sống. Nếu Tiểu Sài Gòn được mệnh danh là thủ đô kinh tế Việt thì San Jose là thủ đô chính trị của người Việt, tuy sinh hoạt ít tấp nập và rộn rịp như ở miền Nam. Nhưng đa số đồng bào lại thích ở San Jose hơn, vì nơi này rất thanh bình hạnh phúc, địa thế lại nằm trong thung lũng hoa vàng nên có nắng ấm quanh năm, tuy khí hậu có hơi lành lạnh hao hao như Đà Lạt của quê nhà. San Jose còn dễ kiếm công ăn việc làm, vì nằm kế Silicon Valley, Trung tâm sản xuất máy tính của Hoa Kỳ, sào huyệt của Đại Công Ty Apple nổi tiếng khắp hoàn cầu, trong đó có nhiều kỹ sư người Mỹ gốc Việt (thế hệ thứ hai) đang phục vu..
Ở miền bắc Calif còn có Thành phố San Francisco, một thành phố du lịch nổi tiếng của Mỹ, mỗi năm thu hút nhiều triệu du khách ngoại quốc tới thắm viếng. Tại đây người ta còn giữ lại nhiều di tích xa xưa như những chiếc tàu điện chạy bằng dây cáp và đường rầy (Cable Car), với những hồi chuông luôn đổ, để báo hiệu cho du khách khi xe tới những địa điểm quan trọng cần chú ý, hoặc đang leo dốc xuồng đồị Đây cũng là chiếc nôi phát sinh ra phong trào Hippy Mỹ dưới thời chiến tranh Việt Nam, mà bài hát nổi tiếng vẫn còn được truyền tụng “Nớ cài hoa trên tóc, khi tới San Francisco..”. Bây giờ nó lại là thánh địa của những cặp đồng tình luyến ái, sinh hoạt chung trong một cộng đồng mang tên “Castro” qua màu cờ hình cầu vòng bảy màu, vẫn thường được treo trước nhà các hội viên. Khi có dịp tới Francisco, không thể không thăm viếng các đia danh nổi tiếng như China Town, Bến Ngư Phủ (Fisherman’s Wharf), Công viên Golden Gate và nhất là chiếc cầu treo Golden Gate, niềm tự hào của người dân bản địa. Chiếc cầu này do kỹ sư Joseph B. Strauss đôn đốc thực hiện. Cầu dài 2824m, sau năm 1964 đã nhường dịa vị hạng nhất về chiều dài, cho những chiếc cầu khác trên thế giới như Verrazano Narrows, Akashi, Kaikyo..như ng vẫn giữ kỷ lục về độ cao nhất từ hai cột tháp (746 Ft – 227m) , và một cặp dây cáp treo dài 1200m, có đường kính 1m. Cầu bắt đầu xây dựng hơn 4 năm và khánh thành vào năm 1937, với chiều rộng đủ cho 8 lằn xe xuôi ngược, cùng với hai hành lang dành cho người đi bộ, nên cũng là địa điểm thuận lợi và nổi tiếng về hiện tượng tự sát mà thống kê ghi nhận, đã có hơn ngàn người nhảy sông chết, kể từ ngày thành lập tới naỵ
Los Angeles hiện là thành phố lớn thứ nhì của Hoa Kỳ, không những là thủ đô của nhiều Cộng đồng di dân Người Mỹ gốc Á Châu như Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và người Đông Dương gồm Việt, Miên, Làọ Hollywwod từ lâu nổi tiếng là kinh đô ánh sáng trung tâm sản xuất phim nhựa về nghệ thuật thứ bảỵ Đối với các giới hâm mộ diện ảnh, không ai không nhớ tới những địa danh quen thuộc như Đại Lộ Hoàng Hôn (Sunset Boulevard), Beverly Hill...sang trọng với nhà cửa dinh thự của các tài tử điện ảnh. Nhưng tình nhất vẫn là Chinese Theatre, một rạp hát nổi tiếng lâu đời, được coi như một nhân chứng của lịch sử điện ảnh Hoa Kỳ, qua các dấu ấn thời gian từ chữ ký, dấu chân, dấu tay kể cả dấu son môi của hằng trăm nữ tài tử điện ảnh nổi tiếng bao đời như marilyn Monroe, Lý Tiểu Long, Madonna, Michael Jackson..
Vào phim trường Universal tại Hollywood, để chứng kiến tận mắt những xảo thuật dựng phim giả tạo của đạo diễn, từ các pha nghẹt thở hiểm nguy, mà vai chính do các ‘ Stunt men’ đóng thế, cho tới kỹ thuật lắp ráp trên màn ảnh, khiến cho ai cũng có cảm giác như mình đang ở trên mây Cuối cùng là Disneyland,vư ơng quốc của các loại phim hoạt hình Walt Disney, trung tâm giải trí của mọi lứa tuổi, với các khu vực được xây dựng theo chủ đề nhưng được ưa thích nhất vẫn là các nhân vật thần thoại hay ảo như Bạch Tuyết với bảy chú lùn, Cô bé quàng khăn đỏ, Thằng người gổ Pinocchio, chú chuột Mickey, vịt Donald, chó Pluto...Tại đây du khách còn được đáp chuyến tàu chạy bằng hơi nước , trên con sông đào mang tên Mississipi, chảy vòng quanh khu vực.
California còn là vùng đất học, vì trong tổng số 12 viện đại học danh tiếng nhất hoàn cầu, thì Hoa Kỳ đã chiếm 8, trong số này có hai của Tiểu bang Calị Điều này cũng dể hiểu vì miền đất này đông dân nhất Hợp Chũng Quốc, với hơn 30 triệu người sinh sống tại đây, lại có một nền kinh tế cao và sung túc, cho nên hệ thống giáo dục được phát triển mạnh nhất nước. Đó là hai dại học công lập Universite of Calif-Berkeley, thường được viết tắt là UC Berkeley, cùng với đại học tư Stanford, cả hai đều lớn mạnh. Hiện nay UC Berkeley có tới 1500 giáo sư giảng dạy và 30.000 sinh viên cùng nghiên cứu sinh đang theo học. Tường thành lập từ năm 1868, qua thời gian đã tạo được một bề dầy thành tích, qua hai lãnh vực trí thức và chuyên nghiệp, nhát là sự nghiên cứu khoa học, đã mang về cho trường các giải Nobel danh tiếng về Nguyên tử và tin học.
UC Berkeley còn có lò phản ứng nguyên tử, do chính tiến sĩ J.R.Oppenheimer thực hiện, vì ông chính là cha dẻ cuả quả bom đầu tiên mà Mỹ chế tạo được vào năm 1945. Calif còn có 8 viện đại học khác, cùng có trình độ và tầm vóc ngang hàng với UC Berkeley, họp thành University of Calif (UC ) công lập, do một hội đồng quản trị và điều hành (Regent), đứng đầu là một chủ tịch và nhiều thành viên, trong đó có Thống đốc tiểu bang, cùng với các viện trưởng đại học liên hê.. UC đào tạo đủ trình độ như cử nhân ( Bachelor – 4 năm), cao học (Master), tiến sĩ (Doctor)..có giá trị văn bằng, chẳng những tại Mỹ mà còn khắp thế giớị Điều này đối với các đại học khác tại Calif như UC San Diego, UC Los Angeles, UC Riverside, UC San Francisco, ..cũng không có gì khác biệt, tuy mỗi trường có riêng chuyên môn của mình. Song song với hệ thống đại học công lập của liên bang, còn có hệ thống đại học của tiểu bang Calif (CSU), rãi rác từ nam lên bắc có 23 viện như Humbold, Hayward, Stanislaus, Monrerey Bay, San Diego..chỉ đào tạo hai ngãch cử nhân và cao học mà thôi, tuy rằng trình độ giảng dạy, giữa hai viên đại học liên bang (UC) và tiểu bang (USC) đều giống nhaụ Còn phải kể tới các đại học chuyên môn (College) và cộng đồng (Community College), đều thuộc hệ thống công lập hạng ba. Trong khi đó các Trường đại học tư nhân cũng được phép phát triển tự do, bao gồm 30 đại học hổn hợp (University) và Chuyên môn (College), trong số này có 10 trường của các giáo hội Thiên Chúa, Tin Lành và Thanh Giáo như Trường Đại học Sacramento, Los Angeles, đại học quốc tế..nhưng nổi tiếng nhất của hệ thống này, vẫn là đại học Stanford. Viện thành lập năm 1891, hiện có 1400 giảng sư , 14000 sinh viên, 7 phân khoa, được xếp hạng trong 5 viện đại học danh tiếng nhất của nước Mỹ : Harvard, Berkeley, Cal Tech và Massachusetts Institute of Technology (MIT). Viện chuyên đào tạo giáo sư các ngành , giảng dạy tại các trường phổ thông của Mỹ. Tóm lại,trong hệ thống đại học tại tiểu bang Calif, 90% sinh viên là người địa phương, số còn lại từ các tiểu bang khác và ngoại quốc. Người gốc Châu Á theo học chưa tới 3% nhưng chiếm 8% là sinh viên giỏi, trong số này đứng đầu vẫn là người Việt Nam, Trung Hoa, Nhât Bản và Nam Triều Tiên.
LAS VEGAS, THIÊN ĐÀNG HAY ĐIA NGỤC ?

Thiên đàng hay địa ngục tùy theo cảm xúc của con bạc thắng hay thuạ Tuy nhiên theo thống kê của báo chí, thì từ trước tới nay, đã có 90% dân đỏ đen bị sạt nghiệp vì bạc bàị Nhiều người vỡ mộng , cháy túi sau 4 ngày miệt mài điên đảo tại Las Vegas. Điều lạ kỳ là hầu hết các con bạc dù đã bị cháy túi nhiều lần nhưng vẫn cứ vui vẽ trở lại chốn cũ, với hy vọng gở vốn kiếm lời, để rồi lại cứ thất thiểu quay về như bao lần mộng mi..
Las Vegas là một thành phố phi thời gian, vì tại đây không hề có một chiếc đồng hồ nào được treo tại các nơi công cộng. Đây cũng là dụng ý của các chủ sòng, muốn con bạc đừng thèm quan tâm tới ngày giờ cho bận rộn cuộc chơị Các phòng ngủ trong mọi khách sạn, cũng được thiết kế một cách nhạt nhẽo sơ sài, gây chán nản cho khách trọ, để họ mau mau rời giường, xuống ngay sòng bạc, sát phạt cuộc đỏ đen.
Khởi đầu chỉ là một thị trấn nhỏ , nằm trong sa mạc Nevada, có con đường sắt từ các tiểu bang miền Nam ngược lên vùng tây bắc California để săn tìm vàng. Những năm nước Mỹ buớc vào thời kỳ suy thoái kinh tế, thị trấn trên cũng chuyển mình, bằng cách phân thành 1200 lô đất, bán cho công chúng và các công ty để đầu tư vào việc xây dựng sòng bạc và khách sạn. Nơi đó hiện nay trở thành khu phố chính Strip và Glitter Gulch, nằm dọc theo hai siêu lộ 15 và 95. Chính thức ra đời ngày 15-5-1905, Las Vegas rộng 293 km2,mang tên ‘Đồng Cỏ’ vào thời kỳ thuộc Tây Ban Nha,còn bây giờ người Mỹ gọi la ‘ Sin City ‘ thành phố tội lổị Phi trường quốc tế Mc Carran, lối dẫn vào thành phố Las Vegas xa 8 km, thật tình không giống bất cứ một nơi nào trên thế giới, vì được dàn chào gần như khắp nơi, bằng những Máy Kéo Tiền, mà người Mỹ gọi là One Armed Bandits, còn dân chơi cầu ba cẳng thì xưng tụng là Tướng Cướp Một Tay, vì máy nào cũng chỉ có một cánh tay, cũng là chiếc cần kéo, khi bỏ vào máy một đồng 25 xu.USD. Sẽ ‘ Hit the Jackpot ‘ khi nhìn thấy ba hình vẽ giống nhau hiện trên nền truyền hình, đồng thời với tiếng rổn rảng của các đồng xu chảy ra từ máỵ Nhưng đó chỉ là họa hoằn, vì ngàn người như một, bỏ tiền vào mà đâu có thấy đồng nào trở lạị
Ngày 2-8-2004 tờ Times cho biết tỷ phú Kirk Kerkorian, đã ký hợp đồng sáp nhập trung tâm giải trí MGM Mirage của mình với Mandalay Resort Group, thành một đại công ty cờ bạc lớn nhất thế giớị Còn Harrah’s Entertainment đã mua Caesars Enter với giá 9,25 tỉ USD để khuếch trương to hơn đại công ty trên. Tóm lại hai tập đoàn cờ bạc và giải trí lớn nhất của hoàn cầu, đổ hết tiềnbạc vào Las Vegas, biến nó thành chốn thiên đàng với bốn món ăn chơi đúng nghĩa,trong đó đâu có thiếu công nghiệp Sex,chỉ đứng sau cờ bạc mà thôi. Hiện MGM Grand đã phá bỏ hai công viên giải trí cũ, để xây dựng những hộp đêm thác loạn đúng nghĩa, mà giới giang hồ quen gọi là ‘ Chổ Bốc Lá ‘, mô hình tương tự như Quán Crazy Horse ở Ba Lê (Pháp). Sex hiện diện khắp nơi ở Las Vegas qua hình thức nghệ thuật, trong mọi chương trình của đoàn xiệc Cirque du Soleil thường trực tại Rạp, gần như hoàn toàn khỏa thân và gợi dục. Tại Trung tâm Treasure Island, có màn cướp biển và các nàng tiên cá bán thân.
Theo Billy Vassiliadis , chuyên viên quảng cáo thì nhờ Sex đã hấp dẫn hằng triệu du khách Anh, Đức, Nhật, Úc, Nam Hàn..ùn ùn kéo tới Las Vegas mua vui và đánh bạc. Để cung ứng nhu cầu, các đại công ty đã mở các chuyếnbay trực tiếp từ Âu Châu, Nhật,Úc, Nam Triều Tiên..tới thẳng phi trường quốc tế của thiên đàng đỏ đen là sân bay Mc Carran, đem bạc tỷ lợi nhuận về cho ông chủ của MGM Mirage, The Strip..nâng thành phố Las Vegas lên hàng đầu nước Mỹ về sự tăng trưởng (từ 600.000 – 1,6 triệu năm 2005) và mức thu nhập trung bình 32.000 USD.
Thiên đàng hay địa ngục, ai muốn nói gì cũng mặc, trước mắt Las Vegas mỗi năm thu hút hằng năm hơn 33 triệu du khách muôn phương đổ về,để thử thời vận hay hưởng cảnh nhất dạ đế vương trong thiên đường tội lỗi, đã mang tới lợi tức cho thành phố hằng năm hơn 5,25 tỉ USD. Hiện Las Vegas có 19 đại khách sạn hàng đầu thế giới, trong đó mỗi nơi là một sòng bạc (casino) đồng thời là chổ giải trí trình diễn ca vũ nhạc do các tài tử thượng thặng khắp năm châu về. Đó là El Rancho ra đời năm 1941, Flamingo năm 1946 thực hiện cả một khu hoang dã , thả đầy chim Hồng Hạc,biểu tượng cái tên của khách sạn. Còn Circus Circus lại mang hơi hướng của những đoàn xiệc lừng danh quốc tế. Vào New York hotel,du khách có cảm tưởng như mình đang sống ở thành phố trên được thu nhỏ với tượng nử thần tự do, tay cầm bó đuốc rực sáng đêm ngàỵ
Nói chung thì thiên đường nào cũng không bằng các sòng Casino được vây quanh bằng đu kiểu, từ các máy đánh bạc ở vòng ngoài, cho tới những sòng Roulette, Poker..mà không khí sát phạt hện thực bằng đồng phỉnh đủ màu,tượng trưng cho giá tri của USD. Từ năm 1931 tới nay, ngoài cờ bạc đỏ đen, Las Vegas còn đảm nhận dịch vụ kết hôn, với thủ tục giản tiện nhất trong 50 tiểu bang của Mỹ. Ở đây có tiền thì có tất cả, nên chỉ cần vài phút đợi chờ, người ta có thể lấy hay bỏ nhau còn dễ hơn thay đổi quần áọ Các tổ chức cưới (Weđing Chape) phục dịch khách hàng từ A-Z..Dễ như vậy nên mỗi năm có hơn 100.000 cặp tổ chức đám cưới ở xứ thần tiên đầy lạc thú, nếu có đủ tiền trả.
Tuy nhiên ngoài cờ bạc, Las Vegas cũng có nhiều thắng cảnh danh lam như đập nướcHoover , hồ chứa Mead khổng lồ, hùng vĩ. Hẻm núi đá đỏ Rock Canyon được hình thành từ 65 triệu năm trước. Năm 2001 đã khánh thành Viện Bảo tàng nghệ thuật Guggenheim trưng bày tranh của của các danh họa Picasso và Cézanne..cũ ng chỉ với mục đích làm cho thành phố bớt đi chút mặc cảm tội lổị
HONOLULU CHỐN ĂN CHƠI ĐẮT GIÁ NHẤT CỦA NƯỚC MỸ :

Từ năm 1959,quần đảo Hawaii chính thức trở thành tiểu bang thứ 50 của Hợp Chũng Quốc, khiến cho người Mỹ khắp nước, ai cũng ao ước tới thăm chốn thần tiên này một lần. Tại thủ phủ Honolulu hiện có gần 1 triệu dân, chính phủ liên bang vẫn duy trì khu di tích lịch sử Trân Châu Cảng (Pearl Harbor ), một địa danh ghi nhớ lại trận đại chiến long trời lở đất của Nhật và Hoa Kỳ vào ngày 7-12-1941. Chứng tích của xác tàu Arizona trong Hạm đội Mỹ bị Nhật đánh chìm, nay được biến thành một khu bảo tàng, để tưởng niệm hương hồn của hơn 4000 quân nhân Mỹ đã hy sinh vì nước.
Người Việt định cư ở đây từ những năm 1965 cho tới nay, qua nhiều đợt như theo chồng, du học nhưng tuyệt đại đa số vẫn là những người đến từ sau ngày 1-5-1975, theo thống kê cả tiểu bang có chừng vài ngàn người, sống nhiều nhất tại Honolulu, sau đó đảo Maui, Big Island, Kuwaii..bằ ng đủ nghề nhưng nhiều nhất là lái taxi, bán Manapua, làm hảng xưởng và khách sạn..nhưng dù hành nghề nào chăng nữa, đa số người Việt Nam cũng cảm thấy thoải mãi vì thời tiết khí hậu hao hao chốn quê nhà.
Tới du lịch Hawaii, khách chơi thoải mái với quần cụt áo thun,một truyền thống lâu đời của bản địa. Mọi người sẽ được thở hít không khí trong lành của trời đất, vẫy vùng nơi sóng bạc biển xanh, tha hồ thưởng thức các món ăn trấn quý của đại dương, mà bất cứ khách sạn nào cũng có. Đó là sự hãnh diện chung của bất cứ du khach nào khi tới thăm đảo quốc thần tiên này và ai khi giả từ cũng đều nói “Mahalo” như một lời hứa hẹn trở lại trong nụ cười (HẾT- THE END)







THƯ CALI (Phần 2)

Nhân Lễ Độc Lập 4-7 nước Mỹ

HOA KỲ TRONG MẮT AI (phần 2)
By: Mường Giang

BẢO VỆ TỔNG THỐNG MỸ :
Nhưng đối với người Mỹ không thuộc thành phần trên, thì mọi việc lại khác, kể cả các nhà báo cũng không thể nào chụp hình bất kỳ một thành viên nào trong gia đình của Tổng Thống Mỹ, do những khuôn khổ rất ngặt nghèo mà Tòa Bạch Ốc qui định. Trong các buổi lễ lớn, những tiệc tiếp tân, các cơ quan truyền thông bị tập họp một chỗ sau hàng rào cản, khiến họ chỉ còn ghi lại được hình thức bên ngoài rồi. Hình ảnh của Tổng Thống và gia đình, cũng được kiểm soát chặt chẻ tới cả góc độ của ảnh, nên nhiều người phải bỏ cuộc vì không làm xoay sở được khả năng của nghề phóng viên, chụp ảnh, ngoại trừ các tay chuyên môn chụp lén. Dù cho hằng ngày trên báo chí và truyền hình Mỹ, luôn luôn có những chuyện lớn nhỏ va chạm tới vị nguyên thủ quốc gia. Đây cũng chỉ là chuyện bình thường theo quan niện tự do dân chủ của Hoa Kỳ. Nhưng đó chỉ là hình thức, còn sự thật không phải là vậy, nhất là đối với Hiệp Chủng Quốc, Tổng Thống được dân tín nhiệm bầu lên, nên có địa vị quan trọng bậc nhất, phải được bảo vệ . Đó là một nhiệm vụ thật là khó khăn, nặng nề.
Từ sau cuộc nội chiến Nam-Bắc Mỹ, bắt đầu năm 1901, việc bảo vệ Tổng Thống và gia đình thường được giao cho Sở An Ninh thuộc Bộ Ngân Khố Hoa Kỳ.Những người được tuyển dụng vào đơn vị đặc biệt này, đã phải qua một cuộc khảo nghiệm lựa chọn rất nghiêm ngặt bằng các điều kiện qui định như tuổi từ 24-30, tốt nghiệp Đại học, từng phục vụ trong quân đội, có hình dạng tuấn tú, cữ chỉ lịch thiệp. Đội quân trên có quân số chừng 300 người, đảm nhận tất cả các công tác tại Tòa Bạch Ốc, là nhân viên nổi hay chìm tùy theo chức phận đang giữ. Trước khi chính thức được thuyên chuyển về nhiệm sở trên, các nhân viên đã trải qua thời gian thực tập, từ 2-3 năm, tại 57 Cơ quan dã chiến của Sở An ninh và tốt nghiệp một khóa học đặc biệt về các chuyên môn sắp được giao phó. Tóm lại nhiệm vụ bảo vệ Tổng Thống Hoa Kỳ, bao gồm từ hành động A-Z, trong đó có cả phần điều tra, theo dõi, những kẻ viết thư nặc danh, chửi bới, hăm dọa Tổng thống. Năm 1955, TT Eisenhower tới Genève họp thượng đỉnh, nhân viên An ninh đã tới địa điểm trên hằng tháng trước, để an bài lại tất cả mọi công tác, từ chổ ngủ, sân golf, hý trường, phòng họp..đều được điều nghiên một cách nghiêm chỉnh và hiệu lực.
Trước khi Sở An ninh Bảo Vệ Tổng Thống ra đời, 3 trong số 9 vị TT Mỹ đã bị ám sát nhưng từ năm 1901 về sau, chỉ có hai vị Tổng Thống đang tại chức bị ám sát, đó là John F. Kennedy (chết năm 1963) và Ronald Reagan bị thương. Cùng thời gian, khắp thế giới đã có nhiều vị nguyên thủ quốc gia như Vua, Hoàng Hậu, Thái Tử, Tổng Thống, Thủ Tướng, các chính khách bị giết. Bởi vậy dù bị nhiều chính phủ phản đối dữ dội, qua các biện pháp thi hành của Sở An ninh Bảo vệ TT Mỹ. Thế nhưng Hoa Kỳ vẫn phớt tỉnh và luôn thi hành đúng nguyên tắc và nhiệm vụ của mình.
VĂN PHÒNG TÌNH BÁO RIÊNG CỦA TÒA BẠCH ỐC :
Theo tường thuật của báo chí, cơ quan này có tên là White House Situation Room. viết tắt là WHSR (Phòng tình huống Dinh Tổng Thống), ở trong lòng đất về hướng tây nam của Tòa Bạch Ốc. Cơ quan này không lớn lắm, chỉ gồm một Phòng họp và hai phòng làm việc nhưng được thiết kế như mạng nhện bằng các dụng cụ truyền tin điện tử tối tân nhất. Cơ quan này được chính Tổng Thống John F. Kennedy cho thành lập vào năm 1961, sau khi CIA bị thất bại trong chiến dịch đổ bộ vào Cu-ba tại Vịnh Con Heo. Phòng gồm 5 Tổ tình báo, làm việc 24/24 giờ/1ngày và suốt năm không có ngày nghỉ. Nhiệm vụ chủ yếu của WHSR là tổng hợp và ghi chú tất cả những sự kiện quan trọng, đệ trình Tổng Thống và các yếu nhân tham khảo nghiên cứu.Đây là một nhiệm vụ đầy gian khổ và phải chịu nhiều áp lực từ mọi phíạ Nhân viên của Phòng được thuyên chuyển từ các nơi về, đa số đều trẻ tuổi, phải phục vụ thời gian 2 năm nhưng hầu hết đều mong mãn hạn để trở về đơn vị gốc. Tuy nhiên đây là cơ hội để thăng tiến sau này, vì họ thường xuyên và trực tiếp gặp gở Tổng Thống hay các yếu nhân để báo cáo tin tức hằng ngày, mà quan trong nhất là công tác báo cáo buổi sáng (Morning Book), có liên quan tới Bộ Quốc Phòng và nhiều Bộ khác. Đồng lúc là công tác tổng họp tất cả các bức điện văn của những Tòa Đại Sứ, Lãnh Sự Hoa Kỳ ở hải ngoại gởi về, để Tổng Thống nắm rõ các chi tiết, sử dụng vào phiên họp mỗi ngày, diễn ra vào lúc 8giờ 30, với Hội Đồng An Ninh Quốc Giạ
Theo các tài liệu lưu trử phổ biến, thì dù WHSR không phải là cơ quan duy nhất cung cấp tin tức cho Tổng Thống, vì bên cạnh còn có CIA cũng báo cáo tóm tắt thường ngày cho vị Nguyên thủ Quốc gia (President ‘s Daily Brief), nhưng qua cac đời TT Ronald Reagan, George Bush (cha), Bill Clinton đều ưa thích các báo cáo của WHSR, cũng như CIẠ Tóm lại Cơ quan này là đơn vị thừa hành mệnh lệnh của Cố vấn An ninh Quốc Gia, ngoài ra họ còn đặc biệt thiết lập đường dây điện thoại nóng của Tổng Thống Mỹ, liên lạc với các nguyên thủ quốc gia khac trên thế giới, với nhiệm vụ ghi chép, thông dịch và bảo mật các cuộc điện đàm của Tổng Thống.
BẦU CỬ TỔNG THỐNG MỸ :
Hoa Kỳ là một quốc gia tự do, nên có rất nhiều đảng phái hoạt động, tuy nhiên chỉ có hai chính đảng là Dân Chủ và Cộng Hòạ Theo truyền thống, thì đảng Cộng Hòa luôn được giới doanh nhân, tài phiệt ủng hộ, còn đảng Dân Chủ được trí thức, giới trẻ và tầng lớp dân nghèo ưa thích. Tuy nói là dân chủ tự do nhưng có một nghịch lý tại đất nước nàỵ Đó là tuyệt đại người Mỹ không thích đi bầu cử. Điều này đã khiến cho Hoa Kỳ, từ trước tới nay, chưa có một vị Tổng Thống nào đạt được số phiếu tuyệt đốị
Do tình trạng trên, nhiều Tu Chính Án đã được bổ sung liên tiếp, để mở rộng quyền Bầu và Ứng Cử. Năm 1870 xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc. Năm 1920, phụ nữ Mỹ được quyền đi bầu. Đến năm 1964 các công dân không đóng thuế vẫn được đi bầụ Năm 1971 hạ thấp tuổi đi bầu xuống tuổi 18. Dù vậy tỉ số người dân đi bầu cũng chẳng thay đổi là mấỵ Bằng chứng là năm 1964, Lyndon B. Johnson là vị tổng thống Mỹ đầu tiên, đạt được số phiếu đi bầu nhiều nhất, nhưng cũng chỉ có 37,8%. Riêng tổng thống Martin Van Buren đắc cử năm 1836 với số phiếu đi bầu thấp nhất, chỉ có 11,4%.
Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 qui định nhiệm kỳ tổng thống là 4 năm nhưng không nói tới thời gian được phép tái tranh cử. Ngày 12-4-1945 mới có Tu Chính Hiến Pháp số 22, được ban hành ngày 27-2-1951, ấn định Tổng Thống Hoa Kỳ chỉ được tối đa Hai Nhiệm Kỳ. Hiện nay có nhiều ý kiến nhận xét việc Ứng và Tranh cử Tổng Thống Mỹ quá phức tạp so với Tây phương, cho dù cả hai đều cùng theo một thể chế. Nhưng theo quan niệm của người Mỹ, thì việc chọn người ra tranh cử chức Tổng Thống, mới là điều hệ trọng nhất trong tiến trình bầu cử. Vì vậy việc này chỉ được diễn ra trong Nội Bộ các Đảng Phái Chính trị, từ tháng 1-8 , gọi là Bầu Cử Sơ Bộ và Đại Hội Đảng. Người được đề cử ra tranh chức tổng thống, phải đạt được hơn 50% số phiếu của Đại Biểu đi bầụ Cũng vì các thể thức và nguyên tắc quá phức tạp, nên năm 1924, đảng Dân Chủ phải bỏ phiếu tới lần 103 mới chọn được ứng viên. Riêng các ứng cử viên độc lập thì không cần nguyên tắc trên nhưng không bao giờ hy vọng đắc cử vì đâu có hậu thuẩn của các đảng chính tri..
Ngày bầu cử Tổng thống Mỹ trên toàn quốc, được diễn ra vào ngày thứ Ba đầu tiên của tháng 11 Dương lịch. Công dân Mỹ trực tiếp bầu các đại diện cử tri, ứng vào số Nghị Sĩ Liên bang hiện nay là 540 người(438 Hạ viện + 100 Thượng viện + 2 cho Hawaii và Alaska). . Theo Hiến pháp, các Nghị sĩ và Công chức, không được quyền ứng cử Đại Cử Trị Còn Tu Chính Án số 12, qui định khi hai ứng viên Tổng Thống không đạt được số phiếu bầu tuyệt đối hay số phiếu bằng nhau, thì Hạ Viện sẽ bỏ phiếu Bầu một trong hai người làm Tổng Thống. Cuối cùng nếu mọi sự vẫn không giải quyết được, thì tới ngày 4-3, Phó Tổng Thống đương nhiệm Sẽ lên thay Tổng Thống.
Vì sợ các tổng thống Mỹ được dân chúng bầu trực tiếp, họ sẽ có uy tín và thực quyền lớn , sinh ra độc tài và lấn áp quốc hộị, nên những người làm luật mới bày ra cách bầu cử gián tiếp bằng Thể Thức Đại Cử Trị Tuy nhiên đã có nhiều rắc rối khiến cho người dân càng thêm bất mãn. Đó là năm 1876, Samuel J.Tilden (Cộng Hòa) được 4.284.757 phiếu hơn Rtherford B. Hayes (Dân Chủ) nhưng Hayes lại đắc cử, vì hơn Samuel một phiếu của Cử tri đoàn. Bi kịch lại tái diễn hiện nay, qua hai lần tranh cử của W.Bush và Gore cùng John Kerry, làm cho người dân thêm phê phán. Nhưng với một Hiến Pháp sắt đá như Hoa Kỳ, thì sự thay đổi rất khó thực hiện được.
NHỮNG CÂU CHUYỆN KHÁC LIÊN QUAN TỚI NGÀY ĐỘC LẬP 4-7 CỦA HOA KỲ :
Chiến trạnh lạnh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô đã kết thúc , để lại những dấu ấn trên đời sống của người Mỹ một cách sâu đậm và thiết thực nhất, mà theo nhận xét chung,không gì hơn được Hệ Thống Siêu Xa Lộ trên toàn quốc, nay trở thành biểu tượng của nền văn hóa quốc giạ Nhờ nó mới phát sinh ra vô số vùng ngoại ô, tạo nên công nghiệp ngành sản xuất xe hơi đủ loại, để chuyển vận người và hàng hóa khắp lục địạ Việc mở mang đường xá tại Hoa Kỳ đã có từ thập niên 30 của thế kỷ XX nhưng chính Tổng Thống Eisenhower là người đã đưa nó vào hiện thực, qua kinh nghiệm học hỏi được khi ông còn là một tướng lãnh chiến đấu tại Âu Châu, trên lãnh thổ nước Đức.
Vào cuối thập niên 1990, Liên Bang Mỹ đã khánh thành Hệ Thống Xa Lộ toàn quốc mang tên Eisenhower, có chiều dài 72.000 km, được xây dựng theo tiêu chuẩn đồng nhất : mỗi lằn xe chạy rộng 12 feet (3,65m), với tốc độ ấn định từ 45-55 mile (80-112 km/giờ),tó i thiểu mỗi chiều có 2 lằn xe chạỵ Đặc biệt Siêu Xa lộ không có đèn đường hay ngả tư cắt ngang, thường hai bên đường chỉ có các nhà trọ và các hàng quán bán đồ ăn nấu sẳn.
Tuy cùng là những di dân trên đất Mỹ nhưng người Châu Á (Hoa, Nhật, Hàn, Thái Lan, Ấn Đô...) trong đó có cả người Việt Nam, suốt 32 năm qua, đã góp phần không nhỏ, làm đổi thay đời sống xã hội Hoa Kỳ, qua quá trình hoàn thành các Các Cộng Đồng Người Việt tại các Thành phố có đông người Việt cư ngụ như San José,Los Angles, San Francisco, Little Sai Gòn (California) , Texas, Washington DC, New York..
NEW YORK , THÀNH PHỐ LỚN NHẤT NƯỚC MỸ :

Trước năm 1974, New York có Tòa nhà cao nhất thế giớị Đó là Empire State Building với 102 tầng, cao 443m, nằm trên Đại lộ thứ 5 , giữa khu thương mai Manhattan. Được hoàn thành bởi các kiến trúc sư Shreve, Lamb và Harnon, thiết kế theo kiểu cách ArtĐéco năm 1930. Những bộ phim ghê rợn loại King Kong được thực hiện tại đâỵ
Từ sau khi Hai Tháp của Tòa Nhà World Trade Center bị 19 tên khủng bố Hồi giáo cực đoan dánh bom tự sát bằng máy bay, vào ngày 11-9-2001, làm chết gần 7000 người và sụp đổ toàn diện, thì Empire State Building lại trở thành tòa nhà cao nhất nước Mỹ. Đây là nơi thu hút du khách trong và ngoài nước, khi tới thăm viếng thủ đô tài chánh vủa Hoa Kỳ, với những cảm giác mạnh , khi đứng trên hai đài quan sát tại tầng số 86 và 102., với hệ thống thang máy chuyển động rất nhanh. Đài quan sát có song sắt bảo vệ ở phía ngoài, để tránh những tai nạn đáng tiếc. Nơi này cũng cấm hôn hít với lý do là nụ hôn sẽ tạo nên hiện tượng điện giật làm chết ngườị Từ đây du khách có thể chiêm ngưởng được toàn cảnh thành phố, trong phạm vi 120 km khi trời tốt, bằng không từ trên nhìn xuống chỉ thấy mây trắng mịt mùng, khói sương lãng đảng, khiến cho ta có cải cảm giác như đang sống trong ở cõi trên, quên đời quên tất cả.
Theo thống kê, tính từ ngày được khánh thành vào năm 1931 tới nay, đã có hơn 80 triệu du khách tới thăm viếng tòa nhà nổi tiếng này, được xếp vào kỳ quan thứ 8 của thế giới,tốn hết 60.000 tấn thép, 1860 bậc thang dẫn từ dưới đất lên tới đỉnh ở tầng 102, hơn 5000 km đường dây điện thoại, 96 km đường ống dẫn nước và 6500 cửa kính, được lau chùi thường xuyên.
New York có Rockerfeller Center , gồm 19 tòa cao ốc của tỷ phú Rockerfeler chuyên về thương mại, giải trí và buôn bán bất động sản. Ở đây còn có Viện Bảo Tàng Guggenheim là công trình xây dựng của Kiến trúc sư nổi tiếng nhất nước Mỹ và thế giới là Frank Lloyd Wright. Còn có Trung tâm tài chánh chứng khoán thế giới Wall Street, nằm trong một dãy phố hẹp, cổ kính New York Stock Exchange (Thị trường chứng khoán NY), được hình thành từ năm 1792, từ 24 Hội viên lên tới 1300 ngày naỵ Trên Đại lộ Broadway náo nhiêt, còn có Trung tâm kịch nghệ nỗi tiếng, thường trình diễn những tác phẩm nổi tiếng của thế giớị Trụ sở Liên Hiệp Quốc một trong những điểm thăm viếng của du khach, nay cũng được hạn chế tối đa để đề phòng khủng bố , sau ngày 9-11-2001
Nhưng niềm tự hào của người dân New York nói riêng và nước Mỹ, vẫn là Tượng Nữ Thần Tự Do, tay cầm ngọn đuốc sáng, để soi đường dẫn lối , cho các đoàn tàu vượt Đại Tây Dương vào Hải Cảng New York.
Đây là một trong những biểu tượng vĩ đại nhất của nước Mỹ, được đặt trên Đảo Bedloe còn gọi là Liberty Island, bên bờ biển New York. Tượng tượng trưng cho sự tự do, liêm chính và lòng nhân ái của người Mỹ khi lập quốc. Với chiều cao từ nền tới bó đuốc là 92,97m và trọng lượng 325 tấn, do Điêu khắc gia lừng danh người Pháp trong thế kỷ XIX là Augusste Bartholdiv thực hiện. Đây là món quà quý giá của nước Pháp , tặng cho người dân Mỹ, , để kỷ niệm Ngày Độc Lập Hoa Kỳ 4-7. Nhưng vì lúc đó Pháp đang có chiến tranh với Phổ, nên phải giao việc thực hiện tượng cho các hội từ thiện đãm trách.
Vì công trình quá vĩ đại mà ngân khoản của chính phủ trợ cấp có giới hạn, nên công tác phải gián đoạn nhiều lần cũng như mất nhiều thời gian để tiết kiệm tiền.Vì vậy tới ngày 12-8-1876 chỉ mới hoàn thành xong cánh tay cầm ngọn đuốc của Nữ thần. Để tranh thủ thời gian cho kịp, nhà điêu khắc phải đóng thùng gửi trước sang Mỹ, trong lúc tiếp tục những phần còn lại, mãi cho tới tháng 5-1884 mới xong.
Tại Mỹ, dân chúng đã quyên góp được 250.000 USD để xây chiệc bệ đặt Tượng Nữ thần trên đảo Bedloẹ Một buổi lễ trọng thể được tổ chức ngày 28-10-1886, để khánh thành pho tượng với sự tham sự đông đảo của đồng bào và các quan chức Chính phủ. Dịp này Ủy Ban Quốc Hội đã để một chiếc hộp màu đỏ, tượng trưng cho niềm tin, được niêm kín, trong đó có Bản Hến Pháp và Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ, dưới chân Nữ Thần Tự Do, như một nhân chứng lịch sử. Tên tuổi của Nhà Điêu khắc Pháp Auguste Bartholdiv được vinh danh. Từ năm 1931, Tượng lại được bảo trì cẩn mật và tô bồi thêm cho xứng đáng với ý nghĩa thiêng liêng. Riêng Bó đuốc trong tay Nử thần, luôn luôn cháy sáng, nhờ một hệ thống ống dẫn dầu cung cấp liên tục.
Hằng năm Tượng Nữ thần đã thu hút du khách muôn phương tới đây chiêm ngưởng. Đi tàu từ đất liền ra đảo và sắp hàng để được thang máy đưa lên tận Vương Miện của Tượng, tha hồ chụp hình, ngắm cảnh. Nếu không muốn chờ đợi, thì tự leo 22 bậc thang để tới chân tượng Nữ thần, để mua những kỷ vật hay vào thăm khu bảo tàng trưng bày những hình ảnh liên hệ tới lịch sử của nước Mỹ. (còn tiếp một kỳ cuối)





THƯ CALI (Phần 1)

Nhân lễ Độc Lập 4-7 nước Mỹ
HOA Kỳ TRONG MắT AI
By: Mường Giang

…Ngày nay dường như ai ai cũng rõ nước Mỹ chẳng những là một siêu cường số 1 của thế giới về kinh tế, quân sự, mà còn là một Tiểu Lục Địa rộng lớn, có lãnh thổ chạy từ bờ Thái Bình Dương qua Đại Tây Dương, diện tích xấp xỉ với Âu Châu, đứng thứ tư sau Liên Bang Nga (6.592.812 Sq.Ml), Gia Nã Đại (3.851.787 Sq.Ml) và Trung Quốc (3.691.000 Sq.Ml). Như vậy, tính đến năm 2007, diện tích Hoa Kỳ là 3.623.420 Sq.Ml hay 9.384.658 Km2 và dân số gần 300 triệu ngườị Do đất nước quá rộng lớn, còn dân chúng thì tạp chủng, lại có nhiều nền văn hóa dị biệt, tự do quá trớn và cạnh tranh ráo riết để mà sinh tồn. Bởi thế không ai sinh sống trên đất nước này, dù là bản địa hay di dân, người bình thường hoặc Tổng Thống, dám khẳng định nước Mỹ là thiên đàng hay địa ngục, vì sự tốt, xấu, may mắn hay bất hạnh..đều do công ăn, việc làm, tức là đồng tiền hoàn toàn chi phối. Ngoài các vấn đề trên, đối với người Mỹ cho dù là người địa phương hay di dân, trong thâm tâm bất cứ ai cũng đều mang một sự hãnh diện với thế giới, qua các công trình kiến tạo của tiền nhân suốt 200 lập quốc : phố xá khanh trang, nhà cửa đồ sộ, thư viện đầy ắp báo chí sách vở, chợ búa sạch ngon, bến tàu phi trường tấp nập rộn rịp về cảnh sắc lẩn tình người. Tóm lại dân tộc Hoa Kỳ, dù mới lập quốc nhưng hầu hết đều đạo đức, lương thiện và chan hòa tình thương không biên giới (trong đó sự cưu mang hơn 3 triệu người Việt Nam nói riêng, từ tháng 5-1975 tới nay)
+Ai là người thực sự đã tìm ra châu Mỹ?
Trong lần kỷ niệm 500 năm, đánh dấu ngày Christophe Colomb đã tìm ra Châu Mỹ hay Tân Lục Địạ Dịp này đã có nhiều học giả, sử gia, nhà khoa học và khảo cổ khắp thế giới, đưa ra thắc mắc: Phải chăng Colomb là người đầu tiên đã tìm ra Tân Lục Địa hay ông ta chỉ là người đầu tiên tổ chức cuộc họp báo để hợp thức hóa sự có mặt của Châu Mỹ trên bản đồ thế giới ?
Christophe Colomb hay Columbus có gia thế bình thường, cha làm thợ dệt tại Gêne (Tây Ban Nha). Là một vĩ nhân của thế giới nhưng cuộc đời gặp nhiều bất hạnh vì sự đố kỵ của thế nhân nên lúc đương thời, đến nổi đã không lưu lại được một bức chân dung nào của nhà thám hiểm. Điều này đã chứng minh tại sao những bức chân dung của Colomb hiện đang lưu hành không đồng nhất và ít giống ông vì các họa sĩ của thế kỷ XVI đã vẽ bằng phương pháp ‘ Identikit ‘ , tức là dựa theo lời kể của những người quen biết, trong đó có con trai nhà thàm hiểm là Ferdinand. Đại để thì lúc sinh thời Colomb có nước da và tóc màu đỏ, mắt xanh, cao lớn trên 1,65m.
Từ nhiều thập niên qua, rât nhiều học giả đã tìm đủ mọi cách phủ nhận công trình thám hiểm của Colomb nhưng tới nay cũng chỉ là những giả thuyết hoang đường, khó lòng đánh đổ được một sự thật đã được cả thế giới công nhận và ngưởng mô.. Nhưng dù gì chăng nữa, thì công trình thám hiểm của Christophe cũng đã đi vào lịch sử và tâm khảm của mọi người, trong đó có Hiệp Chủng Quốc và các quốc gia thuộc Châu Mỹ. Ngoài ra từ những khai quật được do các nhà khảo cổ tìm thấy gần đây, dựa theo niên lịch khảo sát, có thể xác định họ đã tới đây trước Colmb, gồm những ngư dân Nhật, nhà sư Hui Sen, hoàng tử Madoc, Bjarni, Leif và người Do Tháị Nhưng chính Colmb lại là người đầu tiên đã công bố sự hiện hữu của Tân Lục Địa Châu Mỹ cho cả thế giới biết về bảng TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP của Hoa Kỳ. Theo đó, sau thời gian dài chiến đấu đẳm máu với thực dân Anh, cuối cùng 13 Tiểu bang trong Liên Hiệp Anh ly khai, đã đạt được chiến thắng khi dành được Độc Lập cho xứ sở, mà ngày nay chúng ta trang trọng đón mừng hằng năm , được công bố đầu tiên vào ngày 4-7-1776 với danh xưng “BẢNG TUYÊN NGÔN NHÂN QUYỀN”. Cũng từ đó, ách nô lệ của Anh tại đây chấm dứt. Để tạo nên niềm tự hào của một dân tộc có độc lập và tự do thật sự, năm 1789 Webster Noah là người đầu tiên ấn hành quyển Tự điển tiếng Mỹ, nói lên ngôn ngữ riêng của dân tộc mình. Cùng lúc Benjamin Franklin cũng đã phát minh ra những chữ cái đơn giản. Nhận thức được tương lai của đất nước, sẽ mở rộng bờ cỏi và đón nhận nhiều sắc dân tới lập nghiệp tại Hiệp Chũng Quốc với nhiều nền văn hóa khác nhaụ Bởi vậy Noah Webster càng chú trọng rất nhiều tới ngôn ngữ học bằng cách phát hành nhiều loại sách giáo khoa, giảng dạy về ngữ pháp, chính tả..tới nay vẫn còn ảnh hửng sâu đậm trong dời sống người Mỹ. Sau này còn có thêm M.Guffey hợp tác với Noah, đã bộc lộ tinh thần ái quốc và đạo đức, qua các tác phẩm được phổ biến, làm cho mọi người cảm động và càng ý thức rõ hơn bổn phận trách nhiệm của một công dân đối với xã hội và quốc gia của mình. Tuy ngày nay theo bánh xe văn minh của nhân loại, những công trình của các bậc tiền nhân đã bị lỗi thời với thời gian nhưng tên tuổi của ông vẫn còn nguyên vẹn. Thật vậy, đối với lịch sử Hoa Kỳ, chính Noah Webster đã có công tạo nên Ngôn Ngữ riêng cho người Mỹ, dù nó có nguồn gốc từ tiếng Anh mà thật sự không phải là tiếng Anh nguyên thủỵ Trường hợp này cũng tương tự như Ngôn ngữ Việt Nam, có nguồn gốc từ Hán Tự và La Tinh nhưng không phải là chữ Hán hay La Tinh gốc.
Nhìn chung, để đổi lấy nền độc lập cho đất nước Hoa Kỳ ngày nay, nhiều đại biểu của 13 tiểu bang ly khai thời kỳ đó đã phải thi nhau gục ngả trước súng đạn của thực dân Anh. Thomas Jefferson được đề cử soạn thảo Bảng Tuyên Ngôn Nhân Quyền cho Hiệp Chủng Quốc, trong lúc cuộc chiến vẫn đang tiếp diễn giữa Anh-Mỹ. Thế rồi sau ba ngày tranh luận gay gắt, giữa các đại biểu trong phòng họp, cuối cùng hội nghị cũng đã bỏ phiếu, thông qua và chấp thuận Bảng Tuyên Ngôn Độc Lập trên, vào ngày 2-7-1776.
Có một điều bi thảm mà tới nay con cháu ít ai biết tớị Đó là vào ngày 4-7-1776 công bố nền độc lập của Hoa Kỳ, được diễn ra trong thầm lặng, chết chóc, máu lệ khổ đaụ Bởi thực dân Anh đâu có để yên cho những người chủ xướng, nên ra tay triệt hạ tất cả ai lúc đó dám nói tói Độc Lập cho Hoa Kỳ. Theo sử liệu, có 56 người đã ký vào Bảng Tuyên Ngôn Nhân Quyền và độc lập Mỹ. Tất cả đều là sĩ phu trí thức đương thời, biết trước hậu quả về hành động của mình nhưng bất chấp mạng sống của mình và gia đình, chấp nhận hy sinh cho đại nghĩa dân tộc, đất nước.Bởi vậy, đã có nhiều người chấp nhận dấn thân, trong số này có Francis Hopkinson quê New Jersey là một tài hoa hiếm có. Ông này cũng chính là tác giả của lá Quốc Kỳ Mỹ được lưu hành và tồn tại tới ngày nay.
Tiếp theo, ngay sau khi phát giác được Bảng Tuyên Ngôn Độc Lập, Thực dân Anh lồng lộn điên cuồng, ra lệnh truy tìm và hạ sát những người có tên trong đó. Ngoài ra còn treo giá 500 Bảng Anh cho ai chỉ điểm, phát giác ho.. Cuối cùng Anh tuyên bố Treo Cổ Tất Cả. Do sự khủng bố trên, nên hầu hết những người liên hệ tới Bảng Tuyên Ngôn, lớp chết, lớp ở tù. Nhiều người bị thương tật khốn khổ vì sự tra tấn đánh đập dã man của kẻ thù, khiến cho nhà tan cửa nát, gia đình ly tán. Trong số ít ỏi sống sót sau này,hai người đã trở thành Tổng Thống Mỹ là John Adams và Thomas Jefferson. Cái giá độc lập của Hoa Kỳ là thế đó, mà những người khai sinh ra nó, phải đổi bằng mạng sống, máu lệ đem về. Cho nên cac thế hệ sau ai nấy đều vô cùng cảm kích và trang trọng noi theo truyền thống yêu nước của tổ tiên mọi thờị Đó là kết quả của quốc gia Hoa Kỳ ngày nay, một miền đất tạp chũng nhất trên thế giới,lại là đệ nhất siêu cường, một xứ sở tự do cá nhân nhưng ai cũng biết dừng lại trước giới hạn của mình, đối với quyền lợi chung của Tổ Quốc. Cho nên đừng phân biệt Dân Chủ hay Cộng Hoà, Henry Kissinger hay Condoleeza Rice. Bởi tất cả tuy hai mà một vì ai cũng chỉ có quyền lợi của dân tộc và đất nước Hoa kỳ mà thôị
+TÒA BẠCH ỐC TẠI THỦ ĐÔ LIÊN BANG HOA THỊNH ĐỐN :

Cho tới thế kỷ thứ XX, sự thành công của nhân loại, đứng đầu cũng vẫn là các công trình kiến tạo, được con người bắt đầu xây dựng ngay từ thời thượng cổ. Thời kỳ đầu tiên, theo sử gia Hy Lạp Antipater, lúc đó đã có 7 kỳ quan là Kim Tự Tháp Cheop ở Ai Cập, Vườn treo Babylone tại Mésopotamie, Đền Nử Thần Artemis, Tượng Thần Zéus ở Olympia (Hy Lạp), Mộ Vua Mausole tai Halicarnasse, Tượng Thần trên Đảo Rhodes và Hải đăng Alexandria tại Ai Cập. Do các công trình thời xưa rất hiếm hoi, nên sự lựa chọn để xếp vào kỳ quan thật dễ dàng. Do đó hầu như tất cả đã bị lãng quên vào quá khứ, để nhường chỗ cho các công trình mới tân tiến và vĩ đại hơn của nhân loại, trong đó có sự góp mặt của nhiều nuớc Á Châu như Trung Hoa, Đài Loan, Nhật Bổn, Dại Hàn, Mã Lai Á..Ngoài tra mới đây, nhà xuất bản The Preseavation Press đã phối họp với các đại nhật báo Mỹ US Today, Miami Herald, Tampa Tribune..chính thức cho mở ra một cuộc thăm dò rộng rãi ý kiến trong dân chúng, để lựa chọn 20 công trình xây dựng được ưa thích nhất tại Hoa Kỳ. Tất cả các kiến trúc trên đều có liên hệ mật thiết tới những trang lịch sử dựng và giữ nước của tiền nhân. Điều này đã nói lên tình yêu nước nồng nàn của đồng bào cả nước đối với di sản của quốc gia họ .
Quay trở lại với Hoa Kỳ, từ ngày lập quốc tới nay, đất nước này vẫn là một Liên bang Dân Chủ, chịu ảnh hưởng của nền chính trị Châu Âu, dựa trên nguyên tắc phân quyền và chủ quyền thực sự do lá phiếu của người dân tín nhiệm quyết định. Hiện Mỹ có 50 Tiểu Bang và Thủ Đô là Washington (Hoa Thịnh Đốn), có diện tích 178 km2, dân số 606.900 người theo thống kê năm 2004. Hằng năm thủ đô đón tiếp hơn 20 triệu du khách muôn phương, đổ về thắm viếng các công trình kiến trúc tại đâỵ Có điều ít ai ngờ được là thủ đô Hoa thịnh Đốn, đã được khai sinh từ một kiến trúc sư tài ba người Pháp P.C L’enfant nhưng sau đó ông đã bị lãng quên vì sự bội bạc của người Mỹ.
Theo tài liệu từ L’Histoire, thì ngày 11-3-1791, tám năm sau khi 13 thuộc địa cũ của Anh Cát Lợi được độc lập, trở thành Tân Quốc Gia Hoa Kỳ. Việc lực chọn thủ đô cho Liên Bang gặp nhiều trở ngại khi chỉ có một địa điểm thích hợp. Trong lúc đó khắp lãnh thổ, đâu cũng là những vùng thích hợp và đủ điều kiện lịch sử, vì sự liên hệ tới cuộc chiến đấu chống quân Anh như Boston, Philadelphia, Yorktown..được các đại biểu đề nghi.. Tuy nhiên cuối cùng , Hội Đồng Quốc Gia quyết định theo đề nghị của Thomas Jefferson , một thành viên trong Quốc Hội , đồng thời là Thống Đốc Tiểu Bang Virginia, chọn một địa điểm trung gian , nằm trong Quận Columbia, để xây dựng thủ đô Liên Bang. Đây cũng được coi là ý kiến dung hòa của Quốc Hội , được Vị Tổng Thống đầu tiên của Hoa Kỳ George Washington (1732-1798), chấp thuận và giao phó việc tìm địa điểm , lập đồ án xây dựng Thủ đô được chọn, tọa lạc trên hai bờ sông Potomac. Công trình trên được ủy nhiệm cho một Thiếu tá Công binh người Pháp tên Pierre Charles L’Enfant thực hiện.
Ông này sinh ngày 2-8-1754 tại Paris (Pháp), là con trai của Họa sư Pierre L’enfant , phụ trách xây dựng cung điện cho Hoàng đế Pháp Louis XV. Xuất thân là một Trung úy Pháo binh của quân đội Pháp. Ông đã cảm khái trước tinh thần yêu nước và sự hy sinh cao cả của Nghĩa quân Hoa Kỳ lúc đó,đang chiến đấu anh dũng chống lại quân Anh. Bởi vậy L’ Enfant đã tình nguyện theo Đoàn Chí Nguyện Pháp , sang giúp người Mỹ đang tranh thủ cho nền độc lập xứ sở. Năm 1779, L’Enfant bị trọng thương trong trận ác chiến tại Savannah và bị Anh bắt làm tù binh, khi cùng đồng đội cố thủ tại cứ điểm Charleston. Được trao trả cho Hoa Kỳ qua cuộc thương thuyết của Bá tước Rochambeau và trở thành Sĩ Quan Huấn Luyện đầu tiên của Quân Đội Mỹ.
Vào ngày 13-12-1971, dự án xây dự thủ đô Hoa Thịnh Đốn của L’Enfant hoàn tất, được đệ trình Quốc Hội và Tờ Công Báo Mỹ đăng tải với những lời khen ngơi , gọi công trình trên như là ‘ Trung tâm của Lý Trí, Tuyên Ngôn đẹp nhất của Thế kỷ, Biểu tượng kính yêu của Quốc Gia trẻ trung Hoa Kỳ vừa được độc lập. Nhưng dù dự án được Tổng Thống Washington rất ưa thích tán đồng lai bị đám Nghị Viên thới nát lúc đó, vắt chanh bỏ vỏ, cấu kết với bọn nhà giàu, đầu cơ trục lợi, ém nhẹm trù dập, từ chốị Cuối cùng L’Enfant đã bị người Mỹ lãng quên và chết trong cảnh nghèo đói thãm thê vào năm 1825.
Cuối cùng, thủ đô Liên Bang được chính thức thừa nhận vào tháng 12-1800, khi Đoàn Đại Biểu từ các Tiểu Bang tới trú ngụ tại Dinh Capital. Năm 1900 kỷ niệm 100 thành lập thủ độ Quốc Hội Mỹ cử một Ủy Ban lo phát triển và xây dựng thủ đô trong tương laị Nhân dịp này, các vị lãnh đạo Hoa Kỳ đã tuyên bố rất hối tiếc trong quá khứ, đã phủ nhận đồ án xây dựng thủ đô của hoạ sư L’Enfant, nên ngày nay phải tốn nhiều công sức và ngân khoản tu sửa lại thành phố. Đồng thời người Mỹ cũng quyết định cải táng hài cốt của L’Enfant, từ một khu nghĩa địa nghèo nàn, về nghĩa trang quốc gia Arlington, để ông được nằm chung với các đấng anh hùng liệt sỹ của nước Mỹ, ngày đêm nhìn ngắm lâu đài, phố thị nguy nga, núi sông hùng tráng bên hai bờ Potomac.
Đây là một thành phố độc lập về hành chánh mang tên là Washington D.C (District of Columbia), để phân biệt với Tiểu bang Washington ở phía tây bắc Hoa Kỳ, giáp giới với Canadạ Do không lệ thuộc vào bất cứ tiểu bang nào, nên thủ đô hiện phải đương đầu với tỷ lệ tội phạm đứng đầu cả nước, mặc dù đây là trung tâm đầu não, tượng trưng cho quyền lực của Hoa Kỳ. Có nhiều lý do giải thích như thành phố có quá nhiều người da đen sinh sống tại trung tâm, trong khi hầu hết giới trung lưu da trắng thích cư ngụ ở vùng ngoại ô yên tỉnh. Mặc khác hệ thống an ninh tại đây luôn bị chồng chéo, đụng chạm giữa lực lượng của địa phương và Liên Bang, tạo nhiều kẽ hở trong công tác chung là trấn áp các tội ác. Thủ đô cũng là đầu mối tập trung tất cả các cơ cấu của chính quyền liên bang với những dinh thự nguy nga và các đền đài hùng tráng, nằm dọc hai bên Đại lộ Constitution, bên bờ sông Potomac. Còn có Tòa Bạch Ốc trên Đại lộ Pennsylvaniạ Điện Capitol, nơi đặt Trụ sở Quốc hôi Mỹ, được khánh thành từ năm 1867. Thư viện Quốc hội (Library of Congress) lớn nhất thế giới, xây dựng năm 1800,kế đó là Tối Cao Pháp viện (Supreme Court)..Ở đây còn nổi tiếng qua các đài kỹ niệm với lối kiến trúc hài hòa nhưng vô cùng độc đáọ Đài tưởng niệm Tổng thống Washington có 898 bậc thang cao 150 m,giống như một tháp bút giữa trờị Đài kỷ niệm Tổng thống Lincold là một ngôi tượng khổng lồ,tạc bằng đá cẩm thạch cao 57m. Trong khi đó bức tượng của Jefferson được đúc bằng đồng, ngự trong một đại sảnh với mái vòm đứng trên những hàng cột tròn. Nhưng cảm động và có nhiều du khách tới thăm viếng hiện nay, vẫn là Đài Kỷ Niệm Những Chiến Binh Hoa Kỳ đã hy sinh tại chiến trường Đông Dương, trong cuộc chiến bảo vệ tự do độc lập cho các nước Việt Nam Cộng Hoà (cũ), Kampuchia và Lào, trước cuộc xâm lăng của “Cộng Sản”, từ năm 1960-1975. Đài này nằm trên Đại lộ Constitution với biểu tượng Ba Người Lính sát cánh bên nhau trong chiến đấu, bên trong có những bức tường đá hoa cương đen, khắc tên 58.000 tử sĩ đã hy sinh vì nước. Ngoài ra Khu kỷ niệm Tổng Thống Lincold tại Hoa Thịnh Đốn, cũng được đánh giá là một trong 20 công trình xây dựng nổi tiếng của Mỹ, được kiến trúc sư Henry Bacon thiết kế và xây dựng từ năm 1922 theo kiểu cách của Cổ Hy Lạp. Trong công trình này có Pho tượng của TT Lincold cao 5,8m (19 Ft), do Điêu khắc gia Daniel Chester sáng tạọ
- TÒA BẠCH ỐC : Là nơi cư ngụ và làm việc của 42 vị Tổng Thống Hoa Kỳ, từ người đầu tiên là TT John Adams (1797-1801), cho tới đương kim Tông Thống G.W. Bush (từ năm 2001) . Riêng Tổng Thống đầu tiên của Mỹ là George Washington (1789-1797), từ trần trước khi Tòa Bạch Ốc hoàn thành. Công trình được khởi công từ năm 1792 tới năm 1799 mới xong, do Kiến Trúc Sư Janet vẽ đồ án và thiết kế. Đây là Trung tâm quyền lực chẳng những của Mỹ mà là cả thế giới, nên thu hút rất nhiều du khách trong và ngoài nước tới tìm hiểu thăm viếng, những bí mật của Tòa Dinh Thự nhưng ít ai biết được gì đã xãy ra bên trong , sau lằn cửa khép. Dù cho Washington là nguời đã đặt viên đá đầu tiên để xây dựng tòa nhà nhưng ông đã mất trước khi được khánh thành. Nên vị Tổng Thống thứ nhất vào cư ngụ trong Dinh lại là John Adam và Đệ Nhất Phu Nhân là Abigail Adam. Gọi là Tòa Bạch Ốc vì toàn thể dinh thự được sơn màu trắng, nên từ ngoài nhìn vào rất lạnh lẽo cô đơn. Ngày 24-8-1914, quân Anh tấn công thủ đô Hoa Thịnh Đốn và đốt rụi Tòa Bạch Ốc, nên Kiến trúc Sư Janet Hoban lại phải tái tạo và sơn phết lại toàn diện. Theo Robert Riplay , tác giả chuyên sưu tập những câu chuyện kỳ lạ thì danh từ Tòa Bạch Ốc, xuất xứ từ ý tưởng của Tổng Thống Washington, muốn kỷ niệm mối tình thơ mộng giữa ông và bà Martha Custiis , lúc đó hai người đang sống tại trang trại White House, bên bờ sông Pamunkey, thuộc Tiểu Bang Virginiạ. Khởi đầu, tòa dinh thự chỉ có 132 phòng nhưng qua lần sửa chữa vào năm 1940, mới được phân biệt thành các khu vực riêng biệt. Hiện nay mỗi buổi sáng từ thứ hai tới thứ sáu, đều có nhiều phái đoàn du lịch cũng như quan khách, tơi thăm viếng những cơ sở của chính phủ, nằm dưới tầng trệt . Khu vực phía tây lầu là nơi sinh hoạt của tổng thống và gia đình. Khu này nổi tiếng nhất là các Phòng Green Room, dùng làm phòng ăn thời TT Bill Clinton. Đây là nơi quàng xác Willie Lincoln, con trai của TT Lincoln mất lúc 11 tuổi vì bệnh thương hàn. Đó cũng là nơi gặp gở giữa hai đệ nhất phu nhân Nancy Reagan (Mỹ) và Raisa Gorbachev (Liên bang Xô-Viết).khi Tổng Bí Thư Liên bang Xô-Viết Gorbachev tới thăm viếng Hoa Kỳ. Phòng Bầu Dục (Blue Room) là phòng Khánh Tiết, nơi tiếp xúc hầu hết các Phái đoàn Ngoại giao các nước, mới đây có Thủ tướng Việt Nam Phan Văn Khải tới thăm Mỹ vào tháng 6-2005. Phòng Đỏ (Red Room) là khu vực đặc biệt, nên còn được gọi là Dolles Madison, được sử dụng cho nhiều mục đích. Nhưng quan trọng hơn hết vẫn là Phòng ngủ của cố Tổng Thống Lincoln. Chính nơi này ngày xưa, ông vừa dùng làm nơi ăn, ngủ và hội họp với các thành viên trong Nội các. Cũng chính nơi này, vào năm 1863 Tổng Thống Abraham Lincoln đã ký vào Văn Bản Tuyên Bố Giải Phóng Nô Lệ tại Liên Bang Hoa Kỳ. Sau này chỉ có hai Tổng Thống Theodore Roosevelt (1901-1909) và Woodrow Wilson (1913-1921) là dám ngủ tại đây, vì ai cũng sợ hồn ma của TT Lincoln, theo lời đồn đãi thường xuất hiện.
Tòa Bạch Ốc thường được xem là nơi linh thiêng nhất của nước Mỹ, vì tất cả tồn vong của nhân loại như xuất phát tại đây, một trung tâm quyền lực tối cao vô thương, điền hình là cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai (1960-1975) và Cuộc Chiến Biên Giới Việt- Trung (1979-1989). Thế nhưng từ khi Tổng Thống Bill Clinton trở thành chủ nhân ông của nước Mỹ(1993-2001) , đã biến nơi này thành một khách sạn siêu đẳng, với các dịch vụ công khai như cho thuê phòng ngủ của TT Lincoln, tổ chức các tiệc tùng, với mục đích kiếm tiền vận động cho Đảng Dân Chủ, trong các cuộc bầu cử Tổng Thống và Quốc Hộị
Theo các tài liệu được báo chí Mỹ công bố hồi tháng 3-1997, thì giá cả trong khách sạn White House vô cùng đắt: khoảng 50.000 USD cho bất cứ ai muốn uống một ly cà phế sáng với TT Bill Clinton cùng các quan chức cao cấp trong Hành Pháp . Khoảng 100.000 USD để được cùng chơi môn đánh Golf với Tổng Thống và 250.000 USD cho 24 giờ ăn, chơi, nhậu nhẹt và ngủ lại tại Phòng TT Lincoln. Qua thống kê của tờ New York Post , thì suốt thời gian nhậm chức của TT Bill Clinton, đã có hơn 1000 thượng khách, hưởng ứng chương trình chiêu đãi trên. Hầu hết là những thành phần tai to mặt lớn lắm bạc nhiều vàng đương thời như Barbre Streisand, Steven Spielberg, Tom Hanks, Jane Fonda, Leuwasser Mann, Billy Graham..đều đã từng qua đêm tại Tòa Bạch Ốc. Dù hành động phạm pháp trên, đã bị Quốc Hội điều tra, Đảng Cộng Hòa tố cáo nhưng hai ông Bill Clinton và Al Gore, vẫn tuyên bố với báo chí là họ rất lấy làm hãnh diện, khi được đón tiếp các nhân vật quan trọng, trong cũng như ngoài nước , để vào vui chơi, ăn nhậu và ngủ đêm trong Dinh Tổng Thống, dù họ đã phải trả bằng nhiều tiền…
(còn tiếp)




Thế giới Hồi Giáo ( Final Season )

THẾ GIỚI HỒI GIÁO ( TIẾP THEO VÀ HẾT )

TRÁI TIM HỒI GIÁO
Trong truyền thống Hồi giáo, trái tim không mang ý nghĩa là cơ quan xúc cảm mà là cơ quan của sự chiêm nghiệm và của đời sống tinh thần. Đó là nơi mà tinh thần nhập vào vật chất… là nơi được che khuất, nơi bí mật của lương tâm. Trái tim khêu gợi những ý nghĩ ẩn khuất nhất, bí mật nhất, xác thực nhất, làm cơ sở cho bản chất trí tuệ của con người.
Kinh Koran nói rằng trái tim của các tín đồ nằm ở giữa hai ngón tay của Đấng Nhân từ… Và Thượng đế bảo: “Trời đất không chứa được ta, nhưng ta chứa trong tim bầy tôi của ta”.
Kinh Koran nói nhiều đến sự nhận thức bằng trái tim: “Trái tim không bác bỏ những gì nó đã nhìn thấy” (nói về linh giác của nhà tiên tri), và rằng “không phải con mắt họ mà là trái tim trong ngực họ đã mù quáng”.
ABRAHAM VÀ MOHAMMED
Abraham (có tên Arập là Ibrahim) là một tộc trưởng trong Kinh Thánh, người đã từ Mesopotamie (Lưỡng Hà) tới đất Chanaan vào đầu thiên niên kỷ thứ 2 trước C.N. Là cư dân xứ Chaldée, ông được lệnh của Thượng đế rời bỏ quê hương đi sang một đất nước không quen biết, mà đường đi đến đó được Thượng đế từng bước chỉ cho ông. Khi Abraham đến được Mecca, Thượng đế nói với ông rằng đây là xứ sở được dành cho ông và con cháu ông. Theo Thánh Kinh, Thượng đế đã dẫn ông ra khỏi vùng các dân tộc đa thần để biến ông thành người giữ gìn thiên khải, bảo tồn tôn giáo độc thần. Sự phản ứng thường xuyên chống lại môi trường hủ bại đã trở thành một hằng số trong lịch sử các Tiên tri. Cái tính chất người nước ngoài ở trên chính đất nước của mình sẽ bảo lưu trong sứ mệnh thiêng liêng của họ. Điều đó hoàn toàn giống với Mohammed.
Abraham là biểu tượng cho con người của đức tin. Thượng đế chỉ bảo một lời là ông đã rời bỏ quê hương để đến một đất nước xa lạ; và khi Thượng đế yêu cầu ông hiến sinh người con trai duy nhất thì ông lập tức tuân lệnh, và Thiên sứ đã ngăn tay ông lại vào phút cuối cùng.
Về bình diện tâm lý, Abraham tiêu biểu cho con người bị buộc phải dứt bỏ khỏi môi trường quen thuộc: gia đình, xã hội… để thực hiện một sứ mệnh xuất chúng và phát huy một ảnh hưởng vượt ra ngoài những giới hạn thông thường. Dám phiêu lưu mạo hiểm là đặc trưng của những số phận vĩ đại, và niềm tin vào Thượng đế có khả năng nhấc bổng những ngọn núi. Trí thông minh của Abraham đã truyền cho ông một cảm hứng để làm kẻ phiêu lưu của Thượng đế. Cả về mặt này nữa, Mohammed cũng giống như Abraham. Hoàn toàn dễ hiểu vì sao đạo Hồi rất đề cao Abraham, thậm chí còn để cho con trai Ismael của ông vai trò là ông tổ của người Arập.
Xét theo lý tính thông thường, Abraham là một người điên, cũng như Mohammed từng bị người Mecca coi là điên. Nhưng “sự khôn ngoan của loài người là điên rồ trong mắt Thượng đế, trong khi sự hiền minh của Thượng đế lại là điên rồ trong mắt loài người”. Không có gì điên hơn là sự hiền minh vì nó không biết đến quy tắc nào khác ngoài lương tri.
THỜI GIAN BIỂU CỦA NGƯỜI HỒI GIÁO
Người Hồi giáo chia ngày của họ thành những khoảng thời gian tương ứng với những lần cầu kinh: Lúc mặt trời sắp mọc, người muezzin gọi mọi người cầu nguyện lần thứ nhất trong ngày. Người đầu tiên thức dậy sẽ đánh thức những người còn lại trong gia đình. Khi đã rời khỏi giường, những người đàn ông, thường vẫn mặc nguyên bộ đồ ngủ đêm đi thẳng ra thánh đường. Những người phụ nữ thường cầu nguyện ở một chỗ riêng trong nhà. Sau lần cầu nguyện buổi sáng sớm, ngày làm việc thường lệ bắt đầu. Trẻ con sẵn sàng để đến trường, phụ nữ bắt đầu công việc chuẩn bị cho những bữa ăn trong ngày, còn những người đàn ông (và có thể cả phụ nữ nữa) chuẩn bị để đi làm.
Khi mặt trời lên gần đến đỉnh, người muezzin lại gọi các tín đồ cầu nguyện buổi trưa. Cầu nguyện xong, cả gia đình sẽ tập hợp lại để ăn trưa, sau đó ai lại quay về với công việc dang dở của người nấy.
Khi mặt trời đã ngả một góc 450 với mặt đất là thời gian để cầu nguyện buổi chiều. Cầu nguyện xong, một số người sẽ hoàn thành nốt công việc, nhưng đa số sẽ tụ tập nhau để trao đổi những tin tức trong ngày.
Khi người muezzin báo lần cầu nguyện chiều tối thì cũng là lúc để những người phụ nữ quay trở về nhà. Sau khi cầu nguyện cả nhà sẽ quây quần ăn tối. Tiếp theo sẽ là một khoảng thời gian ngắn để thu xếp những công việc trong nhà, xem Tivi hay nghe đài.
Rồi đến giờ cầu nguyện buổi tối. Sau đó là đến lúc đi ngủ.
Các tín đồ Hồi giáo thường sẽ không nói, ví dụ, tôi sẽ đến nhà bạn “lúc 10 giờ sáng”, mà là “trước lúc cầu nguyện buổi trưa”.
NƯỚC
Nước trong đạo Hồi tượng trưng cho sự thanh khiết và là phương tiện tẩy uế. Việc cầu nguyện theo nghi thức của đạo Hồi chỉ được coi là đúng phép tắc khi người cầu nguyện đã tắm gội sạch sẽ theo những nghi thức tỷ mỷ.
Kinh Koran coi thứ nước được ban phép lành, từ trên trời rơi xuống, là một trong những dấu hiệu của Thượng đế. Những khu vườn trên Thiên đường có những suối nước chảy ra. Bản thân con người cũng được Thượng đế tạo ra từ một làn nước. Thượng đế tối cao! Người đã tạo ra trời và đất
Và cho nước từ trên trời chảy xuống
Với nước Người đã làm cho hoa quả mọc lên
Để nuôi sống loài người.
Có những thứ mà kẻ vô đạo tạo ra, được những người đang cơn khát coi là nước, nhưng đó chỉ là ảo tưởng, những thứ ấy giống như thứ nước đen dưới đáy biển sâu bị các đợt sóng bao phủ.
CON CHÓ
Con chó phải chịu đựng một sự kỳ thị không thể vượt qua được trong các xã hội Hồi giáo. Đạo Hồi biến con chó thành hình ảnh của tất cả những gì xấu xa đê tiện nhất trên thế gian. Những ai quyến luyến với cõi trần thế tức là tự đồng hóa mình với con chó ăn xác chết. Bị coi là biểu tượng cho sự tham lam, phàm ăn, chó không thể cùng tồn tại với thiên thần. Người Hồi giáo ở Syria tin rằng các thiên thần không bao giờ vào nhà nào có nuôi chó. Mohammed đã tuyên bố rằng cái bình nào đã bị chó uống thì phải rửa bảy lần, mà lần đầu tiên phải rửa với đất. Chó cũng được xem là loài vật ác độc. Các ác thần thường xuất hiện dưới dạng con chó đen. Tiếng chó sủa cạnh nhà là điềm báo trước cái chết. Tương truyền Mohammed cấm giết chó, trừ những con chó mực có hai đốm trắng trên mắt, giống chó ấy bị coi là ma quỷ. Giết chó là tự làm ô uế bản thân mình; người ta nói giết chó xấu như giết bảy người; người ta tin rằng con chó có bảy kiếp sống.
Tuy nhiên, theo các truyền thuyết đạo Hồi thì con chó có đến 52 tính chất, trong đó có một nửa là thiện, một nửa là ác quái. Ví dụ, khi thức tỉnh, nó kiên nhẫn không cắn chủ. Ngoài ra nó còn sủa bọn thư lại. Tính trung thành của nó được người ta ca ngợi, khi con người không có anh em thì con chó là anh em của người ấy, trái tim chó đập hòa nhịp với trái tim chủ nó.
Đạo Hồi phân biệt rạch ròi chó thường với chó săn, mà dáng vẻ quý phái của nó biến nó thành một con vật trong sạch. Chó săn không bị coi là nhơ bẩn, mà là con vật có linh khiếu. Nó che chở cho con người khỏi vía xấu.
THÁNH ĐỊA MECCA
Mecca nằm tại một thung lũng cát nóng bức ở miền trung tây Arập Xêút. Thung lũng này không thích hợp cho việc trồng trọt, nhưng nó án ngữ trên tuyến đường lạc đà chính từ vùng miền nam bình nguyên Arập đến Syria, và ở đó có đủ nước để cung cấp cho những thương đoàn qua sa mạc. Điều đó, cùng với sự hiện diện của Kaaba, đã giải thích tại sao thành phố vĩ đại và giàu có này lại phát triển tại một địa điểm không thuận tiện như thế.
Mecca đã là một trung tâm thương mại và là một thành phố thiêng liêng từ lâu trước khi Mohammed sinh ra. Nhưng từ khi trở thành trung tâm của thế giới Hồi giáo thì cuộc sống kinh tế của Mecca hoàn toàn lệ thuộc vào vai trò thần thánh của nó. Sau Thế chiến thứ II, Mecca trở thành thành phố của Arập Xêút.
Trong thời gian diễn ra cuộc hành hương, chỉ có những người Hồi giáo mới được vào thành phố thiêng liêng này. Thành phố hiện có khoảng 370 ngàn dân. Chăm sóc cho những người hành hương mà con số lên đến gần hai triệu người vào dịp lễ Hajj là công việc làm ăn chính của cư dân nơi đây từ nhiều thế kỷ nay.
MOHAMMED LÊN THIÊN ĐÀNG
Truyền thuyết kể rằng khi Mohammed tới Jerusalem trong cuộc du hành ban đêm, ông đã vào viếng Đền Thờ. “Khi tôi bước vào trong đấy, ông kể, thiên thần Gabriel đã hiện ra trước tôi, cầm một chiếc chén đựng rượu và chén kia đựng sữa chua. Tôi chọn chén thứ hai, Gabriel nói với tôi: ngươi đã chọn Fitra, tức là bản chất của con người nguyên thủy. Tôi được bảo rằng, nếu ngươi cầm lấy chén rượu, thì cộng đồng của ngươi sẽ lâm vào con đường lầm lạc”.
Theo một dị bản khác thì khi Mohammed tới Jerusalem, tất cả các nhà tiên tri đã ra đón ông, họ đưa cho ông ba chén, một đựng sữa, một đựng rượu và một đựng nước. Và ông đã chọn sữa, vì ông đã có điềm báo, chọn nước với ông và dân tộc ông sẽ là sự đắm tàu, chọn rượu là lạc lối, còn chọn sữa là dấu hiệu bước lên con đường tốt đẹp.
VỊ THÁNH “ĐỐT TUYẾT” Ở BAMIAN
Thung lũng Bamian ở Afghanistan nổi tiếng vì những tu viện Phật giáo cổ đại đào trong hang núi, nhưng ngày nay dân cư ở đó chủ yếu là những người Hồi giáo. Ở đó có đền thờ “vị thánh “đốt tuyết”. Theo truyền thuyết địa phương, một lần vị thánh cùng các môn đệ đi qua thung lũng này và vào xin dân làng củi để nấu thức ăn. Nhưng dân làng cho là ông đóng giả tu sĩ nên từ chối. Thế rồi vị thánh sai một môn đồ trèo lên vách núi lấy về một ít tuyết, và trước con mắt dân làng, ông đốt tuyết cho cháy lên để nấu nướng. Bấy giờ dân làng mới tin và cầu xin ông ở lại, và ông đã chấp thuận. Khi ông chết, ngôi đền này được xây lên trên mộ, đó là một mái vòm rất giản dị làm bằng đất sét có tường vây quanh, toàn bộ được kết các dây băng màu đỏ. Những người đàn ông râu ria trong làng bước vòng quanh ngôi mộ bên trong bức tường bao, miệng lẩm bẩm dhikr (thần chú); mỗi khi bước ngang qua chiếc bàn nhỏ đặt cuốn kinh Koran thì họ lại cúi mình phủ phục xuống.
CÁC SULTAN CỦA ĐẾ QUỐC OTTOMAN
Các sultan Ottoman thường có tên hiệu. Sau khi Constantinople thất thủ, Mehmed II tự xưng là “Kẻ Chinh phục”. Con trai ông ta là Bayezid II thừa kế ngai vàng, xưng là “Người Sùng đạo”. Bayezid II bị con trai lật đổ, ông con với tính cách hung hăng tự gọi mình với cái tên “Kẻ Tàn nhẫn”. Còn sultan Suleiman thì gọi mình là Suleiman “Tài trí”.
Ngôi vị của các sultan đế chế Ottoman không được hợp thức hóa bằng luật pháp. Vì thế trong nhiều thế kỷ, một thủ tục của các sultan mới lên ngôi là bắt giết tất cả các anh em của mình, để ngăn chặn bất kỳ một âm mưu lật đổ ngai vàng nào. Những tục lệ như thế khiến cho phương Tây tin rằng Ottoman là một đế chế tàn bạo và không văn minh.
MỘT VÀI LUẬT LỆ TỪ KINH KORAN VÀ HADITH
l An ninh cho cuộc sống và tài sản cá nhân: Trong bài diễn thuyết của Mohammed nhân chuyến hành hương cuối cùng về Mecca, ông nói: “Không ai được lấy đi cuộc sống và tài sản của các bạn cho đến khi các bạn gặp được Đấng Chúa tể trong ngày Phục sinh”. Ông cũng nói: “Bất cứ ai giết chết một người ngụ cư (tức một người không theo đạo Hồi sinh sống trong một đất nước Hồi giáo) thì thậm chí sẽ chẳng được ngửi thấy mùi thơm của Thiên đàng”.
2 Tôn trọng danh dự người khác: Kinh Koran không cho phép xúc phạm đến danh dự của một người: “Ôi, Đấng được Tôn thờ, xin đừng để những người này lấy người khác ra làm trò cợt nhạo. Đừng làm mất danh dự của người khác. Đừng sỉ nhục người khác bằng cách đặt tên lóng. Đừng nói xấu hay chỉ trích ai sau lưng”.
3 Tự do cá nhân: Kinh Koran bảo vệ sự riêng tư: “Không được dò la người khác và không được tự tiện xông vào nhà người ta nếu không được chủ nhà cho phép”.
4 Quyền được xét xử: Đạo Hồi cấm bắt giam bất kỳ một cá nhân nào trước khi chứng minh được tội lỗi của người đó trước một tòa án Hồi giáo. Điều đó có nghĩa là người bị buộc tội có quyền tự bảo vệ và trông cậy vào sự công bằng và không thiên vị từ tòa án Hồi giáo.
5 Tự do bày tỏ quan điểm: Đạo Hồi cho phép tự do tư tưởng và phát biểu ý kiến, với điều kiện việc làm đó không gây nguy hại cho các cá nhân khác và cho xã hội nói chung. Ví dụ, không được phép viện cớ phê phán để dùng những lời lẽ thóa mạ và sỉ nhục người khác. Vào thời Tiên tri Mohammed, những người Hồi giáo thường hỏi ông về nhiều vấn đề khác nhau. Nếu ông không nhận được thần khải từ Thượng đế giải đáp cho những vấn đề đó thì các tín đồ được tự do phát biểu các ý kiến cá nhân của họ.
6 Tự do lập hội: Các tín đồ được phép thành lập các hội đoàn, đảng phái và các tổ chức với điều kiện phải tuân theo những luật lệ của đạo Hồi.
7 Tự do tín ngưỡng và nhận thức: Kinh Koran tuyên bố: “Không được cưỡng bức trong vấn đề đức tin”. Đạo Hồi cấm việc cưỡng ép cải đạo. Cùng với sự tự do tín ngưỡng và nhận thức, đạo Hồi đảm bảo tình cảm tôn giáo của các cá nhân sẽ được tôn trọng và sẽ không nói gì hay làm gì xâm phạm đến quyền đó.
8 Quyền có được những nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống: Đạo Hồi công nhận những người nghèo khó được quyền yêu cầu giúp đỡ từ những người may mắn hơn: “Và của cải của họ được coi là để giúp cho những người nghèo khó và cơ cực”.
Và dưới đây là một vài quy định nữa mà tất cả những tín đồ Hồi giáo phải tuân thủ, rút ra từ kinh Koran và Hadith:
l. Không được uống rượu hay dùng các chất kích thích bất hợp pháp.
2 Đàn ông và đàn bà không cùng một gia đình bị cấm không được động chạm vào nhau.
3 Phụ nữ nhận được số tài sản thừa kế bằng phân nửa đàn ông.
4 Trong một vụ tranh chấp hay kiện tụng, lời chứng của hai người phụ nữ có giá trị tương đương lời chứng của một người đàn ông.
5 Các tín đồ luôn ăn uống bằng tay phải. Tay trái chỉ dùng cho việc rửa ráy sau khi đi vệ sinh. (Vào thời Mohammed, việc rửa ráy sau khi đi vệ sinh dùng cát và bằng tay trái). Vì thế không bao giờ được ăn bằng tay trái.
ĐẠI DANH CỦA THƯỢNG Đế
Theo truyền thuyết Hồi giáo, Thượng đế có một Đại danh không ai được biết. Đó là tên gọi duy nhất không được viết ra trong số 40 ngàn cái tên của Thượng đế. Nếu người ta đọc to cái tên ấy ra thì có thể làm được phép màu. Chính nhờ biết được Đại danh này mà vua Salomon đã chế ngự được ma quỷ.
Người ta bảo rằng muốn biết được Đại danh của Thượng đế thì phải đốt một cuốn kinh Koran, chỉ có cái tên ấy là không thể cháy, nhưng đốt kinh Koran là một hành động phạm thánh sẽ bị đày xuống địa ngục. Hoặc có cách khác là đọc các chữ trong kinh Koran theo một trình tự nối kết như thế nào đó: chữ nào còn sót lại không nối được với các chữ khác thì chính chữ ấy là đại danh. Nhưng vấn đề là nối kết như thế nào.
Người ta đồn Mohammed từng tiết lộ đại danh của Thượng đế nằm ở trong surah thứ hai, thứ ba hoặc thứ mười, nơi Thượng đế được tôn xưng bằng các tên gọi Đấng Vĩnh cửu (al-Hai), Đấng Tự tôn (al-Quigum), hay Ngài (Hu).
Người ta gán cho đại danh một sức mạnh thần bí, bởi Thượng đế sẽ chấp thuận điều mà người khấn cái tên ấy muốn cầu xin, vì thế các sufi đều ra sức để tìm cái tên ấy.
SỐ BẢY
Số bảy rất hay xuất hiện trong giáo lý cũng như những tục lệ của đạo Hồi, vì theo đạo Hồi thì số Bảy là một con số tốt lành, một biểu tượng hoàn hảo: có bảy tầng trời; bảy tầng đất; bảy biển; bảy ngăn địa ngục; bảy cửa Thiên đàng; Fatiha - thiên mở đầu kinh Koran có bảy đoạn; tuần lễ có bảy ngày; hành hương ở Mecca phải đi bảy vòng quanh Kaaba; đi lại bảy lần giữa các ngọn núi Cafa và Marnia…
Cửa Thiên đường sẽ mở ra trước mặt người mẹ có bảy cô con gái.
Khi người mẹ đang mang thai bị nguy hiểm, người ta đọc bảy đoạn thơ của một chương kinh Koran để được yên lành.
Đứa trẻ mới sinh được bảy ngày nếu đặt trước nó một thanh kiếm tuốt trần thì lớn lên nó sẽ trở thành một người dũng cảm.
Những người theo Mật tông Hồi giáo tuyên bố rằng kinh Koran có bảy nghĩa. Một hadith (sự tích Tiên tri) khẳng định: Kinh Koran có một nghĩa quang truyền và một nghĩa bí truyền. Nghĩa bí truyền này bản thân nó lại có một nghĩa bí truyền khác và cứ như thế có đến bảy nghĩa bí truyền.
ARABESQUE
Hoa văn Arabesque hay hoa văn Arập, không chỉ là một bộ phận của nghệ thuật Arập mà còn rất đặc trưng cho nền nghệ thuật này, một nền nghệ thuật bị cấm khắc họa hình tượng con người và động vật. Arabesque không phải là một hình tượng mà là một tiết điệu. Một sự nhắc đi nhắc lại không bao giờ ngưng chỉ một chủ đề, nó cho phép con người thoát ly thế giới vật chất, cuốn hút người ta vào một sự chiêm nghiệm kỳ ảo.
Arabesque ứng với một nhãn quan tôn giáo. Đạo Hồi chống lại tranh tượng thánh thần mà chỉ sùng bái Lời của thánh thần. Đối lập với tranh thờ Byzance, đạo Hồi cho chảy cuồn cuộn những đường lượn arabesque trừu tượng mà ở giữa người ta viết bằng thư pháp những dòng trích trong kinh Koran. Đây là một kỹ thuật trang trí để tránh sự sùng bái thần tượng, là một sản phẩm được thanh lọc của tinh thần Hồi giáo… Nó không có khởi đầu và không có kết thúc, mà cũng không hướng đến sự khởi đầu hay kết thúc, bởi vì toàn bộ của nó đều là sự tìm kiếm cái mà theo Kinh Koran thì vừa là Khởi thủy vừa là Khánh chung. Nó được dẫn dắt một cách không mệt mỏi, nhưng vô hiệu, đến cái bất tận.
Với những du khách nào muốn chiêm ngưỡng arabesque thì nó hiện ra trước mắt người đó như một mê cung, một mớ bòng bong. Cái mà người nghệ sĩ muốn làm là vừa che giấu đồng thời vừa biểu lộ lời thánh truyền, và bằng cách ấy kích thích sự rung động bởi cái đẹp và cái chân, những cái luôn khích lệ con người ta vươn đến cõi xa viễn.
NHỮNG THÔNG TIN ĐỜI TƯ
Gia đình Hồi giáo là một không gian sống cực kỳ riêng tư, nhưng thông tin về gia đình một ai đó lại được người ta hết sức quan tâm. Khi làm quen với một người Hồi giáo, câu hỏi đầu tiên cho bạn thường sẽ là “Anh có vợ chưa?” Nếu câu trả lời là rồi, thì tiếp theo sẽ là “Anh có con chưa?” và cứ tiếp tục như thế cho đến khi người ta đã hình dung ra khá rõ ràng gia đình của bạn là như thế nào mới thôi. Còn nếu câu trả lời là chưa, thì người ta thường sẽ bày tỏ thái độ thông cảm với nỗi đau khổ của bạn, bởi vì với người Hồi giáo, một người không có gia đình và không có con cái thì đó là cả một tấn bi kịch.
TRÁCH NHIỆM VỚI THÚ VẬT VÀ CÂY CỎ
Những người Hồi giáo có trách nhiệm đạo đức không chỉ với cha mẹ, họ hàng, láng giềng và cộng đồng mà còn với cả thú vật và những loài cây cối hữu ích. Ví dụ, săn bắn chim chóc thú vật để mua vui là không được phép. Tương tự, chặt cây cối đem lại trái quả thu hoạch cho con người cũng bị cấm trừ phi có nhu cầu buộc phải làm như vậy.
CÁI TÊN
Cấu trúc của một cái tên Arập chứa rất nhiều thông tin về gia đình người đó.
Giả sử một anh chàng có tên là Ali bin Ahmed bin Saleh al-Fulani. Anh ta sẽ được gia đình và bạn bè gọi là Ali. Gia đình của anh ta có tên là al-Fulani. Bin có nghĩa là “con trai của”, vì vậy bin Ahmed bin Saleh có nghĩa là anh ta là con trai của ông Ahmed mà ông Ahmed này lại là con trai của ông Saleh. Như vậy cái tên của anh ta được hiểu là Ali con trai ông Ahmed cháu nội ông Saleh thuộc gia đình (họ) Fulani. Người Arập đưa vào tên của mình chí ít năm đời cha ông, nhưng thường thì phải nhiều hơn thế.
Còn tên phụ nữ thì sao? Chị gái của Ali có tên Nura bint Ahmed bin Saleh al-Fulani. Bint có nghĩa là “con gái của”. Vậy tên cô ta là Nura, con gái ông Ahmed, cháu ông Saleh họ Fulani. Vậy là chúng ta có tên cô, tên cha cô, tên ông nội và tên của gia đình (họ). Khi người phụ nữ đi lấy chồng thì tên cô vẫn giữ nguyên không thay đổi. Nhưng con cái do cô sinh ra sẽ lấy theo tên người cha.
Tên riêng của người Arập thường làm cho những người không phải Arập phải đặc biệt bối rối. Các cái tên Arập bao gồm dòng dõi bên người cha và đôi khi cũng gồm tên dòng họ, nguồn gốc thị tộc, ngôi làng hay vùng đất mà họ sinh ra. Ví dụ, một người đàn ông tên là Abd al Rahman ibn (hay ben) Qasim ibn Mohammed el (hay al) Bayadh sẽ được hiểu là người con trai của ông Qasim, cháu ông Mohammed, người dân của làng (hay thị trấn) Bayadh. Ông ta có thể được gọi là ông (hay tước hiệu giáo sư, tiến sĩ nếu có) Abd al Rahman; trong tiếng Arập, tên được đọc liền thành một cụm, vì vậy trong trường hợp này tên ông ta được đọc giống như Abdur Rahman hay Abdel Rahman, và người ta thường hiểu nhầm Abdel là họ còn Rahman là tên của ông ta. Nhiều cái tên Arập, như cái tên ta đang nói đến, mượn các dấu hiệu của Allah. Abd al có nghĩa là “tôi tớ của” hay “đầy tớ của”, còn Rahman có nghĩa là “Đấng Nhân từ” (nghĩa là Thượng đế), vì vậy tên ông ta có nghĩa là “Kẻ đầy tớ của Đấng Nhân từ, con trai của ông Qasim, cháu ông…”.
ÁO TRÙM
Áo trùm hay áo thụng là một trang phục đặc trưng của những người phụ nữ Hồi giáo, và tùy theo từng nước mà nó có những tên gọi khác nhau. Áo trùm có hai loại, một loại như chiếc áo che mưa lớn một mảnh che kín từ đầu đến chân. Một loại khác chia thành hai phần, một là chiếc áo choàng che kín thân người, và phần kia như chiếc mũ trùm để che đầu và vai. Có khi chiếc mũ này có phía mặt chỉ che từ dưới mắt trở xuống, có khi phần mặt là một tấm mạng che kín toàn bộ khuôn mặt.
Cả hai loại áo trùm này đều rất bất tiện khi làm việc. Những phụ nữ đi làm trong các văn phòng hoặc nhà máy thường cởi nó ra và chỉ quàng một mảnh voan mỏng quấn quanh đầu và vai, hoặc chỉ choàng một cái khăn khi làm những công việc đồng áng nặng nhọc. Họ chỉ mặc áo trùm trong những dịp nhất định, ví dụ như khi đi ra đường.
SỰ TÁCH BIỆT GIỚI
Trong văn hóa Hồi giáo không có tình bạn giữa con trai và con gái, giữa đàn ông và đàn bà; đó là một khái niệm hoàn toàn xa lạ với họ: nếu bạn là đàn ông thì bạn của bạn cũng là đàn ông, còn nếu bạn là đàn bà thì bạn của bạn cũng sẽ phải là đàn bà.
Điều này thậm chí vẫn đúng ngay cả với lứa tuổi học trò, vì thông thường con trai và con gái học trong những trường riêng. Kể cả một số quốc gia Hồi giáo thế tục hóa có những trường học chung cho cả trai lẫn gái thì trong các lớp học, con trai và con gái vẫn ngồi riêng.
Sự tách biệt về giới và những cấm kỵ xã hội và gia đình với quan hệ hai giới khiến cho các thanh niên trai gái trẻ tuổi hầu như không có cơ hội để làm quen và tìm hiểu nhau. Và nó còn sinh ra một sự thiếu hiểu biết về tình dục phổ biến trong tầng lớp thanh niên Hồi giáo.

( NGUYỄN SINH )



Thế giới Hồi Giáo ( Phần 9 )

THẾ GIỚI HỒI GIÁO ( Phần 9 )

CẮT BÌ
Không kể ngày cưới vợ, thì cắt bì (tức là cắt bao qui đầu) là sự kiện quan trọng nhất trong cuộc đời của một người đàn ông Hồi giáo. Nhưng vì việc cắt bì thường xảy ra khi cậu bé trai mới khoảng từ hai đến năm tuổi, nên cậu chẳng thể hiểu được ý nghĩa quan trọng của sự kiện này. Chỉ những gia đình nghèo và những người nệ cổ mới cắt bì ở độ tuổi lớn hơn. Hầu hết các gia đình ở thành phố sẽ thu xếp để đứa bé sơ sinh được cắt bì trước khi rời bệnh viện về nhà. Ở nông thôn thì lúc nào cũng có một người có kinh nghiệm, thường là ông thợ hớt tóc địa phương, làm công việc này mà không gây tê, hoặc chỉ gây tê bằng nước đá.
Cắt bì là giáo luật với tất cả các nam tín đồ Hồi giáo, và sự kiện này được ăn mừng như một ngày lễ. Những gia đình thành thị có học thường tổ chức một bữa tiệc tại nhà đãi họ hàng và bạn hữu. Còn ở nông thôn, gia đình cũng như bạn bè, hàng xóm sẽ tham dự bữa ăn mừng được tổ chức sau lễ cắt bì. Cậu bé diện quần áo đẹp và được các khách khứa tặng cho ít tiền làm quà.
Con gái cũng phải cắt âm vật, nhưng việc này ngày nay không còn phổ biến nữa trừ một số vùng ở Bắc Phi. Thường thì một vết rạch nhẹ được bà mẹ hoặc cô mụ thực hiện như một cách để thực hiện yêu cầu của luật Hồi giáo.
TANG LỄ
Người Hồi giáo tin vào ngày Tận thế, tới ngày đó họ sẽ sống dậy để nghe phán quyết của Thượng đế. Chính vì thế mà họ chôn người chết chứ không hỏa táng hay ướp xác. Luật Hồi giáo quy định người chết phải được chôn trong ngày, càng sớm càng tốt nhưng không bao giờ được chôn vào ban đêm.
Khi một người Hồi giáo đang sống những giờ khắc cuối cùng của đời mình, gia đình và bạn bè sẽ tụ tập xung quanh người ấy, họ đọc những đoạn trong kinh Koran và khóc lóc than van. Khi đọc kinh hay khóc lóc người ta thường kêu gào thật to và thật thống thiết, mặc dù đạo Hồi cổ vũ người ta can đảm chấp nhận cái chết như một quy luật của trời đất. Người nào, nhất là phụ nữ, mà không khóc lóc khi có người trong gia đình chết sẽ bị chỉ trích gay gắt vì như thế là “không yêu thương người đã khuất”
Người ta lập tức thông báo cho các vị lãnh đạo tôn giáo trong cộng đồng biết khi có ai đó qua đời. Người chết được tắm rửa và khâm liệm Nếu người chết là đàn ông, thì các họ hàng phái nam tắm rửa cho người chết trong khi một vị mullah đọc kinh. Các nữ thân nhân cũng làm như vậy nếu người chết là phụ nữ. Lễ nghi tắm rửa cho người chết thường được thực hiện trước giờ đọc kinh hàng ngày. Người chết không mặc quần áo mà chỉ quấn trong một tấm vải, mặt để hở và đậy lại bằng một tấm vải mỏng để người thân có thể nhấc ra nhìn mặt người quá cố lần cuối. Các ngón chân người chết được buộc lại với nhau.
Trước khi cử hành tang lễ, người chết được đặt tại nhà có gia đình và bạn bè đứng canh. Các thành viên trong gia đình, họ hàng, bạn bè thân thuộc cố gắng có mặt ngay khi được tin. Nhưng, đạo Hồi yêu cầu phải chôn cất người chết thật sớm nên một số người không kịp về dự lễ tang. Nhiều nơi người ta cử hành tang lễ vào ngày sau hôm chôn cất, để những người ở xa có thể kịp đến chia buồn.
Người chết được đưa đến thánh đường để làm lễ cầu nguyện. Ở thành thị thì người chết thường được để tại nhà trong khi nghi lễ cầu nguyện được tổ chức ở thánh đường. Cũng đôi khi nghi lễ này được tiến hành ngay tại huyệt mộ.
Huyệt mộ phải do những người thân thuộc đào. Huyệt mộ phải sâu ít nhất 0,6 mét để người chết có thể ngồi dậy được vào Ngày Phán xét. Chân người chết phải hướng về phía Mecca để khi ngồi dậy mặt họ sẽ quay ngay về hướng đó. Ở nhiều nơi, người chết được chôn nằm nghiêng về bên phải, mặt quay về hướng Mecca.
Người Hồi giáo không chôn người chết bằng áo quan. Người chết có thể được đặt vào áo quan để đưa đến thánh đường hay nghĩa địa, nhưng sau đó sẽ được đưa ra, đặt nằm trên một tấm ván mỏng. Các giáo sĩ đọc những lời cầu nguyện lầm rầm bên tai người chết, sau đó người chết được đặt xuống mộ và lấp đất lại. Người Hồi giáo chính thống không xây mộ và cũng không dựng bia. Trên ngôi mộ thường chỉ có một cây trụ bằng đá hay gạch không chạm trổ gì hết để đánh dấu phía đầu. Nhưng đối với lăng mộ của các vị thánh thì ngược lại, người ta thường xây mộ rất to và còn xây cả một ngôi đền thờ phụng bao lấy mộ vị thánh nữa.
Trong suốt một năm, những buổi lễ cầu nguyện cho người quá cố được thực hiện vào mỗi tối thứ Năm hàng tuần. Vào ngày thứ mười bốn và ngày thứ bốn mươi, họ hàng gần gũi và những bạn bè thân thiết đến viếng mộ và cầu nguyện, xong rồi họ trở về nhà người chết để dự một bữa ăn do tang chủ chiêu đãi. Những lễ nghi giống như vậy cũng được tổ chức sau ngày chết một năm. Trong ngày giỗ đầy năm này, những người phụ nữ trong gia đình đã mặc đồ trắng suốt năm, nay ra viếng mộ để làm lễ xả tang.
Những nghi lễ trong đám tang ở các nước có nền văn hóa không phải Arập thường được pha trộn với những tập tục bản xứ. Tuy nhiên, những quy tắc cơ bản trong tang lễ được quy định bởi luật Hồi giáo vẫn phải đảm bảo. Và người ta tin rằng nếu người chết không được chôn đúng cách thì linh hồn của họ có thể quay về giết chết người sống và bắt các linh hồn khác làm nô lệ, khi đó thì chỉ có những vị thánh mới chế ngự được những linh hồn này. Người Hồi giáo không bao giờ đem bất cứ một thứ gì ở ngoài nghĩa địa mang về nhà, vì làm như thế sẽ mang cái chết về nhà hoặc sẽ làm cho các linh hồn tội lỗi bị cầm tù trong những vật đó xổng ra ngoài.
CÁC LỄ HỘI HỒI GIÁO
Những lễ hội quan trọng nhất của toàn thể thế giới Hồi giáo là lễ Eid al-Fitr (còn gọi là lễ Tiểu Eid – đây là lễ chấm dứt mùa chay Ramadn), lễ Eid al-Adha (còn gọi là lễ Đại Eid – là lễ hiến tế), Ngày sinh của Mohammed, lễ Muharram (lễ Năm mới). Cùng với lễ Năm mới, người Hồi giáo còn tổ chức lễ Ashura, đó là lễ kỷ niệm ngày Imam Husain tử đạo. Ngoài ra khắp thế giới Hồi giáo còn có rất nhiều ngày lễ các thánh gọi là Urs, kỷ niệm các vị thánh ở từng nơi.
Tên gọi của các ngày lễ nói trên có thể khác nhau tùy theo từng nước và từng vùng ngôn ngữ. Vì thế cùng ngày lễ Eid al-Adha chẳng hạn thì ở Angiêri gọi là Eid al-Kebir, ở Afghanistan nó có tên là Eid al-Qurban, ở Thổ Nhĩ Kỳ là Buyuk Bairam, còn ở Inđônêxia là Id ul-Adha.
LỄ EID AL-FITR
Lễ Eid al-Fitr (hay lễ Tiểu Eid) bắt đầu vào ngày thứ nhất của tháng Ahawal, sau khi tháng chay Ramadan chấm dứt. Lễ này được người ta tổ chức khắp nơi trong khắp thế giới Hồi giáo. Đó là ngày hội hè theo đúng nghĩa, tức là nổi đình đám nhất. Ngày hôm trước lễ Tiểu Eid, từng đoàn người Hồi giáo thực hiện những hành trình dài đến những thánh đường lớn trong nước để cầu nguyện.
Vì lễ này đánh dấu việc chấm dứt mùa chay Ramadan, nên nó luôn là dịp để tổ chức ăn uống tiệc tùng, và các gia đình sum họp cùng nhau giống như trong ngày Tết Năm mới ở phương Đông.
Vào ngày đầu tiên của lễ Tiểu Eid, buổi sáng tất cả những người đàn ông trong gia đình sẽ đến thánh đường để dự một buổi lễ cầu nguyện đặc biệt. Sau buổi lễ, theo giáo huấn của Mohammed, họ sẽ đến nghĩa trang để thăm viếng mộ thân nhân.
Khi những nghi lễ tôn giáo trang nghiêm này đã xong rồi thì cũng là lúc không khí lễ hội náo nhiệt bắt đầu. Người ta đi thăm họ hàng và bạn bè. Đám trẻ con luôn chờ đón lễ Tiểu Eid, vì đây là lúc chúng được mặc quần áo đẹp và được cho tiền. Chúng thường theo người lớn đi thăm hỏi mọi người, và tất nhiên là mong ngóng được cho tiền làm quà. Các cô dâu mới thường cũng được người ta mừng tiền vào dịp này. Luật Hồi giáo Shariah quy định người ta phải thực hiện việc bố thí cho người nghèo để chấm dứt mùa chay, gọi là zakat al-Fitr.
Trong những ngày lễ hội, người ta thường đem những bộ quần áo đẹp nhất ra diện để đi chơi. Đàn ông đội chiếc khăn mới; phụ nữ thì diện những bộ váy áo đẹp nhất của mình. Một số phụ nữ choàng chiếc áo thụng thêu dài trùm đầu đến tận ngón chân mặc cùng với cái váy mới đầy màu sắc. Trong khi một số khác lại mặc những chiếc áo dài mới may bằng lụa thêu thùa rất cầu kỳ. Đàn ông bộ tộc Pathan ở Pakistan thì kè kè bên hông khẩu súng đẹp nhất, nòng thường được sơn mới. Và ở các nước vùng sa mạc thì ngay cả đám lạc đà cũng được đeo đầy những đồ trang sức lòe loẹt. Ở các thành phố, đường phố thường đầy nghẹt những người bán rong, mà hàng hóa chủ yếu của họ là bánh trái ăn chơi.
Lễ Tiểu Eid giống với lễ Nguyên đán của phương Đông hơn bất cứ lễ hội nào khác trong thế giới Hồi giáo. Các nhân viên được ông chủ cho tiền thưởng; nhà máy và văn phòng đóng cửa nghỉ vài ngày; thực phẩm và tiền được phân phát cho người nghèo.
Trong thời gian lễ Tiểu Eid, người ta thường chào hỏi nhau bằng câu “Chúc một lễ Eid tốt lành cho bạn”.
Các nước Hồi giáo thế tục hóa thường quy định nghỉ lễ Tiểu Eid trong hai ngày, nhưng thông thường người ta nghỉ hết cả tuần, thậm chí đến cả tháng.
LỄ EID AL-ADHA
Lễ hội có tên là Eid al-Adha hay là Đại Eid được toàn thể thế giới Hồi giáo cử hành vào ngày 10 tháng Mười hai. Mọi người, nhất là những người đã được tước hiệu hajj, mổ súc vật như cừu, dê và lạc đà làm vật hiến tế. Bất chấp phải chi tiêu tốn kém, đây là một nghi lễ mà không có gia đình Hồi giáo nào là không sẵn sàng làm một cách tự nguyện. Nghi lễ này là để tưởng nhớ việc Abraham đã theo lệnh Allah giết một con cừu làm vật hiến tế thế mạng cho con trai ông là Ismael.
Giáo huấn của Tiên tri Mohammed tuyên bố rằng gia trưởng của các gia đình phải đích thân đi mua con cừu dành cho lễ hiến tế. Ngày lễ này bắt đầu cũng giống như lễ Tiểu Eid, với việc đàn ông con trai đi dự buổi lễ cầu nguyện đặc biệt ở thánh đường. Khi trở về nhà họ đưa theo một người để giết mổ con vật nếu họ không định tự mình làm việc đó. Trước khi ra tay, dù là ai thì cũng đều phải nói câu “Nhân danh Allah”.
Thịt con vật hiến tế, cũng theo giáo huấn của Mohammed, phải được chia ra làm ba phần, một phần cho người nghèo, một phần cho họ hàng, và một phần cho gia đình. Trong dịp lễ này, những tổ chức từ thiện nhận được rất nhiều thịt. Trong những ngày tiếp sau đó, một gia đình bình thường cũng tiêu thụ nhiều thịt hơn bất cứ lúc nào khác trong năm.
Bằng lễ hiến tế này người ta khẳng định, một cách tượng trưng, rằng vì Thượng đế họ sẵn sàng từ bỏ thậm chí cả những gì quý giá nhất của mình. Đó là một nghi lễ thiêng liêng để tỏ lòng biết ơn Thượng đế và thể hiện lòng nhân đức.
“Chúc một lễ Eid tốt lành cho bạn” cũng là lời chào hỏi mà người ta dành cho nhau trong lễ Đại Eid.
Mặc dù những người Hồi giáo tổ chức lễ Đại Eid ở quê hương họ trên khắp thế giới, nhưng nơi thiêng liêng nhất để thực hiện nghi lễ này là Mina, một ngôi làng nhỏ cách Mecca sáu cây số về phía đông. Hàng trăm ngàn người Hồi giáo đổ về đây thực hiện nghi lễ hiến sinh như một phần bắt buộc của cuộc hành hương đến Mecca.
NGÀY SINH CỦA MOHAMMED
Các tín đồ Hồi giáo kỷ niệm ngày sinh của Tiên tri Mohammed vào ngày 12 tháng Rabi ul-Awal. Đây là một trong những ngày lễ quan trọng nhất trong thế giới Hồi giáo, với những buổi lễ cầu nguyện và tiệc tùng kéo dài trong nhiều ngày thậm chí nhiều tuần. Ở các gia đình, người ta kể chuyện về cuộc đời Mohammed, về cha mẹ Ngài và về việc Ngài được sinh ra như thế nào. Các vị lãnh đạo tôn giáo trong cộng đồng cũng nhắc nhở các tín đồ về những bổn phận của họ với tư cách là người Hồi giáo.
Người ta tin rằng Tiên tri chết cũng vào đúng ngày này, điều đó càng làm cho ngày lễ thêm phần ý nghĩa, thêm phần quan trọng và trang nghiêm.
Trong hai thế kỷ đầu tiên của đạo Hồi, lễ này không được tổ chức vì người ta không biết được chính xác ngày sinh của Tiên tri. Đến thế kỷ thứ 9, một loạt những truyền thuyết về Tiên tri được chính thức hóa trong Hadith (Sách Tiên tri). Một truyền thuyết về cuộc đời Tiên tri nói rằng rất nhiều sự kiện trọng đại trong cuộc đời Mohammed đã xảy ra vào ngày thứ Hai. Ông tị nạn đến Medina và cái chết của ông đều xảy ra vào thứ Hai. Vì thế các lãnh tụ đạo Hồi thời đó quyết định lấy ngày 12 thứ Hai tháng Rabi ul-Awal làm ngày sinh của Mohammed. Ngày này được tổ chức bằng những nghi lễ cầu nguyện đặc biệt. Đàn ông tụ tập ở thánh đường địa phương hay đến thánh đường lớn (Thánh đường ngày thứ Sáu) để nghe vị imam kể về cuộc đời Mohammed. Phụ nữ cũng tụ tập cầu nguyện ở nhà.
Ở Inđônêxia, lễ kỷ niệm ngày sinh của Tiên tri được cử hành với một đám rước vĩ đại trên đảo Java. Hai ngày trước lễ kỷ niệm, hàng núi thức ăn cho lễ hội được người ta chuẩn bị tại Cung điện Hoàng gia. Trong ngày lễ, thức ăn được mang đến các thánh đường chính trong thành phố, ở đó chúng được ban phúc và phân phát cho mọi người. Người ta tin rằng, ai nhận được một miếng gunungan (một món đồ ăn hình chiếc bánh ú) thì người đó nhất định sẽ gặp được vận may, sẽ mạnh khoẻ và được một vụ mùa bội thu.
LỄ MUHARRAM VÀ ASHURA
Với những người Hồi giáo Shi’ite, nghi lễ tôn giáo quan trọng nhất trong năm là lễ Asshura vào ngày thứ mười đầu năm mới. Đây là thời gian than khóc, kỷ niệm ngày tuẫn đạo vì chính nghĩa Hồi giáo của Husain, con trai của Ali, cháu của Tiên tri Mohammed, trong một cuộc xung đột tôn giáo đã mở đầu cho sự phân liệt giữa phái Shi’i và phái Sunni. Husain cùng với bảy mươi hai người, vừa người nhà vừa đệ tử, bị giết tại Karbala ngày 10 tháng Mười năm 680. Cái chết của Husain được những người Shi’i làm lễ tưởng niệm trong mười ngày đầu tiên của năm mới theo lịch Hồi giáo, đó là dịp lễ Muharram.
Trong những ngày này các cộng đồng Hồi giáo Shi’i trên khắp thế giới đều biểu lộ một nhiệt huyết tôn giáo cao độ. Vào ngày cuối cùng của năm cũ, những chiếc lều bạt màu đen được dựng trên các con phố với các binh khí và các ngọn nến tưởng niệm để nhắc nhở khách qua đường về người tử đạo. Vào ngày đầu tiên của lễ Muharram, các tín đồ mộ đạo ngừng việc tắm rửa và cạo râu. Câu chuyện về Husain được kể lại một cách sống động tại bục giảng kinh trong các nhà lều; người nghe đáp lại bằng những giọt nước mắt tràn trề và những tiếng khóc than rền rĩ. Các đám rước được tổ chức ở tất cả những vùng nào có đông các tín đồ Shi’i.
Cao trào tưởng niệm về cái chết của vị anh hùng này là vào ngày thứ mười của lễ Muharram, được gọi là Ashura. Trận đánh ở Karbala và cái chết của Husain được người ta diễn lại một cách đầy màu sắc, với những kỵ sĩ cưỡi ngựa mặc trang phục nhẹ tấn công lẫn nhau, chém vào người nhau với những thanh kiếm gỗ. Đám đông ngày càng kích động hơn; cuối cùng Husain được đưa ra, và người ta chứng kiến cảnh ông bị kẻ thù độc ác hành hạ cợt nhạo. Cuối cùng ông bị chặt đầu. Cảnh tượng gây ấn tượng kịch tính nhất của ngày hôm đó là màn tự hành hạ mình bằng roi do những người mộ đạo thực hiện, như một hành động cùng chịu đựng khổ nạn với thánh Husain. Mỗi một đám rước đều có một nhóm những tín đồ mộ đạo dùng những cái roi hay dây xích đặc biệt, có gắn năm mảnh dao sắc ở đầu tự đánh lên lưng mình, kết quả là lưng họ đầy những vết thương và đẫm máu trông rất khủng khiếp. Một số người trong đám rước ngã quị vì mất quá nhiều máu, nhưng lập tức có người khác thế chỗ, mọi người ai nấy đều kêu khóc “Ya Husain”.
Phái Sunni kỷ niệm ngày mất của Husain ít kịch tính hơn. Trong mười ngày đầu của tháng Muharram, tất cả các hình thức giải trí vui chơi công cộng, kể cả đàn ca, đều phải dẹp bỏ. Lễ Ashura cũng là một ngày ăn chay nhưng không bắt buộc.
LỄ CÁC THÁNH URS
Hầu như các quốc gia Hồi giáo nào cũng có những vị thánh (wali), và ngày mất của họ cũng là ngày lễ của những tín đồ ở địa phương có lăng mộ của vị thánh đó. Lễ các thánh có lẽ là những lễ hội đa dạng và nhiều màu sắc nhất trong thế giới Hồi giáo, đúng với tính chất thần bí siêu thực của các vị này. Dưới đây là một ví dụ.
Khu lăng mộ của sheikh Osman, được gọi bằng cái tên Shah Lal Baz Qalandar, nằm tại tỉnh Sindh, Pakistan là địa điểm của một lễ hội thường niên diễn ra trong ba ngày. Điều khác thường về Osman là bà được cả người Hồi giáo và Ấn giáo kính trọng và thờ phụng. Có ba người canh giữ ngôi đền của Osman, một người Hồi giáo và hai người Ấn giáo. Chức vụ canh giữ ngôi đền là một chức vụ cha truyền con nối, chừng nào người canh đền còn có con trai để thừa kế vai trò này.
Cái chết của Osman được người ta kỷ niệm bằng việc tổ chức một vở kịch về lễ cưới, tượng trưng cho sự giao hòa của vị thánh với Thượng đế. Vào ngày thứ nhất, một đám rước dâu đi từ ngôi nhà của người canh đền Hồi giáo đến ngôi mộ kết đầy hoa của vị thánh. Ngày thứ hai và thứ ba, mỗi ngày có một đám rước dâu đi từ nhà của hai người canh đền Ấn giáo. Những người hành hương Hồi giáo và Ấn giáo đến đây từ khắp mọi nơi trong vùng Sindh và những nơi khác nữa. Trong suốt ba ngày, không gian tràn đầy tiếng nhạc và những màn múa hát. Ở trong sân khu lăng mộ, người ta liên tục đánh những cái trống đồng lớn khi những người mộ đạo trên đường tiến vào đền. Cả đàn ông và đàn bà đều nhảy múa, với những động tác nghi lễ truyền thống, hàng người đưa đẩy tiến tới, thụt lùi với hai tay giơ cao lên trời. Osman cũng là vị thánh của một nhóm phụ nữ đang ca hát ở sân đền, họ trình diễn những bài hát và điệu múa theo những nghi lễ của riêng họ, nhằm đạt đến cái khoảnh khắc ngây ngất xuất thần khi được hợp nhất với Thượng Đế.
CÁI TÊN ĐẠO “HỒI” TỪ ĐÂU MÀ RA?
Tên gọi đạo Hồi và người Hồi giáo ở Việt Nam xuất xứ từ cách gọi của người Trung Quốc. Người Trung Quốc gọi đạo Islam bằng cái tên “đạo Hồi” theo tên của dân tộc Hồi hồi (hay Hồi hột), một dân tộc mà hầu như toàn bộ người dân theo tôn giáo này. Đây là dân tộc thiểu số đông dân thứ nhì (khoảng 8 triệu người) sống ở vùng tây bắc Trung Quốc giáp giới với các nước Cộng hòa Trung Á và Afghanistan.
TỪ ABRAHAM ĐẾN MECCA
Abraham nằm mơ thấy Thượng đế ra lệnh cho mình rời khỏi xứ Palestine để đến một nơi mà Thượng đế đã dành cho con cháu của ông. Ông đã làm theo lời Thượng đế, cùng với vợ là Hagar và con trai là Ishmael lập tức lên đường. Một hôm, Hagar bị lạc trong sa mạc cùng với Ishmael, và bà tuyệt vọng chạy khắp nơi để tìm nước uống cho con. Rồi bà bỗng thấy một cái giếng hiện lên ngay cái chỗ mà Ishmael dậm gót chân xuống cát. Sau đó, Abraham vâng theo lệnh của Thượng đế đã xây dựng một ngôi đền có hình khối vuông ở Mecca – đó là đền Kaaba – với sự giúp sức của con trai Ishmael. Ở một góc của Kaaba có đặt khối Đá Đen do thiên sứ Gabriel mang từ trên trời xuống.
Một lần, Thượng đế ra lệnh cho Abraham hiến tế con trai Ishmael cho Ngài. Trên đường đi đến nơi hiến tế, quỉ Satan đã ba lần hiện ra trước mắt Ishmael và cố gắng xúi bẩy cậu khước từ yêu cầu của cha, nhưng Ishmael vẫn giữ vững đức tin. Khi Thượng đế thấy rõ sự trung thành của Abraham, ngài tỏ lòng thương xót và cử thiên thần mang một con cừu xuống để làm lễ hiến tế thay cho con trai ông.
CÂY CẦU BẮC VÀO THIÊN ĐÀNG
Truyền thuyết Hồi giáo kể rằng ở lối vào thiên đường có cây cầu bắc qua ngay phía trên địa ngục. Chiếc cầu này nhỏ hơn sợi tóc và sắc hơn lưỡi gươm. Chỉ những người được ban phúc mới qua được cầu, những kẻ có tội sẽ bị trượt chân hay bị mắc vào những cái móc, chưa tới được Thiên đường thì đã rơi xuống địa ngục… Người ta tin là tùy theo những việc thiện ác đã làm và sức mạnh của lòng tin mà người qua cầu sẽ nhanh hay chậm… Một số người phải mất một trăm năm, một số khác phải mất một ngàn năm, tùy theo lúc sống họ giữ mình trong sạch đến mức nào; những ai đã được nhìn thấy Thượng đế thì không bị nguy cơ rơi xuống địa ngục. Cây cầu này có bảy nhịp, mỗi nhịp tương ứng với một nghĩa vụ: đức tin, chăm cầu nguyện, bố thí, nhịn ăn, hành hương tới Mecca, trong sạch theo nghi lễ và hiếu nghĩa. Kẻ nào bỏ qua một trong các nghĩa vụ ấy đều sẽ không qua được cầu.
TÊN CỦA ALLAH
Theo truyền thuyết Hồi giáo, Thượng đế có 99 tên gọi, gắn với những thuộc tính của Ngài. Trong số đó có những cái tên như “Đấng Nhân từ, Đấng Từ bi, Đấng Xót thương, Đấng Thông thái, Vị Chúa tể Vũ trụ, Đấng Sáng thế…”. Một hadith tiên tri có ghi: Thượng đế có 99 tên gọi, nghĩa là 100 trừ 1, ai biết được đủ ngần ấy cái tên, kẻ đó sẽ lên Thiên đường.
Kinh Koran nói: Thượng đế có rất nhiều tên đẹp,; hãy khấn Ngài bằng những cái tên ấy và tránh xa những kẻ gọi không đúng tên của Ngài.

( Còn một phần cuối–Phần 9 đến đầu trang 80–Nguyễn Sinh )


Thế giới Hồi Giáo ( Phần 8 )

Một đoạn kinh Koran

THẾ GIỚI HỒI GIÁO ( PHẦN 8 )

LÀNG XÃ
Các thôn làng Hồi giáo giống với những thị trấn nhỏ hơn là làng quê. Chúng thường nằm rải rác bao quanh các thành phố và các thị trấn lớn giống như các điện tử xoay quanh hạt nhân nguyên tử vậy.
Các ngôi nhà trong làng thường quy tụ lại một chỗ, nằm kề sát nhau chứ không phân tán trên những lô đất riêng biệt. Đa số các ngôi nhà đều có một mảnh sân nhỏ để nuôi gia cầm và làm kho chứa đồ. Mảnh sân này cũng là nơi nấu ăn, làm việc, nơi sinh hoạt gia đình và để trẻ con chơi đùa. Và toàn bộ ngôi nhà được quây lại bằng những bức tường vây kín bốn bề.
Các làng xóm Hồi giáo luôn có một chỗ ở dành riêng cho khách của làng đến chơi hay chỉ đơn giản ghé qua, làng nào có điều kiện còn cho xây cả những căn phòng trải thảm trong nhà để làm nơi cho khách giải trí nữa.
Trong các làng xóm, thánh đường Hồi giáo thường sẽ kiêm luôn chức năng là trường học cho trẻ em, mặc dù ngày nay giáo dục thế tục đã thay thế cho giáo dục thánh đường, nhưng điều đó thường chỉ có nghĩa là các giáo viên sẽ giảng dạy ở trường học thay cho các giáo sĩ hay các vị seikh. Thánh đường cũng là nơi hội họp của dân làng để giải quyết những sự việc nảy sinh trong cộng đồng nhỏ của họ. Tuy vậy, nhiều làng thường tổ chức hội họp ngay dưới bóng cây ngoài trời.
Mặc dù trong hầu hết các nước Hồi giáo ngày nay đã có nhiều người dân nông thôn được học hành cao hơn, nhưng cuộc sống làng xã vẫn không thay đổi gì nhiều sau nhiều thế kỷ. Dân làng thường nghèo hơn dân thành phố, những tiện nghi hiện đại của thành phố hầu như không có trong các làng xóm.
GIA ĐÌNH
Gia đình và ngôi nhà trong xã hội Hồi giáo là một thế giới cực kỳ riêng tư. Các ngôi nhà ở thành phố đều có vẻ co thủ, hướng vào bên trong. Các bức tường quay ra đường phố hầu như không có cửa sổ, trừ một cánh cổng dẫn vào sân trong. Các căn phòng trong ngôi nhà phổ biến quay vào sân trong, còn những bức tường màu trắng ở bên ngoài che giấu đi các hàng hiên và những khu vườn bên trong được trang trí tùy theo thẩm mĩ và tình hình tài chính của từng nhà. Ngay cả những ngôi nhà hiện đại cũng vẫn giữ vẻ riêng tư và co thủ này.
Trong một ngôi nhà người ta có thể đi từ phòng này sang phòng khác qua những lối đi có mái che, và đã có thời đó là không gian duy nhất mà những người phụ nữ được tự do đi lại. Trong nhiều ngôi làng, những ngôi nhà vẫn còn được xây dựng với một kiểu cách cô lập rất cao, phòng này quay mặt vào phòng khác, với các đường hành lang bên trong mà người ngoài chỉ có thể nhìn thấy được từ bên trên.
Gia đình là trung tâm cuộc sống cá nhân của người Hồi giáo. Gia đình là tất cả những người thân thuộc cùng sống chung dưới một mái nhà. Đời sống gia đình Hồi giáo tuân theo chế độ gia trưởng chặt chẽ và dựa trên cơ sở của gia đình mở rộng (đại gia đình) – nghĩa là có ba hay thậm chí bốn thế hệ cùng sống chung với nhau. Những thành viên có thu nhập trong gia đình phải có bổn phận lo lắng cho những người già và trẻ em không tự xoay xở được. Các thành viên có ý thức rất mạnh mẽ về một gia đình ổn định.
Ở các vùng nông thôn, quy mô của các gia đình vẫn rất lớn vì hầu như toàn bộ các thành viên của gia đình mở rộng cùng sống chung với nhau. Trong một xã hội Hồi giáo thì hầu như không có ai sống một mình cả. Ông bà, các bà góa, những người đã ly dị tất cả đều được gia đình cưu mang. Vì thế một gia đình có trên mười người là chuyện bình thường. Tuy vậy, ở những vùng đô thị, nơi chịu ảnh hưởng nhiều hơn của văn hóa phương Tây, quy mô của gia đình đang ngày càng giảm đi, đơn vị gia đình thường là các gia đình hạt nhân – tức chỉ gồm vợ chồng và con cái.
Gia đình trong xã hội Hồi giáo là một tổ chức rất chặt chẽ. Mọi thành viên đều có một ý thức trách nhiệm rất mạnh mẽ với gia đình mình, gồm cả gia đình hạt nhân cũng như gia đình mở rộng (đại gia đình). Có một trật tự nghiêm ngặt điều chỉnh cuộc sống gia đình. Mỗi thành viên gia đình có một vai trò riêng và một trách nhiệm riêng đựa theo tuổi tác và giới tính của mình. Thứ bậc theo tuổi tác là đặc điểm cơ bản trong gia đình. Người lớn tuổi hơn luôn phải được kính trọng. Ngay từ lúc còn bé, trẻ con đã được dạy phải tuyệt đối vâng lời cha chú, và ngay cả khi chúng đã trưởng thành và có gia đình con cái riêng thì cũng vậy. Sau khi người cha chết, người anh cả, vì là người đàn ông lớn tuổi nhất, trở thành người có quyền lớn nhất trong gia đình và được hưởng phần thừa kế nhiều hơn.
Có một luật lệ bất thành văn là những người già cả trong gia đình phải được chăm sóc sau khi họ không còn làm việc được nữa, và do đó các cha mẹ khi về già sẽ sống với con cái. Trong gia đình mở rộng, sự tôn kính là tùy theo tuổi tác, người già cả phải được kính trọng nhất. Một người ông nội già cả sẽ tiếp tục cư xử như người có quyền hành tối cao trong mọi vấn đề của gia đình ngay cả khi những quyết định hàng ngày thuộc về các thế hệ trẻ hơn. Khi người già bước vào phòng thì những người trẻ hơn phải đứng dậy chào hỏi. Y kiến của người già phải được coi trọng. Họ thường là những người hòa giải các xung đột trong gia đình.
Kính trọng và chăm lo cho người già là một phần quan trọng của việc thể hiện đức tin của một người Hồi giáo. Kinh Koran nói: “Đấng Cứu nạn của ngươi tuyên bố rằng ngươi thờ phụng không ai khác ngoài Ngài, và rằng ngươi phải tử tế với cha mẹ. Dù có ai trong cha mẹ ngươi sống được đến già cùng ngươi hay không thì ngươi cũng đừng nói điều gì xúc phạm hay làm họ tức giận, mà hãy nói với họ bằng những lời tôn kính. Và vì lòng nhân từ, hãy cúi mình trước họ mà nói: Allah trên trời! Hãy ban cho họ sự Nhân từ của người, như họ đã chăm sóc âu yếm với con khi con còn bé”.
Trong gia đình Hồi giáo, đàn ông giữ địa vị thống trị. Gia trưởng là người cha nuôi sống gia đình. Ông ta là người có tiếng nói tối hậu trong mọi vấn đề. Người mẹ nuôi nấng con cái và chăm sóc các công việc nhà, nấu nướng giặt giũ. Đàn ông nhìn chung lãnh những trách nhiệm phải tiếp xúc với người ngoài, như đi chợ mua thực phẩm và vật dụng cho gia đình.
Các ông chồng không chia sẻ với vợ những công việc hàng ngày bên trong gia đình. Mỗi ngày, anh ta đi làm và trở về vào buổi tối khi cơm nước đã sẵn sàng. Mọi người trong gia đình chấp nhận như vậy và hàng xóm cũng coi đó là chuyện bình thường. Lúc rảnh rỗi, anh ta thường ra ngoài đàn đúm với đám đàn ông. Vợ anh ta được coi như con dâu của cả gia đình, và công việc nội trợ của cô không chỉ là với chồng con mà là với cả gia đình chồng nói chung. Tuy vậy, tại các thành phố hiện đại ngày nay, lối sống gia đình truyền thống như thế đang thay đổi. Người đàn ông bắt đầu chia xẻ công việc gia đình với phụ nữ, nhưng thường chỉ là trong việc chăm sóc dạy dỗ con cái.
Ở các xã hội Hồi giáo, thông thường người ta có tên nhưng không có họ, và để xác định một người, thì tên người đó phải có phần tham chiếu tên của người cha. Mặc dù vậy nhưng mọi người ai cũng biết rõ tổ tiên ông bà của mình. Tất cả những người cùng chung một huyết thống đều cùng hưởng niềm vinh dự hay cùng chịu nỗi ô nhục do một cá nhân trong dòng tộc gây ra.
Quan hệ họ hàng cũng có sự phân biệt rõ ràng. Các anh em trai bên nội có danh xưng riêng và bên ngoại có danh xưng riêng. Như thế mỗi một quan hệ họ hàng đều được được định danh và được nhận biết rõ ràng.
Vì hôn nhân ở các xã hội Hồi giáo thường mang ý nghĩa liên kết giữa hai gia tộc nên các gia đình Hồi giáo đều có những quy định có tính chất nghi thức trong quan hệ với bố mẹ vợ hay bố mẹ chồng. Khiếm nhã với bố mẹ vợ hay chồng là điều không thể tha thứ – vì thế cái đề tài được ưa thích về bà mẹ vợ trong những câu chuyện cười của các xã hội khác ở đây sẽ bị coi là rất vô vị và thậm chí là bất lịch sự.
ĐỊA VỊ CỦA PHỤ NỮ
Theo truyền thống, nền văn hóa Hồi giáo dành địa vị ưu tiên cho đàn ông, người phụ nữ chỉ giữ vị trí phụ thuộc. Cô ta phải vâng lời chồng, lời cha, và hầu hết mọi chuyện mà cô ta làm đều phải được họ cho phép. Điều đó trong một chừng mực lớn có liên quan đến giáo lý Hồi giáo, vì kinh Koran công nhận địa vị vượt trội của người đàn ông và chấp nhận chế độ đa thê. Từ nhiều đời nay, phụ nữ đã được nuôi dạy để phục tùng sự thống trị của đàn ông, không chỉ với người cha hay chồng họ, mà cả anh em trai và anh em rể. Vì thế không có gì khó hiểu khi người phụ nữ Hồi giáo thường bị thế giới không Hồi giáo nhìn nhận như những cá nhân bị đè nén áp bức, chẳng khác gì tài sản của thế giới đàn ông.
TRONG GIA ĐÌNH
Phụ nữ không được coi như những người có thể kiếm sống độc lập. Điều này giải thích truyền thống coi trọng con trai hơn con gái. Sinh một đứa con trai có nghĩa là sẽ có một nguồn thu nhập về sau và có người giúp đỡ cho lúc về già. Còn sinh một bé gái thì rốt cuộc rồi nó cũng sẽ đi về nhà chồng.
Có một sự phân công lao động nghiêm ngặt theo giới tính: đàn ông là những người mang lại thu nhập cho gia đình, còn đàn bà làm công việc nội trợ trong nhà. Những bổn phận của một người phụ nữ là chuẩn bị bữa ăn cho gia đình, chăm sóc súc vật, chăm sóc vườn rau, lấy nước, dọn dẹp và sửa sang nhà cửa, và chế biến, cất trữ nông sản dùng trong nhà. Chỉ có rất ít phụ nữ đi làm trong các nhà máy hay văn phòng, và tiền công của họ thường thấp hơn đàn ông chừng 20-30 phần trăm.
Danh dự của gia đình – được đánh giá rất cao trong xã hội Hồi giáo – phụ thuộc rất nhiều vào những hành vi cư xử của những người phụ nữ, đặc biệt là các chị em gái và con gái, vì vậy đàn ông canh chừng những người phụ nữ của họ rất cẩn thận. Người phụ nữ bắt buộc phải tỏ ra đoan trang, thùy mị và thận trọng. Mọi biểu hiện thiếu đứng đắn, dù nhỏ nhất, đều không thể tha thứ, nhất là khi bị nhiều người khác biết, vì nó có thể phá hoại không thể cứu vãn danh dự của gia đình. Vì thế nếu một phụ nữ trong gia đình bị phát hiện phạm tội, thì những người đàn ông sẽ nổi xung lên và trừng phạt người phụ nữ kia ngay lập tức.
Những phụ nữ nào còn độc thân khi đã ngoài hai mươi sẽ ít có cơ hội lấy được chồng trừ phi phải lấy những người đàn ông đã ly dị hay góa vợ. Những phụ nữ như vậy bị coi là kém cỏi, họ phải sống ở nhà chăm sóc cho cha mẹ già. Mặc dù không bị luật pháp cấm sống độc thân, nhưng người phụ nữ không thể làm được điều đó vì sức ép của xã hội và gia đình. Cô gái nào không lấy chồng sẽ bị coi là một gánh nặng đối với kinh tế gia đình. Vì thế cho nên người phụ nữ rất dễ cảm thấy đau buồn tủi hổ về việc không lấy được chồng.
Người phụ nữ sẽ có được một địa vị vững chắc trong gia đình nhà chồng khi cô ta sinh ra được những đứa con trai, vì thế nên các bà vợ yêu và thích con trai hơn, thường chăm sóc chúng lâu hơn so với con gái. Quan hệ giữa mẹ và con trai cũng ấm áp và thân tình hơn trong khi với cha chúng thì khá xa cách.
Tài sản trong gia đình thường được chia cho các con trai, nhưng con gái cũng nhận được một phần làm của hồi môn. Các góa phụ cũng có phần, họ thường được chia 1/8 tài sản của chồng, được gia đình bên chồng lo cho một phòng để ở và được bao bọc. Bà ta cũng được giữ lại nữ trang của mình và có thể đem cho con gái hay con dâu tùy ý.
NGOÀI XÃ HỘI
Các nước Hồi giáo đều là những nước trong đó đàn ông giữ địa vị thống trị. Ngay từ bé, con trai và con gái đã được đối xử khác nhau. Ở trường học, con gái và con trai học riêng, và cho dù ở những lớp chung cho cả trai và gái thì chúng vẫn phải ngồi riêng ra.
Phụ nữ là đối tượng của những câu thúc ép buộc của xã hội, họ có một hình ảnh thấp trong công chúng và vị trí của họ được coi dứt khoát là ở gia đình, ở trong nhà và phải phụ thuộc vào người đàn ông. Ở một số nước, khi một phụ nữ muốn làm chứng minh thư thì luật pháp yêu cầu cô ta phải được sự cho phép của cha hay chồng, tức là chỉ người đàn ông mới có thể trao quyền công dân cho vợ và con mình.
Giáo lý đạo Hồi có quan điểm rõ ràng về vai trò của phụ nữ thể hiện trong những luật lệ liên quan đến hôn nhân và gia đình. Và trong hầu hết trường hợp, phụ nữ luôn bị phân biệt đối xử. Ví dụ, luật Sunni về thừa kế cho con trai phần thừa kế gấp đôi con gái. Cũng như vậy trong trường hợp ly dị, một người đàn ông Hồi giáo có thể ly dị vợ rất dễ dàng, anh ta chỉ cần nói ba lần câu “Tôi bỏ bà” trước mặt một người làm chứng là xong, còn người phụ nữ chỉ có thể ly dị nếu chồng cô ta đồng ý. Trước tòa án, phụ nữ cũng được quyền bào chữa, nhưng theo luật Hồi giáo, nhưng lời bào chữa của một người đàn ông có giá trị bằng hai người phụ nữ, như thế muốn chống lại một nhân chứng là đàn ông thì phải có ít nhất hai nhân chứng là phụ nữ. Một người đàn ông giết vợ, chị em gái hay thậm chí cả mẹ mình có thể không bị kết tội nếu anh ta chứng minh được rằng người phụ nữ đó phạm tội ngoại tình.
CƠ HỘI GIÁO DỤC, VIỆC LÀM
Địa vị thấp kém của phụ nữ còn thể hiện trong thụ hưởng giáo dục. Ở các vùng nông thôn của đa số các nước Hồi giáo thường chỉ có 10% số trẻ em nữ được đến trường. Ngay tại các thành phố và thị trấn thì tỷ lệ học sinh nữ so với học sinh nam cũng rất thấp. Học hành không được coi là điều cần thiết cho con gái, bởi vì mục tiêu quan trọng nhất của người phụ nữ là lấy được chồng, nếu “học nhiều quá” sẽ chỉ gây rắc rối cho cô gái vì sẽ khiến cho cô ta sinh ra nhiều tham vọng mà không thể thỏa mãn được, cũng như làm cho cô ta thành một người phối ngẫu kém hấp dẫn. Học hành “không cần thiết” với phụ nữ còn là vì những việc làm cần trình độ giáo dục thường chỉ dành cho đàn ông.
Mặc dù ở nhiều nước, luật pháp hiện đại tuyên bố nam nữ bình đẳng, phụ nữ đã được đi bầu, được quyền làm ăn kinh doanh, nhưng những sức ép truyền thống đã ngăn cản hầu hết phụ nữ để họ có thể tranh thủ được lợi ích từ địa vị luật pháp này. Phụ nữ vẫn hiếm khi được đi ra ngoài nơi công cộng một mình, nhất là ở các vùng nông thôn. Tuy vậy, ở các thành phố lớn, con số phụ nữ đi làm ngoài gia đình và có thu nhập đang tăng dần lên, dù tiền lương của họ thấp hơn của đàn ông nhiều. Phụ nữ ở các nước Hồi giáo hiện nay làm việc nhiều trong các ngành y tế và giáo dục. Số phụ nữ tham gia công việc chính quyền vẫn còn rất ít.
GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ
Cuộc đấu tranh khó khăn nhất cho quyền của phụ nữ ở các nước Hồi giáo hiện nay là vẫn còn là đấu tranh với những luật lệ trong gia đình. Trong nhiều nước các chính phủ đã cố gắng để đem lại địa vị bình đẳng cho phụ nữ, nhưng những người Hồi giáo cực đoan thường coi những thay đổi như thế là Tây phương hóa lối sống gia đình. Chẳng hạn, phụ nữ đã được quyền nuôi con và quyền hưởng của hồi môn, nhưng luật tục vẫn đảm bảo cho người đàn ông quyền ưu tiên đối với vấn đề li dị và việc có cho phụ nữ ra ngoài đi làm hay không.
Những cố gắng nhằm giải phóng phụ nữ thường trở thành đối tượng công kích của các thế lực bảo thủ trong xã hội. Việc khuyến khích giáo dục không phân biệt nam nữ, bỏ mạng che mặt và cổ súy việc ăn mặc theo kiểu Tây phương nhằm cải thiện địa vị của phụ nữ khiến các phần tử tôn giáo và bảo thủ của xã hội tức giận là một nguyên nhân gây nên các cuộc nổi loạn rộng lớn ở nhiều nước.
Tuy nhiên, địa vị của phụ nữ ở các xã hội Hồi giáo cũng rất phức tạp tùy theo từng nước. Pakistan, chẳng hạn, là một quốc gia Hồi giáo mà phụ nữ bị buộc phải che mạng khi ra ngoài đường. Nhưng năm 1988 lại có một phụ nữ, bà Benazir Bhutto, được bầu làm thủ tướng, một chức vụ quyền thế nhất trong nước. Và hãng Hàng không Quốc tế Pakistan cũng sử dụng nhiều nữ phi công hơn bất cứ hãng hàng không nào khác trên thế giới.
PHONG TỤC CHE MẠNG
Địa vị thấp kém của người phụ nữ trong các xã hội Hồi giáo thể hiện dưới hình thức cực đoan nhất trong tập tục che mạng. Người phụ nữ đeo mạng che mặt sống trong sự phân biệt đối xử, hầu như bị tách biệt hoàn toàn với thế giới của đàn ông. Cô phải ăn mặc sao cho không ai được thấy mặt cô, chỉ trừ những người thân trong gia đình. Cô không bao giờ được hiện diện cùng với những người đàn ông trừ khi với một nhóm có người chồng và những người anh em trong nhà của cô. Cô không bao giờ được ra khỏi nhà mà không có người đi kèm, và luôn phải chiếc áo dài lụng thụng che kín từ đầu đến chân.
Che mạng biểu hiện cho một lối sống hơn là một trang phục. Những khác biệt trong kiểu cách, nhất là về diện tích phần mặt hở ra, là tùy thuộc vào đẳng cấp xã hội và vào thái độ của xã hội đối với người phụ nữ cũng như thái độ của người phụ nữ về bản thân mình hơn là vào bất kỳ thứ gì khác. Một số phụ nữ cấp tiến có thể cắt tóc ngắn và không mặc áo thụng hay đeo mạng che mặt. Nhưng ngay cả họ cũng thường quàng một chiếc khăn qua đầu, có lẽ họ coi việc phụ nữ mà không che thứ gì trên đầu là chuyện hết sức chướng tai gai mắt. Benazir Bhutto chẳng hạn, là một phụ nữ cấp tiến, nhưng bà ta không bao giờ xuất hiện trước công chúng mà trên đầu lại không choàng một chiếc khăn. Ở Thổ Nhĩ Kỳ và một số nước Hồi giáo thế tục hóa khác, luật pháp có thể cấm phụ nữ che mạng. Tuy vậy tập quán vẫn còn sức mạnh, phụ nữ hầu như không ai không trùm một chiếc khăn đội đầu. Ở thành phố, những người phụ nữ che mạng thường xuất thân từ các gia đình trung lưu, vì trong những gia đình như thế, việc người phụ nữ không đi làm được coi là một sự quảng cáo tốt đẹp cho địa vị xã hội của gia đình họ.
Ở nông thôn, phụ nữ được ăn mặc tự do hơn các chị em của họ ở thành phố. Vì phải làm việc ngoài đồng sát cánh với nam giới trong gia đình nên họ được giải phóng khỏi những bộ quần áo lùng thùng vướng víu, nhưng họ vẫn phải giữ khoảng cách với những nam giới khác. Như vậy, ở các vùng nông thôn hẻo lánh, việc che mạng ít quan trọng hơn, nhưng người lạ hiếm khi nhìn thấy mặt những người phụ nữ trong làng.
Hiện nay, ở các nước Hồi giáo, khoảng phân nửa phụ nữ ở các thành phố lớn không che mạng khi đi ra ngoài nhà, và xu hướng này đang ngày càng tăng. Nhưng họ thường hay bị những người Hồi giáo nệ cổ chỉ trích, ở một số nước họ thậm chí còn bị tấn công.
HÔN NHÂN
Trong các xã hội Hồi giáo, hôn nhân thường mang ý nghĩa là một sự liên kết giữa hai gia đình nhiều hơn là một sự ràng buộc về tình cảm và xã hội giữa hai cá nhân trai gái. Đa số các cuộc kết hôn là do gia đình hai bên xếp đặt, các chàng trai và cô gái đến tuổi vâng lệnh kết hôn theo lựa chọn của cha mẹ họ. Nhiều cuộc hôn nhân được xếp đặt từ lúc hai người còn là những đứa trẻ. Ở nhiều nơi, hôn nhân thậm chí còn được thu xếp thậm chí từ trước khi các đương sự được sinh ra. Ở các nước Arập, hôn nhân giữa những anh em họ, đặc biệt là về bên cha, rất được ủng hộ vì được xem như củng cố cho mối ràng buộc gia đình đã chặt chẽ lại càng chặt chẽ thêm.
Vì luật Hồi giáo cấm những người đàn ông và phụ nữ không cùng một gia đình động chạm đến nhau, vì thế nên các chàng trai hầu như không có cơ hội nào để nhìn thấy các cô gái trong một gia đình nào đó. Chính vì thế cả cô dâu và chú rể gần như không biết nhau trước khi có các cuộc thương lượng hôn nhân giữa hai gia đình, và hai bên trai gái cũng không hề nhìn thấy nhau mãi cho đến ngày tổ chức đám cưới. Có những quy tắc đạo đức nghiêm ngặt về trinh tiết với những thanh niên trai gái chưa lập gia đình.
Ngày nay, nam nữ có nhiều điều kiện hơn để lựa chọn bạn tình để kết hôn, nhưng vẫn phải được cha mẹ hai bên chấp thuận. Những người Hồi giáo có giáo dục hơn ngày càng có khuynh hướng muốn tự lựa chọn bạn đời cho mình. Hiện nay, dù hôn nhân do gia đình xếp đặt vẫn còn phổ biến ở nhiều quốc gia Hồi giáo, nhưng các cặp trai gái được quyền bày tỏ sự đồng ý hay không với sự xếp đặt của cha mẹ trước khi cử hành lễ đính hôn chính thức, và nếu có sự phản đối nào thì nhiều bậc cha mẹ hiện nay sẽ tôn trọng ý muốn của con cái. Tuy vậy, những người trẻ tuổi vẫn được dạy dỗ để quan niệm về tình yêu như một thứ gì đó có thể nẩy nở và phát triển trong hôn nhân, chứ không phải là một điều kiện tiên quyết cho nó.
Tuổi kết hôn cho nam giới thường từ mười tám đến hai mươi, còn nữ thì từ mười sáu đến mười tám. Khi cha mẹ cho rằng con cái đã sẵn sàng để kết hôn, họ sẽ tìm một người họ hàng để đóng vai người làm mối. Nhưng ngày nay, người trung gian này không còn cần thiết như trước nữa, mà thường hai gia đình sẽ trực tiếp thương lượng với nhau.
Cô con gái giống như một thứ tài sản để bán với giá cao. Ông bà mối sẽ thương lượng về tài chính, một công việc có thể phải kéo dài mất nhiều tháng trời mới xong. Nhà trai nộp cho nhà gái tài vật “thách cưới” là để đền bù cho việc nhà gái mất đi một thành viên đáng giá. Trong những cuộc hôn nhân đồng tộc, giá thách cưới (thường là giá cắt cổ) được bỏ đi vì cô con gái không đi mất khỏi gia tộc.
Của hồi môn cũng là một phần không thể thiếu trong đám cưới. Theo truyền thống, địa vị xã hội của gia đình càng cao thì của hồi môn càng có giá trị và càng long trọng hơn, nhưng với hầu hết các bậc cha mẹ thì món hồi môn này chính là lần chi tiêu tốn kém nhất trong cuộc đời họ.
Bởi vì hôn nhân rất có ý nghĩa với gia tộc hai bên chứ không chỉ với hai đương sự, nên đám cưới thường là một nghi thức đầy không khí lễ hội, có âm nhạc, nhảy múa, tiệc tùng và thường kéo dài nhiều ngày trời. Nhưng ngày nay, nhất là ở các thành phố lớn với nếp sống hiện đại thì nhiều người chọn cách tổ chức những đám cưới giản dị hơn là những buổi tiệc tùng cầu kỳ kéo dài cả tuần lễ với những nghi thức nghiêm ngặt. Nghi thức có mặt người thứ ba trong lúc động phòng để chứng nhận trinh tiết của cô dâu và chứng thực cho cuộc hôn nhân cũng hầu như không còn được thực hiện nữa.
Khi đi lấy chồng, cô dâu sẽ về sống trong gia đình nhà chồng, nơi cô có thể là một người lạ đối với tất cả người bên nhà chồng, với láng giềng và làng xóm của họ. Ở đó cô sẽ sống dưới sự giám sát của bà mẹ chồng, mối quan hệ căng thẳng giữa hai nhân vật này thường là tâm điểm của những khó khăn rắc rối trong cuộc sống hôn nhân.
Cô phải giữ đạo dâu con. Ở những nơi lối sống đại gia đình còn phổ biến, nhiều thế hệ cùng sống chung dưới một mái nhà, thì cô không chỉ chăm sóc phục vụ chồng mà còn phải chăm sóc phục vụ tất cả những thành viên bên gia đình nhà chồng nữa. Và cô phải giữ đạo làm vợ, phải giữ gìn trinh tiết. Nếu phạm tội ngoại tình, cô sẽ bị xử phạt rất nặng, có thể bị đuổi ra khỏi gia đình nhà chồng mà không được mang theo một tài sản gì. Ở những nước Hồi giáo chính thống, ngoại tình thậm chí có thể bị xử tội chết theo luật Hồi giáo.
Luật Hồi giáo cho phép chế độ đa thê. Theo tục lệ Hồi giáo, một người đàn ông có thể lấy đến bốn vợ với điều kiện phải cư xử với các bà vợ bình đẳng như nhau. Anh ta có thể cố lấy nhiều vợ để chứng tỏ rằng anh ta là một người Hồi giáo chân chính. Tuy vậy, tình hình đã thay đổi khi càng nhiều phụ nữ Hồi giáo ngày nay, nhất là ở các thành phố, ít chấp nhận chế độ đa thê như trước.
Một nhân tố không khuyến khích chế độ đa thê trong các xã hội Hồi giáo ngày nay là vấn đề tài chính. Đám cưới là một nghi lễ rất tốn kém, và thậm chí còn tốn kém hơn nữa vì những quà tặng theo tập quán cho gia đình cô dâu. Chi phí cưới xin tăng lên đi cùng với sự suy thoái kinh tế và công ăn việc làm giảm sút, vì thế những người trẻ tuổi sẽ cưới vợ lấy chồng muộn hơn trước.
Luật Hồi giáo cũng cho phép việc ly hôn, nhưng giữa đàn ông và đàn bà có sự phân biệt. Người chồng muốn ly hôn thì chỉ cần nói với vợ trước mặt một người làm chứng câu “Tôi ly dị bà” ba lần là có thể bỏ vợ. Người vợ thì khác, bà ta phải ra trước một tòa án Hồi giáo để trình bày những lý do để ly dị. Chuyện này dù nghe có vẻ đơn giản, nhưng ly hôn không phải là việc thường hay xảy ra. Ly hôn thường bị cộng đồng coi như một vết nhơ với những người liên quan. Ngoài ra, nghĩa vụ cấp dưỡng cho vợ sau ly hôn, cũng theo luật Hồi giáo, và những khó khăn trong việc kiếm một người vợ mới, một nhân vật không thể thiếu để coi sóc nhà cửa, đã khiến cho đa số đàn ông không thích thú gì với chuyện ly hôn.
TRẺ EM
Với người Hồi giáo, con cái là quà tặng của Thượng đế và rất được người ta trông đợi sau đám cưới. Vì bệnh viện còn ít, nên hầu hết phụ nữ sinh nở tại nhà, có một bà mụ hay một phụ nữ trong nhà phụ giúp.
Đứa trẻ ra đời là cả một sự vui mừng lớn lao của các gia đình Hồi giáo, đặc biệt nếu nó là con trai. Lễ ăn mừng có thể kéo dài nhiều ngày liền; người ta chơi nhạc, đánh trống và phân phát đồ ăn cho người nghèo.
Vào ngày thứ ba đứa trẻ được đặt tên, tên thường là do người chú hay bác bên cha chọn đặt. Với những gia đình thành thị thì thường chính cha mẹ chọn tên cho con. Vị mullah (giáo sĩ) thoạt đầu ghé vào tai đứa trẻ thì thầm “Allahu Akbar” (Thượng đế vĩ đại), rồi thì thầm cho nó nghe tên mình. Ông ta cũng nói cho đứa bé biết về cha ông của nó và kêu gọi nó lớn lên sẽ trở thành một người Hồi giáo thánh thiện, biết giữ gìn danh dự của gia đình. Với người dân du mục, mà cuộc sống có nhiều điều bất trắc hơn, thì ông chú hay bác đặt tên cho đứa trẻ sẽ đảm nhiệm một vai trò giống như “cha đỡ đầu”. Người này sẽ chịu trách nhiệm về đứa trẻ nếu cha nó chẳng may chết sớm. Tất cả trẻ con được nuôi dạy trong khu phụ nữ. Bà mẹ cho con bú sữa đến khi sinh đứa tiếp theo hoặc đến khi đứa bé đã đủ lớn.
Một gia đình đông đúc được trông mong ở các vùng nông thôn vì sẽ có nhiều lao động hơn. Trẻ em giúp cha mẹ chăm sóc các em nhỏ và giúp công việc đồng áng. Các bậc cha mẹ rất hãnh diện vì con cái họ và họ nuôi nấng dạy dỗ chúng trong một bầu không khí yêu thương. Con gái được dạy phải kiên nhẫn, dễ thương, khiêm tốn, và được việc. Con trai được dạy để bảo vệ những người phụ nữ trong nhà và nêu cao danh dự gia đình. Trẻ em cũng thu lượm được những kỹ năng cần thiết cho cuộc sống nông thôn hay thành thị từ cha mẹ, ông bà, và những anh chị khác của chúng. Ở các thành phố, bọn con trai có thể học cách giải quyết công việc làm ăn của gia đình hay lái xe mô tô trong khi các chị em gái của chúng học cách sử dụng các dụng cụ nấu nướng hiện đại. Ở nông thôn, bọn con trai học cách sử dụng hay sửa chữa cái máy bơm chạy xăng, con gái học làm bếp và chăm sóc em út.
Sinh được con trai có một ý nghĩa quan trọng lớn lao vì con trai sẽ là người nối dõi gia tộc. Nó sẽ được uốn nắn, dạy dỗ ngay từ khi còn bé và người ta trông mong nó sẽ giữ được tiếng thơm và danh dự cho gia đình. Các bé gái tuy không bị xử tệ, nhưng chúng chỉ là nhân vật phụ, phải xếp sau con trai. Các bé trai không phải làm nhiều việc lặt vặt như các chị em gái. Và nếu chúng có làm điều gì xấu thì cũng sẽ được khoan thứ, trong khi hành vi xấu của chị em gái sẽ bị quở mắng. Con trai thường được dạy theo một kiểu người nào đó ngay từ bé để giúp hình thành nhân cách và hành vi khi chúng lớn lên.
Lên 5 hay 6 tuổi, cậu con trai thường được đưa đến thánh đường để học kinh Coran. Cậu phải nắm vững cách viết chữ Ảrập, sau đó học từng từ, từng câu rồi cả chương kinh. Con gái cũng phải học kinh Koran, nhưng cô bé phải che mặt bằng một tấm mạng mỏng trong khi cầm hoặc đọc kinh.
Một buổi tiệc được tổ chức khi cậu bé học xong sách Kinh. Trong bộ đồ mới, cậu đọc một đoạn Kinh đã học trong sự hãnh diện của vị giáo sĩ và cha mẹ. Một buổi lễ được tổ chức để đánh dấu sự trưởng thành của cậu con trai, thường trong khoảng 13 đến 15 tuổi. Sau buổi lễ này, cậu bắt đầu được đối xử như một người đàn ông, cậu được phép đội khăn hay đội mũ và người nhà để cậu được quyền tự lo cho mình. Nếu ở nông thôn thì cậu phải bắt đầu phụ việc cho cha trên cánh đồng. Cậu con trai ở các bộ tộc du mục phải học cưỡi ngựa, bắn súng và học canh chừng đàn gia súc.

( Còn tiếp theo–phần 8 đến cuối trang 73– Nguyễn Sinh )


Thế giới Hồi Giáo ( Phần 7 )

THẾ GIỚI HỒI GIÁO ( PHẦN 7 )

KIẾN TRÚC
Đại diện nổi bật nhất của nền kiến trúc Hồi giáo trước hết là các thánh đường. Những loại khác là các trường tôn giáo (madrasah), các lăng mộ và lâu đài.
THÁNH ĐƯỜNG
Những thánh đường đầu tiên là các công trình xây dựng đơn giản làm bằng gỗ và đất sét. Về sau, khi thế giới Hồi giáo đã mở rộng quyền lực, thì các thánh đường lớn bằng đá xẻ và gạch mới được xây dựng. Vì trước đó chưa hề có thánh đường nào cả nên những thánh đường Hồi giáo đầu tiên được phỏng theo nhà thờ Thiên Chúa giáo. Thánh đường cổ nhất là Thánh đường Vòm đá ở Jerusalem, được xây dựng vào năm 691. Nó có những đặc điểm của các nhà thờ Thiên Chúa giáo Byzantine, với những hàng cột Hy Lạp và các họa tiết trang trí bằng tranh ghép mosaic. Nhưng chẳng bao lâu kiến trúc Hồi giáo đã phát triển một kiểu công trình tôn giáo mới, được thiết kế đặc biệt dành cho việc cầu nguyện của đạo Hồi.
Kiến trúc điển hình của một thánh đường Hồi giáo lấy cảm hứng từ ngôi nhà Arập với một cái sân trong rộng rãi và từ các nhà thờ Thiên Chúa giáo với hai hàng cột ở những vùng đất mới chinh phục được, mà một số được cải thành các thánh đường Hồi giáo. Nhưng thánh đường đã được hoàn chỉnh để trở thành một kiến trúc tôn giáo độc đáo thể hiện sâu sắc tinh thần đạo Hồi. Được trang trí đơn giản hơn rất nhiều so với nhà thờ Thiên Chúa giáo và đền đài của các tôn giáo khác, vậy mà nó vẫn gây ấn tượng rất mạnh mẽ và lạ kỳ. Thánh đường Hồi giáo phản ánh rõ nét sự chân phương và vẻ uy nghi của đạo Hồi và vị Thượng đế tối cao của nó.
Ví dụ sớm nhất của thiết kế mới này là Đại Thánh đường ở Damascus, xây khoảng năm 705. Nó có các lối vào một cái sân hình chữ nhật có mái che ở ba mặt. Giữa sân là một vòi phun nước để các tín đồ thanh tẩy trước khi cầu nguyện. Bức tường thứ tư liền lạc không có cửa vào hướng về Mecca. Trên bức tường này có một cái hốc nhỏ cuốn tò vò. Phía trên cánh gà dẫn đến cái hốc này là một mái vòm. Một ngọn tháp (minaret) nơi người muezzin kêu gọi các tín đồ cầu nguyện xây liền bên cạnh.
Các nhà xây dựng sau đó đã sáng tạo nhiều biến thể khác dựa trên mô hình cơ bản này. Một số thánh đường có mái vòm che trên mỗi bên cánh dẫn đến hốc cầu nguyện. Một số thánh đường khác có một mái vòm lớn ở trung tâm. Một số mái vòm có chóp nhô cao hình trái dưa lớn. Trần của mái vòm thường phủ kín những họa tiết trang trí hình tổ ong, vẩy rắn hay kiểu nhũ đá. Nhiều thánh đường ở Tây Ban Nha, Bắc Phi và Ba Tư được lợp bằng ngói. Đến thế kỷ 15 và 16, kiến trúc thánh đường đã phức tạp hơn, với nhiều mái vòm và nhiều ngọn tháp hơn. Thánh đường Sultan Ahmed (còn gọi Thánh đường Xanh) ở Istambul, Thổ Nhĩ Kỳ là một ví dụ tiêu biểu.
Điều mà hầu hết mọi người để ý đến đầu tiên ở một thánh đường Hồi giáo là các ngọn tháp cao nằm liền bên cạnh thánh đường. Chúng thường gắn một ngôi sao và vành trăng lưỡi liềm vốn là biểu tượng của đạo Hồi, có nguồn gốc từ vầng trăng lưỡi liềm và ngôi sao đơn độc đã chiếu sáng con đường của Tiên tri Mohammed trong cuộc Tị nạn (Hijra) của ngài từ Mecca đến Medina. Những thánh đường trung tâm có thể có đến sáu cái tháp đứng bên cạnh ngôi thánh đường thấp hơn và rộng bè hơn.
Bước qua lối vào, người ta sẽ đi vào một cái sân cầu nguyện rộng rãi nằm bên trong. Ở đó thường có một bể nước để dùng vào việc thanh tẩy trước khi cầu nguyện, và đó cũng là nơi hội họp ưa thích của cộng đồng. Nội thất thánh đường có bầu không khí sạch sẽ, mát mẻ, không gian rộng mở rất đặc trưng, vì thế chỉ cần những hình trang trí arabesque cũng đủ để thêm vào cho nó một vẻ nguy nga siêu nghiệm. Sàn nhà phủ các tấm thảm, thường có những họa tiết cầu kỳ. Tường và trần được trang hoàng bằng những hình vẽ arabesque lộng lẫy hay những bức thư pháp viết các đoạn thơ trong kinh Koran. Nhưng ở đây không có một thứ đồ đạc gì hết ngoài cái minbar, tức một chỗ ngồi ở trên cùng của bậc thang dùng làm bục giảng kinh. Một hốc tường gọi là mihrab để chỉ hướng Mecca cho những người cầu nguyện. Với kiến trúc và vẻ bề ngoài của nó, thánh đường Hồi giáo thể hiện rất rõ hai định hướng của đạo Hồi, hướng đến Thượng đế và hướng đến cộng đồng tín đồ, được biểu tượng bằng Mecca là trung tâm trên trần thế của nó.
Madrasah hay là các trường đạo thường được xây liền với thánh đường. Chúng là những kiến trúc bốn mặt xây bao quanh một cái sân ở giữa. Mỗi mặt là một gian sảnh rộng có vòm cuốn quay vào cái sân. Các giáo sinh ngồi nghe giảng trong các sảnh vòm này và sống trong các căn phòng nhỏ bên trong trường.
LĂNG MỘ
Đôi khi lăng mộ của một vị thủ lĩnh cũng trở thành bộ phận của tổ hợp công trình thuộc về một thánh đường hay một trường tôn giáo. Lăng mộ - Thánh đường Sultan Hasan, được xây dựng vào giữa thế kỷ 13 ở Cairo, Ai Cập là một ví dụ. Nó được bố trí thành một hình chữ thập, với bốn gian sảnh quay mặt vào một cái sân lớn hình vuông.
Một lăng mộ nổi tiếng khác là lăng của vị chiến binh người Tarta Tarmerlan, được xây dựng ở thành phố Samarkand vào thế kỷ 14. Công trình này có một mái vòm tròn như hình trái dưa, lợp ngói màu xanh tươi và màu vàng rực rỡ. Loại ngói này được làm bằng gạch nung tráng men với nhiều hình dáng khác nhau và lợp theo nhiều kiểu cách rất cầu kỳ. Nhưng có lẽ lăng mộ Hồi giáo nổi tiếng hơn cả là Taj Mahal ở Agra, Ấn Độ. Nó được hoàng đế Shah Jahan xây vào thế kỷ 16 làm lăng mộ cho bà vợ yêu quý của ông ta. Lăng Taj Mahal nổi tiếng đến nỗi nhắc đến cái tên của nó là người ta đã nghĩ ngay về một vẻ đẹp và vẻ lộng lẫy tráng lệ hầu như không có thực.
LÂU ĐÀI
Các caliph, những thủ lĩnh Hồi giáo thời kỳ đầu, quen với lối sống nơi sa mạc mà không thích ở trong các thành phố đông đúc. Họ xây dựng các cung điện của mình trên sa mạc để đến đó nghỉ ngơi và đi săn. Những lâu đài này giống như các pháo đài La Mã, chúng được xây bằng đá và có những bức tường cao với các tháp lớn vây quanh. Phòng tiếp kiến, phòng cầu nguyện, phòng tắm, các phòng ngủ, tất cả đều được trang trí bằng tranh tường và tranh ghép mảnh.
Đến thế kỷ thứ 8, thủ đô thế giới Hồi giáo rời khỏi Damascus ở Syria chuyển đến Baghdad, Mesopotamia (Irắc ngày nay). Kết quả của việc dời đô này là kiến trúc của các cung điện cũng thay đổi theo. Các cung điện có vòm cuốn xây bằng gạch trát vữa dày. Tường trang trí bằng các đường chỉ và các hình nổi đắp bằng vữa mỏng. Cung điện Jawsaq, được xây dựng vào khoảng năm 850 ở Samarra, Mesopotamia, một mẫu mực về trang trí theo ba kiểu riêng biệt. Kiểu thứ nhất là những hình dây leo chạm sâu trên lớp vữa trát. Kiểu thứ hai là những dây leo đắp nổi. Kiểu thứ ba, trừu tượng hơn, là những họa tiết trang trí bằng kim loại của những người du cư ở Trung Á. Ba phong cách này đã đóng góp cho sự phát triển của nghệ thuật trang trí arabesque, một phong cách đã trở thành điển hình cho nghệ thuật Hồi giáo trên toàn thế giới.
Về những cung điện sau này, thì cung điện Alhambra ở Granada, Tây Ban Nha, xây dựng vào thế kỷ 14 là nổi tiếng nhất. Nó có rất nhiều căn phòng được xây quanh ba cái sân trời. Sân Myrthles có một bể nước hình vuông, bao quanh là một hàng rào. Ở giữa sân Sư tử có một vòi phun nước được đỡ bằng mười hai con sư tử. Phần chân của các bức tường trang trí bằng những miếng gạch lát theo các họa tiết kỷ hà học. Còn phần trên cao thì được trang trí bằng các họa tiết đắp vữa được sơn hay mạ. Những hàng chữ Arập với những họa tiết trang trí bao quanh nói rằng không có “người chiến thắng nào khác ngoài Thượng đế”.
NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ
Việc cấm đoán vẽ hình và tạc tượng đã dẫn đến sự phát triển của một trong số những nghệ thuật nổi bật nhất của nền nghệ thuật Hồi giáo. Các nghệ sĩ né tránh hội họa tả thực, thay vì thế họ phát triển một kiểu trang trí đặc biệt, gọi là arabesque. Arabesque là nghệ thuật trang trí theo kiểu bố cục rất phức tạp. Nó có thể là những đường lượn xoắn của dây leo, hoa, lá. Nó cũng có thể là những hình dạng và kiểu cách kỷ hà học của các đường thẳng hay những đường cong lượn sóng và chồng lên nhau. Đôi khi người ta cũng sử dụng hình thú vật để trang trí, nhưng luôn được cách điệu rất cao và trông không giống con vật sống tí nào.
Nhiều hình thức arabesque khác nhau được sử dụng để trang trí các thánh đường và lâu đài. Chúng được chạm trên đá, gỗ, được đắp bằng vữa trên các lối ra vào, các hốc cầu nguyện và bục giảng kinh trong các thánh đường. Kèm theo các họa tiết trang trí này thường là các thư họa trích từ kinh Koran. Cả thánh đường và lâu đài đều được trang trí bằng các tranh ghép – những bức tranh làm bằng cách gắn những miếng gạch men nhỏ nhiều màu sắc vào tường bằng chất xi măng. Gạch lát tráng men hay sơn vẽ phủ trên các mặt tường bên trong nhà cũng như bên ngoài. Các chùm đèn thủy tinh trang trí kiểu arabesque với các dòng chữ Arập thả từ trần nhà xuống bằng các sợi dây xích.
Bắt đầu từ thế kỷ thứ 11, một tầng lớp thương nhân mới nổi xuất hiện ở các thành phố trên khắp thế giới Hồi giáo. Họ buôn bán đồ gốm, đồ da, các mặt hàng kim loại và vải vóc từ Trung Quốc ở phương Đông cho đến Tây Âu ở phương Tây. Khẩu vị và sức mua của các thương nhân này cũng như việc họ tiếp xúc nhiều với những nền văn hóa khác đã dẫn đến một sự phát triển mới trong nghệ thuật trang trí. Các cảnh sinh hoạt hàng ngày và những câu chuyện dân gian được miêu tả một cách hiện thực trên tất cả những loại đồ vật. Những cảnh trang trí này đã ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến nghệ thuật minh họa sách.
THƯ PHÁP
Thư pháp, hay nghệ thuật viết chữ đẹp là một đặc trưng quan trọng khác của nghệ thuật Hồi giáo. Chữ Arập, ngôn ngữ của hầu hết các văn bản Hồi giáo, có thể viết rất đẹp theo nhiều cách viết thảo khác nhau. Chúng bao gồm lối viết chân phương, lối viết hình học Kufic, và lối viết lượn tròn như sóng cuộn Naskhi. Các nghệ sĩ Hồi giáo sử dụng chữ viết Arập (được đọc từ bên phải sang trái) như một bộ phận trong bố cục trang trí cho các cuốn sách tôn giáo, các bức tường, và các đối tượng nghệ thuật khác. Những kiểu thư pháp và trang trí đặc biệt đẹp được dành để chép kinh Koran.
Nghệ thuật thư pháp và hội họa Hồi giáo có được sức mạnh và các giá trị của mình là do nó giúp thể hiện quyền năng bí ẩn và sự ngự trị ở khắp mọi nơi của Thượng đế, cũng như khả năng bộc lộ vẻ đẹp chân chính, tuyệt vời dưới một cái vẻ bề ngoài rất trái ngược. Những dòng chữ viết theo nghệ thuật thư pháp lấy nội dung từ kinh Koran được kết hợp với những đường trang trí gợn sóng arabesque tô điểm cho những bức tường trắng trơn và các mái vòm thánh đường. Những thánh đường này thể hiện vẻ đẹp siêu phàm của một Thượng đế duy nhất, còn những dòng chữ, cũng lấy vẻ đẹp làm phương tiện biểu cảm, thì nói thêm rằng chính vị Thượng đế đó là Đấng Tối cao ở trên hết thảy, bằng những lời từ kinh Koran. Chương 68 của kinh Koran cho chúng ta biết rằng chính “nhờ ngòi bút và những gì nó viết ra” mà chúng ta được ban phúc và không bị nguyền rủa. Đạo Hồi công nhận việc viết những lời lẽ này ra một cách nghệ thuật, hấp dẫn con mắt, và nhờ thế làm cho chúng có sức mạnh hơn, thì không có gì tội lỗi mà lại là điều tốt.
MINH HỌA SÁCH
Hội họa Hồi giáo phát triển chủ yếu dưới hình thức tranh minh họa. Các nghệ sĩ Hồi giáo đã sáng tác ra nhiều bức tiểu họa đẹp đẽ để minh họa cho các sách (chép bằng tay và trang trí bằng các hình vẽ và các họa tiết). Những bức họa này để giúp giải thích một tác phẩm khoa học hay để tạo ra cảm giác vui thích khi đọc một cuốn sách lịch sử hay văn học. Vì bị cấm vẽ các hình ảnh tả thực, cho nên những minh họa cho kinh Koran và các cuốn sách tôn giáo khác thường chỉ gồm những họa tiết trang trí arabesque.
Các cuốn sách không phải tôn giáo đôi khi có vẽ những hình người và thú vật. Các hình vẽ thời kỳ đầu thường rất đơn giản và theo không gian hai chiều. Có thể nhìn thấy đặc điểm này ở các tranh minh họa cuốn truyện ngụ ngôn nổi tiếng Kalilah và Dimnah. Những hình minh họa về sau được vẽ chi tiết hơn và hiện thực hơn. Những họa sĩ Ba Tư từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 18 đặc biệt tài hoa trong lĩnh vực này. Họa sĩ Ba Tư nổi tiếng nhất là Kamal Ad-Din Bihzad. Ông kết hợp phong cách trang trí minh họa của Ba Tư với những quan sát hiện thực về con người và thú vật.
Những bức tranh minh họa sách và đôi khi trang trí các bức tường trường học và lăng mộ cũng chuyển tải nhiều ý nghĩa thần bí hơn so với hiện thực thông thường. Chúng đều được vẽ trên mặt phẳng hai chiều, có thể được thếp vàng nhưng cốt để cho bền hơn là để tạo chiều sâu phối cảnh cho bức tranh. Các vị thánh và các ông vua là những hình thù thần bí, chim chóc và sơn dương như được tạo ra từ thiên đàng. Cũng như trang trí arabesque, những tác phẩm có vẻ như tả thực này thực ra không thể hiện thế giới như nó vốn có, mà là như nó hiện ra trước một người mà trong mắt của anh ta chỉ có sự hiện diện của Thượng đế bên trong và bên trên tất cả, và nhờ vậy mà giữ được cái nhìn sùng kính chứ không trần tục hay thần tượng đối với sự vật.
Cuối thế kỷ 13, một phần của thế giới Hồi giáo, gồm cả Ba Tư, bị những người Mongol đến từ phương Đông xâm chiếm. Từ đó về sau, có thể thấy rõ ảnh hưởng của hội họa thủy mạc Trung Quốc, đặc biệt là tranh phong cảnh. Kẻ xâm lược hùng mạnh cuối cùng đến từ Trung Á là Tamerlan. Ông ta và các thuộc hạ lờ đi giới cấm của tôn giáo mình mới theo mà khuyến khích các họa sĩ vẽ tranh về người. Tuy vậy, những bức tranh này vẫn chỉ xuất hiện trong các cuốn sách không phải tôn giáo. Tranh minh họa Hồi giáo về cơ bản vẫn là tranh trang trí, kết hợp nhiều phong cách arabesque lại với nhau theo một kiểu cách cầu kỳ rắc rối.
Các tín đồ Hồi giáo rất coi trọng kiến thức trong các cuốn sách, đặc biệt là trong kinh Koran. Sách của họ hầu như bao giờ cũng có bìa da phủ ngoài và có gờ nhô ra để bảo vệ các trang sách bên trong. Bìa sách được làm bằng da thuộc ép hình rất đẹp, thường có thêm các họa tiết arabesque vẽ bằng các màu sắc rực rỡ hay mạ vàng.
ĐỒ KIM LOẠI VÀ ĐỒ GỐM
Các thợ rèn Hồi giáo đã chế tác ra những đồ vật bằng đồng và đồng thau rất đẹp. Chúng bao gồm bình pha trà, hộp, khay và các loại vũ khí như dao găm và kiếm. Nhiều khi họ còn khảm những đồ vật này các họa tiết bằng bạc hay vàng. Họa tiết arabesque, tranh phong cảnh hay các hình vẽ người và thú, chữ Arập tất cả đều được dùng để trang trí. Các mẫu trang trí bắt đầu bằng những hình vẽ chi tiết, chúng sau đó được chuyển một cách tài nghệ vào các đồ vật và vật liệu.
Vào thế kỷ thứ 9, các thợ gốm Hồi giáo đã sáng tạo ra nhiều kỹ thuật khác nhau trong việc chế tác đồ gốm và đồ đất nung. Một trung tâm chính của nghề đồ gốm là thành phố Kashan ở Iran. Các thợ gốm Kashan đặc biệt tài ba trong việc chế tạo bình gốm tráng men ô, men phủ lấp lánh được lấp đầy những ô nhỏ tạo nên bởi những tấm kim loại mảnh gắn trên bề mặt của vật trang trí. Kỹ thuật tráng men ô cũng được sử dụng làm gạch lát hốc cầu nguyện trong thánh đường để tăng thêm độ lấp lánh của ngọn đèn trong hốc, nó cũng được dùng để lát tường và phủ các mái vòm và các ngọn tháp.
THẢM
Những tấm thảm sang trọng được làm bằng cách tết các sợi len hay tơ từng nút một để tạo ra những họa tiết phức tạp. Thảm len loại tuyệt hảo có hơn một trăm nút thắt trên một diện tích khoảng 8 phân vuông, còn thảm bằng tơ thì có tới hơn tám trăm nút thắt.
Thảm được dùng cả ở trong thánh đường cũng như trong gia đình. Những người Hồi giáo thường quỳ trên các tấm thảm để cầu nguyện. Kiểu dáng cho các tấm thảm này thường theo hình dáng của cái hốc cầu nguyện. Những tấm thảm không dùng cho mục đích tôn giáo thường được trang trí bằng các đường kỷ hà học. Những họa tiết đặc trưng cho phong cách arabesque về hoa lá và cây cối trong các khu vườn mô phỏng. Thú vật và các cảnh săn bắn đôi khi được thêm vào bên cạnh các họa tiết hoa lá. Những con rồng và các sinh vật kỳ lạ khác cũng như những con vật có thật như sư tử và linh dương cũng thường có trong các mô típ trang trí này.
Những tấm thảm Ba Tư nổi tiếng cũng thường chứa đựng những thông điệp ẩn dụ thiêng liêng: tâm điểm của tấm thảm là nơi bắt đầu của những đường trang trí, rồi chúng cứ mở dần mãi ra theo thời gian để trở thành vĩnh cửu.

LỐI SỐNG
Dù trải ra trên nhiều nền văn hóa rất khác nhau, nhưng các xã hội Hồi giáo vẫn có nhiều đặc trưng chung trong lối sống. Điều đó là kết quả của luật Hồi giáo, mà như ta đã nói, nó chi phối mọi khía cạnh trong cuộc sống xã hội và cá nhân của các tín đồ.
NẾP SỐNG CỘNG ĐỒNG
Những mối quan hệ con người đa dạng, gần gũi và tình cảm cộng đồng là điều cực kỳ quan trọng ở một xã hội Hồi giáo. Nó bộc lộ rõ ràng trên đường phố và trong gia đình, ở trường học và nơi làm việc. Dù ở một làng vùng núi hay trong một thành phố lớn, thì ở đâu người ta cũng luôn dành nhiều thời gian để tiếp xúc với những người láng giềng và các tín đồ trong cùng một cộng đồng nhỏ, nhiều khi chỉ đơn giản để trao đổi một nụ cười và một lời chào hỏi. Trong các thôn làng, dân chúng sống rất gắn bó với nhau. Có rất nhiều các giao tiếp xã hội, vì các công việc hàng ngày hiếm khi được người ta hoàn thành một mình; và lúc nào người ta cũng có thời gian tán gẫu với những người tình cờ gặp gỡ. Bạn bè gặp nhau trên đường luôn chào đón nhau một cách rất nồng nhiệt, hai bên cùng tranh nhau nói. Họ hỏi thăm nhau về vợ con, công việc hay học hành, về sức khoẻ, và bao giờ cũng mời người kia đến nhà chơi để uống chén trà hay cà phê.
Trong các thành phố, cuộc sống bận rộn và diễn ra với một nhịp độ nhanh hơn, rộng mở hơn và ít gần gũi hơn. Nhưng dân chúng vẫn tiếp cận với cuộc sống của mình theo một cách rất khác với hầu hết những thị dân phương Tây. Trong việc giao dịch làm ăn, luôn phải dành thời gian để trao đổi với nhau những lời hỏi thăm và những tin tức gia đình. Và những câu nói cửa miệng “Theo ý Allah” bộc lộ một thái độ sống mà trong đó thời gian và thời hạn là những thứ có tính chất co dãn linh hoạt.
Ở thành phố cũng như nông thôn, những người đàn ông và đàn bà hay tụ họp với nhau (đàn ông riêng, đàn bà riêng) sau một ngày làm lụng để trao đổi các tin tức nóng hổi trong ngày hay nhiều khi chỉ là để tán chuyện. Từ đó mà xuất hiện rất nhiều kiểu quán xá khác nhau ở từng cộng đồng nhỏ để đáp ứng cho nhu cầu này, như các tiệm cà phê ở các nước Arập hay các quán trà ở các nước Trung và Nam Á. Hầu hết các trách nhiệm của một người đều được chia xẻ trong số họ hàng, bạn bè, và hàng xóm. Khi có một ai đó phải đi xa, hàng xóm có thể giúp gánh vác những công việc quan trọng của họ. Nếu có ai đó vắng mặt trong cuộc tụ họp, một người bạn hay hàng xóm sẽ ghé qua để đảm bảo không có chuyện gì bất thường xảy ra. Khi hai người cãi nhau trên phố, những người qua đường sẽ dừng bước để khuyên can.
Nếp sống cộng đồng của các tín đồ Hồi giáo, có thể nói, được quy định bởi giáo lý trong kinh Koran và Hadith. Các giáo lý Hồi giáo liên quan đến trách nhiệm xã hội, yêu cầu các tín đồ phải đối xử với nhau bằng lòng nhân từ và quan tâm đến người khác. Và không chỉ dừng lại ở một lời kêu gọi mang tính đạo đức chung chung, dù đó là đạo đức tôn giáo đi nữa, đạo Hồi còn diễn giải yêu cầu đó và xác định trách nhiệm và quyền lợi của các cá nhân trong một loạt các quan hệ cụ thể khác nhau. Trong số rất nhiều quan hệ đó, thì bổn phận đầu tiên của một người Hồi giáo là với gia đình trực tiếp của mình, rồi đến những người họ hàng gần gũi, láng giềng, bạn bè và người quen, bà góa và con côi, những người nghèo khó trong cộng đồng, các tín đồ Hồi giáo trong cùng cộng đồng địa phương, với cộng đồng tín đồ Hồi giáo nói chung. Chẳng hạn, Kinh Koran tuyên bố: “Kẻ nào ăn đẫy bụng trong khi người hàng xóm của họ đang đói khát thì kẻ đó không phải là một tín đồ; kẻ nào luôn quấy rầy sự yên ổn của người hàng xóm thì kẻ đó không phải là tín đồ”. Những chỉ thị cụ thể như vậy sẽ xuất hiện trong luật Hồi giáo Sharia’ah, và như thế chúng mang tính chất bắt buộc.
Thánh đường chính là nơi thể hiện nổi bật nhất lối sống cộng đồng của người Hồi giáo. Cái sân trong của thánh đường không chỉ là nơi cầu nguyện mà còn là nơi tụ tập ưa thích của mọi người. Người ta đến đây vào những lúc rảnh rỗi, ngồi dưới các mái vòm hay bên các bể nước để trò chuyện hay trao đổi các vấn đề hàng ngày với nhau. Trẻ em thường đến học kinh Koran ở đây, và nếu cộng đồng không có trường học thì thánh đường sẽ trở thành trường học của chúng. Thánh đường còn được sử dụng cho nhiều chức năng công cộng khác ngoài cầu nguyện và giáo dục. Đó là nơi hội họp của cộng đồng. Các trường học và thư viện vốn đã và hiện vẫn được nối liền với chúng, và khoảng sân rộng của chúng trước đây thường được dùng làm nơi tập hợp quân đội và tổ chức các phiên tòa. Vậy là, các thánh đường truyền thống với những kiến trúc gắn liền với nó cùng lúc có chức năng giống như các tòa nhà công cộng. Trong khi ở các quốc gia hiện đại người ta cảm thấy những hoạt động kiểu như thế nên có địa điểm tách biệt ra sẽ tốt hơn, thì sự gắn liền truyền thống của chúng với các thánh đường khiến chúng ta nhớ đến mối liên hệ chặt chẽ của đạo Hồi với đời sống chính trị, giáo dục và xã hội của cộng đồng.
Thánh đường có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tôn giáo cũng như thế tục của cộng đồng tín đồ như thế, cho nên ngay cả những người nông dân Hồi giáo nhìn chung cũng muốn sống quy tụ trong những làng xóm có thánh đường. Đặc biệt, buổi cầu nguyện trưa ngày thứ Sáu luôn được người ta cho là phải cầu nguyện tại Thánh đường ngày thứ Sáu, một thánh đường lớn để có thể chứa được toàn bộ dân cư trong cộng đồng, trong khi những thánh đường nhỏ hơn thường được dùng cho những buổi cầu nguyện thường ngày. Ý tưởng về Thánh đường ngày thứ Sáu lại một lần nữa khẳng định rằng đạo Hồi có nghĩa là sống trong cộng đồng, và ý thức được rằng các thành phố hay thị trấn chính là sự thể hiện lý tưởng của cộng đồng Hồi giáo trên trần thế.
THÀNH PHỒ HỒI GIÁO
Các thành phố Hồi giáo điển hình thường là những trung tâm thương mại cổ xưa, dân cư sống chen chúc với nhau, nên mỗi lần mở rộng thì lại phát triển thêm những khu mới bên cạnh các khu cũ. Vì thế các thành phố hay thị trấn lớn thường chia thành ba khu vực rõ rệt – medina hay khu dân cư cổ, khu phố hiện đại và souk, hay những khu chợ ngoài trời.
Medina là khu vực kiểu Arập, thường xây dựng từ thời trung cổ với các đường phố chật hẹp quanh co uốn khúc như mê cung và những vỉa hè với các cửa hiệu, các xưởng thủ công nhỏ và những ngôi nhà giản dị. Xập xệ nhất là những khu vực ổ chuột của người nghèo. Còn tốt nhất là những khu phố cổ có tường bao quanh luôn sôi động sức sống, dù thường thiếu những tiện ích công cộng cơ bản.
Ở medina, đường phố thường chen chúc người đi lại. Những chiếc xe kéo chất nặng hàng hóa chen lấn nhau giành đường với đám trẻ con cầm những khay bột nhão đến lò bánh mì, những tiếng nói the thé ầm ĩ của đám phụ nữ ăn mặc sặc sỡ, người thì che mạng người thì không. Xung quanh đầy những tiếng chuyện trò bàn tán, tiếng kêu xin của những người ăn mày, những người bán hàng hét to quảng cáo cho hàng hóa của họ, nhiều tiếng tằng hắng, tiếng khạc nhổ, rồi tiếng búa đang gõ trong các xưởng chế đồ kim loại. Có những khu vực riêng biệt dành cho những nghề thủ công và hàng hóa khác nhau, giầy thêu, đồ trang sức, bình trà và khay, đồ gỗ chạm trổ, thảm và thuốc.
Medina cũng bao gồm các souk, tức khu phố chợ, nơi người ta bán thịt, hoa quả, rau và các thực phẩm khác cũng như đồ gia dụng, gia vị, hương liệu, mỹ phẩm, nước hoa, thuốc kích dục, bùa chú và lá bạc hà cho vào trà.
Các khu dân cư thường đóng vai trò là những cộng đồng nhỏ bên trong những cộng đồng lớn hơn. Một khu dân cư truyền thống có một thánh đường riêng của mình, những cửa hàng cửa hiệu, các quán cà phê nơi những người đàn ông trong cộng đồng thường tụ họp, và thường có một ông trưởng khu đại diện cho cộng đồng trong những giao dịch với thế giới bên ngoài. Trong một khu dân cư như thế, những mối liên hệ gia đình, phẩm hạnh cá nhân và danh dự được coi trọng hơn là sự giàu có.
Ngày nay những gia đình giàu có hơn trong các khu dân cư cổ thường dời đến sống ở những khu vực hiện đại trong thành phố. Nơi đây, lối sống của dân cư mang nhiều nét Tây phương. Các quán bar, nhà hàng thay thế cho quán trà hay quán cà phê, không có cảnh những người đàn ông tụ họp để uống trà và chuyện phiếm. Ở chỗ khu phố hiện đại, những người láng giềng được phân chia theo những tiêu chí của cải kinh tế hơn là theo tôn giáo hay dân tộc. Kết quả là các khu dân cư cũ mất đi những lớp người tinh hoa lãnh đạo của mình, và sự ngăn cách giữa những người có đầu óc truyền thống nệ cổ với tầng lớp trung lưu hiện đại hóa trở nên nổi bật.

( Còn tiếp theo–Phần 7 đến cuối trang 64–Nguyễn Sinh )


Thế giới Hồi Giáo ( Phần 6 )

THẾ GIỚI HỒI GIÁO ( PHẦN 6 )

TƯƠNG LAI CỦA ĐẠO HỒI
Mặc dù có một quá khứ từng rất gian nan, nhưng giờ đây đạo Hồi đang bước vào thiên niên kỷ mới với một sức sống và niềm tự tin vào một tương lai đầy sức mạnh. Bước sang thế kỷ 20, cuộc sống của thế giới Hồi giáo đã có một sự bộc phát mới. Nó trở thành phương tiện truyền bá cho sự đồng nhất của thế giới Hồi giáo từ Bắc Phi cho đến Inđônêxia, và đã làm sống lại phần nào cái cảm giác năng động từng có xưa kia về sự thống nhất của các dân tộc rất khác nhau đi theo đức tin của vị Tiên tri thành Mecca.
Như vậy, vai trò của đạo Hồi vừa như một thế lực chính trị vừa một thế lực thần quyền trên thế giới còn lâu mới qua đi. Những hình thái mới của các nền kinh tế dầu mỏ, và của địa lý chính trị trong những thập niên cuối cùng của thế kỷ 20, đã đem lại cho một bộ phận trong thế giới Hồi giáo một đòn bẩy và một mức độ giàu có mà họ chưa từng biết đến trong thời Trung đại. Đồng thời, trong vài thập niên gần đây, một số quốc gia đã cải biên luật Hồi giáo theo những tiêu chuẩn luật pháp vay mượn từ bên ngoài và bắt đầu xem xét lại nó một cách thực dụng dưới ảnh hưởng của những điều kiện phát triển hiện đại – mặc dù mức độ có khác nhau, từ Thổ Nhĩ Kỳ với sự thế tục hóa hoàn toàn dưới chế độ Kermal Ataturk cho đến Arập Xêút, nơi các luật lệ truyền thống về cơ bản vẫn còn hiệu lực. Chẳng hạn, luật cho phép một người đàn ông có thể lấy đến bốn vợ nếu anh ta đối xử với các bà một cách bình đẳng, và việc ly dị vợ thực chất là tùy thích, luật này hiện không còn được tuân thủ ở nhiều nước Hồi giáo. Chính từ sự kết hợp của các lực lượng mới với sự thịnh vượng và tính linh hoạt mà rất có thể chúng ta sẽ thấy xuất hiện những hình thức sáng tạo mới của đức tin và văn hóa Hồi giáo. Nhưng, những cải cách hiện đại này sẽ không tránh khỏi sản sinh ra những phản ứng mạnh mẽ từ phía những người chính thống.
NỀN VĂN MINH HỒI GIÁO CỔ ĐIỂN
Trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ 14, ảnh hưởng của nền văn minh Hồi giáo đối với thế giới lớn hơn bất kỳ một đế quốc nào khác trong lịch sử bấy giờ. Lãnh thổ Hồi giáo mở rộng ra rất nhanh chóng, và hầu hết sự mở rộng này đạt được bằng con đường xâm chiếm, chinh phục. Tuy vậy, trong những thế kỷ sau đó, việc bành trướng của đạo Hồi chủ yếu là qua con đường buôn bán và qua việc các nhà truyền giáo cải đạo cho dân chúng.
Kết quả của sự bành trướng đạo Hồi là người dân của nhiều chủng tộc khác nhau, nói nhiều thứ ngôn ngữ khác nhau đã hòa trộn lẫn vào nhau. Tiếng Arập trở thành ngôn ngữ chung cho buôn bán và giao tiếp. Ở nhiều vùng ở Trung Đông, dân chúng bị Arập hóa, có nghĩa là ngôn ngữ và văn hóa của họ trở thành của Arập. Ở những vùng khác, người dân vẫn còn giữ được ngôn ngữ và văn hóa của chính mình, nhưng họ vẫn sử dụng chữ Arập trong viết lách và trong cầu nguyện.
Toán học, các khoa học tự nhiên, văn học và nghệ thuật phát triển rực rỡ trong các đế quốc Hồi giáo. Văn minh Hồi giáo ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh của nền văn hóa châu Âu, ví dụ như việc sử dụng thủy lợi, những loại cây trồng mới và hệ thống chữ số Arập. Những người Hồi giáo cũng dịch nhiều cuốn sách của Hy Lạp cổ đại và họ chính là những người có công bảo tồn và truyền bá những thành tựu tư tưởng của Hy Lạp cổ đại vào châu Âu.
NỀN VĂN MINH CỦA CÁC THÀNH THỊ
Nền văn minh Hồi giáo phát triển rực rỡ nhất ở các vùng đô thị. Chưa bao giờ điều này lại đúng như trong Thời đại Hoàng kim của đạo Hồi, khi các thành phố huyền thoại như Baghdad ở Irắc hay Granada ở Tây Ban Nha trở thành những trung tâm văn hóa rực rỡ và các trung tâm chính trị và thương mại phát đạt.
Một yếu tố quan trọng chi phối nền văn minh Hồi giáo là mối quan hệ chặt chẽ giữa tôn giáo và chính trị trong đạo Hồi, và vai trò lịch sử của những tín đồ Hồi giáo thoạt đầu như những kẻ chinh phục và sau đó là những kẻ cai trị các vùng đất của họ trên thế giới. Triều đình của các caliph và các quốc vương Hồi giáo trở thành những trung tâm có ảnh hưởng vô cùng mạnh mẽ đến sự sáng tạo văn hóa. Thế giới không phải Hồi giáo thường nghĩ về chúng như vương quốc tráng lệ huy hoàng của Nghìn lẻ một đêm. Thực tế ít có vẻ thần thoại hơn nhiều, nhưng sự giàu có, hùng cường và khoái lạc của Baghdad và Granada vào thời cực thịnh làm cả thế giới phải kinh ngạc. Triều đình bảo trợ cho các nhà thơ, các nghệ sĩ, nhạc sĩ, các triết gia, các nhà thần học, và thu hút những nhân vật văn hóa nổi tiếng về tài năng và sự thông thái vào quỹ đạo của nó.
Vì các đường buôn bán và giao thông tỏa đi từ những kinh đô như Baghdad, và sau này là Cairo, Delhi, Isfahan và Istambul đến những nơi xa xôi của thế giới Hồi giáo, nên những thành phố này, đến lượt chúng, mặc nhiên đóng vai trò như những trung tâm truyền bá văn hóa. Thực tế thì đạo Hồi, trong giai đoạn sáng tạo nhất của nó, là một nền văn minh tôn giáo của một số tương đối ít các kinh đô lớn và có lực cố kết chính trị tương đối mạnh. Điều đó tác động rất nhiều đến sự đồng nhất rõ rệt về văn hóa của thế giới Hồi giáo, và cho thấy Hồi giáo thực tế là tín ngưỡng của những chiến binh và những nhà buôn đi đây đi đó nhiều.
KHOA HỌC VÀ THẦN HỌC
Khoa học trong Thời đại Hoàng kim của nền văn minh Hồi giáo xứng đáng được ca tụng không tiếc lời. Những học giả Arập trong các triều đình caliph Baghdad và Cordova Tây Ban Nha đã bảo tồn các tác phẩm kinh điển của Hy Lạp và La Mã cổ đại, và đã chuyển giao cho châu Âu nhiều thành tựu khoa học quan trọng của phương Đông, như khái niệm về số 0 (số không) trong toán học vốn được phát minh ở Ấn Độ, nhưng được chính những người Hồi giáo Arập phát triển. Họ cũng đạt được những tiến bộ quan trọng trong một loạt các lĩnh vực như thiên văn học, quang học, địa lý và hóa học. Tất cả những thành tựu này diễn ra trong thời kỳ Đêm trường Trung cổ ở châu Âu; vì vậy nếu thế giới Hồi giáo không tạo ra được những thành tựu khoa học như thế thì nền học vấn trung đại của nhân loại chắc chắn sẽ chỉ ở một mức độ phát triển hạn hẹp hơn rất nhiều, và tất nhiên không thể nào có được những bước tiến quan trọng đã hình thành nên cả một chặng đường của nền khoa học hiện đại.
Trong lĩnh vực thần học và triết học, người Hồi giáo cũng đạt được những thành tựu rất quan trọng và đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của hệ tư tưởng phương Tây. Lĩnh vực khoa học tối cao với người Hồi giáo vẫn là những khoa học về thần học, tìm hiểu sự bí ẩn và uy nghiêm của Thượng đế và cách thức để áp dụng những luật lệ do Ngài thần khải. Nhưng phải đánh giá cao thái độ cởi mở của những kẻ chinh phục người Arập này với những gì mà khoa học tự nhiên Hy Lạp để lại tại các nước Trung Đông. Bình thường thì những tín đồ bảo thủ luôn tỏ thái độ hoài nghi đối với những tri thức thế tục của ngoại bang. Vậy mà ngày càng có nhiều người Hồi giáo ngả theo quan điểm cho rằng tất cả những hiểu biết liên quan đến những sáng tạo của Allah đều là tốt và nhằm để vinh danh Ngài, rằng khoa học và lô-gíc học có thể giúp cho việc hiểu biết sâu hơn về Thượng đế. Với họ, các nghiên cứu về tự nhiên và thần học đều là những kiến thức bổ sung hữu ích chứ không phải là vô bổ.
Một câu chuyện kể cho chúng ta biết rằng vị caliph Baghdag thế kỷ thứ 9 là al-Ma’mun đã mơ thấy Aristotle hiện ra trước mắt ông, và sau một cuộc thảo luận về triết học, đã dặn ông phải đối xử với các nhà khoa học như vàng ròng và phải kiên trì học thuyết cơ bản của đạo Hồi về tính Duy nhất của Thượng đế. Nhà triết học vĩ đại al-Ghazali, người đôi khi bị qui tội là đã làm suy yếu nền khoa học Hồi giáo vì nhấn mạnh đến bản năng thần bí, cũng đã khẳng định rằng nghiên cứu lô-gíc học Hy Lạp là yêu cầu cần thiết hàng đầu để có thể nghiên cứu học thuyết và giáo luật của đạo Hồi.
Triết học Hồi giáo đã phát triển dưới ảnh hưởng của tư duy Hy Lạp cổ đại, nó cố gắng tìm ra những gì có thể sử dụng được ở Plato, Aristotle, và phái Platon mới, và những gì không còn thích hợp nữa dưới ánh sáng của những phát hiện mới. Đáng chú ý là người Hồi giáo đã chiếm lấy cho mình phương pháp tư duy của Hy Lạp cổ đại, kéo theo một hệ quả là chính người Hy Lạp đã chuyển từ chủ nghĩa duy lý sang chủ nghĩa thần bí Platon mới.
Đóng vai trò quan trọng trong tư tưởng Hồi giáo sơ kỳ là trường phái thần học Mu’tazila do Wasil ibn Ata (699-749) sáng lập. Nó thể hiện một khuynh hướng duy lý mạnh mẽ. Những gì Thượng đế làm luôn là những cái phù hợp với lý tính, và theo các nhà tư tưởng thuộc trường phái Mu’tazila thì sự suy lý, với tư cách là nguồn gốc của chân lý, có vai trò tương đương với khải thị và hơn hẳn so với truyền thống. Họ biện minh cho ngôn ngữ nhân hình về Thượng đế trong kinh Koran, và khẳng định rằng kinh Thánh được tạo ra dần dần theo thời gian, khác với quan điểm của những người tự coi là chính thống cho rằng đó là những Lời Vĩnh hằng của Thượng đế. Phái Mu’tazila được caliph Ma’mun (813-833) ủng hộ, vị caliph này chính là người đã gặp Aristotle trong giấc mộng.
Nhưng rồi các bài viết của Abul-Hasan al-Ash’ari (873-935) đã hình thành một quan điểm sẽ quy định các trào lưu chính của thần học Hồi giáo sau này. Ông nói rằng những hành động của Thượng đế là không thể giải thích được bằng tư duy suy lý của con người. Thượng đế đơn giản là quyền lực tuyệt đối và ân sủng tuyệt đối mà con người phải sùng bái và vâng lệnh, bí ẩn của quyền lực và ân sủng đó vượt quá khả năng tư duy của con người. Quan điểm này được các lãnh tụ chính trị cũng như tôn giáo ủng hộ, và chúng mở ra thời kỳ mà thần học Hồi giáo nhấn mạnh ngày càng nhiều hơn vào quan điểm cơ bản của đạo Hồi về tính duy nhất và sự thống trị độc tôn của Thượng đế. Nó dẫn đến quyết định luận hay thuyết tiền định trong thần học, và khuynh hướng phiếm thần trong Hồi giáo Mật tông – trong cả hai trường hợp, người kiểm soát duy nhất với thực tại sáng tạo là Thượng đế, dù nhìn nhận theo quan điểm ý chí vĩnh hằng của Ngài hay theo sự tồn tại vĩnh hằng của Ngài.
Vào thế kỷ 11 và 12, hai nhà triết học lớn ở hai đầu của thế giới Hồi giáo đã cố gắng làm sống lại cách tiếp cận duy lý, và trong khi làm như thế hai ông đã ảnh hưởng rất sâu sắc đến các trào lưu tư tưởng của châu Âu. Cả ibn-Sina (980-1037, được châu Âu biết đến dưới cái tên Avicenna) ở Ba Tư và ibn-Rushd (1126-1198, được biết với tên Averroes) ở Tây Ban Nha đều chịu ảnh hưởng sâu sắc truyền thống Hy Lạp, cả hai đều ra sức khẳng định địa vị ưu tiên của lý trí và khoa học so với khải thị. Hai nhà thần học này một mực kiên trì với những tư tưởng như vũ trụ tồn tại vĩnh cửu và chỉ có linh hồn là tiếp tục sống sau khi người ta chết. Tin tưởng rằng người Hy Lạp đã chứng minh một cách thuyết phục những luận đề này bằng con đường suy lý, hai ông đòi hỏi các học thuyết Hồi giáo về Sáng thế và Phục sinh cần phải được giải thích theo một cách mới chứ không phải theo từng câu từng chữ trong kinh Koran.
Al-Ghazali, người kế tục truyền thống của Ash’arite cho rằng con đường của Thượng đế nằm ngoài mọi khả năng hiểu biết của con người, đã công kích quan điểm này trong tác phẩm Sự mơ hồ của các nhà triết học, ông cố chứng minh quan niệm nói rằng vật chất tồn tại vĩnh viễn và không phải do Thượng đế sáng tạo ra là không thể đứng vững được ngay cả với tư duy suy lý, hơn nữa suy lý là phương pháp sai lầm để nghiên cứu những sự vật tối thượng. Averroes đáp trả bằng cuốn Sự mơ hồ của sự mơ hồ, tiếp tục nhấn mạnh đến lý trí, dù về sự Phục sinh thì ông có lập trường gần với quan điểm chính thống hơn so với lập trường của Avicenna. Ông lập luận rằng việc thân thể cốt nhục của người ta có thể sống lại trong ngày Phục sinh là điều không thể tin được về mặt lý trí và khoa học, vì thế có lẽ Thượng đế sẽ cấp cho mỗi linh hồn một thân xác mới để họ có thể sống dậy trong ngày Tận thế.
Dù có khuynh hướng thần bí, nhưng tư tưởng của Averroes vẫn tỏ ra rất rộng rãi và tự do. Ông khẳng định triết lý Hồi giáo ưu việt hơn so với “Nhà nước lý tưởng” của Platon, vì đạo Hồi tìm kiếm hạnh phúc cho tất cả mọi người, chứ không phải chỉ cho tầng lớp tinh hoa; và ông cũng chứng tỏ mình không hề cố chấp khi lấy làm tiếc rằng đạo Hồi không cho người phụ nữ được quyền bình đẳng với nam giới giống như Platon đã làm trong tác phẩm Cộng hòa của ông ta.
Đáng tiếc là những quan điểm tự do như thế không trở thành trào lưu chính của các tư tưởng Hồi giáo về sau này. Thay vì thế, chủ nghĩa phản duy lý nhiệt thành của trường phái Ash’arism và al-Ghazali, được Mật tông Sufi nhuận sắc thêm, đã trở thành lập trường chính thống trong trường phái thần học cổ điển vĩ đại cuối cùng, đó là trường phái của các học giả Shihab al-Din al-Suhrawardi (1155-1191), ibn al-Arabi (1165-1240) và Sard al-Din al-Shirazi (?-1640). Nghiên cứu rất kỹ lưỡng Avincenna và Averroes, nhưng họ lại theo đuổi một thứ chủ nghĩa Platon mới cực đoan, chịu ảnh hưởng bởi quan niệm về ánh sáng và bóng tối của Đạo Zoroastria (Đạo Thiện cách tân). Nó mô tả tính chất đa tầng trong sự tồn tại duy nhất của Thượng đế, lấy mẫu là sự thống nhất đi cùng với sự đa dạng của nhân loại, và vũ trụ có thể hiểu như một “nhân loại vĩ mô”.
Như vậy nền văn minh Hồi giáo cổ điển đã tạo ra một nền khoa học và triết học hết sức đa dạng và rực rỡ, nhưng rồi tất cả đều bị kìm hãm bởi những giới hạn chẳng mấy khi linh hoạt của một thế giới quan mà tiêu chuẩn của nó là những khải thị trong kinh Koran.
VĂN HỌC
Trong nền văn học Hồi giáo, thơ ca được coi trọng hơn rất nhiều so với văn xuôi trong cả hai ngôn ngữ văn học có ảnh hưởng nhất của đạo Hồi là tiếng Arập và tiếng Ba Tư, những ngôn ngữ này đã đóng góp rất nhiều cho thơ ca và tạo ra một tình cảm thơ mộng cao độ. Ngoài những bài thơ tôn giáo ra thì cả hai ngôn ngữ này đều có những kho tàng vô cùng phong phú các bài thơ thế tục, các câu chuyện vui, chuyện cười, các bài tửu ca và sử thi cùng với các bài tụng ca tán dương các chiến công của các hoàng tử và các chiến binh.
Có thể vì những bài thơ thế tục này mà thơ ca không được những người Hồi giáo chính thống coi trọng cho lắm. Tất nhiên phải có một ngoại lệ quan trọng, đó là kinh Koran. Mặc dù không phải toàn bộ là thơ, nhưng kinh Koran được viết với một tiết tấu và vần điệu rất độc đáo và mạnh mẽ. Nhưng vị trí của kinh Koran trong văn học Hồi giáo lại khá nghịch lý. Là một văn bản mà người Hồi giáo dùng để học đọc học viết, mà người ta học thuộc lòng từng đoạn dài, và họ thường xuyên được nghe trích đọc, những âm thanh uyển chuyển uy nghiêm của nó chắc chắn phải khắc sâu trong tâm khảm của họ. Vậy mà mọi sự bắt chước hay bình phẩm về nghệ thuật của kinh Koran đều bị cấm ngặt; những ai làm như thế tức là phạm tội báng bổ. Vì vậy, kinh Koran chỉ được trích dẫn trực tiếp trong các bài diễn giải và những khảo luận sùng đạo, còn thì người ta không thấy một ảnh hưởng trực tiếp nào của nó về cả đề tài cũng như phong cách đối với nền văn học Hồi giáo.
Cũng vì lý do đó mà không có nhiều bài thơ tôn giáo hay gắn liền với trào lưu chính thống của đạo Hồi. Và chỉ trong Hồi giáo Mật tông, đặc biệt là ở Ba Tư, mới có những khổ thơ thần thánh thể hiện tinh hoa của văn học Hồi giáo. Chịu ảnh hưởng từ thi ca thế tục về rượu và tình yêu chẳng kém gì ảnh hưởng từ kinh Koran, những bài ca về thần thánh này sử dụng một cách táo bạo những ngôn từ của sự say sưa ngây ngất và đam mê nhục dục để nói về mối quan hệ của con người với Thượng đế, như với người Bạn và người Tình tối thượng. Chúng ca tụng vị “Thượng đế làm si mê lòng người”, không chỉ ca tụng Ngài với một tình yêu siêu nhiên trong lòng, mà còn thổ lộ nó ra trong những vần thơ bay bổng chứa đầy những nỗi đam mê nóng bỏng.
Mật tông Hồi giáo cũng tự thể hiện mình trong những tác phẩm tao nhã. Ví dụ nổi tiếng nhất là bài thơ ngụ ngôn Tiếng nói của chim muông, trong đó nhà thơ thần hiệp Ba Tư Farid-ad-Din Attar (thế kỷ 13) kể về cuộc hành trình của ba mươi con chim đại diện cho vạn vật (si morgh), cuối cùng chúng đến được với Thượng đế. Khi ấy, mặt trời chiếu ánh nắng vào chúng và tâm hồn chúng bỗng rực sáng. Trong hồi quang của những gương mặt mình, ba mươi con chim của vạn vật (si morgh) đã nhận ra gương mặt của thần thánh (simorgh). Chúng chiêm ngưỡng simorgh và nhận ra rằng đấng ấy không phải gì khác hơn mà chính là vạn vật (si morgh), tức chúng với Thánh thần cũng là một.
NGHỆ THUẬT
Khi đạo Hồi được mở rộng thì một phong cách nghệ thuật Hồi giáo độc đáo cũng dần dần phát triển lên. Nó được sử dụng chủ yếu cho các kiến trúc tôn giáo, minh họa các cuốn sách, trang trí đồ gốm, đồ kim loại và các loại vật dụng khác. Nghệ thuật Hồi giáo chịu ảnh hưởng từ những phong cách nghệ thuật của các vùng đất bị chinh phục. Trong số này có nghệ thuật La Mã, Byzantine và Ba Tư.
Sự phát triển của nghệ thuật Hồi giáo chịu ảnh hưởng bởi hai giới cấm quan trọng của đạo Hồi. Mohammed cấm các nghệ sĩ không được bắt chước Thượng đế, Đấng Sáng tạo ra muôn loài, bằng cách sáng tạo ra những hình ảnh các sinh vật sống. Vì thế hầu như toàn bộ nghệ thuật tôn giáo chỉ tập trung vào các nghệ thuật trang hoàng, trang trí mà không mô tả con người và động vật. Giới cấm thứ hai là không cho phép sử dụng các loại vật liệu đắt tiền. Do đó các nghệ sĩ Hồi giáo thường làm việc chủ yếu với đồng, đất sét và gỗ. Họ biết cách trang trí các đồ vật làm bằng các thứ vật liệu không đắt tiền này một cách tài ba đến nỗi trông chúng đẹp chẳng kém gì bạc hay vàng.
Sự ngăn cấm nghệ thuật tả thực có tác động quyết định đến sự hình thành của một nền nghệ thuật Hồi giáo độc nhất vô nhị. Dù không được ghi trực tiếp trong kinh Koran, nhưng quan niệm cho rằng nghệ thuật tả thực sẽ dẫn đến việc thờ cúng thần tượng đã sớm được phổ biến trong thế giới Hồi giáo. Điển hình là việc cấm các hình vẽ, tượng, và tránh bất kỳ thứ nghệ thuật tả chân nào trong tôn giáo và văn hóa Hồi giáo.
Nhưng điều đó không có nghĩa là đạo Hồi phê phán cái thế giới nguyên mẫu của nghệ thuật tả thực, vì đạo Hồi không phải là một thứ chủ nghĩa khổ hạnh kiểu như thế. Kinh Koran ca tụng niềm vui của hôn nhân và ăn uống, còn thiên đàng thì được miêu tả bằng những lời lẽ của khoái lạc thể xác. Nhưng đó là những món quà của Thượng đế, mà người ta đón nhận và hưởng thụ chúng với lòng biết ơn. Chúng không phải là vật để thờ phụng hay để tái hiện lại một cách nhân tạo như biểu tượng cho sự tưởng thưởng của Thượng đế, vì Thượng đế không cần đến cách đó để kêu gọi loài người tuân phục Ngài.
Dù việc tuân thủ điều cấm kỵ này có khác nhau tùy theo thời đại và tùy theo mỗi nước, nhưng điều đó có nghĩa là nghệ thuật Hồi giáo về cơ bản là nghệ thuật trang trí, bút chì với cọ vẽ chỉ giới hạn trong thư pháp và minh họa sách. Riêng minh họa sách là lĩnh vực trong đó nghệ thuật tả thực được đa số chấp nhận, chỉ trừ những người quá cố chấp. Đạo Hồi cũng cho phép tả thực trong những hình thức nghệ thuật thứ yếu như gạch lát, các bức tượng nhỏ và đồ sứ, nhưng không cho phép làm các pho tượng lớn và vẽ tranh. Tuy vậy, các nghệ sĩ Hồi giáo tài năng đã biết khai thác những phương tiện chuyển tải hạn chế này đến mức tối đa, và họ đã tạo ra một di sản nghệ thuật rất đáng chú ý.
Trong thời Trung cổ, người Hồi giáo và người Thiên Chúa giáo đánh nhau trong các cuộc Thập tự chinh. Các dân tộc Hồi giáo đoàn kết lại với nhau trong cuộc chiến tranh chung của họ chống người Thiên Chúa giáo châu Âu. Và nghệ thuật Hồi giáo cũng được thống nhất lại. Từ Tây Ban Nha cho đến Ấn Độ, nghệ thuật của các nước Hồi giáo hầu như là giống nhau.
Nhưng đến thế kỷ 15 thì thế giới Hồi giáo đã ít thống nhất hơn. Nhiều người trong các dân tộc Hồi giáo đi theo các tôn giáo khác. Các cuộc Thập tự chinh đã chấm dứt, và các nước Hồi giáo nhiều khi lại đánh lẫn nhau. Nhưng nghệ thuật Hồi giáo vẫn tiếp tục phát triển. Các thánh đường vẫn tiếp tục được xây dựng; các đồ vật bằng kim loại, đất sét, và da vẫn được trang trí theo phong cách arabesque; sách vở được minh họa bằng tranh tiểu họa; các tấm thảm vẫn được dệt theo phương pháp truyền thống. Và sau thế kỷ 15, một số nghệ sĩ Hồi giáo đã bắt đầu đưa một số yếu tố của nghệ thuật châu Âu vào các tác phẩm của họ. Ngày nay, nghệ thuật của nhiều nước Hồi giáo đã mang những đặc trưng quốc tế, mặc dù những cảnh vật và đề tài có thể vẫn liên quan đến một dân tộc Hồi giáo nào đó.

( Còn tiếp theo–phần 6 đến cuối trang 56–Nguyễn Sinh )


Thế giới Hồi Giáo ( Phần 5 )

THẾ GIỚI HỒI GIÁO ( PHẦN 5 )

ĐẾ CHẾ OTTOMAN
Do sự mở rộng của các đế chế Hồi giáo Omayyad và Abbasid, đế chế Byzantine Thiên Chúa giáo cổ xưa đã mất đi phần lãnh thổ của mình ở Trung Đông, bán đảo Arập và Bắc Phi. Nhưng con đường phát triển lên miền bắc của các đế chế Hồi giáo này bị ngừng lại, chủ yếu là do những xung đột trong nội bộ những bộ tộc Arập.
Năm 1071, các bộ lạc người Thổ theo đạo Hồi đánh bại người Byzantine trong trận chiến Malazgirt ở miền đông Anatolia. Vùng đất còn lại ở miền bắc của đế quốc Byzantine Thiên Chúa giáo dần dần bị co hẹp. Người Thổ phát triển đạo Hồi trên các vùng lãnh thổ miền bắc của đế quốc Byzantine trước kia. Họ cũng du nhập vào xứ sở này tinh thần buôn bán, mà kết quả là hình thành nên các tuyến đường lạc đà đi ngang qua Thổ Nhĩ Kỳ để vào Trung Đông. Dọc các tuyến đường này họ xây dựng những khu thành quách rất ấn tượng để cho thương nhân có thể dừng lại nghỉ ngơi. Một số tuyến đường lạc đà từ thế kỷ 12 này vẫn còn tồn tại đến tận ngày nay.
Sự trỗi dậy của thế lực Thổ Nhĩ Kỳ và sự tiêu vong của đế quốc Byzantine Thiên Chúa giáo khiến cho các cường quốc châu Âu thời đó phải e ngại. Việc người Thổ Nhĩ Kỳ cải đạo các tín đồ Thiên Chúa giáo sang đạo Hồi đã khiến Giáo hoàng Urban đệ Nhị phải hứa hẹn ban thưởng cho những ai sẵn sàng đi chiến đấu với người Thổ dưới lá cờ Thiên Chúa giáo. Từ đó mà cuộc Thập tự chinh lần thứ nhất chống lại người Thổ được phát động. Về sau, tiếp tục còn có ba cuộc Thập tự chinh nữa, gây ra rất nhiều xung đột và máu đổ, nhưng đồng thời cũng đẩy mạnh những giao tiếp thương mại và văn hóa giữa người Thiên Chúa giáo và người Hồi giáo.
Trong khi phần phía tây của Anatolia, dọc theo bờ Hắc hải và Địa trung hải, vẫn còn là lãnh thổ Byzantine, thì đế chế Seljuk Thổ Nhĩ Kỳ phát triển nền văn hóa Hồi giáo của mình ở miền trung Anatolia. Đế chế Seljuk diệt vong vào thế kỷ 13, sau khi bị các lực lượng xâm lăng người Mông Cổ tiến đánh. Đế chế Byzantine đang ngắc ngoải nên khoảng trống quyền lực do người Seljuk để lại chỉ được lấp đầy khi có sự trỗi dậy của đế chế Ottoman, một thế lực Thổ Nhĩ Kỳ mạnh hơn đế chế Seljuk rất nhiều.
Đế chế Ottoman, lấy tên từ Osman - thủ lĩnh của một vùng đất nhỏ ở Anatolia, đã phát triển thành một trong những đế quốc lớn nhất trên thế giới. Vào thời đỉnh cao của nó, đế chế Ottoman kiểm soát hầu hết Bắc Phi, Irắc và một vùng rộng lớn lãnh thổ Đông Âu.
Cho đến giữa thế kỷ 15, nhờ sự hậu thuẫn của các nước châu Âu, Constantinople, thủ đô của đế chế Byzantine vẫn còn đứng vững mặc dù bị bao vây bốn bề bởi đế chế Ottoman. Mehmed II, sultan của đế quốc Ottoman, lên kế thừa ngai vàng năm 1451 đã quyết định chiếm lấy nó. Thành phố lẫy lừng này cuối cùng phải đầu hàng sau khi bị vây hãm suốt bảy tuần lễ, chấm dứt cái chết kéo dài của đế quốc Byzantine Thiên Chúa giáo vào năm 1453. Sau đó thành phố được đổi tên thành Istambul.
Sự bành trướng về phía tây của đế chế Ottoman bị chặn lại vào năm 1529, khi các đạo quân Thổ Nhĩ Kỳ thất bại trong việc đánh chiếm thành Vienna, thủ đô của đế chế Hapsburg. Tham vọng bành trướng xa hơn về phía tây của đế chế Ottoman lại bị thất vọng thêm một lần nữa khi mưu toan chiếm Vienna lần thứ hai bị thất bại vào năm 1683. Thất bại lần thứ hai này phải trả bằng cái giá là mất phần lớn lãnh thổ Hung ga ri.
Đế chế Ottoman là một đế chế hiếu chiến, vì thế các nước Thiên Chúa giáo ở Tây Âu coi nó như một mối đe dọa, và họ tổ chức các liên minh nhằm đánh lại người Thổ Nhĩ Kỳ. Từ thế kỷ 17 về sau, đế chế Ottoman dần dần sa vào chỗ trì trệ và suy sụp, và cuối cùng nó tan rã vào năm 1918, sau khi Chiến tranh Thế giới thứ I kết thúc. Đế chế Ottoman đã tồn tại trong hơn 600 năm.
GIAI ĐOẠN THOÁI TRÀO
Từ cuối thế kỷ thứ 12 cho thế kỷ 14, các nước Thiên Chúa giáo châu Âu tổ chức những cuộc chiến tranh với người Hồi giáo để khôi phục đất thánh và chiếm lấy đất đai của cải ở vùng Trung Đông. Những cuộc xâm lược này ngày nay được gọi dưới cái tên là các cuộc Thập tự chinh. Vào thế kỷ 13, những người Hồi giáo đã đánh đuổi được các đoàn quân Thập tự chinh Thiên Chúa giáo khỏi các vùng đất Arập.
Nhưng ở những vùng đất khác thì người Hồi giáo không được thành công cho lắm. Ở phía tây của đế chế Hồi giáo, những người Thiên Chúa giáo Tây Ban Nha dần dần giành lại đất đai từ tay người Hồi giáo, vương triều của caliph Cordova sụp đổ. Vào cuối thế kỷ 15 việc tái chiếm lại đất đai đã hoàn thành, và những người Hồi giáo bị buộc phải cải theo Thiên Chúa giáo nếu không thì phải rời khỏi Tây Ban Nha.
Bước sang thế kỷ 16, cùng với việc các nước châu Âu liên minh chống lại đế chế Ottoman, sự phát triển của thế giới Hồi giáo dường như bắt đầu trì trệ. Thế giới Hồi giáo trở thành đối tượng để khống chế hay thành mục tiêu của các cuộc xâm lược thực dân của các nước châu Âu. Đến thế kỷ 19 thì hầu hết các quốc gia Hồi giáo đều nằm trong vòng ảnh hưởng của châu Âu hay trực tiếp bị cai trị như các thuộc địa. Bước sang đầu thế kỷ 20, cùng với sự tan rã của đế quốc Ottoman, thế giới Hồi giáo hầu như không còn vai trò ảnh hưởng quan trọng nào nữa đối với những biến chuyển trong lịch sử thế giới.
Những nguyên nhân khiến cho nền văn minh Hồi giáo sơ kỳ rực rỡ, năng động đi vào con đường suy thoái là rất phức tạp. Một phần là do những nhân tố từ bên ngoài: sự ngăn chặn của các cường quốc châu Âu ở phía tây; các cuộc tấn công của những kẻ xâm lược như Thành Cát Tư Hãn ở phía đông, những tiến bộ về công nghệ và phát kiến địa lý của châu Âu, các cuộc xâm lược thực dân. Còn về những nhân tố bên trong, thì luật Shari’ah càng ngày càng trở nên cứng nhắc hơn, đang phát huy tác dụng ngược chiều. Sự kiểm soát của bộ luật được cho do Thượng đế phê chuẩn này không tránh khỏi làm cho xã hội bị trì trệ, nó ưu ái sự tuân thủ bảo thủ hơn là sự đổi mới và những tư tưởng cách tân.

NHỮNG ĐẶC TRƯNG CHÍNH TRỊ- XÃ HỘI
Xuất phát từ nhu cầu về một tôn giáo độc thần để thống nhất dân tộc Arập, đạo Hồi rốt cuộc đã phát triển thành một tôn giáo thế giới. Sự phát triển nhanh chóng đó có những cơ sở của nó. Đạo Hồi phát triển nhanh và mạnh nhất trong những vùng đất của tôn giáo đa thần (xứ Arập, Bắc Phi, Trung Á và lục địa Tiểu Ấn Độ), ngoài việc nó là một tôn giáo “tiên tiến” hơn, thì ở đây còn có nguyên nhân từ sự cố kết chặt chẽ về chính trị và xã hội trong cộng đồng của tôn giáo này so với các dân tộc đa thần giáo, từ đó mà tạo ra sức mạnh áp đảo của các đoàn quân chinh phục Hồi giáo. Hơn bất cứ một tôn giáo lớn nào khác, các cộng đồng Hồi giáo không chỉ là một cộng đồng tôn giáo mà còn mang đậm tính chất một cộng đồng xã hội và chính trị. Và đặc điểm đó có nguồn gốc từ trong giáo lý (kinh Koran và Hadith) cũng như từ lịch sử hình thành của nó.
SỰ GẮN KẾT GIỮA TÔN GIÁO VÀ CHÍNH TRỊ
Trong các xã hội Hồi giáo không có sự phân biệt rạch ròi giữa tôn giáo với chính trị và luật pháp. Điều đó có nguồn gốc ngay từ lịch sử hình thành của tôn giáo này. Kinh Koran cũng như Hadith có một danh sách dài dằng dặc các luật lệ và quy định áp dụng cho xã hội Hồi giáo. Ta nhớ rằng những chương kinh dài nhất với đầy những luật lệ và quy định như vậy là do Mohammed khải thị khi ông đang củng cố và phát triển cộng đồng tín đồ của mình tại Medina, ở đó ông không chỉ là một lãnh tụ tôn giáo mà còn là một thủ lĩnh chính trị và một nhà lập pháp.
Những khải thị trong kinh Koran thời kỳ Medina rõ ràng là để đáp ứng cho những yêu cầu về tổ chức xã hội và chính quyền của vị Tiên tri ở đây, bất kể đó có phải là sự mách bảo của Thượng đế cho những vấn đề của ông hay không. Cũng vì thế mà kinh Koran, có thể nói, đã cung cấp một bộ khung luật pháp cho việc tổ chức chính quyền chính trị và xác định các bổn phận, nghĩa vụ cũng như quyền lợi của các “công dân” tín đồ trong một xã hội Hồi giáo. Đồng thời qua đó nó cũng xác định mô hình tổng quát về một nhà nước chính trị đã được Thượng đế phê chuẩn. Tất nhiên là những vấn đề của nhà nước chính trị thời Mohammed là rất khác so với những thời kỳ sau đó, nhưng việc diễn giải từ cái mô hình tổng quát đó để đi đến các phán quyết áp dụng cho những tình huống chính trị cụ thể của mỗi thời đại là công việc của các giáo sĩ và học giả Hồi giáo.
Ở Medina, mỗi khi có vấn đề gì nẩy sinh, về giáo sự hay về chính trị, xã hội mà các tín đồ thấy cần phải hỏi ý kiến của vị Tiên tri, thì họ chờ đợi ông sẽ nhận được thần khải từ Thượng đế để chỉ đường cho họ. Những “chỉ dẫn” sau đó sẽ được đưa vào kinh Koran, vì đó là “giáo huấn của Thượng đế”. Cũng chính vì thế mà kinh Koran trở thành nguồn gốc quan trọng nhất của luật Hồi giáo. Trong trường hợp Tiên tri không nhận được thần khải từ Thượng đế giải đáp cho những vấn đề đó thì các tín đồ được phép tự do phát biểu các ý kiến cá nhân, cùng nhau thảo luận dựa trên những nguyên tắc được nêu trong các khải thị trước đó để đưa ra một quyết định. Đó chính là nguồn gốc của sunna, là tập quán bàn bạc và thỏa thuận để đi đến imja hay là sự nhất trí trong cộng đồng. Những phán quyết này sau đó sẽ trở thành luật.
Vai trò lãnh tụ tôn giáo của Mohammed gắn liền với vai trò là thủ lĩnh chính trị của ông. Ông không chỉ tổ chức một cộng đồng tôn giáo mà còn tổ chức một xã hội với chính quyền của nó. Vì thế giáo lý của ông cũng phục vụ cho mục tiêu chính trị, như là một phần không thể tách rời của tôn giáo này. Và vì ông là một thủ lĩnh tôn giáo, nên đồng thời ông cũng là thủ lĩnh chính trị. Như vậy là do đặc điểm hình thành của nó mà đạo Hồi, ngay từ khi mới xuất hiện, đã thể hiện không chỉ như một tôn giáo mà còn như một thể chế xã hội và chính quyền.
Quan điểm của Mohammed được các tín đồ kế thừa sau khi ông chết, hay đúng hơn là đã được bao hàm trong kinh Koran và Hadith Tiên tri. Những người được bầu lên làm caliph (người kế vị Mohammed làm nhà lãnh đạo tôn giáo) thì cũng đồng thời là người chỉ huy cái đế chế Arập Hồi giáo vừa mới hình thành. Tước vị caliph quyết định vai trò thủ lĩnh đế chế. Cho dù sau đó caliph Omayyad Mu’awiyah đã đảo lại trật tự này khi ông ta chỉ định con trai mình làm caliph, đem tước vị caliph gắn với quyền kế thừa đế chế, thì sự liên kết chặt chẽ giữa tôn giáo với chính trị trong đạo Hồi vẫn còn nguyên. Và minh chứng hùng hồn nhất cho điều này là yêu sách của các sultan Thổ Nhĩ Kỳ của đế quốc Ottoman, đế quốc Hồi giáo hùng mạnh nhất thời Trung cổ năm thế kỷ sau đế chế Omayyad, đòi độc quyền tước vị caliph về cho mình. Với tư cách là sultan của đế quốc Hồi giáo bao trùm phần lớn thế giới đạo Hồi, họ thấy quyền lực trần thế của mình, theo lô-gíc của kinh Koran, phải được mang cái nhãn tôn giáo, chỉ khi đó họ mới không chỉ là sultan của đế quốc Ottoman mà còn là “Đấng Thống lĩnh các tín đồ” của toàn bộ thế giới Hồi giáo nữa.
LUẬT HỒI GIÁO
Kinh Koran nêu ra rất nhiều các luật lệ mà các tín đồ Hồi giáo phải một mực tuân thủ. Những luật lệ này bao trùm một phạm vi rất rộng, từ những quy tắc ứng xử cá nhân, quan hệ trong gia đình, với láng giềng, với cộng đồng cho đến đời sống kinh tế và chính trị của quốc gia, từ hôn nhân, bố thí, cho đến quan hệ với những người không theo đạo Hồi và trừng phạt tội lỗi. Đạo Hồi đã biến kinh Koran không chỉ là cuốn sách về thần khải của Thượng đế, mà còn thành nguồn gốc của những luật tục thực tiễn. Một nguồn gốc khác để quy định các luật Hồi giáo là Hadith, tức cuốn sách ghi lại ngôn hành và những truyền thuyết về Tiên tri Mohammed. Khi có một tình huống thực tiễn xảy ra trong cộng đồng và xã hội Hồi giáo mà phải viện dẫn đến luật, thì các học giả thông thái và các giáo sĩ được công nhận trong cộng đồng sẽ tìm trong kinh Koran và Sách Tiên tri (Hadith) những quy định có sẵn để áp dụng cho nó.
Cũng có lúc kinh Koran và Hadith không cung cấp được những chỉ dẫn rõ ràng cho một tình huống cụ thể nào đó. Trong những trường hợp như vậy, các tòa án Hồi giáo sẽ cố gắng để đưa ra phán quyết dựa trên những tình huống tương tự trong kinh Koran và Hadith, hay bằng cách thảo luận và thỏa hiệp chung giữa các nhà học giả có thẩm quyền trong cộng đồng. Các quan tòa cũng có thể dựa trên cách diễn giải của chính họ dựa theo kinh Koran. Những luật lệ Hồi giáo rút ra từ kinh Koran và Hadith, và các phán quyết của tòa án Hồi giáo được gọi là Shariah, hay là “con đường của Thượng đế”. Trong số đó có những luật như cấm trộm cắp, nói dối, giết người, ngoại tình và uống rượu. Những luật lệ này cũng bắt buộc người Hồi giáo phải có đức khoan dung và khiêm tốn, và đối xử với nhau một cách công bằng.
Như vậy Shariah chính là Kinh Koran và Hadith được bình giải và khai triển bởi những nhà luật học được thừa nhận. Bằng cách sử dụng phép so sánh tương tự và bằng cách quyết định dựa trên sự đồng thuận nhất trí, các học giả hợp pháp này sẽ quyết định luật lệ trong kinh Koran sẽ được áp dụng ra sao cho những trường hợp cụ thể đang đặt ra trước họ. Sau đó, luật Hồi giáo sẽ biến chúng thành nghĩa vụ bắt buộc, tức là luật pháp hóa, và đưa ra những thước đo khách quan để xác định một người nào đó có thực sự tuân phục Thượng đế hay không, hay anh ta chỉ nói ra mồm là tuân phục nhưng thực ra thích những thần tượng trong trí tưởng tượng của mình hơn.
Có thể coi luật Hồi giáo là một cố gắng để đấu tranh với xu hướng lẫn lộn giữa lòng mộ đạo và sự ích kỷ của con người. Việc tuân thủ luật Hồi giáo thậm chí còn trở thành yêu cầu bức thiết hơn với quan niệm về một cộng đồng hay một ngôi nhà Hồi giáo, một khối thống nhất trên thế giới về chính trị, kinh tế, và luật pháp cũng giống như nó đã thống nhất về mặt “tôn giáo” thuần túy. Chừng nào mà lý tưởng Shariah vẫn tồn tại trong cộng đồng đó, thì việc tự nguyện tham gia vào Ngôi nhà Hồi giáo và hành động theo những chuẩn mực của nó cũng là một biểu hiện của sự tuân phục Hồi giáo với Allah. Vì lý tưởng của sự tuân phục trong tất cả các lĩnh vực của đời sống hàng ngày hàm chứa một cách lô-gíc sự gắn kết mình với những người khác, những người cũng tuân phục Thượng đế như mình: cho nên việc tuân thủ luật Hồi giáo là một phép thử về sự chân thành trong tín ngưỡng của họ. (Như Tân Ước Thiên Chúa giáo cũng thừa nhận, rất dễ nghĩ rằng mình yêu Chúa, trong khi lại căm ghét một người khác cũng yêu Chúa như mình).
Từ lý tưởng về cộng đồng Hồi giáo sinh ra quan niệm jihad, thường được dịch ra các thứ tiếng khác với nghĩa là Thánh chiến. Người Hồi giáo diễn giải jihad trước hết như một biểu tượng của cuộc đấu tranh tinh thần. Nó có nghĩa là cuộc thánh chiến chống lại những cái trái đạo lý (Hồi giáo), mà cũng có thể là cái vô thần, và nó cũng áp dụng cho cuộc chiến thần thánh của các cá nhân chống lại những bản năng tội lỗi của chính họ. Theo nghĩa đó nó cũng gần giống với ý tưởng Thiên Chúa giáo về việc các cá nhân đấu tranh với lương tâm để tự hoàn thiện bản thân mình. Và vì thế Jihad vẫn thường được coi là cột trụ thứ sáu của đạo Hồi.
Nhưng Jihad cũng được đề ra để bảo vệ đạo Hồi và cho phép thi hành luật Hồi giáo trên bình diện xã hội, mặc dù đạo Hồi cấm việc cưỡng bức cải đạo về mặt cá nhân. Vì đạo Hồi, theo nguyên lý, là một tôn giáo và đồng thời là một cộng đồng, nên chỉ những người theo chủ nghĩa hòa bình tuyệt đối mới có thể bác bỏ học thuyết về jihad của đạo Hồi, vì các cộng đồng khác cũng đấu tranh để bảo vệ hay để mở rộng lối sống của họ giống y như người Hồi giáo vậy.
VAI TRÒ XÃ HỘI
Sự gắn kết giữa tôn giáo và chính trị của đạo Hồi còn được tăng cường hơn nữa bởi việc đạo Hồi không chỉ tự thể hiện trong lĩnh vực thờ phụng tôn giáo và thể chế chính trị mà còn đảm đương những chức năng xã hội của cộng đồng.
Chúng ta đã nói đến zakat hay là việc bố thí trợ giúp cho người nghèo. Hầu như tôn giáo lớn nào trên thế giới cũng đều kêu gọi lòng từ thiện ở các giáo dân, nhưng không có tôn giáo nào khác ngoài đạo Hồi đưa việc biểu lộ sự thiện tâm thành một bổn phận bắt buộc, một trong năm Cột trụ của đức tin Hồi giáo, đối với các tín đồ và quy định những luật lệ để thực hiện nó. Từ đó đến chỗ các nhà nước Hồi giáo coi việc bố thí một phần thu nhập cho các công việc phúc lợi và trợ giúp người nghèo như một nghĩa vụ và biến nó thành một loại thuế trực thu là một bước hoàn toàn lô-gic. Lại ở đây nữa chúng ta thấy giữa tôn giáo và nhà nước hành động như một cơ cấu thống nhất với nhau.
Nhưng đạo Hồi không chỉ giới hạn trong việc kêu gọi và quy định những cơ chế thể hiện và thực thi lòng tốt, nó còn xác định bổn phận của các tín đồ trong những mối quan hệ xã hội của họ, với gia đình, dòng họ, những người quen thân, cộng đồng Hồi giáo và nhân loại nói chung. Đi xa hơn nữa, kinh Koran còn xác định bổn phận và quyền lợi của các tín đồ không chỉ với tư cách là tín đồ mà còn với tư cách “công dân”, như những quy định về quyền tự do ngôn luận, tự do thân thể, an ninh về cuộc sống và tài sản, quyền được sống, tự do tín ngưỡng, tự do lập hội…
Một khía cạnh khác của vai trò xã hội của đạo Hồi là chức năng đảm bảo giáo dục, ngoài việc là một hệ thống an sinh xã hội của nó. Trong các nước Hồi giáo, trước khi có trường học thì ở đây đã có các thánh đường. Bởi vì đạo Hồi không tách rời giữa các phần của cuộc sống với nhau, nên hầu hết các nước Hồi giáo Arập đều không có các trường học thế tục mãi cho đến thế kỷ 20. Trẻ em được dạy dỗ ngay trong thánh đường, bởi các nhà lãnh đạo tôn giáo trong các cộng đồng, hay bởi các sheihk, những người sẽ đảm bảo cho việc giáo dục chúng dựa trên nền tảng của Kinh Koran và Hadith. Cái tên Arập của trường học trong thánh đường này là jaamea, mà ngày nay người ta còn sử dụng để chỉ các trường đại học.
TẦNG LỚP HỌC GIẢ VÀ GIÁO SĨ
Vì toàn bộ cuộc sống tôn giáo và trần tục của các tín đồ cũng như tổ chức của xã hội Hồi giáo phụ thuộc vào các luật lệ của Thượng đế, nên đảm bảo diễn giải một cách đúng đắn những luật lệ này từ kinh Koran và từ Hadith là một vấn đề rất quan trọng. Vì đó là công việc của các học giả và giáo sĩ được thừa nhận trong cộng đồng, nên tầng lớp này có một vai trò rất đặc biệt trong các xã hội Hồi giáo.
Chính xuất phát từ tầm quan trọng của việc diễn giải luật trong kinh Koran mà sự uyên bác về kinh Thánh được đánh giá rất cao trong xã hội Hồi giáo. Ulema, tức hội đồng Hồi giáo, một hội đồng gồm những học giả và giáo sĩ có học vấn được ủy quyền để diễn giải kinh Koran, thường là tổ chức không thể thiếu trong các quốc gia Hồi giáo và họ thực tế chỉ huy các thánh đường. Từ triều đại của các caliph, chính họ đã thành lập nên các trường đại học để nghiên cứu Thượng đế và cơ sở triết học của đức tin Hồi giáo.
Bởi vì ngôn ngữ của kinh Koran và những diễn giải hợp pháp của nó được thực hiện bằng tiếng Arập trong toàn bộ thế giới Hồi giáo, nên uy quyền của các học giả và giáo sĩ có học vấn (có học vấn trong đạo Hồi có nghĩa là phải thông thạo tiếng Arập) còn trở nên lớn hơn nữa và đồng thời cũng thống nhất hơn. Trong khi văn hóa và tôn giáo đại chúng giữa các nước có thể tương đối khác nhau, thì yếu tố ngôn ngữ Arập lại cho thấy học vấn “truyền thống” và việc diễn giải “đúng đắn” kinh Koran chỉ khác nhau tương đối ít, thậm chí cả khi thế giới Hồi giáo không đồng nhất về mặt chính trị.
Tuy nhiên vai trò của Hội đồng học giả thường chỉ giới hạn trong những vấn đề luật lệ có liên quan đến toàn xã hội. Còn với những vấn đề trong cuộc sống thường ngày và ở phạm vi các cộng đồng nhỏ thì vai trò diễn giải luật thường thuộc về các giáo sĩ. Các giáo sĩ là những người học kinh Koran và luật tại các trường Hồi giáo. Nhưng ở các cộng đồng địa phương, một giáo sĩ được các tín đồ kính trọng và tin cậy trước hết không phải vì trình độ học vấn của ông ta mà là vì tinh thần bảo thủ nguyên tắc và niềm tin của ông ta rằng mình biết cách diễn giải đúng nhất những luật lệ của Thượng đế.
Vì không có sự phân biệt rạch ròi giữa luật pháp và tôn giáo trong các xã hội Hồi giáo, nên như lịch sử đã cho thấy, giới học giả Hồi giáo và các giáo sĩ thường hay can thiệp vào các công việc của chính quyền và làm chính trị. Ngay tại các quốc gia Hồi giáo hiện đại ngày nay, ảnh hưởng của giới học giả và giáo sĩ vẫn rất lớn, nhất là ở các vùng nông thôn, cho nên hầu hết những nhà chính trị địa phương đều không muốn làm mất lòng họ khi không cần thiết.
ĐẠO HỒI TRONG THẾ GIỚI NGÀY NAY
Gần một trăm năm đã trôi qua kể từ khi đế quốc Ottoman, đế chế Hồi giáo cuối cùng tan rã. Quãng thời gian đó đã mang lại nhiều thay đổi mạnh mẽ trong thế giới Hồi giáo, diễn ra trên một bình diện rất rộng, từ nền chính trị và các chính phủ cho đến cuộc sống riêng tư của các tín đồ.
Một trăm năm trước, hầu hết thế giới Hồi giáo đều nằm dưới sự kiểm soát của các thế lực châu Âu. Theo thời gian, các nước Hồi giáo đã đứng lên chống lại ách thực dân và các cuộc kháng chiến này đã dẫn đến nền độc lập. Nhưng thay vì hình thành một hay hai nhà nước Hồi giáo rộng lớn như từng diễn ra trong quá khứ, thì phong trào kháng chiến đã dẫn đến sự hình thành của hơn bốn mươi quốc gia riêng biệt. Những tình cảm thế tục về dân tộc và quốc gia cũng quan trọng không kém tình cảm tôn giáo trong việc dấy động lên phong trào đấu tranh vì nền độc lập và trong việc xác định biên giới của các quốc gia mới. Dầu vậy, tôn giáo vẫn là một phần rất quan trọng trong những nước này, và đạo Hồi vẫn là một lực lượng mạnh mẽ trên khắp thế giới.
Các nước Hồi giáo trên thế giới ngày nay có nhiều kiểu chính phủ khác nhau, có các vương quốc quân chủ, quân chủ lập hiến, chế độ cộng hòa, chế độ dân chủ, và có cả các nền độc tài. Trong một số nước như Arập Xêút và Iran, những luật lệ và tập quán Hồi giáo truyền thống được các chính phủ tuân thủ nghiêm ngặt. Ở các nước khác, như Thổ Nhĩ Kỳ, Albania hay Algeri thì giữa tôn giáo với nhà nước có sự tách biệt.
Các nước Hồi giáo còn khác nhau theo nhiều phương diện khác nữa. Ở một số nước, phụ nữ cho đến giờ vẫn chưa có quyền bầu cử. Trong khi đó ở Pakistan, một quốc gia có dân số theo đạo Hồi lớn thứ hai trên thế giới, thì một phụ nữ được bầu làm thủ tướng, một chức vụ quyền thế nhất trong nước. Một số quốc gia Hồi giáo rất giàu có, như những nước vùng vịnh Ba Tư, nơi có nhiều dầu mỏ. Nhưng một số nước khác lại rất nghèo, như trường hợp Banglades và hầu hết các nước Tây Phi.
Nhưng dù những nước Hồi giáo ngày nay có những sự khác biệt chia rẽ họ với nhau, thì giữa họ vẫn có chung một di sản và một sự ràng buộc mạnh mẽ qua tôn giáo của mình.
SỰ TỤT HẬU
Bước sang thế kỷ 20, thế giới Hồi giáo đã tụt hậu rất nhiều so với châu Âu và châu Mỹ. Nó trở nên co thủ trong sự nghèo khổ và lạc hậu về công nghệ. Hầu hết thế giới Hồi giáo là đối tượng của sự cai trị thuộc địa châu Âu kéo dài cho đến giữa thế kỷ 20 mới chấm dứt: Hà Lan kiểm soát Inđônêxia, hàng triệu người Hồi giáo cũng như người Ấn giáo sống dưới lá cờ nước Anh, nước Pháp cai trị một vùng rộng lớn của Bắc Phi Hồi giáo. Những quốc gia Hồi giáo còn tự trị duy nhất là Đế quốc
Ottoman Thổ Nhĩ Kỳ và đế quốc Ba Tư trải rộng trên phần lớn Trung Đông. Tuy vậy, đó là những chế độ đã lỗi thời và thối nát, với những người dân bị áp bức đến mức suy sụp ở đây thì những chế độ này thậm chí còn có phần ngột ngạt hơn cả ách cai trị thực dân. Tuy vậy, dù các đế quốc này có sự độc lập danh nghĩa, nhưng thực tế vẫn lệ thuộc vào phương Tây theo đủ mọi kiểu.
Và cuối cùng, bản thân tín ngưỡng Hồi giáo trong nửa đầu thế kỷ 20 đã không còn ở vào trạng thái sung mãn. Về triết lý và thần học, nó hầu như không với được đến thế giới quan hiện đại, còn ở mức độ đại chúng thì nó chìm ngập trong một thứ chủ nghĩa thần bí mà nhiều người đã coi đó không còn là đạo Hồi đích thực, và cũng không thể đáp ứng được với yêu cầu của thế giới hiện đại.
SỰ PHỤC HƯNG HỒI GIÁO
Nhưng trong phần tư cuối cùng của thế kỷ 20, người ta lại chứng kiến một bước phát triển có tính chất đột biến trong thế giới Hồi giáo. Rất hiếm khi, kể từ khi có sự bành trướng choáng váng của đạo Hồi trong thế kỷ đầu tiên của nó, tôn giáo này mới có cơ hội cho một sự thay đổi mạnh mẽ trong một thời gian ngắn như thế.
Thực tế là từ giữa thế kỷ 20, tất cả các vùng đất của thế giới Hồi giáo đều đã giành được độc lập. Các đế quốc Ottoman và Ba Tư cổ xưa ngày nay là Thổ Nhĩ Kỳ (với quy mô đã giảm đi rất nhiều) và Iran. Những cái tên mới đến cùng với những chế độ mới và những thay đổi mạnh mẽ trong chính trị, kinh tế và xã hội. Một số nước Hồi giáo đã bất ngờ trở nên vô cùng giàu có, hầu hết là nhờ vào dầu mỏ; những quốc gia Hồi giáo như Kuwait và Arập Xêút đạt được mức thu nhập quốc dân trên đầu người thuộc hàng cao nhất trên thế giới. Dân số Hồi giáo phát triển rất nhanh, chủ yếu nhờ tỷ lệ sinh đẻ cao ở nhiều nước với điều kiện y tế tốt hơn, và cũng nhờ những nỗ lực truyền giáo. Làn sóng tị nạn và việc hình thành những cơ sở Hồi giáo ở các thành phố lớn châu Âu cũng như Bắc Mỹ đã cho tôn giáo này một tủ kính trưng bày trên khắp thế giới. Bản thân đạo Hồi cũng đang trải qua những cuộc vật lộn đổi mới tri thức tôn giáo và những cuộc vận động nhằm đơn giản hóa và thuần khiết hóa tín ngưỡng và lễ nghi của mình.
Tất nhiên sự thay đổi này không đồng đều. Ngôi nhà Hồi giáo không chỉ gồm những quốc gia giàu có nhất trên thế giới, mà còn cả những nước nghèo nhất như Bangladesh và hầu hết các nước Tây Phi. Và trong sự phục hưng của đạo Hồi, có một vài yếu tố có vẻ giống một thứ chủ nghĩa dân tộc quá khích, sinh ra từ sự cuồng tín tôn giáo hơn là sự thức tỉnh tinh thần thực sự. Nhưng những vấn đề như vậy không phải lúc nào cũng được thế giới bên ngoài nhìn nhận một cách đúng đắn, vì chúng đòi hỏi một tầm nhìn xa về mặt thời gian, trước khi có thể nhận thức rõ ý nghĩa thực sự của những hiện tượng này.
Nhưng dù nhìn nhận như thế nào đi nữa thì vẫn có một điều rõ ràng là đạo Hồi ngày nay đang ở trong thời điểm phấn khích về tôn giáo, và nó được kết hợp với công cuộc xây dựng quốc gia và phát triển lòng tự tin dân tộc, một tình huống có thể so sánh với cuộc Cải cách Tin lành trong thế giới Thiên Chúa giáo trước đây; cuộc Cải cách từng gây ra sự cố chấp điên cuồng và những xung đột xã hội dữ dội, vậy mà nó vẫn buộc được châu Âu phải chuyển sang một giai đoạn phát triển mới trong lịch sử của mình.
THỜI KỲ ĐẦU: DÂN CHỦ LẪN VỚI CỰC ĐOAN
Nhiều khi sự phục hưng của đạo Hồi truyền thống trong các quốc gia Hồi giáo ngày nay lại kết hợp với sự nổi dậy của các giai cấp thấp cổ bé miệng ở các nước này, dù đó là nông dân ở nông thôn hay quần chúng ở thành thị, chống lại các tầng lớp tinh hoa “Tây hóa”, những người thống trị chính quyền và nền kinh tế trong giai đoạn hình thành một quốc gia hiện đại. Điều này đặc biệt thấy rõ trong ba thập niên đầu tiên sau Chiến tranh Thế giới thứ II. Trong khi tầng lớp tinh hoa này luôn cổ động cho việc xây dựng quốc gia và phát triển một nền công nghiệp, giao thông vận tải, giáo dục và những thể chế chính trị hiện đại (hiện đại tức là theo kiểu phương Tây), thì lợi ích của chúng không phải lúc nào cũng thể hiện rõ ràng đối với những người không thuộc tầng lớp tinh hoa. Trong khi đó những tác động có tính chất phá hoại của chúng đối với nông thôn, với gia đình, với những giá trị đạo đức và tinh thần Hồi giáo truyền thống lại quá sức chịu đựng đối với họ. Mặc dù vậy, đa số tầng lớp tinh hoa từ bên trong họ đã hình thành sự coi thường đối với những giá trị truyền thống, và sự khát khao học hỏi lối sống của những người Âu Mỹ không phải Hồi giáo.
Sự bùng nổ chính trị và xã hội của đạo Hồi trở nên rõ ràng vào cuối thập niên 1970’, nhất là trong cuộc cách mạng Iran năm 1979. Đó là sự bùng nổ của lòng căm thù bị kìm nén lâu ngày đối với những tầng lớp thống trị. Thường được dẫn dắt bởi các giáo sĩ và các nhà thần bí cực đoan, những tầng lớp bị áp bức nắm lấy ngọn cờ đạo Hồi thuần khiết như một biểu tượng cho cái mà họ vừa ủng hộ lại vừa chống lại: đạo Hồi là đức tin và là nền văn hóa của họ, thực sự là của họ cho dù nó đã bị tha hóa đi, và cho dù chính họ cũng bị tha hóa đi vì nó. Rồi họ một mực đòi luật Shari’ah phải trở thành luật của nhà nước giống như nó là luật của thánh đường, tầng lớp giáo sĩ phải được tôn trọng, của cải phải được phân phối công bằng theo lý tưởng Hồi giáo, và những tiêu chuẩn Hồi giáo trong ăn mặc, trong cuộc sống gia đình và trong giáo dục phải được đề cao chứ không được coi thường như hiện tại.
SỰ ĐA DẠNG CUỐI THẾ KỶ XX
Arập Xêút là vùng đất khai sinh ra đạo Hồi, nơi có các thánh địa Mecca và Medina. Đạo Hồi ở đây vốn được thiết lập một cách vững chắc. Phái Wahhabi là một chi phái Sunni nghiêm ngặt, nó phản đối chủ nghĩa thần bí của Mật tông Sufi và đòi hỏi sự cai trị của một nhà nước dựa trên cơ sở diễn giải theo từng chữ kinh Koran và luật Shari’ah. Dưới sự chi phối của nó, kịch, phim ảnh, rượu và sự chung đụng quá mức giữa hai giới bị cấm. Vậy mà, bị chấn động vì sự giàu có bất ngờ và những thay đổi xã hội không tránh khỏi sau đó, Arập Xêút đang phấn đấu để vừa trở thành một quốc gia hiện đại đồng thời lại vừa là một nước Hồi giáo bảo thủ; kết quả cuối cùng của thử nghiệm này còn phải chờ xem.
Ở các nước Hồi giáo còn lại thì bức tranh có khác hơn. Lý tưởng Hồi giáo truyền thống được trộn lẫn với những tư tưởng xã hội mới. Phong trào này thường mang nhãn hiệu chủ nghĩa xã hội Arập, mà ở nhiều nước được đại diện bởi đảng Ba’ath, nó tìm cách kết hợp chủ nghĩa quốc gia Arập (mà mục tiêu cuối cùng là thống nhất các dân tộc Arập thành một quốc gia) với những yêu cầu của kinh Koran về công lý và phân phối công bằng của cải, được thể hiện qua một chính quyền với hình thức hiện đại và năng động về mặt xã hội. Nhưng các nước tiến theo hướng này không giống nhau và cũng có sự khác biệt trong tính chất. Ở Libya chẳng hạn, chế độ của Muammar al-Qaddafi kết hợp hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa với một chủ nghĩa quốc gia mạnh mẽ, và với sự hậu thuẫn của đạo Hồi trong điều kiện chính quyền địa phương nằm trong tay các imam. Trái lại, ở nước láng giềng Tunisia, chính phủ mang danh nghĩa là xã hội chủ nghĩa và Hồi giáo lại giữ một vị thế ôn hòa hơn nhiều, và thực sự đã đi tiên phong trong việc tìm kiếm cách thức để thích ứng những tập quán Hồi giáo với những điều kiện hiện đại.
Phía bắc của thế giới Arập là Thổ Nhĩ Kỳ, quê hương của người Thổ, một chủng tộc không phải Arập mà các sultan của họ từng thống trị một thời gian dài đối với hầu hết những dân tộc Arập trong thời đại đế quốc Ottoman. Vào thế kỷ 19, đế quốc rộng lớn này tuột dần khỏi gọng kìm của các sultan. Người Thổ Nhĩ Kỳ vốn là một “Người phương Tây ốm yếu”. Mặc dù đã có những cải cách, mà cao điểm là cuộc đảo chính của “Những người Thổ trẻ tuổi” năm 1908, nhưng vị thế của nó có vẻ chỉ càng thêm tồi tệ hơn cả trong lẫn ngoài đế quốc. Nhưng sau Thế chiến thứ I, Thổ Nhĩ Kỳ đánh mất đế quốc của mình và ngoặt sang một hướng phát triển hoàn toàn mới dưới luật sắt của Keman Ataturk (1881-1938). Các sultan của đế chế Ottoman đã đoạt tước hiệu caliph cổ xưa của thế giới Hồi giáo Arập, nhưng Ataturk lại theo đuổi việc hình thành một nhà nước thế tục quân sự theo kiểu Tây phương. Ông ta chấm dứt vai trò của tòa án Hồi giáo và các trường tôn giáo, đặt ra các luật lệ thế tục thay cho luật Shari’ah, thủ tiêu ngôi vị caliph và tầng lớp sufi, cấm mặc trang phục tôn giáo bên ngoài những nơi thờ phụng. Công cuộc thế tục hóa của ông ta phải đối đầu với một loạt những vấn đề lớn cũng như nhỏ: ngày Chủ nhật trở thành ngày nghỉ cuối tuần thay vì ngày thứ Bảy, và việc đội fez – chiếc khăn đội đầu truyền thống kết hợp phong tục Thổ Nhĩ Kỳ cổ xưa với đạo Hồi – bị loại ra ngoài vòng luật pháp. Việc sử dụng bảng chữ cái La Mã thay cho chữ Arập làm chữ viết giúp cho việc tách quốc gia này ra khỏi thế giới Hồi giáo. Nhưng sau cái chết của Ataturk, chương trình phi Hồi giáo hóa đã giảm bớt nhịp độ, và sự ủng hộ kiên trì của tầng lớp nông dân đối với đạo Hồi cho thấy tôn giáo này có sức kháng cự dai dẳng như thế nào.
Như thế là vào cuối thế kỷ 20, việc thế tục hóa và Tây phương hóa trên quy mô lớn được Ataturk coi như giải pháp cho vấn đề phát triển của các nước Hồi giáo. Tư tưởng này đã có ảnh hưởng vượt ra ngoài Thổ Nhĩ Kỳ: vị cha đẻ của nước Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại này là một mẫu người hùng đối với một số nhà lãnh đạo đảng Ba’ath ở thời kỳ đầu, và các lãnh tụ của một số nước Hồi giáo lớn như Pakistan và Inđônêxia, những nước giành đã được độc lập hay đang trải qua sự thay đổi vào giữa thế kỷ 20, đã coi ông ta như một biểu tượng để ganh đua; họ là những tín đồ chính thống thành thực, nhưng trong khi bị lý tưởng về một quốc gia Hồi giáo quyến rũ, thì họ vẫn muốn có sự “tiến bộ” bằng bất kỳ giá nào. Nhưng những sự kiện vào cuối thập kỷ 1970’ nhìn chung lại đi ngược lại chính sách của những lãnh tụ này – dĩ nhiên chúng đã có mầm mống từ sớm hơn.
Cuối thập kỷ 1970’ đã có những tiếng nói mạnh mẽ cho rằng đạo Hồi hoàn toàn không phải là một cản trở bất tiện và khó xử đối với công cuộc hiện đại hóa, trái lại nó là một bộ khung tốt về mặt hệ tư tưởng cho việc xây dựng một trật tự xã hội và kinh tế công bằng hơn, giống như hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa ở phương Tây, và đồng thời nó lại là một thành lũy vững chắc để chống lại những tác động xói mòn (chủ yếu là từ phương Tây) đang đe dọa đời sống gia đình và niềm tự hào về quê hương và nền văn hóa của họ. Bốn nguyên tắc theo họ phải là cơ sở cho sự phục hưng Hồi giáo từ cuối thập niên 1970’ là:
1. Luật Shari’ah, hay luật Hồi giáo hệ thống hóa theo kinh Koran và theo truyền thống phải là luật cơ bản của nhà nước.
2. Các chính sách và hoạt động của nhà nước phải phù hợp với luật Shari’ah, các giáo sĩ và học giả Hồi giáo phải có vai trò quan trọng trong chính phủ, như vậy sẽ đạt được cái mà phương Tây gọi là sự liên minh giữa nhà thờ và nhà nước.
3. Của cải phải được phân phối một cách công bằng theo lý tưởng Hồi giáo về sự bình đẳng và tình anh em.
4. Phải chống lại những ảnh hưởng ngoại lai (không phải Hồi giáo) trong xã hội, và lối sống của dân chúng cần phải tuân thủ những luật lệ và giá trị Hồi giáo.
Phía đông thế giới Arập, đất nước Iran vào đầu thập niên 1980’ là một ví dụ kịch tính nhất của sự phục hưng Hồi giáo. Cuộc cách mạng dưới sự lãnh đạo của Ayatollah Khomeini đã lật đổ quốc vương Muhammad Pahlavi vào năm 1979. Một nước “Cộng hòa Hồi giáo” được thành lập, trong đó luật Shari’ah trở thành chuẩn mực và những giáo sĩ như Khomeini giữ một vai trò quyết định. Nền quân chủ huy hoàng đã mất đi sự ủng hộ của đại chúng vì những lý do đã nói ở trên. Thay chỗ cho nền quân chủ là một khung cảnh cách mạng cổ điển của những người dân thường, là những người đang khao khát trả thù, là sự đổ vỡ kinh tế và xã hội, và là những hình bóng đang xuất hiện của một nhà nước bình quân hơn, cô lập hơn, và dựa trên luật Hồi giáo nhiều hơn nhà nước trước đây.
Ở tiểu lục địa Ấn Độ, một sự phục hưng tương tự của đạo Hồi nghiêm ngặt, truyền thống đã sinh ra những vấn đề và những xu hướng có thể so sánh với nhau qua các phiên bản của nó. Pakistan hình thành với tư cách một nhà nước Hồi giáo vào thời điểm độc lập và ly khai với Ấn Độ thuộc Anh vào năm 1947. Nó giữ lại hệ thống luật pháp dựa trên luật pháp nước Anh và theo đuổi một đường lối “tiến bộ” trong một thời gian; nhưng đến năm 1979, Shari’ah cũng trở thành luật pháp nhà nước dưới sức ép của phong trào phục hưng Hồi giáo. Những gian phòng để cầu nguyện được bố trí trong các nhà máy và các rạp chiếu bóng, các chương trình của đài phát thanh và truyền hình bị kiểm duyệt để loại trừ bất cứ thứ gì đáng ghét đối với tín ngưỡng và đạo đức Hồi giáo – một kiểu cách tương tự như ở các nơi khác. Ở Cộng hòa Ấn Độ, thiểu số người Hồi giáo chiếm 10% dân số bị tác động bởi tinh thần và sách báo phục hưng, đã trở nên kích động hơn, và vì thế đã kéo dài mãi những xung đột căng thẳng và thậm chí bạo động giữa thiểu số Hồi giáo và đa số Ấn giáo.
Xa hơn về phía đông nam, ở đất nước Malaysia, phong trào phục hưng Hồi giáo đe dọa sự cân bằng chủng tộc mong manh vốn đã giúp gắn kết quốc gia này lại với nhau. Malaysia có 50% dân số là người Malays theo đạo Hồi, 35% người Trung Hoa, và 15% người Hindu và các sắc dân khác. Từ khi độc lập khỏi nước Anh, chính phủ Malaysia do tầng lớp thị dân giàu có người Malays thượng lưu kiểm soát, họ là tín đồ Hồi giáo ôn hòa và duy trì mối quan hệ tốt với người Trung Hoa là những người kiểm soát nền kinh tế. Nhưng một phong trào cực đoan, với một đảng chính trị có tinh thần chiến đấu được khích động bởi các giáo sĩ sốt sắng, đã nổi lên trong số những nông dân Malays nghèo ở vùng nông thôn. Nó đem lại cho những người dân quê giản dị và sùng đạo một nơi để bộc lộ nỗi tức giận của họ đối với người Trung Hoa cũng như những người Malays thành thị trần tục, và đòi hỏi một nhà nước khắt khe dựa trên mô hình Hồi giáo thuần khiết ở các nước khác. Dĩ nhiên điều đó có thể gây ra sự chống đối mạnh mẽ từ những người Trung Hoa thiểu số, những người mà cuộc sống kinh tế của họ ràng buộc với Malaysia, nhưng không phải là người Hồi giáo và chẳng hề muốn sống dưới một chế độ như vậy.
Đạo Hồi ở Inđônêxia từ lâu được coi như một tôn giáo chỉ tồn tại trên bề mặt. Nó đến với quốc đảo rộng lớn này tương đối muộn, và chỉ tựa trên đỉnh chóp của nền văn hóa tinh thần vẫn còn thấm nhuần sâu sắc những ảnh hưởng của Ấn giáo và Phật giáo, mà trên hết là do khuynh hướng hướng đến thuyết thông linh và tự nhiên thần giáo của người bản xứ. Khía cạnh Mật tông Sufi của Hồi giáo hết sức thích hợp với tính khí của người Inđônêxia, cho nên nó giành được sự ủng hộ trọn vẹn nhất. Tuy vậy, ở đây một đảng Hồi giáo và một phong trào Hồi giáo nghiêm ngặt cũng giành được sự ủng hộ rộng rãi.
Ở Tây Âu, dân số Hồi giáo tăng lên thấy rõ từ sau Chiến tranh Thế giới thứ II qua các đợt tị nạn. Người Thổ Nhĩ Kỳ làm việc tại các nhà máy ở nước Đức, người Pakistan định cư ở nước Anh, và người Angiêri di cư đến nước Pháp với một số lượng đông đảo. Điều đó cùng với sự hiện diện ngày càng nhiều người trong lĩnh vực ngoại giao và kinh doanh từ các nước Hồi giáo đã làm mọc lên những thánh đường và trung tâm Hồi giáo khắp nơi ở châu Âu, cho dù những người Hồi giáo ở đây chỉ là những nhóm thiểu số.
Ở Bắc Mỹ và Nam Mỹ, tình hình cũng tương tự. Trong khi những người tị nạn Hồi giáo còn ít, những quan hệ ngoại giao và thương mại giữa các nước châu Mỹ với các đối tác Hồi giáo đã mang những người Hồi giáo đến các thành phố lớn của Tây bán cầu, và những nhà từ thiện Hồi giáo đã xây dựng nên những trung tâm đạo Hồi ở Washington, Los Angeles, New York và nhiều nơi khác.
Cũng cần phải nhắc đến những người “Hồi giáo đen”, một phong trào của những người Mỹ da đen, thoạt đầu theo chủ trương ly khai cực đoan, nhưng đang tiếp cận ngày càng chặt chẽ hơn với tín ngưỡng và nghi lễ Hồi giáo chuẩn mực. Vốn lấy tên là phong trào Quốc gia Hồi giáo, phong trào này ngày nay là Hội truyền giáo Hồi giáo Mỹ quốc và mở cho cả người da trắng cũng như da đen.

( Còn tiếp theo–Phần 5 đến giữa trang 50–Nguyễn Sinh)


January 2010
M T W T F S S
December 2009February 2010
1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30 31