Skip navigation.

Nguhuart

Thiết kế định dạng thương hiệu-Hoạch định chiến lược & tổ chức sự kiện truyền thông

April 2008

( Monthly archive )

CÁC HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ NGÀNH QUẢNG CÁO



1-QUẢNG CÁO TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

Như bạn đã biết, nền kinh tế thị trường tại Việt Nam khởi sắc từ đầu thập niên 90. Khi có nền kinh tế thị trường tức là có cạnh tranh. Có cạnh tranh thì việc phải quảng cáo và tiếp thị là điều bắt buộc.

Tổng chi phí cho quảng cáo tại Việt Nam tăng nhanh trong những năm vừa qua với tốc độ trên dưới 25% mỗi năm. Trong năm 2005, doanh số quảng cáo báo, đài và tivi là khoảng 320 triệu USD (theo TNS Việt Nam). Nếu tính cả các loại quảng cáo ngoài trời sẽ đạt trên dưới 400 triệu USD. Tổng chi phí cho ngành truyền thông tiếp thị tại Việt Nam – bao gồm cả quảng cáo, khuyến mãi, quan hệ công chúng, tiếp thị trực tiếp,... - hiện đã vượt con số 1 tỷ USD.

Có lẽ các bạn cũng biết rằng hơn 80% ngân sách quảng cáo tại Việt Nam hiện nay đang được thực hiện bởi khoảng 30 công ty quảng cáo đa quốc gia. Phần còn lại được chia cho khoảng hơn 3.000 công ty quảng cáo Việt Nam (Theo số liệu của Hiệp hội QC Việt Nam).

Lãnh đạo của các doanh nghiệp làm quảng cáo và cả lãnh đạo của Hiệp Hội Quảng Cáo Việt Nam đều bức xúc tìm cách thay đổi tỷ lệ trên, nhưng cho tới nay vẫn chưa có được một giải pháp khả thi.

Thông thường bất cứ công ty hàng tiêu dùng đa quốc gia nào khi thâm nhập vào thị trường Việt Nam đều có các công ty quảng cáo đa quốc gia đi kèm, thường được gọi là Đại lý quảng cáo song hành - Aligned advertising agency. Mặt khác, kể từ ngày luật doanh nghiệp tư nhân đi vào hiệu lực năm 1995, đến nay nền kinh tế thị trường tại Việt Nam mới phát triển được hơn 11 năm. Do đó, các doanh nghiệp quảng cáo của Việt Nam đều hoạt động một cách tự phát, không đủ tầm về năng lực lẫn tiềm lực để cạnh tranh với các hãng quảng cáo đa quốc gia chuyên nghiệp và hùng mạnh.
Không chỉ ở Việt Nam, tình hình tương tự đang xảy ra ở tất cả các nước tại Châu Á.

Vào thời điểm khởi đầu của ngành quảng cáo ở Việt Nam, quảng cáo ngoài trời là loại hình đầu tiên được thực hiện và đã phát triển rất nhanh chóng. Do nhu cầu bắt buộc phải làm quảng cáo của các tập đoàn đa quốc gia, hàng loạt các bảng quảng cáo ngoài trời mọc lên khắp nơi. Chính điều này tạo nên hiện tượng loạn bảng quảng cáo một thời, và sau đó đã bị chính quyền các địa phương chấn chỉnh. Cùng với quảng cáo ngoài trời, các loại hình quảng cáo khác như báo, đài phát thanh và quảng cáo truyền hình cũng phát triển rất nhanh chóng.

Các doanh nghiệp làm quảng cáo Việt Nam rất nhanh chóng nắm bắt được các kỹ thuật, công cụ, máy móc tạo mẫu chế bản. Chẳng bao lâu, chúng ta đã có thể dễ dàng tạo ra những mẫu quảng cáo đẹp và bắt mắt.

Hiện nay, một số hãng quảng cáo nước ngoài tại Việt Nam hoạt động rất yếu kém và không hiệu quả. Do bế tắc về ý tưởng, họ thường nhờ công ty quảng cáo Việt Nam nghĩ giúp và thực hiện mẫu quảng cáo cho khách hàng của họ. Khi mẫu quảng cáo được duyệt, đương nhiên là công ty QC nước ngoài được hưởng phần lớn lợi nhuận. Các công ty quảng cáo Việt Nam - là nhà cung ứng dịch vụ thực sự - thì chỉ được hưởng số lẻ của lợi nhuận thu được.

Cho tới nay, giá thực hiện một mẫu quảng cáo báo, do các công ty quảng cáo Việt Nam thực hiện, thường nằm ở mức khoảng 5 triệu đồng, trong khi tại các hãng quảng cáo đa quốc gia, giá trung bình cho một ý tưởng quảng cáo có định hướng chiến lược sẽ vào khoảng từ 1500 đến 3000 USD.

Vậy đâu là sự khác biệt giữa chất lượng dịch vụ của một công ty quảng cáo đa quốc gia và của một công ty quảng cáo của Việt Nam?

Đâu là sự khác biệt giữa một ý tưởng quảng cáo 5 triệu đồng (khoảng 300USD) của công ty QC Việt Nam và một ý tưởng quảng cáo 50 triệu đồng (khoảng hơn 3,000USD) của một công ty quảng cáo đa quốc gia?

Sự khác biệt về giá cả thực hiện mẫu quảng cáo không phải vì mẫu quảng cáo đẹp hay xấu, độc đáo hay tầm thường, mà nằm ở chỗ hiệu quả của quảng cáo - mẫu quảng cáo làm được những gì cho doanh nghiệp và cho thương hiệu được quảng cáo.
Hầu hết các công ty QC Việt Nam đều được hình thành bắt đầu từ một phòng thiết kế tạo mẫu nhỏ. Chỉ cần vài ba cái máy tính, một căn phòng và vài người là đã có thể thành lập một công ty quảng cáo. Do vậy, những công ty QC Việt Nam thường chỉ tiếp cận được các khách hàng là doanh nghiệp Việt Nam, hoặc trở thành nhà cung ứng DVQC cho các công ty liên doanh thông qua những mối quan hệ cá nhân.

Có một bức tường vô hình mà các công ty quảng cáo Việt Nam khó vượt qua được – đó chính là cách nghĩ và cách làm theo kiểu dựa trên các quan hệ cá nhân, qui mô nhỏ và hoàn toàn không theo các qui trình chuyên nghiệp.

Ở hầu hết các công ty quảng cáo của Việt Nam, dựa trên đơn đặt hàng của bạn, thường các nhân viên thiết kế sẽ chúi đầu vào tìm trong thư viện ảnh lưu trữ một hình nào đó hay hay, có vẻ phù hợp rồi gắn sản phẩm của bạn vào đấy. Nếu mẫu thiết kế đó đẹp đẽ, chỉn chu thì bạn có thể phải trả đến vài triệu đồng cho công thiết kế tạo mẫu.

Tại công ty quảng cáo đa quốc gia, những ý tưởng sáng tạo luôn là kết quả của cả một qui trình làm việc chuyên nghiệp dựa trên những phân tích, nghiên cứu và xử lý thông tin rất khoa học, mà đôi khi rất-rất tốn kém, nhằm bảo đảm tạo ra được những quảng cáo mang lại hiệu quả bán hàng thực sự, chứ không chỉ đơn giản là các mẫu quảng cáo đẹp.

Sự khác biệt lớn giữa một mẫu quảng cáo đẹp và một mẫu quảng cáo hiệu quả chính là qui trình sáng tạo – tức cách thức áp dụng để sáng tạo ra mẫu quảng cáo.
Một mẫu quảng cáo hiệu quả được thực hiện theo một qui trình chuyên nghiệp và phức tạp hơn rất nhiều. Bắt đầu từ nghiên cứu phân tích các số liệu về thị trường, người tiêu dùng, nhóm khách hàng mục tiêu, các nhu cầu tiềm ẩn của khách hàng, phân tích đối thủ cạnh tranh, phân tích điểm mạnh yếu của sản phẩm, v.v…, công ty quảng cáo phải vạch ra được định hướng chiến lược nhằm đáp ứng các yêu cầu mà chương trình quảng cáo cần đạt được. Tất cả các bước thực hiện đều có những tiêu chí, những chỉ tiêu rất cụ thể và rõ ràng. Việc chọn lọc ý tưởng được thực hiện qua nghiên cứu thị trường và lấy ý kiến của người tiêu dùng (tức nhóm khách hàng mục tiêu). Sau khi chọn được mẫu quảng cáo, công đoạn thực hiện mẫu quảng cáo cũng phải chuyên nghiệp. Việc chụp hình hay quay phim, nếu có, cũng phải được các chuyên gia thực hiện (Có những mẫu quảng cáo mà chỉ riêng chi phí thuê người mẫu và quay phim chụp ảnh đã lên tới hàng chục ngàn USD). Người thực hiện mẫu quảng cáo phải tạo được những lý do thuyết phục tác động đến người xem quảng cáo để mang lại hiệu quả bán hàng.

Điểm yếu của các công ty quảng cáo Việt Nam trong việc tạo ra các quảng cáo giá trị cao là thiếu những người làm quảng cáo chuyên nghiệp và thiếu các qui trình chuyên nghiệp.

Hiện chỉ có một số rất ít công ty quảng cáo có được những chuyên viên quảng cáo giỏi. Đa số họ là nhân viên cũ của những công ty, những tập đoàn quảng cáo đa quốc gia, nay đã nghỉ việc và ra mở công ty riêng. Trong chừng mực nào đó, họ có được những kỹ năng của một người làm quảng cáo chuyên nghiệp. Tuy nhiên, họ không thể bù đắp được vào lỗ hổng lớn mà các công ty quảng cáo của Việt Nam luôn thiếu: Một “Hệ thống Quản lý” chuẩn mực với các qui trình làm quảng cáo chuyên nghiệp.

Lối thoát hẹp cho ngành quảng cáo Việt Nam hiện nay chính là sự liên kết và hợp tác với các tập đoàn quảng cáo nước ngoài, thuê mướn những nhân viên quảng cáo giỏi người nước ngoài vào làm trong công ty, tìm cách xây dựng hệ thống quản lý và áp dụng các phương pháp quản lý, các qui trình làm quảng cáo chuyên nghiệp.
Theo xu hướng hội nhập và phát triển nhanh chóng của nền kinh tế Việt Nam, bất cứ một ai có tâm huyết với ngành quảng cáo và mong muốn vượt lên phía trước đều có cơ hội rất lớn.

Tất cả những thông tin, những kiến thức cần thiết để tạo nên, phát triển và điều hành một công ty quảng cáo chuyên nghiệp đều sẵn có trong sách vở. Bạn có thể tìm thấy rất nhiều sách có giá trị về ngành quảng cáo tiếp thị tại cửa hàng sách Mbook – địa chỉ 490/11 Nguyễn Đình Chiểu, góc đường Vườn Chuối (Website www.mbookvn.com), bạn cũng có thể đặt mua bằng credit card qua www.amazon.com hay www.b&n.com, hoặc tìm trên internet - kênh thông tin chung của thế giới.

Điều cản trở lớn nhất cho các doanh nghiệp Quảng Cáo Việt Nam chính là tầm nhìn hạn hẹp, không dám nghĩ, không dám làm và không có một khát vọng đủ lớn.


2- ĐỊNH NGHĨA LẠI QUẢNG CÁO

Vào thời kỳ quảng cáo bắt đầu nở rộ vào giữa thế kỷ XIX, quảng cáo được thực hiện chủ yếu qua những bảng hiệu ngoài trời, trên những phương tiện giao thông, qua các tờ in và qua các tạp chí và báo.

Do tạo được hiệu quả bán hàng ở mức độ cao và rộng khắp, các dạng quảng cáo qua báo và tạp chí trở nên phát triển nhanh chóng, mang lại lợi nhuận rất lớn cho các chủ báo. Số lượng và lọai hình báo chí tăng lên nhanh như nấm mọc sau cơn mưa.
Các công ty quảng cáo vào thời kỳ này hoạt động vớ tư cách là các đại lý bán chỗ trống trên trang báo cho những ai cần đăng quảng cáo. Do vậy các công ty này được gọi là Advertising Agency – tức Đại lý Quảng cáo – là từ ngữ mà cho tới nay vẫn được dùng trong ngành quảng cáo.

Công ty quảng cáo tạo thu nhập từ số tiền huê hồng do các báo trích lại. Do áp lực cạnh tranh, các công ty quảng cáo phải nỗ lực tạo mọi điều kiện hỗ trợ Nhà quảng cáo - tức người bỏ tiền ra mua chỗ quảng cáo. Các công ty quảng cáo cạnh tranh bằng cách giúp Nhà quảng cáo thực hiện các mẫu quảng cáo sao cho thật ấn tượng và mang lại hiệu quả bán hàng từ các mẫu quảng cáo.

Theo thời gian, các nhà quảng cáo nhận ra rằng vấn đề không chỉ nằm ở việc quảng cáo trên báo nào, mà lại phụ thuộc rất nhiều vào nội dung và kỹ thuật quảng cáo, tức là các hình ảnh và thông điệp được thể hiện trong mẫu quảng cáo. Do vậy, những đại lý quảng cáo nào có khả năng làm được các mẫu quảng cáo thật độc đáo, tạo được ấn tượng, giúp bán được nhiều hàng hoá thì sẽ có được nhiều khách hàng.

Cũng vào thời kỳ đầu này, thu nhập của các đại lý quảng cáo sẽ được tính bằng phần trăm trên tổng chi phí mua chỗ quảng cáo. Để tránh xảy ra tình trạng giảm giá, cạnh tranh không lành mạnh, Hiệp Hội Quảng Cáo của Mỹ đã thống nhất đưa ra mức huê hồng dành cho các công ty quảng cáo là 17,65% (thường gọi là commission fee) trên ngân sách quảng cáo báo và khoảng 20% (được gọi là mark-up) trên các chi phí để sản xuất ra mẫu quảng cáo.

Theo thời gian, do sự phát triển đa dạng của các kênh truyền thông cùng với mức độ chuyên môn hoá trở nên rất cao, không thể gói gọn các hoạt động quảng cáo trong thể loại in ấn (tức báo và tạp chí). Các loại hình quảng cáo ngày nay trải rộng từ quảng cáo in ấn (print ads) sang quảng cáo ngoài trời (outdoor ads), từ quảng cáo truyền hình (TVCs – tivi commercials) tới quảng cáo trực tuyến trên internet (web-banners), tới các dạng quảng cáo tại điểm bán (POSM- point of sales materials hay còn gọi là POP- point of purchases) hoặc thông qua dạng tài trợ cho những chương trình giải trí hoặc nhiều dạng quảng cáo khác.

Quảng cáo (Advertising) ngày nay phải được hiểu là Truyền Thông (Communication). Nói là “quảng cáo” những chúng ta cần phải hiểu ở một tầm rộng hơn, không chỉ giới hạn ở các loại hình quảng cáo báo, đài hay tivi. Một chương trình quảng cáo ngày nay chính là cả một chương trình truyền thông tiếp thị tích hợp (IMC – Integrated Marketing Communication). Chúng ta sẽ cùng xem xét kỹ hơn về IMC ở những phần sau của tập sách.


3- CÁC LOẠI CÔNG TY THỰC HIỆN QUẢNG CÁO

Trên thực tế, hiện nay có thể phân các công ty thực hiện công việc quảng cáo tại Việt Nam ra thành 3 nhóm, theo các đặc tính và chức năng riêng:

Nhóm 1: Nhà Quảng Cáo
Nhóm 2: Các công ty cung ứng Dịch Vụ Quảng Cáo
Nhóm 3: Các công ty Tư Vấn Quảng Cáo


3.1- NHÀ QUẢNG CÁO - Advertiser

Nhà quảng cáo chính là người có nhu cầu và bỏ tiền ra để thực hiện việc quảng cáo cho lợi ích của chính họ. Nhà quảng cáo có thể là:
+ Các công ty Sản xuất và Kinh doanh
+ Các Đại lý Phân phối sản phẩm
+ Các Tổ chức cung cấp dịch vụ Y tế, Giáo dục, Luật,...
+ Các Tổ chức xã hội, các đoàn thể, đảng phái, tôn giáo
+ Các cơ quan chính quyền, đoàn thể, các địa phương
+ Các nhân vật nổi tiếng


3.2- CÁC CÔNG TY CUNG ỨNG DỊCH VỤ QUẢNG CÁO

(Advertising Service Supplier)
Đây là nhóm công ty cung cấp các dịch vụ rất cụ thể trong những mảng công việc quảng cáo và tiếp thị. Đặc điểm của loại hình dịch vụ này là Nhà Quảng Cáo dễ dàng xem xét và đánh giá chất lượng dịch vụ ngay sau khi dịch vụ được thực hiện (chất lượng một mẫu thiết kế, một poster, một mẫu phim quảng cáo,…). Do vậy rất thuận tiện cho Nhà Quảng Cáo trong việc chọn Nhà cung ứng dịch vụ cũng như ra quyết định chấp nhận thanh toán.

Các công ty ở dạng này bao gồm:

a/ Công ty Thiết kế Tạo mẫu và In ấn
Là các công ty ứng dụng mỹ thuật vào quảng cáo tiếp thị. Do nhu cầu rất lớn của thị trường nên loại hình công ty này chiếm đa số trong các công ty cung cấp dịch vụ QC
Các dịch vụ cụ thể của công ty Thiết kế Tạo mẫu và In ấn:
- Thiết kế bao bì, nhãn hiệu, Logo,
- Thực hiện các ấn phẩm QC
- Thực hiện một số QC báo
- Cung cấp dịch vụ in ấn
- Thiết kế, thực hiện các vật dụng hỗ trợ bán hàng (POSM – Point of Sales Material)

b/ Công ty cung cấp dịch vụ quảng cáo ngoài trời
Là các công ty chuyên cung cấp dịch vụ QC qua các Pa-nô QC, bảng hiệu, hộp đèn, QC trên xe bus, tại trạm xe bus, băng-rôn, banner, …
Loại hình QC này xuất hiện tại VN rất sớm, mang lại siêu lợi nhuận vào thời kỳ đầu. Hiện nay do sự can thiệp của nhà nước về quy hoạch và cảnh quan đô thị nên có rất ít các bảng quảng cáo mới ra đời.

c/ Công ty làm phim QC và các dịch vụ hậu kỳ
Kể từ khi Tivi ra đời, phim quảng cáo đã trở thành một bộ phận không thể thiếu được trong các chương trình truyền hình.
Với đà phát triển của kỹ thuật và chi phí rất lớn của nhà quảng cáo, ngành làm phim quảng cáo ngày nay đã trở thành một ngành mang lại lợi nhuận cao. Nhiều công ty sẵn sàng đầu tư hàng triệu USD vào các dàn máy làm phim chuyên dụng để giành lấy các hợp đồng làm những bộ phim QC trị giá cả trăm ngàn, hay hàng triệu USD
Chất lượng của phim QC phụ thuộc nhiều vào các thiết bị và cả trình độ chuyên môn của người làm phim (Tức nhà sản xuất, đạo diễn, người quay film, dựng phim, diễn viên, chất lượng hình ảnh – Betacam, HD hay film nhựa 35mm,…)

d/ Các Phòng chụp ảnh chuyên nghiệp
Những studio chụp ảnh chuyên nghiệp được trang bị các máy móc chuyên dụng, do các nhiếp ảnh gia có tay nghề cao đảm nhiệm.
Ngoài việc chụp ảnh chất lượng cao (giá chụp một bức ảnh chất lượng cao có thể lên đến cả ngàn Đôla Mỹ), nhiều studio ảnh còn thực hiện các dịch vụ chỉnh sửa màu sắc, tạo kỹ xảo hình ảnh hay thực hiện ghép ảnh bằng các hệ thống máy tính chuyên dụng.
Với sự phát triển vượt bậc của công nghệ máy tính, ngày nay ngành nhiếp ảnh đã thay đổi tận gốc và tạo ra được những bức ảnh ngoài sức tưởng tượng của người bình thường.

e/ Công ty sản xuất các vật phẩm quảng cáo
Do tình trạng quảng cáo quá tải trên các kênh thông tin truyền thống nên việc dùng vật phẩm để quảng cáo đang là một xu hướng lớn của thị trường
Vật phẩm quảng cáo là sản phẩm không thể thiếu được trong các hoạt động quảng cáo tiếp thị. Từ cái xâu chìa khóa, cái nón, cặp da, áo mưa,.. và vô vàn các vật dụng khác được gắn logo hay thông điệp của nhà quảng cáo để tạo nên những kênh truyền thông mới có hiệu quả cao.

f/ Công ty Tiếp Thị Trực Tiếp
Các công ty cung cấp dịch vụ Direct Marketing tiếp cận trực tiếp với người tiêu dùng để gởi tới họ các thông điệp tiếp thị cần thiết như:
- Direct mail
- Telemarketing
- E-Marketing
- Door-to-door marketing

g/ Công ty cung cấp các dịch vụ nghiên cứu thị trường
Các số liệu về thị trường là cơ sở chính để phân tích và từ đó đưa ra các quyết định kinh doanh cũng như quảng cáo tiếp thị.
Tại VN hiện nay có rất ít các công ty Nghiên cứu Thị trường chuyên nghiệp. Phần lớn các công ty NCTT chỉ thực hiện được một số dịch vụ đơn giản và ở diện hẹp. Giống như ngành QC, đây cũng là một ngành rất mới. Các dịch vụ chính của NCTT bao gồm: Nghiên cứu tâm lý mua hàng, thói quen mua hàng - Tìm hiểu những mong muốn tiềm ẩn của người tiêu dùng về một loại sản phẩm - Thu thập và cung cấp các số liệu về thị trường, thị phần, mức độ nhận biết, đối thủ cạnh tranh,...

h/ Chủ của các Phương tiện truyền thông
Các chủ báo đài là những đối tác hết sức quan trọng của Nhà Quảng Cáo. Không chỉ là các phương tiện cung cấp tin tức mới, các kênh truyền thông này giúp giới thiệu sản phẩm hay dịch vụ đến với người tiêu dùng một các nhanh nhất và hiệu quả nhất.
Tại Việt Nam, tất cả các phương tiện truyền thông này đều nằm dứơi sự quản lý của nhà nước nên ảnh hưởng của báo, đài, Tivi đối với nhà quảng cáo là rất lớn .

i/ Các loại công ty khác
Tất cả các công ty khác những công ty kể trên nhưng không thường xuyên tham gia thực hiện các dịch vụ quảng cáo như: Cty xây dựng (thiết kế các loại quầy kệ, gian hàng hội chợ), Cty Tổ chức các dịch vụ hậu mãi, Cty Công ty vận tải, . . . .


3.3 - CÁC CÔNG TY TƯ VẤN QUẢNG CÁO
(Advertising Services Agency)

Điểm khác biệt của dịch vụ tư vấn quảng cáo so với các dịch vụ quảng cáo cụ thể khác nằm ở chỗ: thường không thể thấy ngay chất lượng của các dịch vụ tư vấn, mà chỉ thấy được sau khi đã bỏ tiền ra thực hiện chương trình quảng cáo tiếp thị.

Để đánh giá được hiệu quả của một dịch vụ tư vấn, Nhà quảng cáo phải có kiến thức và kinh nghiệm cần thiết. Ở phía ngược lại, các công ty tư vấn quảng cáo cũng phải có đủ kỹ năng và lý lẽ để thuyết phục Nhà quảng cáo.

Thông thường, việc tư vấn sẽ giúp Nhà quảng cáo có được tầm nhìn rộng và rõ ràng về thị trường, về ngành hàng và người tiêu dùng. Qua đó, Nhà quảng cáo có thể đưa ra được những chiến lược hoặc các kế hoạch nhằm tạo ra những thế mạnh trong kinh doanh, mở rộng thị phần, mở rộng nhóm khách hàng mục tiêu hoặc đón đầu những xu hướng tiêu dùng của thị trường.

Các công ty cung ứng dịch vụ quảng cáo sẽ thực hiện các dịch vụ cụ thể theo yêu cầu của Nhà quảng cáo – nói gì làm nấy, chỉ đâu đánh đó. Còn các công ty tư vấn quảng cáo sẽ phải là người vạch ra các định hướng đồng thời chỉ cho nhà quảng cáo thấy phải làm gì và làm như thế nào vào từng thời điểm.

Dịch vụ tư vấn quảng cáo tiếp thị là công việc sáng tạo ra, rồøi bán các ý tưởng và các giải pháp truyền thông tiếp thị. Đây chính là loại công việc đòi hỏi phải có kiến thức thực tế, và nhiều kỹ năng chuyên môn, nhưng cũng thực sự mang lại lợi nhuận ở mức cao nhất.

Có 4 loại công ty khác nhau trong nhóm công ty cung cấp các dịch vụ về tư vấn:

a/ Công ty quảng cáo trọn gói (Full Service Advertising Agency)Đây là dạng công ty tư vấn thực hiện đầy đủ tất cả các dịch vụ quảng cáo.
Điểm khác biệt đối với các nhà cung ứng dịch vụ quảng cáo ở chỗ: các công ty quảng cáo trọn gói có thể tư vấn cho nhà quảng cáo cách xử dụng ngân sách truyền thông hiệu quả nhất. Bắt đầu từ việc tư vấn về chiến lược phát triển thương hiệu, chiến lược sáng tạo và chiến lược truyền thông, công ty quảng cáo trọn gói sẽ đại diện cho nhà quảng cáo thực hiện và giám sát trọn vẹn tất cả các khâu của hoạt động quảng cáo tiếp thị sao cho đạt hiệu quả cao nhất.

b/ Công ty dịch vụ truyền thông (Media Agency)
Đây là các công ty chuyên cung cấp dịch vụ quảng cáo trên các phương tiện truyền thông đại chúng như Tivi, báo, tạp chí, Radio, và các loại hình quảng cáo ngoài trời khác.
Đại lý Truyền thông sẽ cung cấp cho Nhà quảng cáo các dịch vụ như: Lập chiến lược và kế hoạch truyền thông, đại diện cho nhà quảng cáo để thương lượng mua chỗ trên báo, đài truyền thanh, truyền hình, theo dõi quá trình quảng cáo và phân tích, đánh giá các thông tin, dữ liệu thu được sau mỗi đợt quảng cáo. Ngoài ra, Đại lý truyền thông còn phải tư vấn cho nhà quảng cáo triển khai, sử dụng các kênh truyền thông mới.

c/ Công ty dịch vụ Quan Hệ Cộng Đồng (Public Relation Agency)
Quan hệ cộng đồng là dạng hoạt động ngày càng quan trọng trong quá trình quảng cáo tiếp thị. Các chương trình P.R, các sự kiện tiếp thị sáng tạo mang lại hiệu quả vô cùng lớn, nhiều khi có thể thay đổi hoàn toàn cục diện cạnh tranh giữa các nhãn hiệu.
P.R còn được xem là dạng hoạt động tiếp thị hiệu quả và ít tốn kém nhất hiện nay.
Tại Việt Nam hiện nay còn ít các công ty thực sự có khả năng và hiểu biết để thực hiện các chương trình P.R. hiệu quả.

d/ Công ty dịch vụ Tư Vấn Tiếp Thị (Marketing Consultant Services)Đây là loại hình dịch vụ rất mới tại VN. Các công ty loại này chuyên tư vấn cho khách hàng hướng chiến lược trong các hoạt động kinh doanh tiếp thị, tư vấn các chiêu thức bán hàng, khuyến mãi, đào tạo nhân sự, cơ cấu tổ chức các bộ phận tiếp thị, quảng cáo, bán hàng,…
Các công ty Tư vấn Tiếp thị thường rất nhỏ gọn, chỉ có một vài chuyên viên cho từng loại hình hoạt động QC tiếp thị.

Hiện nay các công ty quảng cáo Việt Nam thường nhận làm tất tật mọi thứ, đáp ứng cho mọi loại nhu cầu của khách hàng, phần nào làm được thì làm, nếu không làm được thì chạy đi tìm người làm giúp. Do vậy, hầu hết các dịch vụ quảng cáo tại Việt Nam hiện nay đều không mang tính chuyên nghiệp, không đạt được mức độ hiệu quả cần thiết và chỉ có khả năng hoạt động ở mức công ty cung ứng dịch vụ QC, khó phát triển lên để trở thành các công ty tư vấn quảng cáo.


Lập kế hoạch chương trình PR



Lập kế họach chương trình PR là rất cần thiết, vì:




- Cần có mục tiêu để đánh giá;

- Có thể tính toán thời gian và chi phí;

- Cho phép chọn ưu tiên và lịch trình thực hiện các hoạt động;

- Cho phép quyết định tính khả thi của việc tiến hành các mục tiêu đã đề ra.



Bước 1- Đánh giá tình hình

- Nội dung đánh giá: Chúng ta đang ở đâu trong tâm trí của công chúng? Công chúng hiểu chưa chính xác ở những vấn đề nào?

- Phương pháp đánh giá: thăm dò ý kiến, thái độ; xem xét các báo cáo; đánh giá môi trường nội bộ; xem xét các yếu tố bên ngoài.



Bước 2- Xác định các mục tiêu

- Thay đổi hình ảnh;

- Thu hút nguồn nhân lực tốt;

- Công chúng biết và hiểu rõ công ty;

- Công bố thành tích;

- Công bố phạm vi thị trường mới;

- Cải thiện các đối nghịch, hiểu lầm;

- Gia tăng sức mạnh của tổ chức;

- Hướng dẫn tiêu dùng;

- Thiết lập một đặc điểm mới trong văn hóa tổ chức;

- Để công chúng biết về hoạt động xã hội của lãnh đạo công ty;

- Để ủng hộ một chương trình trao học bổng, tài trợ,…;

- Để công chúng biết đến hoạt động nghiên cứu của tổ chức;

- Để các chính trị gia, quan chức chính phủ biết về hoạt động của tổ chức vì có thể bị ảnh hưởng của các luật, qui định mới,…



Bước 3- Xác định các nhóm công chúng



- Sự cần thiết:

xác định được những nhóm công chúng liên quan;

thiết lập ưu tiên chi ngân sách;

chọn phương tiện truyền thông phù hợp;

chọn phương pháp truyền thông phù hợp;

chọn thông điệp phù hợp.


- 10 nhóm công chúng cơ bản:

Cộng đồng;

Nhân viên hiện tại;

Nhân viên tiềm năng;

Nhà đầu tư góp vốn;

Nhà cung cấp;

Nhà phân phối;

Giới truyền thông;

Các giới có thể ảnh hưởng đến dư luận;

Hiệp hội thương mại, đoàn thể;

Khách hàng, người tiêu dùng.


Có thể xem xét và chọn các phương tiện truyến thông phổ biến sau đây:

- Báo chí,

- Phát thanh,

- Truyền hình,

- Băng hình,

- Bài phát biểu,

- ấn phẩm,

- Thư từ,

- Tập san nội bộ,

- Văn hóa công ty,

- Triển lãm,

- Tài trợ,…



Bước 5- Hoạch định ngân sách



- Những ích lợi:

§ biết chi phí thực hiện một chương trình;

§ cho biết nên tiến hành các chương trình nào trước;

§ có thể lập kế hoạch chi tiết chi phí;

§ đặt định mức chi tiêu và kiểm soát;

§ đánh giá được việc sử dụng ngân sách.



- Các yếu tố chi phí:

§ Lao động;

§ Chi phí quản lý;

§ Nguyên vật liệu;

§ Công tác phí



Bước 6- Đánh giá kết quả



Phương pháp đánh giá:

- Bằng số lượng phản hồi;

- Bằng số liệu thống kê;

- Bằng nguồn tài liệu;

- Thăm dò dư luận;

- Sự gia tăng hiểu biết của công chúng;

- So với kết quả mong muốn.


Hoạch định một kế hoạch kinh doanh hiệu quả


Tài liệu này sẽ giúp bạn hoạch định một kế hoạch kinh doanh để chỉ đạo việc kinh doanh của bạn xuyên suốt các hoạt động từ giai đoạn khởi nghiệp đến giai đoạn phát triển, huy động vốn, hay bất cứ nỗ lực nào khác mà doanh nghiệp của bạn xúc tiến...

Download:
1Hoach dinh mot ke hoach kinh doanh hieu qua.doc


Quảng cáo sẽ phải là giao tiếp


Giá trị của thông điệp mà các doanh nghiệp đưa ra trong cách thức quảng cáo thông thường đã giảm bớt đi nhiều. Thậm chí, không ít người còn cho rằng, thông điệp đó là vô giá trị.


các sản phẩm đó. Tất cả những thông tin này giờ đây không còn là bí mật nữa vì đều có sẵn ở từ nhiều nguồn độc lập khác nhau.

Bởi thế, giá trị của thông điệp mà nhà sản xuất đưa ra trong cách thức quảng cáo thông thường đã giảm bớt đi nhiều. Thậm chí, không ít người còn cho rằng, thông điệp đó là vô giá trị.


Câu chuyện của Dove

Năm 2002, thương hiệu Dove của hãng Unilever bắt đầu một cuộc thử nghiệm quan trọng. Thông qua việc khởi động “Chiến dịch vì vẻ đẹp thực sự”, Dove đã thách thức quan điểm đã ăn sâu của ngành công nghiệp mỹ phẩm bằng cách đặt ra câu hỏi: Liệu tiêu chuẩn cho sắc đẹp của phụ nữ mà ngành công nghiệp mỹ phẩm đã đặt ra là một tiêu chuẩn có hại cho những khách hàng mà ngành công nghiệp này phục vụ?

Bằng cách đưa ra câu hỏi này với người tiêu dùng và mời họ tham gia vào các cuộc đối thoại, Dove thậm chí còn thách thức cả một quan điểm đã ăn sâu về hoạt động quảng cáo, rằng một công ty phải thống trị và kiểm soát thông điệp về thương hiệu của mình trên thị trường.

Bằng cách này, Dove đã nhận được sự hợp tác từ phía người tiêu dùng. Thay vì bị động tiếp nhận thông điệp của Dove, thị trường đã cùng tham gia vào việc phát triển các cuộc đối thoại này. Trong một ngành công nghiệp vốn nhấn mạnh đến tính thống lĩnh và kiểm soát của thông điệp quảng cáo, tại sao một thương hiệu sản phẩm làm đẹp lại đưa ra một quan điểm thách thức ý tưởng đã ăn sâu về cái đẹp và tạo ra một cuộc đối thoại mở và trực tiếp với người tiêu dùng về chủ đề này?


Hiệu quả quảng cáo ngày càng giảm

Dove và một số lượng ngày càng tăng các thương hiệu đã phát hiện ra rằng, loại hình tiếp thị được coi là hoàn hảo trong thế kỷ 20 đang trở nên kém hiệu quả hơn trong thế kỷ 21 này. Một bản báo cáo mới đây của McKinsey dự báo rằng, đến năm 2010, quảng cáo kiểu truyền thống trên truyền hình sẽ chỉ hiệu quả bằng 1/3 so với thời điểm năm 1990. Ngoài ra, các loại hình quảng cáo truyền thông khác cũng sẽ không có được mức độ hiệu quả như trước đây.

Đó không phải là do có ít người xem quảng cáo hơn mà trên thực tế, loại hình quảng cáo tìm cách kiểm soát hành vi người tiêu dùng đã trở thành một thứ gì đó phiền toái với họ, trong khi môi trường truyền thông hiện nay đem đến cho họ những lựa chọn không giới hạn. Trong một điều tra được thực hiện vào năm 2006, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng, chỉ có 53% người tiêu dùng cho biết họ tin rằng quảng cáo là một cách tốt để biết thông tin về các sản phẩm mới. Tỷ lệ này đã giảm mạnh so với mức 78% vào năm 2002.

Một phần, đây là kết quả của sự chia nhỏ của thị trường quảng cáo giữa các loại hình quảng cáo khác nhau. Có thể thấy, số lượng nguồn nội dung truyền thông đã và đang mỗi ngày thêm đa dạng. Ban đầu là với đường dây cáp, rồi vệ tinh, rồi sau đó là Internet, lượng khán giả của mỗi nguồn thông tin quảng cáo mỗi ngày lại thu hẹp thêm do họ có thêm nhiều lựa chọn.

Nhưng chi phí để sản xuất và phát đi một chương trình quảng cáo vẫn duy trì ở mức tương đối. Do đó, nếu số lượng khán giả của mỗi chương trình giảm đi, các công ty quảng cáo sẽ yêu cầu được trả mức thù lao cao hơn tính trên mỗi đầu người xem quảng cáo.


Thay đổi trong hành vi người tiêu dùng

Đã xảy ra một sự thay đổi lớn trong mức độ “kiên nhẫn” của người tiêu dùng đối với quảng cáo. Và đây thực sự là một thử thách lớn đối với vai trò của quảng cáo.

Trong vòng 100 năm của kỷ nguyên công nghiệp đã qua, phần lớn hoặc tất cả những thông tin mà một người tiêu dùng có thể có được về một sản phẩm nào đó thường đến từ quảng cáo của công ty đó, hoặc đối thủ của chính công ty đó.

Sứ mệnh của người làm công việc quảng cáo là sáng tạo ra ý nghĩa. Việc họ phải làm là thổi vào quảng cáo của một sản phẩm bình thường những ý nghĩa về sự phiêu lưu, sự thành đạt hay cái đẹp. Bởi thế, quảng cáo thời đó thường là những thông điệp có tính chất thông báo, lôi kéo người tiêu dùng, và thậm chí là tạo cảm hứng cho họ. Đây thực sự là một cách giao tiếp một chiều và được cố định bởi cơ quan truyền thông truyền tải quảng cáo đó.

Là khách hàng, chúng ta khi đó hầu như không có khả năng chất vấn nội dung quảng cáo hoặc các công ty, hay thu thập thông tin từ các nguồn độc lập. Do đó, mức độ hiệu quả của quảng cáo một phần phụ thuộc vào mức độ tin tưởng mà chúng ta hình thành đối với một thương hiệu nào đó.

Tuy nhiên, trong khi phần lớn những người trưởng thành ngày nay đã bị làm cho thích nghi với cách quảng cáo này, cách thức này vẫn không phản ánh đúng sự thật lịch sử về hành vi của người tiêu dùng. Hàng nghìn năm trước khi việc giao tiếp được thực hiện qua các phương tiện hiện đại, con người đã chọn một thợ làm bánh hay một thợ rèn dựa trên những lời truyền khẩu về những khuyến nghị, danh tiếng và quan hệ xã hội.

Sự lựa chọn nhà cung cấp sản phẩm hay dịch vụ phản ánh tầng lớp xã hội, quan hệ láng giềng, những khuyến cáo hoặc các mối quan hệ cá nhân. Khi đó, sự lựa chọn của hoàng gia có thể được coi là một trong những dạng đầu tiên của quảng cáo trên phạm vi rộng vì nó như một lời khuyến nghị với cả xã hội. Và cũng chính danh tiếng của vị khách hàng lớn này cho phép sự khuyến nghị này có ảnh hưởng xa hơn nhiều so với những mối quan hệ cá nhân.

Ngày nay, khi một loạt những công nghệ cho giao tiếp mới phát triển trên Internet, chúng ta cũng không nên ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng, ảnh hưởng của xã hội đến hành vi mua sắm của chúng ta vẫn không hề mới mà trên thực tế, cũng cổ xưa như lịch sử của văn minh nhân loại vậy. Thị trường hiện nay sẽ ngày càng trở nên giống với thị trường trước khi diễn ra thời kỳ công nghiệp hóa, tuy có một số ngoại lệ lớn.

Ông cha của chúng ta trước thời công nghiệp hóa bị hạn chế bởi thời gian và không gian trong việc phát triển và truyền đi những quan điểm về một nhà cung cấp nào đó. Nhưng sau thời công nghiệp hóa, danh tiếng, các mối quan hệ và những lời khuyến cáo là những thứ mà chúng ta thể có bất kỳ lúc nào và ở bất cứ đâu, ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của chúng ta.

Sự dịch chuyển dựa trên công nghệ đưa chúng ta trở lại với hành vi thị trường giống như thời trước khi diễn ra công nghiệp hóa đã làm thay đổi căn bản cách chúng ta phản ứng với quảng cáo. Trước đây, quảng cáo từng là một dạng thông tin được mong chờ, một cách để người ta biết được điều mà họ chưa biết, ngày nay có một lượng thông tin khổng lồ nên quảng cáo đã trở thành điều phiền toái: là thông tin một chiều, khả nghi và luôn xuất hiện không đúng lúc.


Quảng cáo sẽ thay đổi

Điều này không có nghĩa là các phương thức quảng cáo một chiều kiểu truyền thống, như quảng cáo truyền hình, báo in, hay quảng cáo banner trên các trang web, không còn đóng vai trò quan trọng trong việc giao tiếp với khách hàng.

Trước khi phủ nhận hoàn toàn vai trò của quảng cáo, điều bạn nên nhớ là quảng cáo có thể thay đổi và sẽ thay đổi. Các công ty sẽ nhận ra rằng có một cuộc đối thoại đang diễn ra trên thị trường và họ nên tham gia vào, thay vì thống trị nó. Người tiêu dùng, các chuyên gia và các đối thủ cạnh tranh đều đang nói về công ty của bạn, sản phẩm của bạn và sản phẩm của các đối thủ.

Tham gia vào cuộc đối thoại đó đồng nghĩa với việc cung cấp thông tin, trả lời các câu hỏi và phản ứng lại những lo ngại thay vì chỉ phát đi những thông điệp một chiều. Tham gia vào cuộc đối thoại này cho phép một công ty sửa chữa những thông tin sai, cung cấp những thông tin sâu, phát triển danh tiếng và tạo ra mối quan hệ với những người có ảnh hưởng nhất tại một thị trường nhất định.

Một khi một công ty đã trở thành một phần của cuộc đối thoại, quảng cáo lại có thể có thể phục vụ cho một mục đích đầy ý nghĩa. Nó có thể thu hút sự chú ý đối với cuộc đối thoại và sự tham gia của công ty. Nó có thể khiến thị trường thay đổi. Nó có thể lại là một dạng thông tin có giá trị - thông tin về việc thị trường đang hoạt động ở đâu, khi nào và làm thế nào để tham gia vào đó.


Theo Business Week/VnEconomy


Quảng cáo trực tuyến Việt Nam: Tìm "cửa ngách" để đạt hiệu quả


Những "đại gia" sẵn sàng chi hàng trăm triệu đồng/tháng để quảng cáo thương hiệu ở những site đông nhất. Nhưng DN vừa và nhỏ vẫn có thể chào hàng trên Net với một kinh phí khiêm tốn nếu...biết cách.


Trong khi chờ... thương mại điện tử, gần 19 triệu người dùng Internet Việt Nam là con số không thể bỏ qua đối với khách hàng của quảng cáo trực tuyến.

Những "đại gia" sẵn sàng chi hàng trăm triệu đồng/tháng để quảng cáo thương hiệu ở những site đông nhất. Nhưng, doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn có thể chào hàng trên Net với một kinh phí khiêm tốn nếu ... biết cách.


Quảng cáo tương tác (Interactive Ad)

Khách hàng của Quảng cáo trực tuyến có thể tận dụng thế mạnh đặc trưng của Internet, quảng cáo tương tác (thường dùng kỹ thuật Flash) giúp người xem có thể tham gia chơi trò chơi ngay trên banner. Hiện nay Nokia Việt Nam và Sky Group đang triển khai một chiến dịch online marketing khá rầm rộ cho dòng sản phẩm XpressMusic với hàng chục ngàn người chơi.


Quảng cáo hướng đối tượng (Targeted Ad)

Tiến xa hơn một bước so với việc đặt quảng cáo ở những website đặc thù, Quảng cáo trực tuyến Việt Nam cần nghĩ tới các hình thức quảng cáo hướng đối tượng. Người ta vẫn thường cho rằng Internet là một môi trường truyền thông đại chúng, rộng khắp (mass media, N to N). Nhưng thực tế là sức mạnh lớn nhất của Internet lại nằm ở khả năng nhận biết đến từng cá nhân, và quảng cáo hướng đối tượng là những quảng cáo cung cấp đến đúng đối tượng khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp, dựa trên những thông tin cá nhân mà website có được về đối tượng (1 to 1).

Ví dụ, một mạng xã hội (social network) chắc chắn sẽ có được những thông tin tương đối chính xác về tuổi, giới tính, nghề nghiệp, nơi cư trú... của các thành viên tham gia trong mạng của mình. Với một sản phẩm cho nữ giới, quảng cáo có thể chỉ xuất hiện cho các thành viên nữ, như vậy chi phí giảm hơn, hiệu quả tốt hơn, người dùng nhận quảng cáo thấy hài lòng hơn vì được biết thêm những thông tin về sản phẩm mình cần. Ngược lại những người không được nhận quảng cáo cũng sẽ hài lòng hơn vì họ không phải xem những quảng cáo không dành cho mình.


Quảng cáo theo ngữ cảnh (Contextual Ad)

Hình thức quảng cáo này tương đối giống quảng cáo hướng đối tượng, nhưng nội dung quảng cáo xuất hiện không dựa vào thông tin của người dùng mà dựa vào nội dung trang web người dùng đang đọc. Ví dụ trang web bàn về một sản phẩm, một blog hoặc một bài tin tức về chủ đề phù hợp với doanh nghiệp cần quảng cáo. Adwords hay Adsense của Google, Yahoo... chính là các hình thức quảng cáo theo ngữ cảnh.


Phát triển các công cụ quản lý Quảng cáo trực tuyến

Hiện ở Việt Nam, một số công ty đang âm thầm phát triển các công cụ thiết lập mạng quản lý Quảng cáo trực tuyến hướng tới vai trò trung gian, thực hiện các Quảng cáo trực tuyến cho khách hàng trên nhiều website khác nhau. Trong năm 2008, các dịch vụ này sẽ được ra mắt, tạo sự chuẩn bị cho sự phát triển mạnh hơn cho Quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam.

Công cụ này sẽ giúp đại lý làm tốt chức năng báo cáo về hiệu quả của các Quảng cáo trực tuyến, về số lượng click chuột, tỉ lệ click chuột, chi tiết theo thời gian, kết hợp với các công cụ phân tích website (web analytics) và quản lý cách thức thể hiện quảng cáo (ngẫu nhiên, liên tục hay theo thứ tự), và quản lý đối tượng tiếp nhận quảng cáo (quảng cáo hướng đối tượng).


Theo dòng sự kiện

Để Quảng cáo trực tuyến có thể triển khai các hình thức quảng cáo mới và phát triển một cách bền vững thì một công cụ quản lý QCTT là rất cần thiết. Nó giúp các đại lý quản lý Quảng cáo trực tuyến một cách khoa học và hiệu quả hơn, đồng thời đem lại niềm tin tốt hơn cho các doanh nghiệp về hiệu quả thực tế của quảng cáo mà họ trả tiền.

Khách hàng của Quảng cáo trực tuyến nói:

"Công ty đã thực hiện Quảng cáo trực tuyến từ giữa năm 2007 và theo đánh giá của công ty, việc quảng cáo trên mạng đem lại hiệu quả tốt, cứ 10 người truy cập có đến 7 người sẽ trở thành khách hàng tiềm năng. Không chỉ đăng logo trên một số báo điện tử, công ty còn liên kết với một số website khác làm đại lý để tăng lượng khách hàng" - đại diện Công ty cổ phần công nghệ sạch (Lino JSC).

"Công ty chọn các báo điện tử có đông người truy cập như dantri, vnexpress, 24h, Tuổi trẻ, Thanh Niên. Ngoài ra công ty đã thực hiện quảng cáo trên Google, chi phí tính theo lượt truy cập. Gần như 100% chi phí quảng cáo của công ty dành cho Quảng cáo trực tuyến, trung bình hơn 100 triệu/tháng" - Phan Thanh Sơn, quản trị maytinhxachtay.com.


Theo Lao Động


Giá trị của từ “Link”


Chỉ số PageRank của một website không chỉ phụ thuộc vào số liên kết ngược (BackLink) tới website đó (số website mà trên đó có liên kết tới trang đang xét), mà còn dựa vào mức độ quan trọng của các liên kết ngược đó.


PageRankTM là một thương hiệu của Google, được phát triển ở Đại học Stanford bởi Larry Page (Page-Rank) và Sergey Brin - 2 người đồng sáng lập Google.


Google Logo

Chỉ số PageRank có giá trị từ 1 tới 10 (giống như thang điểm). Chỉ số PageRank của một website không chỉ phụ thuộc vào số liên kết ngược (BackLink) tới website đó (số website mà trên đó có liên kết tới trang đang xét), mà còn dựa vào mức độ quan trọng của các liên kết ngược đó.

Google PageRankNói một cách khác, chỉ số PageRank của một website là kết quả bầu chọn của tất cả các trang web khác trên toàn thế giới cho website đó về mức độ quan trọng của trang. Mỗi liên kết ngược là 1 phiếu bầu. Các phiếu bầu này có mức độ ảnh hưởng khác nhau, sự khác nhau đó phụ thuộc vào chất lượng (hay tính quan trọng) của mỗi trang đặt liên kết ngược. Website nào có chỉ số PageRank cao thì chứng tỏ đó là website chất lượng cao và quan trọng (High-quality, Important). Vì vậy, khi tìm kiếm, Google sẽ ưu tiên cho các site có PageRank cao. Tất nhiên khi tìm kiếm, không phải cứ website quan trọng nào cũng hiện ra ở trang đầu. Kết quả còn phụ thuộc vào việc bạn muốn tìm kiếm cái gì. Chính vì điều đó mà Google đã kết hợp PageRank với công nghệ tìm kiếm văn bản phức tạp để tìm ra và sắp xếp những trang có nội dung liên quan. Google kiểm tra số lần mà từ khóa xuất hiện trên trang và xem xét tất cả các khía cạnh khác về nội dung của trang (và cả nội dung của các trang liên kết tới nó) để xác định kết quả tìm kiếm tốt nhất cho người dùng.


Alexa, alexa, rank, thứ hạng

Chỉ số Alexa Rank đo lường mức độ phổ biến của website. Alexa.com thuộc quyền sở hữu của Amazon.com. Giá trị của Alexa Rank chạy từ 1 đến một số mà con số này là tổng số website hiện có trong cơ sở dữ liệu của Alexa (nếu website nào có giá trị Alexa Rank bằng 0, nghĩa là website đó chưa có trong cơ sở dữ liệu của Alexa).

Chỉ số Alexa Ranking xếp thứ hạng các website được truy cập thường xuyên, được thống kê dựa trên những người dùng cài đặt thanh công cụ Alexa Toolbar, một tiện ích giúp người dùng lướt web, nhất là người mới sử dụng, được dễ dàng và đa dạng hơn.

Khi vào một website, thanh công cụ Alexa này sẽ hiển thị thứ hạng Ranking của website đó, đồng thời liệt kê các website có nội dung và mức độ phổ biến tương đồng. Giá trị thứ hạng của Alexa được biểu thị giống như xếp thứ học kỳ của học sinh phổ thông, tức là giá trị càng thấp thì mức độ phổ biến càng cao. Khi có 1 người nào đó ghé thăm trang web, nó sẽ ghi nhận lần ghé thăm cho website tương ứng bằng cách cộng thêm 1 cho số lần webiste đó được xem (Alexa gọi đó là "reach"); nhiều lần ghé thăm một website trên cùng một địa chỉ IP trong ngày thì cũng chỉ được tính như 1 lần ghé thăm. Alexa cũng thống kê số trang con được người dùng xem (Alexa gọi là "page views"). Chỉ số thứ hạng Alexa được kết hợp từ 2 yếu tố trên là: số trang web người dùng xem (page views) và số người truy cập (reach). Việc kết hợp này là một ý tưởng rất sáng tạo, vì nó loại bỏ được khả năng tạo ra các truy vấn ảo bằng các chương trình tự động. Các số liệu "page piews" và "reach" sẽ được thống kê theo ngày và tính giá trị trung bình trong thời gian 3 tháng gần nhất, từ đó tính ra chỉ số Alexa. Các chỉ số này thường được cập nhật tự động để phản ánh xu hướng thay đổi theo chu kỳ 3 ngày một lần...


Theo Window Security/Quantrimang


Khi quảng cáo mâu thuẫn với nhãn hiệu


Đó là một sai lầm thường gặp của các nhà quảng cáo. Họ thường đặt quá nhiều kỳ vọng với các ý tưởng quảng cáo độc đáo mới nảy sinh và trói chặt nó vào các chiến lược và hình ảnh nhãn hiệu, không quan tâm tới việc nó có ăn khớp với nhau hay không.


Không thể phủ nhận một thực tế rằng sự bùng nổ của các hoạt động tiếp thị trên các phương tiện truyền thông đang thể hiện những kết quả theo tỷ lệ nghịch. Đây không chỉ là nhận định riêng của Steve McKee, chủ tịch hãng quảng cáo McKee Wallwork Cleveland Advertising chuyên về tư vấn quảng cáo cho các công ty vừa và nhỏ có ngân quỹ quảng cáo không nhiều, mà còn là nhận định của nhiều nhà phân tích tiếp thị khác.

Theo McKee, chi phí quảng cáo của các công ty đang ngày một phình to, chỉ có điều đi cùng với đó là những kết quả không tương thích. Ngân quỹ tiếp thị khổng lồ, song các CEO hay các vị chủ tịch công ty sẽ không có gì phải bận tâm nếu tiền có thể giải quyết tốt vấn đề.

Đáng buồn là nhiều công ty đã bỏ ra cả đống tiền cho quảng cáo nhưng rồi kết quả thu về vẫn là con số không. Rất đơn giản là bởi họ đã thiếu sự nghiên cứu cẩn thận và tỷ mỷ để có được sự tương thích giữa những hành động quảng cáo nhất thời và chiến lược nhãn hiệu lâu dài.

Vào năm 2004, Oprah Winfrey đã thực sự gây bất ngờ khi bà trao tặng rất nhiều chiếc xe ôtô mới cho các khán giả xem chương trình của bà. Gần 300 người đã thực sự vui sướng khi nhận được phần quà giá trị này.
Phần thưởng này rõ ràng là một chiếc lông vũ nổi bật trên chiếc mũ của Oprah và được xem là một nhân tố xây dựng nhãn hiệu tuyệt vời. Song có bao nhiêu người dân Mỹ biết đến hãng ôtô nào đứng đằng sau chiến dịch xúc tiến này?

Rất có thể là không nhiều. Nếu ai đó nói là Pontiac, đấy thực sự là điều tốt đẹp cho General Motor (GM). Và thậm chí người dân Mỹ không trả lời được, sự chú ý của công chúng tới những chiếc xe được GM biện hộ cho những khoản đầu tư lớn của mình. Mặc dù vậy, Steve McKee không cho rằng chiến dịch tiếp thị mà GM liên kết với Oprah Winfrey sẽ xây dựng những giá trị dài hạn cho nhãn hiệu Pontiac.

Steve McKee đang nói tới những lần mà một ý tưởng nào đó quá hấp dẫn hay khiến bạn khát khao thực hiện ngay; những lần mà công ty chỉ muốn quên hết mọi thứ và nhảy sang một hoạt động mới; và những lần khi một nhân viên bán hàng đến phòng giám đốc với một ý tưởng lớn và thuyết phục giám đốc thông qua ngay lập tức.

Trong tất cả các trường hợp trên, sự quyến rũ phải hành động theo đó sẽ có sức mạnh rất lớn. Nhưng nếu hành động tiếp thị này không thể giúp bạn tạo ra sự khác biệt hay những điểm thích hợp về nhãn hiệu của bạn, nó sẽ trở nên vô nghĩa mà thôi.

Những quảng cáo khiến trẻ em phát khóc

Hầu như không một nhà tiếp thị nào thoát khỏi "chứng bệnh này". Vào năm 2002, hãng điện thoại Vodaphone của Anh đã tài trợ cho hai người đàn ông trần như nhộng chạy vào sân làm ngắt quãng một trận đấu rugby tại Sydney, Australia.

Hai người đàn ông ngốc nghếch kia có lôi kéo được nhiều sự chú ý? Chắc chắn là có, nhưng đấy là những hình ảnh không mấy đẹp đẽ và có phần tiêu cực. Liệu điều này góp phần nâng cao hình ảnh nhãn hiệu Vodafone ? Câu trả lời sẽ thiên về từ "Không" nhiều hơn.

Hãng bánh sandwich Quizno đã gặp phải sự chế giễu của công chúng trong vài năm trở lại đây kể từ sau các chương trình quảng cáo trên TV với bài hát “ Spongmonkeys” . Quảng cáo của Quizno đã gây được sự chú ý nhưng không phải là những sự chú ý đầy thiện cảm mà có phần ngược lại khi quảng cáo bánh sandwichs có sự suất hiện của một loài gặm nhấm. Đây không phải là một chiến lược khôn ngoan.

Một tờ báo địa phương Quizno đóng trụ sở chính đã trích lời của một chủ cửa hàng nói rằng công việc kinh doanh của bà đã 20% tới 30% sau khi quảng cáo này được trình chiếu. Thậm chí, theo lời kể của chủ cửa hàng thì có một phụ nữ lớn tuổi đã đến cửa hàng và chỉ trích quảng cáo này khiến cháu của bà sở đến phát khóc.

Vậy đâu là lý do khiến Quizno hành động như như vậy? Chắc hẳn có một sự thôi thúc nào đó mà theo giải thích của Quizno đó là từ việc bắt chước giới nghệ sĩ Anh, những người đã sử dụng vẻ đẹp thiên nhiên hoang dã để tạo dựng cho mình vẻ đẹp đặc biệt. Chỉ có điều Quizno chưa quan tâm tới hình ảnh nhãn hiệu.
Kết quả đã thấy rõ. Thậm chí, một vài người trên YouTube đã tổng kết lại thành một câu nói rất hay: "Càng yêu quảng cáo này bao nhiêu (Nó ... thật vui nhộn), tôi càng không muốn ăn bánh Quizno bấy nhiêu".

Các hành động tiếp thị của bạn có được xây dựng hướng tới hình ảnh nhãn hiệu? Hình ảnh nhãn hiệu, yếu tố quyết định thành công của công ty, dường như chưa được quan tâm một cách đầy đủ, dường như chưa trở thành quan trọng nhất cần chú ý nghiên cứu khi mà phần nào các quảng cáo của bạn không đánh giá đúng mức hình ảnh nhãn hiệu.

Tiếp thị không đơn thuần là việc tạo dựng những ấn tượng và lôi kéo sự chú ý của mọi người. Để thực sự hiệu quả, hình ảnh nhãn hiệu của bạn tạo ra cần thực sự thích hợp với các hoàn cảnh xung quanh nó. Sự bố trí, sắp đặt của sản phẩm này trong một hoàn cảnh nào đó có thể thích hợp, nhưng các sản phẩm khác thì chưa chắc như thế.

Khi bạn đối mặt với một cơ hội hành động tiếp thị mới, không quan tâm tới sự quyến rũ của nó ở mức độ nào, các cơ hội tiếp thị này cần được thực thi thông qua bộ lọc của chiến lược nhãn hiệu tổng thể.
Nếu có sự nhất quán giữa hành động tiếp thị mới và chiến lược nhãn hiệu nói chung, đây sẽ thực là cơ hội tuyệt vời để nâng cao hình ảnh nhãn hiệu và sức hút của công chúng. Còn bằng không, bạn nên tìm kiếm một phương hướng khác để sử dụng tốt hơn đồng tiền của mình.

Trong tiếp thị, có được sự chú ý chỉ là một mặt của vấn đề. Có được sự chú ý và mối quan tâm thích hợp với thực sự có ý nghĩa.

Như Hans Straberg, giám đốc điều hành của Electrolux, đã từng nói: "Thật rất khó để lôi kéo mọi người về phía mình chỉ vì các sản phẩm của bạn đã được biết tới", hãy đặt chiến lược lên đầu tiên, và chắc chắn rằng mỗi chiến thuật, hành động bạn theo đuổi đều phục vụ cho bức tranh lớn.

Bạn có thể làm thất vọng một vài nhân viên bán hàng hăng hái, nhưng nhãn hiệu của bạn sẽ yêu bạn hơn vì điều này.


Theo BWPortal/ Businessweek


Kết quả tìm kiếm trên Google mạnh hơn cả thương hiệu


Trong xã hội ảo, thương hiệu không quan trọng bằng việc xuất hiện đầu tiên trong kết quả tìm kiếm của các bộ máy tìm kiếm, đặc biệt là Google.


Nhu cầu quảng bá trên các web tìm kiếm

Thống kê cho thấy 80% số người dùng Internet thường xuyên sử dụng công cụ tìm kiếm. Đây là các chỉ số giúp cho quảng cáo trực tuyến, đặc biệt là quảng cáo qua công cụ tìm kiếm, ngày càng lấn sân những loại hình quảng cáo truyền thống trên thế giới. Tại Việt Nam, theo khảo sát của Công ty cổ phần kết nối truyền thông Việt Nam (VinaLink), có khoảng 73% người dùng Internet thường xuyên truy cập vào trang web tìm kiếm Google so với 13% truy cập vào trang Yahoo.

Doanh nghiệp ở Việt Nam cũng đã nhận ra điều này và mua quảng cáo của các công cụ tìm kiếm ngày càng nhiều, đặc biệt là dịch vụ quảng cáo Adwords của Google. Dễ dàng kiểm chứng điều này bằng cách vào Google, gõ một số từ khóa phổ biến như "sách", "du lịch" hay "nha khoa" thì ngay bên phải trang web tìm kiếm sẽ thấy xuất hiện các nhà cung cấp liên quan.

Bên cạnh việc sử dụng dịch vụ quảng cáo trên các bộ máy tìm kiếm như Adwords của Google hay Yahoo Marketing của Yahoo, nhiều doanh nghiệp còn có nhu cầu nữa là đứng trong tốp đầu các trang liệt kê kết quả tìm kiếm của công cụ tìm kiếm. Giới chuyên làm quảng bá trang web gọi đó là dịch vụ SEO (Search engine optimization - SEO).

SEO là quy trình tối ưu hóa tìm kiếm web nhằm tăng lượng truy cập đến trang web từ các bộ máy tìm kiếm. Mục tiêu của SEO là đưa trang web lên hàng đầu trong kết quả tìm kiếm theo một số từ khóa cụ thể. Ví dụ, với các công ty du lịch lữ hành, mục tiêu làm SEO là khi khách hàng tra từ khóa liên quan đến du lịch như Vietnam travel thì trang web của công ty đó phải xuất hiện trong top đầu của kết quả tìm kiếm. Tuy nhiên, SEO không giới hạn trong tìm kiếm text mà còn trong tìm kiếm ảnh, sách, nhạc và các tìm kiếm ngành dọc khác.

Theo một số doanh nghiệp, thị trường tư vấn SEO tại Việt Nam vẫn dừng ở giai đoạn đầu nhưng tương lai sẽ phát triển nhanh cùng với bước tiến mạnh mẽ của dịch vụ trực tuyến.

Ông Hà Tuấn Anh, Giám đốc Vinalink cho biết công ty bắt tay làm dịch vụ SEO từ 2002. Ban đầu, khách hàng chủ yếu là công ty du lịch lữ hành, xuất khẩu thủ công mỹ nghệ và đá quý hoặc người làm quản trị web. Nhưng hiện nay, do lượng người dùng Internet và số trang web ngày càng nhiều, mức cạnh tranh cao nên SEO cũng được quan tâm hơn. Nhiều công ty kinh doanh máy tính, các văn phòng luật, nha khoa, thám tử, dịch vụ diệt mối, côn trùng…, thậm chí có một trang web của ủy ban nhân dân tỉnh đã tìm đến SEO. Thương mại điện tử cũng bắt đầu có khách hàng, nhất là giao dịch B2B (doanh nghiệp với doanh nghiệp). Gần đây, mỗi tháng VinaLink có thêm vài khách hàng, thời gian trước thì ít hơn nhiều.


Trên Internet, SEO hơn cả "thương hiệu"

Trong xã hội ảo, những trang web xuất hiện đầu tiên trong kết quả tìm kiếm có cơ hội thu hút được nhiều người tìm kiếm truy cập vào hơn. Vì vậy, nếu làm SEO tốt thì sẽ tăng được lượng người truy cập từ các trang web tìm kiếm.

Thậm chí, một chuyên gia quảng cáo web cho rằng: "Trên Internet, thương hiệu không là gì cả. Xuất hiện cao trên kết quả tìm kiếm mới quan trọng. Nếu công ty bạn không có mặt trong 3 trang đầu tiên của Google, bạn chả là gì cả".

Thống kê trên thế giới, khoảng 70% người tìm kiếm không xem hết quá trang đầu, 97% không xem tới trang thứ 3. Ở Việt Nam, theo khảo sát của VinaLink, khoảng 50% lưu lượng vào các trang web do Google đem lại. Vì vậy, không ngạc nhiên khi dịch vụ SEO ở Việt Nam chủ yếu là trên Google. Hiện có khá nhiều công ty cung cấp dịch vụ SEO như Squangcao.com, Onboom, OntopRank hay VinaLink.

Chi phí làm dịch vụ SEO trên Google khá tốn kém, từ vài triệu đồng đến vài chục triệu đồng tùy theo trang web và từ khóa. Có lĩnh vực như du lịch, hiện các công ty làm dịch vụ SEO không dám nhận làm SEO các từ khóa về du lịch, vì có quá nhiều trang web chen nhau ở một số từ khóa.

Theo ông Hà Tuấn Anh, những trang web đã duy trì lâu, có nhiều người truy cập và tốc độ cập nhật thông tin thường xuyên thì làm SEO rất nhanh, có hiệu quả sau khoảng 1 tuần. Còn những trang ít người truy cập, thông tin thiếu cập nhật thì có khi mất tới 1 - 2 năm mới tăng thứ hạng. Ngoài ra, việc tăng thứ hạng trong kết quả tìm kiếm cũng phụ thuộc vào tên miền. Nếu mục tiêu là quảng bá quốc tế thì nên chọn tên miền .com, còn nếu nhắm vào khách hàng trong nước thì ưu tiên tên miền .com.vn hay .vn.


(theo ICTnews)