Tuesday, 24. November 2009, 04:54:26
cac ban nhap vao mui ten ben canh trang chu blog sau do vao tai lieu de xem va tai list so nha
sim so mien phi, lien he 0909081209 or 0909468363
Thursday, 19. November 2009, 09:57:45
TT - Những dòng sông đang chết không phải ngẫu nhiên mà chúng chết. Chúng đang bị giết chết… bởi sự tàn phá của con người.
Rừng đầu nguồn bị đốn trụi; chất thải công nghiệp và sinh hoạt độc hại được đổ xuống dòng chảy không ngừng; nguồn nước bị khai thác vô hạn độ… là những gì đang xảy ra hằng ngày hằng giờ trên đất nước ta. Và chết không chỉ có sông! Cùng chung số phận với sông là rừng, là biển, là không khí..., là môi trường sống của chính con người chúng ta.
Điều đáng nói là xu thế nguy hại này đang diễn ra như một định mệnh không thể đảo ngược của quá trình phát triển theo chiều rộng. Không thể đảo ngược sẽ là nguy cơ suy tàn và tuyệt diệt của chính chúng ta! Bảo đảm sự tăng trưởng liên tục ở mức cao là một bài toán khó. Sức ép phải tăng trưởng có thể buộc chúng ta phải đẩy mạnh việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, đồng thời cắt giảm hoặc trì hoãn những khoản đầu tư không thể thiếu cho môi trường.
Mà như vậy, những vấn đề về môi trường, như những căn bệnh, đang bị tích tụ lại và ngày càng trở nên nghiêm trọng. Nếu những vấn đề về môi trường không được giải quyết kịp thời, những chi phí phải bỏ ra để khắc phục chúng sẽ đắt đỏ gấp hàng chục, hàng trăm lần. Chưa kể đến việc có nhiều vấn đề sẽ không bao giờ khắc phục được nữa.
Những hệ động thực vật bị tuyệt diệt là không thể tái sinh; những làng bản bị lũ cuốn mất là không thể xuất hiện trở lại; những thế hệ người Việt bị sinh ra dị dạng là khó có thể chữa lành...
Thật đáng tiếc, GDP chỉ đo được sự tăng trưởng về giá trị sản phẩm, không đo được sự cải thiện về môi trường. Quan tâm đến GDP là đúng đắn, nhưng vì nó mà sao nhãng việc đầu tư cho môi trường thì thật rủi ro. Suy cho cùng, mọi sự giàu có đều trở nên vô nghĩa nếu như chúng ta không còn môi trường trong lành để sống, không còn sức khỏe để tận hưởng sự sung túc của mình.
Phát triển thì phải có tăng trưởng, nhưng tăng trưởng không đồng nghĩa với phát triển. Một tư duy mới là rất quan trọng cho thời kỳ hội nhập. Với tư duy này, mọi sự tăng trưởng nhờ vào việc gây thêm tổn hại cho môi trường không thể được coi là phát triển.
Với tư duy này, chúng ta phải rất cẩn trọng khi phát triển những ngành nghề mà vì ô nhiễm môi trường, các nước phát triển tìm cách chuyển sang cho các nước đang phát triển như nước ta. (Nếu nước Anh có kim ngạch xuất khẩu nhạc cao hơn xuất khẩu thép, thì họ không nhất thiết phải sản xuất thép ở Anh). Với tư duy này, chúng ta cần học cách tôn trọng thiên nhiên, cách sống hài hòa với thiên nhiên.
TS NGUYỄN SĨ DŨNG
Thursday, 19. November 2009, 09:51:14
Hôm nay, 7-11-2006, tại Geneve (Thụy Sĩ) đã diễn ra trọng thể Lễ ký Nghị định thư về việc VN được chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Sự kiện này mở ra cơ hội mới cho sự phát triển đất nước và cả những thách thức cần phải vượt qua khi VN được tham gia vào tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu.
Nhân dịp này, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã có bài viết quan trọng. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc toàn văn bài viết này.
VN đã chính thức được kết nạp vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Điều gì sẽ diễn ra khi chúng ta tham gia Tổ chức thương mại có quy mô toàn cầu này. Đâu là cơ hội mà chúng ta có thể và cần phải tận dụng. Những thách thức nào mà chúng ta phải nhận biết để vượt qua. Và để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức chúng ta phải làm gì.
Bài viết này nhằm góp phần lý giải những vấn đề nêu trên.
Vào nửa cuối của những năm 90 của thế kỷ trước, với đà phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và sự bùng nổ của công nghệ thông tin, lực lượng sản xuất đã có bước phát triển vượt bậc trên phạm vi toàn cầu. Các công ty xuyên quốc gia với tiềm lực tài chính to lớn và khả năng công nghệ dồi dào gia tăng hoạt động.
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và sự gia tăng hoạt động của các công ty xuyên quốc gia là 2 yếu tố lớn tác động đến bức tranh kinh tế thế giới trong thời đại ngày nay. Hai yếu tố này, một mặt đặt ra nhu cầu, mặt khác tạo ra khả năng tổ chức lại thị trường trên toàn thế giới. Nói một cách khác, hai yếu tố này thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá kinh tế. Sự mở rộng thị trường gắn với sự phát triển lực lượng sản xuất và tính chất của quá trình này đã được C. Marx chỉ ra trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản.
Trong nền kinh tế toàn cầu hoá, các yếu tố của quá trình tái sản xuất hàng hoá và dịch vụ được dịch chuyển tự do hơn từ nước này sang nước khác, thông qua các cam kết mở cửa thị trường. Các cam kết này có thể là giữa 2 nước theo hiệp định mậu dịch tự do song phương (FTA) có thể là giữa các nhóm nước theo hiệp định mậu dịch tự do khu vực (RTA) hoặc rộng hơn, trên quy mô toàn cầu trong Tổ chức thương mại thế giới.
Tùy theo thoả thuận giữa các đối tác tham gia hiệp định mà phạm vi và độ sâu của các hiệp định có thể khác nhau nhưng nội dung cơ bản của các hiệp định này là các cam kết mở cửa thị trường về thương mại hàng hoá, dịch vụ, đầu tư và những nguyên tắc, luật lệ phải tuân thủ để bảo đảm mở cửa thị trường một cách thực chất và công bằng.
Đến năm 2005, trên thế giới, đã có 312 hiệp định mậu dịch song phương và khu vực được ký kết và được thông báo đến Tổ chức thương mại thế giới, trong đó có 170 hiệp định còn hiệu lực. Tổ chức thương mại thế giới được thành lập năm 1995 trên cơ sở tổ chức Thuế quan và thương mại (gọi tắt là GATT) sau Vòng đàm phán Urugoay kéo dài 8 năm. Đến nay, WTO có 150 thành viên, chiếm khoảng 90% dân số thế giới, 95% GDP và 95 % giá trị thương mại toàn cầu.
Không dừng lại ở hiện trạng, nhiều nước đang đàm phán về các FTA và RTA mới. Tổ chức thương mại thế giới cũng đang tìm cách phát triển theo cả chiều rộng (kết nạp thêm thành viên mới), cả theo chiều sâu (đàm phán để mở rộng khả năng tiếp cận thị trường hơn nữa), mặc dù điều này không dễ dàng. Bởi, đây là quá trình chứa đựng nhiều mâu thuẫn, có sự xung đột lợi ích giữa các nước, các nhóm nước và là một quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế thế giới hợp lý hơn, công bằng hơn. Vì lẽ đó, toàn cầu hoá vẫn là một quá trình chưa định hình.
Mặc dù vậy, toàn cầu hoá vẫn tiến về phía trước, như một tất yếu khách quan, bởi động lực bên trong của nó là sự phát triển của lực lượng sản xuất mà lực lượng sản xuất thì không ngừng phát triển và càng về sau thì càng phát triển nhanh hơn, mạnh hơn.
Do các yếu tố của quá trình tái sản xuất hàng hoá và dịch vụ dịch chuyển tự do từ nước này sang nước khác nên sự phân công lao động ngày càng sâu sắc và diễn ra trên phạm vi toàn thế giới, hình thành nên các chuỗi giá trị toàn cầu.
Từ thực tế này, một loạt vấn đề mới đặt ra trong chính sách thương mại và đầu tư. Trong đó, có đối sách của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trước xu thế của thời đại, hoặc tham gia vào tiến trình toàn cầu hoá hay đứng ngoài tiến trình ấy. Tham gia vào tiến trình toàn cầu hoá, tiến cùng thời đại tuy thách thức là rất lớn, nhưng cơ hội cũng rất nhiều. Không tham gia vào tiến trình ấy, trở thành người ngoài cuộc sẽ bị phân biệt đối xử trong tiếp cận thị trường về hàng hoá, dịch vụ và đầu tư, sẽ rất khó khăn trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhất là trong bối cảnh thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng kỹ thuật - công nghệ lần thứ 3; và từ đó, dẫn đến làn sóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế lần thứ 3. Mà sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở mỗi nước sẽ dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các nước.
Điều quan trọng nữa là quốc gia nào không tham gia vào tiến trình này, quốc gia đó sẽ không có địa vị bình đẳng trong việc bàn thảo và xây dựng định chế của nền thương mại thế giới, không có điều kiện để đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình.
Nhận thức được tình hình đó, nhiều nước, kể cả các nước trước đây vẫn thực hiện chính sách bảo hộ mậu dịch nghiêm ngặt đã tiến hành cải cách kinh tế, mở cửa với bên ngoài, tham gia vào quá trình toàn cầu hoá. Nhờ đó, kinh tế các nước này liên tục tăng trưởng với tốc độ cao. Trung Quốc và Ấn Độ đang nổi lên thành những trung tâm kinh tế lớn cùng với Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản. Khu vực Đông Á, Đông Nam Á tiếp tục phát triển năng động.
Quá trình hợp tác liên kết trong khu vực này ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu. Ý tưởng về việc thành lập một Khu vực mậu dịch tự do Đông Á thậm chí Khu vực mậu dịch tự do xuyên Thái bình dương đã được bàn thảo tại các diễn đàn kinh tế. Thế giới đang nói nhiều về "Thế kỷ châu Á".
Tham gia vào Tổ chức thương mại thế giới, nước ta đứng trước những cơ hội lớn như sau:
Một là: Được tiếp cận thị trường hàng hoá và dịch vụ ở tất cả các nước thành viên với mức thuế nhập khẩu đã được cắt giảm và các ngành dịch vụ mà các nước mở cửa theo các Nghị định thư gia nhập của các nước này, không bị phân biệt đối xử. Điều đó, tạo điều kiện cho chúng ta mở rộng thị trường xuất khẩu và trong tương lai - với sự lớn mạnh của doanh nghiệp và nền kinh tế nước ta - mở rộng kinh doanh dịch vụ ra ngoài biên giới quốc gia. Với một nền kinh tế có độ mở lớn như nền kinh tế nước ta, kim ngạch xuất khẩu luôn chiếm trên 60% GDP thì điều này là đặc biệt quan trọng, là yếu tố bảo đảm tăng trưởng.
Hai là: Với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện công khai minh bạch các thiết chế quản lý theo quy định của WTO, môi trường kinh doanh của nước ta ngày càng được cải thiện. Đây là tiền đề rất quan trọng để không những phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế trong nước mà còn thu hút mạnh đầu tư nước ngoài, qua đó tiếp nhận vốn, công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra công ăn việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bảo đảm tốc độ tăng trưởng và rút ngắn khoảng cách phát triển.
Thực tế trong những năm qua đã chỉ rõ, cùng với phát huy nội lực, đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta và xu thế này ngày càng nổi trội: năm 2006, đầu tư nước ngoài chiếm 37% giá trị sản xuất công nghiệp, gần 56% kim ngạch xuất khẩu và 15,5% GDP, thu hút hơn một triệu lao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Ba là: Gia nhập WTO chúng ta có được vị thế bình đẳng như các thành viên khác trong việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu, có cơ hội để đấu tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế mới công bằng hơn, hợp lý hơn, có điều kiện để bảo vệ lợi ích của đất nước, của doanh nghiệp. Đương nhiên kết quả đấu tranh còn tuỳ thuộc vào thế và lực của ta, vào khả năng tập hợp lực lượng và năng lực quản lý điều hành của ta.
Bốn là: Mặc dầu chủ trương của chúng ta là chủ động đổi mới, cải cách thể chế kinh tế ở trong nước để phát huy nội lực và hội nhập với bên ngoài nhưng chính việc gia nhập WTO, hội nhập vào nền kinh tế thế giới cũng thúc đẩy tiến trình cải cách trong nước, bảo đảm cho tiến trình cải cách của ta đồng bộ hơn, có hiệu quả hơn.
Năm là: Cùng với những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử sau 20 năm đổi mới, việc gia nhập WTO sẽ nâng cao vị thế của ta trên trường quốc tế, tạo điều kiện cho ta triển khai có hiệu quả đường lối đối ngoại theo phương châm: Việt Nam mong muốn là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng thế giới vì hoà bình, hợp tác và phát triển.
Trong khi nhận thức rõ những cơ hội có được do việc gia nhập WTO mang lại, cần thấy hết những thách thức mà chúng ta phải đối đầu, nhất là trong điều kiện nước ta là một nước đang phát triển ở trình độ thấp, quản lý nhà nước còn nhiều yếu kém và bất cập, doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân còn nhỏ bé.
Những thách thức này bắt nguồn từ sự chênh lệch giữa năng lực nội sinh của đất nước với yêu cầu hội nhập, từ những tác động tiêu cực tiềm tàng của chính quá trình hội nhập. Những thách thức này gồm:
Một là: Cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều “đối thủ” hơn, trên bình diện rộng hơn, sâu hơn. Đây là sự cạnh tranh giữa sản phẩm của ta với sản phẩm các nước, giữa doanh nghiệp nước ta với doanh nghiệp các nước, không chỉ trên thị trường thế giới và ngay trên thị trường nước ta do thuế nhập khẩu phải cắt giảm từ mức trung bình 17,4% hiện nay xuống mức trung bình 13,4% trong vòng 3 đến 5 năm tới, nhiều mặt hàng còn giảm mạnh hơn.
Cạnh tranh không chỉ diễn ra ở cấp độ sản phẩm với sản phẩm, doanh nghiệp với doanh nghiệp. Cạnh tranh còn diễn ra giữa nhà nước và nhà nước trong việc hoạch định chính sách quản lý và chiến lược phát triển nhằm phát huy nội lực và thu hút đầu tư từ bên ngoài. Chiến lược phát triển có phát huy được lợi thế so sánh hay không, có thể hiện được khả năng “phản ánh vượt trước” trong một thế giới biến đổi nhanh chóng hay không.
Chính sách quản lý có tạo được chi phí giao dịch xã hội thấp nhất cho sản xuất kinh doanh hay không, có tạo dựng được môi trường kinh doanh, đầu tư thông thoáng, thuận lợi hay không v.v… Tổng hợp các yếu tố cạnh tranh trên đây sẽ tạo nên sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế, sức cạnh tranh quốc gia.
Hai là: Trên thế giới sự “phân phối” lợi ích của toàn cầu hoá là không đồng đều. Những nước có nền kinh tế phát triển thấp được hưởng lợi ít hơn. Ở mỗi quốc gia, sự “phân phối” lợi ích cũng không đồng đều. Một bộ phận dân cư được hưởng lợi ít hơn, thậm chí còn bị tác động tiêu cực của toàn cầu hoá; nguy cơ phá sản một bộ phận doanh nghiệp và nguy cơ thất nghiệp sẽ tăng lên, phân hoá giàu nghèo sẽ mạnh hơn. Điều đó đòi hỏi phải có chính sách phúc lợi và an sinh xã hội đúng đắn; phải quán triệt và thực hiện thật tốt chủ trương của Đảng: “Tăng trưởng kinh tế đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển”.
Ba là: Hội nhập kinh tế quốc tế trong một thế giới toàn cầu hoá, tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước sẽ tăng lên. Sự biến động trên thị trường các nước sẽ tác động mạnh đến thị trường trong nước, đòi hỏi chúng ta phải có chính sách kinh tế vĩ mô đúng đắn, có năng lực dự báo và phân tích tình hình, cơ chế quản lý phải tạo cơ sở để nền kinh tế có khả năng phản ứng tích cực, hạn chế được ảnh hưởng tiêu cực trước những biến động trên thị trường thế giới. Trong điều kiện tiềm lực đất nước có hạn, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, kinh nghiệm vận hành nền kinh tế thị trường chưa nhiều thì đây là khó khăn không nhỏ, đòi hỏi chúng ta phải phấn đấu vươn lên mạnh mẽ, với lòng tự hào và trách nhiệm rất cao trước quốc gia, trước dân tộc.
Bốn là: Hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra những vấn đề mới trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chống lại lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền.
Như vậy, gia nhập Tổ chức thương mại thế giới, hội nhập kinh tế quốc tế vừa có cơ hội lớn, vừa phải đối đầu với thách thức không nhỏ. Cơ hội tự nó không biến thành lực lượng vật chất trên thị trường mà tuỳ thuộc vào khả năng tận dụng cơ hội của chúng ta. Thách thức tuy là sức ép trực tiếp nhưng tác động của nó đến đâu còn tuỳ thuộc vào nỗ lực vươn lên của chúng ta.
Cơ hội và thách thức không phải “nhất thành bất biến” mà luôn vận động, chuyển hoá và thách thức đối với ngành này có thể là cơ hội cho ngành khác phát triển. Tận dụng được cơ hội sẽ tạo ra thế và lực mới để vượt qua và đẩy lùi thách thức, tạo ra cơ hội mới lớn hơn. Ngược lại, không tận dụng được cơ hội, thách thức sẽ lấn át, cơ hội sẽ mất đi, thách thức sẽ chuyển thành những khó khăn dài hạn rất khó khắc phục. Ở đây, nhân tố chủ quan, nội lực của đất nước, tinh thần tự lực tự cường của toàn dân tộc là quyết định nhất.
....................TRICH TU WEBSITE CHINH PHU
Monday, 9. November 2009, 08:40:46
1. Hiệu ứng nhà kính là gì?
Thử hình dung một cái nhà kính trồng rau. Bầu khí quyển là mái nhà của trái đất. Thành phần của mái nhà này là các khí cacbonic, NOx, bụi... Các tia của ánh sáng mặt trời có bước sóng đủ mạnh để xuyên qua mái nhà này và truyền năng lượng ánh sáng mặt trời đến trái đất, các tia ánh sáng này mang một lượng nhiệt rất lớn. Một phần nhiệt được trái đất hấp thụ, phần lớn được phản xạ ngược trở lại và tỏa ra ngoài vũ trụ. Tuy nhiên khi chạm vào trái đất thì bước sóng của các tia ánh sáng mặt trời sẽ thay đổi và làm cho khả năng xuyên vật chất của các tia phản xạ này giảm, vì vậy một lượng năng lượng mặt trời không có khả năng thoát ra khỏi mái nhà của trái đất lượng nhiệt này sẽ được quay trở lại trái đất và giữ ấm cho trái đất.
Từ Đầu thế kỷ 20 đến nay, khi nền kinh tế đại Công nghiệp phát triển và việc sử dụng năng lượng hóa thạch( than đá, dầu mỏ, khí đốt thiên nhiên..) đã thải vào bầu khí quyển ngày càng nhiều hơn các khí cacbonic, NOx, SOx,..khói bụi, bụi kim loại nặng... Đã làm cho mái nhà của trái đất ngày càng dày hơn, điều này có nghĩa là lượng nhiệt được giữ lại ngày càng nhiều và hậu quả của hiện tượng này là sự nóng lên của toàn cầu.
Sự nóng lên của trái đất làm cho băng tan ở hai cực vì vậy trong tương lai gần mực nước biển sẽ dâng cao thêm, diện tích đất ven biển sẽ bị mất, một số đảo cũng sẽ chiềm trong nước biển, cháy rừng, các bệnh về nhiệt sẽ tăng, một số loài động thực vật sẽ biến mất do không thích nghi dược với sự gia tăng nhiệt độ..và hàng loạt các hậu quả khác.
NGUYEN HONG THOAI
Sunday, 8. November 2009, 17:01:30
kinh tế tài nguyên thiên nhiên và môi trường là gì?
kinh tế ngày càng phát triển thì nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên ngày càng nhiều, lượng tài nguyên thiên nhiên của mỗi quốc gia là có giới hạn, như vậy sẽ dẫn đến sự cạn kiệt. Mặt khác, lượng chất thải vào môi trường ngày càng nhiều sẽ dẫn đến ô nhiễm. Vì thế chuyên ngành kinh tế tài nguyên môi trường được hình thành nhằm mục đích giải quyết vấn đề mà các quốc gia đều gặp phải: Là làm sao vẫn phát triển về kinh tế nhưng tài nguyên không cạn kiệt nhanh chóng và môi trường không bị ô nhiễm quá mức.
NGUYEN HONG THOAI
Môi trường sống ngày càng bị ô nhiễm, tài nguyên thiên nhiên bị xâm hại, khai thác tràn lan… Ngành học của chúng tôi là quy ra tiền giá trị của tài nguyên, ví dụ một bãi tắm như Vũng Tàu hay Ninh Chữ chẳng hạn. Ngành học của chúng tôi cũng quy ra tiền những tổn hại do ô nhiễm gây ra cụ thể ở một địa điểm nào đó…, để từ đó có thể đưa ra những mức thuế, lệ phí ô nhiễm, các chính sách quản lý môi trường hợp lý.
Vấn đề ý thức của con người nói chung trong việc bảo vệ môi trường cần phải có thời gian rất lâu để hình thành. Trước mắt, phải tác động về mặt kinh tế. Theo đó, mức thuế, lệ phí do Nhà nước quy định phải đủ mạnh để doanh nghiệp bắt buộc lựa chọn lắp đặt vận hành công nghệ xử lý chất thải thay vì phải chịu thuế cao do gây ra ô nhiễm. Về phía các công ty cũng phải có người chuyên về ngành kinh tế môi trường để tìm ra các phương án xử lý vừa tối ưu về mặt môi trường vừa không làm giảm lợi nhuận của công ty. Chúng tôi được đào tạo để làm những công việc vừa nêu. Suốt bốn năm, chúng tôi đã học qua rất nhiều lĩnh vực như kinh tế tài nguyên khoáng sản, kinh tế tài nguyên đất - nước, kinh tế thủy sản, kinh tế tài nguyên rừng…
onwaylem86@...