kinh tế tài nguyên và môi trường

nguyễn hồng thoại

Subscribe to RSS feed

Đời Đá Vàng, nhạc sĩ: Vũ Thành An


khoa học kinh tế tài nguyên môi trường

SỰ CẦN THIẾT CỦA KINH TẾ TÀI NGUYÊN - MÔI TRƯỜNG


Khi nền kinh tế phát triển, ô nhiễm môi trường và cạn kiệt suy thoái tài nguyên trở thành vấn đề thách thức to lớn đối với xã hội. Việt Nam trong những năm vừa qua, vấn đề ô nhiễm môi trường và suy thoái cạn kiệt, sử dụng lãng phí tài nguyên đã và đang được Đảng, Chính Phủ, và các cấp lãnh đạo cũng như các nhà nghiên cứu quan tâm đến. Trong hầu hết các văn kiện quan trọng của Đảng đều đề cập đến vấn đề bảo vệ tài nguyên môi trường (TNMT), giảm và chống ô nhiễm. Chính Phủ và Quốc Hội đã xây dựng và ban hành các Luật Bảo Vệ Tài Nguyên Môi Trường, Luật Tài Nguyên Nước và duyệt chi ngân sách một khoản chi lớn cho các dự án, chương trình về bảo vệ TNMT, cải tạo, chống và giảm ô nhiễm và các chính quyền cấp tỉnh thành cũng có nhiều nỗ lực tương tự. Lĩnh vực kỹ thuật môi trường tài nguyên cũng được hình thành để đáp ứng tình hình môi trường hịên tại, tuy mới nhưng các nhà kỹ thuật đã có những đóng góp tích cực và có hiệu quả. Tuy nhiên, một lĩnh vưc̣ rất cần thiết tham gia giải quyết vấn đề TNMT vẫn hoàn toàn thiếu vắng đó là kinh tế môi trường tài nguyên.

Kinh tế TNMT là một lĩnh vực rất mới trên thế giới và còn xa lạ đối với những nước kém và đang phát triển. Nó bắt đầu xuất hiện ở thập niên 70 và phát triển mạnh trong thập kỷ 90 ở các nước phát triển và trở thành một lĩnh vực quan trọng bên cạnh lĩnh vực kỹ thuật TN MT trong bảo vệ TNMT và phát triển kinh tế. Mục tiêu chính của ngành này là phân tích đánh giá các vấn đề TNMT dưới góc độ kinh tế xã hội, xác định các mức tối ưu ô nhiễm, mức khai thác tài nguyên. Xây dựng các chính sách công cụ kinh tế như thuế, lệ phí ôm, ký thác - hoàn trả, hạn ngạch, giấy phép ô nhiễm có thể mua bán, trợ cấp ô nhiễm và làm giảm ô nhiễm một số công cụ khác cho từng vấn đề TNMT cụ thể. Định giá trị tài nguyên môi trường để làm cơ sở cho các quyết định chính sách kinh tế xã hội. Hoạch định chiến lược và kế hoạch dài hạn, xây dựng dự án bảo vệ, giảm ô nhiễm, chống suy thoái cạn kiệt MTTN.

Như vậy, nó rất cần thiết cho sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam hiện nay và tương lai lâu dài. Một vài dẫn chứng điển hình sau cho thấy mức độ cần thiết của nó trong thực tế của đất nước:

* Rác đô thị là vấn đề lớn của TP. Hồ Chí Minh hiện nay và cũng sẽ tương tự như thế cho các đô thị của 64 tỉnh thành còn lại trong tương lai gần. Thành Phố đã chi ra hàng ngàn tỷ đồng và hàng trăm hec-ta đất để chôn nhưng vấn đề vẫn không giải quyết được ổn thoả mặc dù sự nỗ lực rất lớn của lãnh đạo và các nhà kỹ thuật môi trường. Giả định như vận dụng các công cụ kinh tế là trợ cấp cho kỹ thuật sản xuất bao ny-long tự hủy và đánh thuế vào bao ny-long khó tự hủy hiện đang dùng, đồng thời dùng công cụ ký thác – hoàn trả đối với người tiêu dùng thì vấn đề phân loại rác từ nguồn trở nên dễ dàng và như thế rác được xử lý thành phân hữu cơ vi sinh phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Như thế rác là vật gây ô nhiễm tai hại trở thành đầu vào có ích cho sản xuất nông nghiệp. Ngân sách không phải chi tốn hàng ngàn tỷ, đất dành cho chôn rác không phải lấn đất nhà ở và phục vụ công nghiệp dịch vụ khác, cư dân sống gần bãi rác không phải chịu đựng sự ô nhiễm nặng nề của rác nữa, nguồn nước ngầm không bị ô nhiễm nước rỉ rác.

* Việt Nam là một trong vài nước được thiên nhiên ưu đãi nguồn nước ngọt rất phong phú và trãi rộng khắp đất nước, nhưng tới nay chỉ mới có 52% dân cư có nước sinh hoạt đủ tiêu chuẩn vệ sinh để dùng. Có phải chúng ta không có được công nghệ lọc nước hoặc không có đủ nguồn nước? Hoàn toàn không, bởi mổi tỉnh thành đều có nhà máy nước. Cũng không phải vấn đề vốn hoặc các yếu tố khác mà chính là các vấn đề kinh tế như định giá nước tối ưu, đánh giá kinh tế các tổn hại do không có nước đủ tiêu chuẩn, chính sách hạn chế độc quyền ngành nước. Khi được giải quyết dưới góc độ kinh tế, sự thiếu nước này sẽ được khắc phục.

* Sự đánh bắt hải sản trong các thập niên qua tăng rất nhanh, nhanh hơn nhiều so với khả năng tái sinh đàn làm cạn kiệt nhanh chóng nguồn lợi tài nguyên này và như thế giá cá tôm ngày càng tăng mà làm thiệt hại người tiêu dùng, cũng như gây ra nạn thất nghiệp cho người đánh bắt. Chưa có ai xác định mức khai thác tối ưu kinh tế để không xảy ra cạn kiệt và giá tăng. Khi xác định được mức này và muốn thực hiện được nó, cần có sự phân tích đánh giá để chọn lựa các công cụ kinh tế áp dụng như hạn ngạch tàu thuyền, hạn ngạch đánh bắt, thuế phương tiện đánh bắt hoặc thuế sản phẩm, hay lệ phí.

* Trước năm 1970, nguồn tài nguyên cá nước ngọt và lợ từ sông hồ rạch thiên nhiên là rất phong phú, giá 1 kg cá rô là bằng giá 2 kg lúa. Nhưng bây giờ nguồn cá này hầu như là không còn bao nhiêu, sự đánh bắt là hiếm hoi vì đã cạn kiệt. Giá 1 kg cá rô giờ (50.000 đ) bằng 20 kg lúa (2500 đ) tức tăng 10 lần. Nếu so sánh giửa tài nguyên phong phú và cạn kiệt thì người tiêu dùng mất đi 45.000 đ khi ăn 1 kg cá. Hầu hết giá các loại cá khác đều tăng, nếu tính bình quân chung cho toàn quốc khi mổi người ăn 6kg/ năm với dân số 80 triệu thì cả nước mất đi khoảng 25 nghìn tỷ đồng/ năm. Đây là cái giá của sự cạn kiệt mà người dân phải trả khi các công cụ kinh tế chống suy thoái và cạn kiệt tài nguyên chưa được áp dụng.

* Hệ thống sông rạch gần sát đô thị đã và đang ô nhiễm chuyển sang màu đen và hôi thối với tốc độ khá nhanh. Giải quyết vấn đề ô nhiễm này bằng các dự án cải tạo rất tốn kém. Dự án cải tạo sông Nhiêu Lộc thị nghè giai đoạn 1 là 40 triệu USD, giai đoạn 2 là 200 triệu USD và vẫn đang đầu tư tiếp tục hàng trăm triệu USD khác, dự án cải tạo cho kênh Tham Lương là 6300 tỷ đồng. Nếu như sử dụng công cụ thuế, lệ phí ô nhiễm đánh vào các nhà máy thải ô nhiễm, mặt khác dùng tiền thuế này trợ cấp cho họ các công nghệ làm giảm ô nhiễm đồng thời với các công cụ kinh tế và hành chính khác, vấn đề ô nhiễm sẽ không trầm trọng như thế và ngân sách không phải chi tốn nhiều như nêu trên.

* Biến đổi khí hậu làm tăng mực nước biển do khí ô nhiễm CO2 sẽ gây thiệt hại to lớn (hầu hết Đồng bằng sông Cửu Long sẽ ngập vào sau những năm 2060), Việt Nam là 1 trong 5 nước chịu đựng nặng nề nhất trên thế giới. Do đó hàng loạt chính sách kinh tế môi trường, tài nguyên nhằm thích ứng với mực nước biển dâng là rất cần thiết hiện nay.

Sáu trong hàng trăm vấn đề thực tế được dẫn chứng trên chỉ ra rằng, Kinh Tế Tài Nguyên – Môi Trường (TNMT) là một lĩnh vực rất cần thiết hiện nay và cho tương lai của đất nước. Khi nó ra đời và kết hợp với kỹ thuật môi trường sẽ mang lại hiệu quả rất thiết thực cho bảo vệ môi trường và khai thác hiệu quả tài nguyên của đất nước.

Khi nền kinh tế càng phát triển, càng có nhiều nhà máy thải chất thải và như thế ô nhiễm càng nhiều, nguồn tài nguyên càng cạn kiệt suy thoái vì được dùng nhiều cho đầu vào sản xuất. Như thế, phát triển kinh tế tất yếu dẫn đến tăng ô nhiễm và suy thoái tài nguyên, Nhưng trong thực tế xảy ra một điều gần như nghịch lý, đó là các mức ô nhiễm ở các thành phố lớn của các nước giàu trên thế giới luôn luôn được khống chế dưới mức tiêu chuẩn quy định, trong khi đó Việt Nam cũng chọn các tiêu chuẩn này (của các nước Tây Âu), đo lường tại TP. Hồ Chí Minh thì hầu hết vượt hơn các nước có nền công nghiệp mạnh. Tại sao chúng ta nghèo hơn, nhà máy ít hơn, tiêu dùng xã rác ít hơn, nhưng ô nhiễm lại nhiều hơn họ. Có lẽ lời giải ở chỗ kinh tế TNMT của họ phát triển rất mạnh, tất cả các công cụ kinh tế của kinh tế TNMT được áp dụng hiệu quả. Thuế ô nhiễm làm các nhà phải trang bị hệ thống giảm ô nhiễm với sự trợ cấp nhất định của chính phủ. Những nhà máy thải ra nhiều chất ô nhiễm và những chất ô nhiễm độc hại bị đánh thuế nặng buộc phải đóng cửa hoặc, di chuyển sang các nước đang cần đầu tư nước ngoài và không có thuế ô nhiễm. Chính sách thuế này tạo ra sự dich chuyển ô nhiễm quốc tế từ nước giàu sang nước nghèo gánh chịu. Nếu lời giải này là đúng, thì chúng ta không phải quá lo lắng về ô nhiễm môi trường, suy thoái cạn kiệt tài nguyên một khi lĩnh vưc̣ kinh tế môi trường ra đời, sát cánh phát triển cùng với kỹ thuật môi trường. Ngoài thuế còn có hàng loạt các công cụ kinh tế khác như giấy phép phát thải được phép mua bán, công cụ 2 lớp (thuế và trợ cấp), tiền phát thải có trả lại, hệ thống ký thác hoàn trả (deposit – refund), hiệp ước tự nguyện, ISO 14000, xếp hạng doanh nghiệp theo tiêu chuẩn môi trường, hạn ngạch khai thác, vv.

Theo các nhà dự báo về sự khó khăn trong tương lai mà các nền kinh tế phải đương đầu đó là sự khan hiếm năng lượng (như các mỏ dầu chỉ còn khai thác cho hơn 20 năm nữa là cạn kiệt) sự thiệt hại to lớn do biến đổi khí hậu (mực nước biển tăng lên, hạn hán tăng lên số nơi trong khi đó một số nơi lại chìm trong lũ lụt, vv.), như vậy, cần phải có một đội ngũ nhà chuyên môn có năng lực xây dựng các chính sách thích ứng với các khó khăn này, định giá tổn hại, định giá tài nguyên, hoạch định, xây dựng các chương trình dự án là việc cần phải chuẩn bị.


Nguồn:Bộ môn Kinh tế TNMT - Khoa Kinh tế - ĐH Nông Lâm TP.HCM

Không còn môi trường trong lành, giàu có là vô nghĩa

- Những dòng sông đang chết không phải ngẫu nhiên mà chúng chết. Chúng đang bị giết chết… bởi sự tàn phá của con người.

Rừng đầu nguồn bị đốn trụi; chất thải công nghiệp và sinh hoạt độc hại được đổ xuống dòng chảy không ngừng; nguồn nước bị khai thác vô hạn độ… là những gì đang xảy ra hằng ngày hằng giờ trên đất nước ta. Và chết không chỉ có sông! Cùng chung số phận với sông là rừng, là biển, là không khí..., là môi trường sống của chính con người chúng ta.

Điều đáng nói là xu thế nguy hại này đang diễn ra như một định mệnh không thể đảo ngược của quá trình phát triển theo chiều rộng. Không thể đảo ngược sẽ là nguy cơ suy tàn và tuyệt diệt của chính chúng ta! Bảo đảm sự tăng trưởng liên tục ở mức cao là một bài toán khó. Sức ép phải tăng trưởng có thể buộc chúng ta phải đẩy mạnh việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, đồng thời cắt giảm hoặc trì hoãn những khoản đầu tư không thể thiếu cho môi trường.

Mà như vậy, những vấn đề về môi trường, như những căn bệnh, đang bị tích tụ lại và ngày càng trở nên nghiêm trọng. Nếu những vấn đề về môi trường không được giải quyết kịp thời, những chi phí phải bỏ ra để khắc phục chúng sẽ đắt đỏ gấp hàng chục, hàng trăm lần. Chưa kể đến việc có nhiều vấn đề sẽ không bao giờ khắc phục được nữa.

Những hệ động thực vật bị tuyệt diệt là không thể tái sinh; những làng bản bị lũ cuốn mất là không thể xuất hiện trở lại; những thế hệ người Việt bị sinh ra dị dạng là khó có thể chữa lành...

Thật đáng tiếc, GDP chỉ đo được sự tăng trưởng về giá trị sản phẩm, không đo được sự cải thiện về môi trường. Quan tâm đến GDP là đúng đắn, nhưng vì nó mà sao nhãng việc đầu tư cho môi trường thì thật rủi ro. Suy cho cùng, mọi sự giàu có đều trở nên vô nghĩa nếu như chúng ta không còn môi trường trong lành để sống, không còn sức khỏe để tận hưởng sự sung túc của mình.

Phát triển thì phải có tăng trưởng, nhưng tăng trưởng không đồng nghĩa với phát triển. Một tư duy mới là rất quan trọng cho thời kỳ hội nhập. Với tư duy này, mọi sự tăng trưởng nhờ vào việc gây thêm tổn hại cho môi trường không thể được coi là phát triển.

Với tư duy này, chúng ta phải rất cẩn trọng khi phát triển những ngành nghề mà vì ô nhiễm môi trường, các nước phát triển tìm cách chuyển sang cho các nước đang phát triển như nước ta. (Nếu nước Anh có kim ngạch xuất khẩu nhạc cao hơn xuất khẩu thép, thì họ không nhất thiết phải sản xuất thép ở Anh). Với tư duy này, chúng ta cần học cách tôn trọng thiên nhiên, cách sống hài hòa với thiên nhiên.

(nguồn:TS NGUYỄN SĨ DŨNG)

Hiệu Ứng Nhà Kính & Biến Đổi Khí Hậu

1. Hiệu ứng nhà kính là gì?

Thử hình dung một cái nhà kính trồng rau. Bầu khí quyển là mái nhà của trái đất. Thành phần của mái nhà này là các khí cacbonic, NOx, bụi... Các tia của ánh sáng mặt trời có bước sóng đủ mạnh để xuyên qua mái nhà này và truyền năng lượng ánh sáng mặt trời đến trái đất, các tia ánh sáng này mang một lượng nhiệt rất lớn. Một phần nhiệt được trái đất hấp thụ, phần lớn được phản xạ ngược trở lại và tỏa ra ngoài vũ trụ. Tuy nhiên khi chạm vào trái đất thì bước sóng của các tia ánh sáng mặt trời sẽ thay đổi và làm cho khả năng xuyên vật chất của các tia phản xạ này giảm, vì vậy một lượng năng lượng mặt trời không có khả năng thoát ra khỏi mái nhà của trái đất lượng nhiệt này sẽ được quay trở lại trái đất và giữ ấm cho trái đất.

Từ Đầu thế kỷ 20 đến nay, khi nền kinh tế đại Công nghiệp phát triển và việc sử dụng năng lượng hóa thạch( than đá, dầu mỏ, khí đốt thiên nhiên..) đã thải vào bầu khí quyển ngày càng nhiều hơn các khí cacbonic, NOx, SOx,..khói bụi, bụi kim loại nặng... Đã làm cho mái nhà của trái đất ngày càng dày hơn, điều này có nghĩa là lượng nhiệt được giữ lại ngày càng nhiều và hậu quả của hiện tượng này là sự nóng lên của toàn cầu.

Sự nóng lên của trái đất làm cho băng tan ở hai cực vì vậy trong tương lai gần mực nước biển sẽ dâng cao thêm, diện tích đất ven biển sẽ bị mất, một số đảo cũng sẽ chiềm trong nước biển, hạn hán,lũ lụt, cháy rừng, các bệnh về nhiệt sẽ tăng, một số loài động thực vật sẽ biến mất do không thích nghi dược với sự gia tăng nhiệt độ..và hàng loạt các hậu quả khác.

NGUYEN HONG THOAI

QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG BẰNG CÔNG CỤ KINH TẾ

I. Các công cụ kinh tế chính đang được sử dụng:

1. Thuế và phí

• Thuế tài nguyên.
• Thuế ô nhiễm

2. Chương trình thương mại.

• Hạn ngạch khai thác tài nguyên có thể mua bán.
• Giấy phép phát/ xả thải có thể mua, bán giữa các cơ sở gây ô nhiễm.

3. Động cơ tài chính.

• Tiền cam kết ký quỹ
• Ưu đãi lãi xuất cho các hoạt động đầu tư bảo vệ môi trường
• Trợ cấp tài chính.
• Hệ thống ký thác – hoàn trả
• Thưởng phạt về môi trường.

II. Giải thích các công cụ

1. Thuế và phí

- Thuế, phí tài nguyên: Dựa trên nguyên tắc người được hưởng lợi phải trả tiền. Mục đích của thuế tài nguyên là nhằm xác lập mức tối ưu kinh tế về sử dụng tài nguyên thiên nhiên, trả tô tức cho tài nguyên do sự vắng mặt của quyền sở hữu. Bao gồm: : thuế sử dụng đất, thuế sử dụng nước, thuế rừng, thuế tiêu thụ năng lượng, thuế tài nguyên khoáng sản…; Phí chi trả dịch vụ môi trường.

- Thuế môi trường: Dựa trên nguyên tắc người gây ra ô nhiễm phải trả tiền. Mục đích của thuế môi trường là xác lập mức ô nhiễm tối ưu về mặt kinh tế, khuyến khích bảo vệ môi trường, hạn chế tác nhân gây ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn quy định. Bao gồm:
• Thuế, phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm.
• Thuế, phí đánh vào sản phẩm mà trong và sau khi sử dụng có thể gây ô nhiễm.
• Thuế và phí cấp sai là cấp kinh phí hoặc ưu đãi về thuế cho các sản phẩm có ích hoặc không làm tổn hại đến môi trường
• Phí hành chính để trả cho các hoạt động thực thi, giám sát, cấp giấy phép, đăng ký…
Chi phí/lợi ích

2. Chương trình thương mại

- Hạn ngạch (quota) khai thác tài nguyên có thể mua bán: Mục đích của quota là kiểm soát sản lượng khai thác và nỗ lực khai thác, đặc tính của quota có thể mua bán được là có thể phân chia, mua bán được và thị trường hoạt động hoàn hảo. Cơ quan quản lý môi trường xác định mức sản lượng thu hoạch tối ưu đối với tài nguyên sau đó hình thành tổng số hạn nghạch thích ứng với sản lượng thu hoạch bền vững. Phân bổ quota được bằng cách bán đấu giá. Thường được áp dụng đối với tài nguyên thủy hải sản.

- Giấy phép phát/ xả thải có thể mua, bán giữa các cơ sở gây ô nhiễm: Mục đích của giấy phép là nhằm kiểm soát lượng ô nhiễm phù hợp với sức chịu tải của môi trường. Cơ quan quản lý môi trường xác định mức độ tối ưu phát thải tổng số ô nhiễm hoặc hạn nghạch thích ứng với khả năng tiêu hiểu chất thải của môi trường. Phân phối hạn nghạch bằng cách đấu thầu, phát không hoặc vừa phát không vừa đấu thầu.


3. Động cơ tài chính.

- Trợ cấp tài chính: Mục đích là làm giảm ô nhiễm, thực hiện các hoạt động bảo vệ tài nguyên. Có nhiều hình thức trợ cấp, từ giảm thuế , giảm lãi xuất…

- Hệ thống ký thác – hoàn trả:
Thuế ( lệ phí) được gọi là ký thác, trợ cấp được gọi là hoàn trả. Công cụ ký thác hoàn trả bao gồm một lệ phí vào món hàng cụ thể và một trợ cấp cho hoàn trả món hàng đó. Công cụ này có thể được dùng để động viên tái luân chuyển thích hợp có lợi cho môi trường. Các ứng dụng: Tiền cam kết ký quỹ xí nghiệp khai thác tài nguyên đứng trước số tiền thế chân, sau khi khai thác đảm bảo vệ sinh môi trường, số tiền sẽ được hoàn trả lại; vỏ chai, lon bia, nước ngọt và các loại bao bi khác khi mua người tiêu thụ phải trả một khoản tiền, khi dùng xong bán lại vỏ, bao bì này các loại sản phẩm nguy hại: xe hơi, bình a8cquy; ti vi, máy tính…

- Thưởng phạt về môi trường: Các giải thưởng cho các cá nhân tổ chức, hãng có các hành động bảo vệ môi trường. Ngược lại phạt nặng đối với các hành vi gây ô nhiễm, suy thoái tài nguyên.

III. Ưu & Nhược điểm của các công cụ trên.

1. Thuế, phí
- Thuế tài nguyên xác lập mức tối ưu kinh tế về sử dụng tài nguyên thiên nhiên, trả tô tức cho tài nguyên do sự vắng mặt của quyền sở hữu. Nhưng gặp khó khăn trong việc xác định mức thuế
- Thuế ô nhiễm xác lập mức ô nhiễm tối ưu về mặt kinh tế, khuyến khích bảo vệ môi trường, hạn chế tác nhân gây ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn quy định. Nhưng làm gia tăng chi phí cho các hãng

2. Chương trình thương mại

- Hạn ngạch khai thác tài nguyên có thể mua: bán kiểm soát sản lượng khai thác và nỗ lực khai thác. Nhưng khó khăn để kiểm soát

- Giấy phép phát/ xả thải có thể mua, bán giữa các cơ sở gây ô nhiễm: chi phí xã hội thấp hơn so với thuế, linh hoạt cho các nhà sản xuất, khuyến khích đầu tư công nghệ làm giảm ô nhiễm, không bị ảnh hưởng bởi lạm phát, giá giấy phép giảm theo thời gian do các hãng đầu tư ngày càng nhiều vào công nghệ làm giảm ô nhiễm, hãng mới gia nhập không làm thay đổi mức ô nhiễm. Nhưng chi phí kiểm soát cao

3. Động cơ tài chính

- Trợ cấp tài chính: Khuyến khích các hành động bảo vệ môi trường. Nhưng không theo nguyên tắc người gây ra ô nhiễm phải trả tiền
- Hệ thống ký thác – hoàn trả: tái luân chuyển thích hợp có lợi cho môi trường. Nhưng khó quản lý
- Thưởng phạt về môi trường: Khuyến khích các hành động bảo vệ môi trường. Nhưng hiệu quả thâp
NGUYỄN HỒNG THOẠI

Tài liệu tham khảo: “Quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế”_Trần thanh Lâm (nhà xuất bản lao động), “Công cụ chính sách cho quản lí tài nguyên và môi trường” ThoMas Sterner_TS.Đặng Minh Phương dịch (nhà xuất bản tổng hợp tphcm), “giáo trình kinh tế tài nguyên và môi trường” TS.Đặng Thanh Hà_Đại học Nông Lâm tphcm

Gia nhập WTO, cơ hội - thách thức và hành động của chúng ta

Hôm nay, 7-11-2006, tại Geneve (Thụy Sĩ) đã diễn ra trọng thể Lễ ký Nghị định thư về việc VN được chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Sự kiện này mở ra cơ hội mới cho sự phát triển đất nước và cả những thách thức cần phải vượt qua khi VN được tham gia vào tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu.

Nhân dịp này, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã có bài viết quan trọng. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc toàn văn bài viết này:

" VN đã chính thức được kết nạp vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Điều gì sẽ diễn ra khi chúng ta tham gia Tổ chức thương mại có quy mô toàn cầu này. Đâu là cơ hội mà chúng ta có thể và cần phải tận dụng. Những thách thức nào mà chúng ta phải nhận biết để vượt qua. Và để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức chúng ta phải làm gì.

Bài viết này nhằm góp phần lý giải những vấn đề nêu trên.

Vào nửa cuối của những năm 90 của thế kỷ trước, với đà phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và sự bùng nổ của công nghệ thông tin, lực lượng sản xuất đã có bước phát triển vượt bậc trên phạm vi toàn cầu. Các công ty xuyên quốc gia với tiềm lực tài chính to lớn và khả năng công nghệ dồi dào gia tăng hoạt động.

Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và sự gia tăng hoạt động của các công ty xuyên quốc gia là 2 yếu tố lớn tác động đến bức tranh kinh tế thế giới trong thời đại ngày nay. Hai yếu tố này, một mặt đặt ra nhu cầu, mặt khác tạo ra khả năng tổ chức lại thị trường trên toàn thế giới. Nói một cách khác, hai yếu tố này thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá kinh tế. Sự mở rộng thị trường gắn với sự phát triển lực lượng sản xuất và tính chất của quá trình này đã được C. Marx chỉ ra trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản.

Trong nền kinh tế toàn cầu hoá, các yếu tố của quá trình tái sản xuất hàng hoá và dịch vụ được dịch chuyển tự do hơn từ nước này sang nước khác, thông qua các cam kết mở cửa thị trường. Các cam kết này có thể là giữa 2 nước theo hiệp định mậu dịch tự do song phương (FTA) có thể là giữa các nhóm nước theo hiệp định mậu dịch tự do khu vực (RTA) hoặc rộng hơn, trên quy mô toàn cầu trong Tổ chức thương mại thế giới.

Tùy theo thoả thuận giữa các đối tác tham gia hiệp định mà phạm vi và độ sâu của các hiệp định có thể khác nhau nhưng nội dung cơ bản của các hiệp định này là các cam kết mở cửa thị trường về thương mại hàng hoá, dịch vụ, đầu tư và những nguyên tắc, luật lệ phải tuân thủ để bảo đảm mở cửa thị trường một cách thực chất và công bằng.

Đến năm 2005, trên thế giới, đã có 312 hiệp định mậu dịch song phương và khu vực được ký kết và được thông báo đến Tổ chức thương mại thế giới, trong đó có 170 hiệp định còn hiệu lực. Tổ chức thương mại thế giới được thành lập năm 1995 trên cơ sở tổ chức Thuế quan và thương mại (gọi tắt là GATT) sau Vòng đàm phán Urugoay kéo dài 8 năm. Đến nay, WTO có 150 thành viên, chiếm khoảng 90% dân số thế giới, 95% GDP và 95 % giá trị thương mại toàn cầu.

Không dừng lại ở hiện trạng, nhiều nước đang đàm phán về các FTA và RTA mới. Tổ chức thương mại thế giới cũng đang tìm cách phát triển theo cả chiều rộng (kết nạp thêm thành viên mới), cả theo chiều sâu (đàm phán để mở rộng khả năng tiếp cận thị trường hơn nữa), mặc dù điều này không dễ dàng. Bởi, đây là quá trình chứa đựng nhiều mâu thuẫn, có sự xung đột lợi ích giữa các nước, các nhóm nước và là một quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế thế giới hợp lý hơn, công bằng hơn. Vì lẽ đó, toàn cầu hoá vẫn là một quá trình chưa định hình.

Mặc dù vậy, toàn cầu hoá vẫn tiến về phía trước, như một tất yếu khách quan, bởi động lực bên trong của nó là sự phát triển của lực lượng sản xuất mà lực lượng sản xuất thì không ngừng phát triển và càng về sau thì càng phát triển nhanh hơn, mạnh hơn.

Do các yếu tố của quá trình tái sản xuất hàng hoá và dịch vụ dịch chuyển tự do từ nước này sang nước khác nên sự phân công lao động ngày càng sâu sắc và diễn ra trên phạm vi toàn thế giới, hình thành nên các chuỗi giá trị toàn cầu.

Từ thực tế này, một loạt vấn đề mới đặt ra trong chính sách thương mại và đầu tư. Trong đó, có đối sách của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trước xu thế của thời đại, hoặc tham gia vào tiến trình toàn cầu hoá hay đứng ngoài tiến trình ấy. Tham gia vào tiến trình toàn cầu hoá, tiến cùng thời đại tuy thách thức là rất lớn, nhưng cơ hội cũng rất nhiều. Không tham gia vào tiến trình ấy, trở thành người ngoài cuộc sẽ bị phân biệt đối xử trong tiếp cận thị trường về hàng hoá, dịch vụ và đầu tư, sẽ rất khó khăn trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhất là trong bối cảnh thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng kỹ thuật - công nghệ lần thứ 3; và từ đó, dẫn đến làn sóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế lần thứ 3. Mà sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở mỗi nước sẽ dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các nước.

Điều quan trọng nữa là quốc gia nào không tham gia vào tiến trình này, quốc gia đó sẽ không có địa vị bình đẳng trong việc bàn thảo và xây dựng định chế của nền thương mại thế giới, không có điều kiện để đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình.

Nhận thức được tình hình đó, nhiều nước, kể cả các nước trước đây vẫn thực hiện chính sách bảo hộ mậu dịch nghiêm ngặt đã tiến hành cải cách kinh tế, mở cửa với bên ngoài, tham gia vào quá trình toàn cầu hoá. Nhờ đó, kinh tế các nước này liên tục tăng trưởng với tốc độ cao. Trung Quốc và Ấn Độ đang nổi lên thành những trung tâm kinh tế lớn cùng với Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản. Khu vực Đông Á, Đông Nam Á tiếp tục phát triển năng động.

Quá trình hợp tác liên kết trong khu vực này ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu. Ý tưởng về việc thành lập một Khu vực mậu dịch tự do Đông Á thậm chí Khu vực mậu dịch tự do xuyên Thái bình dương đã được bàn thảo tại các diễn đàn kinh tế. Thế giới đang nói nhiều về "Thế kỷ châu Á".

Tham gia vào Tổ chức thương mại thế giới, nước ta đứng trước những cơ hội lớn như sau:

Một là: Được tiếp cận thị trường hàng hoá và dịch vụ ở tất cả các nước thành viên với mức thuế nhập khẩu đã được cắt giảm và các ngành dịch vụ mà các nước mở cửa theo các Nghị định thư gia nhập của các nước này, không bị phân biệt đối xử. Điều đó, tạo điều kiện cho chúng ta mở rộng thị trường xuất khẩu và trong tương lai - với sự lớn mạnh của doanh nghiệp và nền kinh tế nước ta - mở rộng kinh doanh dịch vụ ra ngoài biên giới quốc gia. Với một nền kinh tế có độ mở lớn như nền kinh tế nước ta, kim ngạch xuất khẩu luôn chiếm trên 60% GDP thì điều này là đặc biệt quan trọng, là yếu tố bảo đảm tăng trưởng.

Hai là: Với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện công khai minh bạch các thiết chế quản lý theo quy định của WTO, môi trường kinh doanh của nước ta ngày càng được cải thiện. Đây là tiền đề rất quan trọng để không những phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế trong nước mà còn thu hút mạnh đầu tư nước ngoài, qua đó tiếp nhận vốn, công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra công ăn việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bảo đảm tốc độ tăng trưởng và rút ngắn khoảng cách phát triển.

Thực tế trong những năm qua đã chỉ rõ, cùng với phát huy nội lực, đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta và xu thế này ngày càng nổi trội: năm 2006, đầu tư nước ngoài chiếm 37% giá trị sản xuất công nghiệp, gần 56% kim ngạch xuất khẩu và 15,5% GDP, thu hút hơn một triệu lao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Ba là: Gia nhập WTO chúng ta có được vị thế bình đẳng như các thành viên khác trong việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu, có cơ hội để đấu tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế mới công bằng hơn, hợp lý hơn, có điều kiện để bảo vệ lợi ích của đất nước, của doanh nghiệp. Đương nhiên kết quả đấu tranh còn tuỳ thuộc vào thế và lực của ta, vào khả năng tập hợp lực lượng và năng lực quản lý điều hành của ta.

Bốn là: Mặc dầu chủ trương của chúng ta là chủ động đổi mới, cải cách thể chế kinh tế ở trong nước để phát huy nội lực và hội nhập với bên ngoài nhưng chính việc gia nhập WTO, hội nhập vào nền kinh tế thế giới cũng thúc đẩy tiến trình cải cách trong nước, bảo đảm cho tiến trình cải cách của ta đồng bộ hơn, có hiệu quả hơn.

Năm là: Cùng với những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử sau 20 năm đổi mới, việc gia nhập WTO sẽ nâng cao vị thế của ta trên trường quốc tế, tạo điều kiện cho ta triển khai có hiệu quả đường lối đối ngoại theo phương châm: Việt Nam mong muốn là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng thế giới vì hoà bình, hợp tác và phát triển.

Trong khi nhận thức rõ những cơ hội có được do việc gia nhập WTO mang lại, cần thấy hết những thách thức mà chúng ta phải đối đầu, nhất là trong điều kiện nước ta là một nước đang phát triển ở trình độ thấp, quản lý nhà nước còn nhiều yếu kém và bất cập, doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân còn nhỏ bé.

Những thách thức này bắt nguồn từ sự chênh lệch giữa năng lực nội sinh của đất nước với yêu cầu hội nhập, từ những tác động tiêu cực tiềm tàng của chính quá trình hội nhập. Những thách thức này gồm:

Một là: Cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều “đối thủ” hơn, trên bình diện rộng hơn, sâu hơn. Đây là sự cạnh tranh giữa sản phẩm của ta với sản phẩm các nước, giữa doanh nghiệp nước ta với doanh nghiệp các nước, không chỉ trên thị trường thế giới và ngay trên thị trường nước ta do thuế nhập khẩu phải cắt giảm từ mức trung bình 17,4% hiện nay xuống mức trung bình 13,4% trong vòng 3 đến 5 năm tới, nhiều mặt hàng còn giảm mạnh hơn.

Cạnh tranh không chỉ diễn ra ở cấp độ sản phẩm với sản phẩm, doanh nghiệp với doanh nghiệp. Cạnh tranh còn diễn ra giữa nhà nước và nhà nước trong việc hoạch định chính sách quản lý và chiến lược phát triển nhằm phát huy nội lực và thu hút đầu tư từ bên ngoài. Chiến lược phát triển có phát huy được lợi thế so sánh hay không, có thể hiện được khả năng “phản ánh vượt trước” trong một thế giới biến đổi nhanh chóng hay không.

Chính sách quản lý có tạo được chi phí giao dịch xã hội thấp nhất cho sản xuất kinh doanh hay không, có tạo dựng được môi trường kinh doanh, đầu tư thông thoáng, thuận lợi hay không v.v… Tổng hợp các yếu tố cạnh tranh trên đây sẽ tạo nên sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế, sức cạnh tranh quốc gia.

Hai là: Trên thế giới sự “phân phối” lợi ích của toàn cầu hoá là không đồng đều. Những nước có nền kinh tế phát triển thấp được hưởng lợi ít hơn. Ở mỗi quốc gia, sự “phân phối” lợi ích cũng không đồng đều. Một bộ phận dân cư được hưởng lợi ít hơn, thậm chí còn bị tác động tiêu cực của toàn cầu hoá; nguy cơ phá sản một bộ phận doanh nghiệp và nguy cơ thất nghiệp sẽ tăng lên, phân hoá giàu nghèo sẽ mạnh hơn. Điều đó đòi hỏi phải có chính sách phúc lợi và an sinh xã hội đúng đắn; phải quán triệt và thực hiện thật tốt chủ trương của Đảng: “Tăng trưởng kinh tế đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển”.

Ba là: Hội nhập kinh tế quốc tế trong một thế giới toàn cầu hoá, tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước sẽ tăng lên. Sự biến động trên thị trường các nước sẽ tác động mạnh đến thị trường trong nước, đòi hỏi chúng ta phải có chính sách kinh tế vĩ mô đúng đắn, có năng lực dự báo và phân tích tình hình, cơ chế quản lý phải tạo cơ sở để nền kinh tế có khả năng phản ứng tích cực, hạn chế được ảnh hưởng tiêu cực trước những biến động trên thị trường thế giới. Trong điều kiện tiềm lực đất nước có hạn, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, kinh nghiệm vận hành nền kinh tế thị trường chưa nhiều thì đây là khó khăn không nhỏ, đòi hỏi chúng ta phải phấn đấu vươn lên mạnh mẽ, với lòng tự hào và trách nhiệm rất cao trước quốc gia, trước dân tộc.

Bốn là: Hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra những vấn đề mới trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chống lại lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền.

Như vậy, gia nhập Tổ chức thương mại thế giới, hội nhập kinh tế quốc tế vừa có cơ hội lớn, vừa phải đối đầu với thách thức không nhỏ. Cơ hội tự nó không biến thành lực lượng vật chất trên thị trường mà tuỳ thuộc vào khả năng tận dụng cơ hội của chúng ta. Thách thức tuy là sức ép trực tiếp nhưng tác động của nó đến đâu còn tuỳ thuộc vào nỗ lực vươn lên của chúng ta.

Cơ hội và thách thức không phải “nhất thành bất biến” mà luôn vận động, chuyển hoá và thách thức đối với ngành này có thể là cơ hội cho ngành khác phát triển. Tận dụng được cơ hội sẽ tạo ra thế và lực mới để vượt qua và đẩy lùi thách thức, tạo ra cơ hội mới lớn hơn. Ngược lại, không tận dụng được cơ hội, thách thức sẽ lấn át, cơ hội sẽ mất đi, thách thức sẽ chuyển thành những khó khăn dài hạn rất khó khắc phục. Ở đây, nhân tố chủ quan, nội lực của đất nước, tinh thần tự lực tự cường của toàn dân tộc là quyết định nhất..."
....................TRICH TU WEBSITE CHINH PHU

tìm hiểu nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Câu hỏi 1: Luật Biển quốc tế là gì? Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Việt Nam có những vùng biển nào?

Trả lời:

a. Luật Biển quốc tế là gl?

Luật Biển quốc tế được hiểu một cách đơn giản nhất, là tổng hợp các quy phạm pháp luật quốc tế điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trên thế giới liên quan đến biển.

Công ước quốc tế về Luật Biển của Liên hợp Quốc năm 1982 (sau đây gọi tắt là Công ước 1982), có hiệu lực năm 1994 và Việt Nam là thành viên của Công ước này (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã chính thức phê chuẩn ngày 23/6/1994), là một văn kiện quốc tế tổng hợp, toàn diện, bao quát những vấn đề quan trọng nhất về chế độ pháp lý của biển và đại dương thế giới, quy định những quyền và nghĩa vụ về nhiều mặt của mọi loại quốc gia (có biển, không có biển, không phân biệt chế độ kinh tế, chính trị, xã hội cũng như trình độ phát triển) đối với các vùng biển thuộc phạm vi quốc tế, cũng như những vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia.

b. Các vùng biển của Việt Nam theo Công ước l982

Theo Công ước 1982, Việt Nam có quyền ở 5 vùng biển với phạm vi và chế độ pháp lý khác nhau. Đó là: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Tháng 5/1977, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam ra Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Tháng 11/1982, Chính phủ ra Tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam. Hai văn bản quy phạm pháp luật nói trên, mặc dù ban hành trước khi Công ước 1982 ra đời, nhưng đã phù hợp với Công ước, thể hiện được chủ trương, chính sách của Nhà nước ta sớm nắm bắt tinh thần và xu hướng trong tiến trình xây dựng Công ước từ trước đó.



Câu hỏi 2: Đường cơ sở Việt Nam được xác định như thế nào?

Trả lời:

Là đường cơ bản quốc gia ven biển có thể đơn phương xác định đùng làm căn cứ để tính chiều rộng lãnh hải và các vùng biển khác.

Có hai loại đường cơ sở:

+ Đường cơ sở thông thường: Sử dụng ngấn nước triều thấp nhất ven bờ biển hoặc đảo.

+ Đường cơ sở thẳng: Nối các điểm hoặc đảo nhô ra nhất của bờ biển lục địa hoặc đảo. Đường cơ sở thẳng áp dụng khi bờ biển quốc gia ven biển bị chia cắt hoặc có chuỗi đảo gắn liền và chạy dọc theo bờ biển. Việt Nam có chuỗi đảo dọc theo bờ biển được vận dụng để xác định đường cơ sở thẳng.

Năm 1982 Chính phủ ta ra tuyên bố xác định đường cơ sở thẳng ven bờ lục địa Việt Nam, gồm 10 đoạn nối 11 điểm (trừ phần trong vịnh Bắc Bộ và vùng nước lịch sử giữa Việt Nam và Campuchia do ta còn đàm phán phân định biển với Trung Quốc lúc đó và chưa tiến hành đàm phán phân định biển với Campuchia).

Việt Nam cũng không vạch đường cơ sở cho hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vì hai quần đảo này không được hưởng quy chế quốc gia quần đảo theo điều 46 của Công ước này.


Câu hỏi 3: Thế nào là vùng nước nội thủy? Việt Nam có quyền gì trong vùng nước nội thủy của mình?

Trả lời:

Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối với vùng nước Nội thủy, cũng như bầu trời phía trên giống như trên lãnh thổ đất liền.

Vùng nước nội thuỷ là vùng nước nằm phía bên trong của đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải, tại đó các quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ như trên lãnh thổ đất liền đối với tàu thuyền cộng đồng có tổ chức và đáp ứng các quy tắc riêng biệt.

Vùng nước nội thuỷ bao gồm: Các vùng nước cảng biển, vũng tàu, cửa sông, vịnh, các vùng nước nằm giữa lãnh thổ đất liền và đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải.

Câu hỏi 4: Lãnh hải là gì? Quy chế pháp lý của nó như thê nào?

Trả lời: Lãnh hải là vùng biển rộng 12 hải lý (1 hải lý = 1,852 km tính từ đường cơ sở, có chế độ pháp lý tương tự như lãnh thổ đất liền. Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển. Trong lãnh hải, tàu thuyền của các quốc gia khác được hưởng quyền qua lại không gây hại và thường đi theo tuyến phân luồng giao thông biển của nước ven biển.

Lãnh hải của nước CHXHCN Việt Nam rộng 12 hải lý theo tuyên bố năm 1982 của Chính phủ Việt Nam.



Câu hỏi 5: Thế nào là vùng tiếp giáp lãnh hải? Chế độ pháp lý vùng nước này như thê nào?

Trả lời: Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển nằm phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, rộng 12 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải, hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam. Trong vùng tiếp giáp, nước ven biển có quyền quy định biện pháp ngăn ngừa và trừng trị các hành vi vi phạm đối với luật lệ về nhập cư, thuế khóa, y tế, thậm chí cả an ninh, xảy ra trong lãnh thổ hay lãnh hải của mình.



Câu hỏi 6: Vùng đặc quyền kinh tế là gì? Chế độ pháp lý của nó như thê nào?

Trả lời: Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở (188 hải lý tính từ ranh giới ngoài lãnh hải, 176 hải lý tính từ ranh giới ngoài của vùng tiếp giáp).

Vùng đặc quyền kinh tế là một chế định riêng biệt, được hình thành từ nhu cầu quản lý tài nguyên, bảo vệ lợi ích kinh tế của quốc gia ven biển.

Trong vùng biển này, nước ven biển có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với mọi loại tài nguyên thiên nhiên và các hoạt động kinh tế nhằm khai thác, sử dụng các tài nguyên thiên nhiên đó, có quyền tài phán đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học bảo vệ môi trường biển, xây dựng và lắp đặt những công trình và thiết bị nhân tạo. Các nước khác có quyền tự do bay, tự do hàng hải và đặt đây cáp và ống dẫn ngầm.

Vùng đặc quyền kinh tế của nước CHXHCN Việt Nam tiếp liền lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 200 hải lý kể từ đường cơ sở, dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam theo tuyên bố của Chính phủ Việt Nam năm 1977.



Câu hỏi 7: Thế nào là thềm lục địa, chế độ pháp lý của nó như thế nào?

Trả lời: Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển, trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia này cho đến bờ ngoài của rìa lục địa hoặc tới giới hạn 200 hải lý tính tử đường cơ sở lãnh hải, khi bờ ngoài của rìa lục địa ở khoảng cách gần hơn.

Tuy nhiên bề rộng tối đa của thềm lục địa tính theo bờ ngoài của rìa lục địa không được vượt quá giới hạn 350 hải lý tính tử đường cơ sở lãnh hải hoặc không quá 100 hải lý bên ngoài đường đẳng sâu 2.500 m.

Thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Nam, bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam, mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam không đến 200 hải lý theo tuyên bố của Chính phủ Việt Nam năm 1977.



Câu hỏi 8: Khác nhau cơ bản giữa khái niệm thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế là gì?

Trả lời: Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển trên phần kẻo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia.

Vùng đặc quyền kinh tế là một chế định riêng biệt áp dụng cho cột nước phía trên đáy biển.

(Theo tài liệu của Ban Tuyên giáo Trung ương)