Posts tagged with "Thơ Nguyễn Du"
Friday, 9. May 2008, 04:45:22
Thơ Nguyễn Du
---------------------------------------
Buổi thiếu thời ở Thăng Long, Nguyễn theo học một thầy đồ bên Gia Lâm, ở tả ngạn Nhị Hà, ngày ngày qua sông để ngang trường, Nguyễn thường đi đò của cô Đỗ Thị Nhật, một thiếu nữ duyên dáng.
Tính Nguyễn ít nói nhưng đa cảm, một hôm đến hơi trễ, phải chờ lâu, muốn trách cô lái vài lời thì lại sợ, thấy mặt thì rụt rè không dám, nên viết mấy câu vào mảnh giấy nhờ bạn đưa giùm:
Ai ơi chèo chống tôi sang,
Kẻo trời trưa trật, lỡ làng tôi ra.
Còn nhiều qua lại, lại qua,
Giúp cho nhau nữa để mà...
Nguyễn không viết trọn câu, để thử lòng cô. Cô này trước còn khước từ không đáp, sau rồi cũng nể lòng viết hai chữ "quen nhau" điền vào.
Từ đó cô lái tỏ vẻ ân cần, còn Nguyễn thì vẫn e lệ. Một bữa cô nói:
- Bây giờ thay chữ "quen" bằng chữ "thương" nghe cũng đường được, cậu khoá nhỉ?
Nguyễn sung sướng làm mấy câu nữa:
Quen nhau nay đã nên thương,
Cùng nhau se mối tơ vương chữ tình!
Người xinh xinh, cảnh xinh xinh,
Trên trời dưới nước, giữa mình với ta!
Mối tình đương nồng mặn, thì gia đình Nguyễn hay biết, nghiêm trách và gửi đi tòng học ở Thái Bình.
Mườinăm sau, Nguyễn có dịp trở lại bến cũ thì cô lái đã đi lấy chồng. Nguyễn ngao ngán ngâm:
Yêu nhau, những muốn gần nhau,
Bể sâu trăm trượng, tình sâu gấp mười.
Vì đâu xa cách đôi nơi,
Bến nay còn đó, nào người năm xưa?
-------------------------------------------
Hát phường vải
Làng Trường Lưu thuộc huyện Nghi Xuân là một trong những làng văn vật nổi tiếng về hát phường vải, về nghề dệt vải và con gái đẹp. Làng Tiên Điền có nghề làm nón. Trai thanh phường nón thường kéo nhau sang hát với gái lịch phường vải ở Trường Lưu. Họ đi hát vì mê hát, nhưng một phần cũng vì mê các cô gái đẹp. Trong các chuyến đi ấy, Chiêu Bảy (Nguyễn Du là con thứ bảy nên gọi là Chiêu Bảy) chẳng bao giờ vắng mặt. Con đường sang Trường Lưu đã trở nên quen thuộc. Đến nay nhân dân Hà Tĩnh còn nhắc những câu Nguyễn Du cùng các cô gái đối đáp.
Cậu Chiêu Bảy đã để thương để nhớ lại rằng:
Phiên nào chợ Vịnh ra trông
Mồng ba chẳng thấy lại hòng mười ba.
Đến khi Nguyễn Du ra làm quan cho triều đình nhà Nguyễn thì cô Tuyết, một trong những cô gái hát phường vải ấy trách:
Cái tình là cái chi chi
Anh làm tham tri em cũng biết rồi.
Có một đêm hát nọ, Chiêu Bảy gặp một cô gái tên là Cúc, người đẹp, giọng hay, nhưng phải một nỗi quá thì mà vẫn chưa chồng. Chiêu Bảy biết thóp, liền hát chơi:
Trăm hoa đua nở về xuân
Cớ sao Cúc lại muộn mằn về thu?
Chiêu Bảy vờ nói chuyện hoa để châm chọc: các cô gái khác đều đã đi lấy chồng sớm, sao riêng cô Cúc lại để quá lứa lỡ thì như vậy?
Nhưng cô Cúc nào phải tay vừa, thoáng nghe cô đã hiểu ngay ý tứ của đối phương, bèn cất tiếng hát đáp lại:
Vì chưng tham chút nhuỵ vàng
Cho nên Cúc phải dềnh dàng về thu.
Hoa cúc vốn là loài hoa nở về mùa thu, cúc nở về thu mới đang độ tươi đẹp, đúng kỳ chớ không phải muộn. Câu hỏi khôn và câu trả lời cũng thật khéo.
-------------------------------------------
Duyên nợ với làng Trường Lưu thì nhiều, cũng có nhiều giai thoại văn thơ. Nguyễn có quen một cô gái ở làng này. Một đêm nọ sang chơi, sau đó không sang nữa, khiến cô gái nọ ốm tương tư và bỏ luôn nghề kéo sợi. Cô gái này sau nhờ ông nghè Nguyễn Huy Quýnh ở làng Trường Lưu (là bà con bên họ ngoại với Nguyễn Du) làm một bài thơ thác lời người phường dệt mà gửi cho Nguyễn Du như sau:
Tảng mai Hầu trở ra về
Hồn tương tư vẫn còn mê giấc nồng.
Cơi trầu chưa kịp tạ lòng,
Tỉnh ra đã cách non sông mấy vời.
Trời làm chi cực bấy trời
Cơi trầu này để còn mời được ai ?
Tím gan đổ hắt ra ngoài,
Trông theo truông Hống, đò Cài thấy đâu.
Khi lên, đổ rối cho nhau,
Khi về, trút một gánh sầu về ngay.
Xua buồn từ bấy đến nay,
Nào ai mó đến xa quay, xin thề!
Ngại ngùng đường cửi đi về
Chân dừng dây đạp, tay e thoi chuyền.
Lắng tai nghe tiếng ác truyền,
Đường sầu cuốn khúc, tấm phiền đổ hoa.
Chẹ duyên dằng lại tháo ra,
Gần nhau cách quãng, lại xa mối hồi.
Liều bằng khổ một gò đôi
Coi như bóng đã bắn rồi bong bong.
Nguyễn được bài thơ, tuy sượng sùng, nhưng cũng đành mượn lời phường nón là nghề chuyên môn của làng Tiên Điền để đối lại:
Tiếc thay duyên Tấn phận Tần:
Chưa quen đã lạ, chưa gần đã xa!
Chưa chi đông đã rạng ra,
Đến giờ chỉ giận con gà chết toi!
Tím gan cho cái sao mai,
Thủa nào vác búa chém trời cũng nên.
Về qua liếc mắt trông miền,
Lời quanh dặm dế, chửa yên dặm ngồi.
Giữa thềm tàn đuốc còn tươi,
Bã trầu chưa quét, nào người tình chung?
Hồng sơn cao ngất mấy trùng.
Đò Cài mấy trượng thì lòng bấy nhiêu!
Làm chi cắc cớ lắm điều,
Mới đêm hôm trước lại chiều hôm ni.
Khi xa, xa hỡi như ri,
Tiếng xa nghe vẫn rù rì bên tai.
Quê nhà nắng sớm mưa mai
Đã buồn, giở đến lịp tơi càng buồn.
Thờ ơ đóng vọt bó sườn;
Đã nhàm bẹ móc, lại hờm nắm giang
Trăng tà chênh chếch bóng vàng,
Dừng chân thoạt nhớ đến đàng cửa truông.
Thẫn thờ gối chiếc màn suông,
Rối lòng như sợi ai guồng chưa xong
Phiên nào chợ Vịnh ra trông,
Mồng ba chẳng thấy lại hòng mười ba
Càng trông, càng chẳng thấy ra,
Cơi trầu quệt đã để và lần ôi.
Tưởng rằng nói thế mà chơi,
Song le đã động lòng người lắm thay.
Trông trời, cách mấy từng mây,
Trông trăng, trăng hẹn đến ngày ba mươi.
Vô tình, trăng cũng như người
Một ta, ta lại gẫm cười chuyện ta...
St
Monday, 17. March 2008, 01:07:56
Thơ Nguyễn Du
Chu phát
Khứ biến đông nam lộ
Thông thông tuế dục chu
Sử tòng Giang Hán khẩu
Lai phiếm Động Đình chu
Nhân bỉ lai thì sấu
Giang đồng khứ nhật thu
Hạc lâu thành vịnh xứ
Bạch vân không du du
Thuyền ra đi
Đông nam đi khắp xứ
Thấm thoát trọn năm chừ
Thuận đường Giang Hán khẩu
Dong thuyền Động Đình hồ
Người gầy hơn lần đến
Sông vẫn ngày thu xưa
Chốn lầu thơ hạc cũ
Mây trắng bay lững lờ
Saturday, 6. October 2007, 00:34:14
Thơ Nguyễn Du
Thu chí
Tứ thời hảo cảnh vô đa nhật,
Phao trịch như thoa hoán bất hối.
Thiên lý xích thân vi khách cữu,
Nhất đình hoàng diệp tống thu lai.
Liêm thuỳ tiểu các tây phong động,
Tuyết âm cùng thôn hiểu giác ai.
Trù trướng lưu quang thôi bạch phát,
Nhất sinh u tứ vị tằng khai.
- Nguyễn Du -
Thu Đến
Bốn mùa cảnh đẹp được bao ngày
Vùn vụt thoi đưa gọi chẳng lùi.
Ngàn dặm năm chầy thân khách trọi,
Một sân thu đến lá vàng bay
Gió tây, gác nhỏ, rèm lay động,
Còi sớm, làng xa, tuyết phủ đầy.
Ngày tháng trôi mau buồn tóc bạc,
Nỗi riêng u uất chửa chừng khuây.
Friday, 6. July 2007, 02:25:19
Thơ Nguyễn Du
Dạ hành
Lão nạp an miên Hồng Lĩnh vân,
Phù âu tĩnh túc oán sa tân.
Nam minh tàn nguyệt phù thiên lý,
Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân.
Hắc dạ hà kỳ mê thất hiểu,
Bạch đầu vô lại chuyết tàng thân.
Bất sầu cửu lộ triêm y duệ,
Thả hỷ tu mi bất nhiếm trần.
- Nguyễn Du -
Dịch thơ: do dịch giả Nguyễn Thạch Giang
Đi đêm
Non Hồng ngon giấc vị sư già,
Cò trắng nằm yên bãi cát xa.
Biển rộng, trăng tà nghìn dặm thẳm,
Đường xưa gió lạnh một người qua.
Đêm đem tối mịt bao giờ sáng,
Đầu bạc thêm phiền vụng dấu ta.
Không ngại sương dầm lâu ướt áo,
Râu mày mừng nỗi bụi không pha.
Friday, 6. July 2007, 02:14:19
Thơ Nguyễn Du
Sơn thôn
Vạn sơn thâm sứ tuyệt phong trần,
Thác lạc sài môn bế mộ vân.
Trưởng giả y quan do thị Hán,
Sơn trung giáp tí quýnh phi Tần.
Mục nhi giác chuỷ hoang giao mộ,
Cấp nữ đồng liên ngọc tỉnh xuân.
Ná đắc khiêu ly phù thế ngoại,
Trường tùng thụ hạ tối nghi tân.
- Nguyễn Du -
Dịch thơ: do dịch giả Nguyễn Thạch Giang
Xóm núi
Tuyệt không gió bụi chốn rừng sâu,
rải rác mây chiều khép cửa lau.
Áo mũ người sang còn Hán nhỉ,
Tháng năm trong núi phải Tần đâu?
Đồng hoang chú mục sừng khua gõ,
Giếng ngọc cô em nước múc gàu.
Sao dược thoát ra ngoài cõi tục,
Bóng tùng hóng mát thú dường bao!
Friday, 6. July 2007, 01:59:48
Thơ Nguyễn Du
Đối tửu
Phu toạ nhàn song tuý nhãn khai,
Lạc hoa vô số há thương đài.
Sinh tiền bất tận tôn trung tửu,
Tử hậu thuỳ kiêu mộ thượng bôi ?
Xuân sắc niệm thiên hoàng điểu khứ,
Niên quang ám trục bạch đầu lai.
Bách kỳ đãn đắc chung triêu tuý,
Thế sự phù vân chân khả ai.
- Nguyễn Du -
Dịch thơ: do dịch giả Nguyễn Thạch Giang
Trước chén rượu
Ngồi bên cửa sổ mắt đờ say,
Trên thảm rêu xanh hoa rụng đầy.
Sống đã không vơi bầu rượu được,
Chết rồi ai rưới mộ mình đây?
Sắc xuân dần đổi, chim vàng lánh,
Năm tháng ngầm xui tóc bạc dày.
Ước được trăm năm say khướt mãi,
Việc đời mấy nỗi, nghĩ buồn thay!
Friday, 6. July 2007, 01:54:06
Thơ Nguyễn Du
Khai song
Môn tiền yên cảnh cận như hà?
Nhàn nhật khai song sinh ý đa.
Lục nguyệt bồi phong bằng tỷ địa,
Nhất đình tích vũ nghĩ di oa.
Thanh chiên cựu vật khổ trân tích,
Bạch phát hùng tâm không đốt ta.
Tái bệnh thượng tu điều nhiếp lực,
Bất tri thu tứ đáo thuỳ gia?
- Nguyễn Du -
Dịch thơ: do dịch giả Nguyễn Thạch Giang
Mở cửa sổ
Trước nhà phong cảnh hiện nay sao?
Mở cửa nhìn xem sinh ý nhiều.
Sáu tháng gió đưa bằng đổi chỗ
Một sân mưa đọng kiến bò cao.
Nệm xanh vật cũ lo gìn giữ,
Tóc bạc lòng hăng luống ngẹn ngào.
Còn bệnh hãy nên lo chạy chữa,
Chẳng hay thu tứ đến nhà nào?
Friday, 6. July 2007, 01:44:01
Thơ Nguyễn Du
Ký hữu
Mạc mạc trần ai mãn thái không,
Bế môn cao chẩm ngoạ kỳ trung.
Nhất thiên Minh nguyệt giao tình lại,
Bách lý Hồng Sơn chính khí đồng.
Nhăn để phù vân khan thế sự,
Yêu gian trường kiếm quải thu phong.
Vô ngôn độc đối đình tiền trúc,
Sương tuyết tiêu thời hợp hoá long.
- Nguyễn Du -
Dịch thơ: do dịch giả Nguyễn Thạch Giang
Gửi bạn
Bầu trời mù mịt bụi bay đầy,
Đóng cửa nằm khàn nghỉ cũng hay.
Một mảnh giao tình vầng nguyệt tỏ,
Nghìn năm chính khi núi Hồng đây.
Việc đời trước mắt chòm mây đổi
Thanh kiếm bên kưng trận gió may,
Đứng lặng trước sân nhìn khóm trúc,
Tuyết sương tiêu hết hoá rồng bay.
Thursday, 5. July 2007, 01:16:52
Thơ Nguyễn Du
Đạo ý
Minh nguyệt chiếu cổ tỉnh,
Tỉnh thuỷ vô ba đào.
Bất bị nhân khiên xã,
Thử tâm trung bất dao.
Túng bị nhãn khiên xã,
Nhất dao hoàn phục chỉ.
Trạm trạm nhất phiến tâm,
Minh nguyệt cổ tỉnh thuỷ.
- Nguyễn Du -
Dịch thơ: do dịch giả Nguyễn Thạch Giang
Nói ý mình
Trăng sáng rọi giếng xưa,
Nước giếng không gợn sóng.
Không có người khuấy lên,
Lòng này không xao động.
Dù có người khuấy lên
Động qua, lặng rất chóng.
Trong vắt một tấm lòng,
Giếng xưa trăng rọi bóng.
Wednesday, 4. July 2007, 04:07:19
Thơ Nguyễn Du
* Bài thơ này xin tặng những người " Khất Thực " và cũng dành tặng các bạn, dù cuộc sống của các bạn có sung sướng gấp nhiều lần cuộc sống của những người thiếu ăn, thiếu mặc. Nhưng các bạn có bao giờ nghĩ rằng, bản thân các bạn cũng là ăn mày, bạn nghĩ sao? ca dao Việt Nam có câu: " ăn mày là ai?, áo cơm rách đói hóa ra ăn mày".
Khất Thực
Tằng lăng trường kiếm ỷ thanh thiên
Triển chuyển nê đồ tam thập niên.
Văn tự hà tằng vi ngã dụng ?
Cơ hàn bất giác thụ nhân liên!
- Nguyễn Du -
Dịch Thơ: do dịch giả Nguyễn Thạch Giang
Xin ăn
Hiên ngang tựa kiếm đứng nhìn trời,
Ba chục năm qua chốn vũng lầy.
Chữ nghĩa ích gì cho cuộc sống ?
Áo cơm buồn những chịu ơn người!
1 2 Next »
Showing posts 1 -
10 of 11.