CÁC BÀI VIẾT VỀ GIÁO DỤC

Rất mong được chia sẻ với quý vị về những vấn đề cùng quan tâm về nền giáo dục nước nhà

Subscribe to RSS feed

THỰC NGHIỆM DẠY TỪ VỰNG TIẾNG ANH TRÊN LỚP CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

,

THỰC NGHIỆM DẠY TỪ VỰNG TIẾNG ANH
TRÊN LỚP CHO HỌC SINH TIỂU HỌC


Tác giả: Trần Mạnh Trung
Đăng trên tạp chí “Giáo dục” – số 253 (Kỳ 1- 1/2011)

1. Vai trò của từ vựng trong học ngoại ngữ
Học ngoại ngữ đòi hỏi học sinh (HS) phải tích lũy một vốn từ nhất định, nắm vững các quy tắc ngữ pháp cơ bản và rèn luyện bốn kỹ năng nói, nghe, đọc và viết. Nếu HS không có vốn từ nhất định sẽ rất khó thực hành sử dụng ngôn ngữ đó dù có nắm chắc ngữ pháp.

Theo các “Sách giáo viên” của bộ sách giáo khoa (SGK) “Let’s Learn English” book 1, 2 và 3 phần từ vựng được giới thiệu ở mục 2 “Trọng tâm ngôn ngữ” thuộc phần I “Những vấn đề chung” nhưng trong suốt tiến trình dạy của cả đơn vị bài (unit) không có phần dạy từ vựng cho HS trên lớp. Trong SGK từ vựng trong bài được liệt kê ở cuối sách chủ yếu HS tra cứu nghĩa và tự học ở nhà. Trên lớp HS vừa phải thuộc từ (bao gồm phải nhớ nghĩa, cách phát âm và chính tả) vừa phải thực hành sử dụng chúng theo mẫu câu trong các tình huống trong bài. Thực tế cho thấy nếu không viết từ nhiều lần HS không thể viết đúng chính tả những từ dài do đặc điểm của tiếng Anh là đọc và viết không đồng nhất.
Theo tác giả Nguyễn Hạnh Dung phần giới thiệu từ mới được thực hiện ở phần “Giới thiệu ngữ liệu mới” (Presentation) trước khi sang phần “Thực hành” (Practice). Cũng theo tác giả này việc giới thiệu từ mới gồm:
- Chữ viết (Spelling)
- Ngữ âm (Pronunciation)
- Ngữ nghĩa (Lexical meaning)
- Hình thái ngữ pháp (Grammatical form)
- Cách sử dụng (Use).
Việc giới thiệu từ mới cho HS tiểu học chỉ nên bao gồm:
- Chữ viết (spelling)
- Ngữ âm (Pronunciation)
- Cách sử dụng (Use) theo cấu trúc trong các tình huống cụ thể của bài học.
HS cần phải được học từ vựng trước khi vào học mỗi bài để việc thực hành nghe, nói, đọc và viết hiệu quả hơn. Học từ vựng trên lớp gồm 3 hoạt động sau: nghe, đọc và viết.
- Nghe: HS nghe giáo viên (GV) phát âm để bắt chước, nghe HS khác phát âm và nghe GV sửa lỗi để tự sửa lỗi phát âm cho mình.
- Đọc: đọc từ nhiều lần theo GV để ghi nhớ cách phát âm các từ mới, đọc để GV và các HS kiểm tra xem phát âm đúng chưa. Nhớ cách phát âm các từ sẽ giúp cho các hoạt động nói, nghe khi học trên lớp tốt hơn.
- Viết mỗi từ mới từ 5 đến 10 lần để nhớ chính tả từ đó để sử dụng vào các hoạt động viết khi học trên lớp. Khi học từ vựng của bất kỳ ngoại ngữ nào, viết rất cần thiết vì HS chỉ có thể nhớ chính tả khi viết từ đó nhiều lần.
2. Quy trình dạy từ vựng trên lớp.
Việc học từ vựng cần qua 2 giai đoạn: Nhớ máy móc và Ứng dụng trong thực hành các kỹ năng ngôn ngữ.
Tự vựng cần được học trước khi vào học mỗi bài với thời lượng là 1 tiết học trước khi học 1 đơn vị bài (unit). Các bước thực hiện như sau:
- Chép tất cả các từ và cụm từ mới của bài học lên bảng.
- Giới thiệu nghĩa và cách dùng các từ mới.
- Cho HS đọc đồng thanh 3 hoặc 4 lần.
- Cho một số HS đứng lên đọc để GV kiểm tra và sửa lỗi phát âm.
- Cho HS ngồi tại chỗ tự học thuộc lòng cách phát âm các từ (5 phút), cho phép HS được yêu cầu GV nhắc lại cách phát âm các từ trên bảng mà HS chưa nhớ.
- Yêu cầu một số HS đứng lên đọc để kiểm tra.
- Khi HS đã nhớ cách phát âm tất cả các từ thì GV yêu cầu chép tất cả các từ vào vở hoặc vở nháp, mỗi từ 10 lần (gồm chữ và nghĩa tiếng Việt).
- Gọi một số HS lên bảng viết và phát âm một số từ để GV kiểm tra.
Các bước trên giúp HS học sinh nhớ máy móc (nghĩa, phát âm và cách dùng) các từ và cụm từ mới để phục vụ cho việc thực hành theo tình huống sử dụng trong bài sau này.
3. Ưu điểm của việc dạy từ vựng trên lớp trước khi học mỗi đơn vị bài học.
- HS nhớ được cách phát âm và nghĩa các từ và cụm từ mới trong bài trước khi học bài và được củng cố sau khi sử dụng khi học bài đó.
- Do đã thuộc các từ hay cụm từ trong bài rồi nên HS chỉ còn phải tập trung vào việc sử dụng chúng cho đúng trong các bài hội thoại và tình huống trong bài.
- HS sẽ cảm thấy tự tin và thoải mái hơn khi thực hành do không phải chú ý đến phát âm và nghĩa của từ hay cụm từ mới trong bài hội thoại nữa.
- GV sẽ đỡ mất nhiều thời gian sửa lỗi phát âm cho HS trong quá trình dạy trên lớp.
- HS sẽ viết đúng chính tả các từ trong các hoạt động viết do đã viết 10 lần trước khi học.
4. Kết quả thực nghiệm.
Việc thực nghiệm được áp dụng cho HS lớp 3 của một trường tiểu học đang học theo sách “Let’s learn English” – Book 1 (NXB Giáo dục). Lớp có sĩ số là 30 học sinh. Hai bài thực nghiệm được lựa chọn gồm: Unit 06: My Classroom (trang 54 - SGK) và Unit 07: Family Members (trang 66 - SGK)
a. Trước khi thực nghiệm (Unit 06): GV dạy bình thường theo hướng dẫn trong sách GV. GV chọn bất kỳ 4 nhóm, mỗi nhóm gồm 3 học sinh thực hành các tình huống trong bài. Cuối bài GV yêu cầu 10 học sinh lên bảng viết từ mới trong bài.
b. Thực nghiệm (Unit 07): Giáo viên dạy từ vựng trước cho HS. GV chọn 4 nhóm HS đã tham gia buổi học trước thực nghiệm (Unit 06) thực hành các tình huống trong bài. Cuối bài GV yêu cầu 10 học sinh đã lên bảng viết từ của buổi trước thực nghiệm (unit 06) lên bảng viết từ mới.
Kết quả quan sát do 2 GV Tiếng Anh dự giờ (mỗi giáo viên quan sát ½ lớp) như sau:
1. Số HS sử dụng từ đúng khi thực hành theo các tình huống trong bài
a. Trước thực nghiệm: 8/30 HS (26,6%)
b. Thực nghiệm: 28/30 (93,3 %)
2. Số HS phát âm đúng, trôi chảy trong hoạt động theo nhóm được GV chỉ định thực hành trước lớp
a. Trước thực nghiệm: 4/12 HS (33,3%)
b. Thực nghiệm: 9/12 (75 %)
3. Số HS phát âm đúng, trôi chyar trong các hoạt động nhóm hay cặp trong suốt giờ học
a. Trước thực nghiệm: 8/30 HS (26,6%)
b. Thực nghiệm: 25/30 (83,3 %)
4. Số HS viết đúng các từ GV yêu cầu
a. Trước thực nghiệm: 2/10 HS (20%)
b. Thực nghiệm: 9/10 (90 %)

Kết quả quan sát cho thấy hiệu quả cao của việc HS học từ vựng trên lớp trước khi vào bài học. Do thuộc từ trước nên 28 HS (93,3 %) đã sử dụng từ đúng khi thực hành theo tình huống trong bài. Số học sinh phát âm đúng và trôi chảy khi thực hành trên lớp tăng lên rất nhiều, từ 4 lên 9 em trong số 12 HS được chỉ định trước lớp và từ 8 lên đến 25 HS trong các hoạt động nhóm trong lớp. Số HS viết từ đúng tăng lên từ 02 (20% ) đến 09 (90%).
Sau buổi học thực nghiệm các GV dự giờ đã phát phiếu điều tra cho 30 học sinh trong lớp với 2 câu hỏi:
Câu hỏi 1: “Theo em việc học từ vựng trước khi học bài có cần thiết không?. Có 2 phương án lựa chọn:
a. Rất cần thiết.
b. Không cần thiết.
Kết quả cho thấy có 28 học sinh (93,3 %) chọn phương án a; 02 học sinh (6,6 %) chọn phương án b cho câu hỏi 1. Hầu hết HS đã xác nhận việc dạy từ trên lớp trước khi học bài là rất cần thiết.
Câu hỏi 2: “Việc học từ vựng trước khi học bài sẽ giúp em …?. Có 3 phương án lựa chọn:
a. Nhớ nghĩa và cách phát âm các từ mới .
b.Thuộc cách viết của từ.
c. Giúp em thực hành nghe, nói, đọc và viết tốt hơn.
d. Cả hai phương án trên
Có 28 học sinh (93,3 %) chọn phương án d; 01 học sinh (3,3 %) chọn phương án b và 01 (3,3 %) học sinh chọn phương án c cho câu hỏi 2. Có 93,3 % HS xác nhận 3 ích lợi của việc GV dạy từ vựng trước khi học bài.

5. Kết luận
Kết quả thực nghiệm cho thấy việc dạy từ vựng trước khi vào bài học trên lớp là cần thiết, đặc biệt là đối với HS tiểu học. Việc dạy từ vựng trên lớp trước khi vào bài đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực. HS tiếp thu bài học tốt hơn do thực hành nghe nói đọc và viết trên lớp tốt hơn. HS đã phát âm đúng và trôi chảy trong các hoạt động nhóm hay cặp trên lớp. HS nhớ mặt chữ tốt hơn do các em đã được viết nhiều lần trước khi vào bài học. Ngoài ra, việc dạy từ vựng trước khi học sẽ giúp giáo viên giảm bớt thời gian sửa lỗi phát âm cho học sinh hơn.
Trần Mạnh Trung

Tài liệu tham khảo:
1. P. Davies – P. and Pearse. Success in English Teaching. OUP. 2000.
2. Nguyễn Hạnh Dung. Phương pháp dạy tiếng Anh trong trường phổ thông. NXB Giáo dục. 2005.
3. Nguyễn Quốc Tuấn (Chủ biên). Let’s Learn English (sách học sinh) Book 1, 2 và 3. NXB Giáo dục. 2005.
4. Nguyễn Quốc Tuấn (Chủ biên). Let’s Learn English (sách giáo viên) Book 1, 2 và 3. NXB Giáo dục. 2005.

MỘT SỐ BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY HỌC SINH TÍCH CỰC THAM GIA CÁC HOẠT ĐỘNG NHÓM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY HỌC SINH
TÍCH CỰC THAM GIA CÁC HOẠT ĐỘNG NHÓM


Đăng trên tạp chí “Dạy và Học Ngày nay” – số 10 (2010)

Trần Mạnh Trung
Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học tiếng Anh
Khoa Ngoại ngữ - Đại học Hồng Đức – Thanh Hoá

Trong xu thế hội nhập về giáo dục của Việt Nam với khu vực và thế giới, việc đổi mới phương pháp dạy học của tất cả các môn học, ở tất cả các cấp học theo Đường hướng “Lấy người học làm trung tâm (Learner – Centered Approach) đang là vấn đề được các nhà quản lý giáo dục và nhiều giáo viên (GV) quan tâm. Để khuyến khích học sinh (HS) chủ động, tự giác và sáng tạo trong quá trình tiếp thu tri thức thì hoạt động nhóm là một trong các sự lựa chọn trong hoạt động dạy học hàng ngày của GV trên lớp. Một vấn đề khó khăn mà nhiều GV gặp phải là do quá quen với lối dạy - học, truyền thống, thụ động “thầy cô giảng, trò ngồi nghe và ghi chép” nên nhiều HS đã không tham gia các hoạt động nhóm (HĐN) một cách tích cực hoặc tham gia mang tính đối phó, khiến cho hiệu quả của HĐN không cao, hậm chí, gây lãng phí thời gian của tiết học.

Để khắc phục những vấn đề còn tồn tại của HĐN, giáo viên cần tìm ra số biện pháp thích hợp nhằm thúc đẩy HS tham gia hoạt động nhóm một cách tích cực và hiệu quả.
1. HOẠT ĐỘNG NHÓM LÀ GÌ?
Hoạt động nhóm với nghĩa chung nhất là hoạt động của từ hai người trở lên cùng làm chung một nhiệm vụ nào đó. Theo định nghĩa của J.C.Richards và J.H. Platt thì HĐN là hoạt động học tập tập thể bao gồm một số người tham gia cùng nhau, mỗi người làm một phần việc của một nhiệm vụ được giao hay cùng làm chung nhiệm vụ đó. Nhiệm vụ của mỗi thành viên do các thành viên trong nhóm phân chia với nhau. Trong dạy học nói riêng và trong các hoạt động mang tính cộng đồng nói chung, HĐN có thể được áp dụng rất năng động:
- GV có thể lựa chọn nhiều hình thức khác nhau như thảo luận theo chủ đề, làm bài tập theo nhóm, chơi các trò chơi, trả lời phiếu điều tra, câu lạc bộ chuyên đề, ….
- HĐN có thể áp dụng với nhiều đối tượng khác nhau: bất kỳ ai cũng có thể tham gia khi có chung công việc cần làm; dù cùng lứa tuổỉ hay khác lứa tuổi, không phân biệt giới tính, dân tộc, … đều có thể tham gia HĐN.
- HĐN có thể áp dụng với tất cả các môn học, tuy nhiên cần thiết kế các HĐN phù hợp với đặc thù môn học; HĐN cũng có thể áp dụng với nhiều mục đích khác nhau như: thông qua HĐN GV có thể thu thập ý kiến của HS về việc giảng dạy của mình, về nội dung kiến thức, hay tham gia một hoạt động xã hội nào đó, ...
- HĐN có thể thực hiện ở bất kỳ nơi nào: trong lớp học, ngoài lớp học hay ở nhà HS hoặc trên mạng Internet.
2. LỢI ÍCH CỦA HOẠT ĐỘNG NHÓM
HĐN là cơ hội để HS có thể tự do trình bày tự do, ý kiến hay quan điểm của mình với những HS khác. Qua tranh luận có thể giúp HS hiểu bài tốt hơn và có thể thuộc bài ngay trên lớp.
HĐN rèn luyện cho HS thói quen tự học, tự nghiên cứu trước khi đến lớp: HS sẽ phải đọc sách giáo khoa , tài liệu tham khảo và các sách báo khác để thu thập thông tin chuẩn bị cho thảo luận nhóm trên lớp buổi sắp tới theo yêu cầu và gợi ý của GV bộ môn.
HĐN rèn luyện cho những HS rụt rè, thiếu tự tin có thể rèn luyện để mạnh dạn trong việc trình bày ý kiến của mình trước nhiều người; là cơ hội để HS trao đổi kiến thức với nhau; giúp HS biết cách giúp đỡ nhau trong học tập và trong các hoạt mang tính chất cộng đồng; tăng cường tình cảm bạn bè giữa các HS trong lớp, được tham gia HĐN, HS sẽ hiểu nhau hơn và gắn bó nhau hơn. HĐN giúp GV đỡ mệt mỏi vì không phải “độc thoại” suốt cả tiết học, làm cho giờ học sôi nổi hơn, tránh sự nhàm chán.
4. MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỒN TẠI CỦA HOẠT ĐỘNG NHÓM
Mặc dù mang lại rất nhiều lợi ích nhưng HĐN vẫn tồn tại nhiều vấn đề, cần điều chỉnh và khắc phục:
- HS tham gia chưa nhiệt tình, nhiều khi chỉ mang tính đối phó và tham gia không đồng đều và tham gia không đồng đều. Chỉ có các em học khá giỏi và mạnh dạn mới nói còn những HS khác ngại sai hay không quen nói trước đông người nên mặc dù biết nhưng vẫn không dám nói.
- HĐN có thể khó thực hiện khi bài tập hay chủ đề thảo luận quá khó, vượt khỏi khả năng của HS hoặc không có sự tham khảo hay chuẩn bị trước cho nên HS dù muốn nhưng không có gì để tranh luận. Ngoài ra, HĐN sẽ gặp khó khăn nếu thành viên trong nhóm có mâu thuẫn hoặc không thích nhau.
3. BIỆN PHÁP LÀM TĂNG TÍNH HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG NHÓM
GV cần nêu trước chủ đề thảo luận hay bài tập và yêu cầu HS đọc sách giáo khoa, sách tham khảo và thu thập thông tin từ sách báo khác hay trên internet trước khi đến lớp để thảo luận, cũng như cần phải định rõ thời gian tối đa cho mỗi hoạt động cụ thể, không nên kéo dài hoặc quá ngắn.
Chủ đề hay bài tập không quá khó hay quá dễ sẽ làm giảm hứng thú cho HS khi tranh luận; cần được chọn lựa sao cho thật lý thú và mang tính thách thức và kích thích học sinh suy nghĩ và tranh luận.
GV yêu cầu các nhóm tự bầu trưởng nhóm ( HS khá, giỏi hoặc tích cực) để điều khiển hoạt động của nhóm. Mỗi nhóm cần có 1 thư ký để ghi lại các câu hỏi, ý kiến trao đổi của các thành viên và tập hợp lại để trình bày trước lớp để tranh luận với các nhóm khác. Trong nhóm cần sắp xếp có những HS tích cực, HS khá giỏi và HS yếu để hỗ trợ lẫn nhau.
GV theo dõi chung cũng như đến từng nhóm để lắng nghe, giải đáp, phân xử đúng, sai và trợ giúp HS nếu cần. Khi hoạt động, các nhóm cử đại diện lên trình bày ý kiến trước lớp (có thể dùng các tờ giấy khổ lớn để ghi lại các ý chính và treo trên bảng để thuyết trình, dùng tranh ảnh minh hoạ hay sử dụng POWERPOINTS để trình chiếu ) những ý kiến mà nhóm vừa thảo luận.
GV yêu cầu các thành viên trong nhóm chấm điểm ý thức tham gia hoạt động các thành viên khác và gửi cho GV để tính vào điểm ý thức học tập của HS. Điểm ý thức được giữ bí mật và có thể tính vào 10 % đến 20% điểm học kỳ. Cùng đó, GV có thể đặt câu hỏi để kiểm tra mức độ hiểu của các thành viên trong nhóm sau khi thảo luận.
HĐN nên được tổ chức ở vị trí thích hợp, tránh ồn ào ảnh hưởng đến giờ học của các lớp khác. GV cần kiên nhẫn và động viên, khuyến khích tất cả HS tham gia HĐN; cần thường xuyên thông qua phiếu điều tra để thu thập ý kiến phản hồi từ HS để cải tiến HĐN ngày càng hiệu quả hơn.
* * *
HĐN cần là một ưu tiên trong việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng “lấy người học làm trung tâm”. HĐN có nhiều lợi ích thiết thực cho HS và GV. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng HĐN vẫn còn những khó khăn và hạn chế. Tuỳ vào đặc thù môn học, đặc điểm của HS mà GV có những biện pháp cụ thể để khắc phục những tồn tại và hạn chế của HĐN cũng như phát huy những ưu điểm của HĐN đem lại hiệu quả cao nhất trong dạy và học.
===============================================================
Tài liệu tham khảo:

1. Richards, J.C. and Platt, J.H. 1992. Longman Dictionary of Language Teaching and Applied Linguistics. Longman.
2. Trần Mạnh Trung. 2007. Nghiên cứu thực nghiệm về sự không tích cực của sinh viên trong hoạt động nhóm trong giờ viết luận của sinh viên năm thứ 3, Đại học Hồng Đức, Thanh Hoá. (Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ - bảo vệ tháng 10/2007 tại ĐH Ngoại ngữ-ĐHQG Hà Nội)
3. Davies, P. and Pearse, E. 2000. Success in English Teaching. OUP.
4. D. Freeman, with S. Cornwell (Eds). New ways in teacher education. Alexandria. VA: TESOL.

TRỞ VỀ DÒNG SÔNG TUỔI THƠ

TRỞ VỀ DÒNG SÔNG TUỔI THƠ

Bài dự thi viết về “Một chuyến đi” do Báo "Văn hoá và Thể thao" điện tử tổ chức:

Từ khi mẹ của Hùng qua đời, mãi 10 năm sau tôi lại mới có dịp về thăm lại xóm Lê Xá, thăm lại dòng sông Chuối hiền hoà chảy qua thị trấn Chuối thân yêu, nơi tôi đã qua thời thơ ấu với rất nhiều kỷ niệm vui, buồn.
Những năm chiến tranh chống Mỹ, bố mẹ tôi vào công tác tại thị trấn Chuối, huyện Nông Cống, Thanh Hoá. Tôi đã được sinh ra ở đó và cả nhà tôi sơ tán vào xóm Lê Xá, xã Minh Thọ. Tôi đã lớn lên và kết thân cùng với Hùng. Nhà Hùng chỉ cách nhà gia đình tôi ở trọ có vài chục mét. Gia đình Hùnh rất nghèo. Bố Hùng đi làm xa nhà biền biệt. Một năm bố Hùng mới về thăm nhà một hay hai lần gì đó. Hùng sống với mẹ và một đứa em gái. Mẹ Hùng lại hay ốm đau nên Hùng tuy còn nhỏ nhưng vẫn phải ra đồng giúp mẹ. Chúng tôi chơi thân với nhau. Có bất cứ cái gì tôi cũng chia cho Hùng, dù chỉ là một chiếc kẹo. Hằng ngày chúng tôi vẫn đội mũ rơm chống bom bi đi học ở ngôi trường nằm giữa vườn cây, xung quanh là hệ thống giao thông hào bao bọc. Mùa đông, chúng tôi thường ôm nhau ngủ bên nhà tôi cho ấm. Hùng thường mơ ước có bộ quần áo đẹp mặc Tết như tôi. Thương Hùng, Tết năm nào tôi cũng sang nhà để đổi quần áo cho Hùng mặc thử quần áo tôi. Hùng thường xuýt xoa ngửi mùi quần áo mới và không muốn cởi ra đổi lại. Tôi cũng không nỡ giục Hùng trả lại cho tận khi mẹ tôi gọi về. Tuổi thơ chúng tôi trôi qua trong sự khốc liệt của bom đạn Mỹ cho đến ngày tôi mãi mãi xa Hùng ngay trong năm hoà bình đầu tiên.

Chuyến về thăm lần này, tôi thấy Lê Xá có nhiều thay đổi. Căn nhà gạch mà bố Hùng đang sống một mình ở giữa làng. Em gái Hùng đã lấy chồng xóm bên. Căn nhà đã cũ nát do thời gian. Bố Hùng tiếp tôi như với một người lạ. Ngày xưa, ông ít về thăm nhà nên ông không biết tôi và tôi cũng không biết nhiều về ông. Chỉ khi về hưu ông mới quay về sống hẳn ở đây. Thời xưa có lần tôi bắt gặp Hùng đứng một mình khóc thầm khi nghe người trong làng nói “Bố mày có vợ hai ở trên đó, bỏ rơi mẹ con mày rồi!”.
Câu chuyện giữa ông và tôi trở nên nhạt nhẽo và gượng ép. Tôi đứng lên xin phép ra thăm mộ Hùng và mẹ. Mộ Hùng năm bên cạnh mộ mẹ. Thắp nén hương khấn Hùng, mắt tôi nhoà lệ. Tôi thầm nói “Hùng ơi! Ngàn lần mình xin tạ ơn cứu mạng! Hãy tha lỗi cho mình đã không giữ được lời hứa chăm sóc mẹ thay Hùng”. Tôi chợt như thấy đâu đây còn phảng phất hình bóng thân thương của Hùng với vẻ mặt trách móc tôi.

Tôi tha thẩn bước ra bến sông xưa. Giờ đây, bến sông không còn ai ra tắm hay gánh nước nữa. Cây cối đã mọc lấp các bậc lên. Đất đã sụt nhiều chỗ xuống dòng sông tạo nên những xoáy nước to. Kỷ niệm kinh hoàng ngày xưa bỗng trở về trong tâm trí tôi. Tôi vẫn nhớ buổi chiều tháng 6 định mệnh của năm hoà bình đầu tiên 1975, khi tôi mới 11 tuổi. Mùa hè, chúng tôi thường rủ nhau ra bến sông, cởi hết quần áo để trên bờ rồi cả lũ trần như nhộng nhảy xuống sông vùng vẫy thoả thích trong làn nước mát. Chiều hôm ấy, Tôi đã rủ Hùng đi ra bến tắm cùng lũ bạn trong xóm. Hùng không đi được vì bận cuốc vườn trồng rau . Tôi đành đi không có Hùng như mọi khi. Chúng tôi vui đùa chán chê rồi rủ nhau thi bơi 5 vòng với luật lệ là bên thua chỉ phải chui háng bên thắng. Bơi đến vòng thứ 4 tôi bị chuột rút và chìm dần xuống sông. Lũ bạn la toáng lên. Không có người lớn ở gần. Hùng đang cuốc vườn gần đó nghe kêu cứu chạy ngay lại. Không ngần ngại dù mồ hôi ướt đẫm lưng áo và rất mệt do đang cuốc vườn, Hùng nhảy xuống sông bơi ra cứu tôi. Túm tóc tôi kéo gần vào đến bờ chính Hùng cũng bị chuột rút. Hùng cũng chìm dần xuống sông. Tôi cố gắng vùng vẫy một cách tuyệt vọng. Lúc đó có mấy người lớn lao ra nhưng chỉ cứu được tôi. Hùng đã chìm sâu xuống dòng nước xoáy.

Trong đám tang Hùng tôi đã hứa trước vong linh người bạn xấu số là sẽ thay Hùng chăm sóc mẹ. Nhưng rồi cuối năm đó, bố mẹ tôi có quyết định chuyển về thị xã Thanh Hoá làm việc. Tôi bận đi học gần như suốt ngày. Rồi tôi đi học đại học. Khi mẹ Hùng qua đời, tôi chỉ kịp về dự đám tang với niềm day dứt đã không thực hiện được lời hứa năm xưa. Ra trường, tôi trở về làm việc ở thành phố Thanh Hoá, rồi cưới vợ, có con. Cuộc sống và công việc bận rộn, tôi không thể về thắp hương cho Hùng và mẹ hằng năm vào ngày giỗ được. Đến tận hôm nay, tôi mới có thể về thăm mộ Hùng và mẹ. Tôi trở về thành phố với tâm trạng thật buồn tôi tự trách mình là kẻ vô ơn, không giữ lời hứa. Không biết linh hồn Hùng có độ lượng tha thứ cho tôi không?

Trần Mạnh Trung

http://thethaovanhoa.vn/388N20094413311390T288/tro-ve-dong-song-tuoi-tho.htm

KỶ NIỆM VỀ MỘT CHUYẾN DU HỌC

(Bài dự thi CUỘC THI VIẾT "MỘT CHUYẾN ĐI" DO BÁO ĐIỆN TỬ "THỂ THAO VÀ VĂN HOÁ" TỔ CHỨC) - Hè năm 2005 tôi đã vượt qua vòng phỏng vấn của Tổ chức Hỗ trợ sinh viên đại học Canada (WUSC) và được chọn tham gia một khoá học hè 3 tháng về phương pháp dạy học tiếng Anh tại thủ đô Ottawa (Canada). Tôi rất háo nức chờ đón ngày lên máy bay sang Canada du học.


Sau một hành trình dài, cuối cùng tôi cũng đặt chân đến đất nước Canada. Tôi thật xúc động khi được những người của tổ chức WUSC ra sân bay đón và tặng hoa. Chủ nhà trọ của tôi cũng chờ tôi ở sân bay để đưa tôi về nhà họ. Những ngày đầu chúng tôi được đưa đi thăm quan nhiều nơi của thủ đô. Tôi được hướng dẫn để làm quen với hệ thống xe buýt và tàu hoả để sau này đi học bằng các phương tiện giao thông công cộng đó. Hệ thống giao thông ở Ottawa rất tốt. Xe buýt chạy tốc độ khá cao so với xe buýt ở Hà Nội. Trên xe chỉ có duy nhất lái xe và một hộp thuỷ tinh trong suốt gắn ở phía tay phải lái xe. Mọi người lên xe bỏ tiền hoặc vé vào hộp hoặc trình vé tháng cho lái xe. Điều lý thú là trong vòng 1 giờ hành khách có thể đi 2 tuyến mà không mất tiền thêm. Hành khách chỉ cần yêu cầu lái xe in ra cho một chiếc vé chuyển tuyến và cầm vé đó bỏ vào hộp của xe buýt kế tiếp là được. Ở các bến xe buýt chính có đường hầm đào ngầm qua đường hoặc cầu vượt cho khách sang đường an toàn.

Những ngày học tập ở trường đại học Carleton đã để lại cho tôi những ấn tượng đẹp. Trường có hệ thống phục vụ học tập rất tốt. Thư viện có đầy đủ các loại sách tham khảo và các phòng Internet phục vụ sinh viên. Trong trường có những quán ăn và các máy bán đồ uống hay đồ ăn nhẹ tự động, tuy giá có cao hơn ở ngoài. Phong cách học tập ở đó cũng khác. Mọi người được tham gia thảo luận thoải mái cho đến khi hiểu rõ. Các giáo viên luôn nhiệt tình giúp đỡ sinh viên. Sinh viên đòi hỏi phải có tinh thần tự giác và tự học ở nhà nếu muốn đạt kết quả tốt.



Tôi đã có một kỷ niệm khó quên với bà chủ nhà trọ. Khi ăn món ăn nào bà cũng hỏi tôi có thích không. Theo lối sống ở Việt Nam tôi thường trả lời “ có” mặc dù tôi không thích. Kết quả là tôi phải ăn quá nhiều lần món tôi không thích. Tôi đành nói thật là tôi không thích món đó. Khi đó, bà chủ nhà trách tôi : “Tại sao hôm trước tôi hỏi có thích không cậu lại nói có!” Tôi chợt hiểu là nên nói thật mà đừng ngại người ta hiểu lầm mình chê họ nấu ăn kém.

Tôi cũng được nghe những câu chuyện về lý thú về đất nước Canada. Ở Canada phụ nữ và trẻ em được pháp luật bảo vệ rất tốt. Cha mẹ nào chỉ cần đánh con dù chỉ là phát nhẹ vào mông hay ông chồng nào quen thói “vũ phu” nếu bị ai đó báo cảnh sát thì sẽ bị bắt giam ra toà và có thể bị phạt nặng. Một người bạn của tôi rất thích trẻ con. Mỗi khi ra đường thấy đứa bé nào xinh xắn anh cũng muốn bế và xin chụp ảnh nhưng bị từ chối thẳng thừng với sự khó chịu. Người ta không thích người lạ bế hay chạm vào con của họ. Vào cuối tuần thỉnh thoảng tôi đi dọc trên phố để mua những món đồ đã qua sử dụng mà người ta bày bán trước nhà gọi là “Garage sale”.


Trong thời gian ở Canada, tôi cũng có dịp tiếp xúc với một số Việt kiều. Ở Ottawa, số lường người Việt ít và họ thường sống tản mát và họ ít khi có cơ hội gặp nhau để nói chuyện. Trước đây, tôi cứ nghĩ là Việt kiều nào ở nước ngoài cũng sang trong và giàu có. Sang Canada tôi hiểu rằng có những Việt kiều không thạo tiếng Anh, không thể đi học hay biết kinh doanh thì cũng chỉ đi lao động chân tay làm thuê với thu nhập chỉ đủ sống. Có người không thể về nước thăm người thân vì chi phí một chuyến đi như vậy họ cũng phải để dành nhiều năm mới có. Trong khi họ còn phải dành dụm tiền nhiều năm để mua nhà và nuôi con ăn học. Điều làm ấm lòng tôi khi ở xứ người là tình cảm các anh chị dành cho chúng tôi. Các anh chị thường mời chúng tôi đến nhà để ăn cơm vào kỳ nghỉ cuối tuần để nghe chúng tôi kể chuyện quê hương. Nhiều anh chị còn nhiệt tình chỉ dẫn và lái xe đưa chúng tôi đi du lịch tới thác Niagara, thành phố Toronto, thành phố Montreal, ... vào các kỳ nghỉ cuối tuần. Khi chia tay về nước, các anh chị đã tặng chúng tôi những món quà tuy nhỏ nhưng tôi hiểu tấm lòng của những người con đất Việt xa quê.


Ba tháng ở Canada tôi đã không chỉ có dịp trau dồi ngôn ngữ tiếng Anh và học thêm về phương pháp dạy học tiếng Anh mà tôi còn biết thêm nhiều điều lý thú về đất nước và con người Canada. Tôi cũng được gặp những anh chị Việt kiều tốt bụng như anh Thạnh, anh Đạm, chị Vân, anh Đậm, chị Tỷ, anh Khang, ..... Tôi sẽ không bao giờ quên những kỷ niệm về chuyến đi du học nước ngoài đầu tiên của tôi.

Trần Mạnh Trung

http://thethaovanhoa.vn/388N20090329063816908T288/ky-niem-mot-chuyen-du-hoc.htm

MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VÀ HỖ TRỢ SINH VIÊN KHÔNG CHUYÊN NGỮ TỰ HỌC THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ

MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VÀ HỖ TRỢ SINH VIÊN KHÔNG CHUYÊN NGỮ TỰ HỌC THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ


Trần Mạnh Trung
Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học tiếng Anh
Khoa Ngoại ngữ - ĐH Hồng Đức – Thanh Hoá
(Đăng trên tạp chí "GIÁO DỤC" - số 233 (kỳ 1 - tháng 3 năm 2010))


I. TỰ HỌC THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
Tự học là quá trình cá nhân tự củng cố và tích luỹ kiến thức hay rèn luyện một hay nhiều kỹ năng ngoài giờ trên lớp. Tự học là một hành vi mang tính tự giác theo nhu cầu cá nhân hoặc theo yêu cầu của môn học. Tự học có thể diễn ra ngoài lớp học như ở nhà, trên thư viện hay bất kỳ địa điểm nào do người học tự chọn; có thể tự học cá nhân cá nhân hay nhóm theo quy định của người dạy. Tự học giúp người học không chỉ củng cố kiến thức mà còn có thể đi sâu hay mở rộng kiến thức của mình; giúp người học hình thành thói quen suy nghĩ độc lập và ý thức tự chuẩn bị bài trước khi đến lớp cho người học.
Theo học chế tín chỉ thì tự học là một phần rất quan trọng trong quá trình lĩnh hội tri thức hay rèn luyện kỹ năng của người học ngoài lớp học (giờ học theo học chế tín chỉ được tính cứ 1 giờ học lý thuyết trên lớp với 2 giờ tự học ngoài giờ trên lớp). Như vậy, số thời gian cho tự học được tính gấp đôi số giờ trên lớp. Người dạy theo học chế tín chỉ có 2 vai trò: tổ chức và hướng dẫn người học lĩnh hội kiến thức trên lớp trên lớp; hướng dẫn người học phương pháp tự học ngoài giờ trên lớp.
II. MỘT SỐ KHÓ KHĂN VÀ HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG ĐÊN VIỆC TỰ HỌC TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN (SV) KHÔNG CHUYÊN
Học tiếng Anh nói riêng và ngoại ngữ nói chung bao gồm: tích luỹ vốn từ, nắm vững kiến thức ngữ pháp và rèn luyện bốn kỹ năng : nói, nghe, đọc, viết. Học liệu bắt buộc (phần 1 và 2 theo học chế tín chỉ) được sử dụng cho sinh viên (SV) không chuyên của trường ĐH Hồng Đức là bộ sách “Lifelines – Pre- Intermediate” của Tom Hutchinson. Theo Đề cương chi tiết học phần, môn tiếng Anh học phần 1(có 4 tín chỉ), có 35 tiết lý thuyết, 24,5 tiết hoạt động nhóm, 23,5 tiết làm bài tập trên lớp, 7 tiết kiểm tra đánh giá (tổng cộng 90 tiết) và 180 tiết tự học. Mỗi đơn vị bài học (unit) trên lớp sẽ được chia làm 2 phần: phần học trên lớp và phần tự học ngoài lớp. Trong phần học trên lớp, SV sẽ luyện 4 kỹ năng ngôn ngữ qua các phần gồm: “Ngữ pháp(Grammar)”, “Tự vựng” (Vocabulary), “Đọc” (Reading), “Nghe – Nói” (Listening and Speaking), “Phát âm” (Pronunciation)” và “Mở rộng” (Extension). Phần tự học ở nhà sẽ gồm “Ngữ pháp tham khảo” (Grammar reference) ở cuối sách dành cho SV (student book), “Bảng từ” ở cuối sách và phần bài tập trong sách bài tập (workbook) cho mỗi đơn vị bài học.
Kết quả điều tra 1 nhóm có 40 SV học tiếng Anh không chuyên theo học chế tín chỉ về việc tự học sau 3 đơn vị bài học: Unit1, Unit2 và Unit 3 (không có chỉ dẫn của GV) năm học 2009 -2010, về các nội dung:Em có hiểu phần hướng dẫn trong phần “Ngữ pháp tham khảo” (Grammar reference) không?; Tự học phần “Từ vựng” (Vocabulary) có thể giúp em phân loại từ và biết cách dùng từ không?; Em có thể tự làm tất cả bài tập trong sách “Bài tập” “Workbook” không? và thu được kết quả như sau:
- 32 SV (80 %) cho rằng: Phần “Ngữ pháp pháp tham khảo (Grammar reference)” viết bằng tiếng Anh rất ngắn gọn gây khó khăn cho việc hiểu nội dung; phần “Từ vựng” (Vocabulary) thường chỉ cho nghĩa tiếng Việt và cách phát âm mà không chỉ rõ từ loại và hướng dẫn cách sử dụng từ. Do vậy, SV dù có học thuộc nhưng vẫn chưa biết cách dùng từ đó; phần “Bài tập” được hướng dẫn bằng tiếng Anh và thường có phần kiến thức ngữ pháp mới ở phần Writing (viết), rất cần có sự hướng dẫn của giáo viên (GV) thì SV mới có thể tự làm ở nhà được.
- 06 SV (15%) cho biết lý do hiểu được và làm được nội dung tự học là do đã học tốt tiếng Anh ở phổ thông và đã từng thi đại học khối D.
- 02 SV (5 %) trả lời “Không” cho 3 câu hỏi nêu trên nhưng không nêu lý do.
Những khó khăn và hạn chế trên đã dẫn đến tình trạng SV ngại và không tự giác tự học vì không hiểu do hạn chế về kiến thức ngôn ngữ. Do đó, việc tự học của SV rất cần sự hỗ trợ, hướng dẫn của GV. GV cũng cần đôn đốc và biện pháp quản lý cụ thể để tạo thói quen và nhu cầu tự học cho SV. Thực tế, nhiều GV vẫn còn lúng túng trong việc tìm ra các phương pháp quản lý, hỗ trợ và hình thành thói quen tự học của SV theo học chế tín chỉ một cách hiệu quả.
III. CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VÀ HỖ TRỢ SINH VIÊN TỰ HỌC TIẾNG ANH NGOÀI LỚP HỌC
A. SỬ DỤNG SỔ TỰ HỌC. Mỗi SV phải có một “Sổ tự học” để ghi chép các nội dung tự học của mỗi đơn vị bài học bao gồm: - Từ vựng: SV ghi lại phần hướng dẫn tự học từ vựng của từng đơn vị bài do GV biên soạn và gửi cho SV; SV phải chép lại mỗi từ ( gồm nghĩa tiếng Việt và cách dùng) và cụm từ từ 5 đến 10 lần. - Nội dung bài giảng Ngữ pháp: - Nội dung chính của bài giảng (giảng trên lớp hoặc GV đưa lên mạng); bài tập áp dụng kèm theo do GV ra để kiểm tra và củng cố mức độ hiểu bài (phần tự làm và phần chữa của GV); câu hỏi thắc mắc của SV về bài học và phần trả lời của GV trên lớp hoặc qua mạng. - Phần tự làm bài tập trong “Sách bài tập”: ghi lại nội dung hướng dẫn phần kiến thức mới (nếu có) của GV; tự làm tất cả các bài tập theo hướng dẫn của GV và tự chữa theo đáp án; đặt các câu hỏi cho GV khi có phần chưa hiểu và ghi lại câu trả lời của GV (qua mạng hoặc trên lớp).
Sau mỗi đơn vị bài học, SV phải nộp lại “Sổ tự học” để GV kiểm tra, đánh giá và trả lời kịp thời các thắc mắc liên quan đến bài học. Các tiêu chí đánh giá và cho điểm phần tự học thông qua “Sổ tự học” bao gồm: - Ghi chép đầy đủ và chính xác các nội dunng tự học theo yêu cầu, điểm tối đa 4 điểm (40 %); - Ghi chép thêm các nội dung tham khảo từ các nguồn khác (ngoài học liệu bắt buộc), điểm tối đa 3 điểm. (30 %); - Đặt ra những câu hỏi xác đáng và ghi lại câu trả lời đầy đủ của GV, điểm tối đa là 3 (30%).
B. HƯỚNG DẪN TỰ HỌC QUA MẠNG. GV có thể sử dụng mạng Internet để hướng dẫn tự học cho SV vì hầu hết SV đều biết sử dụng mạng, có thể hướng dẫn nhau sử dụng mạng dễ dàng và hiện nay thư viện của trường ĐH Hồng Đức đều có máy tính nối mạng Internet miễn phí cho SV (cả hai cơ sở của trường ĐH Hồng Đức đã có mạng Internet không dây miễn phí phủ sóng)
GV có thể hướng dẫn tự học bằng một trong các cách sau hoặc có thể kết hợp nhiều cách khác nhau: - GV công bố địa chỉ e-mail cá nhân và trả lời mọi thắc mắc về bài học trên lớp hoặc phần tự học cho SV qua e-mail; - GV yêu cầu các nhóm SV do mình dạy tự thiết lập một địa chỉ e-mail chung cho cả nhóm và GV gửi các phần hướng dẫn tự học vào địa chỉ e-mail chung cả lớp. Trưởng nhóm có thể vào e-mail của lớp để nhận bài hướng dẫn của GV, sau đó photocopy và phát cho mỗi thành viên trong nhóm hoặc mỗi thành viên nhóm có thể được công bố từ khoá (password) để tự mở e-mail chung của nhóm để nhận bài hướng dẫn cho mình; - GV có thể đưa lên blog phần hưóng dẫn tự học cho SV (gồm: Hướng dẫn học Từ vựng, Bài giảng ngữ pháp và Hướng dẫn tự làm bài tập trong Workbook) trước khi học mỗi đơn vị bài học ít nhất 1 tuần. Các phần hướng dẫn này do GV tự biên soạn bằng tiếng Việt. Ngôn ngữ hướng dẫn phải dễ hiểu, giải thích chi tiết và cụ thể cho SV.
Việc đưa phần hướng dẫn tự học cho SV lên blog có các ưu điểm sau: - Giúp SV tự học ngoài giờ lên lớp thuận tiện hơn: SV có thể lên phòng máy tính của thư viện, có thể học ở nhà (nếu có nối mạng) hoặc tự học ở các quán Internet bất cứ khi nào có nhu cầu; - SV vào blog để đọc, ghi chép nội dung cần thiết và có thể hỏi GV theo dạng “comment” (bình luận) và GV cũng có thể trả lời theo dạng này ngay trên blog;- Các SV khác cũng có thể tham khảo câu hỏi và trả lời của SV trên blog khác nếu có chung thắc mắc.
3. HIỆU QUẢ
Việc áp dụng các biện pháp quản lý và hỗ trợ tự học cho SV được áp dụng sau 6 đơn vị bài học (từ Unit 4 đến Unit 10) đã đạt những kết quả sau: - 40 SV (100%) có “ Sổ Tự học” và ghi chép đầy đủ các nội dung theo yêu cầu.
- Kết quả đánh giá việc tự học của SV (xem bảng):

BẢNG : KẾT QUẢ CHẤM ĐIỂM “SỔ TỰ HỌC”
1. Điểm 10: Số SV 00 (0%)
2. Điểm 9: Số SV 04 (10%)
3. Điểm 8: Số SV 02 (5%)
4. Điểm 7: Số SV 20 (50%)
5. Điểm 6: Số SV 10 (25%)
6. Điểm 5: Số SV 02 (5%)
7. Điểm 4: Số SV 02 (5%)
8. Điểm dưới 4: Số SV 00 (0%)

Từ bảng trên ta thấy rằng có 100% SV có “Sổ tự học” với kết quả chấm điểm như sau: 26 SV (65% ) đạt loại Khá, Giỏi; 12 SV (30 %) đạt Trung bình (TB) và chỉ có 02 SV (05 %) dưới TB. Kết quả trên đã phản ánh thực tế 100 % SV đã tự học qua sự hỗ trợ và hướng dẫn của GV ngoài giờ trên lớp.
Kết quả phiếu điều tra lần 2 về việc tự học của sinh viên, với nội dung: - Em có hiểu phần hướng dẫn trong phần “Tham khảo ngữ pháp” của GV đưa ra không? có 36 SV (90 %) trả lời có, 04 SV (10 %) trả lời không; - Việc phân loại từ vựng và hướng dẫn dùng từ trong phần “Hướng dẫn học từ vựng” của GV có hiệu quả không? có 37 SV (92,5 % ) trả lời có, 3 SV ( 7,5 % ) trả lời không; - Em có thể tự làm tất cả bài tập trong sách “Bài tập” sau khi GV hướng dẫn không? có 35 SV (87,5 % ) trả lời có, 5 SV ( 12,5 % ) trả lời không.
Kết quả trên cho thấy hiệu quả cao của các biện pháp quản lý và hỗ trợ của GV đối với việc tự học của SV: từ 87 % đến 92 % học sinh đã có thể tự học nhờ sự hướng dẫn của GV, rất ít SV (chỉ có từ 7,5 % đến 10% ) gặp khó khăn trong việc tự học. Kết quả trên cũng chứng tỏ các biện pháp quản lý thông qua việc sử dung “Sổ tự học” và sự kiểm tra chấm điểm thường xuyên đã đạt những hiệu quả tích cực.
Việc tự học ngoài lớp học của SV không chỉ trông chờ vào tính tự giác của SV mà GV cần có những biện pháp quản lý và hỗ trợ tự học ngoài lớp cụ thể và hiệu quả. Việc sử dụng “Sổ tự học” và kiểm tra, đánh giá liên tục “Sổ tự học” đã làm SV phải tự giác tự học và ghi chép đầy đủ các nội dung yêu cầu. Để hình thành thói quen tự học và giúp SV tự học hiệu quả thì việc GV soạn bài hướng dẫn tự học cho SV là rất cần thiết. Ngoài ra, các biện pháp quản lý và hỗ trợ trên đây có thể áp dụng cho các môn học khác theo học chế tín chỉ. Tuy nhiên, cũng cần bổ sung thêm những cải tiến phù hợp và tiếp tục hoàn thiện để áp dụng hiệu quả hơn, theo đặc thù của từng ngành học, môn học.

TRẦN MẠNH TRUNG

SỐ NGƯỜI GHÉ THĂM BLOG ( TÍNH TỪ 23/12/2008 )

Website counter free counters

VÀI Ý KIẾN VỀ MÔ HÌNH “TRƯỜNG HỌC THÂN THIỆN”

VÀI Ý KIẾN
VỀ MÔ HÌNH “TRƯỜNG HỌC THÂN THIỆN”

TRẦN MẠNH TRUNG
Bài đăng trên tạp chí “Giáo dục”
số 220 (kì 2- tháng 8/2009)
“Trường học thân thiện” (Child-friendly school) là mô hình trường học do UNICEF đưa ra và đã được áp dụng thành công ở nhiều nước. Ở Việt Nam giáo dục phổ thông hiện nay còn cần rất nhiều yếu tố quan trọng để tạo ra một “trường học thân thiện” có đủ những đặc điểm do UNICEF đưa ra.
1. MÔI TRƯỜNG HỌC TẬP THÂN THIỆN
Dạy và học là hai hoạt động chính trong các trường phổ thông, nhưng môi trường học tập của lớp học hiện nay thật đơn điệu và kém hấp dẫn. Trang bị trong một lớp học phổ biến hiện nay thưòng chỉ có bàn ghế học sinh (HS), bàn ghế giáo viên (GV), bục giảng, bảng đen, giá để mũ nón những câu khẩu hiệu như “Thi đua dạy tốt, học tốt”, “Tiên học lễ, hậu học văn” …. HS phải ngồi trong lớp học từ 4 đên 5 giờ/ ngày nên rất dễ sinh nhàm chán. HS cần được khuyến khích tự tạo ra môi trường học tập trong lớp theo sở thích các em, nên để HS tự trang trí bằng tranh ảnh hay các vật trang trí khác để lớp học thật gần gũi và ấm cúng như là góc họp tập ở nhà của các em để tạo thêm hứng thú học tập. Hãy để các em tự nêu ra khẩu hiệu học tập và rèn luyện cho chính mình.
Trang bị các phương tiện nghe nhìn hiện đại phục vụ cho việc dạy và học là cần thiết, vì nó hỗ trợ cho hoạt động dạy và học nhưng đó chưa phải là yếu tố quyết định giúp tạo ra một môi trường học tập thân thiện.
Kiến trúc của toàn bộ trường học cũng cần được thiết kế phù hợp với lứa tuổi và tâm sinh lý HS. Cảnh quan và môi trường trong trường cũng cần được quan tâm khi thiết kế để tạo một môi trường thân thiện và an toàn cho HS khi ra chơi và các hoạt động ngoài trời. Các cơ sở phục vụ cho học tập như thư viện, phòng thí nghiệm, căng-tin, nhà tập thể dục và chơi thể thao, các loại hình câu lạc bộ theo sở thích cũng cần được đầu tư trang bị hiện đại, đầy đủ và phù hợp để HS có thể thường xuyên đến vui chơi, học tập ngoài giờ.
Một trường học thân thiện không chỉ cần có hệ thống nhà vệ sinh hợp vệ sinh mà còn cần hệ thống các nhà tắm và phòng để đồ dùng cá nhân và nơi thay quần áo an toàn, kín đáo và tiện lợi cho HS. Khi học môn thể dục và chơi thể thao ngoài giờ HS rất cần nơi để thay trang phục và đồ dùng riêng. Sau khi chơi thể thao hay các hoạt động vận động nhiều em bị lấm bẩn và ra mồ hôi nhiều nhưng vẫn phải mặc quần áo bẩn về nhà, gây khó chịu và mất vệ sinh. Do đó, các em cần được tắm và thay quần áo sạch ngay ở trường trước khi về nhà.
2. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THÂN THIỆN
Phương pháp giảng dạy (PPDH) phổ biến ở phổ thông hiện nay vẫn theo hướng “Lấy người dạy là trung tâm” (Teacher -centered) với quan niệm GV là người truyền đạt kiến thức và HS là người tiếp thu kiến thức. Kiến thức từ sách giáo khoa được GV “độc quyền” truyền đạt cho HS, Kiến thức của các em phụ thuộc vào kiến thức của thầy và HS luôn là người lĩnh hội tri thức thụ động. PPDH này đã dẫn đến lối dạy “Thầy đọc-trò chép” và lối học “thuộc lòng những gì thầy đọc cho chép”. Đây là PPDH mang lại sự nhàm chán cho người học vì nó đã tạo nên thói quen thụ động, trông chờ và sức ỳ của HS trong tiếp thu kiến thức và sẽ ảnh hưởng nhiều đến tính năng động, sáng tạo trong cuộc sống.
PPDH theo hướng “lấy người học làm trung tâm” (Learner-centered) thực sự là PPDH “thân thiện” với người học vì GV ở chỉ là người tổ chức và trợ giúp hoạt động tiếp thu kiến thức cho HS;. GV chỉ đóng vai trò là người gợi mở và bổ sung thêm những điều HS chưa biết, chưa rõ và hiểu chưa đúng mà thôi. HS thực sự là nhân vật trung tâm trên lớp học, các em có thể lựa chọn kiến thức và phương pháp học phù hợp với mình. GV là người nêu vấn đề và cùng HS tranh luận cho tới khi HS hiểu thấu đáo vấn đề đó. HS có thể được GV giao cho các bài tập làm chung theo nhóm để các em có cơ hội cùng nhau chia sẻ và đóng góp kiến thức của cá nhân mình cho nhóm. GV cũng có thể nêu trước vấn đề và cho HS về nhà tự nghiên cứu từ sách giáo khoa và sách tham khảo khác về vấn đề đó để đến buổi học trên lớp sau đó HS thảo luận và tranh luận với nhau theo cặp và nhóm. Tranh luận sẽ giúp các em hiểu sâu hơn và nhớ nhanh hơn vì các em được tiếp thu kiến thức một cách chủ động, thoải mái. PPDH này đã tạo nên nhu cầu tự học, tự nghiên cứu bên ngoài lớp học và rèn luyện cho người học thói quen đào sâu suy nghĩ về vấn đề nào đó. Dần dần HS sẽ hình thành thói quen suy nghĩ một cách chủ động, độc lập sáng tạo và biết chia sẻ những suy nghĩ của mình với người khác.
3. PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ THÂN THIỆN
Với việc đánh giá kết quả học tập học sinh theo các mức (khá, giỏi, trung bình, yếu, kém) thông qua tổng kết nhiều loại bài kiểm tra như: bài kiểm tra 15 phút, một tiết, hai tiết, bài kiểm tra học kỳ và cuối năm hiện hành ở các trường phổ thông hiên nay đã tạo nên quá nhiều sức ép đối với người học. Đặc biệt là đối với những HS yếu, kém từ đó sẽ tạo tâm lý mặc cảm, xấu hổ với kết quả kém và có thái độ ganh ghét, đố kị với nhưngc HS có điểm kiểm tra cao hơn. Điều này đã làm xấu đi mối quan hệ giữa nhiều HS trong lớp.
Để có phương pháp kiểm tra thân thiện hơn mà vẫn đánh giá đúng học lực và khuyến khích HS tự vươn lên trong học tập, chúng ta cần phân biệt hai loại hình kiểm tra: kiểm tra đánh giá sự tiến bộ và kiểm gia đánh giá kết quả học tập. Các bài kiểm tra 15 phút, 1 tiết hay 2 tiết trong một học kỳ chỉ nên mang tính chất đánh giá sự tiến bộ của HS. Kết quả các bài kiểm tra đó là điều kiện để HS thi học kỳ và cuối năm. Điểm số và những nhận xét chi tiết, cụ thể về sự tiến bộ học sinh, những phần kiến thức còn yếu và cách thức khắc phục cần thông báo riêng tới từng HS thông qua thư riêng hay qua thư điện tử cho phụ huynh và HS biết để tránh sự mặc cảm, xấu hổ cho HS với các HS khác. Chỉ một mình HS đó biết mình nắm được cái gì, còn thiếu cái gì để có hướng phấn đấu và tự ganh đua với … chính mình để kết quả cuối năm tốt hơn. Loại hình kiểm tra thứ hai là kiểm tra đánh giá kết quả học tập được thực hiện cuối kỳ và cuối năm để đánh giá kết quả sau quá trình học tập sau một học kỳ, một năm hay cả khoá học. Kết quả cần được thông báo riêng cho HS và ghi vào học bạ HS và chỉ nên công khai khi học sinh đó tốt nghiệp, kết thúc khoá học.
Để khuyến khích học sinh tham gia tích cực các hoạt động nhóm trong và ngoài lớp học, cần có phần chấm điểm cho hoạt động nhóm của từng HS. Điểm môn học nên chiếm 70 % và điểm hoạt động nhóm nên chiếm 30 % tổng điểm tổng kết cuối kỳ của môn học đó. Điểm này nên để mỗi học sinh cho điểm các thành viên khác trong nhóm và gửi kín cho GV để tính điểm trung bình chung.
4. CÁC MỐI QUAN HỆ THÂN THIỆN
Phương pháp dạy theo hướng “Lấy người dạy là trung tâm” (Teacher-centered) hiện nay đã ảnh hưởng sâu sắc đến quan hệ thầy trò. Nhiều GV vẫn duy trì quan niệm rằng thầy là “người trên” và HS là “người dưới” nên dẫn đến sự xa cách trong quan hệ thầy trò. HS rất ít khi dám tranh luận với GV vì sợ GV phật ý; ngược lại các GV cũng ít khi dám thừa nhận mình sai hay nhầm lẫn vì sợ HS đánh giá. Do đó, họ thường có thái độ áp đặt và chủ quan với HS. Các GV hiện nay rất khó có thể trở thành người bạn tin cậy để HS có thể chia sẻ mọi vấn đề vì giữa họ và HS luôn có khoảng cách về tuổi tác và tri thức.
Việc thay đổi PPDH theo hướng “lấy người học làm trung tâm” (learner-centered) giúp GV có được mối quan hệ thân thiện với học sinh vì HS được xem là nhân vật trung tâm của quá trình giáo dục; các em được tôn trọng và được tự do bày tỏ ý kiến cá nhân; mối quan hệ thầy trò sẽ gần gũi, thoải mái hơn. GV cần học cách lắng nghe ý kiến của HS, biết chấp nhận những ý kiến “đối lập” và cũng có thể hoàn thiện kiến thức thêm nhờ tranh luận với HS. GV có thể lấy ý kiến đánh giá của HS thông qua các phiếu điều tra không ghi tên để không ngừng tự hoàn thiện mình.
PPDH theo hướng “lấy người học làm trung tâm” nhấn mạnh vào việc tự học, tự nghiên cứu của cá nhân với các hoạt động học tập theo nhóm trong và ngoài giờ học. Mối quan hệ giữa các HS không chỉ là sự kết bạn cùng sở thích riêng như hiện nay mà còn là mối quan hệ chia sẻ kiến thức trong nhóm khi thảo luận trên lớp và các hoạt động theo nhóm ngoài lớp học, khi cùng làm một bài tập sưu tầm hay nghiên cứu nhỏ ngoài lớp học. Mối quan hệ giữa HS sẽ thân thiện hơn, gắn bó hơn do các em tham gia các hoạt động không chỉ vui chơi giải trí mà còn học tập, chia sẻ công việc và tri thức cùng với nhau.
Ngoài ra, các mối quan hệ giữa HS với các nhân viên phục vụ trong trường cũng cần phải thân thiện. Họ cần phải biết cách tôn trọng HS và chất lượng phục vụ cần được thường xuyên đánh giá thông qua các phiếu điều tra định kỳ phát cho HS.
Để có một “Ngôi trường thân thiện” thực sự nếu như chỉ chú trọng đưa vào các hoạt động vui chơi, các trò chơi dân gian, tìm hiểu và chăm sóc di tích lịch sử hay các hoạt động ngoại khoá khác thì chưa đầy đủ. Vì đó mới là những hoạt động bổ trợ cho nhiệm vụ chính là học tập của các em. Vấn đề quan trọng nhất mà các em cần là môi trường học tập thân thiện, phương pháp học tập và PPDH thân thiện, các mối quan hệ thân thiện và những sự phục vụ thân thiện của nhà trường. Có như vậy, các em mới thấy thật sự thoải mái và yêu mến trường như ngôi nhà của mình. Mỗi khi xa trường một ngày các em chỉ mong chóng trở lại trường, HS sẽ gắn bó với trường học và mỗi ngày đến trường mới thực sự là một ngày vui của các em.

TRẦN MẠNH TRUNG
Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Tiếng Anh
Khoa Ngoại ngữ - Đại học Hồng Đức - Thanh Hoá
E-MAIL: tranmanhtrung@gmail.com

“SỐC VĂN HOÁ”

“SỐC VĂN HOÁ”


Bài đăng trên tạp chí “THẾ GIỚI MỚI”
số 830 (20/04/2009)


“Sốc văn hoá” là một hiện tượng tâm sinh lý mà bất cứ du học sinh nào đều phải trải qua khi lần đầu tiên đến sinh sống ở một đất nước xa lạ. Tuỳ thuộc vào sự hiểu biết, tuổi tác hay sự chuẩn bị về tâm lý của từng người mà mức độ ảnh hưởng của “sốc văn hoá” và thời gian vượt qua của mỗi người khác nhau. Người càng trẻ, khả năng thích nghi càng tốt thì ảnh hưởng sẽ ít đi; ngược lại những người lớn tuổi hơn thì khả năng thích nghi với sự thay đổi theo môi trường sống mới kém sẽ rất khó hoặc có thể không bao giờ vượt qua được cú “sốc” văn hoá.
“SỐC VĂN HOÁ” LÀ GÌ?
Theo từ điển trực tuyến Wikipedia , “Sốc văn hoá” là “một thuật ngữ được sử dụng để chỉ sự lo lắng và những cảm xúc (như ngạc nhiên, mất phương hướng, bối rối, v.v.) mà một người cảm thấy khi phải hoạt động trong một nền văn hóa hay môi trường xã hội hoàn toàn khác, ví dụ như ở nước ngoài. Nó nảy sinh từ những khó khăn trong việc hòa nhập với nền văn hoá mới, là nguyên nhân của việc khó lòng nhận thức cái gì là thích hợp và cái gì không. Tình trạng này thường đi đôi với sự căm ghét (vì lý do đạo đức hay mỹ học) đối với một số khía cạnh nhất định của nền văn hoá mới lạ hoặc khác biệt kia”.
Khái niệm này được Kalvero Oberg đưa ra lần đầu năm 1954. Một vài nhà nghiên cứu khác sau đó cũng đã nghiên cứu về "sốc văn hóa".

NHỮNG “TRIỆU CHỨNG” CỦA “SỐC VĂN HOÁ”
Theo tác giả Nguyễn Quang trong cuốn “Giao tiếp giao văn hoá” thì người bị “sốc văn hoá” thường có các biểu hiện sau đây:
- Nhớ người thân và bè bạn ở quê hương.
- Không có khả năng làm việc tốt.
- Ăn quá nhiều, uống quá nhiều hoặc ngủ quá nhiều.
- Tức giận hay không thiện cảm với những người của nền văn hoá mới.
- Luôn tự hào về nền văn hoá quê hương mình và luôn nhấn mạnh vào những mặt trái hay chê bai những điểm khác biệt của nền văn hoá nơi đang cư trú.
- Sống khép kín và tránh tiếp xúc với những người của nền văn hoá mới.
- Thiếu khả năng giải quyết hay lúng túng khi xử trí những vấn đề nảy sinh dù là nhỏ nhất nơi xứ người.
Đối với một người mới đến học tập và sinh sống ở một đất nước xa lạ, những phản ứng trên là hoàn toàn bình thường về tâm sinh lý. Vấn đề là cần phải biết cách điều chỉnh để vượt qua những ảnh hưởng của “sốc văn hoá” để thích nghi và sớm hoà nhập.
ĐIỀU CHỈNH ĐỂ SỚM THÍCH NGHI VỚI CUỘC SỐNG MỚI
Có 5 giai đoạn mà người mới đến sinh sống và học tập ở nước ngoài thường trải qua:
- Giai đoạn “Trăng mật”: Ban đầu người mới đến cảm thấy rất hạnh phúc và háo hức khi tiếp cận, khám phá và trải nghiệm một nền văn hoá mới. Quãng thời gian này thường kéo dài không lâu. Mức độ của sự hạnh phúc này có thể sẽ không bao giờ lặp lại với người đó.
- Giai đoạn “Sốc văn hoá”: Người mới đến bắt đầu cảm thấy “sốc” khi gặp những khó khăn về nhà cửa, hệ thống giao thông, việc làm, mua sắm và bất đồng ngôn ngữ.
- Những điều chỉnh đầu tiên: Những vấn đề về nhà cửa và mua sắm dần dần không còn là vấn đề khó khăn với người mới đến. Người mới đến có thể chưa thể nói trôi chảy nhưng đã có thể diễn đạt những ý kiến và tình cảm cơ bản bằng ngôn ngữ bản xứ.
- Sự biệt lập về tinh thần: Người mới đến phải sống xa gia đình và người thân nơi quê nhà một thời gian khá dài nên có thể cảm thấy cô độc. Một số người sẽ cảm thấy bực tức và mất tự tin do không thể thể hiện các ý kiến của mình bằng tiếng bản xứ như tiếng mẹ đẻ của mình hoặc do vẫn chưa tìm được việc làm hay nơi cư trú.
- Chấp nhận và hoà nhập: Những thói quen mới trong công việc, kinh doanh hay học tập được thiết lập. Người mới đến sẽ quen dần với những phong cách làm việc mới, tập quán, thức ăn và tính cách của những người bản xứ. Họ sẽ dần dần quen với những người bạn mới, cộng đồng mới và ngôn ngữ bản xứ.
Những người mới đến trải qua các giai đoạn trên theo nhiều cách khác nhau. Có người không bao giờ có giai đoạn “Trăng mật” vì hoàn cảnh đến đất nước mới này của họ là bắt buộc hay ngoài ý muốn. Ngoài ra, các yếu tố khác như tính cách cá nhân, tuổi tác, khả năng tiếp thu ngôn ngữ, hiểu biết về văn hoá nơi họ đến, sự ủng hộ của gia đình và người thân, các vấn đề về tài chính, việc làm và động lực đến sống ở nước ngoài cũng ảnh hưởng đến mức độ “sốc văn hoá” và khả năng và độ dài thời gian thích nghi để vượt qua “sốc văn hoá”.
MỘT VÀI LỜI KHUYÊN
Để sớm vượt qua “Sốc văn hoá” khi đến sống và học tập ở nước ngoài, những người mới đến cần tìm hiểu trước thật kỹ về văn hoá của đất nước mà mình sắp đến. Các tổ chức đưa học sinh du học hay tổ chức nhận nhập cư thường tổ chức các khoá học định hướng văn hoá nhằm giúp những người mới đến tìm hiểu về đất nước, con người và tập quán của người bản xứ. Dù vậy, những điều thu nhận từ các khoá học định hướng văn hoá vẫn chưa đủ, người mới đến cần tìm hiểu thêm qua những người đã từng sinh sống và học tập ở đất nước đó. Một nguồn thông tin khác là từ Internet hay sách báo khác. Càng hiểu kỹ về văn hoá nước sở tại thì mức độ và thời gian “sốc văn hoá” sẽ giảm đi rất nhiều và khả năng thích nghi sẽ nhanh hơn.
“Bất đồng ngôn ngữ” cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến “sốc văn hoá”. Do đó, chuẩn bị thật tốt về ngôn ngữ để có thể giao tiếp tốt với người bản ngữ để tránh sự hiểu lầm do diễn đạt sai hay sự bực tức do không thể diễn đạt đúng ý nghĩ của mình bằng tiếng bản xứ.
Người mới đến cần chuẩn bị về mặt tâm sinh lý để đón nhận “sốc văn hoá” nơi xứ người. Cần tự hào về nền văn hoá gốc của mình nhưng cũng phải biết cách chấp nhận và tôn trọng nền văn hoá bản xứ hay các nền văn hoá khác đang tồn tại song hành với nền văn hoá bản xứ.

Trần Mạnh Trung
Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Tiếng Anh
Khoa Ngoại Ngữ - Đại học Hồng Đức- Thanh Hóa


HÀNH TRANG DU HỌC CẦN GÌ?

HÀNH TRANG DU HỌC CẦN GÌ?

Bài đăng trên tạp chí “Thế giới mới”
Số 826 (23/03/2009)

Trước khi cho con đi du học, các bậc cha mẹ thường quan tâm chọn nước đến du học, các thủ tục đi du học, chi phí ăn ở, tìm trường học có chất lượng tốt ... Tuy nhiên, hầu như rất ít ai để ý tìm hiểu và chuẩn bị cho con mình phương pháp học tập phù hợp với môi trường giáo dục mới.
Những người sớm thích nghi với phương pháp học tập mới sẽ học tốt và nhanh hoà nhập với môi trường học tập ở nước ngoài. Những người không biêt tự tìm ra và biết cách chuyển đổi phương pháp học tập phù hợp thì kết quả học tập sẽ rất hạn chế hoặc thậm chí không thể tiếp thu kiến thức ở xứ người.
CÁCH HỌC Ở NHÀ
Ở Việt Nam, cho đến nay, người ta vẫn quen với đường hướng giảng dạy phổ biến là “Lấy người thầy làm trung tâm” , đó là thầy nói (hay thậm chí đọc), học trò ghi chép và về nhà học thuộc lòng. Khi kiểm tra chỉ cần nêu đủ những điều thầy đã giảng là đạt yêu cầu. Theo đường hướng này, quan niệm sách giáo khoa phổ thông đã chứa đựng toàn bộ kiến thức chuẩn và cơ bản mà học sinh cần nắm vững. Người thầy có nhiệm vụ giảng giải cho các em hiểu và nắm toàn bộ nội dung trong sách giáo khoa.
Một quan niệm còn phổ biến trong giáo dục ở các bậc học phổ thông và thậm chí ở bậc đại học hiện nay là “Người thầy là người truyền thụ kiến thức, học trò là người tiếp nhận kiến thức”. Cách dạy này làm cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động và phụ thuộc hoàn toàn kiến thức của thầy. Nhiều em sẽ trở nên lười suy nghĩ sáng tạo và chỉ học theo sách giáo khoa, chỉ trông chờ học những kiến thức sẵn có của thầy là đủ rồi.
Phương pháp giảng dạy trên chắc chắn đã có những ảnh hưởng lớn đến sự năng động, sáng tạo của học sinh trong học tập cũng như trong cuộc sống sau này. Học sinh sẽ có thói quen thụ động, trông chờ và sức ỳ của học sinh trong tiếp thu kiến thức sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến tính năng động, sáng tạo trong cuộc sống sau này của các em.
PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP MỚI
Ở những nước có nền giáo dục tiên tiến hiện nay như Anh, Úc, Mỹ, Canada, .... phương pháp giảng dạy “Lấy người học làm trung tâm” đã được áp dụng từ lâu. Người ta quan niệm rằng học trò là người chủ động lĩnh hội kiến thức thông qua nghe giảng, tranh luận với bạn học và với thầy giáo trên lớp và đặc biệt là thông qua tự học, tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của thầy giáo ngoài giờ lên lớp. Thầy giáo chỉ là người trợ giúp trò lĩnh hội tri thức một cách chủ động và sáng tạo. Kiến thức mà người học thu được là kiến thức “mở”, tức là nó bao gồm kiến thức trong sách giáo khoa và kiến thức người học thu lượm do tự học, tự nghiên cứu từ các nguồn tài liệu khác như sách báo và thông tin trên Internet. Đó không phải là kiến thức chỉ gói gọn trong sách giáo khoa.
Phương pháp giảng dạy này đòi hỏi tính tự giác rất cao của người học. Người học được yêu cầu tham gia các hoạt động theo nhóm hay theo cặp và thảo luận không chỉ theo nhóm mà còn cả với thầy dạy. Người học phải biết mình cần gì, thiếu cái gì và tự mình hoàn thiện kiến thức của mình.
Do ảnh hướng của lối học tiếp thu kiến thức thụ động nên sinh viên Việt Nam thường bị các giáo viên ở nước ngoài chê là “ngại” tranh luận khi học trên lớp. Trong khi đó tranh luận lại là cách tốt nhất để hiểu bài kỹ nhất.
THÍCH NGHI VỚI PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP MỚI
Có trí tuệ nhưng không có phương pháp học tập đúng thì kết quả sẽ không cao. Do đó, các du học sinh cần tìm hiểu và tự trang bị cho mình phương pháp học tập phù hợp với môi trường học tập nơi du học. Hãy biết thích nghi và thay đổi phương pháp học tập để đạt kết quả tốt nhất, không phụ những kỳ vọng của cha mẹ, những người đã tốn nhiều tiền cho con du học để sau này có một tương lại tốt đẹp hơn.

Thứ nhất, các tân du học sinh nên gặp những người là sinh viên giỏi đang du học hoặc đã từng du học để tìm hiểu và nhờ hướng dẫn phương pháp học. Là những người đi trước, họ sẽ giúp những người đến sau vượt qua những khó khăn, bỡ ngỡ ban đầu khi du học ở nước ngoài.
Thứ hai, các du học sinh cần loại bỏ những e ngại, tự ti để sớm hoà nhập vào môi trường học tập mới. Tham gia các hoạt động nhóm cũng như hoạt động ngoại khoá trong chương trình học tập.
Thứ ba, hãy luôn tìm kiếm sự giúp đỡ của các giáo viên. Họ luôn sẵn sàng giúp đỡ nhiệt tình các sinh viên mới đến làm quen với môi trường học tập mới.
Thứ tư, các du học sinh phải rèn luyện thói quen tự học, tự nghiên cứu với tính chủ động, tích cực và tự giác cao.

Trần Mạnh Trung
Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Tiếng Anh
Khoa Ngoại Ngữ - Đại học Hồng Đức- Thanh Hóa


GIÁO DỤC THỂ CHẤT Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG HIỆN NAY

GIÁO DỤC THỂ CHẤT
Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG HIỆN NAY


Bài đăng trên tạp chí “Thế giới mới” - Số 820 (09/02/2009)

Giáo dục thể chất có vai trò rất quan trọng trong việc rèn luyện học sinh về thể lực để nâng cao và sức khoẻ với mục tiêu “Khỏe để học tập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, “Khỏe để chinh phục đỉnh cao tri thức”. Từ trước tới nay Giáo dục thể chất vẫn được xem là môn học phụ ở các trường phổ thông, nó không thuộc các môn văn hoá và không là môn thi tốt nghiệp. Sự quan tâm và đầu tư đối với Giáo dục thể chất cũng chưa đầy đủ và thiết bị phục vụ giảng dạy, tập luyện vẫn còn nhiều thiếu thốn. Hiện nay,ở hầu hết các trường học trong cả nước, học sinh học môn Thể dục ngoài sân trường hoặc sân vận động. Nếu mưa là các em phải nghỉ. Mặc dù là môn phụ như vậy đối với những học sinh có thể lực yếu hay không có năng khiếu thể dục - thể thao thì việc học môn Giáo dục thể chất lại là một “cơn ác mộng” vì các em phải rất vất vả để có thể vượt qua điểm trung bình khi phải thi lấy điểm cuối kỳ.

NHÀ TRƯỜNG RÈN LUYỆN THỂ CHẤT HỌC SINH HAY DẠY HỌC SINH BIẾT CÁCH TỰ RÈN LUYỆN THỂ CHẤT?
Về lý thuyết thì Giáo dục thể chất ở các trường phổ thông đều nhằm đạt cả hai mục đích trên. Nhưng thực tế với cách thức dạy môn Giáo dục thể chất như hiện nay chưa mục đích nào được thực hiện một cách đầy đủ.
Nếu chúng ta chọn mục tiêu rèn luyện thể chất cho học sinh thì với chương trình dạy như hiện nay thì chúng ta vẫn không thể đạt được mục tiêu này. Với thời lượng 2 tiết tuần, làm sao có thể rèn luyện và nâng cao thể chất cho học sinh? Khoa học đã chứng minh muốn rèn luyện thể chất để nâng cao sức khoẻ, phải tập luyện hàng ngày và với một thời lượng tăng dần. Chẳng hạn, mỗi tuần các em chỉ có hai tiết học môn chạy thì các sẽ không nhớ được kỹ thuật và không thể chạy tốt được vì không có thời gian tập luyện thường xuyên.
Hơn nữa, môn Thể dục phải được xem là môn học đặc biệt nên được xếp lịch vào một buổi riêng, không nên xếp lịch cùng buổi với các môn văn hoá khác. Nếu các em học thể dục 2 tiết đầu thì 3 tiết văn hoá sau các em sẽ không thể tiếp thu được vì quá mệt mỏi. Nếu các em phải học môn Thể dục vào 2 tiết cuối khi các em đã mệt và đói, hiệu quả học tập sẽ rất kém vì cơ thể các em thiếu năng lượng cho sự vận động.
Để rèn luyện thể chất cho các em thì còn cần phải có các nhà tập luyện, thi đấu phù hợp với đầy đủ các thiết bị tập luyện, phòng tắm và thay quần áo cho học sinh. Các tiết học chính khoá chỉ chủ yếu trang bị kỹ thuật cơ bản. Chương trình môn học cần đề ra thời gian tập luyện ngoài giờ học bắt buộc hàng ngày, cần phải có sự giám sát và trợ giúp của giáo viên bộ môn.
Với cách dạy mỗi tuần 2 tiết ít ỏi như hiện nay, chúng ta chỉ có thể đạt mục tiêu dạy cho học sinh biết các tự rèn luyện thể chất vì các em không có thời gian tập luyện bắt buộc hàng ngày để nâng cao thể lực. Nếu chỉ dạy các em hiểu biết và biết cách tự rèn luyên thể chất thì khi kiểm tra, cho điểm cũng nên đưa ra tiêu chí nắm được kỹ thuật là đạt yêu cầu. Có như vậy những học sinh không có năng khiếu hay kém thể lực (thường chiếm số đông) mới có thể vượt qua được các môn đòi hỏi năng khiếu và có thể lực tốt. Với chương trình và cách dạy môn Giáo dục thể chất như hiện nay, không thể nâng cao thể lực cho những học sinh yếu thể lực được vì các em cần có chế độ tập luyện và dinh dưỡng khoa học.
KIỂM TRA VÀ ĐÁNH GIÁ NHƯ THẾ NÀO?
Hiện nay, cách kiểm tra đánh giá vẫn là cho học sinh thực hành để chấm điểm theo thành tich là chủ yếu. Kết quả chấm điểm như vậy không phản ánh sức khoẻ hay thể lực của học sinh. Chưa có quy định bắt buộc các trường phải có sự kiểm tra thể lực, sức khoẻ đầu mỗi năm học và đánh giá lại thể lực, sức khoẻ sau quá trình rèn luyện vào cuối năm học. Nhiều học sinh có sức khoẻ và thể lực yếu sau nhiều năm học trong trường vẫn không thể nâng cao thể lực và sức khoẻ được, thậm chí thể lực còn kém hơn do cường độ học quá nhiều. Do đó, việc theo dõi quá trình rèn luyện sức khoẻ và thể lực cho học sinh là nhiệm vụ cơ bản của môn giáo dục thể chất.
Việc kiểm tra đánh giá và theo dõi quá trình rèn luyện còn giúp phát hiện những học sinh có năng khiếu để bỗi dưỡng và định hướng tài năng sau này cho đất nước. Vai trò của người thầy còn là một huấn luyện viên. Đối với những học sinh có thể lực yếu, cần có chế độ luyện tập phù hợp với sức khoẻ. Không thể áp dụng các bài tập chung dành cho các học sinh có thể lực tốt trong lớp, để tránh sự quá sức hay tai nạn chấn thương khi luyện tập. Đối với học sinh năng khiếu, cần có giáo án tập luyện riêng để phát triển tài năng.
KẾT LUẬN
Môn Giáo dục thể chất rất cần xác định mục tiêu vừa rèn luyện thể lực cho học sinh và vừa dạy học sinh biết cách rèn luyện thể chất, nâng cao sức khoẻ. Muốn như vậy cần có sự đầu tư cơ sở vật chất, đổi mới chương trình giảng dạy và cách thức kiếm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Mong rằng trong thời gian tới Bộ Giáo dục và Đào tạo có những đổi mới trong việc giảng dạy môn Giáo dục thể chất để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông trong xu thế hội nhập với giáo dục thế giới.

TRẦN MẠNH TRUNG
KHOA NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - THANH HOÁ

====================================================

February 2012
M T W T F S S
January 2012March 2012
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29