Bài đăng trên tạp chí “THẾ GIỚI MỚI” số 830 (20/04/2009)
“Sốc văn hoá” là một hiện tượng tâm sinh lý mà bất cứ du học sinh nào đều phải trải qua khi lần đầu tiên đến sinh sống ở một đất nước xa lạ. Tuỳ thuộc vào sự hiểu biết, tuổi tác hay sự chuẩn bị về tâm lý của từng người mà mức độ ảnh hưởng của “sốc văn hoá” và thời gian vượt qua của mỗi người khác nhau. Người càng trẻ, khả năng thích nghi càng tốt thì ảnh hưởng sẽ ít đi; ngược lại những người lớn tuổi hơn thì khả năng thích nghi với sự thay đổi theo môi trường sống mới kém sẽ rất khó hoặc có thể không bao giờ vượt qua được cú “sốc” văn hoá. “SỐC VĂN HOÁ” LÀ GÌ? Theo từ điển trực tuyến Wikipedia , “Sốc văn hoá” là “một thuật ngữ được sử dụng để chỉ sự lo lắng và những cảm xúc (như ngạc nhiên, mất phương hướng, bối rối, v.v.) mà một người cảm thấy khi phải hoạt động trong một nền văn hóa hay môi trường xã hội hoàn toàn khác, ví dụ như ở nước ngoài. Nó nảy sinh từ những khó khăn trong việc hòa nhập với nền văn hoá mới, là nguyên nhân của việc khó lòng nhận thức cái gì là thích hợp và cái gì không. Tình trạng này thường đi đôi với sự căm ghét (vì lý do đạo đức hay mỹ học) đối với một số khía cạnh nhất định của nền văn hoá mới lạ hoặc khác biệt kia”. Khái niệm này được Kalvero Oberg đưa ra lần đầu năm 1954. Một vài nhà nghiên cứu khác sau đó cũng đã nghiên cứu về "sốc văn hóa".
NHỮNG “TRIỆU CHỨNG” CỦA “SỐC VĂN HOÁ” Theo tác giả Nguyễn Quang trong cuốn “Giao tiếp giao văn hoá” thì người bị “sốc văn hoá” thường có các biểu hiện sau đây: - Nhớ người thân và bè bạn ở quê hương. - Không có khả năng làm việc tốt. - Ăn quá nhiều, uống quá nhiều hoặc ngủ quá nhiều. - Tức giận hay không thiện cảm với những người của nền văn hoá mới. - Luôn tự hào về nền văn hoá quê hương mình và luôn nhấn mạnh vào những mặt trái hay chê bai những điểm khác biệt của nền văn hoá nơi đang cư trú. - Sống khép kín và tránh tiếp xúc với những người của nền văn hoá mới. - Thiếu khả năng giải quyết hay lúng túng khi xử trí những vấn đề nảy sinh dù là nhỏ nhất nơi xứ người. Đối với một người mới đến học tập và sinh sống ở một đất nước xa lạ, những phản ứng trên là hoàn toàn bình thường về tâm sinh lý. Vấn đề là cần phải biết cách điều chỉnh để vượt qua những ảnh hưởng của “sốc văn hoá” để thích nghi và sớm hoà nhập. ĐIỀU CHỈNH ĐỂ SỚM THÍCH NGHI VỚI CUỘC SỐNG MỚI Có 5 giai đoạn mà người mới đến sinh sống và học tập ở nước ngoài thường trải qua: - Giai đoạn “Trăng mật”: Ban đầu người mới đến cảm thấy rất hạnh phúc và háo hức khi tiếp cận, khám phá và trải nghiệm một nền văn hoá mới. Quãng thời gian này thường kéo dài không lâu. Mức độ của sự hạnh phúc này có thể sẽ không bao giờ lặp lại với người đó. - Giai đoạn “Sốc văn hoá”: Người mới đến bắt đầu cảm thấy “sốc” khi gặp những khó khăn về nhà cửa, hệ thống giao thông, việc làm, mua sắm và bất đồng ngôn ngữ. - Những điều chỉnh đầu tiên: Những vấn đề về nhà cửa và mua sắm dần dần không còn là vấn đề khó khăn với người mới đến. Người mới đến có thể chưa thể nói trôi chảy nhưng đã có thể diễn đạt những ý kiến và tình cảm cơ bản bằng ngôn ngữ bản xứ. - Sự biệt lập về tinh thần: Người mới đến phải sống xa gia đình và người thân nơi quê nhà một thời gian khá dài nên có thể cảm thấy cô độc. Một số người sẽ cảm thấy bực tức và mất tự tin do không thể thể hiện các ý kiến của mình bằng tiếng bản xứ như tiếng mẹ đẻ của mình hoặc do vẫn chưa tìm được việc làm hay nơi cư trú. - Chấp nhận và hoà nhập: Những thói quen mới trong công việc, kinh doanh hay học tập được thiết lập. Người mới đến sẽ quen dần với những phong cách làm việc mới, tập quán, thức ăn và tính cách của những người bản xứ. Họ sẽ dần dần quen với những người bạn mới, cộng đồng mới và ngôn ngữ bản xứ. Những người mới đến trải qua các giai đoạn trên theo nhiều cách khác nhau. Có người không bao giờ có giai đoạn “Trăng mật” vì hoàn cảnh đến đất nước mới này của họ là bắt buộc hay ngoài ý muốn. Ngoài ra, các yếu tố khác như tính cách cá nhân, tuổi tác, khả năng tiếp thu ngôn ngữ, hiểu biết về văn hoá nơi họ đến, sự ủng hộ của gia đình và người thân, các vấn đề về tài chính, việc làm và động lực đến sống ở nước ngoài cũng ảnh hưởng đến mức độ “sốc văn hoá” và khả năng và độ dài thời gian thích nghi để vượt qua “sốc văn hoá”. MỘT VÀI LỜI KHUYÊN Để sớm vượt qua “Sốc văn hoá” khi đến sống và học tập ở nước ngoài, những người mới đến cần tìm hiểu trước thật kỹ về văn hoá của đất nước mà mình sắp đến. Các tổ chức đưa học sinh du học hay tổ chức nhận nhập cư thường tổ chức các khoá học định hướng văn hoá nhằm giúp những người mới đến tìm hiểu về đất nước, con người và tập quán của người bản xứ. Dù vậy, những điều thu nhận từ các khoá học định hướng văn hoá vẫn chưa đủ, người mới đến cần tìm hiểu thêm qua những người đã từng sinh sống và học tập ở đất nước đó. Một nguồn thông tin khác là từ Internet hay sách báo khác. Càng hiểu kỹ về văn hoá nước sở tại thì mức độ và thời gian “sốc văn hoá” sẽ giảm đi rất nhiều và khả năng thích nghi sẽ nhanh hơn. “Bất đồng ngôn ngữ” cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến “sốc văn hoá”. Do đó, chuẩn bị thật tốt về ngôn ngữ để có thể giao tiếp tốt với người bản ngữ để tránh sự hiểu lầm do diễn đạt sai hay sự bực tức do không thể diễn đạt đúng ý nghĩ của mình bằng tiếng bản xứ. Người mới đến cần chuẩn bị về mặt tâm sinh lý để đón nhận “sốc văn hoá” nơi xứ người. Cần tự hào về nền văn hoá gốc của mình nhưng cũng phải biết cách chấp nhận và tôn trọng nền văn hoá bản xứ hay các nền văn hoá khác đang tồn tại song hành với nền văn hoá bản xứ.
Trần Mạnh Trung Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Tiếng Anh Khoa Ngoại Ngữ - Đại học Hồng Đức- Thanh Hóa
Bài đăng trên tạp chí “Thế giới mới” Số 826 (23/03/2009)
Trước khi cho con đi du học, các bậc cha mẹ thường quan tâm chọn nước đến du học, các thủ tục đi du học, chi phí ăn ở, tìm trường học có chất lượng tốt ... Tuy nhiên, hầu như rất ít ai để ý tìm hiểu và chuẩn bị cho con mình phương pháp học tập phù hợp với môi trường giáo dục mới. Những người sớm thích nghi với phương pháp học tập mới sẽ học tốt và nhanh hoà nhập với môi trường học tập ở nước ngoài. Những người không biêt tự tìm ra và biết cách chuyển đổi phương pháp học tập phù hợp thì kết quả học tập sẽ rất hạn chế hoặc thậm chí không thể tiếp thu kiến thức ở xứ người. CÁCH HỌC Ở NHÀ Ở Việt Nam, cho đến nay, người ta vẫn quen với đường hướng giảng dạy phổ biến là “Lấy người thầy làm trung tâm” , đó là thầy nói (hay thậm chí đọc), học trò ghi chép và về nhà học thuộc lòng. Khi kiểm tra chỉ cần nêu đủ những điều thầy đã giảng là đạt yêu cầu. Theo đường hướng này, quan niệm sách giáo khoa phổ thông đã chứa đựng toàn bộ kiến thức chuẩn và cơ bản mà học sinh cần nắm vững. Người thầy có nhiệm vụ giảng giải cho các em hiểu và nắm toàn bộ nội dung trong sách giáo khoa. Một quan niệm còn phổ biến trong giáo dục ở các bậc học phổ thông và thậm chí ở bậc đại học hiện nay là “Người thầy là người truyền thụ kiến thức, học trò là người tiếp nhận kiến thức”. Cách dạy này làm cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động và phụ thuộc hoàn toàn kiến thức của thầy. Nhiều em sẽ trở nên lười suy nghĩ sáng tạo và chỉ học theo sách giáo khoa, chỉ trông chờ học những kiến thức sẵn có của thầy là đủ rồi. Phương pháp giảng dạy trên chắc chắn đã có những ảnh hưởng lớn đến sự năng động, sáng tạo của học sinh trong học tập cũng như trong cuộc sống sau này. Học sinh sẽ có thói quen thụ động, trông chờ và sức ỳ của học sinh trong tiếp thu kiến thức sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến tính năng động, sáng tạo trong cuộc sống sau này của các em. PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP MỚI Ở những nước có nền giáo dục tiên tiến hiện nay như Anh, Úc, Mỹ, Canada, .... phương pháp giảng dạy “Lấy người học làm trung tâm” đã được áp dụng từ lâu. Người ta quan niệm rằng học trò là người chủ động lĩnh hội kiến thức thông qua nghe giảng, tranh luận với bạn học và với thầy giáo trên lớp và đặc biệt là thông qua tự học, tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của thầy giáo ngoài giờ lên lớp. Thầy giáo chỉ là người trợ giúp trò lĩnh hội tri thức một cách chủ động và sáng tạo. Kiến thức mà người học thu được là kiến thức “mở”, tức là nó bao gồm kiến thức trong sách giáo khoa và kiến thức người học thu lượm do tự học, tự nghiên cứu từ các nguồn tài liệu khác như sách báo và thông tin trên Internet. Đó không phải là kiến thức chỉ gói gọn trong sách giáo khoa. Phương pháp giảng dạy này đòi hỏi tính tự giác rất cao của người học. Người học được yêu cầu tham gia các hoạt động theo nhóm hay theo cặp và thảo luận không chỉ theo nhóm mà còn cả với thầy dạy. Người học phải biết mình cần gì, thiếu cái gì và tự mình hoàn thiện kiến thức của mình. Do ảnh hướng của lối học tiếp thu kiến thức thụ động nên sinh viên Việt Nam thường bị các giáo viên ở nước ngoài chê là “ngại” tranh luận khi học trên lớp. Trong khi đó tranh luận lại là cách tốt nhất để hiểu bài kỹ nhất. THÍCH NGHI VỚI PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP MỚI Có trí tuệ nhưng không có phương pháp học tập đúng thì kết quả sẽ không cao. Do đó, các du học sinh cần tìm hiểu và tự trang bị cho mình phương pháp học tập phù hợp với môi trường học tập nơi du học. Hãy biết thích nghi và thay đổi phương pháp học tập để đạt kết quả tốt nhất, không phụ những kỳ vọng của cha mẹ, những người đã tốn nhiều tiền cho con du học để sau này có một tương lại tốt đẹp hơn.
Thứ nhất, các tân du học sinh nên gặp những người là sinh viên giỏi đang du học hoặc đã từng du học để tìm hiểu và nhờ hướng dẫn phương pháp học. Là những người đi trước, họ sẽ giúp những người đến sau vượt qua những khó khăn, bỡ ngỡ ban đầu khi du học ở nước ngoài. Thứ hai, các du học sinh cần loại bỏ những e ngại, tự ti để sớm hoà nhập vào môi trường học tập mới. Tham gia các hoạt động nhóm cũng như hoạt động ngoại khoá trong chương trình học tập. Thứ ba, hãy luôn tìm kiếm sự giúp đỡ của các giáo viên. Họ luôn sẵn sàng giúp đỡ nhiệt tình các sinh viên mới đến làm quen với môi trường học tập mới. Thứ tư, các du học sinh phải rèn luyện thói quen tự học, tự nghiên cứu với tính chủ động, tích cực và tự giác cao.
Trần Mạnh Trung Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Tiếng Anh Khoa Ngoại Ngữ - Đại học Hồng Đức- Thanh Hóa
Bài đăng trên tạp chí “Thế giới mới” - Số 820 (09/02/2009)
Giáo dục thể chất có vai trò rất quan trọng trong việc rèn luyện học sinh về thể lực để nâng cao và sức khoẻ với mục tiêu “Khỏe để học tập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, “Khỏe để chinh phục đỉnh cao tri thức”. Từ trước tới nay Giáo dục thể chất vẫn được xem là môn học phụ ở các trường phổ thông, nó không thuộc các môn văn hoá và không là môn thi tốt nghiệp. Sự quan tâm và đầu tư đối với Giáo dục thể chất cũng chưa đầy đủ và thiết bị phục vụ giảng dạy, tập luyện vẫn còn nhiều thiếu thốn. Hiện nay,ở hầu hết các trường học trong cả nước, học sinh học môn Thể dục ngoài sân trường hoặc sân vận động. Nếu mưa là các em phải nghỉ. Mặc dù là môn phụ như vậy đối với những học sinh có thể lực yếu hay không có năng khiếu thể dục - thể thao thì việc học môn Giáo dục thể chất lại là một “cơn ác mộng” vì các em phải rất vất vả để có thể vượt qua điểm trung bình khi phải thi lấy điểm cuối kỳ.
NHÀ TRƯỜNG RÈN LUYỆN THỂ CHẤT HỌC SINH HAY DẠY HỌC SINH BIẾT CÁCH TỰ RÈN LUYỆN THỂ CHẤT? Về lý thuyết thì Giáo dục thể chất ở các trường phổ thông đều nhằm đạt cả hai mục đích trên. Nhưng thực tế với cách thức dạy môn Giáo dục thể chất như hiện nay chưa mục đích nào được thực hiện một cách đầy đủ. Nếu chúng ta chọn mục tiêu rèn luyện thể chất cho học sinh thì với chương trình dạy như hiện nay thì chúng ta vẫn không thể đạt được mục tiêu này. Với thời lượng 2 tiết tuần, làm sao có thể rèn luyện và nâng cao thể chất cho học sinh? Khoa học đã chứng minh muốn rèn luyện thể chất để nâng cao sức khoẻ, phải tập luyện hàng ngày và với một thời lượng tăng dần. Chẳng hạn, mỗi tuần các em chỉ có hai tiết học môn chạy thì các sẽ không nhớ được kỹ thuật và không thể chạy tốt được vì không có thời gian tập luyện thường xuyên. Hơn nữa, môn Thể dục phải được xem là môn học đặc biệt nên được xếp lịch vào một buổi riêng, không nên xếp lịch cùng buổi với các môn văn hoá khác. Nếu các em học thể dục 2 tiết đầu thì 3 tiết văn hoá sau các em sẽ không thể tiếp thu được vì quá mệt mỏi. Nếu các em phải học môn Thể dục vào 2 tiết cuối khi các em đã mệt và đói, hiệu quả học tập sẽ rất kém vì cơ thể các em thiếu năng lượng cho sự vận động. Để rèn luyện thể chất cho các em thì còn cần phải có các nhà tập luyện, thi đấu phù hợp với đầy đủ các thiết bị tập luyện, phòng tắm và thay quần áo cho học sinh. Các tiết học chính khoá chỉ chủ yếu trang bị kỹ thuật cơ bản. Chương trình môn học cần đề ra thời gian tập luyện ngoài giờ học bắt buộc hàng ngày, cần phải có sự giám sát và trợ giúp của giáo viên bộ môn. Với cách dạy mỗi tuần 2 tiết ít ỏi như hiện nay, chúng ta chỉ có thể đạt mục tiêu dạy cho học sinh biết các tự rèn luyện thể chất vì các em không có thời gian tập luyện bắt buộc hàng ngày để nâng cao thể lực. Nếu chỉ dạy các em hiểu biết và biết cách tự rèn luyên thể chất thì khi kiểm tra, cho điểm cũng nên đưa ra tiêu chí nắm được kỹ thuật là đạt yêu cầu. Có như vậy những học sinh không có năng khiếu hay kém thể lực (thường chiếm số đông) mới có thể vượt qua được các môn đòi hỏi năng khiếu và có thể lực tốt. Với chương trình và cách dạy môn Giáo dục thể chất như hiện nay, không thể nâng cao thể lực cho những học sinh yếu thể lực được vì các em cần có chế độ tập luyện và dinh dưỡng khoa học. KIỂM TRA VÀ ĐÁNH GIÁ NHƯ THẾ NÀO? Hiện nay, cách kiểm tra đánh giá vẫn là cho học sinh thực hành để chấm điểm theo thành tich là chủ yếu. Kết quả chấm điểm như vậy không phản ánh sức khoẻ hay thể lực của học sinh. Chưa có quy định bắt buộc các trường phải có sự kiểm tra thể lực, sức khoẻ đầu mỗi năm học và đánh giá lại thể lực, sức khoẻ sau quá trình rèn luyện vào cuối năm học. Nhiều học sinh có sức khoẻ và thể lực yếu sau nhiều năm học trong trường vẫn không thể nâng cao thể lực và sức khoẻ được, thậm chí thể lực còn kém hơn do cường độ học quá nhiều. Do đó, việc theo dõi quá trình rèn luyện sức khoẻ và thể lực cho học sinh là nhiệm vụ cơ bản của môn giáo dục thể chất. Việc kiểm tra đánh giá và theo dõi quá trình rèn luyện còn giúp phát hiện những học sinh có năng khiếu để bỗi dưỡng và định hướng tài năng sau này cho đất nước. Vai trò của người thầy còn là một huấn luyện viên. Đối với những học sinh có thể lực yếu, cần có chế độ luyện tập phù hợp với sức khoẻ. Không thể áp dụng các bài tập chung dành cho các học sinh có thể lực tốt trong lớp, để tránh sự quá sức hay tai nạn chấn thương khi luyện tập. Đối với học sinh năng khiếu, cần có giáo án tập luyện riêng để phát triển tài năng. KẾT LUẬN Môn Giáo dục thể chất rất cần xác định mục tiêu vừa rèn luyện thể lực cho học sinh và vừa dạy học sinh biết cách rèn luyện thể chất, nâng cao sức khoẻ. Muốn như vậy cần có sự đầu tư cơ sở vật chất, đổi mới chương trình giảng dạy và cách thức kiếm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh. Mong rằng trong thời gian tới Bộ Giáo dục và Đào tạo có những đổi mới trong việc giảng dạy môn Giáo dục thể chất để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông trong xu thế hội nhập với giáo dục thế giới.
TRẦN MẠNH TRUNG KHOA NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - THANH HOÁ
SỬ DỤNG BLOG TRONG DẠY MÔN THỰC HÀNH DỊCH NGOẠI NGỮ
Trần Mạnh Trung Khoa Ngoại ngữ - Đại học Hồng Đức – Thanh Hoá (Bài đăng trên tạp chí “Giáo dục” - số 206 – Kỳ 2- 1/2009)
Ngày nay Internet đã và đang trở thành là một mạng thông tin toàn cầu có sức lan toả rộng và nó không chỉ phục vụ cho giải trí, giao tiếp, thu thập thông tin mà còn phục vụ cho học tập. Internet là phương tiện giúp người học ngoại ngữ có thể thực hành khá hiệu quả các kỹ năng giao tiếp như: nghe, nói, đọc, viết. Người học ngoại ngữ còn có thể học trực tuyến qua một số website dạy ngoại ngữ và thậm chí có thể luyện thi và thi ngoại ngữ trên mạng. Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học trong đào tạo đại học theo học chế tín chỉ của các trường đại học theo quyết định 43 về đào tạo của bộ GD - ĐT, nhằm mục đích khai thác Internet phục vụ cho việc giảng dạy, chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm việc sử dụng blog để dạy thực hành dịch cho sinh viên năm thứ 3 (Khoa Ngoại ngữ- Bộ môn Tiếng Anh - trường Đại học Hồng Đức trong học kỳ 2 năm học 2007 -2008. Việc thực nghiệm sử dụng blog cho trong giảng dạy môn Thực hành dịch nhằm: - Tạo nhu cầu thực sự cho sinh viên sử dụng Internet vào mục đích học tập;- Giúp sinh viên tiếp cận phương pháp học tập mới: chủ động tự học ngoài giờ trên lớp, làm bài tập cá nhân và làm bài tập theo nhóm hằng tuần, đánh giá việc tham gia hoạt động nhóm của mỗi thành viên qua việc cho điểm kín; - Nâng cao hiệu quả của việc sử dụng hoạt động nhóm trong giảng dạy bằng biện pháp yêu cầu sinh viên đánh giá (chấm điểm kín) việc tham gia hoạt động nhóm của từng thành viên nhóm; - Nâng cao chất lượng học môn Thực hành dịch cho sinh viên thông qua 3 giai đoạn: tự nghiên cứu trước khi đến lớp; tranh luận trong nhóm trên lớp và nhận xét bài dịch nhóm khác ngoài giờ lên lớp; - Tạo thêm hứng thú cho sinh viên với cách học qua blog. Qua thực nghiệm dạy Thực hành dịch dùng blog cho lớp ĐHSP Tiếng Anh K5A và K5B (Khoa Ngoại ngữ, Đại học Hồng Đức cho thấy vẫn còn nhiều vấn đề cần khắc phục, nhưng cũng đã đạt kết quả bước đầu và việc thực nghiệm thu được những thành công nhất định. 1. CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ DẠY THỰC HÀNH DỊCH TRÊN BLOG. Blog (weblog) là một dạng nhật ký cá nhân mà bất kỳ ai cũng có thể sử dụng nếu người đó có hiểu biết về công nghệ thông tin hoặc được hướng dẫn. Blog cho phép sự giao tiếp giữa người viết blog (blogger) và những người đọc dễ dàng và thuận tiện. Blogger có thể gửi (post) bài viết (entry) của mình bất kỳ lúc nào và người đọc có thể gửi nhận xét (comment) ngay sau khi đọc một bài viết. Tất cả những độc giả khác đều có thể đọc bài viết, các bài nhận xét của người khác và viết nhận xét của mình. Tận dụng các tính năng của blog vào dạy môn thực hành dịch mang đã lại nhiều kết quả tích cực. Bài dịch của các nhóm sinh viên sẽ được gửi lên trang blog và được rất nhiều sinh viên khác và giáo viên nhận xét; thậm chí bất kỳ một cá nhân nào đó tình cờ vào đọc blog cũng có thể nhận xét. Nếu học Thực hành dịch trên lớp một bản dịch viết tay của từng nhóm khó có thể tất cả sinh viên cùng nhận xét vì hạn chế về thời gian và sau khi được nhận xét, việc sửa chữa cũng đòi hỏi nhiều thời gian hơn. Các điều kiện để thực hiện gồm có: - Sinh viên cần có kiến thức về mạng Internet và blog, mỗi sinh viên phải có địa chỉ thư điện tử để đăng ký một blog cá nhân và dùng tài khoản đó để đăng nhập vào blog dạy môn Thực hành dịch của giáo viên lập ra để nhận xét; - Cần có phòng lab học ngoại ngữ có máy tính nối mạng Internet để sinh viên có thể sử dụng trong và ngoài giờ trên lớp; - Giáo viên có hiểu biết về Internet, blog và phải biết tạo ra một blog dành riêng cho giảng dạy môn Thực hành dịch; - Giáo viên phải dành nhiều thời gian làm việc ngoài giờ lên lớp để vào mạng gửi bài của các nhóm lên blog, nhận thư điện tử của sinh viên, nhận xét bài dịch của các nhóm. 2. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH VÀ ĐÁNH GIÁ. a) Các bước tiến hành: 1) Hằng tuần, giáo viên đưa đề dịch mới lên blog trước giờ học trên lớp 2 hoặc 3 ngày. Sinh viên lên blog để đọc và tự chuẩn bị hoặc copy lại đề dịch để về nhà tự nghiên cứu và chuẩn bị trước; 2) Đến giờ học trên lớp, sinh viên làm việc theo từng nhóm, mỗi nhóm phải đưa ra bản dịch của nhóm trên cơ sở ý kiến đóng góp của từng thành viên và gửi cho giáo viên qua e-mail hoặc qua USB; 3) Giáo viên đọc và chấm điểm trước khi đưa toàn bộ các bản dịch của các nhóm lên blog; 4) Mỗi sinh viên sẽ chọn bản dịch một nhóm bất kỳ trên blog để nhận xét về các mặt: việc sử dụng cấu trúc câu, khả năng diễn đạt, dùng từ, … của bản dịch; 5) Các nhóm tiếp thu ý kiến nhận xét và sửa chữa bản dịch nếu thấy cần thiết, có thể có ý kiến tranh luận phản hồi về nhận xét của người khác (nếu cần) và gửi bản dịch đã sửa cho giáo viên. Giáo viên nhận xét bản dịch đã sửa chữa của từng nhóm và gửi lên blog cùng với đáp án gợi ý cho các nhóm kiểm tra; 6) Mỗi sinh viên phải chấm điểm đánh giá việc tham gia hoạt động nhóm của các thành viên trong nhóm theo ba tiêu chí: Tốt (3 điểm), Khá (2 điểm) và Trung bình (1 điểm) và Kém (Không tham gia: 0 điểm) và gửi cho giáo viên (không tiết lộ với bất kỳ ai). b) Đánh giá và cho điểm: Mỗi tuần, giáo viên sẽ giao 1 bài dịch cho các nhóm và sẽ chấm lấy một đầu điểm cho từng cá nhân. Điểm cá nhân sẽ được tính như sau: điểm bài của nhóm chiếm 40% (Tối đa : 4 điểm) + điểm cá nhân nhận xét trên blog chiếm 30% (tối đa: 3 điểm) + điểm ý thức tham gia hoạt động nhóm chiếm 30 % (tối đa: 3 điểm). 3. ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC SỬ DỤNG BLOG a) Ưu điểm. Ý kiến phản hồi của sinh viên qua “Phiếu điều tra” khi học phần Thực hành dịch kết thúc cho thấy 100% sinh viên cho rằng hình thức này gây hứng thú cho sinh viên, vì đây là phương pháp học mới và thân thiện đối với sinh viên; Sinh viên được chủ động thời gian tự học (có thể vào mạng chuẩn bị bài dịch cá nhân và nhận xét nhóm khác vào bất kỳ lúc nào), giờ học trên lớp chủ yếu dành cho thảo luận nhóm, không có sự can thiệp của giáo viên. Hơn nữa, sinh viên sẽ không bị sức ép phải hoàn thành bài dịch để chữa cuối buổi học như các giờ thực hành dịch thông trường trên lớp. Sinh viên dành thời gian học môn này ngoài giờ lên lớp trung bình 4 gìơ /tuần (2 giờ cho chuẩn bị bài dịch trước khi đến lớp và 2 giờ cho phần nhận xét bài của nhóm khác). Tạo được nhu cầu tự học và tính tự giác cho sinh viên (mỗi sinh viên phải tự lên blog để đọc đề dịch mới và chuẩn bị để hôm sau đến lớp tranh luận với nhóm). Việc tham gia hoạt động nhóm cũng mang tính tự giác vì nó sẽ được thành viên khác chấm điểm, cũng như sinh viên phải tự giác lên blog để nhận xét bài dịch của môt trong các nhóm để lấy điểm (giáo viên chấm). Cách học này giúp sinh viên hiểu kĩ và nhớ nội dung bài dịch tốt hơn (những cấu trúc câu, cách diễn đạt, cách dùng từ) do đã nghiên cứu kỹ trước ở nhà, tranh luận trong nhóm và nhận xét bài nhóm khác. Sinh viên tham gia hoạt động nhóm một cách chủ động, tích cực và biết cách chia sẻ ý kiến với người khác. a) Ưu điểm. Việc gửi bài nhận xét đôi khi gặp khó khăn do lỗi đường truyền Internet nên phải gửi nhiều lần. Hệ thống phòng Lab của nhà trường chưa đáp ứng nhu cầu của sinh viên. Sinh viên chưa có thói quen tự học ngoài giờ lên lớp và tham gia hoạt động nhóm trong lớp học, vì vậy, nhiều em còn tham gia chiếu lệ gây sự bất bình của các sinh viên tích cực trong nhóm. 4. MỘT SỐ GÓP Ý ĐỐI VỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC SỬ DỤNG BLOG Blog có thể áp dụng trong giảng dạy một số môn học cần sự tương tác giữa những người học và hoạt động nhóm trong và ngoài lớp ở tất cả các cấp học. Ở những khu vực đã có Internet thì có thể khai thác blog phục vụ cho giảng dạy rất dễ dàng. Trong dạy ngoại ngữ, ngoài dạy Thực hành dịch thì dạy Thực hành viết cũng có thể sử dụng blog với những bước thực hiện tương tự. Phần dạy Thực hành làm văn của môn Văn ở phổ thông có thể áp dụng blog để giảng dạy. Giáo viên có thể ra đề làm văn trước cho học sinh tự viết ở nhà. Mỗi học sinh tự tạo một blog để đưa bài văn của mình lên cho những học sinh khác nhận xét. Giáo viên là người cuối cùng nhận xét bài văn và đưa ra ý kiến về các nhận xét của các học sinh khác trong lớp. Qua đó, học sinh sẽ học được rất nhiều thông qua việc nhận xét bài người khác và tiếp thu ý kiến nhận xét không chỉ của thầy cô dạy văn mà cả của các bạn trong lớp nữa. Hơn nữa, việc dạy làm Văn dùng blog tạo nên mối quan hệ tương tác giữa học sinh với giáo viên và giữa các học sinh với nhau. Lâu nay, trong giáo dục phổ thông, việc đánh giá chỉ “độc quyền” của thầy cô giáo giảng dạy nên đánh giá đó có thể chưa chính xác và đầy đủ vì đó là ý kiến chủ quan của một người. Học sinh rất cần có sự đánh giá từ nhiều đối tượng và nhiều góc độ khác nhau để hiểu sâu hơn về cái đúng, cái sai trong bài viết của mình. Việc tranh luận với thầy cô và bạn bè về bài viết của mình sẽ giúp học sinh rút kinh nghiệm để khả năng học và viết văn tốt dần. Phương pháp dạy học Thực hành dịch dùng blog đã thu được được những thành công bước đầu và đạt được mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học cũng như cải tiến cách đánh giá cho điểm sinh viên. Phương pháp dạy học này rất phù hợp với các học phần Thực hành dịch, phát triển kỹ năng viết và một số môn học (không chỉ ở bậc đại học mà cả ở bậc phổ thông) cần có sự tương tác giữa người học với người dạy và giữa người học với nhau theo xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Sử dụng blog trong giảng dạy và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên có ý nghĩa tích cực trong việc đổi mới phương pháp dạy học; nâng cao chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh theo hướng “lấy người học làm trung tâm”. Đặc biệt, phương pháp dạy học sử dụng blog rất phù hợp với xu hướng sử dụng đa phương tiện (Multimedia) trong giảng dạy và đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo phương thức học chế tín chỉ ở bậc đại học trong những năm tới.
NGUYÊN TẮC “TƯƠNG TÁC ĐA CHIỀU, ĐA ĐỐI TƯỢNG “ TRONG GIẢNG DẠY MÔN TẬP LÀM VĂN Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG
NGUYÊN TẮC “TƯƠNG TÁC ĐA CHIỀU, ĐA ĐỐI TƯỢNG” LÀ GÌ? Trong phương pháp giảng dạy ở các trường phổ thông hiện nay hình thức tác động từ người dạy đến người học được sử dụng phổ biến. Nhưng đây lại là tác động một chiều “thầy → trò”: người thầy có quyền đánh giá, cho điểm học trò và học trò ít khi hay nói cách khác là không dám có ý kiến phản hồi hay tranh luận với thầy dù đó có thể là sự đánh giá chủ quan, không chính xác, thoả đáng của thầy. Trong xu hướng đổi mới phương pháp giảng dạy hiện nay theo đường hướng “Lấy người học làm trung tâm” thì nguyên tắc “Tương tác đa chiều, đa đối tượng” tỏ rõ tính ưu việt của nó. “Tương tác đa chiều, đa đối tượng” là sự tác động qua lại không chỉ một chiều giữa thầy với trò (“thầy → trò”) mà còn có sự tác động trở lại của trò với thầy (“trò → thầy”) và giữa nhiều học trò với nhau (“trò ↔ trò”) trong quá trình giáo dục nói chung và trong giảng dạy một môn học cụ thể nói riêng.
ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC “TƯƠNG TÁC ĐA CHIỀU, ĐA ĐỐI TƯỢNG” TRONG DẠY TẬP LÀM VĂN. Môn Tập Làm Văn là môn học rất cần có sự tương tác đa chiều giữa nhiều đối tượng với nhau. Một bài tập làm văn của học sinh cần có sự nhận xét, gợi ý của thầy và của nhiều học sinh khác để người viết có thể sửa chữa, hoàn thiện bài văn của mình tốt hơn. Người học không chỉ học từ thầy mà còn cần học từ bạn. Mặc dù ông cha ta có câu “Không thầy đố mày làm nên” nhưng lại vẫn khẳng định “Học thầy không tầy học bạn”. Điều đó cho thấy việc “học bạn” cũng rất quan trọng trong học tập của học sinh. Để áp dụng nguyên tắc này cần có các bước sau: 1. Thầy, cô cần tự mình đưa ra những tiêu chí đánh giá, thang điểm thật cụ thể cho một bài văn. Chẳng hạn, xin gợi ý các tiêu chí sau: - Nội dung: + Các ý cơ bản cần có + Các ý của người viết - Ngữ pháp: + Viết đúng câu, đúng chính tả + Dùng từ đúng, phong phú - Diễn đạt: + Logic (sắp xếp ý hợp lý) + Dùng các từ chuyển tiếp hợp lý + Luận điểm rõ ràng 2. Thầy, cô sau khi hướng dẫn phần phương pháp viết một thể loại văn cần lựa chọn một số đề thực hành. 3. Giao một đề văn (kèm theo một số gợi ý) cho học sinh về nhà tự viết hoặc viết trên lớp. 4. Học sinh nộp bài viết cho giáo viên. 5. Giáo viên đọc kỹ từng bài văn, nhận xét chi tiết và chấm điểm (theo tiêu chí đã công bố cho học sinh) vào một tờ giấy riêng và cất đi. 6. Giáo viên mang bài đến lớp và để lên bàn yêu cầu học sinh tự chọn lấy một bài của học sinh khác để đọc và nhận xét theo các tiêu chí cho trước. Mỗi học sinh cần đọc và nhận xét từ 5 bài trở lên. 7. Giáo viên mang bài về nhà đọc lại các bài và nhận xét của các học sinh khác và đưa ra ý kiến của mình về những nhận xét của các học sinh khác. 8. Mang bài và nhận xét kèm theo tới lớp trả lại cho học sinh và yêu cầu học sinh viết lại và sửa chữa theo những nhận xét và góp ý và nộp lại để nhận xét và chấm lại. 9. Giáo viên chấm điểm lại bài văn và trả lại cho học sinh kèm theo điểm và nhận xét trước khi được góp ý và sửa chữa ở bước 5. 10. Học sinh đọc lại 2 bài viết (trước khi góp ý và sau khi góp sửa chữa) và đọc nhận xét và so sánh điểm và nhận xét của giáo viên trước và sau khi sửa lại và đưa ý kiến phản hồi nếu có. Phương pháp dạy này đòi hỏi giáo viên mất nhiều thời gian hơn vì phải đọc và nhận xét mỗi bài viết của mỗi học sinh hai lần. Học sinh cũng phải mất nhiều công sức và thời gian để viết hai lần cho một đề bài và phải đọc và nhận xét bài của các học sinh khác. Nhưng lợi ích của cách dạy này là giúp học sinh rèn giũa kỹ năng viết và sẽ dần viết tốt lên do biết cách rút kinh nghiệm và sửa chữa lỗi nhờ những nhận xét và góp ý của cả thầy và trò trong lớp.
Ở NHỮNG NƠI CÓ INTERNET Ở các thành phố lớn, nơi Internet phổ biến rộng rãi thì có thể sử dụng Blog, một dạng nhật ký các nhân trực tuyến để dạy môn Tập Làm Văn theo nguyên tắc “Tương tác đa chiều, đa đối tượng” theo các bước sau: 1. Giáo viên lập 1 blog trên mạng. 2. Hằng tuần giáo đưa ra 1 đề tập làm văn kèm theo những gợi ý cần thiết trên blog. 3. Học sinh chép lại đề về nhà đánh máy bài viết (hoặc đánh máy ngay tại quán net) và gửi bài cho giáo viên bằng e-mail. 4. Giáo viên đưa bài tất cả học sinh lên blog cho các học sinh khác vào nhận xét. 5. Học sinh đọc kỹ nhận xét, góp ý và sửa lại bài văn sau đó gửi lại cho giáo viên. 6. Giáo viên nhận xét cho điểm chính thức và đưa lại bài văn lên blog. 7. Học sinh có ý kiến phản hồi về các nhậ xét của giáo viên. Việc sử dụng blog trong giảng dạy Văn là một hướng đi mới trong việc khai thác Internet trong học tập và giảng dạy hiện nay. - Tạo nhu cầu thực sự cho sinh viên sử dụng Internet vào mục đích học tập. - Giúp sinh viên tiếp cận phương pháp học tập mới: chủ động tự học ngoài giờ trên lớp, làm bài tập cá nhân. - Tạo thêm hứng thú cho sinh viên với cách học qua blog, một dạng nhật ký cá nhân đang rất thịnh hành trong giới trẻ hiện nay. KẾT LUẬN Trên đây là những những gợi ý giúp các thầy cô giáo dạy Văn ở phổ thông áp dụng nguyên tắc “Tương tác đa chiều, đa đối tượng” trong dạy tập làm văn. Nguyên tắc này có thể áp dụng với nhiều môn khác và có thể có những thay đổi, bổ sung cho thật phù hợp tuỳ thuộc vào từng cá nhân. Việc áp dụng nguyên tắc này là bước tiếp cận đầu tiên trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy hiện nay ở phổ thông. Áp dụng nguyên tắc này mang lại nhiều lợi ích cho người học trong việc rèn luyện kỹ năng viết, một kỹ năng quan trong trong môn Văn học.
(Bài đã đăng trên tạp chí "THẾ GIỚI MỚI" - SỐ 812 (01/12/2008)và trên website: http://www.giaovien.net ============================================================================================================= Trần Mạnh Trung Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Tiếng Anh Khoa Ngoại ngữ - Đại học Hồng Đức – Thanh Hoá
Nó dược năm tuổi mẹ nó lại sinh em bé. Như vậy nhà nó bây giờ đã có ba chị em rồi. Đứa em mới sinh là trai nên bố mẹ nó mừng vô hạn. Ban đầu nó cũng rất vui khi có em nhưng sau đó nó lại thấy ghét em và giận mẹ bởi vì mẹ nó bây giờ chỉ quan tâm đến em nó mà không còn để ý đến nó nữa. Đôi lúc nó muốn nũng nịu để được mẹ ôm trong vòng tay âu yếm thì bị mẹ nó quát và bảo ra ngoài chơi. Những khi người nó ngứa vì rôm sảy nó thèm được mẹ gãi lưng và phe phẩy quạt đưa nó vào giấc ngủ thần tiên, nhưng bây giờ thì mẹ nó bận em nó rồi. Bố nó bận đi làm suốt ngày để nuôi cả gia đình. Buổi tối sau bữa cơm là bố nó đi ngủ ngay, chả bao giờ để ý hay nói chuyện với chị em nó. Nó ước ao được như hai đứa trẻ nhà hàng xóm, được ăn mặc đẹp, được bố mẹ cưng chiều cho đi chơi vào cuối tuần, được ăn kem, đi đu bay thật là vui. Chiều nay chỉ có nó cùng mẹ và em bé ở nhà. Chị nó đã đi học nên không có ai chơi cùng nó. Nó thui thủi chơi một mình ngoài sân, trong nhà mẹ nó đang ru em ngủ. Chơi chán nó ngước nhìn lên bầu trời và thầm ước nó lại nhỏ như em và mẹ nó không sinh em để nó lại được mẹ yêu thương. Nó thấy nhớ cảm giác được mẹ ôm ấp và thơm lên má như khi còn bé. Nó bỗng ứa nước mắt vì tủi thân và giận hờn. Bỗng có một bàn tay dịu dàng xoa lên đầu nó – mẹ nó đã ủ em ngủ và đứng sau nó từ lúc nào. Thấy nó đứng khóc một mình mẹ nó chợt hiểu ra, kéo nó vào lòng, lau nước mắt và vỗ về nó. Trong vòng tay mẹ, mắt nó nhòa đi, nó khóc thổn thức. Trong lòng mẹ, cơn thổn thức của nó đã dịu đi. Nó ngước nhìn lên khuôn mặt mẹ và thấy hình như mắt mẹ nó cũng ươn ướt. Bỗng dưng nó không còn cảm thấy giận mẹ và ghét em nó nữa.
TRẦN MẠNH TRUNG “Thế giới trong ta” - Số 172 (2002)
Kỳ thi đại học vừa xong thì chú em họ đến nhà tôi, chẳng úp mở gì “đặt vấn đề” luôn: - Anh ạ! Cái Lan nhà em đi thi xong nói là không làm được bài. Năm nay là thi lần thứ ba rồi! Vợ chồng em quyết tâm phải cho cháu vào trường anh dạy. Anh “chạy” giúp vợ chồng em nhé! Hết bao nhiêu vợ chồng em cũng lo được! Tôi giải thích: - Thi đại học bây giờ, qui chế coi thi, chấm thi rất nghiêm ngặt. Sao mà “chạy” được! Tôi không làm được đâu. Mất “nghề” đấy! Chú em có vẻ thất vọng ra về. Vài hôm sau lại đến nhà tôi. Chú trách tôi: - Anh không giúp thì em nhờ người khác được rồi! Một ông, em không rõ tên, cùng trường với anh. Ông ấy yêu cầu nộp trước một nửa là 5 triệu. Nếu đỗ thì nộp nốt số còn lại. Nếu không đỗ thì trả lại tiền. Thấy tôi có vẻ không tin, chú em khẳng định: - Ở xóm em năm ngoái, ông ấy giúp cho thằng X. con ông T. vào trường. Còn con bé Y. nhà ông V. không đỗ thì ông ấy hoàn lại tiên ngay ấy mà! Thấy tôi vẫn chưa tin, nên chú em bảo tôi đến nhà cái ông kia cùng. Đến cửa nhà “cái ông kia”, tôi suýt bật cười khi thấy “cái ông kia” ra mở cửa. Ông ta chỉ là người gác cổng hợp đồng của trường tôi mà thôi, thì làm sao lo nổi “việc tày trời” kia! Rất may, ông ấy không biết tôi là ai, vì trường tôi rất đông người. Trên đường về, chú em tôi vẫn chưa tin: - Biết đâu ông ấy có “dây” làm ăn thì sao? Khi công an đến trường, họ cho biết một số phụ huynh đã kiện ông ta lừa đảo lấy tiền của họ. Thủ đoạn rất đơn giản: Ông ta chả quen ai, và cũng không có “dây” nào hết. Ông ta nhận tiền của họ và đợi xem nếu em đó làm bài tốt thì ông ta sẽ ẵm trọn 10 triệu đồng khi có kết quả thi đỗ. Nếu trượt, ông ta sẽ trả lại, và trừ đi vài trăm ngàn, nói là chi phí “chạy” nhưng không thành. Mỗi kỳ thi đại học có vài em đỗ là ông ấy có vài chục triệu dễ ợt rồi! Rất may là chú em tôi vài ngày trước khi công an “hỏi thăm” ông ta, đã kịp đến lấy lại số tiền đặt trước, nên chỉ mất có...200 ngàn thôi! Âu cũng là bài học cho những “gái tơ nhẹ dạ” như chú em tôi.
TRẦN MẠNH TRUNG “Tuổi trẻ cười” – Số 224 (9- 2002)
Nam là em họ tôi ở quê ra thành phố có việc nên ghé lại ở chơi nhà tôi một đêm. Đã lâu không gặp nhau nên hai anh em hàn huyên đủ thứ chuyện. Nói mãi rồi cũng cạn chuyện, chúng tôi chuyển sang nói chuyện về giáo dục con cái bởi vì Nam cũng có một đứa con trai 8 tuổi bằng tuổi cháu Hiếu con trai tôi. Nam khen chân thành: - Cháu Hiếu nhà anh ngoan và nề nếp quá! Đúng là có bố là thầy giáo có khác! Em để ý thấy buổi tối xem tivi một lúc là cháu ra bàn ngồi học ngay. Đến 9 giờ là thấy cháu gấp sách, làm vệ sinh cá nhân rồi đi ngủ. Em thấy rèn nề nếp cho cu Ngọc nhà em khó quá! Em luôn phải nhắc vì nó hay quên lắm. Có hôm nó nằm đọc truyện tranh nhi đồng trên giường rồi ngủ quên luôn. Hôm nào tối uống nhiều nước mà mát trời là đêm đái dầm. Anh có cách gì mà đưa cháu vào nê nếp tốt thế? - Muốn hình thành thói quen cho con, bố mẹ cần phải kiên trì và kiên quyết mới được. Phải kiên quyết nhắc nhở vài lần đầu sau khi trẻ thành thói quen thì sẽ tự giác làm, không cần cha mẹ nhắc nhở nữa. Cu Hiếu nhà mình đầu tiên cũng rất lười đánh răng và đi giải rồi mới đi ngủ. Để tránh cu cậu đái dầm, buổi tối vợ chồng anh không cho cu cậu uống các loại nước giải khát “lợi tiểu” như “cô- ca cô-la” hay “pep-si”. Ngoài ra, mùa đông ít ra mồ hôi bài tiết chủ yếu qua đường nước tiểu nên vợ chồng mình nhắc cháu uống không quá nhiều nước buổi tối. Lúc này Nam gật gù: - Anh chị vừa có hiểu biết lại vừa có kinh nghiệm dạy con thật hay! Hôm nay em sẽ học tập để áp dụng trong việc “rèn” cho cu Ngọc nhà em có nề nếp như cu Hiếu nhà anh.
TRẦN MẠNH TRUNG Báo “Gia đình và xã hội” – Số 40 (05 / 2002)