TRẦN MẠNH TRUNG
Bài đăng trên tạp chí “Giáo dục”
số 220 (kì 2- tháng 8/2009)
“Trường học thân thiện” (Child-friendly school) là mô hình trường học do UNICEF đưa ra và đã được áp dụng thành công ở nhiều nước. Ở Việt Nam giáo dục phổ thông hiện nay còn cần rất nhiều yếu tố quan trọng để tạo ra một “trường học thân thiện” có đủ những đặc điểm do UNICEF đưa ra.
1. MÔI TRƯỜNG HỌC TẬP THÂN THIỆN
Dạy và học là hai hoạt động chính trong các trường phổ thông, nhưng môi trường học tập của lớp học hiện nay thật đơn điệu và kém hấp dẫn. Trang bị trong một lớp học phổ biến hiện nay thưòng chỉ có bàn ghế học sinh (HS), bàn ghế giáo viên (GV), bục giảng, bảng đen, giá để mũ nón những câu khẩu hiệu như “Thi đua dạy tốt, học tốt”, “Tiên học lễ, hậu học văn” …. HS phải ngồi trong lớp học từ 4 đên 5 giờ/ ngày nên rất dễ sinh nhàm chán. HS cần được khuyến khích tự tạo ra môi trường học tập trong lớp theo sở thích các em, nên để HS tự trang trí bằng tranh ảnh hay các vật trang trí khác để lớp học thật gần gũi và ấm cúng như là góc họp tập ở nhà của các em để tạo thêm hứng thú học tập. Hãy để các em tự nêu ra khẩu hiệu học tập và rèn luyện cho chính mình.
Trang bị các phương tiện nghe nhìn hiện đại phục vụ cho việc dạy và học là cần thiết, vì nó hỗ trợ cho hoạt động dạy và học nhưng đó chưa phải là yếu tố quyết định giúp tạo ra một môi trường học tập thân thiện.
Kiến trúc của toàn bộ trường học cũng cần được thiết kế phù hợp với lứa tuổi và tâm sinh lý HS. Cảnh quan và môi trường trong trường cũng cần được quan tâm khi thiết kế để tạo một môi trường thân thiện và an toàn cho HS khi ra chơi và các hoạt động ngoài trời. Các cơ sở phục vụ cho học tập như thư viện, phòng thí nghiệm, căng-tin, nhà tập thể dục và chơi thể thao, các loại hình câu lạc bộ theo sở thích cũng cần được đầu tư trang bị hiện đại, đầy đủ và phù hợp để HS có thể thường xuyên đến vui chơi, học tập ngoài giờ.
Một trường học thân thiện không chỉ cần có hệ thống nhà vệ sinh hợp vệ sinh mà còn cần hệ thống các nhà tắm và phòng để đồ dùng cá nhân và nơi thay quần áo an toàn, kín đáo và tiện lợi cho HS. Khi học môn thể dục và chơi thể thao ngoài giờ HS rất cần nơi để thay trang phục và đồ dùng riêng. Sau khi chơi thể thao hay các hoạt động vận động nhiều em bị lấm bẩn và ra mồ hôi nhiều nhưng vẫn phải mặc quần áo bẩn về nhà, gây khó chịu và mất vệ sinh. Do đó, các em cần được tắm và thay quần áo sạch ngay ở trường trước khi về nhà.
2. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THÂN THIỆN
Phương pháp giảng dạy (PPDH) phổ biến ở phổ thông hiện nay vẫn theo hướng “Lấy người dạy là trung tâm” (Teacher -centered) với quan niệm GV là người truyền đạt kiến thức và HS là người tiếp thu kiến thức. Kiến thức từ sách giáo khoa được GV “độc quyền” truyền đạt cho HS, Kiến thức của các em phụ thuộc vào kiến thức của thầy và HS luôn là người lĩnh hội tri thức thụ động. PPDH này đã dẫn đến lối dạy “Thầy đọc-trò chép” và lối học “thuộc lòng những gì thầy đọc cho chép”. Đây là PPDH mang lại sự nhàm chán cho người học vì nó đã tạo nên thói quen thụ động, trông chờ và sức ỳ của HS trong tiếp thu kiến thức và sẽ ảnh hưởng nhiều đến tính năng động, sáng tạo trong cuộc sống.
PPDH theo hướng “lấy người học làm trung tâm” (Learner-centered) thực sự là PPDH “thân thiện” với người học vì GV ở chỉ là người tổ chức và trợ giúp hoạt động tiếp thu kiến thức cho HS;. GV chỉ đóng vai trò là người gợi mở và bổ sung thêm những điều HS chưa biết, chưa rõ và hiểu chưa đúng mà thôi. HS thực sự là nhân vật trung tâm trên lớp học, các em có thể lựa chọn kiến thức và phương pháp học phù hợp với mình. GV là người nêu vấn đề và cùng HS tranh luận cho tới khi HS hiểu thấu đáo vấn đề đó. HS có thể được GV giao cho các bài tập làm chung theo nhóm để các em có cơ hội cùng nhau chia sẻ và đóng góp kiến thức của cá nhân mình cho nhóm. GV cũng có thể nêu trước vấn đề và cho HS về nhà tự nghiên cứu từ sách giáo khoa và sách tham khảo khác về vấn đề đó để đến buổi học trên lớp sau đó HS thảo luận và tranh luận với nhau theo cặp và nhóm. Tranh luận sẽ giúp các em hiểu sâu hơn và nhớ nhanh hơn vì các em được tiếp thu kiến thức một cách chủ động, thoải mái. PPDH này đã tạo nên nhu cầu tự học, tự nghiên cứu bên ngoài lớp học và rèn luyện cho người học thói quen đào sâu suy nghĩ về vấn đề nào đó. Dần dần HS sẽ hình thành thói quen suy nghĩ một cách chủ động, độc lập sáng tạo và biết chia sẻ những suy nghĩ của mình với người khác.
3. PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ THÂN THIỆN
Với việc đánh giá kết quả học tập học sinh theo các mức (khá, giỏi, trung bình, yếu, kém) thông qua tổng kết nhiều loại bài kiểm tra như: bài kiểm tra 15 phút, một tiết, hai tiết, bài kiểm tra học kỳ và cuối năm hiện hành ở các trường phổ thông hiên nay đã tạo nên quá nhiều sức ép đối với người học. Đặc biệt là đối với những HS yếu, kém từ đó sẽ tạo tâm lý mặc cảm, xấu hổ với kết quả kém và có thái độ ganh ghét, đố kị với nhưngc HS có điểm kiểm tra cao hơn. Điều này đã làm xấu đi mối quan hệ giữa nhiều HS trong lớp.
Để có phương pháp kiểm tra thân thiện hơn mà vẫn đánh giá đúng học lực và khuyến khích HS tự vươn lên trong học tập, chúng ta cần phân biệt hai loại hình kiểm tra: kiểm tra đánh giá sự tiến bộ và kiểm gia đánh giá kết quả học tập. Các bài kiểm tra 15 phút, 1 tiết hay 2 tiết trong một học kỳ chỉ nên mang tính chất đánh giá sự tiến bộ của HS. Kết quả các bài kiểm tra đó là điều kiện để HS thi học kỳ và cuối năm. Điểm số và những nhận xét chi tiết, cụ thể về sự tiến bộ học sinh, những phần kiến thức còn yếu và cách thức khắc phục cần thông báo riêng tới từng HS thông qua thư riêng hay qua thư điện tử cho phụ huynh và HS biết để tránh sự mặc cảm, xấu hổ cho HS với các HS khác. Chỉ một mình HS đó biết mình nắm được cái gì, còn thiếu cái gì để có hướng phấn đấu và tự ganh đua với … chính mình để kết quả cuối năm tốt hơn. Loại hình kiểm tra thứ hai là kiểm tra đánh giá kết quả học tập được thực hiện cuối kỳ và cuối năm để đánh giá kết quả sau quá trình học tập sau một học kỳ, một năm hay cả khoá học. Kết quả cần được thông báo riêng cho HS và ghi vào học bạ HS và chỉ nên công khai khi học sinh đó tốt nghiệp, kết thúc khoá học.
Để khuyến khích học sinh tham gia tích cực các hoạt động nhóm trong và ngoài lớp học, cần có phần chấm điểm cho hoạt động nhóm của từng HS. Điểm môn học nên chiếm 70 % và điểm hoạt động nhóm nên chiếm 30 % tổng điểm tổng kết cuối kỳ của môn học đó. Điểm này nên để mỗi học sinh cho điểm các thành viên khác trong nhóm và gửi kín cho GV để tính điểm trung bình chung.
4. CÁC MỐI QUAN HỆ THÂN THIỆN
Phương pháp dạy theo hướng “Lấy người dạy là trung tâm” (Teacher-centered) hiện nay đã ảnh hưởng sâu sắc đến quan hệ thầy trò. Nhiều GV vẫn duy trì quan niệm rằng thầy là “người trên” và HS là “người dưới” nên dẫn đến sự xa cách trong quan hệ thầy trò. HS rất ít khi dám tranh luận với GV vì sợ GV phật ý; ngược lại các GV cũng ít khi dám thừa nhận mình sai hay nhầm lẫn vì sợ HS đánh giá. Do đó, họ thường có thái độ áp đặt và chủ quan với HS. Các GV hiện nay rất khó có thể trở thành người bạn tin cậy để HS có thể chia sẻ mọi vấn đề vì giữa họ và HS luôn có khoảng cách về tuổi tác và tri thức.
Việc thay đổi PPDH theo hướng “lấy người học làm trung tâm” (learner-centered) giúp GV có được mối quan hệ thân thiện với học sinh vì HS được xem là nhân vật trung tâm của quá trình giáo dục; các em được tôn trọng và được tự do bày tỏ ý kiến cá nhân; mối quan hệ thầy trò sẽ gần gũi, thoải mái hơn. GV cần học cách lắng nghe ý kiến của HS, biết chấp nhận những ý kiến “đối lập” và cũng có thể hoàn thiện kiến thức thêm nhờ tranh luận với HS. GV có thể lấy ý kiến đánh giá của HS thông qua các phiếu điều tra không ghi tên để không ngừng tự hoàn thiện mình.
PPDH theo hướng “lấy người học làm trung tâm” nhấn mạnh vào việc tự học, tự nghiên cứu của cá nhân với các hoạt động học tập theo nhóm trong và ngoài giờ học. Mối quan hệ giữa các HS không chỉ là sự kết bạn cùng sở thích riêng như hiện nay mà còn là mối quan hệ chia sẻ kiến thức trong nhóm khi thảo luận trên lớp và các hoạt động theo nhóm ngoài lớp học, khi cùng làm một bài tập sưu tầm hay nghiên cứu nhỏ ngoài lớp học. Mối quan hệ giữa HS sẽ thân thiện hơn, gắn bó hơn do các em tham gia các hoạt động không chỉ vui chơi giải trí mà còn học tập, chia sẻ công việc và tri thức cùng với nhau.
Ngoài ra, các mối quan hệ giữa HS với các nhân viên phục vụ trong trường cũng cần phải thân thiện. Họ cần phải biết cách tôn trọng HS và chất lượng phục vụ cần được thường xuyên đánh giá thông qua các phiếu điều tra định kỳ phát cho HS.
Để có một “Ngôi trường thân thiện” thực sự nếu như chỉ chú trọng đưa vào các hoạt động vui chơi, các trò chơi dân gian, tìm hiểu và chăm sóc di tích lịch sử hay các hoạt động ngoại khoá khác thì chưa đầy đủ. Vì đó mới là những hoạt động bổ trợ cho nhiệm vụ chính là học tập của các em. Vấn đề quan trọng nhất mà các em cần là môi trường học tập thân thiện, phương pháp học tập và PPDH thân thiện, các mối quan hệ thân thiện và những sự phục vụ thân thiện của nhà trường. Có như vậy, các em mới thấy thật sự thoải mái và yêu mến trường như ngôi nhà của mình. Mỗi khi xa trường một ngày các em chỉ mong chóng trở lại trường, HS sẽ gắn bó với trường học và mỗi ngày đến trường mới thực sự là một ngày vui của các em.
TRẦN MẠNH TRUNG
Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Tiếng Anh
Khoa Ngoại ngữ - Đại học Hồng Đức - Thanh Hoá
E-MAIL: tranmanhtrung@gmail.com
Bài đăng trên tạp chí “THẾ GIỚI MỚI”
số 830 (20/04/2009)
“Sốc văn hoá” là một hiện tượng tâm sinh lý mà bất cứ du học sinh nào đều phải trải qua khi lần đầu tiên đến sinh sống ở một đất nước xa lạ. Tuỳ thuộc vào sự hiểu biết, tuổi tác hay sự chuẩn bị về tâm lý của từng người mà mức độ ảnh hưởng của “sốc văn hoá” và thời gian vượt qua của mỗi người khác nhau. Người càng trẻ, khả năng thích nghi càng tốt thì ảnh hưởng sẽ ít đi; ngược lại những người lớn tuổi hơn thì khả năng thích nghi với sự thay đổi theo môi trường sống mới kém sẽ rất khó hoặc có thể không bao giờ vượt qua được cú “sốc” văn hoá.
“SỐC VĂN HOÁ” LÀ GÌ?
Theo từ điển trực tuyến Wikipedia , “Sốc văn hoá” là “một thuật ngữ được sử dụng để chỉ sự lo lắng và những cảm xúc (như ngạc nhiên, mất phương hướng, bối rối, v.v.) mà một người cảm thấy khi phải hoạt động trong một nền văn hóa hay môi trường xã hội hoàn toàn khác, ví dụ như ở nước ngoài. Nó nảy sinh từ những khó khăn trong việc hòa nhập với nền văn hoá mới, là nguyên nhân của việc khó lòng nhận thức cái gì là thích hợp và cái gì không. Tình trạng này thường đi đôi với sự căm ghét (vì lý do đạo đức hay mỹ học) đối với một số khía cạnh nhất định của nền văn hoá mới lạ hoặc khác biệt kia”.
Khái niệm này được Kalvero Oberg đưa ra lần đầu năm 1954. Một vài nhà nghiên cứu khác sau đó cũng đã nghiên cứu về "sốc văn hóa".
NHỮNG “TRIỆU CHỨNG” CỦA “SỐC VĂN HOÁ”
Theo tác giả Nguyễn Quang trong cuốn “Giao tiếp giao văn hoá” thì người bị “sốc văn hoá” thường có các biểu hiện sau đây:
- Nhớ người thân và bè bạn ở quê hương.
- Không có khả năng làm việc tốt.
- Ăn quá nhiều, uống quá nhiều hoặc ngủ quá nhiều.
- Tức giận hay không thiện cảm với những người của nền văn hoá mới.
- Luôn tự hào về nền văn hoá quê hương mình và luôn nhấn mạnh vào những mặt trái hay chê bai những điểm khác biệt của nền văn hoá nơi đang cư trú.
- Sống khép kín và tránh tiếp xúc với những người của nền văn hoá mới.
- Thiếu khả năng giải quyết hay lúng túng khi xử trí những vấn đề nảy sinh dù là nhỏ nhất nơi xứ người.
Đối với một người mới đến học tập và sinh sống ở một đất nước xa lạ, những phản ứng trên là hoàn toàn bình thường về tâm sinh lý. Vấn đề là cần phải biết cách điều chỉnh để vượt qua những ảnh hưởng của “sốc văn hoá” để thích nghi và sớm hoà nhập.
ĐIỀU CHỈNH ĐỂ SỚM THÍCH NGHI VỚI CUỘC SỐNG MỚI
Có 5 giai đoạn mà người mới đến sinh sống và học tập ở nước ngoài thường trải qua:
- Giai đoạn “Trăng mật”: Ban đầu người mới đến cảm thấy rất hạnh phúc và háo hức khi tiếp cận, khám phá và trải nghiệm một nền văn hoá mới. Quãng thời gian này thường kéo dài không lâu. Mức độ của sự hạnh phúc này có thể sẽ không bao giờ lặp lại với người đó.
- Giai đoạn “Sốc văn hoá”: Người mới đến bắt đầu cảm thấy “sốc” khi gặp những khó khăn về nhà cửa, hệ thống giao thông, việc làm, mua sắm và bất đồng ngôn ngữ.
- Những điều chỉnh đầu tiên: Những vấn đề về nhà cửa và mua sắm dần dần không còn là vấn đề khó khăn với người mới đến. Người mới đến có thể chưa thể nói trôi chảy nhưng đã có thể diễn đạt những ý kiến và tình cảm cơ bản bằng ngôn ngữ bản xứ.
- Sự biệt lập về tinh thần: Người mới đến phải sống xa gia đình và người thân nơi quê nhà một thời gian khá dài nên có thể cảm thấy cô độc. Một số người sẽ cảm thấy bực tức và mất tự tin do không thể thể hiện các ý kiến của mình bằng tiếng bản xứ như tiếng mẹ đẻ của mình hoặc do vẫn chưa tìm được việc làm hay nơi cư trú.
- Chấp nhận và hoà nhập: Những thói quen mới trong công việc, kinh doanh hay học tập được thiết lập. Người mới đến sẽ quen dần với những phong cách làm việc mới, tập quán, thức ăn và tính cách của những người bản xứ. Họ sẽ dần dần quen với những người bạn mới, cộng đồng mới và ngôn ngữ bản xứ.
Những người mới đến trải qua các giai đoạn trên theo nhiều cách khác nhau. Có người không bao giờ có giai đoạn “Trăng mật” vì hoàn cảnh đến đất nước mới này của họ là bắt buộc hay ngoài ý muốn. Ngoài ra, các yếu tố khác như tính cách cá nhân, tuổi tác, khả năng tiếp thu ngôn ngữ, hiểu biết về văn hoá nơi họ đến, sự ủng hộ của gia đình và người thân, các vấn đề về tài chính, việc làm và động lực đến sống ở nước ngoài cũng ảnh hưởng đến mức độ “sốc văn hoá” và khả năng và độ dài thời gian thích nghi để vượt qua “sốc văn hoá”.
MỘT VÀI LỜI KHUYÊN
Để sớm vượt qua “Sốc văn hoá” khi đến sống và học tập ở nước ngoài, những người mới đến cần tìm hiểu trước thật kỹ về văn hoá của đất nước mà mình sắp đến. Các tổ chức đưa học sinh du học hay tổ chức nhận nhập cư thường tổ chức các khoá học định hướng văn hoá nhằm giúp những người mới đến tìm hiểu về đất nước, con người và tập quán của người bản xứ. Dù vậy, những điều thu nhận từ các khoá học định hướng văn hoá vẫn chưa đủ, người mới đến cần tìm hiểu thêm qua những người đã từng sinh sống và học tập ở đất nước đó. Một nguồn thông tin khác là từ Internet hay sách báo khác. Càng hiểu kỹ về văn hoá nước sở tại thì mức độ và thời gian “sốc văn hoá” sẽ giảm đi rất nhiều và khả năng thích nghi sẽ nhanh hơn.
“Bất đồng ngôn ngữ” cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến “sốc văn hoá”. Do đó, chuẩn bị thật tốt về ngôn ngữ để có thể giao tiếp tốt với người bản ngữ để tránh sự hiểu lầm do diễn đạt sai hay sự bực tức do không thể diễn đạt đúng ý nghĩ của mình bằng tiếng bản xứ.
Người mới đến cần chuẩn bị về mặt tâm sinh lý để đón nhận “sốc văn hoá” nơi xứ người. Cần tự hào về nền văn hoá gốc của mình nhưng cũng phải biết cách chấp nhận và tôn trọng nền văn hoá bản xứ hay các nền văn hoá khác đang tồn tại song hành với nền văn hoá bản xứ.
Trần Mạnh Trung
Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Tiếng Anh
Khoa Ngoại Ngữ - Đại học Hồng Đức- Thanh Hóa
Bài đăng trên tạp chí “Thế giới mới”
Số 826 (23/03/2009)
Trước khi cho con đi du học, các bậc cha mẹ thường quan tâm chọn nước đến du học, các thủ tục đi du học, chi phí ăn ở, tìm trường học có chất lượng tốt ... Tuy nhiên, hầu như rất ít ai để ý tìm hiểu và chuẩn bị cho con mình phương pháp học tập phù hợp với môi trường giáo dục mới.
Những người sớm thích nghi với phương pháp học tập mới sẽ học tốt và nhanh hoà nhập với môi trường học tập ở nước ngoài. Những người không biêt tự tìm ra và biết cách chuyển đổi phương pháp học tập phù hợp thì kết quả học tập sẽ rất hạn chế hoặc thậm chí không thể tiếp thu kiến thức ở xứ người.
CÁCH HỌC Ở NHÀ
Ở Việt Nam, cho đến nay, người ta vẫn quen với đường hướng giảng dạy phổ biến là “Lấy người thầy làm trung tâm” , đó là thầy nói (hay thậm chí đọc), học trò ghi chép và về nhà học thuộc lòng. Khi kiểm tra chỉ cần nêu đủ những điều thầy đã giảng là đạt yêu cầu. Theo đường hướng này, quan niệm sách giáo khoa phổ thông đã chứa đựng toàn bộ kiến thức chuẩn và cơ bản mà học sinh cần nắm vững. Người thầy có nhiệm vụ giảng giải cho các em hiểu và nắm toàn bộ nội dung trong sách giáo khoa.
Một quan niệm còn phổ biến trong giáo dục ở các bậc học phổ thông và thậm chí ở bậc đại học hiện nay là “Người thầy là người truyền thụ kiến thức, học trò là người tiếp nhận kiến thức”. Cách dạy này làm cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động và phụ thuộc hoàn toàn kiến thức của thầy. Nhiều em sẽ trở nên lười suy nghĩ sáng tạo và chỉ học theo sách giáo khoa, chỉ trông chờ học những kiến thức sẵn có của thầy là đủ rồi.
Phương pháp giảng dạy trên chắc chắn đã có những ảnh hưởng lớn đến sự năng động, sáng tạo của học sinh trong học tập cũng như trong cuộc sống sau này. Học sinh sẽ có thói quen thụ động, trông chờ và sức ỳ của học sinh trong tiếp thu kiến thức sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến tính năng động, sáng tạo trong cuộc sống sau này của các em.
PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP MỚI
Ở những nước có nền giáo dục tiên tiến hiện nay như Anh, Úc, Mỹ, Canada, .... phương pháp giảng dạy “Lấy người học làm trung tâm” đã được áp dụng từ lâu. Người ta quan niệm rằng học trò là người chủ động lĩnh hội kiến thức thông qua nghe giảng, tranh luận với bạn học và với thầy giáo trên lớp và đặc biệt là thông qua tự học, tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của thầy giáo ngoài giờ lên lớp. Thầy giáo chỉ là người trợ giúp trò lĩnh hội tri thức một cách chủ động và sáng tạo. Kiến thức mà người học thu được là kiến thức “mở”, tức là nó bao gồm kiến thức trong sách giáo khoa và kiến thức người học thu lượm do tự học, tự nghiên cứu từ các nguồn tài liệu khác như sách báo và thông tin trên Internet. Đó không phải là kiến thức chỉ gói gọn trong sách giáo khoa.
Phương pháp giảng dạy này đòi hỏi tính tự giác rất cao của người học. Người học được yêu cầu tham gia các hoạt động theo nhóm hay theo cặp và thảo luận không chỉ theo nhóm mà còn cả với thầy dạy. Người học phải biết mình cần gì, thiếu cái gì và tự mình hoàn thiện kiến thức của mình.
Do ảnh hướng của lối học tiếp thu kiến thức thụ động nên sinh viên Việt Nam thường bị các giáo viên ở nước ngoài chê là “ngại” tranh luận khi học trên lớp. Trong khi đó tranh luận lại là cách tốt nhất để hiểu bài kỹ nhất.
THÍCH NGHI VỚI PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP MỚI
Có trí tuệ nhưng không có phương pháp học tập đúng thì kết quả sẽ không cao. Do đó, các du học sinh cần tìm hiểu và tự trang bị cho mình phương pháp học tập phù hợp với môi trường học tập nơi du học. Hãy biết thích nghi và thay đổi phương pháp học tập để đạt kết quả tốt nhất, không phụ những kỳ vọng của cha mẹ, những người đã tốn nhiều tiền cho con du học để sau này có một tương lại tốt đẹp hơn.
Thứ nhất, các tân du học sinh nên gặp những người là sinh viên giỏi đang du học hoặc đã từng du học để tìm hiểu và nhờ hướng dẫn phương pháp học. Là những người đi trước, họ sẽ giúp những người đến sau vượt qua những khó khăn, bỡ ngỡ ban đầu khi du học ở nước ngoài.
Thứ hai, các du học sinh cần loại bỏ những e ngại, tự ti để sớm hoà nhập vào môi trường học tập mới. Tham gia các hoạt động nhóm cũng như hoạt động ngoại khoá trong chương trình học tập.
Thứ ba, hãy luôn tìm kiếm sự giúp đỡ của các giáo viên. Họ luôn sẵn sàng giúp đỡ nhiệt tình các sinh viên mới đến làm quen với môi trường học tập mới.
Thứ tư, các du học sinh phải rèn luyện thói quen tự học, tự nghiên cứu với tính chủ động, tích cực và tự giác cao.
Trần Mạnh Trung
Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Tiếng Anh
Khoa Ngoại Ngữ - Đại học Hồng Đức- Thanh Hóa
Bài đăng trên tạp chí “Thế giới mới” - Số 820 (09/02/2009)
Giáo dục thể chất có vai trò rất quan trọng trong việc rèn luyện học sinh về thể lực để nâng cao và sức khoẻ với mục tiêu “Khỏe để học tập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, “Khỏe để chinh phục đỉnh cao tri thức”. Từ trước tới nay Giáo dục thể chất vẫn được xem là môn học phụ ở các trường phổ thông, nó không thuộc các môn văn hoá và không là môn thi tốt nghiệp. Sự quan tâm và đầu tư đối với Giáo dục thể chất cũng chưa đầy đủ và thiết bị phục vụ giảng dạy, tập luyện vẫn còn nhiều thiếu thốn. Hiện nay,ở hầu hết các trường học trong cả nước, học sinh học môn Thể dục ngoài sân trường hoặc sân vận động. Nếu mưa là các em phải nghỉ. Mặc dù là môn phụ như vậy đối với những học sinh có thể lực yếu hay không có năng khiếu thể dục - thể thao thì việc học môn Giáo dục thể chất lại là một “cơn ác mộng” vì các em phải rất vất vả để có thể vượt qua điểm trung bình khi phải thi lấy điểm cuối kỳ.
NHÀ TRƯỜNG RÈN LUYỆN THỂ CHẤT HỌC SINH HAY DẠY HỌC SINH BIẾT CÁCH TỰ RÈN LUYỆN THỂ CHẤT?
Về lý thuyết thì Giáo dục thể chất ở các trường phổ thông đều nhằm đạt cả hai mục đích trên. Nhưng thực tế với cách thức dạy môn Giáo dục thể chất như hiện nay chưa mục đích nào được thực hiện một cách đầy đủ.
Nếu chúng ta chọn mục tiêu rèn luyện thể chất cho học sinh thì với chương trình dạy như hiện nay thì chúng ta vẫn không thể đạt được mục tiêu này. Với thời lượng 2 tiết tuần, làm sao có thể rèn luyện và nâng cao thể chất cho học sinh? Khoa học đã chứng minh muốn rèn luyện thể chất để nâng cao sức khoẻ, phải tập luyện hàng ngày và với một thời lượng tăng dần. Chẳng hạn, mỗi tuần các em chỉ có hai tiết học môn chạy thì các sẽ không nhớ được kỹ thuật và không thể chạy tốt được vì không có thời gian tập luyện thường xuyên.
Hơn nữa, môn Thể dục phải được xem là môn học đặc biệt nên được xếp lịch vào một buổi riêng, không nên xếp lịch cùng buổi với các môn văn hoá khác. Nếu các em học thể dục 2 tiết đầu thì 3 tiết văn hoá sau các em sẽ không thể tiếp thu được vì quá mệt mỏi. Nếu các em phải học môn Thể dục vào 2 tiết cuối khi các em đã mệt và đói, hiệu quả học tập sẽ rất kém vì cơ thể các em thiếu năng lượng cho sự vận động.
Để rèn luyện thể chất cho các em thì còn cần phải có các nhà tập luyện, thi đấu phù hợp với đầy đủ các thiết bị tập luyện, phòng tắm và thay quần áo cho học sinh. Các tiết học chính khoá chỉ chủ yếu trang bị kỹ thuật cơ bản. Chương trình môn học cần đề ra thời gian tập luyện ngoài giờ học bắt buộc hàng ngày, cần phải có sự giám sát và trợ giúp của giáo viên bộ môn.
Với cách dạy mỗi tuần 2 tiết ít ỏi như hiện nay, chúng ta chỉ có thể đạt mục tiêu dạy cho học sinh biết các tự rèn luyện thể chất vì các em không có thời gian tập luyện bắt buộc hàng ngày để nâng cao thể lực. Nếu chỉ dạy các em hiểu biết và biết cách tự rèn luyên thể chất thì khi kiểm tra, cho điểm cũng nên đưa ra tiêu chí nắm được kỹ thuật là đạt yêu cầu. Có như vậy những học sinh không có năng khiếu hay kém thể lực (thường chiếm số đông) mới có thể vượt qua được các môn đòi hỏi năng khiếu và có thể lực tốt. Với chương trình và cách dạy môn Giáo dục thể chất như hiện nay, không thể nâng cao thể lực cho những học sinh yếu thể lực được vì các em cần có chế độ tập luyện và dinh dưỡng khoa học.
KIỂM TRA VÀ ĐÁNH GIÁ NHƯ THẾ NÀO?
Hiện nay, cách kiểm tra đánh giá vẫn là cho học sinh thực hành để chấm điểm theo thành tich là chủ yếu. Kết quả chấm điểm như vậy không phản ánh sức khoẻ hay thể lực của học sinh. Chưa có quy định bắt buộc các trường phải có sự kiểm tra thể lực, sức khoẻ đầu mỗi năm học và đánh giá lại thể lực, sức khoẻ sau quá trình rèn luyện vào cuối năm học. Nhiều học sinh có sức khoẻ và thể lực yếu sau nhiều năm học trong trường vẫn không thể nâng cao thể lực và sức khoẻ được, thậm chí thể lực còn kém hơn do cường độ học quá nhiều. Do đó, việc theo dõi quá trình rèn luyện sức khoẻ và thể lực cho học sinh là nhiệm vụ cơ bản của môn giáo dục thể chất.
Việc kiểm tra đánh giá và theo dõi quá trình rèn luyện còn giúp phát hiện những học sinh có năng khiếu để bỗi dưỡng và định hướng tài năng sau này cho đất nước. Vai trò của người thầy còn là một huấn luyện viên. Đối với những học sinh có thể lực yếu, cần có chế độ luyện tập phù hợp với sức khoẻ. Không thể áp dụng các bài tập chung dành cho các học sinh có thể lực tốt trong lớp, để tránh sự quá sức hay tai nạn chấn thương khi luyện tập. Đối với học sinh năng khiếu, cần có giáo án tập luyện riêng để phát triển tài năng.
KẾT LUẬN
Môn Giáo dục thể chất rất cần xác định mục tiêu vừa rèn luyện thể lực cho học sinh và vừa dạy học sinh biết cách rèn luyện thể chất, nâng cao sức khoẻ. Muốn như vậy cần có sự đầu tư cơ sở vật chất, đổi mới chương trình giảng dạy và cách thức kiếm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Mong rằng trong thời gian tới Bộ Giáo dục và Đào tạo có những đổi mới trong việc giảng dạy môn Giáo dục thể chất để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông trong xu thế hội nhập với giáo dục thế giới.
TRẦN MẠNH TRUNG
KHOA NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - THANH HOÁ
SỬ DỤNG BLOG TRONG DẠY
MÔN THỰC HÀNH DỊCH NGOẠI NGỮ
Trần Mạnh Trung
Khoa Ngoại ngữ - Đại học Hồng Đức – Thanh Hoá
(Bài đăng trên tạp chí “Giáo dục” - số 206 – Kỳ 2- 1/2009)
Ngày nay Internet đã và đang trở thành là một mạng thông tin toàn cầu có sức lan toả rộng và nó không chỉ phục vụ cho giải trí, giao tiếp, thu thập thông tin mà còn phục vụ cho học tập. Internet là phương tiện giúp người học ngoại ngữ có thể thực hành khá hiệu quả các kỹ năng giao tiếp như: nghe, nói, đọc, viết. Người học ngoại ngữ còn có thể học trực tuyến qua một số website dạy ngoại ngữ và thậm chí có thể luyện thi và thi ngoại ngữ trên mạng.
Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học trong đào tạo đại học theo học chế tín chỉ của các trường đại học theo quyết định 43 về đào tạo của bộ GD - ĐT, nhằm mục đích khai thác Internet phục vụ cho việc giảng dạy, chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm việc sử dụng blog để dạy thực hành dịch cho sinh viên năm thứ 3 (Khoa Ngoại ngữ- Bộ môn Tiếng Anh - trường Đại học Hồng Đức trong học kỳ 2 năm học 2007 -2008.
Việc thực nghiệm sử dụng blog cho trong giảng dạy môn Thực hành dịch nhằm: - Tạo nhu cầu thực sự cho sinh viên sử dụng Internet vào mục đích học tập;- Giúp sinh viên tiếp cận phương pháp học tập mới: chủ động tự học ngoài giờ trên lớp, làm bài tập cá nhân và làm bài tập theo nhóm hằng tuần, đánh giá việc tham gia hoạt động nhóm của mỗi thành viên qua việc cho điểm kín; - Nâng cao hiệu quả của việc sử dụng hoạt động nhóm trong giảng dạy bằng biện pháp yêu cầu sinh viên đánh giá (chấm điểm kín) việc tham gia hoạt động nhóm của từng thành viên nhóm; - Nâng cao chất lượng học môn Thực hành dịch cho sinh viên thông qua 3 giai đoạn: tự nghiên cứu trước khi đến lớp; tranh luận trong nhóm trên lớp và nhận xét bài dịch nhóm khác ngoài giờ lên lớp; - Tạo thêm hứng thú cho sinh viên với cách học qua blog.
Qua thực nghiệm dạy Thực hành dịch dùng blog cho lớp ĐHSP Tiếng Anh K5A và K5B (Khoa Ngoại ngữ, Đại học Hồng Đức cho thấy vẫn còn nhiều vấn đề cần khắc phục, nhưng cũng đã đạt kết quả bước đầu và việc thực nghiệm thu được những thành công nhất định.
1. CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ DẠY THỰC HÀNH DỊCH TRÊN BLOG.
Blog (weblog) là một dạng nhật ký cá nhân mà bất kỳ ai cũng có thể sử dụng nếu người đó có hiểu biết về công nghệ thông tin hoặc được hướng dẫn. Blog cho phép sự giao tiếp giữa người viết blog (blogger) và những người đọc dễ dàng và thuận tiện. Blogger có thể gửi (post) bài viết (entry) của mình bất kỳ lúc nào và người đọc có thể gửi nhận xét (comment) ngay sau khi đọc một bài viết. Tất cả những độc giả khác đều có thể đọc bài viết, các bài nhận xét của người khác và viết nhận xét của mình.
Tận dụng các tính năng của blog vào dạy môn thực hành dịch mang đã lại nhiều kết quả tích cực. Bài dịch của các nhóm sinh viên sẽ được gửi lên trang blog và được rất nhiều sinh viên khác và giáo viên nhận xét; thậm chí bất kỳ một cá nhân nào đó tình cờ vào đọc blog cũng có thể nhận xét. Nếu học Thực hành dịch trên lớp một bản dịch viết tay của từng nhóm khó có thể tất cả sinh viên cùng nhận xét vì hạn chế về thời gian và sau khi được nhận xét, việc sửa chữa cũng đòi hỏi nhiều thời gian hơn.
Các điều kiện để thực hiện gồm có: - Sinh viên cần có kiến thức về mạng Internet và blog, mỗi sinh viên phải có địa chỉ thư điện tử để đăng ký một blog cá nhân và dùng tài khoản đó để đăng nhập vào blog dạy môn Thực hành dịch của giáo viên lập ra để nhận xét; - Cần có phòng lab học ngoại ngữ có máy tính nối mạng Internet để sinh viên có thể sử dụng trong và ngoài giờ trên lớp; - Giáo viên có hiểu biết về Internet, blog và phải biết tạo ra một blog dành riêng cho giảng dạy môn Thực hành dịch; - Giáo viên phải dành nhiều thời gian làm việc ngoài giờ lên lớp để vào mạng gửi bài của các nhóm lên blog, nhận thư điện tử của sinh viên, nhận xét bài dịch của các nhóm.
2. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH VÀ ĐÁNH GIÁ.
a) Các bước tiến hành: 1) Hằng tuần, giáo viên đưa đề dịch mới lên blog trước giờ học trên lớp 2 hoặc 3 ngày. Sinh viên lên blog để đọc và tự chuẩn bị hoặc copy lại đề dịch để về nhà tự nghiên cứu và chuẩn bị trước; 2) Đến giờ học trên lớp, sinh viên làm việc theo từng nhóm, mỗi nhóm phải đưa ra bản dịch của nhóm trên cơ sở ý kiến đóng góp của từng thành viên và gửi cho giáo viên qua e-mail hoặc qua USB; 3) Giáo viên đọc và chấm điểm trước khi đưa toàn bộ các bản dịch của các nhóm lên blog; 4) Mỗi sinh viên sẽ chọn bản dịch một nhóm bất kỳ trên blog để nhận xét về các mặt: việc sử dụng cấu trúc câu, khả năng diễn đạt, dùng từ, … của bản dịch; 5) Các nhóm tiếp thu ý kiến nhận xét và sửa chữa bản dịch nếu thấy cần thiết, có thể có ý kiến tranh luận phản hồi về nhận xét của người khác (nếu cần) và gửi bản dịch đã sửa cho giáo viên. Giáo viên nhận xét bản dịch đã sửa chữa của từng nhóm và gửi lên blog cùng với đáp án gợi ý cho các nhóm kiểm tra; 6) Mỗi sinh viên phải chấm điểm đánh giá việc tham gia hoạt động nhóm của các thành viên trong nhóm theo ba tiêu chí: Tốt (3 điểm), Khá (2 điểm) và Trung bình (1 điểm) và Kém (Không tham gia: 0 điểm) và gửi cho giáo viên (không tiết lộ với bất kỳ ai).
b) Đánh giá và cho điểm: Mỗi tuần, giáo viên sẽ giao 1 bài dịch cho các nhóm và sẽ chấm lấy một đầu điểm cho từng cá nhân. Điểm cá nhân sẽ được tính như sau: điểm bài của nhóm chiếm 40% (Tối đa : 4 điểm) + điểm cá nhân nhận xét trên blog chiếm 30% (tối đa: 3 điểm) + điểm ý thức tham gia hoạt động nhóm chiếm 30 % (tối đa: 3 điểm).
3. ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC SỬ DỤNG BLOG
a) Ưu điểm. Ý kiến phản hồi của sinh viên qua “Phiếu điều tra” khi học phần Thực hành dịch kết thúc cho thấy 100% sinh viên cho rằng hình thức này gây hứng thú cho sinh viên, vì đây là phương pháp học mới và thân thiện đối với sinh viên; Sinh viên được chủ động thời gian tự học (có thể vào mạng chuẩn bị bài dịch cá nhân và nhận xét nhóm khác vào bất kỳ lúc nào), giờ học trên lớp chủ yếu dành cho thảo luận nhóm, không có sự can thiệp của giáo viên. Hơn nữa, sinh viên sẽ không bị sức ép phải hoàn thành bài dịch để chữa cuối buổi học như các giờ thực hành dịch thông trường trên lớp. Sinh viên dành thời gian học môn này ngoài giờ lên lớp trung bình 4 gìơ /tuần (2 giờ cho chuẩn bị bài dịch trước khi đến lớp và 2 giờ cho phần nhận xét bài của nhóm khác). Tạo được nhu cầu tự học và tính tự giác cho sinh viên (mỗi sinh viên phải tự lên blog để đọc đề dịch mới và chuẩn bị để hôm sau đến lớp tranh luận với nhóm). Việc tham gia hoạt động nhóm cũng mang tính tự giác vì nó sẽ được thành viên khác chấm điểm, cũng như sinh viên phải tự giác lên blog để nhận xét bài dịch của môt trong các nhóm để lấy điểm (giáo viên chấm). Cách học này giúp sinh viên hiểu kĩ và nhớ nội dung bài dịch tốt hơn (những cấu trúc câu, cách diễn đạt, cách dùng từ) do đã nghiên cứu kỹ trước ở nhà, tranh luận trong nhóm và nhận xét bài nhóm khác. Sinh viên tham gia hoạt động nhóm một cách chủ động, tích cực và biết cách chia sẻ ý kiến với người khác.
a) Ưu điểm. Việc gửi bài nhận xét đôi khi gặp khó khăn do lỗi đường truyền Internet nên phải gửi nhiều lần. Hệ thống phòng Lab của nhà trường chưa đáp ứng nhu cầu của sinh viên. Sinh viên chưa có thói quen tự học ngoài giờ lên lớp và tham gia hoạt động nhóm trong lớp học, vì vậy, nhiều em còn tham gia chiếu lệ gây sự bất bình của các sinh viên tích cực trong nhóm.
4. MỘT SỐ GÓP Ý ĐỐI VỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC SỬ DỤNG BLOG
Blog có thể áp dụng trong giảng dạy một số môn học cần sự tương tác giữa những người học và hoạt động nhóm trong và ngoài lớp ở tất cả các cấp học. Ở những khu vực đã có Internet thì có thể khai thác blog phục vụ cho giảng dạy rất dễ dàng. Trong dạy ngoại ngữ, ngoài dạy Thực hành dịch thì dạy Thực hành viết cũng có thể sử dụng blog với những bước thực hiện tương tự.
Phần dạy Thực hành làm văn của môn Văn ở phổ thông có thể áp dụng blog để giảng dạy. Giáo viên có thể ra đề làm văn trước cho học sinh tự viết ở nhà. Mỗi học sinh tự tạo một blog để đưa bài văn của mình lên cho những học sinh khác nhận xét. Giáo viên là người cuối cùng nhận xét bài văn và đưa ra ý kiến về các nhận xét của các học sinh khác trong lớp. Qua đó, học sinh sẽ học được rất nhiều thông qua việc nhận xét bài người khác và tiếp thu ý kiến nhận xét không chỉ của thầy cô dạy văn mà cả của các bạn trong lớp nữa. Hơn nữa, việc dạy làm Văn dùng blog tạo nên mối quan hệ tương tác giữa học sinh với giáo viên và giữa các học sinh với nhau. Lâu nay, trong giáo dục phổ thông, việc đánh giá chỉ “độc quyền” của thầy cô giáo giảng dạy nên đánh giá đó có thể chưa chính xác và đầy đủ vì đó là ý kiến chủ quan của một người. Học sinh rất cần có sự đánh giá từ nhiều đối tượng và nhiều góc độ khác nhau để hiểu sâu hơn về cái đúng, cái sai trong bài viết của mình. Việc tranh luận với thầy cô và bạn bè về bài viết của mình sẽ giúp học sinh rút kinh nghiệm để khả năng học và viết văn tốt dần.
Phương pháp dạy học Thực hành dịch dùng blog đã thu được được những thành công bước đầu và đạt được mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học cũng như cải tiến cách đánh giá cho điểm sinh viên. Phương pháp dạy học này rất phù hợp với các học phần Thực hành dịch, phát triển kỹ năng viết và một số môn học (không chỉ ở bậc đại học mà cả ở bậc phổ thông) cần có sự tương tác giữa người học với người dạy và giữa người học với nhau theo xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.
Sử dụng blog trong giảng dạy và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên có ý nghĩa tích cực trong việc đổi mới phương pháp dạy học; nâng cao chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh theo hướng “lấy người học làm trung tâm”. Đặc biệt, phương pháp dạy học sử dụng blog rất phù hợp với xu hướng sử dụng đa phương tiện (Multimedia) trong giảng dạy và đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo phương thức học chế tín chỉ ở bậc đại học trong những năm tới.
NGUYÊN TẮC “TƯƠNG TÁC ĐA CHIỀU, ĐA ĐỐI TƯỢNG “
TRONG GIẢNG DẠY MÔN TẬP LÀM VĂN Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG
NGUYÊN TẮC “TƯƠNG TÁC ĐA CHIỀU, ĐA ĐỐI TƯỢNG” LÀ GÌ?
Trong phương pháp giảng dạy ở các trường phổ thông hiện nay hình thức tác động từ người dạy đến người học được sử dụng phổ biến. Nhưng đây lại là tác động một chiều “thầy → trò”: người thầy có quyền đánh giá, cho điểm học trò và học trò ít khi hay nói cách khác là không dám có ý kiến phản hồi hay tranh luận với thầy dù đó có thể là sự đánh giá chủ quan, không chính xác, thoả đáng của thầy.
Trong xu hướng đổi mới phương pháp giảng dạy hiện nay theo đường hướng “Lấy người học làm trung tâm” thì nguyên tắc “Tương tác đa chiều, đa đối tượng” tỏ rõ tính ưu việt của nó. “Tương tác đa chiều, đa đối tượng” là sự tác động qua lại không chỉ một chiều giữa thầy với trò (“thầy → trò”) mà còn có sự tác động trở lại của trò với thầy (“trò → thầy”) và giữa nhiều học trò với nhau (“trò ↔ trò”) trong quá trình giáo dục nói chung và trong giảng dạy một môn học cụ thể nói riêng.
ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC “TƯƠNG TÁC ĐA CHIỀU, ĐA ĐỐI TƯỢNG” TRONG DẠY TẬP LÀM VĂN.
Môn Tập Làm Văn là môn học rất cần có sự tương tác đa chiều giữa nhiều đối tượng với nhau. Một bài tập làm văn của học sinh cần có sự nhận xét, gợi ý của thầy và của nhiều học sinh khác để người viết có thể sửa chữa, hoàn thiện bài văn của mình tốt hơn. Người học không chỉ học từ thầy mà còn cần học từ bạn. Mặc dù ông cha ta có câu “Không thầy đố mày làm nên” nhưng lại vẫn khẳng định “Học thầy không tầy học bạn”. Điều đó cho thấy việc “học bạn” cũng rất quan trọng trong học tập của học sinh.
Để áp dụng nguyên tắc này cần có các bước sau:
1. Thầy, cô cần tự mình đưa ra những tiêu chí đánh giá, thang điểm thật cụ thể cho một bài văn. Chẳng hạn, xin gợi ý các tiêu chí sau:
- Nội dung:
+ Các ý cơ bản cần có
+ Các ý của người viết
- Ngữ pháp:
+ Viết đúng câu, đúng chính tả
+ Dùng từ đúng, phong phú
- Diễn đạt:
+ Logic (sắp xếp ý hợp lý)
+ Dùng các từ chuyển tiếp hợp lý
+ Luận điểm rõ ràng
2. Thầy, cô sau khi hướng dẫn phần phương pháp viết một thể loại văn cần lựa chọn một số đề thực hành.
3. Giao một đề văn (kèm theo một số gợi ý) cho học sinh về nhà tự viết hoặc viết trên lớp.
4. Học sinh nộp bài viết cho giáo viên.
5. Giáo viên đọc kỹ từng bài văn, nhận xét chi tiết và chấm điểm (theo tiêu chí đã công bố cho học sinh) vào một tờ giấy riêng và cất đi.
6. Giáo viên mang bài đến lớp và để lên bàn yêu cầu học sinh tự chọn lấy một bài của học sinh khác để đọc và nhận xét theo các tiêu chí cho trước. Mỗi học sinh cần đọc và nhận xét từ 5 bài trở lên.
7. Giáo viên mang bài về nhà đọc lại các bài và nhận xét của các học sinh khác và đưa ra ý kiến của mình về những nhận xét của các học sinh khác.
8. Mang bài và nhận xét kèm theo tới lớp trả lại cho học sinh và yêu cầu học sinh viết lại và sửa chữa theo những nhận xét và góp ý và nộp lại để nhận xét và chấm lại.
9. Giáo viên chấm điểm lại bài văn và trả lại cho học sinh kèm theo điểm và nhận xét trước khi được góp ý và sửa chữa ở bước 5.
10. Học sinh đọc lại 2 bài viết (trước khi góp ý và sau khi góp sửa chữa) và đọc nhận xét và so sánh điểm và nhận xét của giáo viên trước và sau khi sửa lại và đưa ý kiến phản hồi nếu có.
Phương pháp dạy này đòi hỏi giáo viên mất nhiều thời gian hơn vì phải đọc và nhận xét mỗi bài viết của mỗi học sinh hai lần. Học sinh cũng phải mất nhiều công sức và thời gian để viết hai lần cho một đề bài và phải đọc và nhận xét bài của các học sinh khác. Nhưng lợi ích của cách dạy này là giúp học sinh rèn giũa kỹ năng viết và sẽ dần viết tốt lên do biết cách rút kinh nghiệm và sửa chữa lỗi nhờ những nhận xét và góp ý của cả thầy và trò trong lớp.
Ở NHỮNG NƠI CÓ INTERNET
Ở các thành phố lớn, nơi Internet phổ biến rộng rãi thì có thể sử dụng Blog, một dạng nhật ký các nhân trực tuyến để dạy môn Tập Làm Văn theo nguyên tắc “Tương tác đa chiều, đa đối tượng” theo các bước sau:
1. Giáo viên lập 1 blog trên mạng.
2. Hằng tuần giáo đưa ra 1 đề tập làm văn kèm theo những gợi ý cần thiết trên blog.
3. Học sinh chép lại đề về nhà đánh máy bài viết (hoặc đánh máy ngay tại quán net) và gửi bài cho giáo viên bằng e-mail.
4. Giáo viên đưa bài tất cả học sinh lên blog cho các học sinh khác vào nhận xét.
5. Học sinh đọc kỹ nhận xét, góp ý và sửa lại bài văn sau đó gửi lại cho giáo viên.
6. Giáo viên nhận xét cho điểm chính thức và đưa lại bài văn lên blog.
7. Học sinh có ý kiến phản hồi về các nhậ xét của giáo viên.
Việc sử dụng blog trong giảng dạy Văn là một hướng đi mới trong việc khai thác Internet trong học tập và giảng dạy hiện nay.
- Tạo nhu cầu thực sự cho sinh viên sử dụng Internet vào mục đích học tập.
- Giúp sinh viên tiếp cận phương pháp học tập mới: chủ động tự học ngoài giờ trên lớp, làm bài tập cá nhân.
- Tạo thêm hứng thú cho sinh viên với cách học qua blog, một dạng nhật ký cá nhân đang rất thịnh hành trong giới trẻ hiện nay.
KẾT LUẬN
Trên đây là những những gợi ý giúp các thầy cô giáo dạy Văn ở phổ thông áp dụng nguyên tắc “Tương tác đa chiều, đa đối tượng” trong dạy tập làm văn. Nguyên tắc này có thể áp dụng với nhiều môn khác và có thể có những thay đổi, bổ sung cho thật phù hợp tuỳ thuộc vào từng cá nhân.
Việc áp dụng nguyên tắc này là bước tiếp cận đầu tiên trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy hiện nay ở phổ thông. Áp dụng nguyên tắc này mang lại nhiều lợi ích cho người học trong việc rèn luyện kỹ năng viết, một kỹ năng quan trong trong môn Văn học.
(Bài đã đăng trên tạp chí "THẾ GIỚI MỚI" - SỐ 812 (01/12/2008)và trên website: http://www.giaovien.net =============================================================================================================
Trần Mạnh Trung
Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Tiếng Anh
Khoa Ngoại ngữ - Đại học Hồng Đức – Thanh Hoá
Đăng trên báo “TIN TỨC thông tấn xã Việt nam”
số 38 (2776)- Thứ Hai 19/5/2008
Hôm nay (19/05), Bộ GD-ĐT tổ chức Hội nghị về rà soát SGK, công bố kết quả hơn một tháng rà soát đánh giá chương trình, sách giáo khoa (SGK) phổ thông trên toàn quốc (từ 4/3 đến 15/4/2008). Đợt đánh giá này đã bộc lộ sự thiếu chi tiết, cụ thể trong nội dung đánh giá và vẫn còn những đối tượng cần tham gia đánh giá bị bỏ sót.
THỜI GIAN GẤP RÚT, ĐỐI TƯỢNG CHƯA ĐỦ
Trong vòng hơn một tháng để đánh giá rất nhiều bộ sách SGK, tài liệu tham khảo và chương trình giảng dạy là một nhiệm vụ nặng nề đối đối với tất cả giáo viên phổ thông. Trong công văn nêu: “Nội dung ý kiến đánh giá CT-SGK khi đưa vào văn bản cần ghi rõ: ưu điểm; hạn chế và đề xuất để hoàn thiện CT, chỉnh lý SGK như đã hướng dẫn tại Phụ lục nói trên. Ý kiến đánh giá CT-SGK cần diễn đạt rõ: Phần nào cần bổ sung, lý do? Phần nào cần điều chỉnh (nội dung, hình thức trình bày), lý do? Phần nào cần cắt bỏ, lý do? Phần nào không cần thay đổi nhưng cần quy định điều kiện tổ chức thực hiện cho có hiệu quả (chia nhỏ lớp, bổ sung thiết bị dạy học, vẫn để trong CT-SGK nhưng tạm thời chưa đưa vào kế hoạch giáo dục), lý do?
Mặc dù công văn trên còn kèm theo “Hướng dẫn Sở GD-ĐT tổ chức đánh giá chương trình và sách giáo khoa” nhưng nội dung đánh giá mà Bộ nêu ra vẫn thiếu tính chi tiết, cụ thể. Việc đánh giá một cuốn sách giáo khoa là một công việc đòi hỏi tính khoa học, cần có những quy chuẩn rõ ràng và nội dung chi tiết, cụ thể chứ không thể là những nhận xét cảm tính theo những câu hỏi chung chung hay những tiêu chí chung chung như trong nội dung hướng dẫn đánh giá. Việc đánh giá này thường có cả tính chủ quan (do người biên soạn và người sử dụng để giảng dạy nhận xét) và tính khách quan (từ phía người học và những đối tượng sử dụng khác). Việc đánh giá này cũng cần phải đi từ khái quát (đánh giá tổng thể) đến cụ thể (đánh giá chi tiết) và mang tính chính xác cao. Liệu có quá nóng vội khi trong một thời gian ngắn Bộ yêu cầu phải làm một việc cần phải có một quá trình chuẩn bị chu đáo và khoa học? Liệu kết quả có đủ độ tin cậy khi Bộ chỉ yêu cầu giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh, nhân viên phụ trách thí nghiệm, thực hành và một số đối tượng thuộc các tổ chức khác tham gia đánh giá chương trình và SGK nhưng lại bỏ sót một đối tượng liên quan khác, đó là những người người trực tiếp tham gia đào tạo giáo viên các cấp phổ thông ở các cơ sở đào tạo giáo viên trong cả nước?
Những người tham gia đào tạo giáo viên dạy các cấp phổ thông ở các khoa sư phạm của các cơ sở đào tạo trong cả nước là những người nghiên cứu kỹ lưỡng SGK phổ thông và nắm vững phương pháp giảng dạy các môn học ở phổ thông để dạy cho các giáo sinh . Vậy nhưng, ngay tại ĐH Hồng Đức nơi tôi làm việc, không nhận được yêu cầu này. Tôi là giảng viên tham gia đào tạo giáo viên tiếng Anh phổ thông nhưng không hề nhận được yêu cầu đanhs giá SGK.
Hơn nữa, để mang tính khách quan hơn thì bộ cũng cần thuê các chuyên gia biên soạn SGK nước ngoài cùng tham gia đánh giá.
TIÊU CHÍ CHUNG CHUNG DO “THIẾT KẾ CÂU HỎI” CHƯA TỐT
Trong phần “Hướng dẫn Sở GD-ĐT tổ chức đánh giá chương trình và sách giáo khoa”, Bộ GD-ĐT chỉ nêu ra những tiêu chí và nội dung khái quát, chung chung để đánh giá chương trình và SGK. Ví dụ, việc đánh giá chương trình chỉ yêu cầu tập trung vào “tính hiện đại, cập nhật , sát nội dung”; “sự phù hợp”, “sự cân bằng giữa lý thuyết và thực hành”, …. Việc đánh giá SGK thì yêu cầu đánh giá “tính sư phạm và khoa học” với các tiêu chí “tính hiện đại, cập nhật của kiến thức”, “tính chính xác”, “tính hệ thống” … Hình thức trình bày thì yêu cầu đánh giá “sự hợp lý của cấu trúc sách”, “sự thống nhất”, “sự trong sáng, rõ ràng của ngôn ngữ” …
Cho dù có rất nhiều tiêu chí, song hầu như toàn là định tính chứ không định lượng. Trong khi đó, để có thể đánh giá đầy đủ, chính xác và sâu sát, rất cần phải có những nội dung đánh giá cụ thể cho từng môn, từng phần và từng bài.
. Những nội dung đánh giá chi tiết đó phải do chính người biên soạn SGK hay Hội đồng biên soạn SGK đưa ra. Mặc dù đây là đợt đánh giá sách ở quá trình đưa vào giảng dạy trong thực tế, nhưng để chặt chẽ hơn nên có sự tham gia của các thầy làm công tác biên soạn. Có thể các thầy không đánh giá sách, mà tham gia ở mức độ đề ra những tiêu chí cho việc đánh giá. Có như vậy mới sát vào nội dung từng bài, và công việc sửa chữa, chỉnh lý (nếu có) về sau được thuận tiện. Theo thông tin chúng tôi nắm được, thì lượng hồ sơ đánh giá SGK và chương trình gửi về các vụ chức năng của bộ rất nhiều. Có những bản “tập hợp ý kiến tập thể”, song cũng có cả các bản ý kiến đầy đặn của từng cá nhân. Trong các ý kiến đó, có ý kiến thoả đáng song cũng có những ý kiến do chính người đánh chưa thể hiểu được mục đich yêu cầu nội dung bài giảng khiến các chuyên viên của Bộ lại phải “lọc” ra, rất mất thời gian. Điều này chính là “hậu quả” của việc xây dựng hệ thống các tiêu chí yêu cầu đánh giá chưa thật sự khoa học và sâu sát.
Thêm vào đó, theo chúng tôi, cũng cần phải có mẫu phiếu điều tra, phiếu đánh giá thống thống nhất trong cả nước để việc xử lý kết quả đánh giá mang tính tập trung và mang tính khoa học hơn. Đặc biệt là đối tượng học sinh phổ thông và phụ huynh học sinh. Đối với các em và cha mẹ các em việc đánh giá sẽ rất cảm tính khi các em có thể thích môn này, không thích môn kia hay thích phần này hay không thích phần khác thì sẽ dẫn đến đánh giá thiên lệch hoặc thiếu tính khách quan.
TRẦN MẠNH TRUNG
THẠC SĨ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG ANH
KHOA NGOẠI NGỮ- ĐH HỒNG ĐỨC - THANH HOÁ
(Đăng trên tạp chí "Dạy và Học ngày nay" - số tháng 04 năm 2008)
Giáo dục Việt Nam cần phải đổi mới để sớm hội nhập với giáo dục của khu vực và thế giới. Vấn đề cần đổi mới đầu tiên để hội nhập và phát triển đó là đổi mới về phương pháp giảng dạy ở tất các các hệ và cấp học, từ giáo dục mầm non tới giáo dục đại học. Giáo dục đại học đang phải tiên phong thay đổi phương pháp giảng dạy khi chuyển từ hình thức đào tạo niên chế sang đào tạo đào tạo theo tín chỉ nhưng giáo dục phổ thông dường như vẫn chưa có sự thay đổi mạnh mẽ về phương pháp giảng dạy. Phương pháp dạy cũ theo đường hướng “Lấy người dạy làm trung tâm” (Teacher-centered) vẫn đang được sử dụng khá phổ biến ở các cấp học phổ thông ở nước ta trong khi đó phương pháp giảng dạy tích cực theo đường hướng “Lấy người học làm trung tâm” (Learner-centered) từ lâu đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới. Đổi mới phương pháp giảng dạy theo đường hướng “Lấy người học làm trung tâm” đã được đề cập đến khá nhiều ở nước ta trong những năm gần đây nhưng việc chuyển đổi phương pháp giảng dạy theo đường hướng này vẫn chưa được thực hiện triệt để vì gặp rất nhiều “lực cản” từ cả người dạy lẫn người học.
TẠI SAO CẦN PHẢI THAY ĐỔI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC?
Đối với nhiều giáo viên ở các cấp phổ thông hai khái niệm “Lấy người dạy làm trung tâm” và “Lấy người học làm trung tâm” vẫn còn khá mới mẻ. Lối dạy theo đường hướng “Lấy người dạy làm trung tâm” với quan niệm người thầy là người truyền đạt kiến thức và học trò là người tiếp thu kiến thức. Kiến thức từ sách giáo khoa được người thầy “độc quyền” truyền đạt cho học trò. Nếu thầy giảng giải tốt học trò hiểu được thì học trò sẽ tiếp thu kiến thức tốt. Còn nếu thầy giảng giải không tốt thì trò sẽ không hiểu và không tiếp thu được. Kiến thức của trò phụ thuộc vào kiến thức của thầy và học trò luôn là người lĩnh hội tri thức thụ động. Phương pháp giảng dạy này đã dẫn đến lối dạy “Thầy đọc-trò chép” và lối học “thuộc lòng những gì thầy đọc cho chép”. Một thực tế là không phải học trò nào cũng có khả năng học thuộc lòng và có trí nhớ máy móc tốt nên khi kiểm tra hay thi chỉ còn cách là giở vở hay mang “phao” vào lớp. Vô hình trung lối dạy trên đã làm cho nhiều học sinh buộc phải vi phạm quy chế thi vì không thể nhớ được gì trong đầu khi vào phòng thi. Phương pháp giảng dạy trên chắc chắn đã tạo nên thói quen thụ động, trông chờ và sức ỳ của học sinh trong tiếp thu kiến thức và sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến tính năng động, sáng tạo trong cuộc sống sau này của các em. Hơn nữa, phương pháp giảng dạy trên đã làm cho người thầy tốn rất nhiều sức lực do phải “độc thoại” cả tiết học trên lớp. Không chỉ phải nói nhiều mà còn phải nói to để tất cả học sinh nghe rõ. Phương pháp giảng dạy theo đường hướng “Lấy người học làm trung tâm” với quan niệm người thầy ở chỉ là người tổ chức và trợ giúp hoạt động tiếp thu kiến thức cho học trò. Người thầy chỉ đóng vai trò là người gợi mở và bổ sung thêm những điều các em chưa biết, chưa rõ và hiểu chưa đúng mà thôi. Học trò thực sự là nhân vật trung tâm trên lớp học. Họ có thể lựa chọn kiến thức và phương pháp học phù hợp với mình. Người thầy là người nêu vấn đề và cùng học trò tranh luận cho tới khi học trò hiểu thấu đáo vấn đề đó. Người thầy cũng có thể nêu trước vấn đề và cho học trò về nhà tự nghiên cứu từ sách giáo khoa và sách tham khảo khác về vấn đề đó để đến buổi học trên lớp sau đó học trò thảo luận và tranh luận với nhau. Việc tranh luận đó sẽ giúp các em hiểu sâu hơn và nhớ nhanh hơn vì các em được tiếp thu kiến thức một cách chủ động, thoải mái. Phương pháp giảng dạy này đã tạo nên nhu cầu tự học tự nghiên cứu bên ngoài lớp học và rèn luyện cho người học thói quen đào sâu suy nghĩ về một vấn đề nào đó. Dần dần học trò sẽ hình thành thói quen suy nghĩ một cách chủ động, độc lập sáng tạo và biết chia sẻ những suy nghĩ của mình với người khác.
TẠI SAO CẦN PHẢI CÓ MỘT “CUỘC CÁCH MẠNG” VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC?
Khi đã nhận thức được những hạn chế của phương pháp cũ và những ưu việt của phương pháp mới thì tưởng như việc thay đổi sẽ thật dễ dàng và nhanh chóng. Nhưng việc thay đổi phương pháp giảng dạy là một việc khó hơn chúng ta tưởng vì gặp phải rất nhiều “lực cản” từ phía người dạy và người học. Bao nhiêu thế hệ giáo viên vẫn theo cách thuộc lòng giáo án khi lên lớp, và cách dạy cũ đã ăn sâu vào tâm thức của thầy làm sao một sớm một chiều thay đổi được. Nhiều giáo viên trẻ muốn áp dụng phương pháp giảng dạy cũng vấp phải những “lực cản” không chỉ từ đồng nghiệp và các nhà lãnh đạo giáo dục do chưa hiểu hoặc hiểu nhưng ngại sự thay đổi mà còn chính từ đối tượng giáo dục là học sinh. Học sinh đã nhiều năm quen với lối học thụ động và tiếp thu kiến thức thụ động nên rất ngại tranh luận trên lớp và chưa quen với tự học, tự nghiên cứu ngoài lớp học. Việc thay đổi này cần phải triệt để, toàn diện, kiên quyết và lâu dài như một cuộc cách mạng thực sự. Thay đổi phương pháp giảng dạy của người thầy còn kéo theo nhiều sự thay đổi khác. Thứ nhất là chương trình đào tạo và hệ thống SGK cần phải được viết lại cho phù hợp. Kiến thức trong sách giáo khoa chỉ là kiến thức cơ bản và kiến thức học sinh thu lượm được phải bao gồm kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa và kiến thức từ các nguồn khác như ngoài thực tế cuộc sống và từ các nguồn tài liệu khác do các em tự tìm hiểu và nghiên cứu. Thứ hai là cần phải thay đổi quan niệm và tiêu chí đánh giá bài giảng của người thầy. Theo phương pháp cũ theo đường hướng “Lấy người thầy làm trung tâm” một giờ giảng thường được đánh giá cao là thầy cô đó giảng hay, truyền cảm, truyền đạt được tất cả nội dung kiến thức theo quy định trong sách giáo khoa, học sinh sôi nổi phát biểu xây dựng bài, thầy cô đánh giá mức độ hiểu bài qua một số em phát biểu hay thậm chỉ hỏi cả lớp “Các em đã hiểu bài chưa?”. Đánh giá giờ giảng như vậy chủ yếu là đánh giá người thầy. Theo phương pháp “Lấy người học làm trung tâm” thì việc đánh giá giờ dạy lại căn cứ vào kiến thức mà người học lĩnh hội được sự tự nghiên cứu, tìm hiểu của người học ở bên ngoài lớp và thể hiện qua việc trình bày và tranh luận với bạn và cả với thầy trên lớp. Thứ ba là cần thay đổi cách thức kiểm tra đánh giá kiến thức của học sinh. Kiến thức mà người học tiếp thu được không chỉ gói gọn trong trong sách giáo khoa và còn từ nhiều nguồn khác nhau. Người nào càng tự học, tự nghiên cứu nhiều thì sẽ thu lượm được nhiều kiến thức hơn người khác. Việc kiểm tra đánh giá cũng cần phải khuyến khích người học đọc thêm để làm giàu kiến thức và đào sâu suy nghĩ để nâng cao kiến thức của mình. Thứ tư là cần trang bị đầy đủ và phù hợp các phương tiện, thiết bị hiện đại và cơ sở vật chất như hệ thống thư viện, phòng thí nghiệm, phòng máy tính nối mạng Internet để phục vụ học sinh tự học và tham khảo ngoài giờ học.
CUỘC “CÁCH MẠNG” VỀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY NÊN BẮT ĐẦU TỪ ĐÂU?
Điểm xuất phát của việc đổi mới phương pháp cần được bắt đầu từ các trường sư phạm- nơi đào tạo ra những người thầy. Ngay ở nhiều khoa sư phạm ở nhiều trường đại học thì khái niệm đường hướng “Lấy người học làm trung tâm” vẫn còn là khái niệm khá mới mẻ. Do đó việc tập huấn đổi mới chương trình đào tạo và giáo trình về phương pháp giảng dạy các môn học ở tất cả các cấp học từ mầm non trở lên theo đường hướng “Lấy người học làm trung tâm” là việc cần làm ngay. Sau đó là việc đào tạo lại những giáo các cấp phổ thông theo phương pháp dạy học mới cần được thực hiện triệt để và kiên quyết. Những người yêú kém về kiến thức chuyên môn không thể thích ứng với phương pháp mới cần được chuyển sang làm công việc khác vì một người thầy kém có thể ảnh hưởng đến rất nhiều thế hệ học sinh.
KẾT LUẬN
Muốn hội nhập và phát triển, nền giáo dục Việt Nam cần phải nâng cao chất lượng giáo dục thông qua việc đổi mới phương pháp giảng dạy theo đường hướng “Lấy người học làm trung tâm”. Chúng ta cần phải vượt qua nhiều “lực cản” và vượt qua chính mình để tiến hành “cuộc cách mạng” về phương pháp giảng dạy thành công.
--------------------------------------------------------------------------
Trần Mạnh Trung - Thạc sĩ Phương pháp dạy học tiếng Anh
Khoa Ngoại ngữ - Đại học Hồng Đức – Thanh Hoá
Bài đăng trên báo “TIN TỨC” (Thông tấn xã Việt Nam)
Số 22 (2760) - Ra ngày 28/04/2008
Học một ngôn ngữ mà không hiểu và nắm được văn hoá bản ngữ của ngôn ngữ đó, thì khó có thể giao tiếp thành công với người bản ngữ trong các tình huống cụ thể. Vậy mà các bộ sách giáo khoa tiếng Anh THCS, THPT dù đã trang bị nhiều kiến thức để học sinh phát triển các năng nghe, nói, đọc, viết, nhưng lại "quên" mất điều này.
NHỚ “VĂN HOÁ TA” QUÊN “VĂN HOÁ BẠN”
Yếu tố văn hoá bản ngữ chính là những nét văn hoá thể hiện trong việc sử dụng ngôn ngữ và hành vi giao tiếp của người bản ngữ.
Trên thực tế, một người dù có nắm vững ngữ pháp và có vốn từ phong phú nhưng không hiểu biết về văn hoá bản ngữ đó, thì khi giao tiếp, trong con mắt người bản ngữ người đó chỉ dừng lại ở mức độ "biết cách diễn đạt ý nghĩ một cách khá ngô nghê, vụng về" mà thôi.
Nghiêm trọng hơn, thiếu hiểu biết văn hoá khi giao tiếp còn có thể gây “xung đột văn hoá” hay “sốc văn hoá”. Ví dụ đơn giản: một người Việt Nam khi giao tiếp có thể gây phản ứng khó chịu đối với một người Anh nếu cứ thể hiện sự thân mật và quan tâm tới người khác bằng những câu hỏi mang tính riêng tư như: “Chị có gia đình chưa?” “Chị bao nhiêu tuổi?” … Cú “sốc” do khác biệt văn hoá trên sẽ không xảy ra nếu người hiểu được phong tục, tập quán người Anh trong giao tiếp.
Vậy nhưng trong chương trình SGK tiếng Anh phổ thông, sự khác biệt về văn hoá giữa người Việt và người Anh lại hầu như không được đề cập đến.
Trong các bộ SGK tiếng Anh dùng cho THCS và THPT vừa được biên soạn mới, cho dù đã quan tâm đến việc phát triển bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết nhưng khi biên soạn thì những người biên soạn lại chủ yếu giới thiệu về những nét văn hoá Việt Nam thông qua việc giới thiệu về đất nước con người Việt Nam và những tình huống giao tiếp của người Việt Nam. Các yếu tố văn hoá bản ngữ Anh - Mỹ được giới thiệu rất ít và không rõ nét.
Đơn cử như trong cuốn SGK Tiếng Anh lớp 10 THPT, trong số 16 đơn vị bài học chỉ có duy nhất một bài là Unit 15 (trang 156) có một bài đọc (Reading) về thành phố New York (Mỹ) và phần viết (Writing) miêu tả về thủ đô Luân Đôn (Anh). Còn lại là các bài học chủ đề về Việt Nam như: cuộc sống ở nông thôn, trường học, giáo dục người khiếm thị, danh lam thắng cảnh, truyền hình, di tích lịch sử và các bài về danh nhân thế giới, thể thao, bảo tồn thiên nhiên, công nghệ, … . Trong cuốn sách Tiếng Anh lớp 11 THPT, trong số 16 đơn vị bài học chỉ có Unit 03 có phần đọc hiểu về tổ chức sinh nhật và tiệc cưới ở Mỹ và Unit 14 có bài đọc về thú tiêu khiển của người Anh. Còn lại là các bài học về các chủ đề khác. Các thầy cô khó có thể dạy tiếng Anh cho học sinh khi lại không dựa trên một hay nhiều nền tảng văn hoá bản ngữ của Tiếng Anh là Anh hay Mỹ.
NÓI THEO VĂN VIẾT
phần luyện nói (Speaking) của SGK mới, những bài hội thoại thường rất tẻ nhạt với những câu thoại dài dòng. Các tình huống hội thoại cũng mang dấu ấn tình tình huống của Việt Nam.
Hơn nữa, những đoạn hội thoại trên như đã được người biên soạn “bê nguyên xi” ngôn ngữ viết vào ngôn ngữ nói. Vì thế, trong phần luyện nói, học sinh nói với nhau bằng những câu thuộc lòng dài ngoẵng và rất “chuẩn” ngữ pháp, trên các tình huống và ngữ liệu cho sẵn. Thực tế, thì ngôn ngữ nói của người bản ngữ không phải lúc nào cũng “chuẩn” về ngữ pháp và câu nào cũng đầy đủ chủ ngữ, vị ngữ. Thậm chí, người Anh còn dung rất nhiều tiếng thông tục hay lối nói tắt, dùng từ tắt … Quen với lối nói như vậy, học sinh sẽ không thể hiểu được những đoạn hội thoại “thực” ngoài đời của người bản ngữ, dù rất đơn giản.
NÊN CÓ THẦY “TÂY” THAM GIA BIÊN SOẠN
Tất cả những hạn chế trên, phần nào lý giải nguyên nhân học sinh Việt Nam mặc dù đã học tiếng Anh từ 3 đến 7 năm ở trường phổ thông nhưng vẫn gặp khó khăn khi giao tiếp với người nước ngoài trong những tình huống thực tế. Những học sinh phổ thông muốn thi đạt điểm chuẩn trong các kỳ thi IELTS (Anh) hay TOEFL (Mỹ) phải tự luyện giáo trình nước ngoài hay luyện thi ở các lớp ngoài hay thậm chí những học sinh chuyên Tiếng Anh cũng phải học thêm rất nhiều ngoài SGK mới đủ kiến thức để thi đỗ đại học chuyên ngành về tiếng Anh.
Rất mong khi biên soạn sách giáo khoa, các nhà biên soạn nghiên cứu kỹ yếu tố văn hoá của người bản ngữ, để lồng ghép giới thiệu văn hoá của Anh hay Mỹ cùng những tình huống giao tiếp mang sắc thái văn hoá bản ngữ tiêu biểu xen kẽ với nội dung giới thiệu văn hoá Việt Nam.
Để ngôn ngữ tiếng Anh “tự nhiên” hơn và gần với ngôn ngữ của người bản ngữ hơn, rất cần thiết phải thuê những chuyên gia về ngôn ngữ và văn hoá bản ngữ hiệu đính nội dung sách giáo khoa. Hoặc tốt hơn là thuê những chuyên gia chuyên biên soạn sách là người bản ngữ cùng tham gia biên soạn sách, bởi họ chính là người thành thạo ngôn ngữ-văn hoá của mình nhất.
Tác giả:
TRẦN MẠNH TRUNG
Thạc sĩ Phương pháp dạy học tiếng Anh - Khoa Ngoại ngữ,
ĐH Hồng Đức - THANH HOÁ