Skip navigation.

Log in | Sign up

Diễn văn nhậm chức của Obama


Thưa quốc dân,
Tôi đứng đây ngày hôm nay, cảm thấy thật khiêm nhường trước trách nhiệm trước mắt, biết ơn về sự tin cậy của quý vị, và nhớ về những hy sinh của tổ tiên. Tôi xin cảm ơn Tổng Thống Bush về những cống hiến của Ngài cho đất nước, về sự hào phóng và tinh thần cộng tác của Ngài trong quá trình chuyển giao này.
Bốn mươi tư công dân Mỹ đã tuyên thệ nhận chức tổng thống. Những từ ngữ được vang lên trong những thời thịnh vượng và thời bình. Và những lời tuyên thệ cũng thường vang lên trong lúc dông bão. Vào những thời khắc đó, nước Mỹ đã vượt qua, không chỉ đơn giản nhờ vào kỹ năng hay tầm nhìn của những người lãnh đạo, mà bởi Chúng Ta, Nhân Dân Mỹ đã có niềm tin vào lý tưởng của cha ông, theo đúng tinh thần của các văn bản lập quốc của chúng ta.
Niềm tin đó đúng trong quá khứ. Niềm tin đó phải đồng hành với thế hệ người Mỹ hiện nay.
Các thách thức nghiêm trọng
Chúng ta hiện đang trong giữa cuộc khủng hoảng mà ai ai cũng biết. Đất nước chúng ta đang trong thời chiến, chống lại một mạng lưới bạo lực và thù hận rộng khắp, một phần là hậu quả của thái độ tham lam, vô trách nhiệm của một số người, nhưng cũng là hậu quả của việc chúng ta đã thất bại, không có những lựa chọn khó khăn, chuẩn bị sẵn sàng cho đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nhà mất, việc không, kinh doanh đình đốn. Chi phí y tế thì quá tốn kém; chất lượng trường học khiến nhiều người thất vọng. Càng ngày càng có thêm bằng chứng cho thấy cách chúng ta sử dụng năng lượng càng khiến kẻ thù của chúng ta mạnh thêm trong lúc trái đất càng bị đe doạ thêm.
Đó là các chỉ dấu về cuộc khủng hoảng, tính theo dữ liệu và số liệu thống kê. Không đo đếm được cụ thể đến vậy, nhưng cũng không kém phần sâu sắc, đó là tâm trạng mất niềm tin trên toàn đất nước - một tâm trạng sợ hãi đeo đẳng rằng sự đi xuống của nước Mỹ là không thể tránh khỏi, và rằng thế hệ kế tiếp sẽ phải hạ bớt tầm nhìn.
Hôm nay, tôi xin nói với quý vị rằng các thách thức mà chúng ta đang đối diện là rất thật. Các thách thức đó rất nghiêm trọng và có nhiều. Các thách thức đó không thể xử lý được một cách dễ dàng hay trong một thời gian ngắn. Nhưng xin quý vị hãy biết rằng chúng sẽ được xử lý.
Ngày hôm nay, chúng ta tụ hội về đây bởi chúng ta đã lựa chọn hy vọng thay vì sợ hãi, cùng hướng tới một mục tiêu chung thay vì có xung đột và bất hòa.
Ngày hôm nay, chúng ta tới để tuyên bố chấm dứt những lời than vãn vụn vặt cùng những lời hứa hẹn dối trá, những lời tố cáo lẫn nhau cùng những lời nói giáo điều nhàm chán, những thứ đã bóp nghẹt nền chính trị của chúng ta quá nhiều.
Quốc gia dám chấp nhận rủi ro
Chúng ta vẫn là một quốc gia non trẻ, nhưng như kinh thánh nói, đã tới lúc bỏ sang một bên những điều nông nổi. Đã đến lúc tái xác nhận tinh thần kiên nhẫn của chúng ta, nhằm chọn lựa một lịch sử tốt đẹp hơn, nhằm hướng tới món quà quý giá, ý tưởng cao đẹp vốn được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác: Chúa trao cho mọi người quyền được bình đẳng, quyền được tự do, mọi người đều có quyền mưu cầu hạnh phúc.
Trong khi tái khẳng định sự vĩ đại của dân tộc chúng ta, chúng ta hiểu rằng sự vĩ đại đó không bao giờ là thứ được cho không. Chúng ta đã phải giành lấy nó. Hành trình của chúng ta đi cho tới nay chưa bao giờ là một trong những con đường đi tắt hoặc một cái gì đó dễ dàng hơn. Đó không phải là con đường cho những người nhút nhát, cho những người hay ưa thích sự nhàn tản hơn là lao động, hay cho những người chỉ tìm kiếm những thú vui của sự giàu sang và nổi tiếng. Thay vào đó, chính những người dám chấp nhận hiểm nguy, những người lao động, những người làm ra các sản vật – mà một vài trong số họ là những người nổi tiếng nhưng thông thường hơn là những người đàn ông và đàn bà vô danh trong những lao động của họ - là những người đã đưa chúng ta vượt qua con đường dài đầy khó khăn gập ghềnh và dẫn chúng ta tới sự thịnh vượng và tự do.
Vì chúng ta, họ đã phải bươn chải khắp các đại dương mà trong tay chỉ có chút ít tư trang, của cải để mưu cầu một cuộc đời mới.
Vì chúng ta, họ đã phải vất vả lao động ở những công xưởng hà khắc và phải cất công định cư ở miền Tây; đã phải chịu đựng những trận đòn roi da và cấy cầy trên nền đất cứng.
Vì chúng ta, họ đã chiến đấu và hy sinh ở những nơi như Concord và Gettysburg, Normandy và Khe Sanh.
Dấu ấn Mỹ
Hết lần này đến lần khác, những người đàn ông và đàn bà này đã tranh đấu, hy sinh và làm việc tới tận khi đôi bàn tay của họ trai sạm để chúng ta có thể có một cuộc sống tốt đẹp hơn, Họ đã nhìn thấy nước Mỹ lớn hơn tất cả những tham vọng cá nhân, lớn hơn tất cả những khác biệt về sự sinh thành, của cải và phe phái của chúng ta gộp lại.
Đây là hành trình chúng ta tiếp tục ngày hôm nay. Chúng ta vẫn là quốc gia thịnh vượng nhất, mạnh nhất trên trái đất. Các công nhân của chúng ta không hề làm việc kém hiệu quả hơn thời điểm cuộc khủng hoảng này bắt đầu. Trí óc của chúng ta không hề kém sáng tạo, hàng hoá và dịch vụ của chúng ta không hề kém cần thiết hơn tuần trước, tháng trước hay năm ngoái. Năng lực của chúng ta vẫn không hề bị sút giảm. Nhưng thời của sự bảo vệ những lợi ích hẹp hòi và lảng tránh những quyết định không mấy thú vị của chúng ta - thời đó chắc chắn đã trôi qua.
Bắt đầu ngày hôm nay, chúng ta phải tự mình đứng dậy, tự phủi bụi và bắt đầu trở lại công việc tái lập nước Mỹ. Bởi vì ở bất cứ nơi đâu chúng ta nhìn vào, chúng ta sẽ thấy có việc phải làm. Tình trạng kinh tế hiện nay đang kêu gọi chúng ta hành động, can đảm và mau lẹ, và chúng ta sẽ hành động – không chỉ để tạo ra những việc làm mới, mà còn để đặt một nền móng mới cho sự tăng trưởng. Chúng ta sẽ xây dựng cầu, đường, các lưới điện và đường dây kỹ thuật số để cung cấp cho thương mại và kết nối chúng ta lại với nhau. Chúng ta sẽ khôi phục khoa học ở vị trí đúng đắn của nó, sẽ sử dụng các điều kỳ diệu của công nghệ để nâng cao chất lượng chăm sóc y tế và hạ giá thành của nó. Chúng ta sẽ khai thác năng lượng từ mặt trời, từ gió và đất để cung cấp nhiên liệu cho xe hơi và vận hành các nhà máy của chúng ta. Và chúng ta sẽ chuyển các trường học, trường học phổ thông và đại học để đáp ứng các nhu cầu của một thời đại mới. Tất cả điều này chúng ta có thể làm. Tất cả những điều này, chúng ta sẽ làm.
Khôi phục niềm tin
Vào lúc này, đang có những người đặt ra các câu hỏi trước các tham vọng của chúng ta - những người này cho rằng hệ thống của chúng ta không thể kham nổi quá nhiều các kế hoạch. Trí nhớ của họ quá ngắn. Bởi vì họ đã quên rằng đất nước này đã làm được điều đó; điều mà những con người tự do, nam cũng như nữ, có thể đạt được khi trí tưởng tượng của mọi người được hòa trong một mục đích chung, điều cần thiết cho sự can đảm.
Điều mà những người hoài nghi không thể hiểu là mặt đất đang chuyển dịch dưới chân họ - là những luận điểm chính trị cũ kỹ vốn làm héo mòn chúng ta lâu nay, không còn có thể áp dụng được nữa. Câu hỏi chúng ta đặt ra hôm nay không phải là liệu chính phủ của chúng ta quá lớn hay quá nhỏ, nhưng mà là liệu nó có vận hành được hay không - liệu nó có thể giúp cho các gia đình tìm kiếm được việc làm với một đồng lương tử tế, một sự chăm sóc y tế mà họ có thể chi trả được hay tìm kiếm được một hưu bổng xứng đáng. Ở đâu mà câu trả lời là được, chúng ta dự kiến sẽ tiến tới. Ở đâu mà câu trả lời là không, các chương trình sẽ dừng lại.
Và ai trong số chúng ta đang quản lý những đồng đô-la công cộng sẽ phải thận trọng tính toán - để chi tiêu một cách khôn ngoan, phải thay đổi những thói quen xấu và phải làm công việc của chúng ta dưới thanh thiên bạch nhật – vì chỉ khi đó chúng ta mới có thể khôi phục được lòng tin hết sức quan trọng giữa người dân và chính phủ của họ.
Cũng không phải đó là câu hỏi đặt ra trước chúng ta rằng liệu thị trường là một lực lượng lành mạnh hay không. Sức mạnh của thị trường nhằm sản xuất ra của cải và mở rộng tự do là không gì sánh nổi, nhưng cuộc khủng hoảng này nhắc nhở chúng ta rằng nếu không có một con mắt thận trọng, thị trường có thể xoay chuyển và đi ra khỏi vòng kiểm soát - một quốc gia không thể thịnh vượng lâu dài khi nó chỉ tạo thuận lợi cho những người giàu có. Thành công của nền kinh tế của chúng ta đã luôn luôn dựa trên không chỉ quy mô của tổng sản phẩm quốc nội của chúng ta, mà còn dựa trên tầm vóc của sự thịnh vượng của chúng ta; dựa trên khả năng mở rộng cơ hội cho tất cả những người thiện ý, sẵn lòng – không nằm ngoài tính từ thiện, mà còn bởi vì đó là con đường chắc chắn nhất đưa tới lợi ích chung của chúng ta.
Sẵn sàng dẫn dắt
Đối với công cuộc quốc phòng, chúng ta bác bỏ sự lựa chọn giữa an toàn và các lý tưởng của chúng ta. Những bậc cha ông khai quốc của chúng ta, vốn đã từng phải đương đầu với những hiểm nguy mà chúng ta hiếm khi có thể hình dung được, đã soạn thảo ra một bản hiến chương đảm bảo pháp trị và các quyền con người, một bản hiến chương đóng góp bằng máu của nhiều thế hệ. Những lý tưởng này vẫn tiếp tục thắp sáng trên thế giới, và chúng ta sẽ không từ bỏ chúng vì những điều không thích hợp.
Và do đó đối với tất cả các dân tộc và chính phủ khác đang theo dõi chúng ta hôm nay, từ các thủ đô lớn nhất tới ngôi làng nhỏ nơi cha tôi ra đời: quý vị biết rằng nước Mỹ là bạn bè với từng quốc gia, từng cá nhân dù là nam hay nữ, từng đứa trẻ, đang tìm kiếm tương lai hoà bình và phẩm giá, và chúng ta sẵn sàng để đi đầu một lần nữa.
Hãy nhớ rằng thế hệ cha anh chúng ta đã hạ gục chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản, không chỉ bằng tên lửa và xe tăng mà bằng những liên minh vững chắc và bằng niềm tin bền bỉ. Lớp cha anh hiểu rằng chỉ sức mạnh không thôi sẽ không thể bảo vệ nổi chúng ta, và nó cũng không cho phép chúng ta làm những gì mình muốn. Các thế hệ trước hiểu rằng sức mạnh của chúng ta lớn mạnh dần là nhờ chúng ta đã sử dụng nó một cách cẩn trọng. Nền an ninh của chúng ta được xây dựng từ sự chính danh, từ sự gương mẫu, từ sự khiêm nhường và sự biết kiềm chế của chúng ta.
Chúng ta là những người gìn giữ di sản này. Được dẫn dắt bởi những nguyên tắc cơ bản này, một lần nữa chúng ta sẽ đương đầu được với các đe doạ mới, là các đe doạ cần được đối phó bằng những nỗ lực to lớn hơn - thậm chí là cả sự hợp tác to lớn hơn cùng và sự thông hiểu hơn giữa các quốc gia. Chúng ta sẽ bắt đầu chuyển giao một cách có trách nhiệm đất nước Iraq cho người dân Iraq, và sẽ vượt lên giành giật hòa bình vốn khó giữ tại Afghanistan. Cùng với bạn cũ thù xưa, chúng ta sẽ làm việc không ngừng nhằm giảm bớt đe dọa hạt nhân và đảo ngược tiến trình ấm nóng toàn cầu. Chúng ta sẽ không xin lỗi vì cách sống của chúng ta và không do dự khi bảo vệ lối sống này. Đối với những kẻ muốn đạt mục tiêu bằng cách khủng bố và giết người vô tội, thì các người hãy nghe đây: tinh thần của chúng ta mạnh hơn của các người, các người không thể bẻ gãy ý chí của chúng ta, các người không thể tồn tại lâu chúng ta, và chúng ta sẽ đánh bại các người.
Kỷ nguyên hoà bình
Chúng ta biết rằng di sản của chúng ta là sức mạnh chứ không phải là sự yếu đuối. Chúng ta là một quốc gia của người Thiên Chúa Giáo và người Hồi Giáo, người Do Thái giáo và người Ấn giáo, và của cả những người không tôn giáo. Chúng ta được hình thành bởi các ngôn ngữ và văn hóa hội về từ khắp nơi trên trái đất. Từng đã trải qua vị đắng của nội chiến và tệ phân biệt màu da, từng trỗi dậy từ thời kỳ đen tối đó để trở nên mạnh mẽ hơn, đoàn kết hơn, chúng ta tin rằng rồi sẽ đến ngày nỗi thù nghịch cũng qua đi, làn phân ranh giữa các bộ tộc sẽ không còn; khi thế giới này trở nên nhỏ bé hơn, lòng nhân hậu sẽ ngự trị và Hoa Kỳ sẽ đóng vai trò mở ra một kỷ nguyên mới, hoà bình.
Đối với thế giới Hồi giáo, chúng ta tìm hướng đi tới mới, dựa trên lợi ích chung và sự tôn trọng lẫn nhau. Đối với các nhà lãnh đạo đang muốn gieo rắc xung đột hay đổ lỗi cho phương Tây gây ra những tệ nạn trong xã hội của họ - quý vị hãy hiểu rằng người dân sẽ đánh giá dựa trên những gì quý vị xây chứ không phải những gì quý vị phá. Đối với những người bám lấy quyền lực nhờ tham nhũng, dối trá và bịt miệng tiếng nói đối lập, hãy biết rằng quý vị đang đi ngược lịch sử, nhưng chúng tôi sẽ chìa tay ra nếu quý vị biết từ bỏ nắm đấm.
Đối với các quốc gia nghèo khó, chúng tôi cam kết sẽ sánh vai cùng quý vị để giúp các trang trại xanh tươi, để dòng nước sạch được tuôn trào, để nuôi dưỡng những sinh linh đói khát. Và đối với những quốc gia được hưởng sự đầy đủ như chúng ta, chúng ta nói với họ rằng chúng ta không thể tiếp tục thờ ơ với những nỗi thống khổ phía bên ngoài biên giới, cũng không thể tiếp tục sử dụng tài nguyên thế giới mà không quan tâm gì tới những ảnh hưởng kéo theo. Thế giới đã thay đổi và chúng ta phải thay đổi theo.
'Nghĩa vụ'
Khi chúng ta cân nhắc con đường phía trước, chúng ta tưởng nhớ với lòng biết ơn khiêm nhường trước những người Mỹ dũng cảm, vào chính lúc này đây, đang tuần tra các sa mạc, rặng núi xa xôi. Họ có cái để nói với chúng ta, giống như những anh hùng gục ngã tại Arlington đã thì thầm từ bao thời đại. Chúng ta vinh danh họ không chỉ vì họ là những người bảo vệ tự do của chúng ta, mà còn vì họ hiện thân cho tinh thần phục vụ; sẵn sàng tìm ý nghĩa trong những điều lớn hơn bản thân họ. Và chính trong khoảnh khắc này - một khoảnh khắc sẽ định hình cả một thế hệ, chính tinh thần này phải hiện hữu trong tất cả chúng ta.
Vì cho dù chính phủ có thể làm gì và phải làm gì, quốc gia này chung cuộc là nhờ vào niềm tin và quyết tâm của nhân dân Mỹ. Đó là sự tử tế đùm bọc người xa lạ khi những con đê bị vỡ, là sự vị tha của những công nhân thà làm bớt giờ chứ không để bạn mình mất việc, chính chúng sẽ đưa ta qua những giờ đen tối nhất. Chính là sự dũng cảm của nhân viên chữa cháy băng qua cầu thang đầy khói, chính là bậc cha mẹ sẵn lòng chăm sóc con, mà quyết định số phận của chúng ta.
Các thách thức của chúng ta có thể là mới mẻ. Các công cụ mà chúng ta dùng để đối phó có thể là mới mẻ. Nhưng các giá trị đã dẫn đến thành công của chúng ta - sự trung thực và chăm chỉ, dũng cảm và công bằng, khoan dung và tò mò, trung thành và lòng yêu nước - những điều này là cũ. Những điều này là có thật. Chúng đã là lực đẩy âm thầm cho tiến bộ xuyên suốt lịch sử của chúng ta. Điều đang đòi hỏi chúng ta là quay về với những sự thật đó.
Điều đòi hỏi chúng ta lúc này đây là một kỷ nguyên mới của trách nhiệm, một sự thừa nhận của từng người Mỹ rằng chúng ta có nghĩa vụ với chính bản thân, quốc gia, và thế giới; những nghĩa vụ mà chúng ta không phải miễn cưỡng chấp nhận mà sẵn sàng nắm lấy, với hiểu biết chắc chắn rằng không có điều gì làm tinh thần thỏa mãn, phản ảnh tư cách của chúng ta cho bằng cống hiến trọn vẹn cho một sự nghiệp khó khăn.
'Món quà của tự do'
Đây là giá và sự hứa hẹn của quyền công dân.
Đây là nguồn gốc của niềm tự tin, sự hiểu biết rằng Thượng Đế trông cậy vào chúng ta để định hình một định mệnh chưa chắc chắn.
Đây là ý nghĩa của tự do và tôn giáo của chúng ta - là vì sao mọi người, nam, nữ, trẻ em thuộc mọi chủng tộc và tín ngưỡng có thể cùng nhau chào đón tại quảng trường quốc gia vĩ đại này và vì sao một người có cha cách đây gần 60 năm có thể không được phục vụ tại một nhà hàng địa phương mà nay đứng trước mặt quý vị để đọc lời thề thiêng liêng nhất.
Vậy chúng ta hãy đánh dấu ngày này bằng cách nhớ lại chúng ta là ai và chúng ta đã đi xa thế nào.
Vào năm Hoa Kỳ ra đời, trong những tháng lạnh nhất, một nhóm nhỏ những người yêu nước chụm lại bên nhau bên cạnh đống lửa gần tàn trên bờ dòng sông băng giá. Thủ đô đã bị bỏ lại. Kẻ thù đang tiến tới. Tuyết loang lỗ vết máu. Vào thời điểm khi kết quả cuộc cách mạng rơi vào hồ nghi, vị cha già của quốc gia ra lệnh đọc cho mọi người những lời này:
“Hãy nói cho thế giới tương lai... rằng trong mùa đông giá lạnh nhất, khi chỉ còn lại hy vọng và nghị lực... thì thành phố và đất nước, lo lắng trước mối nguy hiểm chung, đã tiến lên để đối đầu.”
Nước Mỹ ơi. Giữa những nguy hiểm chung, trong mùa đông gian khó của chúng ta, hãy nhớ những lời bất tử này. Với hy vọng và nghị lực, chúng ta hãy một lần nữa can đảm vượt qua dòng nước băng giá và chịu đựng bất cứ cơn bão nào sẽ đến. Hãy để con cháu chúng ta nhắc lại rằng khi chúng ta bị thử thách, chúng ta đã chối từ không để cuộc hành trình phải ngừng lại, rằng chúng ta không quay lui hay ngập ngừng, và với con mắt chăm chú nhìn vào chân trời và với ân phước của Thượng Đế ban cho, chúng ta mang theo món quà của tự do và chuyền lại bình an cho các thế hệ sau.
Cảm ơn quý vị. Thượng đế ban phước lành cho quý vị. Và Thượng đế ban phước lành cho nước Mỹ.

Phát biểu của Barack Obama vừa đắc cử Tổng thống Hoa Kỳ, 11g đêm 4-11-2008

Xin chào Thành phố Chicago!
Nếu trong các bạn có ai còn ngờ vực liệu nước Mỹ có phải là nơi tất cả mọi điều đều là có thể; có ai còn tự hỏi giấc mơ của người sáng lập nước Mỹ liệu có còn tồn tại trong thời đại của chúng ta; có ai còn đặt dấu hỏi về sức mạnh nền dân chủ của chúng ta, thì ngày hôm nay chính là câu trả lời cho những người ấy.
Đó là câu trả lời của dòng người nối dài chưa từng thấy trên đất nước này ở các nhà thờ, trường học được dùng làm địa điểm bầu cử, của những người đã chờ đợi ba bốn tiếng đồng hồ để bỏ phiếu, đối với nhiều người, đây là lần đầu tiên trong đời họ đi bầu như vậy, vì họ tin rằng lần này nhất định là khác; họ tin rằng tiếng nói của họ có thể tạo nên ý nghĩa khác biệt ấy.
Đây là câu trả lời của những người già và người trẻ, người giàu và người nghèo, người dân chủ và người cộng hòa, người da đen và da trắng, người Latinh, người châu Á, người Mỹ bản xứ, người đồng tính, người bình thường, người khuyết tật và không khuyết tật- những người Mỹ đã gửi đi một thông điệp cho thế giới rằng chúng ta đã không còn là một tập hợp những tiểu bang dân chủ hay cộng hòa: chúng ta là, và bao giờ cũng sẽ là Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ!
Đó là câu trả lời đã dẫn dắt những người từ lâu bị người khác làm cho trở thành hoài nghi, e sợ, ngờ vực những gì chúng ta có khả năng đạt được, để họ có thể chạm tay vào khúc quanh của lịch sử và uốn lịch sử theo những hy vọng của họ về một tương lai tốt đẹp hơn.
Còn một chặng đường dài trước mặt, nhưng đêm nay, vì những gì chúng ta đã làm trong ngày hôm nay, trong cuộc bầu cử này, trong thời khắc này, thay đổi đã đến với nước Mỹ.

Tôi vừa nhận được cuộc điện đàm rất hòa nhã khoan dung của Thượng nghị sĩ Mc Cain. Ông ấy đã đấu tranh tích cực và lâu dài trong cuộc vận động tranh cử này, và đã tranh đấu thậm chí còn lâu dài hơn và mạnh mẽ hơn cho tổ quốc mà ông rất yêu quý. Ông ấy đã chịu đựng những hy sinh cho nước Mỹ mà nhiều người chúng ta khó mà hình dung được, và đất nước chúng ta đã trở nên tốt hơn nhờ sự phục vụ của người lãnh đạo dũng cảm và tận tâm với quốc gia này. Tôi hoan nghênh TNS Mc Cain và Thống đốc Sarah Palin vì tất cả những gì họ đã đạt được, và mong đợi được làm việc cùng họ để hồi phục những triển vọng của đất nước này trong những tháng năm sắp đến.
Tôi muốn cảm ơn người bạn đồng hành của tôi trên con đường này, người đã vận động cho cuộc bầu cử bằng tất cả trái tim, người đã nói lên tiếng nói của những người dân thường mà ông ấy đã cùng lớn lên với họ trên đường phố Scranton và đã cùng đi với họ trên một chuyến tàu để trở về nhà ở Delaware, người đã được bầu làm Phó Tổng thống của Hoa Kỳ, Joe Biden.
Tôi sẽ không thể đứng ở nơi đây đêm nay nếu không có sự ủng hộ kiên cường của người bạn tốt nhất suốt mười sáu năm qua của tôi, nền tảng vững chắc của gia đình và tình yêu của đời tôi, người phụ nữ sẽ là đệ nhất phu nhân sắp tới của Hoa Kỳ, Michelle Obama. Sasha và Malia, cha yêu các con biết bao, và các con đã có một con chó con mới sẽ cùng đi với chúng ta vào Nhà Trắng. Và tôi biết rằng tuy không còn nữa trên đời, bà ngoại của tôi vẫn đang cùng với gia đình dõi theo những gì đã làm nên tôi ngày hôm nay. Đêm nay tôi nhớ đến họ một cách sâu sắc và biết rằng những gì tôi nhận được của họ là không thể nào đo đếm được.
Đối với người quản lý cuộc vận động tranh cử của tôi, David Plouffe, nhà lãnh đạo chiến lược David Axelrod, và đội ngũ những người làm việc cho cuộc tranh cử đã được tập hợp lại một cách xuất sắc nhất trong lịch sử chính trị, các bạn đã biến điều này thành hiện thực, tôi mãi mãi biết ơn các bạn vì những gì các bạn đã hy sinh để có được ngày hôm nay.
Nhưng trên hết, tôi sẽ không bao giờ quên rằng chiến thắng này thực sự thuộc về ai- chiến thắng này là thuộc về các bạn.
Tôi chưa bao giờ là một ứng viên có nhiều khả năng nhất trong việc giành được vị trí này. Chúng tôi đã không khởi sự với nhiều tiền bạc, hay với sự tán thành của tất cả mọi người. Cuộc vận động tranh cử của chúng tôi không được ấp ủ trong những đại sảnh đường của Thủ đô Washington. Nó đã bắt đầu trong những sân vườn của Des Moines, trong những phòng khách ở Concord và hành lang của Charleston.
Nó đã được xây dựng bởi những người đang đi làm đã dành những đồng tiền dành dụm ít ỏi của họ, 5 USD , 10 USD, 20 USD, để ủng hộ cho cuộc vận động này. Nó đã lớn mạnh nhờ những thanh niên trẻ tuổi đã không chấp nhận chuyện tưởng tượng về sự thờ ơ lãnh đạm của thế hệ trẻ, những người đã bỏ nhà cửa gia đình đi làm những việc khiến họ chẳng còn thì giờ để ngủ mà tiền thì ít; nhờ những người không còn trẻ lắm đã dũng cảm đương đầu với cái lạnh khắc nghiệt, với cái nóng đổ lửa để gõ cửa từng nhà những người hoàn toàn xa lạ mà vận động cho cuộc bầu cử. Nó đã lớn mạnh nhờ hàng triệu người Mỹ đã tình nguyện, hoặc có tổ chức, chứng minh rằng trong hơn hai thế kỷ qua, một Chính phủ của dân, do dân, và vì dân không phải đã chết hẳn trên trái đất này. Đây là chiến thắng của các bạn.
Tôi biết các bạn làm điều này không chỉ để chiến thắng trong cuộc bầu cử, và tôi biết các bạn làm điều này không vì cá nhân tôi. Các bạn đã làm điều đó vì hiểu rõ tầm cỡ lớn lao của những nhiệm vụ đang ở phía trước. Vì ngay khi làm lễ kỷ niệm tối nay, chúng ta đã biết rằng những thử thách mà ngày mai mang đến sẽ là những thử thách lớn lao nhất trong cả cuộc đời chúng ta – hai cuộc chiến tranh, một hành tinh đang đứng trước nhiều hiểm họa, một cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất của thế kỷ. Ngay khi đứng ở nơi đây, chúng ta biết rằng đang có những người lính Mỹ can đảm nửa đêm thức dậy trên những sa mạc ở Iraq, hay trên những ngọn núi ở Afganistan, chịu đựng bao hiểm nghèo vì chúng ta. Đang có những người mẹ, những người cha thao thức sau khi con cái đã ngủ và tự hỏi làm thế nào để giải quyết nhà cửa đang thế chấp, làm thế nào để trả tiền bác sĩ, hay dành dụm tiền bạc cho con cái đi học. Có những nguồn năng lượng mới để khai thác, có những chỗ làm mới sẽ được tạo ra, sẽ có những trường học mới được xây dựng, và có những mối đe dọa phải đương đầu, những liên minh cần phải sửa đổi.
Con đường trước mặt sẽ rất dài. Chúng ta đang trèo lên một con dốc đứng. Chúng ta có thể sẽ không đến được trong một năm, hay thậm chí trong một nhiệm kỳ, nhưng nước Mỹ- tôi chưa bao giờ tràn trề hy vọng hơn hôm nay- chúng ta sẽ đến đó. Tôi hứa với tất cả các bạn- chúng ta, với tư cách một dân tộc, chúng ta sẽ đến đích.
Sẽ có những trì trệ và sai lầm trong những bước đầu. Sẽ có nhiều người không đồng ý với những quyết định hay chính sách mà tôi sẽ thực hiện với tư cách Tổng thống, và chúng ta biết rằng Chính phủ không thể nào giải quyết được hết tất cả mọi vấn đề. Nhưng tôi sẽ luôn luôn trung thực với các bạn về những thử thách mà chúng ta phải đương đầu. Tôi sẽ lắng nghe các bạn, nhất là khi chúng ta không cùng ý kiến. Và trên hết, tôi sẽ yêu cầu các bạn tham gia vào công việc làm lại đất nước này theo cách duy nhất đã được thực hiện ở nước Mỹ trong hai trăm hai mươi mốt năm qua- bằng từng viên gạch, từng hòn đá, từng bàn tay chai sạn.

Những gì đã bắt đầu từ hai mươi mốt tháng trời qua trong những ngày đông băng giá nhất định sẽ không kết thúc trong đêm thu hôm nay. Chiến thắng này bản thân nó không phải là điều chúng ta tìm kiếm, nó chỉ là cơ hội cho chúng ta làm nên sự đổi thay. Và những đổi thay ấy không thể xảy ra nếu chúng ta quay trở lại với cách làm trước đây. Nó không thể xảy ra nếu không có các bạn. Bởi vậy chúng ta hãy kêu gọi một tinh thần yêu nước mới, một tinh thần phục vụ và trách nhiệm mà mỗi chúng ta quyết tâm giữ vững, làm việc nhiều hơn và quan tâm nhiều hơn không chỉ đến bản thân chúng ta mà còn quan tâm lẫn nhau. Chúng ta hãy nhớ rằng nếu cuộc khủng hoảng tài chính này đã dạy cho chúng ta một điều gì đó, thì đó chính là không thể có một phố Wall thịnh vượng trong lúc phố Main đang đau khổ- trên đất nước này, chúng ta cùng đi lên, hoặc cùng sụp đổ, với tư cách một quốc gia, một dân tộc.
Chúng ta hãy chống lại sự cám dỗ rơi vào tinh thần đảng phái, sự nhỏ nhen và thiếu chín chắn làm hỏng nền chính trị của chúng ta đã quá lâu. Chúng ta hãy nhớ rằng ở ngay tiểu bang này đã có người lần đầu tiên mang ngọn cờ của Đảng Cộng hòa vào Nhà trắng- một Đảng được xây dựng trên những giá trị về sự tín nhiệm, quyền tự do cá nhân, và tính thống nhất của đất nước. Đó là những giá trị mà tất cả chúng ta đều chia sẻ, và khi Đảng Dân chủ đạt được chiến thắng rực rỡ đêm nay, chúng ta đã làm điều này với một sự khiêm tốn nhất định, và xác định rằng sẽ hàn gắn những chia rẽ đã kéo lùi sự tiến bộ của chúng ta. Như Tổng thống Lincohn đã nói với một đất nước còn bị chia rẽ nhiều hơn đất nước mà chúng ta đang sống: “Chúng ta không phải là những kẻ thù, mà là bạn của nhau…dù rằng những giận dữ có thể căng thẳng nhưng nó không được phá vỡ mối quan hệ tốt đẹp của chúng ta”. Và đối với những người Mỹ mà tôi chưa nhận được sự ủng hộ của họ, tôi có thể đã không được các bạn dành cho lá phiếu, nhưng tôi lắng nghe tiếng nói của các bạn, tôi cần sự giúp đỡ của các bạn, và tôi cũng sẽ là Tổng thống của các bạn.
Và đối với tất cả những ai đang dõi mắt theo quang cảnh hôm nay từ nghị trường quốc hội, từ những nhóm người tụ tập quanh radio và truyền hình ở những góc khuất bị bỏ quên trong thế giới của chúng ta, câu chuyện của chúng tôi tuy đặc biệt khác thường, nhưng chúng ta cùng chia sẻ một số phận, và những tia hy vọng mới mẻ trong việc lãnh đạo đất nước Hoa Kỳ đã ở trong tay chúng ta.
Với những ai sẽ có thể làm tan nát thế giới này, chúng tôi sẽ đánh bại các người. Với những ai tìm kiếm hòa bình và sự an toàn, chúng tôi ủng hộ các bạn. Và với tất cả những ai còn ngờ vực liệu ngọn hải đăng Hoa Kỳ có còn cháy sáng, đêm nay chúng ta đã một lần nữa chứng minh rằng sự mạnh mẽ thực sự của đất nước chúng ta không phải là sức mạnh của quân sự, hay của sự giàu có, mà là sức mạnh của những lý tưởng lâu dài mà chúng ta theo đuổi: dân chủ, tự do, cơ hội và những hy vọng kiên cường.
Vì đó là thực chất của tinh thần Mỹ- nước Mỹ có thể thay đổi. Sự thống nhất của chúng ta có thể hoàn thiện hơn. Và những gì chúng ta đã đạt được trong quá khứ cho phép chúng ta hy vọng về những gì chúng ta có thể và nhất định phải đạt được trong tương lai.
Cuộc bầu cử này có nhiều câu chuyện lần đầu tiên xảy ra và sẽ được kể lại cho nhiều thế hệ con cháu chúng ta. Nhưng có một câu chuyện đang ở trong tâm trí tôi tối nay là câu chuyện về người phụ nữ đã đi bầu ở Atlanta. Bà ấy đã bỏ phiếu giống như hàng triệu người khác xếp hàng để góp tiếng nói của họ trong cuộc bầu cử này, chỉ trừ một điều- bà Ann Nixon Cooper đã 106 tuổi. Bà ấy đã được sinh ra trong thế hệ nô lệ cuối cùng, trong cái thời mà không có xe hơi trên đường, cũng chẳng có máy bay trên bầu trời, khi những người như bà không thể đi bầu, vì hai lý do: vì bà ấy là phụ nữ, và vì màu da của bà.
Và đêm nay, tôi nghĩ về tất cả những gì mà bà ấy đã nhìn thấy trong thế kỷ của mình ở nước Mỹ, nỗi đau buồn và niềm hy vọng, những đấu tranh và sự tiến bộ. Bà ấy đã thấy cái thời mà người ta bảo rằng chúng ta không thể, và đã thấy những người đang khởi động cho niềm tin của dân chúng Mỹ: Vâng, chúng ta có thể! Vào cái thời mà tiếng nói của phụ nữ rơi vào im lặng và những hy vọng của họ bị gạt bỏ, bà ấy đã sống để hôm nay thấy họ đứng dậy, thấy họ lên tiếng và thấy họ tiến đến bên bàn bầu cử. Vâng, chúng ta có thể!
Khi có những thất vọng trong cuộc suy thoái lan tràn, bà ấy đã nhìn thấy một đất nước tự mình vượt qua nỗi sợ hãi bằng những giải pháp mới mà chúng tôi đề xuất khi tranh cử, những chỗ làm mới, và ý thức mới về những mục đích chung. Vâng, chúng ta có thể!
Khi bom rơi trên cảng biển của chúng ta, khi sự chuyên chế bạo ngược đe dọa thế giới, bà ấy đã chứng kiến một thế hệ có khả năng đáp ứng với những giá trị cao quý và một nền dân chủ đã được giữ vững. Vâng, chúng ta có thể!
Bà ấy đã thấy những chiếc xe buýt ở Montgomery, những con ngựa ở Birmingham, cây cầu ở Selma, và đã thấy mục sư Martin Luther King ở Atlanta bảo mọi người rằng "Chúng ta sẽ vượt qua mọi khó khăn”. Vâng, chúng ta có thể!
Con người đã đặt chân vào Mặt trăng, bức tường đã đổ ở Berlin, một thế giới đã được liên kết bằng khoa học và bằng trí tưởng tượng của chúng ta. Năm nay, trong cuộc bầu cử này, bà ấy đã chạm ngón tay vào màn hình, tự tay bỏ lá phiếu của bà ấy, bởi vì sau 106 năm ở nước Mỹ, qua những thời khắc đẹp đẽ nhất và những giờ phút tăm tối nhất, bà ấy biết rằng nước Mỹ có thể thay đổi như thế nào. Vâng, chúng ta có thể!
Nước Mỹ chúng ta đã đi một bước rất dài. Nhưng vẫn còn bao nhiêu thứ phải làm. Vậy thì hôm nay, chúng ta hãy tự hỏi chính mình- nếu con cái chúng ta sẽ sống để nhìn thế kỷ tới, nếu con gái tôi có may mắn sống lâu như Ann Nixon Cooper, chúng sẽ nhìn thấy những thay đổi như thế nào? Chúng ta sẽ tạo ra những tiến bộ gì?
Đây là cơ hội của chúng ta để trả lời những kêu gọi ấy. Đây là những giây phút của chúng ta. Đây là thời đại của chúng ta - đưa nhân dân chúng ta trở lại với công việc và mở cánh cửa cơ hội cho con cái chúng ta; để phục hồi sự thịnh vượng và đẩy mạnh sự nghiệp hòa bình, để giành lại giấc mơ Mỹ và tái khẳng định một lần nữa một sự thực cơ bản, rằng trên hết mọi thứ, chúng ta là một; còn thở là chúng ta còn hy vọng, khi đối mặt với sự chỉ trích hay ngờ vực, với những người bảo rằng chúng ta không thể, chúng ta sẽ trả lời họ với niềm tin bất tận tóm tắt tinh thần của một dân tộc: Vâng, chúng ta có thể!
Cảm ơn các bạn. Xin Thượng đế phù hộ các bạn. Xin Thượng đế phù hộ Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ!

Phạm Thị Ly dịch

Đọc thêm: Hiện tượng Obama
GS. Tương Lai

Người ta hồi hộp theo dõi hành trình của Obama vì, nếu điều khó có thể trở thành sự thật ở một quốc gia đang có một vị trí trực tiếp ảnh hưởng đến toàn thế giới ấy biến thành sự thật, thì đó là một chuyển biến có ý nghĩa đột phá mang tính thời đại. Hiện tượng Obama không chỉ là một sự kiện của một quốc gia dù cho đó là một siêu cường, mà là một hiện tượng mang tầm vóc nhân loại ở thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI với những biến động dồn dập.
Gọi là “hiện tượng”, vì khi nhân dân Mỹ bầu một người da mầu, một người Mỹ gốc Phi làm tổng thống thứ 44 của mình, họ đã chọn sự thay đổi. Có nghĩa là với Obama, thế giới đang ghi nhận một cột mốc trong hành trình tư duy của con người trên con đường chưa có tên trên bản đồ. Trên hành trình đó, Obama là một “hiện tượng” nổi bật đáng suy ngẫm. Với “hiện tượng Obama” người ta tìm thấy dẫn chứng sinh động cho một luận điểm tuyệt vời được đưa ra vào thập kỷ 80 của thế kỷ trước: “con đường cũ dừng ở đây. Thế giới đã thay đổi, và kiểu tư duy tuyến tính không còn thích hợp vớí một thế giới phi tuyến tính… những ai chần chừ, tin rằng tương lai sẽ là sự tiếp tục đơn giản của quá khứ, sẽ sớm thấy mình bị hụt hẫng trước sự thay đổi. Họ sẽ bị buộc phải suy nghĩ lại: sẽ đi đến đâu và bằng cách nào đi đến đó, khi mà có lẽ đã quá muộn để tránh được điều không thể tránh khỏi”.*
Với “hiện tượng Obama” cùng với những diễn biến dồn dập của thời cuộc ở hai thập kỷ cuối thế kỷ XX và thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI bước vào thiên niên kỷ mới đang khẳng định một sự thật: chuẩn mực chính là sự thay đổi! Đó là một dữ kiện có ý nghĩa lớn lao thôi thúc những cái đầu biết tư duy phải tự nhìn lại sự hạn hẹp của nhận thức đã có, rà soát lại để nhặt ra những thô thiển, những ngộ nhận, những sai lầm để tự bổ sung cho mình những tri thức mới, giúp thay đổi cách nhìn, cách nghĩ sát với sự vận động của cuộc sống.

Sinh năm 1961 vị tổng thống nước Mỹ thứ 44 không giống như phần lớn những người từng bước vào nhà trắng với niềm kiêu hãnh của một người xuất thân từ những danh gia vọng tộc, nhiều đời là những thống đốc, thượng nghị sỹ vốn dòng dõi của những gia đình triệu phú như các dòng họ Roosevelt, Kennedy, Bush, hay những chính khách với tên tuổi lẫy lừng đã dày dạn trong các cương vị quan trọng tại nghị trường hay trên các diễn đàn quốc tế như Truman, Nixon hay Reagan, cũng chẳng phải là những danh tướng đã lập chiến công từng được mọi người biết đến như Ulysses Grant, Dwight Eisenhower. Theo truyền thống vốn có, những kiểu người như vậy mới xứng đáng đại diện cho những tập đoàn tư bản kếch sù chi phối lá phiếu cử tri Mỹ. Với “hiện tượng Obama”, cách tư duy truyền thống ấy đã tỏ ra lạc hậu! Chính đối thủ của cuộc đua vào Nhà trắng, McCain, trong lời phát biểu chấp nhận thất bại và chúc mừng Obama cũng đã nhấn mạnh rằng việc cử tri chọn một tổng thống da mầu đã đánh dâu một bước ngoặt lịch sử của nước Mỹ. Và chắc rằng bước ngoặt lịch sử ấy không chỉ của nước Mỹ.
Mẹ của Obama là một phụ nữ da trắng kết hôn với một người Kenya. Cuộc hôn nhân của họ bị đổ vỡ khi Obama mới 2 tuổi. Ông Barack Hussein Obama trở về Kenya, với cuộc sống nghèo khổ, thêm tật nghiện rượu, ông qua đời năm 1982. Obama ở với mẹ, rồi bà Ann Dunham tái hôn với một người gốc Indonesia, vì vậy năm 1967 Obama theo học ở các trường tiểu học ở Jakarta, nơi chỉ giảng dạy bằng tiếng Indonesia. Quá khứ trắc trở so với các bạn da trắng cùng lứa tuổi đã từng đẩy Obama vào khủng hoảng như chính ông đã viết trong cuốn tự truyện “Giấc mơ của cha tôi” năm 1995: ông từng uống rượu, hút cần sa, thậm chí hít heroin để “đẩy ra khỏi đầu câu hỏi: tôi là ai”. Sẽ hiểu thêm sức nặng của câu hỏi đó khi biết rằng trong vận động tranh cử, Obama không ngần ngại giới thiệu vợ mình, nữ luật sư Michelle Obama, vốn mang dòng máu nô lệ da đen!
May mắn là chàng trẻ tuổi với những năm tháng tuổi trẻ khá buồn tủi ấy đã không rơi xuống vực, anh đã thoát hiểm khi trở về Los Angeles, được vào học tại đại học Occidental, để rồi tại đây khởi đầu con đường mới bằng một bài phát biểu trong cuộc biểu tình của sinh viên chống lại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Từ đó, sau bốn năm tại đại học Columbia theo học khoa học chính trị, Obama chuyển đến Chicago với vai trò của nhà tổ chức hoạt động cộng đồng để cuối 1988 vào học tại trường luật Havard và cuối năm, do điểm số xuất sắc, Obama được nhận vào làm biên tập viên tạp chí Havard Law Review danh tiếng để rồi trở thành chủ nhiệm tờ tạp chí đó bằng tài năng thực sự của mình. Từ đấy, luật sư Obama tiến vào con đường sự nghiệp chính trị bằng bản lĩnh và năng lực nổi trội của chính mình mà không hề có một bảo trợ về quá khứ gia đình dòng họ hoặc bất cứ một ô dù nào. Obama tự tin chinh phục cử tri của mình bằng quan điểm và trình độ hiểu biết sâu sắc của một người đã chiếm lĩnh được tri thức qua sự khổ luyện và dấn thân, với sự am hiểu thấu đáo về tầng lớp trung lưu và biết cách diễn đạt ý tưởng chính trị và hoài bão thay đổi nước Mỹ đi thẳng vào lòng người.
Ông được họ lắng nghe, ủng hộ đúng như lời của McCain trong phát biểu chúc mừng thắng lợi của Obama : “Người Mỹ đã lên tiếng”! Chính sự “lên tiếng” đó ghi nhận “hiện tượng Obama”, một biểu tượng của sự biến đổi! Và “sự thay đổi đã đến với nước Mỹ” như lời tuyên bố của Obama. Khi người Mỹ bỏ phiếu cho Obama, họ đã bỏ phiếu cho một khát vọng đổi mới cuộc sống. Khát vọng đó đủ sức vượt qua những cản ngại ghê gớm về tệ phân biệt chủng tộc đã trầm tích trong lòng nước Mỹ và ngoài nước Mỹ, về bề dày chính trị và sức mạnh tài chính của bản thân người sẽ đứng đầu Hợp chủng quốc Hoa Kỳ với gốc gác của ông ta. Đừng quên rằng, “mỗi bước tiến mới sẽ tất yếu biểu hiện ra như là một sự xúc phạm tới cái thiêng liêng, là một sự nổi loạn chống lại trạng thái cũ, đang suy đồi nhưng được tập quán thần thành hoá”, điều mà Ph. Ăngghen đã từng cảnh báo.**
Phải chăng cử tri Mỹ đã làm nên “sự nổi loạn” đó nhằm đổi thay một thực trạng kéo dài với những bước thăng trầm của một xã hội tích tụ trong nó những tiềm năng lớn lao cũng như những nghịch lý quái gở đã đến lúc phải có những đột phá để hướng đến một xã hội tốt đẹp hơn? Liệu đó có phải là cái đích mà Obama chỉ ra: “Chúng ta đã phải đợi rất lâu và hôm nay sự thay đổi đã đến với nước mỹ. Nhưng con đường phía trước sẽ dài và chúng ta phải vượt qua dốc đứng. Chúng ta sẽ không thể tới đích trong một năm hay thậm chí trong một nhiệm kỳ. Nhưng chưa bao giờ tôi tràn đầy hy vọng hơn lúc này rằng nước mỹ sẽ tới đích. Tôi hứa với các bạn rằng chúng ta sẽ tới được đích đó”.
Phải chăng vì cái đích đó mà cử tri Mỹ dám đưa vào Nhà Trắng một con người đã từng dằn vặt, trăn trở về thân phận hẩm hiu và tủi cực của mình với sự tự giày vò trong câu hỏi “tôi là ai” của một người Mỹ sinh ra tại Hawaii giữa Thái Bình Dương có bố là người Kenya, mẹ là người Mỹ da trắng ở bang Kansas. Cũng đừng quên rằng hành trình của cuộc đua vào Nhà Trắng được khởi đầu ở vào thế lép vế của một thượng nghị sĩ không khai thác được chút hào quang nào từ dòng họ mà là ngược lại, cũng chẳng có những thế lực tư bản hùng mạnh nào đỡ đầu như chính Obama giãi bày trong diễn văn đắc cử tổng thống tại công viên Grand Park ở Chicago: “Chúng tôi khởi đầu khi không có nhiều tiền hay sự hậu thuẫn. Chiến dịch của chúng tôi không khởi động trong những đại sảnh ở Washington, nó bắt đầu tại sân sau của khu nhà Des Moines và các phòng khách của khu nhà Concord và cả hiên trước của khu Charleston. Chiến dịch này được xây dựng nhờ những người lao động đã đóng góp 5, 10 và 20 USD từ khoản tiền tiết kiệm ít ỏi của mình”. Và Obama xúc động nói với những cử tri đã chọn ông: “Đây là chiến thắng của chính các bạn. Tôi biết các bạn không chỉ làm việc đó để giành chiến thắng trong cuộc bầu cử và tôi biết các bạn làm cũng không làm điều đó vì cá nhân tôi. Các bạn đã làm điều đó vì hiểu rõ tầm cỡ của nhiệm vụ đang nằm ở phía trước”.
Là giáo sư đại học ngành luật, luật sư, nhà báo từng phụ trách một tạp chí danh tiếng của đại học Havard, người Mỹ da mầu Obama giành thắng lợi vang dội chính là thắng lợi mang tính biểu tượng thời đại của nền kinh tế tri thức, của nền văn minh trí tuệ mà thế hệ trẻ, nguồn lực quyết định làm thay đổi thế giới đang khát khao hướng tới. Bộ máy vận động bầu cử của Obama đã huy động một đội ngũ tình nguyện viên tuổi từ 16 đến 35, được huấn luyện bài bản như một bầy ong thông minh cần mẫn, bằng mọi phương tiện nhằm đưa thông điệp đổi mới đến từng cử tri để chinh phục họ. Họ hiểu rằng còn có nhiều nghịch lý, nhiều sự thật phũ phàng và bất công, những mâu thuẫn chồng chất trong lòng nước Mỹ và thế giới, chính vì vậy họ mong chờ một sự thay đổi. Và vì muốn thay đổi, họ chọn Obama mặc dầu biết con đường phía trước còn rất nhiều chông gai.
Với “hiện tượng Obama”, người ta hiểu thêm được rằng, biến đổi chính là một hằng số trong thế giới đầy bất định khó mà tiên liệu được hết. Sức sống mới của các khả năng thích nghi và đổi mới của thời đại đã sáng tạo nên những hợp trội của tiến hoá, tạo ra đây đó những trật tự mới có chất lượng tổ chức cao hơn cho cuộc sống . Quả là chúng ta đang tiếp cận với một thế giơí mà độ phức tạp của nó đòi hỏi phải có cách tư duy mới để nhìn nhận và khám phá. Hệ thống lớn với những tầng cấu trúc cực kỳ phức tạp như xã hội loài người lại đang ở trong một thời kỳ mà các quy luật của lượng biến thành chất và phủ định của phủ định bột phát, tác động đa trùng ở nhiều tuyến, nhiều diện, cộng hưởng trong không gian và hội tụ trong thời gian. Người ta hiểu ra rằng, dường như quá khứ dừng lại ở đây, tương lai không còn là sự nối tiếp giản đơn theo tuyến tính của cái đã xảy ra trong cuộc sống. Nói cuộc sống, chính là nói sự vận động của tự nhiên và hoạt động của con người.
Trong vòng 30 năm qua từ thế kỷ XX bước sang thế kỷ XXI, thế giới đã trải qua những biến động dữ dội với những sự kiện làm thay đổi diện mạo chính trị trên bản đồ các quốc gia mà trước những năm 90 của thế kỷ XX không ai có thể hình dung được. Cùng với những biến động chính trị và xã hội long trời lỡ đất, cùng với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang tác động đến cuộc sống của cả loài người trên quả đất, nhất là những người nghèo, những nước nghèo, là những thiên tai dồn dập với những cơn sóng thần tàn phá các nước Nam Á và Đông nam Á dạo nào, những cuộc động đất khủng khiếp xảy ra trên đất nước đông dân nhất hành tinh…, đã cho chúng ta hiểu rõ về tính bất định và không dự đoán được của cái thế giới mà chúng ta đang sống. Thì riêng với chuyện nước mưa nhấn chìm Hà Nội vừa mở rộng khiến ngay giữa Thủ đô mà số người chết vì nước lụt lại lớn hơn tất cả các địa phương khác, ngoài việc phơi bày sự yếu kém của bộ máy quản lý đô thị càng chứng minh tính phức tạp của hoạt động quản lý đòi hỏi phải đặt vào đó những người có năng lực và phẩm chất như thế nào mới có đủ bản lĩnh để chủ động đối phó với biến động khó lường của thiên nhiên cũng như của xã hội.
Dòng chảy của cuộc sống ấy vẫn miệt mài không một phút giây ngừng nghỉ. Nói cuộc sống, chính là nói sự vận động của tự nhiên và hoạt động của con người. Miệt mài không ngừng nghỉ, song không phải là cái trước tiếp cái sau theo trình tự tuyến tính mà luôn nảy sinh những nhân tố mới, những tương tác mới tạo ra khả năng nảy sinh những hợp trội không dự báo trước được. Trật tự mới, tổ chức mới là do các thành phần liên kết, tương tác với nhau mà cùng tạo thành, chứ không phải được lập nên do một mệnh lệnh nào từ bên ngoài, từ bên trên quyết định. Trong dòng chảy miệt mài với những đột phá những hợp trội ấy của cuộc sống, con người tịến vào những miền đất mới mà hành trang cần thiết nhất chính là đôi mắt mới, một tư duy mới. Nếu chỉ quen với con đường mòn, người đi sau dẫm lên dấu chân của người đi trước, sẽ dẫn đến thảm hoạ vì con đường mòn đó không có lối ra trong một thế giới đầy biến động với những bước đột phá mà mọi sự dự đoán đều không chắc chắn.
Không có một bản đồ vạch sẵn cho con đường phía trước. Những kinh nghiệm có sẵn, những phương pháp truyền thống không còn đủ cho hành trình của dân tộc đi về phía trước. Vì thế, sáng tạo và linh hoạt trong tư duy cũng như trong hành động phải là phẩm chất hàng đầu của con người Việt Nam đang sống trong thời đại của những biến động như chúng ta đang chứng kiến.
Với những đột phá ấy của cuộc sống, con người tịến vào những miền đất mới mà hành trang cần thiết nhất chính là đôi mắt mới nhìn vào cuộc sống để phân tích và hành động. Hiện tượng Obama góp thêm một giục giã phải có đôi mắt mới ấy./.

Sự cáo chung cho một kiểu làm báo công chức, “thở bằng lỗ mũi người khác”?


Sau nhiều thời gian giữ im lặng trước công luận, vào chiều ngày 30-5, thứ trưởng Bộ Công an Nguyễn Văn Hưởng đã lên tiếng trong cuộc tiếp xúc với ông David Kramer, Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ rằng: 2 nhà báo Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải bị bắt vì “đã đưa tin bịa đặt, xâm hại đến lợi ích của tổ chức và cá nhân” chứ “không phải họ bị bắt vì viết bài chống tham nhũng như một số báo đã đưa tin”.

Từ nhận định này, chiểu theo quy định của pháp luật thì 2 nhà báo Chiến và Hải đã vi phạm vào điều 122 luật Hình sự.

Tham khảo điều luật:

Bộ Luật Hình sự

Điều 122. Tội vu khống

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

Ông Hưởng còn nói thêm: “Việt Nam là một đất nước có chủ quyền và có luật pháp. Không phải chúng tôi muốn bắt ai thì bắt”“Các nhà báo không phải là vùng cấm, đứng ngoài vòng pháp luật”

Những thông tin được Thứ trưởng bộ Công an chính thức phát đi, chuyển tải công khai trên mặt báo một lần nữa khẳng định rằng hai nhà báo NVC và NVH bị bắt giam là "đúng người, đúng tội" chứ chẳng phải có điều gì khuất tất như dư luận từng nghi ngại và ồn ào lên tiếng bấy lâu nay.

Vẫn biết hoài nghi về sự công minh của luật pháp cũng là chuyện bình thường, nhất là trong những khi xã hội còn nhiều điều trắng đen lẫn lộn. Nhưng mất lòng tin đến mức công khai treo ảnh của người bị coi là có tội ở nơi công sở thì tình hình đã trở nên thật nghiêm trọng. Liệu những 'tuyên bố" chẳng đặng đừng của ông Hưởng có xua tan được bầu không khí nghi kỵ bao quanh vụ án hy hữu này? Liệu những người ủng hộ 2 nhà báo vừa bị bắt giam có đủ bằng chứng và lỹ lẽ để chứng minh nhân vật của họ thật sự vô tội? Theo dõi các ý kiến biện hộ cho sự trong sạch của 2 nhà báo, có cảm giác lý lẽ còn mỏng manh, chứng cứ yếu ớt bởi chủ yếu chỉ dựa vào niềm tin và bấu víu vào các nguồn tin được cho là đáng tin cậy. Trớ trêu thay, niềm tin thì không có chứng lý mà mà các chứng lý là nguồn tin thì lại không thể chịu trách nhiệm pháp lý thay nhà báo được!

Tham khảo điều luật
Luật Báo chí

Điều 7. Cung cấp thông tin cho báo chí
Trích: “ Đối với vụ án đang được điều tra hoặc chưa xét xử thì các cơ quan tiến hành tố tụng có quyền không cung cấp thông tin cho báo chí, nhưng báo chí có quyền thông tin theo các nguồn tài liệu của mình và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin

Luật đã quy định vậy cho nên không thể nói rằng tôi viết bài dựa trên các thông tin do anh A.B.C cung cấp nên tôi không chịu trách nhiệm. Thử đặt một giả thiết: anh A đưa lửa vào tay tôi nên tôi mới đốt nhà anh B và tôi vô trách nhiệm trong việc đốt nha ấy - thì sẽ thấy ngay các lý lẽ bênh vực cho 2 nhà báo Chiến và Hải trong những ngày qua là không thể đứng vững.

Thành thử các nhà báo chân chính buộc phải lựa chọn: hoặc là tiếp tục bổ sung chứng cứ cụ thể, sát thực chứng minh công khai những gì mình thông tin là đúng và kiên quyết bảo vệ nó; hoặc là thừa nhận hành vi sai trái của mình, chấp hành nghiêm hình phạt của pháp luật để khẳng định tính thượng tôn pháp luật mà báo chí đang ra sức cổ súy mọi người hướng tới.

Rất có thể vụ án báo chí này sẽ là sự cáo chung cho một kiểu làm báo công chức, “thở bằng lỗ mũi người khác” mà đã hơn một lần mình đề cập tới!

Người Tử tù Câm

Truyện ngắn của Nguyễn Hoàng Linh


Hắn bị giam ở cạnh buồng của tôi. Gần một tháng trời kể từ ngày tôi bị giam vào đây, hắn không nói một lời nào. Dãy buồng B lẻ lặng như câm, như điếc. Theo số suất cơm của người “tù tự giác” bê vào thì cả dãy chỉ có hai người, tôi và hắn.

Thời gian lặng lẽ trôi đi như dòng nước chảy ngược. Tương lai chẳng thấy đâu mà chỉ toàn hiện lên quá khứ. Cái buồng giam bé hẹp chưa đầy 6 mét vuông, hai bệ xi măng lạnh ngắt, một bệ xí và một chiếc bể nước con khiến lồng ngực như khép lại, tức thở. Đêm đến, giấc ngủ chập chờn toàn những bóng ma và ác quỷ.

- Nó câm đấy! án “dựa cột”. Đang chờ ngày hành quyết.

- Trẻ lắm, mới 27 tuổi. Đẹp trai.

- Quê ở Thái Nguyên. Vừa cướp của, vừa giết người.

- Thỉnh thoảng khóc một mình. Tội nghiệp lắm!

...

Mỗi lần đưa cơm, người “tù tự giác” chỉ kịp thông tin từng mẩu về hắn như vậy. Cứ như người gom nhặt từng mẩu bánh mì rơi vãi để chắp thành một chiếc bánh mì, tôi mường tượng ra gương mặt và số phận của hắn.

***

“Có ai còn sống khô... ô... ông!”. Thình... Thình... Thình... Tôi giật mình tỉnh dậy. Đêm lặng ngắt, chỉ có tiếng o... o... của chiếc chấn lưu đèn ống mắc ngoài hành lang vọng vào. Cánh cửa sắt vẫn đóng im ỉm. Hình như có tiếng người, lại cả tiếng đập cửa? Không thể thế được. Đương nhiên không phải tiếng thằng câm. Vậy thì ai gọi? Vọng từ đâu đến? Hay là tiếng của những oan hồn?... Tim tôi đập thình thịch. Tôi khẽ nghiêng người, đưa mắt nhìn sang bệ xi măng bên cạnh. Không có gì. Không có bóng áo trắng nào nằm ở đấy cả. Người “tù tự giác” thỉnh thoảng nói với tôi rằng ở đây nhiều ma lắm. Hôm nào nghe tiếng chó tru lên ngoài xa là có ma về. Nhiều người tù đang đêm tỉnh dậy, thấy một bóng áo trắng nằm ngay bên cạnh mình. Rồi lại có người nhìn thấy ma đi lũ lượt ngoài hành lang, tay dắt cả chó ngao... Tôi không tin là trên đời này có ma và cũng chưa bao giờ gặp ma. Nhưng tôi vẫn cho rằng có một “thế giới vật chất phi truyền thống” nào đó, tồn tại ở một dạng sóng hạt nào đó mà chỉ một số người “bắt” được tần số mới cảm nhận được. Trường hợp nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Liên ngồi tại Hà Nội mà hướng dẫn người tìm mộ tận trên rừng Trường Sơn, nói đâu đúng đấy trong hàng trăm trường hợp thì đâu còn là sự ngẫu nhiên. Có lẽ ma đang nằm bên cạnh mình thật, đang nói, đang gọi thật, đang đập cửa thật mà mình chỉ cảm nhận được khi ngủ chứ không cảm nhận được khi thức. Tôi cứ tự an ủi mình bằng cách nghĩ như vậy và yên tâm quay mặt vào tường ngủ tiếp.

“Có ai còn số... ố... ống khô... ô... ông!”. Thình... Thình... Thình... Tôi lại choàng tỉnh. Song lần này khác với lần trước, sau tiếng “khô... ô... ông” cuối cùng ấy là một tiếng nấc vô vọng. Tôi tỉnh hẳn, ngồi bật dậy, lao ra cửa, tay nắm lấy song sắt. Ngoài hành lang vẫn vắng lặng. Ánh đèn nê-ông nhợt nhạt như màu của xác chết. Tôi lấy hết can đảm thì thào “Ai đấy! Có tôi đây!”. Tôi linh cảm thấy rằng đấy là tiếng gọi của thằng câm.

- Anh ở phòng nào? - Tiếng người reo lên nho nhỏ.

- B13! - Tôi thầm thì.

- Tôi B15. Tôi là thằng câm đây!

- Câm sao lại nói được?

Lặng đi vài giây, thằng câm khe khẽ:

- Chuyện dài lắm. Có lẽ tôi sắp phải “đi” rồi.

Rồi thằng câm kể: Quê tôi ở Thái Nguyên. Anh đã lên Thái Nguyên bao giờ chưa? Vùng đất đồi núi, chó ăn đá, gà ăn sỏi ấy, chẳng có cái gì tồn tại được trừ cây chè và cái đói, cái nghèo. Nhà tôi có sáu người. Nói là sáu song thực chất chỉ có năm: bố, mẹ và ba anh em tôi. Tôi ở giữa. Còn đứng thứ sáu là một con chó. Nó tên Tu Tu, bảy tuổi. Nhà tôi nghèo, thiếu đủ thứ song không thể thiếu con Tu Tu. Nó cùng vui, cùng buồn với tất cả mọi người trong nhà, nó thân thiện với bạn bè, người thân của gia đình nhưng cực kỳ hung dữ với những kẻ có tâm địa ác độc. Ai đến nhà chơi, nếu con Tu Tu nằm ngay bên cạnh khách, thỉnh thoảng gầm gừ, ấy là báo hiệu người nhà phải cảnh giác người đang ngồi chơi đấy mà tâm địa tối tăm. Còn những người khác, nó lảng ra ngoài cổng. Nó biết cảm thông, chia sẻ cái nghèo với chủ. Nhà tôi một tháng, năm thì mười họa mới có một bữa cơm có thịt, và hôm ấy, bao giờ con Tu Tu cũng biến mất, không ngồi chồm hỗm, vui vẻ với chủ như những bữa khác. Chỉ khi cả nhà ăn xong, bưng cái mâm bát ra bờ giếng để rửa thì nó mới len lén xuất hiện, la liếm những mẩu xương thừa một cách ngon lành. Có lẽ nó hiểu rằng có nó trong bữa ăn, số thịt ít ỏi kia sẽ phải chia làm sáu chứ không phải làm năm. Hành động “nghĩa hiệp” của nó khiến cả nhà tôi càng thương nó hơn, gặm miếng xương cũng gặm dối hơn, miếng thịt cũng cấu lại một ít giả vờ là xương để lại góc mâm dành cho nó.

Thế mà một hôm, đến bữa cơm chiều không thịt, không cá, con Tu Tu biến mất. Cả nhà tôi bàng hoàng, biết sự chẳng lành đã xảy ra với nó. Một tai họa khủng khiếp mà gia đình tôi chưa bao giờ gặp phải. Không thể ai bắt trộm được nó vì nó rất khôn và rất dữ. Nó không thể bỏ chúng tôi được vì cũng như chúng tôi không thể bỏ nó. Thế mà suốt từ trưa đến lúc cả nhà ngồi quanh một mâm cơm toàn ngọn rau lang luộc với muối vừng, nó vẫn không về. Cả nhà chẳng ai nuốt nổi lưng bát cơm. Bố tôi ngồi thẫn thờ trên chiếc phản cũ kỹ giữa nhà, rít thuốc lào sòng sọc. Mẹ tôi kê đôi dép nhựa rách, ngồi đầu thềm vừa ngóng con Tu Tu vừa lau nước mắt. Thằng em trai tôi bưng mâm cơm ra bờ giếng, khóc ti tỉ. Chỉ riêng ông anh tôi, mặt lì lì, chẳng nói chẳng rằng. Cả nhà nặng nề như có tang.

Khoảng 10 giờ đêm, anh tôi lôi tôi ra đầu nhà, giọng lạnh sắc:

- Thanh! Mày còn giữ con dao găm hồi trước không?

Tôi hơi chột dạ:

- Còn. Nhưng anh cần làm gì?

- Đi cứu con Tu Tu.

Tôi mứng quýnh:

- Sao? Anh tìm được con Tu Tu rồi à? Anh biết chỗ con Tu Tu à? Nó bị bắt trộm hay sao?

- Lấy con dao găm ra đây - Giọng anh vẫn lạnh ngắt.

Tôi cuống lên:

- Thế thì phải cứu bằng được nó - Nói rồi, tôi vội chạy vào bếp, lấy con dao giắt trên mái, giấu trong một ống tre.

Anh tôi bảo:

- Phải mang theo cái kìm cắt nữa. Nó đang bị nhốt ở trong một chiếc cũi mắt cáo.

Chúng tôi chuẩn bị xong xuôi và lặng lẽ ra đi trong đêm tối, hướng về thành phố. Hôm ấy trời đầy sao. Từ nhà tôi ra đến thành phố chưa đầy 6km. Gió heo may mát lạnh của mùa thu không làm giảm khí thế hừng hực trong tôi. Song tôi có biết đâu rằng, đó là một đêm tối định mệnh, một đêm không bao giờ xảy ra lần thứ hai trong đời.

- Sao anh tìm ra đứa bắt trộm con Tu Tu?

- Nó không bị bắt trộm. Tao đã bán nó.

- Trời! - Tôi kêu lên và đứng sựng lại giữa lưng chừng dốc một quả đồi – Không thể có việc đó được. Anh nói dối.

Anh tôi kéo tay tôi lôi đi:

- Tao nói thật đấy.

- Anh không phải là người vô lương tâm. Nếu vô lương tâm, con Tu Tu nó đã biết, nó sẽ không bao giờ chơi với anh. Nhưng đằng này, nó quý anh nhất nhà...

Anh tôi vẫn lầm lũi đi về hướng thành phố. Đường đồi gập ghềnh, mấp mô, chỗ lồi chỗ lõm. Thỉnh thoảng chúng tôi lại bị vấp ngã chúi mũi.

- Anh bán cho nhà nào?

- Tuấn thịt chó.

Mấy tiếng “Tuấn thịt chó” khiến tôi choáng váng. Con Tu Tu mà vào tay nhà ấy chắc gì giờ này còn sống. Như hiểu được tâm trạng của tôi, anh nói:

- Hôm nay đầu tháng, khách ăn thịt chó ít, nó chưa bị giết đâu. Tao vừa đi quan sát về.

- Sao anh lại bán nó? - Tôi hỏi và hồi hộp đợi câu trả lời.

Bóng đen bên cạnh tôi vẫn lầm lũi di chuyển, rồi phát ra những âm thanh cục mịch, khô khốc như những viên sỏi ném vào màn đêm:

- Tao cần tiền. Thằng Tiến bị tai nạn gãy chân. Không có tiền chạy chữa. Tao chẳng còn cách nào khác.

Tôi thở dài và thấy thương anh tôi. Anh Tiến là bạn nối khố của anh tôi từ nhỏ, cùng học với nhau, cùng đi làm thuê với nhau và cùng cảnh nghèo với nhau. Chỉ khác một điều bố mẹ anh Tiến mất sớm, để lại 3 đứa em nhỏ, nhà nghèo đến sát tận xương tủy. Quả thật, đối với anh tôi, giữa anh Tiến và con Tu Tu, chẳng thể phân biệt bên nào hơn bên nào, chỉ có điều một bên là con chó và một bên là con người. Anh Tiến hơn phân có lẽ là vì cuộc sống của 3 đứa em nhỏ. Anh Tiến sống thì chúng nó sẽ sống...

Nhà Tuấn thịt chó ở ngoại thành, bên con đường đá lẫn nhựa lổn nhổn. Đằng sau nhà là một cái ao lớn, xung quanh trồng chè lúp xúp. Trong bóng đêm, anh tôi chỉ cho tôi chỗ nhốt con Tu Tu, phần chái nhà sau bếp. Từ chỗ hàng rào bên hông nhà, qua vườn chè là tới bếp. Cũi chó đặt ở đó. Tôi được phân công đứng ngoài hàng rào nghe ngóng.

Anh tôi như một con mèo, nhẹ nhàng nhảy qua hàng rào cao ngang lưng, lom khom vượt qua vườn chè, tiến về phía bếp. Có tiếng “ư ử” khe khẽ của con Tu Tu. Nó đã đánh hơi được chủ. Tim tôi như muốn vỡ ra. Con Tu Tu vì vui mừng mà làm lộ thì không còn cách nào cứu thoát. Thật may, con Tu Tu đã im bặt, chỉ còn tiếng thở của nó. Rồi tiếng lách cách kìm cắt dây thép... Bỗng có tiếng kẹt cửa. Tôi nín thở. Cửa nhà trên mở. Ông chủ thịt chó từ từ tiến về phía nhà bếp. Nguy mất rồi, ông ta đã chặn đường ra. Nếu lộ, chỉ còn một nước là nhảy xuống ao, mà xuống ao là đường tử.

Có tiếng vật nhau uỳnh uỵch. Tiếng kêu thất thanh. Tiếng ú ớ. Tiếng chân người chạy sầm sầm trong nhà, ngoài bếp. Tôi đang loay hoay chưa biết làm thế nào thì thấy bóng con Tu Tu vút qua hàng rào. Tiếp là anh tôi vụt qua theo, ngay chỗ tôi ngồi náu. Một bóng đen đuổi sát. Theo phản xạ tự nhiên, tôi vụt dậy, lao ra ôm chặt lấy bóng đen. Sau mấy giây vật lộn, giằng ra không được, bóng đen liền ôm chặt lấy tôi và hô lớn: “Cướp! Cướp! Bà con ơi, bắt lấy nó”. Dân chúng vây quanh tôi, đèn pin loang loáng. Tôi bị đánh một trận nhừ tử. Mặt mũi, tay chân chỗ nào cũng sưng húp, đau nhừ. Họ dùng dây thừng trói gô tôi lại như bó giò, kéo lê tôi tới đồn công an...

* * *

Cửa sắt nhà giam ken két mở. Tiếng kể chuyện của thằng câm im bặt. ở trong nhà giam này, mọi người ai mắt cũng kém đi và tai lại thính lên, thính nhạy không kém gì tai chó, tai mèo. Chỉ nghe tiếng chân người đi ngoài hành lang là biết đó là ai, quản giáo hay “tù tự giác”, người chữa điện hay người đưa cơm. Tiếng mở cửa, đóng cửa sắt cũng như giới thiệu được tên người, tính cách. Hôm nay, đang nửa đêm có cán bộ quản giáo đi tuần thế này, chắc là có vấn đề nghiêm trọng.

Tiếng giày của người cán bộ quản giáo rõ dần. Tôi vội chui vào màn, nằm im giả vờ ngủ. Ông quản giáo này tên là Duy, quê ở Bắc Ninh. Ông có gương mặt đầy đặn, phúc hậu, song đôi mắt hơi buồn, khi nói chuyện, đôi chân mày hơi nhíu lại. Người ta bảo những người như thế thường đa cảm, thương người, số sẽ vất vả. Riêng với ông quản giáo Duy, tôi có cảm tình với ông ngay từ đầu, không phải chỉ vì tướng mạo mà vì cách cư xử. Ông quan tâm đến tù nhân như bác sĩ quan tâm tới bệnh nhân, hỏi han, chăm lo từng tí một. Chính ông đã khiến tôi xoá hết những gì ác cảm từ xưa đến nay về nhà tù. Thì ra, nơi nào cũng có những người tốt, thậm chí rất tốt nữa là đằng khác.

Quản giáo Duy đến trước cửa buồng giam chúng tôi thì dừng lại, nghe ngóng một hồi rồi lẩm bẩm:

- Quái, rõ ràng có tiếng người rì rầm ở chỗ này. Chẳng lẽ lại có ma?

Ông nghé vào buồng tôi, sang buồng thằng câm đứng một lúc, lẩm bẩm thêm vài câu gì đó rồi quay trở lại phòng trực ban.

Một lát sau, tiếng thằng câm thì thầm:

- Anh vẫn còn thức đấy chứ?

- Còn! Tôi vẫn nghe đây. Anh không giết người sao lại nhận án tử hình?

- Tôi không giết người nhưng anh tôi giết. Tôi không thể ngờ được rằng anh tôi đã đâm chết ông chủ hiệu thịt chó. Đêm hôm ấy, họ hỏi cung tôi. Tôi nói tôi là người qua đường, thấy tiếng í ới, nhộn nhạo, rồi thấy có người nhảy qua hàng rào. Tôi nghĩ là kẻ trộm nên ôm chặt lấy người đó. Tôi không hề biết đấy là con trai ông chủ hiệu thịt chó. Cũng không biết là trong nhà có vụ giết người. Nói rồi, nói mãi, công an họ vẫn không tin. Họ cho xét nghiệm hiện trường, xét nghiệm tất cả những thứ trên người tôi có. Họ nói rằng mấy sợi tóc rơi trên nền bếp nhà ông chủ hiệu thịt chó chính là của tôi. Vết máu trên áo tôi là máu của ông chủ hiệu thịt chó. Tất cả mọi chứng cứ đều chống lại tôi. Vợ chồng con trai ông chủ thịt chó quyết tâm trả thù cho cha bằng cách dựng hiện trường giả. Ngay sau khi tôi bị dẫn lên đồn công an, nó lập tức về mở tung cửa tủ, vứt mấy cái nhẫn vàng vung vãi khắp nhà. Lấy ngay cái gậy mà nó đã đánh vào đầu tôi làm tang vật để lấy mẫu máu và tóc của tôi tại hiện trường. Vết máu trên áo tôi chính là vết máu trên áo nó dây sang. Khi vật lộn trong bếp, máu của bố nó đã thấm đẫm vào nó. Rồi khi vật lộn với tôi, máu ấy lại dây sang tôi. Cái bản tự khai của vợ chồng nó mới ác độc. Nó mô tả rằng khi nghe tiếng cạy cửa, vợ chồng nó đã biết là kẻ trộm, song khi thấy tay tôi lăm lăm cầm dao, nên không dám động tĩnh gì. Đến khi tôi cạy tủ, lấy hết vàng bạc nhà nó chuồn ra sau bếp thì chẳng may đúng lúc ông bố ở nhà dưới dậy ra vườn đi tiểu đêm bắt gặp, thế là tôi bỏ của chạy lấy người, đâm chết bố nó. Chạy ra đến hàng rào thì nó đuổi bắt được tôi.

Trong vụ việc này, chỉ có hai người biết chắc chắn tôi không phải là kẻ giết người, cướp của, đó là con ông chủ thịt chó và anh trai tôi. Tôi đã từng hy vọng lương tâm con ông chủ thịt chó sẽ cắn rứt, sẽ tự đứng ra rút lời khai bịa đặt kia. Nhưng việc ấy đã không xảy ra. Tôi không trách gì anh ta. Nỗi đau mất cha của anh ta quá lớn. Đời anh ta lại quá quen với mùi tanh của máu, dù đó là máu chó. Nếu một chút nào vô lương tâm, độc ác và tàn nhẫn thì cũng là điều dễ hiểu. Còn anh trai tôi, sau khi nghe tôi bị kết án tử hình, anh trở nên điên loạn, lúc khóc, lúc cười, thỉnh thoảng lại đập đầu vào bất cứ thứ gì có thể đập được và kêu đến khản tiếng: “Tôi giết em tôi rồi! Tôi giết em tôi rồi!”. Một ngày kia, anh viết đơn tự thú kể lại tất cả. Từ việc bán con Tu Tu, đi cứu con Tu Tu, rồi bị dồn vào tình thế quẫn bách, vô thức nên đã vô ý giết người. Trong đơn, anh xin chịu tội chết thay cho tôi vì tôi không có tội. Tôi không hiểu cái đơn tự thú ấy có làm ai tin không, song tại buổi thẩm vấn gần đây nhất, tôi đã viết bản lời khai xác định rằng tôi là kẻ giết người. Anh ấy thương tôi mà nghĩ ra câu chuyện ấy. Lời khai của tôi được các cơ quan pháp luật tin ngay lập tức, vì tất cả các sự kiện được khớp vào nhau đến mức không thể còn một khe hở nghi ngờ nào lọt qua. Người tố cáo có, người làm chứng có, người nhận tội có, vật chứng có... tất cả đều y như thật.

Tôi làm việc này vì đã nghĩ kỹ lắm rồi. Ở đời, ân oán phải sòng phẳng. Nhà mình đã giết chết một người của nhà người ta thì nhà mình phải có một người đền mạng. Mình không đền rồi cuộc đời cũng sẽ bắt mình phải đền. Việc đã lỡ rồi, làm sao bây giờ. Cả nhà tôi bây giờ chỉ có tôi là đáng đền mạng nhất. Bố mẹ tôi thì già rồi, bao nhiêu năm nuôi chúng tôi khôn lớn, vất vả nhọc nhằn từ mờ sáng đến tối mịt, không đáng phải chịu đựng thêm bất cứ một bất hạnh nào của cuộc đời. Em trai tôi còn nhỏ dại, nó cần phải được học hành nên người. Còn anh tôi. Anh ấy lại càng đáng được sống hơn, vì anh ấy đã mất cả cha lẫn mẹ. Từ nhỏ đến lớn, nỗi đau mất mát luôn luôn đeo đẳng anh ấy mặc dù gia đình tôi, kể cả con Tu Tu, đã dành cho anh tình thương lớn nhất.

***

Lại có tiếng lách cách khoá cửa sắt phía đầu hành lang. Vẫn tiếng giày của quản giáo Duy. Chúng tôi im bặt và chui vào màn giả vờ ngủ. Tiếng ngáp dài và tiếng lầu bầu vọng vào: “Đúng là có ma. Hay mình mơ ngủ. Vớ vẩn thật”. Tiếng giày xa dần, xa dần.

* * *

Câu chuyện của chúng tôi lại tiếp tục.

Bố tôi và bố anh ấy cùng chung đơn vị bộ đội. Trong một trận chiến đấu, bố anh ấy bị thương nặng. Trước khi mất, ông nắm tay bố tôi vừa nói vừa ứa nước mắt: ”Tôi chỉ có duy nhất một đứa con trai. Nó mất mẹ từ nhỏ. Nó không thể không có bố. Anh hãy là bố nó thay tôi”. Nói rồi, ông tắt thở. Anh tôi lớn lên trong gia đình tôi như người con đẻ. Anh thương bố mẹ nuôi, thương các em, thương con Tu Tu hơn cả thân mình.

Anh sống tự tin và hiếu thảo. Anh chưa làm điều ác với ai bao giờ. Với bạn bè, anh không tiếc một thứ gì. Như việc của anh Tiến đấy, anh đã phải đứt ruột bán con Tu Tu để cứu lấy bạn, cứu lấy cuộc sống của ba đứa em nhỏ của bạn. Rồi lại phải làm cái việc vô cùng độc ác để cứu con Tu Tu. Anh ấy đang có người yêu. Anh ấy sẽ lấy vợ, và sẽ có con. Bố anh ấy dưới suối vàng chắc sẽ mãn nguyện lắm...

***

Câu chuyện của thằng tử tù câm cứ thì thầm, thì thầm như một huyền thoại. Lời kể của hắn tuôn như suối chảy, rì rào, trong vắt, thanh thản, không giận hờn, không nuối tiếc. Cuộc sống bình dị của một gia đình nghèo vùng bán sơn địa thấp thoáng trong trí tưởng tượng của tôi. Một mái nhà tranh thưng ván gỗ nằm nép dưới chân một đồi chè. Từ đỉnh đồi, những hàng chè mềm mại như sóng biển lan dần xuống chân đồi. Nắng sớm nhuộm vàng xanh những đồi chè lô xô. Nhìn màu nắng, người ta liên tưởng đến bát nước chè xanh cắm tăm, đượm chát và ngọt hậu. Nếu không có câu chuyện của thằng câm, tôi không thể nghĩ rằng ở đó có những con người sống cao nghĩa đến như thế. Tôi hỏi vọng sang:

- Thế anh bị câm từ khi nào?

- Ngay tại phiên tòa, sau khi nghe tuyên án: “Chịu mức hình phạt cao nhất: Tử hình!”. Tôi muốn thốt lên một lời nào đấy song lưỡi cứng lại, cổ họng nóng ran như bị đứt một cái gì đó. Và từ đấy, âm thanh duy nhất của tôi có thể phát ra được là tiếng ú ớ. Bản năng sinh tồn đã khiến có một phần nghìn tia hy vọng loé lên trong tôi, rằng sự thật và sự trong sáng của lương tâm sẽ phán quyết tại tòa. Thế nào tòa cũng tìm ra được một dấu vết nào đấy của sự thật. Chân lý sẽ được khẳng định, nhưng tôi đã nhầm. Tất cả đã được định sẵn. Đã sáu tháng rồi, không hiểu tại sao hôm nay tôi lại nói được. Có lẽ điềm trời báo trước là tôi sắp đi rồi.

***
Quả đúng như thằng câm dự đoán. Khoảng 4 giờ sáng, tiếng khóa hành lang lách cách. Tiếng chân rậm rịch, toàn người lạ, đi về phía chúng tôi. Cửa buồng giam thằng câm được mở. Tiếng xích sắt loảng xoảng, tiếng trao đổi thì thầm. Tôi nhổm dậy, nhìn qua song sắt và nổi gai khắp người: “ Đội thi hành án”.

Thằng câm đi qua buồng tôi, gương mặt trẻ trung, cương nghị, thông minh hiện ra trước mắt tôi. Trong giây lát, tôi thoáng thấy hai giọt nước mắt lăn trên gò má như còn lông măng của hắn. Tôi hai tay nắm chặt chấn song sắt nhà tù, muốn hét lên một câu: “Thả người ta ra, người ta không có tội” nhưng không phát ra được lời nào. Lưỡi tôi cứng lại, cổ họng tôi nóng ran như bị cứa đứt một cái gì đó. Tôi gục vào cánh cửa. Nước mắt cứ thế trào ra...

Ngồi buồn đốt rơm...

Nhân có chuyện lùm xùm nhà về nhà báo bị bắt, mình vào google gõ tên một vài tờ báo mạng của các tỉnh đọc chơi.

Trong số 10 đầu báo mình chọn ngẫu nhiên gồm: An Giang, Bắc Ninh, Khánh Hòa, Phú Thọ, Hà Giang, Nghệ An, Hòa Bình, Lâm Đồng, Quảng Ngãi, Bình Thuận thì vào thời điểm 18h ngày 22-05-2008, trang báo có lượt người truy cập cao nhất là Hòa Bình: 7421453 ( gấp rưỡi số lượt người truy cập blog Trang Hạ), kế đến là Hà Giang 2402692, Khánh Hòa 2278813; trang có số lượng người vào đọc ít nhất là Bắc Ninh: 4311 (thua xa một trang blog bình thường), Lâm Đồng 21405, An Giang 78719; các trang khác nằm trong khoảng và trăm ngàn đến trên 1 triệu lượt người đọc. Cũng xin lưu ý rằng những trang báo điện tử này có “tuổi thọ” đã tính bằng năm tháng.

Chưa bàn đến nội dung, chỉ căn cứ đơn thuần vào số view page cũng có thể nhận thấy hiệu quả tuyên truyền (tại thời điểm này) của các trang báo điện tử địa phương rất hạn chế (nếu không muốn nói là kém). Trong khi đó việc đầu tư, duy trì hoạt động của các website này không phải là nhỏ chí ít cũng ngốn đến khoảng vài trăm triệu đồng mỗi năm.

Với chính sách tiếp tục bao cấp cho hoạt động báo chí như hiện nay thì cũng cần thiết phải đặt ra tiêu chí cụ thể cho sự tồn tại của một cơ quan báo hay một loại hình báo chí nào đó. Ngoài những đòi hỏi khắt khe về mặt nội dung thì số lượng phát hành (đối với báo in), lượt người truy cập (đối với báo mạng) cũng nhất định phải được tính đến.

Những sản phẩm báo chí không được người tiêu dùng đón nhận liệu có nên tiếp tục rót tiền để hà hơi tiếp sức cho sự tồn tại của nó?


Đọc lại một entry cũ: http://blog.360.yahoo.com/blog-1947mj89erZh9Ac_IrLivMa79A--?cq=1&p=195#comments

Câu chuyện bát mỳ



Nguồn : dactrung.net

Đêm giao thừa, ăn mì sợi đón năm mới là phong tục tập quán của người Nhật, cho nên đến ngày đó công việc làm ăn của quán mì rất phát đạt. Ngày thường, đến chạng vạng tối trên đường phố hãy còn tấp nập ồn ào nhưng vào ngày này mọi người đều lo về nhà sớm hơn một chút để kịp đón năm mới. Vì vậy đường phố trong phút chốc đã trở nên vắng vẻ.
Ông chủ Bắc Hải Đình là một người thật thà chất phát, còn bà chủ là một người nhiệt tình, tiếp đãi khách như người thân. Đêm giao thừa, khi bà chủ định đóng cửa thì cánh cửa bị mở ra nhè nhẹ, một người phụ nữ trung niên dẫn theo hai bé trai bước vào. Đứa nhỏ khoảng sáu tuổi, đứa lớn khoảng 10 tuổi. Hai đứa mặc đồ thể thao giống nhau, còn người phụ nữ mặc cái áo khoác ngoài lỗi thời.
- Xin mời ngồi!
Nghe bà chủ mời, người phụ nữ rụt rè nói:
- Có thể... cho tôi một... bát mì được không?
Phía sau người phụ nữ, hai đứa bé đang nhìn chăm chú.
- Đương nhiên... đương nhiên là được, mời ngồi vào đây.
Bà chủ dắt họ vào bàn số hai, sau đó quay vào bếp gọi to:
- Cho một bát mì.
Ba mẹ con ngồi ăn chung một bát mì trông rất ngon lành, họ vừa ăn vừa trò chuyện khe khẽ với nhau. "Ngon quá" - thằng anh nói.
- Mẹ, mẹ ăn thử đi - thằng em vừa nói vừa gắp mì đưa vào miệng mẹ.
Sau khi ăn xong, người phụ nữ trả một trăm năm mươi đồng. Ba mẹ con cùng khen: "Thật là ngon! Cám ơn!" rồi cúi chào và bước ra khỏi quán.
- Cám ơn các vị! Chúc năm mới vui vẻ - ông bà chủ cùng nói.

Công việc hàng ngày bận rộn, thế mà đã trôi qua một năm. Lại đến ngày 31/12, ngày chuẩn bị đón năm mới. Công việc của Bắc Hải Đình vẫn phát đạt. So với năm ngoái, năm nay có vẻ bận rộn hơn. Hơn mười giờ, bà chủ toan đóng cửa thì cánh cửa lại bị mở ra nhè nhẹ. Bước vào tiệm là một người phụ nữ dẫn theo hai đứa trẻ. Bà chủ nhìn thấy cái áo khoác lỗi thời liền nhớ lại vị khách hàng cuối cùng năm ngoái.
- Có thể... cho tôi một... bát mì được không?
- Đương nhiên... đương nhiên, mời ngồi!
Bà chủ lại đưa họ đến bàn số hai như năm ngoái, vừa nói vọng vào bếp:
- Cho một bát mì.
Ông chủ nghe xong liền nhanh tay cho thêm củi vào bếp trả lời:
- Vâng, một bát mì!
Bà chủ vào trong nói nhỏ với chồng:
- Này ông, mình nấu cho họ ba bát mì được không?
- Không được đâu, nếu mình làm thế chắc họ sẽ không vừa ý.
Ông chủ trả lời thế nhưng lại bỏ nhiều mì vào nồi nước lèo, ông ta cười cười nhìn vợ và thầm nghĩ: "Trông bà bề ngoài khô khan nhưng lòng dạ cũng không đến nỗi nào!"
Ông làm một tô mì to thơm phức đưa cho bà vợ bưng ra. Ba mẹ con ngồi quanh bát mì vừa ăn vừa thảo luận. Những lời nói của họ đều lọt vào tai hai vợ chồng ông chủ quán.
- Thơm quá!
- Năm nay vẫn được đến Bắc Hải Đình ăn mì thật là may mắn quá!
- Sang năm nếu được đến đây nữa thì tốt biết mấy!
Ăn xong, trả một trăm năm mươi đồng, ba mẹ con ra khỏi tiệm Bắc Hải Đình.
- Cám ơn các vị! Chúc năm mới vui vẻ!
Nhìn theo bóng dáng ba mẹ con, hai vợ chồng chủ quán thảo luận với nhau một lúc lâu.

Đến ngày 31/12 lần thứ ba, công việc làm ăn của Bắc Hải Đình vẫn rất tốt, vợ chồng ông chủ quán bận rộn đến nỗi không có thời gian nói chuyện. Đến 9g30 tối, cả hai người đều cảm thấy trong lòng có một cảm giác gì đó khó tả. Đến 10 giờ, nhân viên trong tiệm đều
đã nhận bao lì xì và ra về. Ông chủ vội vã tháo các tấm bảng trên tường ghi giá tiền của năm nay là “200đ/bát mì” và thay vào đó giá của năm ngoái “150đ/bát mì”. Trên bàn số hai, ba mươi phút trước bà chủ đã đặt một tờ giấy "Đã đặt chỗ". Đúng 10g30, ba mẹ con xuất hiện, hình như họ cố chờ khách ra về hết rồi mới đến. Đứa con trai lớn mặc bộ quần áo đồng phục cấp hai, đứa em mặc bộ quần áo của anh, nó hơi rộng một chút, cả hai đứa đều đã lớn rất nhiều.
- Mời vào! Mời vào! - bà chủ nhiệt tình chào đón.
Nhìn thấy khuôn mặt tươi cười của bà chủ, người mẹ chậm rãi nói:
- Làm ơn nấu cho chúng tôi... hai bát mì được không?
- Được chứ, mời ngồi bên này!
Bà chủ lại đưa họ đến bàn số hai, nhanh tay cất tờ giấy "Đã đặt chỗ" đi, sau đó quay vào trong la to: "Hai bát mì".
- Vâng, hai bát mì. Có ngay.
Ông chủ vừa nói vừa bỏ ba phần mì vào nồi.
Ba mẹ con vừa ăn vừa trò chuyện, dáng vẻ rất phấn khởi. Đứng sau bếp, vợ chồng ông chủ cũng cảm nhận được sự vui mừng của ba mẹ con, trong lòng họ cũng cảm thấy vui lây.
- Tiểu Thuần và anh lớn này, hôm nay mẹ muốn cảm ơn các con!
- Cảm ơn chúng con? Tại sao ạ?
- Chuyện là thế này: vụ tai nạn xe hơi của bố các con đã làm cho tám người bị thương, công ty bảo hiểm chỉ bồi thường một phần, phần còn lại chúng ta phải chịu, vì vậy mấy năm nay mỗi tháng chúng ta đều phải nộp năm mươi ngàn đồng.
- Chuyện đó thì chúng con biết rồi - đứa con lớn trả lời.
Bà chủ đứng bên trong không dám động đậy để lắng nghe.
- Lẽ ra phải đến tháng ba năm sau chúng ta mới nộp hết nhưng năm nay mẹ đã nộp xong cả rồi!
- Hả, mẹ nói thật đấy chứ?
- Ừ, mẹ nói thật. Bởi vì anh lớn nhận trách nhiệm đi đưa báo, còn Tiểu Thuần giúp mẹ đi chợ nấu cơm làm mẹ có thể yên tâm làm việc, công ty đã phát cho mẹ một tháng lương đặc biệt, vì vậy số tiền chúng ta còn thiếu mẹ đã nộp hết rồi.
- Mẹ ơi! Anh ơi! Thật là tốt quá, nhưng sau này mẹ cứ để con tiếp tục nấu cơm nhé.
- Con cũng tiếp tục đi đưa báo. Tiểu Thuần chúng ta phải cố gắng lên!
- Mẹ cám ơn hai anh em con nhiều!
- Tiểu Thuần và con có một bí mật chưa nói cho mẹ biết. Đó là vào một ngày chủ nhật của tháng mười một, trường của Tiểu Thuần gửi thư mời phụ huynh đến dự một tiết học. Thầy giáo của Tiểu Thuần còn gửi một bức thư đặc biệt cho biết bài văn của Tiểu Thuần đã được chọn làm đại diện cho Bắc Hải đảo đi dự thi văn toàn quốc. Con nghe bạn của Tiểu Thuần nói mới biết nên hôm đó con đã thay mẹ đến dự.
- Có thật thế không? Sau đó ra sao?
- Thầy giáo ra đề bài: “Chí hướng và nguyện vọng của em là gì?” Tiểu Thuần đã lấy đề tài bát mì để viết và được đọc trước tập thể nữa chứ. Bài văn được viết như sau: "Ba bị tai nạn xe mất đi để lại nhiều gánh nặng. Để gánh vác trách nhiệm này, mẹ phải thức khuya dậy sớm để làm việc". Đến cả việc hàng ngày con phải đi đưa báo, em cũng viết vào bài nữa. Lại còn: "Vào tối 31/12, ba mẹ con cùng ăn một bát mì rất ngon. Ba người chỉ gọi một tô mì, nhưng hai vợ chồng bác chủ tiệm vẫn cám ơn và còn chúc chúng tôi năm mới vui vẻ nữa. Lời chúc đó đã giúp chúng tôi có dũng khí để sống, khiến cho gánh nặng của ba để lại nhẹ nhàng hơn".
Vì vậy Tiểu Thuần viết rằng nguyện vọng của nó là sau này mở một tiệm mì, trở thành ông chủ tiệm mì lớn nhất ở Nhật Bản, cũng sẽ nói với khách hàng của mình những câu như: "Cố gắng lên! Chúc hạnh phúc! Cám ơn!"
Đứng sau bếp, hai vợ chồng chủ quán lặng người lắng nghe ba mẹ con nói chuyện mà nước mắt lăn dài.
- Bài văn đọc xong, thầy giáo nói: anh của Tiểu Thuần hôm nay thay mẹ đến dự, mời em lên phát biểu vài lời.
- Thật thế à? Thế lúc đó con nói sao?
- Bởi vì quá bất ngờ nên lúc đầu con không biết phải nói gì cả, con nói: "Cám ơn sự quan tâm và thương yêu của thầy cô đối với Tiểu Thuần. Hàng ngày em con phải đi chợ nấu cơm nên mỗi khi tham gian hoạt động đoàn thể gì đó nó đều phải vội vả về nhà, điều này gây không ít phiền toái cho mọi người. Vừa rồi khi em con đọc bài văn thì trong lòng con cảm thấy sự xấu hổ nhưng đó là sự xấu hổ chân chính. Mấy năm nay mẹ chỉ gọi một bát mì, đó là cả một sự dũng cảm. Anh em chúng con không bao giờ quên được... Anh em con tự hứa sẽ cố gắng hơn nữa, quan tâm chăm sóc mẹ nhiều hơn. Cuối cùng con nhờ các thầy cô quan tâm giúp đỡ cho em con."
Ba mẹ con nắm tay nhau, vỗ vai động viên nhau, vui vẻ cùng nhau ăn hết tô mì đón năm mới rồi trả 300 đồng, nói câu cám ơn vợ chồng chủ quán, cúi chào và ra về. Nhìn theo ba mẹ con, vợ chồng ông chủ quán nói với theo:
- Cám ơn! Chúc mừng năm mới!

Lại một năm nữa trôi qua.
Bắc Hải Đình vào lúc 9g tối, bàn số hai được đặt một tấm giấy "Đã đặt chỗ" nhưng ba mẹ con vẫn không thấy xuất hiện.
Năm thứ hai rồi thứ ba, bàn số hai vẫn không có người ngồi. Ba mẹ con vẫn không thấy trở lại. Việc làm ăn của Bắc Hải Đình vẫn như mọi năm, toàn bộ đồ đạc trong tiệm được thay đổi, bàn ghế được thay mới nhưng bàn số hai thì được giữ lại y như cũ.
"Việc này có ý nghĩa như thế nào?" Nhiều người khách cảm thấy ngạc nhiên khi nhìn thấy cảnh này nên đã hỏi. Ông bà chủ liền kể lại câu chuyện bát mì cho mọi người nghe. Cái bàn cũ kia được đặt ngay chính giữa, đó cũng là một sự hy vọng một ngày nào đó ba vị khách kia sẽ quay trở lại, cái bàn này sẽ dùng để tiếp đón họ. Bàn số hai "cũ" trở thành "cái bàn hạnh phúc", mọi người đều muốn thử ngồi vào cái bàn này.

Rồi rất nhiều lần 31/12 đã đi qua.

Lại một ngày 31/12 đến. Các chủ tiệm lân cận Bắc Hải Đình sau khi đóng cửa đều dắt người nhà đến Bắc Hải Đình ăn mì. Họ vừa ăn vừa chờ tiếng chuông giao thừa vang lên. Sau đó, mọi người đi bái thần, đây là thói quen năm, sáu năm nay. Hơn 9g30 tối, trước
tiên vợ chồng ông chủ tiệm cá đem đến một chậu cá còn sống. Tiếp đó, những người khác đem đến nào là rượu, thức ăn, chẳng mấy chốc đã có khoảng ba, bốn chục người. Mọi người rất vui vẻ.
Ai cũng biết lai lịch của bàn số hai. Không ai nói ra nhưng thâm tâm họ đang mong chờ giây phút đón mừng năm mới. Người thì ăn mì, người thì uống rượu, người bận rộn chuẩn bị thức ăn… Mọi người vừa ăn, vừa trò chuyện, từ chuyện trên trời dưới đất đến chuyện nhà bên có thêm một chú nhóc nữa. Chuyện gì cũng tạo thành một chuỗi câu chuyện vui vẻ. Ở đây ai cũng coi nhau như người nhà.
Đến 10g30, cửa tiệm bỗng nhiên mở ra nhè nhẹ, mọi người trong tiệm liền im bặt và nhìn ra cửa. Hai thanh niên mặc veston, tay cầm áo khoác bước vào, mọi người trong quán thở phào và không khí ồn ào náo nhiệt trở lại. Bà chủ định ra nói lời xin lỗi khách vì quán đã hết chỗ thì đúng lúc đó một người phụ nữ ăn mặc hợp thời trang bước vào, đứng giữa hai thanh niên.
Mọi người trong tiệm dường như nín thở khi nghe người phụ nữ ấy nói chầm chậm:
- Làm ơn... làm ơn cho chúng tôi ba bát mì được không?
Gương mặt bà chủ chợt biến sắc. Đã mười mấy năm rồi, hình ảnh bà mẹ trẻ cùng hai đứa con trai chợt hiện về và bây giờ họ đang đứng trước mặt bà đây. Đứng sau bếp, ông chủ như mụ người đi, giơ tay chỉ vào ba người khách, lắp lắp nói:
- Các vị... các vị là...
Một trong hai thanh niên tiếp lời:
- Vâng! Vào ngày cuối năm của mười bốn năm trước đây, ba mẹ con cháu đã gọi một bát mì, nhận được sự khích lệ của bát mì đó, ba mẹ con cháu như có thêm nghị lực để sống. Sau đó, ba mẹ con cháu đã chuyển đến sống ở nhà ông bà ngoại ở Tư Hạ. Năm nay cháu thi đỗ vào trường y, hiện đang thực tập tại khoa nhi của bệnh viện Kinh Đô. Tháng tư năm sau cháu sẽ đến phục vụ tại bệnh viện tổng hợp của Trát Hoảng. Hôm nay, chúng cháu trước là đến chào hỏi bệnh viện, thuận đường ghé thăm mộ của ba chúng cháu. Còn em cháu mơ ước trở thành ông chủ tiệm mì lớn nhất Nhật Bản không thành, hiện đang là nhân viên của Ngân hàng Kinh Đô. Cuối cùng, ý định nung nấy từ bao lâu nay của chúng cháu là hôm nay, ba mẹ con cháu muốn đến chào hỏi hai bác và ăn mì ở Bắc Hải Đình này.
Ông bà chủ quán vừa nghe vừa gật đầu mà nước mắt ướt đẫm mặt. Ông chủ tiệm rau ngồi gần cửa ra vào đang ăn đầy miệng mì, vội vả nhả ra, đứng dậy nói:
- Này, ông bà chủ, sao lại thế này? Không phải là ông bà đã chuẩn bị cả mười năm nay để có ngày gặp mặt này đó sao? Mau tiếp khách đi chứ. Mau lên!
Bà chủ như bừng tỉnh giấc, đập vào vai ông hàng rau, cười nói:
- Ồ phải... Xin mời! Xin mời! Nào bàn số hai cho ba bát mì.
Ông chủ vội vàng lau nước mắt trả lời:
- Có ngay. Ba bát mì

Trung Quốc đang tạo thế gọng kìm với Việt Nam

Mình vừa đọc được một bài viết nói về chiến lược đầu tư và đưa người ồ ạt vào Lào mà giật mình trước ý đồ sâu sa của ông bạn láng giềng Trung Quốc.

Theo dõi những diễn biến trên biển Đông suốt thời gian qua có thể dễ dàng thấy TQ đang áp dụng chiến thuật “tằm ăn dâu” gặm nhấm từng vùng hải phận và lãnh thổ nước ta mà đỉnh điểm là quyết định thành lập thành phố Tam Sa bao gồm cả quần đảo HS và TS của Việt Nam gần đây. TQ cũng sẵn sàng xả súng vào những ngư dân VN vô tội trên biển để khẳng định chủ quyền của họ. Ý đồ này còn được ngang nhiên “quốc tế hóa” bằng việc in bản đồ rước đuốc Olympic Bắc Kinh 2008 “bay” qua HS và TS và những chỉ dẫn gây ngộ nhận cho người xem.

Trên đất liền, sau khi đỡ đầu cho bọn diệt chủng PonPot gây hấn ở biên giới phía Tây bị đập tan, TQ trực diện đưa quân tràn vào một số tỉnh biên giới phía Bắc tiếp tục bị thất bại, TQ thực hiện kế hoạch “diễn biễn hòa bình” với VN. Một mặt tỏ ra hòa hoãn hữu hảo với VN mặt khác TQ liên tục tìm cách chống phá nước ta trên mọi mặt. Kết quả của 16 chữ vàng “Láng Giềng Hữu Nghị Phát Triển Lâu Dài Hợp Tác Toàn Diện Hướng Tới Tương Lai” là bản Hiệp ước biên giới Việt - Trung trên đất liền được ký kết và phần thiệt hại ai cũng biết nghiêng về phía Việt Nam.

Trong lĩnh vực kinh tế, TQ mở cửa biên giới cho hàng hóa giá rẻ mạt, kém chất lượng, thậm chí độc hại tràn vào nước ta gây điêu đứng cho người sản xuất và tiêu dùng. Nhiều tiểu xảo thường được TQ đem ra áp dụng như: mua móng chân trâu, vỏ cây và các loai động thực vật có tính thiên địch nhằm phá hoại sản xuất của chúng ta.

Trong lĩnh vực văn hóa tinh thần, phim ảnh TQ với giá rẻ như cho không đang chiếm lĩnh gần như phần lớn thời lượng phát sóng trên các đài truyền hình trong nước dẫn đến tình trạng dân ta thuộc sử Tàu hơn sử Việt.

Còn ở phía ngoài đường biên Việt- Trung là nhan nhản những chợ tình, chiếu bạc mà thành phần tham gia thì gần như toàn bộ là người Việt. Cạnh các chợ tình là các quầy hàng, cửa hiệu bán la liệt các loại thuốc kích dục, các dụng cụ hỗ trợ tình dục và đối tượng khách hàng nhắm tới cũng không ai khác ngoài người Việt. Ý đồ làm băng hoại nền tảng đạo đức của dân ta được minh chứng rõ ràng là nếu chịu khó đi sâu vào địa phận của TQ vài ba chục cây số tất cả sự bán mua bát nháo đó hoàn toàn biến mất như chưa bao giờ tồn tại ở một đất nước XHCN như TQ!

Để có thể “xiết chặt” Việt Nam hơn, Trung Quốc đang ra sức tạo ảnh hưởng lên người bạn nối khố của chúng ta là Lào khiến chính người Lào cũng phải nghi ngại, lo sợ.

Một gọng kìm đang từ từ xiết lại dải đất hình chữ S thân yêu của chúng ta là một điều mà tất cả mọi người Việt Nam cần thấy và tìm cách hóa giải nó.

Riêng với cá nhân mình lúc này, việc có thể làm được ngay để bày tỏ sự phản kháng là tẩy chay việc rước đuốc Olympic Bắc Kinh qua Việt Nam vào ngày 29-4 tới.

Không bình yên

Nhìn nghiêng bằng một cặp mắt thường:

Là ồn ào

bụi bặm

bon chen

thiên tai và địch họa kề bên

Là tai nạn giao thông bất ngờ ập xuống

cướp đi sinh mạng bao người

Là độc tố

trong thức ăn

thức uống

hàng tiêu dùng

và trong cả đồ chơi con trẻ

giết người qua những bệnh nan y

Là tệ nạn lan nhanh

tới cả những vùng quê vốn bao đời yên ả

xì ke

đĩ điếm

cướp giật

hối lộ

tham ô

nhũng nhiễu

đầu cơ quyền lực đen và những món lợi bẩn

làm băng hoại nhân cách con người

Là luật pháp bị xem thường

trắng đen lẫn lộn

người tử tế phải lặng im

công luận cũng lặng im

thờ ơ trước nỗi đau trần thế

Là rình rập, hành hung, bắt bớ thản nhiên

nỗi lo sợ bao trùm

mọi nhà thờ chữ Nhẫn

nhân tâm thành thứ hàng xa xỉ

lòng người ly tán không yên

........

Ta gửi lòng mình vào thinh không

và lắng nghe tiếng vọng!

Sợ nhà báo Tự do


Ngô Nhân Dụng

Bữa trước chúng tôi đến phi trường Moskva để vào thăm nước Nga, bị trễ đến một giờ vì trong nhóm có một người bị giữ lại để phỏng vấn riêng. Cuối cùng mới biết lý do, vì tên anh trong sổ thông hành đọc giống tên một người Việt đã bị ghi vào danh sách những tay “khủng bố quốc tế.” Có thể thông cảm được với các nhân viên an ninh, vì người mình phần lớn họ Nguyễn như nhau, tên chỉ khác nhau cái dấu sắc, dấu huyền, Mỹ với Nga nó phân biệt sao được.
Chợt nhớ lại câu chuyện trên khi tôi đọc tin thấy phóng viên Tôn Vân Anh bị ngăn cản không được vào trông thấy mặt ông Nguyễn Tấn Dũng khi ông tới dinh thủ tướng Ba Lan, trong chuyến công du vừa qua.
Lạ thật. Thủ tướng một nước thì chắc không đời nào sợ một phóng viên, người phóng viên lại là một phụ nữ, không mang súng, không cầm dao! Nhưng theo tin của ký giả Việt Hồng trên mạng lưới Ðàn Chim Việt thì ông Nguyễn Tấn Dũng có vẻ không chịu cho ký giả Tôn Vân Anh tường thuật cảnh ông gặp thủ tướng nước Ba Lan.
Ký giả Tôn Vân Anh làm cho đài Á Châu Tự Do, đã ghi tên trước với chính quyền Ba Lan trong tư cách một nhà báo chính thức, được phép ra vào dinh thủ tướng trong dịp này. Nhưng cảnh sát gác dinh lại mời cô ra ngoài. Hỏi tại sao, họ trả lời rằng “phía Việt Nam” yêu cầu không cho cô vào. Nói đến “phía Việt Nam” khiến chúng ta cũng chạnh lòng, vì nghe như họ nói về cả nước mình chứ không phải một nhóm người nào.
“Phía Việt Nam” phải viện một nguyên cớ nào rất mạnh để yêu cầu chính phủ Ba Lan không cho nhà báo Tôn Vân Anh vào nhìn mặt ông Nguyễn Tấn Dũng. Ba Lan là một nước văn minh, họ đã sống tự do dân chủ được 17, 18 năm nay chứ không còn là một nước cộng sản nữa. Họ không thể cấm đoán các ký giả làm công việc thông tin vì một lý do tào lao, dù để chiều ý một ông khách thủ tướng. Vậy chắc là “phía Việt Nam” phải nêu lên một mối đe dọa rất nguy hiểm cho ông Nguyễn Tấn Dũng, khiến chính quyền Ba Lan bị thuyết phục. Có thể họ đưa cho người Ba Lan một bản danh sách những tay “khủng bố quốc tế” trong đó có tên cô Tôn Vân Anh!
Nhưng liệu người Ba Lan có đọc một cái tên phụ nữ như Tôn Vân Anh mà thấy giống như tên Osama Bin Laden hay không? Tiếng Ba Lan viết bằng mẫu tự La Tinh như chữ Việt, chắc ai cũng phải thấy đó là hai người khác nhau. Hình dạng cô Tôn Vân Anh hiển nhiên khác hẳn ông Bin Laden rồi. Vậy tại sao cô Tôn Vân Anh lại không được vào trông thấy mặt ông Nguyễn Tấn Dũng khi ông tới dinh thủ tướng Ba Lan?
Chỉ có thể giải thích rằng “phía Việt Nam,” tức là chính quyền cộng sản ở Việt Nam, họ sợ các nhà báo tự do, sợ nhà báo hơn là sợ bom khủng bố.
Bằng chứng: Họ không dám để cho tư nhân làm báo. Có một đảng viên cộng sản rất can đảm mới viết thư gửi cho ông Nguyễn Tấn Dũng để xin làm một tờ báo của tư nhân. Ông Lập còn xin ông Dũng cho mình kêu gọi các đồng nghiệp thành lập một “Hội Nhà Báo Tự Do Việt Nam.” Ông tự giới thiệu là “một đảng viên cộng sản, một Lê Xuân Lập công dân tốt, được đào tạo từ Viện Báo Chí và Tuyên Truyền của nhà nước.” Ðể coi ông Nguyễn Tấn Dũng trả lời thế nào, nhưng có thể đánh cá một ăn mười là ký giả Lê Xuân Lập sẽ chờ đợi 300 năm nữa cũng chưa được ông Dũng trả lời. Sở dĩ lấy con số 300 năm là vì một năm ở nước Congo dài bằng 300 năm ở nước mình. Ðợi 300 năm thế nào cũng được ăn Tết Congo một lần!
Nhưng người viết lá thư này to gan thật. Trong một lá thư mà ông ta đã đòi hai thứ quyền tự do, quyền làm báo tự do và quyền lập hội tự do. Ngày xưa một đảng viên khác là Tướng Trần Ðộ đã từng chỉ huy trong mặt trận tư tưởng, tuyên truyền của đảng Cộng Sản, cũng chỉ xin Ðảng cho phép ra báo tư mà đã bị tấn công tơi bời, sau cùng bị khai trừ khỏi Ðảng. Ðến lúc ông qua đời Ðảng vẫn chưa tha, cho người tới trước quan tài kể tội một lần chót, cho vui tấm lòng nhỏ nhen của các lãnh tụ.
Nhưng ông Lê Xuân Lập cũng dè dặt hơn Tướng Trần Ðộ rất nhiều; ông không lên tiếng chỉ trích chủ nghĩa hoặc chế độ cộng sản như ông tướng. Trái lại, ông nêu lên những nhược điểm của hệ thống báo chí truyền thông trong chế độ, để xin cho ông làm báo tư nhân ngõ hầu cải thiện bộ mặt cho cả chế độ cộng sản.
Ông Lê Xuân Lập nhận thấy những khuyết điểm, như, “việc tuyên truyền của báo chí chúng ta vẫn mang nặng tính một chiều... Ðọc báo, nghe đài, xem ti vi thường thấy có quá nhiều tin, nhiều bài sao chụp lại lẫn nhau... Báo chí trong nước thường chỉ nói một tiếng nói rất giống nhau thành ra không thuyết phục...” Ai cũng biết tình cảnh báo chí mà ông Lậpmô tả nó đã có từ thời Stalin, Mao Trạch Ðông đến thời Hồ Chí Minh, Pol Pot, không ai trông đợi sẽ có cái gì khác. Nếu khác đã không phải là Cộng Sản.
Nhưng bây giờ chính một đảng viên cộng sản nêu lên tình trạng đó để xin tự mình làm báo lấy, không cần Ðảng lãnh đạo nữa; đây là một điều mới lạ.
Ông Lê Xuân Lập không chỉ trích chế độ, ông rất khôn ngoan, chỉ kính thưa với cấp trên là duy trì một hệ thống báo chí như vậy là... phí tiền. Trong thời kinh tế thị trường, phê bình các lãnh đạo về tư tưởng, về chủ nghĩa, về chính sách, họ không chịu nghe đâu. Nhưng nói rằng một chính sách nào đó là tốn tiền, họ hiểu ngay! Khi tất cả các báo các đài đều theo một điệu, nói cùng lời, thì nhận xét của ông Lê Xuân Lập rất đúng: “Nước ta đang tồn tại 600 cơ quan thông tấn, báo chí, cùng hàng chục ngàn nhà báo... quả là một sự lãng phí hết sức to lớn.” Có thể chỉ cần một báo, một đài cũng đủ rồi!
Tướng Trần Ðộ cũng đã qua một kinh nghiệm giống như vậy khi chính ông mất quyền tự do ngôn luận của mình. Trong lá thư gửi giới lãnh đạo đảng Cộng Sản gần 10 năm trước đây, ông Trần Ðộ nhắc đến “gần 10 bài ở báo Nhân dân, gần 10 bài ở báo Quân Ðội Nhân Dân, và một bài ở báo Sài Gòn Giải Phóng” cùng viết một chuyện như nhau. Họ cùng chụp mũ, cùng xuyên tạc và cùng mạ lị Trần Ðộ. Thuê mướn hàng chục ký giả để họ viết cùng một bài, như vậy phí tiền thật! Họ chỉ thi đua nhau xem ai chấm phẩy khéo hơn ai, nhưng trong các bài họ viết đả ông Trần Ðộ họ đều phải theo cùng một thứ kỷ luật. Không được nhắc đến tên Trần Ðộ, con người mà họ được Ðảng thuê để chửi bới. Họ cũng không cho độc giả biết các ý kiến, lý luận của ông Trần Ðộ như thế nào mà họ chỉ trích là sai. Ðó là cách làm báo đặc biệt của cộng sản, không chế độ độc tài nào bắt chước được. Vì trong các chế độ độc tài khác, lương tâm con người chưa bị giết để hy sinh cho quyền lợi của một đảng.Một đảng viên có lương tâm thế nào cũng phải thấy tình trạng báo chí tuyên truyền như trên là một điều đáng xấu hổ. Không riêng người làm báo xấu hổ, không phải chỉ các ông lãnh tụ xấu hổ. Tất cả các đảng viên cộng sản bây giờ cũng thấy để cho một quốc gia trên 80 triệu dân sống với một hệ thống báo chí, truyền thông như vậy, đó là một mối nhục, chứ không phải chỉ là một sự lãng phí mà thôi.
Cho nên chúng tôi xin chúc ký giả Lê Xuân Lập được may mắn, không phải chờ đến Tết Congo mới nhận được thư trả lời của ông Nguyễn Tấn Dũng. Muốn thuyết phục được giới lãnh đạo Ðảng ông, ông Lê Xuân Lập có thể dẫn ra một bài báo của Phan Ðăng Lưu, một ủy viên thường vụ Trung Ương Ðảng Cộng Sản Ðông Dương, đã bị Pháp giết năm 1941. Năm 1938 ông Phan Ðăng Lưu đã viết những lời biện hộ cho quyền tự do làm báo, trên tờ báo Dân Tiến, số ra ngày 10 Tháng Mười Một. Ông là đảng viên cộng sản, rất thực tế, không nêu lên các lý thuyết cao xa về những quyền tự do dân chủ. Ông chỉ nêu các lý lẽ về “tự do báo chí không bao giờ có hại cho nhà cầm quyền.” Thí dụ, 2 điều đầu tiên trong bốn lý do viết rằng:
“1. Khi các báo được tự do xuất bản thì chỉ những tờ báo có dân chúng ủng hộ mới có thể sống, còn không thì chết hoặc sống ngắc ngoải, chẳng có ảnh hưởng gì đáng sợ.
2. Một tờ báo đã sống, đương nhiên nó đại diện cho một tầng lớp dân chúng, nó diễn tả tất cả hoài vọng và chí hướng của đám dân ấy. Nhà cầm quyền muốn cai trị được hoàn thiện không thể bỏ qua những hoài vọng hoặc chí hướng của đám dân này. Tất nhiên (nhà cầm quyền) cũng cần đọc hết tờ báo ấy.”
Thử gửi bài báo này của Phan Ðăng Lưu cho các ông trong Trung Ương Ðảng coi. Họ sẽ bảo đây là lời lẽ của bè lũ phản động bị bọn xấu từ nước ngoài xúi giục! Ðảng Cộng Sản còn thì không thể có báo chí tự do. Họ sẽ “kiên định” giữ độc quyền ngôn luận, giống như phải giữ điều 4 trong hiến pháp vậy. Ngay cả một nhà báo tự do như cô Tôn Vân Anh sống ở thế giới văn minh bên ngoài mà còn bị chế độ cộng sản thò tay từ Việt Nam sang tận Ba Lan để ngăn cản không cho cô làm việc; các nhà báo nằm ở trong rọ làm sao cựa quậy được?
Ký giả Lê Xuân Lập có thể mơ ước rằng Ðảng của ông sẽ tự thay đổi, có ngày sẽ tôn trọng các quyền tự do căn bản của con người, sẽ cho phép tư nhân làm báo. Khó lắm. Những nước từ Nga sang Ðông Âu có nơi nào đảng Cộng Sản tự thay đổi được, hay phải bị dân chúng thúc đến chân tường mới nhảy? Nữ ký giả Hà Thanh Liên, một nhà báo Trung Hoa nổi tiếng hàng chục năm nay về những cuốn sách phê bình chế độ, cho là việc đảng Cộng Sản tự thay đổi rất khó, giống như “bác sĩ giỏi cũng không thể tự giải phẫu mình được.”

NGHĨ VỀ SỐ PHẬN CỦA MỘT BẢN ĐIỀU LỆ

Năm 1993, mình từ Đồng Nai về thành phố HCM nhận nhiệm vụ phụ trách văn phòng Đại diện báo Thanh tra tại các tỉnh phía Nam. Cũng trong năm này mình được ban Biên tập ủy quyền tổ chức xuất bản tờ Thanh tra Cuối tháng tại thành phố.

Với công việc được giao mình có điều kiện tiếp xúc với rất nhiều cộng tác viên của báo. Trong những gương mặt thân quen ấy mình đặc biệt chú ý tới các anh Đoàn Cao Thắng, Nguyễn Hải Thảo, Nguyễn Tấn Huy (đều cư ngụ ở TP,HCM) là những người chỉ biết lấy ngòi bút làm phương tiện kiếm sống. Một tháng, đôi ba lần các anh chạy tạt qua văn phòng lôi ra một xấp bản thảo cho mình lựa chọn một vài bài ưng ý. Xong là lại tong tả chạy tiếp “bỏ mối” cho các báo khác. Lâu lâu có dịp ngồi lại với nhau, uống vài ly rượu nhạt cũng là lúc nhâm nhi nỗi vất vả, nhọc nhằn của người cầm bút không lương.

Vài năm sau anh Thắng qua đời vì bạo bệnh. Thắp nén nhang trầm bên bàn thờ cô quạnh của anh, mình thầm nhủ sẽ phải làm một việc gì đó có ích, ít nhất là đối với những người viết như anh. Năm 1996 mình soạn thảo bản Điều lệ CLB những người viết báo không chuyên, “âm mưu” thành lập một tổ chức kiểu như CLB nhà báo nữ, CLB phóng viên KT, CLB phóng viên Thể Thao.v.v. trực thuộc Hội NB TPHCM làm “mái ấm tình thương” cho các anh như anh Thắng, anh Thảo, anh Huy có nơi nương tựa lúc ốm đau hoạn nạn. Khi qua Hội, mình được hướng dẫn gặp anh Huỳnh Sơn Phước, Phó Tổng BT báo Tuổi trẻ, UV BCH Hội NB TP phụ trách công tác phong trào của Hội. Tại phòng làm việc trong cơ quan báo Tuổi trẻ ở đường Lý Chính Thắng, Q3, anh Phước tiếp thân mật và tỏ ra khá hứng thú với đề xuất của mình nhưng anh cũng thật lòng trả lời không thể giúp được gì vì vấn đề quá mới mẻ! Lúc chia tay anh chợt thổ lộ ý định: khi không còn làm ở báo Tuổi trẻ nữa sẽ lập một hãng tin riêng.10 năm đã trôi qua, không biết giờ đây anh Phước có còn lưu giữ được ý định tốt đẹp đó nữa hay không?

Riêng bản Điều lệ được viết ra 10 trước đây, mình đã chỉnh sửa cho ngắn gọn, rõ ràng và đặt cho nó một cái tên mới Điều lệ Hội Nhà báo tự do Việt Nam. Vào đúng ngày sinh nhật lần thứ 49 của mình và cũng là lần thứ 10 của Điều lệ, ngày 12-06-2006 mình post lên mạng, chính thức mã hóa vào Điều lệ số phận long đong của các nhà báo tự do trong nước. Không biết nó có tìm được bến đỗ bình yên hay không, có lớn khôn trưởng thành được hay không? Dù không hề thiếu lòng tin nhưng mình cũng không thể nào trả lời chắc chắn được.


Mời xem: http://360.yahoo.com/laplanglieu
December 2009
S M T W T F S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31