không bao giờ là thất bại,tất cả là thử thách!.....

Subscribe to RSS feed

Một Bông Hồng Cho Cha

Trong thời hồng hoang của lịch sử, con người chỉ biết có mẹ. Khỏi cần tìm hiểu đâu xa, cứ nhìn các con vật thì biết: gần gủi và hiền lành là con chó, con gà, xa xôi và hung bạo như con beo, con cọp. Sinh ra và lớn lên chỉ biết có mẹ, lúc thúc quanh mẹ. Bởi một lẽ đơn giản: khi biết mình mang thai, con cái thường sống cách ly con đực, thậm chí còn cắn đuổi con đực không cho lại gần.
Con người sau này thì không. Cha săn sóc mẹ khi mẹ mang thai, cha đỡ đần mẹ, cha giúp tay mẹ pha bình sữa, giặt giũ tã lót khi cha mẹ cùng nghèo. Khi cúng đầy tháng, cha châm hương đốt đèn thành kính cầu xin Mụ Bà và tham lam cầu khắp thần linh phù hộ cho con mau ăn, chóng lớn. Có lẽ đó là lần đầu tiên, lần trọng đại nhất trong đời mà cha trọn lòng nghĩ đến những vị thần linh. Vì con mà tin, mà khấn, mà cầu... cho dẫu mang tiếng mê tín cũng xin sẵn sàng vui nhận.
Con lên hai tháng, ba tháng, nằm ngửa huơ tay huơ chân, mở to đôi mắt ngơ ngác, xoay đầu nhìn vu vơ sang trái sang phải. Rồi con biết hé miệng cười, cái cười vô nghĩa nhưng đủ cho cả nhà mừng rỡ reo vui. Rõ ràng là nụ cười của con làm nở những nụ cười xung quanh, làm rạng rở những khuôn mặt, xóa mờ những nếp nhăn nơi trán. Lần lượt biết lật, biết bò... rồi con ngồi vững, rồi vịn tay đứng được, rồi bước những bước rụt rè. Tiếng reo vui, tiếng khuyến khích vang lên rộn ràng đầm ấm, trong đó có lẫn tiếng của cha.
Cha được phân công ngồi bón cho con những muỗng cơm đầu tiên, cha phải la: "Ùi ùi! Coi chừng con chuột kìa. Ăn mau chớ nó ăn hết," rồi thừa lúc con đưa mắt tìm, cha đút nhanh muỗng cơm vô miệng. Hỡi ơi, từ ngày có con, cha trở thành nhảm nhí đáng thương. Con mới mở miệng ngáp, đôi mắt mới khép hờ mà cha đã vội vàng ru, ru cái kiểu nửa ngâm, nửa hát vụng về và chọn những câu nhảm nhí phù hợp với trạng thái tâm hồn của cha lúc đó.
À ơi, con gà cục tác lá chanh...
Có thể cha giỏi nhạc, cha hát hay nhưng cha ngượng không dám nghiêm trang cất giọng sợ người khác nghe biết cha đang tràn trề niềm vui, no nê hạnh phúc. Vả chăng mặt con ngây ngô thế đó thì cha biểu diễn nghệ thuật để làm chi? Cha phải ngây ngô theo, con duỗi chân thì cha nói: "Chà! Bộ định về thăm ngoại hả?" Rờ cái đít nung núc thịt, cha bế chạy vừa nói nựng: "À, con heo ú đây? Ai ra mua!" Quả là những giây phút hân hoan cực độ. Nhưng phải chợt dừng lại. Sợ người khác nghe. Phải che giấu hạnh phúc để tỏ rằng mình không tầm thường. Khi có học, cha thường phải tạo vẻ mặt nghiêm trang. Dưới thời Nho giáo, cha được gọi là nghiêm đường. Hai mươi tuổi đậu cử nhân, đậu tiến sĩ thì phải mang bộ mặt lạnh lùng của một ông quan. Chỉ có người cha quê mùa mới thong dong cõng con bốn, năm tuổi đi chơi nghêu ngao khắp xóm, bứt lá chuối quấn kèn. Lớn lên cha con cùng làm lụng cạnh nhau trên sân lúa, giữa rẫy khoai. Xã hội hôm nay trí thức hơn, văn minh hơn, trong cuộc sống cha một nghề, con một nghề, ai lo phần nấy, rốt cuộc tình thương cha con trở nên lợt lạt. Tình quấn quýt cha con chỉ thể hiện khi con còn nhỏ: quá bậc tiểu học, con bắt đầu lớn, bắt đầu chọn bạn là bắt đầu xa cha. Từ đó cha chỉ đóng vai nguồn cung cấp tiền cho con ăn học, may sắm, nguồn kinh nghiệm khôn dại đưa lời chỉ bảo khuyên răn. Tất cả đều là lý trí lạnh lùng.
Chớ mẹ thì không. Nghĩ đến mẹ là một chuỗi hình ảnh êm ái hiện ra: mẹ mang nặng đẻ đau, vạch vú cho bú, mẹ bồng ru ngủ, mẹ ôm hôn nựng, mẹ tập đứng tập đi. Khỏi cần lý luận, khỏi nhìn đâu xa, cứ nghĩ đến mẹ là như thấy rõ hồi nhỏ mình nằm như thế nào trong vòng tay mẹ, ỉa đái tự do trên mình mẹ và me lo giặt, lo thay, quen thuộc với mùi khai, mùi thúi. Với cha thì phải suy nghĩ mới thấy, bởi mọi sự thương yêu chỉ hiện rõ khi mình còn nhỏ. Bây giờ nếu may mà biết được là nhờ ngẫu nhiên thấy một người cha nào đó đang thương yêu săn sóc đứa con nhỏ của họ.
Tìm trong văn chương thì thường chỉ gặp loại:
Công cha như núi Thái Sơn
Núi này nhất định là phải lớn lắm, và công cha cũng lớn như vậy. Không thấy ghi một nét cảm động về người cha mà chỉ phác qua một hình ảnh uy nghi, nhưng xa cách, gợi sự tôn sùng. Mọi người đều thuộc, đều đọc làu làu, nhưng mà thản nhiên như đọc khẩu hiệu.
Người cha quen thuộc, cha của Mẫn Tử Khiên, thì được vẽ là một người biết làm bổn phận: bổn phận cưới vợ kế khi vợ cả chết và bổn phận đuổi kế thiếp vì Mẫn Tử Khiên bị ngược đãi. Mà cũng ngẫu nhiên mới biết được con khổ khi thấy con mặc áo rách run rẩy đẩy xe cho mình.
Người cha trong cuốn Luân Lý giáo khoa thư dễ thương hơn. Truyện kể: Mẹ đi chợ mua về cho con trái cam. Con nghĩ đến cha làm lụng nắng nôi, liền cầm trái cam chay ra đồng tặng cha. Cha nghĩ đến mẹ đầu tắt mặt tối ở nhà, liền cầm trái cam đem về tặng mẹ. Trái cam đi một vòng, dài và rộng hơn sợi dây tình cả con thương cha, rộng gấp ba lần vì thêm tình mẹ thương con, tình chồng thương vợ.
Cổ văn thường nặng nghĩa lớn, nhẹ tình riêng. Phạm Trọng Yểm, tể tướng đời Tống, sai con là Thuần Nhân chở năm trăm thùng thóc về quê. Ðến Ðan Dương, Nhân gặp Thạch Man Khanh là bạn cũ của cha đang khốn quẫn vì bị ba cái tang dồn dập. Nhân đem tặng hết năm trăm thùng thóc. Lại nghe hai cô gái đến tuổi mà đang ế chồng, liền tặng luôn cái thuyền. Về kể lại chuyện cho cha nghe. Nghe tới chỗ hai cô gái của bạn ế chồng. Phạm liền ngắt lời hỏi: "Sao con không cho luôn cái thuyền?"
Cuộc sống bắt cha hướng mắt ra ngoài đời, nhìn đời, lăn lộn với đời. Mẹ thì nhìn vào trong nhà, nhìn vuông sân chái bếp, con gà con chó, cây ổi, cây xoài và bầy con của mẹ. Cha lặng lẽ đi làm kiếm tiền, con đâu biết bao nhiêu gian lao cực nhọc, lo toan đối phó làm mệt mỏi gân cốt và trí óc cha. Về đến nhà tìm sự yên nghỉ, nhiều khi mang cái bực bội, cái cáu gắt từ ngoài xã hội về theo. Con phải len lén bỏ ra sau nhà, im lặng, càng xa càng tốt, gần như muốn xóa bỏ cái hiện hữu của mỉnh. Sự cách xa giữa cha con thường bắt đầu nhẹ nhàng như vậy. Càng thêm xa cách bởi sao cạnh mẹ con thấy êm đềm. Ai làm ra tiền không cần biết, chỉ muốn nhai viên kẹo, muốn cắn trái ổi là chỉ cần thỏ thẻ với mẹ. Mua cây viết mới, sắm đôi dép mới... thảy thảy mẹ đóng vai bà tiên. Tội thân cha, cạnh bà tiên hiền, cha thành Thiên Lôi; bà tiên càng hiền, cha càng thành La Sát.
Không, cha không muốn vậy. Cha thương con nhưng cuộc sống phân công mỗi người mỗi việc. Mẹ như cọng mảnh, nhánh thấp cành gần để trái non xúm xít bâu quanh. Cha như thân vững chắc, bám rễ thật chặt, hút nhựa nuôi lá, nuôi hoa, nuôi trái. Thân chĩa từng cành lớn đâm ngang, thân vươn những nhánh cao phủ trên đầu che mưa che nắng. Cha cân nhắc lời nói, chỉ nói khi cần, con lờn mẹ thì cha cần phải nghiêm. Mẹ là tình cảm, cha là lý trí, mẹ lạt lòng, cha phải giữ kỷ cương. Mẹ chín bỏ làm mười, cha phải cầm cân nảy mực. Ði vào bước trưởng thành từ mười ba, mười bốn tuổi, con càng ngày càng ngại cha, tránh cha rồi xa cha là vậy.
Nhưng đừng đơn giản bất công, quên cái thời ta lên năm, lên mười, kẻo thành bội bạc. Hãy nhìn những đứa ba tuổi làm nũng với cha. Bắt cha bế chạy nhong nhong. Bắt phải dắt ra cổng đứng nhìn xe cộ. Bắt phải có cha nằm cạnh quạt cho mới ngủ. Lên tám, lên chín thì hay chạy tới nơi cha làm việc để đón cha cùng về. Trên đường đi phải nắm tay cha, thỉnh thoảng nhìn lên mặt cha, dẫu là khuôn mặt tầm thường hay xấu xí.
Tuổi già chiếc bóng, mẹ dễ sống theo con, dâu, rể. Lúc thúc sớm hôm, chăm chút tỉ mỉ, mẹ uốn mình theo nếp sống, mềm mỏng ung dung như nước. Thường cha thì không, cha ít cam khuất phục rể dâu. Chịu sống hắt hiu, thiếu thốn, cố tránh trước cái giả bộ nặng tai của dâu, cái im lặng cố ý của rể. Mẹ biết ý nên khi nhắm mắt vĩnh biệt, mẹ thường thổn thức dặn dò: "Anh ở lại nuôi con. Gắng kiếm một người hiền lành giúp đỡ. Chớ đàn ông không chịu khổ được lâu."
Phải, tuổi càng cao, khổ càng chồng chất, dâu rể không ăn hiếp thì có con muỗi, con kiến ăn hiếp thay. Cứ cắn, cứ chích, nạn nhân nghe đau đâu đập đấy, chớ mắt mờ đâu còn thấy rõ. Nhìn lên bầu trời đâu còn thấy chòm Bắc Ðẩu mà mới ngày nào lững thững dắt con đi trong sân cha chỉ cho con nhìn.
Con nay đang tuổi trung niên, bận theo quyền lực, vui với vợ con, bè bạn, việc báo hiếu cho cha thường tỏ ra bủn xỉn. Nếu có ai trách hững hờ chểnh mảng thì thiếu chi lý lẽ dẫn ra: "Ðược vậy còn đòi gì nữa?... Trời ơi, thì giờ đâu!"
Phải thì giờ đâu? Người xưa hay nhắc phận con kíp lo báo hiếu bởi "tử dục dưỡng nhi thân bất đãi" con muốn nuôi mà cha mẹ không chờ.
Khi con ở tuổi trung niên thì cha vào giai đoạn già yếu. Bề ngoài ngó dẫu phương cương nhưng nội tạng thường rệu rã. Dễ hiểu thôi mà: một đồ vật dùng đã sáu chục năm rồi thì dẫu lạc quan đến đâu cũng chỉ có thể tạm nói: "Cũng còn khá." Cha thỉnh thoảng cảm thấy hơi đau nơi này, chợt nghe có cái nhéo nơi kia. Ðôi hồi bỗng mệt vô cớ. Nhưng cha thường im lặng không nói. Những câu nói không còn cần thiết, êm ái cho con nữa như khi con còn nhỏ. Bây giờ, những câu nói đều quấy rầy con. Ðành âm thầm nghĩ đến câu Vạn vật vô thường.
Sách xưa dạy: "Hôn định thần tỉnh," ta dịch: "Tối viếng sớm thăm," lạt lẽo nghèo nàn nếu không có người giảng cụ thể rằng cha mẹ già thường cần đôi mắt và bàn tay con, trước và sau giấc ngủ. Ðã nằm trong mùng thì lười đứng dậy để khép bớt cánh cửa, để lấy cái mền, để tìm lọ dầu. Ngủ một đêm sáng dậy, trong mình có gì thay đổi, đó là lúc con cần hỏi han mẹ cha mới dám giãi bày.
Gần như mọi người con, cuối cùng đều âm thầm tự trách, lặng lẽ xót xa. Cha biết trước tâm trạng đó, phòng xa ngày nào mình từ trần con mới chợt ân hận muộn màng, nên trong mỗi bức thư gửi con, cha đều kết thúc bằng sự bằng lòng, rằng con đã học hành thành đạt và cha mãn nguyện, cha vui. Lòng vị tha, lòng hy sinh cho con kéo dài mãi sau khi nhắm mắt.
Báo hiếu đâu chỉ món quà, mà có thể đôi tháng gởi một bức thư. Nội dung đâu đòi hỏi cao siêu, chỉ cần mươi dòng lược kể một chuyện đã nghe, một điều vừa thấy. Thì cũng như bè bạn gặp nhau, chào nhau một câu rất nhảm mà vẫn rất cần: "Ði đâu đó? Mạnh giỏi?" Sinh nhật cha, tặng một cành hoa. Nếu ở thành phố xa, hai ba đứa con gởi về hai, ba bức điện chúc mừng, tốn không bao nhiêu mà tạo được sự rộn ràng tới tấp. Niềm vui tinh thần đâu thua bữa tiệc cao lương?
Ngày Vu Lan, nhiều chùa tổ chức lễ hội Bông hồng cài áo. Hoa hồng tượng trưng cho mẹ. Ðể tỏ lòng thương nghĩ đến cha, nhiều nơi buộc thêm dải nơ tượng trưng cho cha. Cha còn: nơ xanh. Cha mất: nơ trắng. Lễ đường xếp thành bốn dãy, dãy cha me song toàn: hoa hồng nơ xanh. Mẹ còn, cha mất: hoa hồng, nơ trắng. Mẹ mất, cha còn: hoa trắng, nơ xanh. Mẹ cha đều mất: hoa trắng, nơ trắng. Người dự lễ đứng theo hoàn cảnh của mình.
Có lần, một em nhỏ tuổi chừng lên tám đứng trong hàng hoa trắng nơ trắng. Em nhìn quanh, tủi thân khóc òa và cả lễ đường cùng khóc òa theo.
Cha cũng như mẹ, rồi một ngày: "Ðỉnh hoa biểu từ khơi bóng hạc" (Cha mẹ mãn phần) nên mỗi người con đều phải vội vàng. Trả hiếu không bao giờ đủ, không được coi là dư bởi tình cha thương con là "cho" chớ không phải "cho vay" để có thể gọi là trả đủ.

choi voi !


Có những lúc sao thấy lòng tuyệt vọng!
Bởi nỗi đau như hoá đá lòng ta
Ngước mắt lên nhìn vũ trụ bao la
Sao chỉ thấy một màu đen tăm tối.
...
Hãy vững chí để tim không lạc lối
Hãy mỉm cười để đời bớt buồn đau
Hãy yêu đời để dông tố qua mau
Hãy thôi khóc để lau khô dòng lệ.
...
Ta biết mình sẽ phải luôn như thế
Tự nhủ lòng , mình sẽ gắng vượt qua
Để không phụ bao người mến thương ta
Đang đau lòng khi thấy ta đau khổ...
...
Ta phải cố...tất nhiên ta phải cố...

Cơ hội ngàn vàng để VN lấy lại HS với Mỹ bên cạnh. Đường bỏ lở chuyến đò duy nhất nầy

Các bạn làm ơn đọc hết bài dưới đây. Tôi chú ý vài điểm như sau:

1) đừng chờ nước đến chân rồi mới nhảy. Hảy quyết định hợp tác với Mỹ bây giờ.
2) TQ đã ép VN từ lâu rồi mà còn dồng chí cái gì nữa.
3) Một ngày nào đó nếu mà VN chịu khổng nổi sự ép bức của TQ và đánh lại TQ thì lúc đó VN phãi đánh đơn phương thôi.

An ninh Biển Đông, ưu tiên trong chiến lược mới của Mỹ
Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton (DR)



Mai Vân
Vào hạ tuần tháng 7 tới đây, ngoại trưởng Mỹ, Hillary Clinton sẽ đến Hà Nội tham gia Diễn đàn An ninh Asean, ARF, một diễn đàn mà ngoại trưởng tiền nhiệm, bà Condoleeza Rice, thời ông Bush đã từng phớt lờ. Bà Clinton tham dự Diễn đàn ARF trong bối cảnh Hoa Kỳ chính thức công bố bản ''Chiến lược an ninh quốc gia''.

Văn kiện dày khoảng 50 trang, với phần đề tựa của chính Tổng Thống Mỹ Barack Obama, đã chính thức hóa đường lối đối ngoại được Washington áp dụng từ ngày ông Obama lên nắm quyền cách nay gần hai năm. Lẽ dĩ nhiên,trọng tâm chủ yếu trong chiến lược an ninh mới của Hoa Kỳ vẫn là làm sao đánh quỵ kẻ thù số một là ''Al Quaeda và tay sai'', hợp tác chặt chẽ với các đồng minh truyền thống của Mỹ ở khắp nơi, từ Âu sang Á.
Tuy nhiên, trong chính sách ngoại giao của chính quyền Obama, tính chất đa phương đã được nhấn mạnh nhiều hơn trong đó châu Á đã có thêm trọng lượng so với trước đây.
Những ai quan tâm đến khu vực Đông Nam Á đều thấy rằng Hoa Kỳ đã nhắc đến vùng Southeast Asia như một thực thể, chứ không chỉ nói tới Đông Á (East Asia) một cách chung chung. Hoa Kỳ cũng xem ASEAN là một cơ cấu khu vực có trọng lượng mà Mỹ cần củng cố quan hệ hợp tác, tương tự như Diễn Đàn Hợp Tác Kinh Tế Châu Á Thái Bình Dương APEC, sáng kiến của Mỹ, hay là nhóm Đối tác Xuyên Thái Bình Dương Trans-Pacific Partnership trong khuôn khổ APEC, hoặc là Khối Hội Nghị Thượng Đỉnh Đông Á East Asia Summit mà Washington muốn tham gia.
Chính sách châu Á của Mỹ dĩ nhiên không thể xem nhẹ Trung Quốc, một thế lực đang lên mà Hoa Kỳ xác định là sẽ tiếp tục thúc đẩy một quan hệ ''tích cực, xây dựng và toàn diện''. Tuy nhiên, Washington sẽ ''theo dõi chương trình hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc và chuẩn bị một cách thích ứng sao cho các quyền lợi của Mỹ và các đồng minh, trong khu vực và trên thế giới, không bị tác hại''.
Gắn với vấn đề trên, dù không minh thị nói đến Biển Đông, nhưng Chiến lược an ninh mới của Mỹ đã nói lên quyết tâm bảo vệ quyền tư do lưu thông ''trên biển, trên không và trong vũ trụ'', chống lại bất kỳ ai muốn ''cản trở thông thương hay sử dụng các lãnh vực này vói ác ý''. Trong số những biện pháp mà Hoa Kỳ quyết tâm áp dụng, có việc duy trì quyền tự do lưu thông cho ''các eo biển chiến lược và các tuyến hàng hải trọng yếu''.
Để tìm hiểu thêm về vấn đề Biển Đông cũng như chính sách Đông Nam Á mới của Hoa Kỳ, trong đó Việt Nam có một vai trò quan trọng, RFI đã phỏng vấn giáo sư Ngô Vĩnh Long, chuyên gia Châu Á thuộc trường Đại Học Maine Hoa Kỳ.
Với chiến lược an ninh mới của Mỹ, Đông Nam Á được coi trọng hơn trước
Lý do chính là vì Trung Quốc trong hai năm qua bành trướng và có thái độ gây mất an ninh cho khu vực. Chiến lược của Mỹ hiện nay là làm thế nào vận động và phối hợp càng nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á càng tốt.
Trước đây Mỹ chủ yếu chú trọng đến vùng biển đảo Đông Nam Á, tức là vùng có Philippines, Indonesia, Malaysia. Trên đất liền Mỹ chủ yếu coi trọng Thái Lan. Gần đây Thái Lan bị khó khăn rất nhiều. Trước sự đe dọa của Trung Quốc, Mỹ thấy không thể tiếp tục chính sách cũ, mà phải có chính sách mới, làm sao vận động và phối hợp được tất cả các nước trong khu vực Đông Á Thái Bình Dương, và trong đó Việt Nam quan trọng nhất vì là nước lớn nhất trong đất liền, lại có lãnh hãi và lãnh thổ dài nhất ở khu vực Biển Đông. Vì thế Mỹ cần nhất sự hợp tác của Việt Nam.
Trên thực tế Mỹ đã áp dụng chiến lược này ngay sau khi ông Obama lên nắm quyền. Bà ngoại trưởng Clinton đã lập tức được ông cử đến các nước Đông Nam Á, và tuyên bố ''Mỹ đã trở lại''. Trong chuyến đi đó, bà cũng đã loan báo một số đề án cụ thể như đề án sông Mêkông v.v. Tất nhiên là Mỹ hiện nay có những chính sách mới cho khu vực.
Biển Đông : vị trí thiết yếu trong chiến lược an ninh mới của Mỹ
Chiến lược của Mỹ là cố gắng giữ an ninh trong khu vực Biển Đông, tìm ra những phương thức để giải quyết các tranh chấp trong vùng một cách hoà bình, trong khuôn khổ luật quốc tế, trong đó có các ''quy tắc ứng xử trên Biển Đông'' năm 2002 mà Trung Quốc đã ký kết. Mỹ luôn luôn muốn giải quyết hoà bình các vấn đề trong khu vực Biển Đông.
Hoa Kỳ không đưa ra quan điểm của họ về các vụ tranh chấp chủ quyền, nhưng thấy là cần phải duy trì tình hình tự do hàng hải, tự do thông thương ở Biển Đông.
Điều mà Mỹ quan tâm nhất trong vấn đề Biển Đông là sự đe doạ của Trung Quốc. Bắc Kinh đã đe dọa nhiều lần. Không những họ đã đưa ra bản đồ ‘’đường lưỡi bò’’ đòi hỏi khoảng 80% các vùng biển ở Biển Đông, mà vào tháng 3 vừa rồi chẳng hạn, khi thứ trưởng ngoại giao Mỹ Jim Steinberg vả cố vấn an ninh Mỹ sang thăm Trung Quốc, họ còn nói riêng với Hoa Kỳ là bây giờ Biển Đông trở thành ‘’khu vực quyền lợi trọng tâm’’ của Trung Quốc.
Trước đây, Trung Quốc chỉ xác định ba vùng Đài Loan, Tân Cương, Tây Tạng là khu vực quyền lợi trọng tâm, bây giờ họ nói với Mỹ là tất cả khu vực Biển Đông là của Trung Quốc, ai đến đây thì sẽ bị họ đánh đuổi. Mỹ dĩ nhiên không đồng ý và chính sách lớn của Mỹ hiện nay là bảo đảm an ninh và vùng Biển Đông cho mọi người.
An ninh Biển Đông hệ trọng không chỉ đối với Đông Nam Á mà đối với cả các đồng minh Bắc Á của Mỹ
Trong vấn đề an ninh trên Biển Đông, quyền tự do thông thương rất quan trọng: từ 56% cho đến 60% hàng hoá chuyên chở bằng đường biển mỗi năm đều đi qua vùng biển này, trong đó 90% dầu hỏa cho Đài Loan, cho Hàn Quốc, cho Nhật Bản là những đồng minh của Mỹ. Bên cạnh đó, còn có nhiều quyền lợi kinh tế và quân sự khác cho các nước Đông Nam Á. Nếu Trung Quốc cứ lấn chiếm hay là cứ đe dọa, thì tình trạng mất an ninh không chỉ ảnh hưởng đến các nước Đông Nam Á mà cũng tác động tới các quốc gia Bắc Á. Cho nên Mỹ cần phải duy trì an ninh trong khu vực Biển Đông.
Khi coi trọng Đông Nam Á trong chính sách của mình, điều đó có nghĩa là Mỹ cũng muốn xây dựng một cái vòng đai để ngăn chặn đà vưon lên của Trung Quốc. Đối với Hoa Kỳ, nếu Trung Quốc hành động có trách nhiệm, thì Mỹ sẽ không có phản ứng. Nhưng gần đây Bắc Kinh đã đổi thái độ.
Không chỉ đổi thái độ gần đây, mà vào năm 2007, Trung Quốc đã nói với Hoa Kỳ cùng chia Thái Binh Dương làm hai khu vực, phiá Tây Hawai do Trung Quốc kiểm soát, còn phiá bên kia dành cho Mỹ. Hoa Kỳ không đồng ý, thế là Trung Quốc lập tức gây hấn, cho đụng tàu của Mỹ năm sau đó, và bắt bớ ngư dân Việt Nam... Chính vì Bắc Kinh gây hấn như vậy, mà Mỹ phải có chính sách và thái độ như hiện nay.
Vai trò và vị trí quan trọng của Việt Nam trong chiến lược Đông Nam Á của Mỹ
Việt Nam trở thành một nước rất quan trọng đối với Mỹ, vì Việt Nam có lãnh thổ và lãnh hải dài nhất trong khu vực... Trong vùng Đông Nam Á ‘’đất liền’’, Việt Nam là nước lớn nhất về mặt dân số, diện tích không lớn bằng hay tương đương với Thái Lan, nhưng chạy dài trên vùng Biển Đông, cho nên phải có sự đồng ý của Việt Nam hay sự giúp đỡ của Việt Nam thì chính sách của Mỹ hay chính sách của các nước khác trong khu vực mới có thể thành công.
Chính quyền Mỹ còn phải vận động dân chúng trong nước họ để đẳy mạnh chính sách trở lại Đông Nam Á. Việt Nam là một nước lớn, nếu không có sự ủng hộ của Việt Nam cùng với các nước Đông Nam Á lớn khác như Indonesia, Malaysia, Philippines thì chính phủ Mỹ khó có thể nói với dân chúng họ là bây giờ các nước ASEAN đồng thuận với chính sách của Mỹ. Một khi được Việt Nam, một nước lớn ở trên đất liền ủng hộ, Chính quyền Mỹ có thể nói cho dân chúng họ là đã có đồng thuận chung, không cần phải có những nước nhỏ khác như Miến Điện, Lào hay Cam Bốt, bởi vì không cần đồng thuận hoàn toàn.
Tranh thủ được sự hợp tác của Việt Nam sẽ giúp cho Mỹ rất nhiều trong việc điều phối các cố gắng đa phương để giải quyết các vấn đề tranh chấp trong khu vực. Do đó, Mỹ hướng tới Việt Nam và chính quyền Mỹ cần Việt Nam trợ giúp trong việc vận động dân chúng để Hoa Kỳ có thể trở lại Đông Nam Á. Đây là một vấn đề rất khó. Hiện nay Mỹ ''ve vãn'' Việt Nam vì lý do đó. Họ muốn Việt Nam chứng tỏ mình sẽ là một nước có trách nhiệm trong khu vực.
Trong giai đoạn này Việt Nam cần Mỹ hơn là Mỹ cần Việt Nam
Muốn cho Mỹ có thể hoạt động tốt với Việt Nam trong nhiều lĩnh vực thì Việt Nam phải giúp Mỹ, mà một trong những vấn đề giúp Mỹ, là phải chứng tỏ cho người Mỹ thấy là Việt Nam bây giờ đáng giúp. Việt Nam phải có một bộ mặt chính trị tự do dân chủ khả dĩ, nếu không thì chính phủ Mỹ dầu có muốn lắm đi nữa thì cũng khó có thể thúc đẩy việc ủng hộ Việt Nam lên một mức cao hơn nữa.
Đại sứ Mỹ được báo Vietnamnet phỏng vấn đã nói : ‘’Tôi nghĩ trước hết Việt Nam phải tự quyết định Việt Nam muốn gì, rồi cần làm gì. Vì việc trở thành một nước có vai trò lãnh đạo toàn cầu không chỉ đem lại lợi ích cho mà còn mang lại trách nhiệm cho Việt Nam. Việt Nam phải quyết định rằng Việt Nam muốn cái quyền lợi đó và cái trách nhiệm đó hay không’’.
Để có quyền lợi và trách nhiệm đó, Việt Nam phải có một số hành động. Ví dụ như người Mỹ thích vấn đề tự do, tự do tranh luận... Nếu Việt Nam trong khi muốn vận động Mỹ, mà lại đàn áp, bắt bớ .. thì gây khó khăn cho chính phủ Mỹ trong việc thực hiện chính sách của họ ở Đông Nam Á. Cho nên ông Michalak có nói là Việt Nam đã có rất nhiều tiến bộ trong lãnh vực kinh tế nhưng cần có nhiều tiến bộ hơn nữa trong lãnh vực chính trị. Không phải Hoa Kỳ muốn Việt Nam đa đảng... nhưng muốn Việt Nam chứng minh cho dân chúng Mỹ, cũng như trên thế giới là Việt Nam là một nước có tự do dân chủ.
Việt Nam không nên sợ mất lòng Trung Quốc khi tăng cường hợp tác với Mỹ
Bây giờ không còn gì để mà tế nhị với Trung Quốc nữa. Trung Quốc đã ép Việt Nam cho đến điểm rất cao rồi. Bây giờ là vấn đề tùy thuộc vào Việt Nam chứ không phải là vào Mỹ. Trong thực tế, Hoa Kỳ hoàn toàn có thể tự mình bảo vệ quyền thông thương, đường hàng hải trên Biển Đông. Nhưng vấn đề không chỉ là bảo vệ thông thương trên biển, mà bảo đảm an ninh cho toàn khu vực.
Cho nên nếu ví dụ như Việt Nam đi với Trung Quốc chẳng hạn, hay là Việt Nam để cho Trung Quốc bắt ép, thì đến một lúc nào đó, có chuyện gì xẩy ra thì sẽ mất an ninh. Ví dụ như bị ép quá cuối cùng Việt Nam phải phản ứng lại đơn phương, thì làm sao mà Mỹ và các nước khác mà có thể kịp vận động dân chúng họ để vào hỗ trợ cho Việt Nam ? Thành ra vấn đề là phải đi từng bước, đi trước chứ để nước đến chân rồi mới nhảy thì rất khó. Cho nên vấn đề chính là của Việt Nam chứ không phải là của Mỹ.
Với chiến lược an ninh mới, Hoa Kỳ coi trọng Diễn đàn An ninh ARF hơn trước
Diễn đàn ARF sẽ rất quan trọng cũng như tất cả các diễn đàn khác trong khu vực Đông Nam Á bởi vì các diễn đàn đó giúp cho các nước đối thoại với nhau, để đi đến tin tưởng nhau hơn. Mỹ trước đây đúng là không để ý đến các diễn đàn này, nhưng bây giờ thì khác. Ngoài vấn đề Diễn đàn ARF, Hoa Kỳ cũng đã bổ nhiệm một đại sứ cho cả ASEAN.
Bên lề cuộc phỏng vấn, Giáo sư Ngô Vĩnh Long còn nêu lên một nhận xét của ông về quan hệ Mỹ - Việt nói chung :
« Tôi vừa đi Việt Nam về và tôi biết là trong chính quyền nhiều người vẫn còn sợ là Mỹ sẽ lật đổ chính phủ Việt Nam. Hoa Kỳ đã nói rất nhiều lần là họ hoàn toàn công nhận chính phủ Việt Nam, công nhận sự toàn vẹn của chủ quyền Việt Nam và sẽ phản đối bất cứ ai, bất cứ lực lượng nào sử dụng vũ lực để lật đổ chính phủ Việt Nam. Họ nói như vậy là quá rõ ràng. Còn nói đến vấn đề diễn biến hoà bình tức là để không có dân chủ trong nước thì đó là vấn đề ''dùng ngáo ộp'' để dọa dân chúng Việt Nam. Nhưng nếu làm như vậy, không đi đến dân chủ hoá, thì khó mà giúp cho Chính quyền Mỹ vận động dân chúng họ ủng hộ Việt Nam được ».
[imgright]

Cơ hội ngàn vàng để VN lấy lại HS với Mỹ bên cạnh. Đường bỏ lở chuyến đò duy nhất nầy

Các bạn làm ơn đọc hết bài dưới đây. Tôi chú ý vài điểm như sau:

1) đừng chờ nước đến chân rồi mới nhảy. Hảy quyết định hợp tác với Mỹ bây giờ.
2) TQ đã ép VN từ lâu rồi mà còn dồng chí cái gì nữa.
3) Một ngày nào đó nếu mà VN chịu khổng nổi sự ép bức của TQ và đánh lại TQ thì lúc đó VN phãi đánh đơn phương thôi.

An ninh Biển Đông, ưu tiên trong chiến lược mới của Mỹ
Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton (DR)

Vào hạ tuần tháng 7 tới đây, ngoại trưởng Mỹ, Hillary Clinton sẽ đến Hà Nội tham gia Diễn đàn An ninh Asean, ARF, một diễn đàn mà ngoại trưởng tiền nhiệm, bà Condoleeza Rice, thời ông Bush đã từng phớt lờ. Bà Clinton tham dự Diễn đàn ARF trong bối cảnh Hoa Kỳ chính thức công bố bản ''Chiến lược an ninh quốc gia''.

Văn kiện dày khoảng 50 trang, với phần đề tựa của chính Tổng Thống Mỹ Barack Obama, đã chính thức hóa đường lối đối ngoại được Washington áp dụng từ ngày ông Obama lên nắm quyền cách nay gần hai năm. Lẽ dĩ nhiên,trọng tâm chủ yếu trong chiến lược an ninh mới của Hoa Kỳ vẫn là làm sao đánh quỵ kẻ thù số một là ''Al Quaeda và tay sai'', hợp tác chặt chẽ với các đồng minh truyền thống của Mỹ ở khắp nơi, từ Âu sang Á.
Tuy nhiên, trong chính sách ngoại giao của chính quyền Obama, tính chất đa phương đã được nhấn mạnh nhiều hơn trong đó châu Á đã có thêm trọng lượng so với trước đây.
Những ai quan tâm đến khu vực Đông Nam Á đều thấy rằng Hoa Kỳ đã nhắc đến vùng Southeast Asia như một thực thể, chứ không chỉ nói tới Đông Á (East Asia) một cách chung chung. Hoa Kỳ cũng xem ASEAN là một cơ cấu khu vực có trọng lượng mà Mỹ cần củng cố quan hệ hợp tác, tương tự như Diễn Đàn Hợp Tác Kinh Tế Châu Á Thái Bình Dương APEC, sáng kiến của Mỹ, hay là nhóm Đối tác Xuyên Thái Bình Dương Trans-Pacific Partnership trong khuôn khổ APEC, hoặc là Khối Hội Nghị Thượng Đỉnh Đông Á East Asia Summit mà Washington muốn tham gia.
Chính sách châu Á của Mỹ dĩ nhiên không thể xem nhẹ Trung Quốc, một thế lực đang lên mà Hoa Kỳ xác định là sẽ tiếp tục thúc đẩy một quan hệ ''tích cực, xây dựng và toàn diện''. Tuy nhiên, Washington sẽ ''theo dõi chương trình hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc và chuẩn bị một cách thích ứng sao cho các quyền lợi của Mỹ và các đồng minh, trong khu vực và trên thế giới, không bị tác hại''.
Gắn với vấn đề trên, dù không minh thị nói đến Biển Đông, nhưng Chiến lược an ninh mới của Mỹ đã nói lên quyết tâm bảo vệ quyền tư do lưu thông ''trên biển, trên không và trong vũ trụ'', chống lại bất kỳ ai muốn ''cản trở thông thương hay sử dụng các lãnh vực này vói ác ý''. Trong số những biện pháp mà Hoa Kỳ quyết tâm áp dụng, có việc duy trì quyền tự do lưu thông cho ''các eo biển chiến lược và các tuyến hàng hải trọng yếu''.
Để tìm hiểu thêm về vấn đề Biển Đông cũng như chính sách Đông Nam Á mới của Hoa Kỳ, trong đó Việt Nam có một vai trò quan trọng, RFI đã phỏng vấn giáo sư Ngô Vĩnh Long, chuyên gia Châu Á thuộc trường Đại Học Maine Hoa Kỳ.
Với chiến lược an ninh mới của Mỹ, Đông Nam Á được coi trọng hơn trước
Lý do chính là vì Trung Quốc trong hai năm qua bành trướng và có thái độ gây mất an ninh cho khu vực. Chiến lược của Mỹ hiện nay là làm thế nào vận động và phối hợp càng nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á càng tốt.
Trước đây Mỹ chủ yếu chú trọng đến vùng biển đảo Đông Nam Á, tức là vùng có Philippines, Indonesia, Malaysia. Trên đất liền Mỹ chủ yếu coi trọng Thái Lan. Gần đây Thái Lan bị khó khăn rất nhiều. Trước sự đe dọa của Trung Quốc, Mỹ thấy không thể tiếp tục chính sách cũ, mà phải có chính sách mới, làm sao vận động và phối hợp được tất cả các nước trong khu vực Đông Á Thái Bình Dương, và trong đó Việt Nam quan trọng nhất vì là nước lớn nhất trong đất liền, lại có lãnh hãi và lãnh thổ dài nhất ở khu vực Biển Đông. Vì thế Mỹ cần nhất sự hợp tác của Việt Nam.
Trên thực tế Mỹ đã áp dụng chiến lược này ngay sau khi ông Obama lên nắm quyền. Bà ngoại trưởng Clinton đã lập tức được ông cử đến các nước Đông Nam Á, và tuyên bố ''Mỹ đã trở lại''. Trong chuyến đi đó, bà cũng đã loan báo một số đề án cụ thể như đề án sông Mêkông v.v. Tất nhiên là Mỹ hiện nay có những chính sách mới cho khu vực.
Biển Đông : vị trí thiết yếu trong chiến lược an ninh mới của Mỹ
Chiến lược của Mỹ là cố gắng giữ an ninh trong khu vực Biển Đông, tìm ra những phương thức để giải quyết các tranh chấp trong vùng một cách hoà bình, trong khuôn khổ luật quốc tế, trong đó có các ''quy tắc ứng xử trên Biển Đông'' năm 2002 mà Trung Quốc đã ký kết. Mỹ luôn luôn muốn giải quyết hoà bình các vấn đề trong khu vực Biển Đông.
Hoa Kỳ không đưa ra quan điểm của họ về các vụ tranh chấp chủ quyền, nhưng thấy là cần phải duy trì tình hình tự do hàng hải, tự do thông thương ở Biển Đông.
Điều mà Mỹ quan tâm nhất trong vấn đề Biển Đông là sự đe doạ của Trung Quốc. Bắc Kinh đã đe dọa nhiều lần. Không những họ đã đưa ra bản đồ ‘’đường lưỡi bò’’ đòi hỏi khoảng 80% các vùng biển ở Biển Đông, mà vào tháng 3 vừa rồi chẳng hạn, khi thứ trưởng ngoại giao Mỹ Jim Steinberg vả cố vấn an ninh Mỹ sang thăm Trung Quốc, họ còn nói riêng với Hoa Kỳ là bây giờ Biển Đông trở thành ‘’khu vực quyền lợi trọng tâm’’ của Trung Quốc.
Trước đây, Trung Quốc chỉ xác định ba vùng Đài Loan, Tân Cương, Tây Tạng là khu vực quyền lợi trọng tâm, bây giờ họ nói với Mỹ là tất cả khu vực Biển Đông là của Trung Quốc, ai đến đây thì sẽ bị họ đánh đuổi. Mỹ dĩ nhiên không đồng ý và chính sách lớn của Mỹ hiện nay là bảo đảm an ninh và vùng Biển Đông cho mọi người.
An ninh Biển Đông hệ trọng không chỉ đối với Đông Nam Á mà đối với cả các đồng minh Bắc Á của Mỹ
Trong vấn đề an ninh trên Biển Đông, quyền tự do thông thương rất quan trọng: từ 56% cho đến 60% hàng hoá chuyên chở bằng đường biển mỗi năm đều đi qua vùng biển này, trong đó 90% dầu hỏa cho Đài Loan, cho Hàn Quốc, cho Nhật Bản là những đồng minh của Mỹ. Bên cạnh đó, còn có nhiều quyền lợi kinh tế và quân sự khác cho các nước Đông Nam Á. Nếu Trung Quốc cứ lấn chiếm hay là cứ đe dọa, thì tình trạng mất an ninh không chỉ ảnh hưởng đến các nước Đông Nam Á mà cũng tác động tới các quốc gia Bắc Á. Cho nên Mỹ cần phải duy trì an ninh trong khu vực Biển Đông.
Khi coi trọng Đông Nam Á trong chính sách của mình, điều đó có nghĩa là Mỹ cũng muốn xây dựng một cái vòng đai để ngăn chặn đà vưon lên của Trung Quốc. Đối với Hoa Kỳ, nếu Trung Quốc hành động có trách nhiệm, thì Mỹ sẽ không có phản ứng. Nhưng gần đây Bắc Kinh đã đổi thái độ.
Không chỉ đổi thái độ gần đây, mà vào năm 2007, Trung Quốc đã nói với Hoa Kỳ cùng chia Thái Binh Dương làm hai khu vực, phiá Tây Hawai do Trung Quốc kiểm soát, còn phiá bên kia dành cho Mỹ. Hoa Kỳ không đồng ý, thế là Trung Quốc lập tức gây hấn, cho đụng tàu của Mỹ năm sau đó, và bắt bớ ngư dân Việt Nam... Chính vì Bắc Kinh gây hấn như vậy, mà Mỹ phải có chính sách và thái độ như hiện nay.
Vai trò và vị trí quan trọng của Việt Nam trong chiến lược Đông Nam Á của Mỹ
Việt Nam trở thành một nước rất quan trọng đối với Mỹ, vì Việt Nam có lãnh thổ và lãnh hải dài nhất trong khu vực... Trong vùng Đông Nam Á ‘’đất liền’’, Việt Nam là nước lớn nhất về mặt dân số, diện tích không lớn bằng hay tương đương với Thái Lan, nhưng chạy dài trên vùng Biển Đông, cho nên phải có sự đồng ý của Việt Nam hay sự giúp đỡ của Việt Nam thì chính sách của Mỹ hay chính sách của các nước khác trong khu vực mới có thể thành công.
Chính quyền Mỹ còn phải vận động dân chúng trong nước họ để đẳy mạnh chính sách trở lại Đông Nam Á. Việt Nam là một nước lớn, nếu không có sự ủng hộ của Việt Nam cùng với các nước Đông Nam Á lớn khác như Indonesia, Malaysia, Philippines thì chính phủ Mỹ khó có thể nói với dân chúng họ là bây giờ các nước ASEAN đồng thuận với chính sách của Mỹ. Một khi được Việt Nam, một nước lớn ở trên đất liền ủng hộ, Chính quyền Mỹ có thể nói cho dân chúng họ là đã có đồng thuận chung, không cần phải có những nước nhỏ khác như Miến Điện, Lào hay Cam Bốt, bởi vì không cần đồng thuận hoàn toàn.
Tranh thủ được sự hợp tác của Việt Nam sẽ giúp cho Mỹ rất nhiều trong việc điều phối các cố gắng đa phương để giải quyết các vấn đề tranh chấp trong khu vực. Do đó, Mỹ hướng tới Việt Nam và chính quyền Mỹ cần Việt Nam trợ giúp trong việc vận động dân chúng để Hoa Kỳ có thể trở lại Đông Nam Á. Đây là một vấn đề rất khó. Hiện nay Mỹ ''ve vãn'' Việt Nam vì lý do đó. Họ muốn Việt Nam chứng tỏ mình sẽ là một nước có trách nhiệm trong khu vực.
Trong giai đoạn này Việt Nam cần Mỹ hơn là Mỹ cần Việt Nam
Muốn cho Mỹ có thể hoạt động tốt với Việt Nam trong nhiều lĩnh vực thì Việt Nam phải giúp Mỹ, mà một trong những vấn đề giúp Mỹ, là phải chứng tỏ cho người Mỹ thấy là Việt Nam bây giờ đáng giúp. Việt Nam phải có một bộ mặt chính trị tự do dân chủ khả dĩ, nếu không thì chính phủ Mỹ dầu có muốn lắm đi nữa thì cũng khó có thể thúc đẩy việc ủng hộ Việt Nam lên một mức cao hơn nữa.
Đại sứ Mỹ được báo Vietnamnet phỏng vấn đã nói : ‘’Tôi nghĩ trước hết Việt Nam phải tự quyết định Việt Nam muốn gì, rồi cần làm gì. Vì việc trở thành một nước có vai trò lãnh đạo toàn cầu không chỉ đem lại lợi ích cho mà còn mang lại trách nhiệm cho Việt Nam. Việt Nam phải quyết định rằng Việt Nam muốn cái quyền lợi đó và cái trách nhiệm đó hay không’’.
Để có quyền lợi và trách nhiệm đó, Việt Nam phải có một số hành động. Ví dụ như người Mỹ thích vấn đề tự do, tự do tranh luận... Nếu Việt Nam trong khi muốn vận động Mỹ, mà lại đàn áp, bắt bớ .. thì gây khó khăn cho chính phủ Mỹ trong việc thực hiện chính sách của họ ở Đông Nam Á. Cho nên ông Michalak có nói là Việt Nam đã có rất nhiều tiến bộ trong lãnh vực kinh tế nhưng cần có nhiều tiến bộ hơn nữa trong lãnh vực chính trị. Không phải Hoa Kỳ muốn Việt Nam đa đảng... nhưng muốn Việt Nam chứng minh cho dân chúng Mỹ, cũng như trên thế giới là Việt Nam là một nước có tự do dân chủ.
Việt Nam không nên sợ mất lòng Trung Quốc khi tăng cường hợp tác với Mỹ
Bây giờ không còn gì để mà tế nhị với Trung Quốc nữa. Trung Quốc đã ép Việt Nam cho đến điểm rất cao rồi. Bây giờ là vấn đề tùy thuộc vào Việt Nam chứ không phải là vào Mỹ. Trong thực tế, Hoa Kỳ hoàn toàn có thể tự mình bảo vệ quyền thông thương, đường hàng hải trên Biển Đông. Nhưng vấn đề không chỉ là bảo vệ thông thương trên biển, mà bảo đảm an ninh cho toàn khu vực.
Cho nên nếu ví dụ như Việt Nam đi với Trung Quốc chẳng hạn, hay là Việt Nam để cho Trung Quốc bắt ép, thì đến một lúc nào đó, có chuyện gì xẩy ra thì sẽ mất an ninh. Ví dụ như bị ép quá cuối cùng Việt Nam phải phản ứng lại đơn phương, thì làm sao mà Mỹ và các nước khác mà có thể kịp vận động dân chúng họ để vào hỗ trợ cho Việt Nam ? Thành ra vấn đề là phải đi từng bước, đi trước chứ để nước đến chân rồi mới nhảy thì rất khó. Cho nên vấn đề chính là của Việt Nam chứ không phải là của Mỹ.
Với chiến lược an ninh mới, Hoa Kỳ coi trọng Diễn đàn An ninh ARF hơn trước
Diễn đàn ARF sẽ rất quan trọng cũng như tất cả các diễn đàn khác trong khu vực Đông Nam Á bởi vì các diễn đàn đó giúp cho các nước đối thoại với nhau, để đi đến tin tưởng nhau hơn. Mỹ trước đây đúng là không để ý đến các diễn đàn này, nhưng bây giờ thì khác. Ngoài vấn đề Diễn đàn ARF, Hoa Kỳ cũng đã bổ nhiệm một đại sứ cho cả ASEAN.
Bên lề cuộc phỏng vấn, Giáo sư Ngô Vĩnh Long còn nêu lên một nhận xét của ông về quan hệ Mỹ - Việt nói chung :
« Tôi vừa đi Việt Nam về và tôi biết là trong chính quyền nhiều người vẫn còn sợ là Mỹ sẽ lật đổ chính phủ Việt Nam. Hoa Kỳ đã nói rất nhiều lần là họ hoàn toàn công nhận chính phủ Việt Nam, công nhận sự toàn vẹn của chủ quyền Việt Nam và sẽ phản đối bất cứ ai, bất cứ lực lượng nào sử dụng vũ lực để lật đổ chính phủ Việt Nam. Họ nói như vậy là quá rõ ràng. Còn nói đến vấn đề diễn biến hoà bình tức là để không có dân chủ trong nước thì đó là vấn đề ''dùng ngáo ộp'' để dọa dân chúng Việt Nam. Nhưng nếu làm như vậy, không đi đến dân chủ hoá, thì khó mà giúp cho Chính quyền Mỹ vận động dân chúng họ ủng hộ Việt Nam được ».

Trung Quốc chuẩn bị chiến tranh trên bộ với Nga?

Nguồn nhân lực vô tận biến quân đội Trung Quốc thành một quân đội thực sự đáng sợ, còn nhờ vào việc làm chủ các loại phương tiện kỹ thuật mới, nó trở nên bất khả chiến bại. Trung Quốc có khả năng đèp bẹp bằng quân số bất kỳ đối phương nào trong một cuộc chiến quy ước trên bộ. Bố trí binh lực của quân đội Trung Quốc cho thấy họ coi Nga là một trong những đối tượng tác chiến chủ yếu.
Lục quân đã, đang và vẫn sẽ là nền tảng sức mạnh quân sự của quân đội Trung Quốc bởi lẽ số dân khổng lồ, hơn nữa là việc quá thừa mứa nam giới ở độ tuổi thanh niên mang lại cho bộ chỉ huy quân đội Trung Quốc một nguồn lực hiếm có mà lãnh đạo chính trị-quân sự các nước khác đến mơ cũng không thể có. Thậm chí là với sự lạc hậu nhất định về kỹ thuật so với quân đội nhiều nước, Trung Quốc vẫn có thể đè bẹp bằng số lượng mọi địch thủ mà họ gặp trong một cuộc chiến tranh quy ước trên bộ. Việc Trung Quốc coi ai là đối phương thì chỉ cần xem xét việc bố trí các cụm binh lực của họ.
Mạnh nhất trong 7 đại quân khu của Trung Quốc là các đại quân khu với bộ tư lệnh đặt tại Bắc Kinh và Thẩm Dương, giáp giới với Nga (đại quân khu Bắc Kinh nhằm đối phó với quân khu Siberia của Nga, còn đại quân khu Thẩm Dương nhằm vào quân khu Viễn Đông của Nga).
Hai đại quân khu này nắm giữ 4 trong 9 sư đoàn tăng và 6 trong 9 sư đoàn cơ giới, 6 trong 12 lữ đoàn tăng của lục quân Trung Quốc. 2 sư tăng và 1 lữ 1 tăng khác thuộc biên chế đại quân khu với bộ tư lệnh đặt tại Lan Châu (nằm ở phía Tây Trung Quốc, hướng vào Trung Á, Mông Cổ và Siberia ở phía Tây hồ Baikal), còn 1 sư tăng và 1 sư cơ giới, 2 lữ tăng và 1 lữ cơ giới duy nhất của quân đội Trung Quốc trong biên chế của đại quân khu Tế Nam nằm ở miền trung Trung Quốc và là lực lượng dự bị chiến lược cho các đại quân khu Bắc Kinh, Thẩm Dương, Lan Châu và Nam Kinh.
Riêng tập đoàn quân 38 của đại quân khu Bắc Kinh chính là trường thử để tập dượt các thủ đoạn và phương pháp sử dụng các loại phương tiện kỹ thuật chiến đấu mới.
Pháo binh của tập đoàn quân này được tự động hóa hoàn toàn và có độ chính xác không thua kém pháo binh Mỹ và vượt trội pháo binh Nga.
Lực lượng tăng-giáp được đổi mới nhanh, tốc độ tiến công của lực lượng này, như kinh nghiệm các cuộc tập trận cho thấy, là cao hơn của quân đội Nga. Ví dụ, trong biên chế tập đoàn quân 38 có sư đoàn tăng số 6 tự động hóa hoàn toàn, được trang bị các xe tăng Туре 96.
Tốc độ tiến công của tập đoàn quân 38 đạt 1.000 km/tuần lễ (150 km/ngày đêm).
Tập đoàn quân này còn có lữ đoàn tên lửa phòng không số 4, đơn vị phòng không hiện đại nhất của Trung Quốc (trong đó có 1 tiểu đoàn tên lửa phòng không Tor).
Trường thử thứ hai để thao luyện các phương pháp mới sử dụng lục quân là đại quân khu dự bị Tế Nam, trong đó có các sư đoàn kiểu mẫu, được trang bị tối tân nhất là sư tăng số 8 và sư bộ binh cơ giới nhẹ số 127.
Các đơn vị cơ động còn lại của lục quân Trung Quốc (các sư đoàn tăng và cơ giới) thuộc biên chế đại quân khu Nam Kinh vốn có nhiệm vụ chính là đánh chiếm Đài Loan. Bố trí ở đây là 2 sư cơ giới đổ bộ đường biển, lữ xe tăng bơi duy nhất và lữ đặc nhiệm đổ bộ duy nhất. Tổng quân số của các đơn vị này là 25.000 quân. Tính cả lính thủy đánh bộ thì hải quân Trung Quốc sở hữu đội quân lính thủy đánh bộ lớn thứ hai thế giới sau Mỹ.
Yếu nhất là các đại quân khu với bộ tư lệnh đặt tại Thành Đô và Quảng Châu, giáp giới với Ấn Độ và Đông Dương. Các đại quân khu này không có lấy 1 sư đoàn tăng hay cơ giới nào, tức là bộ chỉ huy quân đội Trung Quốc không dự tính tiến hành các hành động tiến công trên hướng Nam.
Lực lượng của các đại quân khu này chủ yếu là các sư bộ binh cơ giới (bộ binh trước đây), loại hình đơn vị cổ lỗ nhất của lục quân Trung Quốc.
Ở các đại quân khu khác, đa số các sư đoàn này được chuyển thành các lữ đoàn. Việc chuyển từ sư đoàn sang lữ đoàn diễn ra khá nhanh, mặc dù không thể tuyệt đối hóa quá trình này.
Trung Quốc không định chuyển các sư đoàn tăng và cơ giới vốn là sức mạnh đột kích chủ lực của lục quân thành các lữ đoàn.
Trong trang bị của lục quân Trung Quốc hiện có gần 10.000 xe tăng chủ lực (450 chiếc Туре 90II, 1.200 Туре 96, 200 Туре 98, 400 Туре 88С, 500 Туре 88В, 1.000 Туре 80, 500 Туре 79, 200 Туре 69, 5500 Туре 59) và 2.000 tăng hạng nhẹ (1.200 Туре 62, 800 Туре 63).
Có thể liệt vào lại hiện đại là các loại tăng Туре 90II, Туре 96 và Туре 98, trong đó Type-98 được cho là không thua kém các loại tăng tốt nhất của phương Tây (М1А2, Leopard-2А6). Cả 3 loại tăng này được trang bị pháo 125 mm giống như loại lắp trên các loại xe tăng Nga (kể từ Т-64А).
Tất cả các loại tăng còn lại của lục quân Trung Quốc là những biến thể cải tiến bất tận dựa trên xe tăng T-54 được Liên Xô chế tạo vào cuối thập niên 1940 (mà mẫu sao chép trực tiếp của T-54 là Туре 59), bởi vậy chúng có tính năng chiến đấu thua xa các loại xe tăng tốt nhất của phương Tây và Nga.
Các loại xe thiết giáp khác (đến 3.000 xe chiến đấu bộ binh, 100 xe chiến đấu đổ bộ đường không, không dưới 8.000 xe bọc thép chở quân) hoặc là các mẫu sao chép các mẫu của Liên Xô hoặc cải tiến từ chúng, hoặc là do Trung Quốc tự phát triển (đôi khi có sử dụng công nghệ phương Tây).
Cũng có thể nói như vậy về pháo binh Trung Quốc (đến 15.000 khẩu pháo, trong đó có 1.200 pháo tự hành, đến10.000 khẩu cối, đến 4.000 hệ thống rocket phóng loạt).
Trung Quốc rất chú trọng pháo phản lực mà sức mạnh của nó người Trung Quốc đã nếm trải trong trận đánh thứ hai giành đảo Damansky trong cuộc xung đột biên giới với Liên Xô.
Họ đã phát triển nhiều hệ thống rocket phóng loạt hạng nặng (Туре 83, А-100, WM-80, WS-1 cỡ từ 273-320 mm. Có thể sánh với chúng về uy lực chỉ có hệ thống MLRS của Mỹ và Smerch của Nga.
Trong trang bị của lục quân Trung Quốc còn có đến 8.000 hệ thống tên lửa chống tăng và khoảng chừng đó pháo chống tăng, 150 hệ thống tên lửa phòng không cơ động (Tor, HQ-7, HQ-61, LY-60, PL-9D), đến 15.000 pháo phòng không (cỡ từ 23-100 mm).
Tuy nhiên, số lượng pháo phòng không lớn như thế cũng không thể bù đắp cho việc thiếu hụt các hệ thống tên lửa phòng không, bởi vậy phòng không của lục quân Trung Quốc không đáp ứng các yêu cầu của chiến tranh hiện đại. Nhưng xét tới tình trạng suy sụp của Không quân Nga thì lực lượng phòng không như vậy cũng có thể đủ cho Trung Quốc.
Lực lượng máy bay lục quân Trung Quốc rất đa dạng, gồm có các loại trực thăng của Nga (128 Mi-17, 30 Mi-8), của Mỹ (22 S-70C) và châu Âu (100 НС-120, 110 Z-9 [SA-365], 8 SA-342, 30 Z-11, 10 Z-8 [SA-321]).
Đối với một quân đội to lớn như của Trung Quốc thì số lượng trực thăng như vậy hiển nhiên là không đủ. Quan trọng nhất là đến nay, quân đội Trung Quốc vẫn không có trực thăng tiến công và đây chính là nhược điểm cốt tử của họ.
Lục quân Trung Quốc được huấn luyện rất tích cực, một số khía cạnh còn gây lo ngại.
Ví dụ, tháng 9.2006, họ đã tiến hành cuộc tập trận quy mô chưa từng có dài 10 ngày của các đại quân khu Thẩm Dương và Bắc Kinh.
Trong cuộc tập trận này, các đơn vị của 2 đại quân khu Thẩm Dương đã thực hiện cuộc hành quân đường dài 1.000 km đến địa bàn đại quân khu Bắc Kinh để giao chiến huấn luyện với các đơn vị của đại quân khu này. Việc chuyển quân được tiến hành bằng phương tiện biên chế cũng như bằng đường sắt.
Mục tiêu diễn tập là thao dượt các kỹ năng cơ động ở xa nơi đóng quân cho các binh đoàn lục quân và nâng cao trình độ chỉ huy bảo đảm hậu cần cho quân đội.
Một kịch bản tập trận như vậy chỉ có thể xem là sự chuẩn bị cho cuộc chiến tranh với Nga, nhất là khi họ thao luyện hành động tác chiến tiến công chứ không phải phòng thủ.
Đối với Đài Loan, cũng như Đông Nam Á hay bán đảo Triều Tiên thì kịch bản trên chẳng có ý nghĩa gì vì chiều sâu chiến trường tương đối nhỏ và các điều kiện tự nhiên-khí hậu khác.
Họ tập dượt các chiến dịch tiến công sâu trên bộ, ở địa hình rừng núi thì đối tượng của Trung Quốc chỉ có thể là Nga và Kazakhstan.
Bề mặt địa hình nơi tập trận cũng giống như ở vùng Zabaikal, còn 1.000 km chính là khoảng cách từ biên giới Nga-Trung dọc con sông Argun đến Baikal.
Tuy nhiên, đại quân khu Lan Châu của quân đội Trung Quốc đối diện với Kazakhstan không hề tham gia cuộc tập trận đó. Tiến hành diễn tập chính là các đại quân khu Thẩm Dương và Bắc Kinh giáp giới Nga.

Trung Quốc chưa thể có hành động quân sự tại Biển Đông

Trong bối cảnh hiện nay, còn rất nhiều rào cản khiến Trung Quốc chưa thể áp dụng hành động quân sự thực tế trong tranh chấp chủ quyền biển Đông. Các chuyên gia quân sự Trung Quốc cũng cảnh báo nếu Bắc Kinh Trung áp dụng hành động quân sự, cái giá phải trả sẽ rất đắt, thậm chí ảnh hưởng quốc tế tiêu cực của hành động này đối với Trung Quốc còn lớn hơn cả phát động một cuộc chiến tranh tại Eo biển Đài Loan.





Một số tờ báo của Hồng Công gần đây như "Đại công báo", “Văn Hối”, “Đông phương” và nguyệt san “Phòng vệ Hán Hoà” dẫn lời các nhà quan sát quân sự Bắc Kinh cho rằng tuy từ đầu năm 2009 đến nay, các bước chuẩn bị đấu tranh quân sự của Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp chủ quyền biển Đông (Trung Quốc gọi là biển Hoa Nam) vô cùng rầm rộ. Thế nhưng trong bối cảnh hiện nay, còn rất nhiều rào cản khiến Trung Quốc chưa thể áp dụng hành động quân sự thực tế trong tranh chấp chủ quyền biển Đông. Các chuyên gia quân sự Trung Quốc cũng cảnh báo nếu Bắc Kinh Trung áp dụng hành động quân sự, cái giá phải trả sẽ rất đắt, thậm chí ảnh hưởng quốc tế tiêu cực của hành động này đối với Trung Quốc còn lớn hơn cả phát động một cuộc chiến tranh tại Eo biển Đài Loan. Dưới đây là tổng hợp nội dung cơ bản của các bài viết này.


1- Rào cản chính trị:

- Tại khu vực Biển Đông, hiện nay có ba nước tồn tại bất đồng lớn nhất với Trung Quốc về lãnh hải và hải đảo là Việt Nam, Philippin và Malaixia, trong đó Việt Nam là hàng đầu. Vì thế, khả năng bùng nổ xung đột quân sự tại khu vực biển Đông chỉ có thể là Trung Quốc tấn công quân sự chiếm các đảo, bãi mà Việt Nam đang kiểm soát tại quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọil à Nam Sa). Còn khả năng Trung Quốc và Malaixia nổ ra xung đột quân sự do tranh chấp đảo Layan Layan (đá Hoa Lau) trong tương lai gần, cơ bản bằng không. Thế nhưng, vấn đề quan trọng là Trung Quốc áp dụng hành động quân sự quy mô lớn với Việt Nam, thế tất sẽ thiêu huỷ hoàn toàn hình tượng quốc tế “hoà bình phát triển” mà Trung Quốc tạo dựng trong gần 20 năm qua. Hệ quả là sự cảnh giác của Ôxtrâylia, Mỹ, Nhật Bản và cả Hiệp hội các nước Đông Nam á (ASEAN) đối với Trung Quốc sẽ tăng cao.

- Gần đây, hợp tác và trao đổi quân sự giữa Mỹ với ASEAN và Việt Nam đã có những bước tiến lớn, một khi Trung Quốc áp dụng hành động quân sự, dư luận và báo chí chính thức của Mỹ, ấn Độ, Nhật Bản và các nước phương Tây khác sẽ đứng về phía Việt Nam. Mỹ, Ấn Độ và Nhật Bản thậm chí còn cung cấp cho Việt Nam chi viện về tình báo và hậu cần quân sự cho Việt Nam. Bên cạnh đó, “Học thuyết quân sự mới” của Ôxtrâylia cho rằng biển Đông chính là “biên cương lợi ích” của Ôxtrâylia sẽ có cớ phát triển.

- Một khi chiến tranh bùng nổ, sẽ thúc đẩy nhanh hơn sự thành lập chính thức của tập đoàn “NATO biển Đông”, bước đi Nam tiến của Lực lượng Tự vệ trên biển của Nhật Bản cũng sẽ trở thành hiện thực và tạo ra căn cứ hợp pháp để Mỹ can thiệp quân sự trực tiếp. Hơn thế, tại khu vực này, tồn tại “Hiệp ước đồng minh Mỹ - Xinhgapo - Ôxtrâylia” và từ sau năm 1995, Mỹ cùng với 6 nước ASEAN là Philippin, Thái Lan, Xinhgapo, Malaixia, Inđônêxia và Bruney tổ chức cuộc diễn tập quân sự hàng năm mang tên “Karat”, được mệnh danh là “Tập đoàn Karat” và trên thực tế đã trở thành quan hệ “chuẩn đồng minh”.

- Quần đảo Trường Sa hiện nay, có một số đảo nằm sát bờ biển Malaixia, có một số đảo gần đường trung tuyến Việt Nam - Malaixia, cách Trung Quốc xa như vậy, nói là của Trung Quốc thật khó có sức thuyết phục. Do vậy, khi Trung Quốc áp dụng hành động quân sự, hình tượng quốc tế của các nước hữu quan, nhất là Việt Nam sẽ tốt hơn nhiều so với Trung Quốc, theo đó các nước lớn châu Âu, thậm chí cả Mỹ và Ấn Độ sẽ cùng đưa ra đề nghị cung cấp vũ khí cho Việt Nam, khiến cho nhân tố thiên thời và nhân hòa là bất lợi đối với Trung Quốc.

2- Rào cản về quân sự http://bee.net.vn/channel/2981/201003/Tim-hieu-suc-chien-dau-tau-khu-truc-Viet-Nam-dat-mua-1746156/

- Các nhà quan sát quân sự Bắc Kinh nêu rõ nhìn bề ngoài, so sánh sức mạnh quân sự giữa Trung Quốc với Việt Nam, phía Trung Quốc có vũ khí hiện đại mang tính áp đảo, nhất là ưu thế về số lượng và chất lượng tàu mặt nước, tàu ngầm cỡ lớn. Thế nhưng, phân tích sâu về học thuyết địa - quân sự, thực sự bùng nổ chiến tranh trên không và trên biển với Việt Nam, ưu thế sức mạnh quân sự không hẳn nghiêng về Trung Quốc. Bởi vì đặc điểm mới của chiến tranh kỹ thuật công nghệ cao với vũ khí tên lửa là không có khái niệm so sánh sức mạnh của nước mạnh, nước yếu. Theo đó, nước yếu có một số ít tên lửa hiện đại, trong chiến tranh trên biển và trên không, vẫn có thể dựa vào ưu thế thiên thời, địa lợi, nhân hòa v.v.

- So sánh cụ thể hơn, về hải quân và không quân của Trung Quốc tham gia cuộc chiến tranh này sẽ chủ yếu là Hạm đội Nam Hải (Bộ Tư lệnh đặt tại Trạm Giang, Quảng Châu). Còn Việt Nam lực lượng không quân được trang máy bay chiến đấu “Su- 30MKV” và “Su- 27SK/UBK”. Hải quân Việt Nam được trang tàu tên lửa tốc độ cao “Molniya-12418” và tới đây có cả tàu ngầm “KILO- 636”. Như vậy, xu thế so sánh sức mạnh tại biển Đông đang phát triển theo hướng bất lợi cho Trung Quốc.

- Trong tương lai gần, khi Hải quân Việt Nam đưa tàu ngầm “KILO- 636” vào sử dụng, quyền kiểm soát cục bộ dưới nước có thể sẽ nghiêng về phía Hải quân Việt Nam. Ngoài ra, Trung Quốc phải tính đến nhân tố máy bay chiến đấu “Su- 30MKV” của không quân Việt Nam có thể sẽ được trang bị tên lửa siêu âm không đối hạm “BRAHMOS” (của ấn Độ) và “YAKHONT” (của Nga) với tầm bắn đạt 300 km.

- Về năng lực phòng không, Trung Quốc và Việt Nam đều được trang bị tên lửa đất đối không hiện đại “S- 300PMU1”. Lực lượng phòng không của Việt Nam có 2 tiểu đoàn, còn con số này của Trung Quốc là 20. Thế nhưng, lực lượng này (của Trung Quốc) chủ yếu bố trí trên đất liền, do vậy vai trò có thể phát huy trong chiến tranh trên biển và không phận trên biển khá hạn chế.

3- Rào cản về địa lý

- Toàn bộ 29 đảo, bãi mà Việt Nam kiểm soát hiện nay tại Trường Sa, cách đất liền từ 400 - 600 km. Tại khu vực này, Việt Nam có các căn cứ không quân tại vịnh Cam Ranh (Nha Trang), Đà Lạt (Lâm Đồng) và ở Thành phố Hồ Chí Minh, đa số không phận tại khu vực tranh chấp này đều nằm trong tầm tác chiến của máy bay tấn công “Su- 22” của không quân Việt Nam, chưa kể đến máy bay chiến đấu “Su- 30MKV” và “Su- 27SK” với bán kính tác chiến lên đến 1.500 km. Từ đó cho thấy cả Trung Quốc và Việt Nam đều có đủ năng lực tấn công tầm xa đối với các căn cứ hải quân tung thâm của đối phương.

- Việt Nam đã xây dựng sân bay tại đảo Trường Sa. Nếu so sánh, không quân Trung Quốc kể cả cất cánh từ sân bay tại đảo Hải Nam, khoảng cách đường thẳng đối với 29 đảo bãi Việt Nam đang kiểm soát đã lên đến từ 1.200 - 1.300 km, còn cất cánh từ khu vực quần đảo Hoàng Sa, khoảng cách đến Trường Sa cũng lên đến từ 900 - 1.000 km… Điều này buộc máy bay chiến đấu “J- 10” và “J- 8D” và cả “Su- 30MKK” và “Su- 27SK” của Không quân Trung Quốc đều cần được tiếp dầu trên không mới có thể tham chiến. Tuy vậy, thời gian tác chiến trên vùng trời biển Đông so với máy bay chiến đấu cùng loại của không quân Việt Nam cũng ngắn hơn khoảng 50%.

- Khi chiến tranh bùng nổ, sân bay trên đảo Vĩnh Hưng (Hoàng Sa) và thậm chí cả sân bay trên đảo Hải Nam của không quân Trung Quốc nhiều khả năng trước tiên sẽ bị máy bay chiến đấu “Su- 22” của không quân Việt Nam thực hiện tấn công phủ đầu. Căn cứ Toại Khê, Căn cứ Quế Lâm (Quảng Tây) của Sư đoàn không quân số 2 cũng nằm trong phạm vi bán kính tác chiến tấn công của máy bay chiến đấu “Su- 30MKV” của Không quân Việt Nam. Ngoài ra, còn một yếu tố quan trọng khác là xung đột không chỉ hạn chế ở khu vực biển Đông, toàn bộ các mục tiêu chiến lược tại đảo Hải Nam, Hồng Kông, Côn Minh (Vân Nam) và Nam Ninh (Quảng Tây) đều nằm trong phạm vi bán kính tác chiến của máy bay chiến đấu “Su- 30MKV” của Không quân Việt Nam.

- Địa hình lãnh thổ của Việt Nam dài hẹp, máy bay “Su- 27SK” và “J- 10A” của Trung Quốc, sau khi tham chiến, trên đường bay trở về căn cứ tại đảo Hải Nam hay căn cứ Toại Khê, Quế Lâm (Quảng Tây), đều nằm trong tầm tác chiến của máy bay chiến đấu “MiG- 21Bis” của Không quân Việt Nam cất cánh từ các căn cứ không quân miền Bắc và miền Trung Việt Nam. Do vậy, MiG- 21Bis của Việt Nam có thể cất cánh đánh chặn máy bay chiến đấu của Trung Quốc đã hết vũ khí và thiếu nhiên liệu vào bất cứ lúc nào.

4- Rào cản về chiến thuật

- Máy bay chiến đấu “Su- 22” của không quân Việt Nam có thể sẽ áp dụng chiến thuật không kích siêu thấp và có được sự yểm hộ hoả lực trong tấn công đảo, bãi. Vì thế, ngay cả khi Trung Quốc chiếm lĩnh được các đảo bãi Việt Nam đang kiểm soát hiện nay, bảo vệ lâu dài là vấn đề cực kỳ khó khăn. Ngoài ra, Không quân Việt Nam áp dụng chiến thuật không kích tầm siêu thấp, sẽ tránh được sự theo dõi của các loại rada trên tàu mặt nước của Trung Quốc và trực tiếp tấn công các tàu mặt nước cỡ lớn của hải quân Trung Quốc.
- Hải quân Việt Nam không có tàu mặt nước cỡ lớn, cho nên không ngại Trung Quốc áp dụng chiến thuật không kích tầm siêu thấp. Hơn thế, như vậy còn khiến cho tàu ngầm hiện đại của Trung Quốc không thể phát huy sức mạnh, chỉ có thể tấn công tàu vận tải của hải quân Việt Nam
Nhưng phán đoán từ loại tàu đổ bộ từ đất liền tiến ra đảo, bãi quần đảo Trường Sa của Việt Nam hiện nay, đa số là tàu vận tải cỡ nhỏ lớp từ 300 - 500 tấn trở xuống, hơn thế phần nhiều là được đóng bằng gỗ, cho nên điều động tàu ngầm hiện đại để tiêu diệt là không cần thiết./.

Nga giúp Việt Nam xây căn cứ tàu ngầm

Trở về Nga sau chuyến thăm chính thức Việt Nam, Bộ trưởng Quốc phòng Nga cho báo giới hay hải quân Nga sẽ giúp Việt Nam xây căn cứ tàu ngầm.

Trong chuyến thăm Hà Nội từ 22 đến 24 tháng Ba, ông Anatoly Serdyukov đã hội đàm với tướng Phùng quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng của Việt Nam.

Trước câu hỏi của phái viên về tình trạng của hải quân Việt Nam hiện nay và các kế hoạch mua sắm vũ khí trong tương lai, ông Serdyukov nói Nga sẽ giúp Việt Nam xây dựng căn cứ tàu ngầm.

Hãng tin Nga trích lời Anatoly Serdyukov nói rằng Việt Nam cần căn cứ cho hải đội sáu chiếc tàu ngầm nước này mua từ Nga.

Đây là loại tàu ngầm hạng Kilo, chạy bằng điện và dầu diesel.

Bộ trưởng Quốc phòng Nga cho báo giới hay Việt Nam muốn Moscow giúp xây một xưởng sửa chữa tàu, để sau này có thể dùng vào việc bảo dưỡng tàu chiến của Nga.

Ông Serdyukov nói thêm hải quân Việt Nam đang tính mua một số tàu yểm trợ và hộ tống, tuy chưa có đủ tài chính. Báo Nga trích lời ông Serdyukov nói rằng Việt Nam muốn vay Nga một khoản tiền để nhóm tàu này.

Theo ông Serdyukov chủ đề Cam Ranh đã không được nói tới trong cuộc họp của người đứng đầu bộ quốc phòng hai nước.


Tin nói rằng Nga đang chạy thử tàu Gepard 3.9 trước khi giao hàng cho hải quân Việt Nam.

Trước sự lớn mạnh của hải quân Trung Quốc và nhu cầu bảo về bờ biển dài hơn 3000 cây số, Việt Nam đang hướng về Nga như là nơi cung cấp vũ khí. Hợp tác quân sự giữa hai nước được đẩy mạnh với nhiều hợp đồng mua bán vũ khí.

Hãng tin RIA Novosti trích lời ông Serdyukov nói rằng trong hai năm 2008-2009 Việt Nam bỏ ra 4,5 tỷ USD để mua vũ khí từ Nga.

Bên cạnh sáu tầu ngầm hạng Kilo, Hà Nội cũng đặt mua từ Nga chiến hạm hạng Gerpad, hỏa tiễn hạm lớp Tarantul I. Và chiến đấu cơ Su-30.

Báo chí quốc tế nhận định Việt Nam thực hiện chương trình mua sắm vũ khí lớn trong lúc căng thẳng gia tăng tại hai quần đảo đang bị tranh chấp là Hoàng Sa và Trường Sa. Cả Trung Quốc lẫn Việt Nam đều đòi chủ quyền toàn bộ đối với hai quần đảo này.

Tàu chiến Gerpad

Tin nói rằng một xưởng đóng tàu tại Tatarstan, LB Nga, vừa hạ thủy hai tàu Gepard 3.9 để thử lần cuối trước khi giao hàng cho hải quân Việt Nam.

Truyền thông Nga trích lời người phát ngôn của xưởng đóng tàu Zelenodolsk cho hay chiếc thứ hai vừa được hạ thủy trong tuần qua, sau khi chiếc thứ nhất được hoàn tất từ tháng 12/2009.

Hợp đồng cung cấp tàu Gepard 3.9 được ký từ cuối năm 2006 qua công ty Rosoboronexport, nhà xuất khẩu vũ khí hàng đầu của Nga.

Phát ngôn viên của nhà máy Zelenodolsk nói: "Tàu chiến Gepard 3.9 thứ nhất sẽ được giao cho Việt Nam vào tháng 10 tới, chiếc thứ hai vào cuối năm nay".

Cả hai chiếc hiện đang được vận hành thử trên biển Baltic.

Tàu hộ tống Gepard-3.9 có khả năng tác chiến với cả tàu ngầm và tàu chiến, đồng thời tiêu diệt các mục tiêu trên không.

Công nghệ tàng hình (Stealth technology) được sử dụng, giúp tàu này hiện diện tối thiểu trên màn hình radar của đối phương.

Hai tàu cho Hải quân Việt Nam là thế hệ Gepard đời mới nhất của nhà máy Zelenodolsk, mất tới hai năm rưỡi để chế tạo từ mẫu đang hoạt động thuộc lớp Project 11661.

Gepard 3.9 dài 102 mét và lượng giãn nước 2.100 tấn. Tàu này có tốc độ đáng nể là 28 hải lý một giờ.


Việt Nam cũng đặt mua tám chiến đấu cơ Sukhoi, loại 30MK2 từ Nga.

Tàu có trang bị hệ thống hỏa tiễn Uran-E, pháo AK-176M 76.2-mm, hệ thống phòng không Palma, hai pháo AK-630M và ống phóng lôi 533-mm. Gepard 3.9 có thể đi kèm trực thăng Helix Ka-28 hoặc Ka-31.



Mục đích hòa bình

Giới chức quốc phòng Việt Nam luôn khẳng định kế hoạch nâng cấp hải quân-không quân này chỉ để nhằm tăng khả năng phòng vệ, chứ không phải để đối đầu với bất cứ quốc gia nào.

Tàu Gepard khi giao hàng sẽ trở thành vũ khí chủ lực của Hải quân Việt Nam. Có tin Việt Nam cũng đang tìm cách tự đóng tàu này ở trong nước theo hướng dẫn của Nga.

Hiện Hải quân Việt Nam có 2 chiếc tàu tuần tiễu loại nhẹ BPS – 500 và 5 chiếc lớp Petya-III.

Việt Nam cũng đã mua từ Nga 4 tàu hỏa tiễn lớp Tarantul I, là tàu chiến chủ yếu của Hải quân Việt Nam hiện nay. Tàu này được trang bị tên lửa chống hạm SS-N– 22, có khả năng tấn công các khu trục hạm hiện đại, các mục tiêu siêu xa ngoài 200 hải lý với tốc độ lớn.

Nga cũng bán cho Việt Nam hồi 2007 tàu chiến siêu tốc Molnya có trang bị tên lửa siêu âm chống hạm và tên lửa phòng không tầm ngắn. Nga còn có kế hoạch cho phép Việt Nam có thể tự sản xuất tàu hạng này số lượng lớn.

Đại sứ Pháp: "Việt Nam là cửa ngõ vào ASEAN"

VNA 24/03/2010 - Trong cuộc họp báo sáng 24/3 tại Hà Nội nhân dịp nhận nhiệm kỳ công tác ở Việt Nam, Đại sứ Pháp Francois Girault khẳng định Pháp coi Việt Nam là cửa ngõ vào ASEAN.
Đại sứ Girault nhấn mạnh, những nhiệm vụ ưu tiên trong nhiệm kỳ của ông là thực hiện và cụ thể hóa những chương trình hợp tác giữa hai nước, được ký kết nhân chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng François Fillon cuối năm 2009.

Theo đó, Pháp sẽ hỗ trợ Việt Nam trong các lĩnh vực phát triển bền vững và đổi mới công nghệ; giáo dục-đào tạo và hợp tác kinh tế.

Đại sứ Girault cho biết, Pháp hiện là nước viện trợ ODA lớn nhất châu Âu và đứng thứ hai về viện trợ song phương cho Việt Nam, tập trung trong các lĩnh vực môi trường, giao thông-vận tải, năng lượng…

Pháp có 70% lượng điện năng được sản xuất từ các nhà máy điện nguyên tử. Do đó, Pháp mong muốn chia sẻ kinh nghiệm quý báu này với Việt Nam.

Đại sứ nhấn mạnh, kể từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007, Việt Nam đã mở cửa mạnh với các chính sách thu hút đầu tư thông thoáng. Chính vì vậy, các doanh nghiệp Pháp mong muốn tiếp tục mở rộng thêm các lĩnh vực đầu tư khác ở Việt Nam.

Pháp mong muốn Việt Nam cũng coi Pháp là cửa ngõ thâm nhập thị trường Liên minh châu Âu (EU).

Đại sứ cũng chia sẻ, tháng 10 tới, các nghệ sĩ Pháp sẽ tới Việt Nam tham gia triển lãm, hòa nhạc nhân dịp Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội./.

Trung Quốc - Campuchia ngày càng gắn bó

Trong năm năm qua, quan hệ Trung Quốc và Campuchia đã ngày càng gần gũi hơn bao giờ hết, vì Bắc Kinh đã đầu tư hàng tỷ đô la cho quốc gia Đông Nam Á nghèo khổ này. Tuy nhiên, Campuchia cũng nhận thấy cả lợi ích và những rủi ro tiềm tàng trong mối quan hệ với Trung Quốc.
Cũng trong suốt thời gian ấy, Trung Quốc đã trở thành nguồn đầu tư nước ngoài quan trọng nhất của Campuchia; cụ thể Campuchia đã thông qua khoản đầu tư 6 tỉ USD của Trung Quốc từ năm 2006, trong khi Trung Quốc mới chỉ cung cấp ít nhất khoảng 2 tỉ USD vào các khoản viện trợ và vay nợ.

Tuy nhiên, đó là lại là những khoản tiền lớn đối với Campuchia, một đất nước có nền kinh tế chỉ khoảng 10 tỷ USD.

Trong những năm gần đây, mối quan hệ với Trung Quốc được Thủ tướng Campuchia Hun Sen phát triển lên tầm cao mới. Thực tế, Thủ tướng Hun Sen đã công khai ca ngợi sự phát triển nhanh chóng trong lĩnh vực đầu tư của Trung Quốc. Ông Hun Sen cũng đánh giá rằng Trung Quốc là bạn, vì Bắc Kinh viện trợ mà không kèm theo hoặc gắn với điều kiện và can thiệp nội bộ của Campuchia.

Tuy nhiên, Cheang Vanarith, Giám đốc Viện Hợp tác và Hòa bình Campuchia, một cơ quan nghiên cứu tại Phnôm Pênh, lưu ý rằng nguồn tài chính của Trung Quốc đầu tư tại Campuchia cũng mang lại lợi ích khác cho Bắc Kinh.

Tất nhiên, có những quan ngại về ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Trung Quốc đối với Campuchia. Ví dụ, việc Trung Quốc đầu tư vào cơ sở hạ tầng của Campuchia, như xây dựng đường sá và các đập thủy điện; nhưng các hợp đồng này không chịu sự giám sát của công chúng hoặc giám sát độc lập.

Quỹ tiền tệ quốc tế, một trong nhiều tổ chức khác, đã bày tỏ sự lo ngại về sức ép của Bắc Kinh mà Phnôm Pênh phải cam kết mua tất cả các đập thủy điện trong thời hạn 30 năm. Điều này sẽ tốn tổng chi phí hàng trăm triệu USD mỗi năm.

Bất chấp các mối quan ngại nêu trên, Trung Quốc vẫn sẽ tiếp tục mở rộng ảnh hưởng đối với Campuchia, và điều này cũng có lợi cho Campuchia trong quá trình tìm kiếm sự cân bằng hữu ích đối với các quốc gia khác, như trong cuộc tranh chấp ngôi đền cổ với Thái Lan chẳng hạn. Thủ tướng Hun Sen cảm nhận rất ít sự rủi ro trong quan hệ với Trung Quốc, và tuyên bố rằng số tiền Trung Quốc đầu tư và viện trợ sẽ giúp trong cuộc chiến chống đói nghèo.

Trong khi đó, các nhà hoạt động nhân quyền nói rằng mối quan hệ Trung Quốc - Campuchia có thể là “quá nồng ấm”. Họ đã chỉ rõ rằng, năm 2009 Phnôm Pênh đã quyết định trục xuất 20 người Duy Ngô Nhĩ trở về Trung Quốc theo yêu cầu của Bắc Kinh. Và chỉ sau đó vài ngày, Campuchia đã nhận được thoả thuận trợ giúp kinh tế trị giá 1,2 tỉ USD từ Bắc Kinh.

Được biết, Mỹ và nhiều quốc gia khác đã chỉ trích mạnh mẽ Campuchia về việc trục xuất 20 người Duy Ngô Nhĩ, một nhóm đạo Hồi thiểu số ở Trung Quốc.

Dường như, chính phủ Campuchia chẳng mấy quan tâm tới điều đó. Ví như, ngay trong tháng 3 này, Trung Quốc và Campuchia đã nhất trí tiếp tục tăng cường quan hệ và hợp tác thông qua các dự án phát triển ngành công nghiệp truyền thông, du lịch và nông nghiệp của Campuchia
http://vitinfo.com.vn/Muctin/Quocte/LA74587/default.htm

Tư lệnh quốc phòng Asean nhóm họp

Hội nghị Không chính thức Tư lệnh Quốc phòng các nước Asean lần 7 (ACDFIM-7) vừa khai mạc tại Hà Nội để thảo luận hợp tác quốc phòng trong khối.

Tại hội nghị, kéo dài tới 27/03, có mặt đại diện c̉a quân đội tất cả 10 quốc gia Asean.

Chủ đề của hội nghị lần này là "Nâng cao hiệu quả hợp tác giữa quân đội các nước Asean, đối phó với những thách thức an ninh phi truyền thống".

Trong tham luận của mình, Thượng tướng Nguyễn Khắc Nghiên, Tổng tham mưu trưởng quân đội Việt Nam, chỉ ra các thách thức an ninh phi truyền thống và xuyên quốc gia như "nguy cơ khủng bố từ các nhóm cực đoan khu vực cấu kết với các phần tử khủng bố quốc tế, thiên tai, bệnh dịch, tác động của biến đổi khí hậu, thách thức trong đảm bảo an ninh đường biển, bên cạnh đó là vấn đề an ninh lương thực và an ninh năng lượng".

Ông Nghiên nói: "Những đe dọa đó không còn là vấn đề của một quốc gia dân tộc vì không một quốc gia nào đơn phương giải quyết được. Chúng ta chỉ có thể đối phó hiệu quả bằng sự hợp tác và phối hợp chặt chẽ với nhau."

Ông thượng tướng cũng khẳng định quân đội Việt Nam "coi trọng và tiếp tục tham gia tích cực vào hợp tác khu vực". Quân đội Việt Nam đã tham gia với quân đội một số nước khu vực trong các hoạt động như tuần tra chung, hoạt động cứu trợ, giảm nhẹ thiên tai vv...

Trước hội nghị ACDFIM-7, hôm 23/03 Việt Nam cũng đã chủ trì Hội nghị Không chính thức những người đứng đầu Tình báo quân đội các nước Asean.

Tuy nhiên, giới quan sát cho rằng hợp tác quốc phòng trong khối mới chỉ dừng lại ở các hoạt động không mang tính nhạy cảm.

Tiến sỹ Ian Storey, chủ biên tạp chí Đông Nam Á Đương đại ( Contemporary Southeast Asia) thuộc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS) đặt tại Singapore, nhận xét: "Cuộc họp chắc sẽ chỉ bàn về các chủ đề ít nhạy cảm như hỗ trợ nhân đạo hay cứu trợ thiên tai, đương đầu với các đe dọa xuyên quốc gia như cướp biển, nạn khủng bố hay nỗ lực gìn giữ hòa bình".

"Nhưng cũng có khả năng các tư lệnh quốc phòng sẽ chia sẻ quan điểm về các chủ đề an ninh khu vực như những diễn biến mới nhất tại Biển Đông chẳng hạn."

Asean và Trung Quốc

Theo ông Storey, các nước Asean đang rất cẩn trọng để không gây ấn tượng rằng khối này "cấu kết với nhau để đối đầu Trung Quốc".

Trong một cuộc phỏng vấn mới đây với báo Quân đội Nhân dân, Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh cũng nhấn mạnh rằng "cần tránh nhầm lẫn hợp tác quốc phòng - an ninh Asean với hợp tác quân sự".

Quan hệ hợp tác này (giữa quân đội các nước Asean) không đi đến liên minh, liên kết hoặc hợp tác để tăng cường sức mạnh quân sự.
Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh

Ông Vịnh khẳng định: "Quan hệ hợp tác này không đi đến liên minh, liên kết hoặc hợp tác để tăng cường sức mạnh quân sự".

Sự cẩn trọng của Asean, theo ông Storey, có thể dẫn tới việc Việt Nam sẽ gặp khó trong việc đưa các vấn đề an ninh quan trọng sát sườn, như vấn đề Biển Đông ra bàn hội nghị.

Ông đánh giá: "Các nước Asean không muốn bị hiểu là ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông".

"Dĩ nhiên, với tư cách chủ nhà, Việt Nam sẽ muốn đề cập đến chủ đề này. Nhưng các nước Asean sẽ vẫn chủ trương giữ nguyên hiện trạng để tìm cách giải quyết hòa bình."

Ông nói với BBC: "Thực sự thì rất khó có đồng thuận về Biển Đông, vì không chỉ Việt Nam, Trung Quốc mà một số nước Asean khác cũng đòi chủ quyền tại đây."

Tiến sỹ Storey kết luận: "Vậy cho nên tôi nghĩ cũng như các hội nghị khu vực khác, các đại biểu sẽ lại ch̉i bàn luận những vấn đề ít tế nhị".

Việt Nam đã một vài lần tìm cách mang chủ đề Biển Đông ra thảo luận khu vực.

Tuy nhiên dưới áp lực của Trung Quốc, nỗ lực đó đã bất thành ở Hội nghị Thượng đỉnh Asean tại Hua Hin, Thái Lan, tháng 10/2009.

Khi tới tham dự Hội ngḥị hẹp giữa các Bộ trưởng Quốc phòng Asean tháng 11/2009 cũng tại Thái Lan, Đại tướng Phùng Quang Thanh cho hay muốn thảo luận về chủ đề này. Thế nhưng sau đó, không có tin tức gì về bất cứ một kết quả nào.

Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng Asean lần thứ 4, theo lịch trình, sẽ diễn ra tại Hà Nội vào tháng 5 tới.